Buổi sáng, lúc thức dậy và đi đến phòng vệ sinh, tôi thấy cửa phòng Diomande đang mở toang. Cậu đang thu dọn những tờ giấy vương vãi trên sàn nhà, quyển kinh Coran thì đang để mở trên chiếc giường bừa bộn. Cậu đặt đống giấy vào ngăn kéo, kéo rèm ra để nắng tràn vào căn phòng và ngồi xuống mép giường. Cậu chỉ mặc chiếc quần thể thao, chiếc áo cầm trên tay và cả thân hình gù xuống.
Cậu không nhận ra tôi đang đứng ở cửa. Tâm trí cậu đã trôi đi đâu mất, và vì cậu ngồi quay chếch về phía cửa sổ nên tôi thấy được khung xương kỳ lạ nhô lên khỏi lớp da nơi đáng lẽ là vùng xương bả vai của cậu, như thể cậu chui ra từ một quả trứng, với đôi cánh trắng nhỏ xinh nhưng rắn rỏi, như một nắm đấm. Cậu mặc nhanh chiếc áo phông vào, tôi bước khẽ và cậu quay ra nhìn tôi.
“Anh Nuri, anh tên là Nuri nhỉ?” Câu nói bất ngờ làm tôi giật mình. “Em đã gặp Lucy Fisher”, cậu nói, “chị ấy rất tốt. Em nghĩ chắc chị ấy lo cho em. Em bảo là không cần lo đâu, ‘Ở đây có rất nhiều cơ hội. Em sẽ tìm được việc làm. Bạn em đã bảo em là nếu muốn an toàn và sống yên ổn thì nên đến Anh’. Nhưng chị ấy trông càng lo lắng hơn nên giờ em cũng thấy lo.”
Tôi đứng đó nhìn cậu, không tìm được lời nào đáp lại.
“Lúc bố em mất, cả nhà đã rất khó khăn, không có việc làm, tiền còn rất ít, đồ ăn cho hai đứa em gái em cũng không đủ, mẹ bảo em là ‘Dio này, mẹ sẽ kiếm ít tiền cho con đi, con đi tìm cách giúp cả nhà mình.’”
Cậu càng cúi xuống thì dấu xương gồ lên càng rõ, rồi cậu chống hai tay lên gối và cố đứng dậy.
“Đêm trước hôm em đi, mẹ làm cho em món gà hầm cay ngon nhất trần đời!” Cậu đảo mắt. “Mấy tháng liền em đều không được ăn gà hầm cay, nhưng tối hôm đó mẹ đã đặc biệt chuẩn bị cho em.”
Tôi nhìn vào lưng cậu, đôi cánh lại chuyển động dưới lớp áo phông khi cậu cúi xuống đi dép, bên ngoài đôi tất. Có vẻ cậu rất đau.
“Lưng của em làm sao thế?” Tôi hỏi.
“Cột sống em bị gập từ lúc còn bé”, cậu đáp.
Chắc ánh mắt của tôi rất kỳ cục, bởi cậu ngừng lại và nhìn tôi chằm chằm. Cậu rất cao, dù lưng vẫn bị gù khi đứng thẳng, và tôi nhận ra ánh mắt của cậu thanh niên này như ánh mắt của một ông già.
“Anh có xuống nhà dùng trà với sữa không? Em rất thích uống kiểu thế”, cậu nói.
“Ừ, có.” Giọng tôi bỗng nghẹn lại. “Lát gặp cậu dưới tầng nhé.”
Tôi vào phòng vệ sinh và khóa cửa lại, để ông lão Maroc khỏi vào như lần trước. Tôi rửa mặt, rửa tay, rửa lên đến khuỷu tay, chải đầu, rửa chân. Tôi đang toát hết mồ hội và không sao thoát khỏi hình ảnh đôi cánh để bắt đầu những lời cầu nguyện. Khi đứng trên chiếc thảm chùi chân và thì thầm “Đấng Allah vĩ đại nhất” tôi bắt gặp khuôn mặt mình trên chiếc gương. Trông tôi khác quá, nhưng tôi không biết chính xác là khác chỗ nào. Phải, có những nếp nhăn trước đây chưa từng có, và thậm chí cả mắt tôi cũng đã khác – tối hơn, sâu hơn, luôn cảnh giác để phòng, giống mắt của Mohammed; nhưng không chỉ có vậy, có gì đó đã khác, một điều gì đó không thể hiểu được.
Tay nắm cửa rung lên. “Khỉ thật!”
Tôi không nói gì, chỉ để nước chảy cho căn phòng mờ hơi sương, hy vọng nhìn thấy Mohammed nhưng thằng bé không ở đây.
Tôi chậm rãi mặc quần áo cho Afra. Không biết sao em không tự mặc như lần trước. Em đứng đó, hai mắt nhắm nghiền khi tôi mặc váy và quấn hijab cho em. Lần này em không còn cầm tay tôi hướng dẫn lúc búi tóc nữa, em chỉ im lặng và qua gương, tôi thấy em vẫn nhắm mắt như vậy. Tôi nghĩ sao em phải nhắm mắt, em cũng không nhìn thấy gì mà. Nhưng tôi không hỏi. Em cầm những viên bi chặt đến mức khớp ngón tay trắng bệch, rồi lại nằm lên giường, vươn tay lấy cuốn sổ vẽ trên chiếc tủ đầu giường, ôm vào lòng và thở chầm chậm, lặng yên trong thế giới của mình.
Đến lúc chúng tôi xuống nhà, ông lão Maroc và Diomande không còn ở đó. Bà chủ bảo họ đã ra ngoài hóng gió. Bà ấy lại đang dọn dẹp, và hôm nay trang điểm rất đậm, đôi mi giả quá dài nhìn không thực chút nào và màu son thì đỏ như máu. Nhưng dù có tô vẽ, che phủ bao nhiêu bà vẫn không thể xóa đi được sự ủ rũ và dư vị của những hành trình kinh khủng tràn ngập sợ hãi. Tôi tự hỏi làm thế nào bà tới được đất nước này. Có lẽ bà được sinh ra ở đây chăng, bà nói giọng Anh hoàn hảo như thế, và tôi biết gia đình bà rất đông. Mỗi tối tôi đều nghe được tiếng ồn ào huyên náo từ ngôi nhà bà ở bên cạnh nhà trọ, những đứa trẻ và họ hàng cứ đến rồi đi tấp nập. Và lúc nào người bà cũng tỏa ra mùi gia vị và mùi thuốc tẩy, như thể bà không nấu ăn thì sẽ dọn dẹp, chỉ có hai việc ấy.
Tôi gọi cho Lucy Fisher và nói với cô chuyện ở phòng khám hôm trước. Cô xin lỗi và nói sẽ mang hồ sơ mới tới vào ngày mai. Cô thật bình tĩnh, thật chuyên nghiệp. Tôi vui vì Lucy Fisher quan tâm tới vợ chồng tôi. Tuy thế, sai sót của cô dù nhỏ nhưng nó vẫn nhắc tôi rằng cô cũng là con người, cũng có những hạn chế và điều này làm tôi lo lắng.
Afra ngồi trên xô pha và nghe âm thanh phát ra từ chiếc tivi. Trừ buổi gặp với Lucy hôm trước, đây là lần đầu tiên em đồng ý ra khỏi phòng, cho phép mình tiếp xúc một chút với thế giới bên ngoài. Tôi ngồi với em một lúc, nhưng rút cuộc tâm trí lại dạt ra ngoài khoảng sân và trôi về phía hàng rào bên khu vườn của bà chủ trọ. Mohammed nói đúng. Khu vườn xanh tốt thật, um tùm những cây và hoa, còn có một máng thức ăn cho chim, một chiếc rổ treo đung đưa và vài thứ đồ cho trẻ con – chiếc xe đạp bé xinh màu xanh và một hố cát. Còn có một cái hồ nhỏ với đài phun là một cậu bé đang cầm vỏ ốc, nhưng không có nước chảy. Phần sân trơ trọi và xám xịt so với phần vườn xanh tốt. Con ong tôi nhặt được hôm trước đang ngủ ngon lành ở khóm hoa. Chiếc khay gỗ làm tôi bỗng nhớ đến vườn ong của mình và những con ong dại đến làm tổ. Tôi gỡ từng cầu ong ra để kiểm tra. Tôi phải đảm bảo mùa ong lấy mật phải trùng với mùa hoa, tôi phải biết chúng ở đâu, nở hoa khi nào rồi lên kế hoạch để chăm lo bầy ong và đạt được mục tiêu, vì chúng tôi không chỉ cần mật mà còn cần cả phấn hoa, keo ong và sữa ong chúa.
“Cậu nên đem giường ra ngoài này mà nằm.” Tôi quay lại và thấy ông lão Maroc đang đứng đó cười ngoác đến mang tai. “Trời quá đẹp”, ông nói, ngước mắt lên nhìn trời. “Thế mà họ cứ bảo xứ này chỉ có mưa.”
Buổi tối, ông lão và Diomande hay chơi trò ô chữ treo cổ trong phòng khách. Tiếng Anh của cả hai đều rất thảm, nhưng tôi không ý kiến gì, và cũng chẳng sửa phát âm của họ. Một lát sau đã có rất nhiều người khác cùng tham gia. Người phụ nữ Afghanistan vô cùng hăng say và vỗ tay rất to mỗi khi thắng. Người đàn ông mà chị ta nói chuyện cùng, giờ tôi mới biết đó là em trai chị, thì trẻ hơn. Cậu ta để chòm râu dê trông lạ lùng và đầu tóc thì vuốt keo bóng lộn. Cả hai chị em đều rất thông minh. Những đêm ngồi trong phòng khách và vô tình nghe thấy họ nói chuyện, tôi thấy có tiếng Ả Rập, tiếng Ba Tư, tiếng Anh, thậm chí một chút tiếng Hy Lạp.
***
Tôi nhìn lưng của Diomande, nhìn đôi cánh mà tôi tưởng nhầm là xương bả vai, nhìn chúng chuyển động bên dưới lớp áo phông, nhìn cách Diomande chốc chốc lại đưa tay đỡ lưng – một thói quen có lẽ đã từ lâu. Lúc nào cũng đau đớn nhưng cậu luôn vui vẻ, nụ cười thật rạng rỡ. Cậu đang tranh luận với ông lão xem đánh vần từ mouse thế nào. Ông lão nói chắc chắn từ này có chữ w. Cậu bèn bất lực đưa tay đỡ trán.
Tôi nhắm mắt lại, những giọng nói bắt đầu hòa lẫn với nhau và khi mở mắt ra, tôi nghe thấy tiếng ong, tiếng vỗ cánh của hàng nghìn con đang bay lượn làm việc như trước đây, từ bên ngoài vọng vào. Trong phòng bây giờ rất yên tĩnh, chỉ còn tiếng viên bi ve lăn trên sàn nhà. Mohammed đang ngồi chơi ở đó.
“Chú Nuri!” Nó cất tiếng gọi khi thấy tôi. “Chú đã ngủ lâu lắm rồi đấy.”
Đồng hồ trên tường chỉ ba giờ sáng.
“Chú đã tìm thấy chìa khóa chưa?” Nó hỏi.
“Làm gì có chìa khóa. Đó là hoa.”
“Tại chú đi nhầm chỗ rồi,” thằng bé đáp. “Không phải cái cây đó, cây ở vườn khác cơ. Cái vườn màu xanh ấy. Nó ở trên một cái cây nhỏ. Cháu thấy nó qua cái lỗ hàng rào mà.”
“Cháu cần chìa khóa để làm gì nào?” Tôi nói.
“Cháu phải ra ngoài.” Nó chỉ đáp thế. “Chú lấy giúp cháu nhé?”
Tôi mở cửa ra ngoài hiên, và tiếng của bầy ong ập tới. Bầu không khí nặng và dày, nhưng tôi không thấy một con ong nào. Bóng tối trống rỗng. Mohammed theo tôi ra sân.
“Cháu có nghe thấy không?” Tôi hỏi. “Tiếng này từ đâu ra vậy nhỉ?”
“Nhìn vào những khu vườn khác ấy chú Nuri, rồi chú sẽ thấy chiếc chìa khóa.”
Tôi nhìn qua lỗ hổng trên hàng rào, nhưng trời tối đến nỗi tôi còn chẳng nhìn thấy cây, nói gì đến cái chìa khóa.
“Chú phải đi qua hàng rào,” tiếng của thằng bé át tiếng bầy ong. Thứ âm thanh ù ù này vọng tới từ nơi xa nhất sâu nhất của bầu không, như những làn sóng từ ký ức trào tới. Tôi lấy một chiếc thang gấp, trèo qua hàng rảo để vào khu vườn bên kia. Tôi bỗng như rơi vào lớp đệm êm dịu của những cây và hoa đang lay động, mờ hết đường nét dáng vẻ giữa màn đêm và cơn gió nhẹ. Chiếc xe đạp tí hon đang được dựng dựa vào tường, tôi nhận ra đường viền của hố cát và bước vòng qua nó. Tôi nghe thấy tiếng Mohammed đang chỉ đường cho mình, thằng bé bảo tôi rẽ trái. Cuối cùng tôi cũng nhìn thấy cải nó đang nói tới: một bụi cây nhỏ. Lần này, chiếc chìa khóa được treo trên một cành cây. Nó sáng lên dưới ánh trăng. Tôi phải kéo mạnh mới lấy được nó xuống, nó mắc giữa tán cây, và rồi tôi phải lấy cái xe đạp ra để sát cái hàng rào và leo lên đó trèo về.
Tôi quay lại sân vườn của nhà trọ thì Mohammed đã đi mất. Tôi đóng cánh cửa ra hiên, chặn lại tiếng ồn ào, về phòng trên gác và lên giường nằm. Afra đã ngủ, nghiêng đầu, áp má kề sát hai tay. Em thở sâu và chậm rãi. Tôi nằm ngửa nhìn trần nhà, giữ chiếc chìa khóa trên ngực. Tiếng ong ù ù đã trôi xa. Giờ tôi nghĩ mình có thể nghe thấy những
cơn sóng
trên biển Aegean rất êm đềm vào buổi chiều muộn. Ngọn lửa đã tắt, chúng tôi lên một chiếc tàu lớn hướng về đảo Leros.“Đây là lần thứ hai cháu ngồi thuyền đó,” Mohammed nói. “Lần đầu hơi đáng sợ một tí, chú có thấy thế không?”
“Ừ, chỉ một tí.” Tôi nghĩ ngay đến Sami. Thằng bé từng ngồi thuyền một lần khi chúng tôi đưa con đi thăm ông bà ở vùng ven biển Syria, một ngôi làng nhỏ nằm dưới bóng rặng Lebanon. Thằng bé rất sợ nước, cứ khóc mãi và tôi phải ôm nó trong tay suốt rồi chỉ cho con xem những con cả dưới nước. Thằng bé nhìn chăm chú vào những luồng cá bạc đang bơi sát mặt nước, hai mắt vẫn còn rơm rớm nhưng miệng đã toét cười. Sami luôn sợ nước, kể cả khi chúng tôi gội đầu cho con. Nó rất sợ bị nước chảy vào tại hay vào mắt. Đúng là một cậu bé của vùng sa mạc. Con chỉ biết nước trong những dòng suối đã cạn và nước trong hồ tưới tiêu. Sami và Mohammed trạc tuổi nhau. Nếu con ở đây, hai đứa có thể làm bạn. Mohammed sẽ chăm sóc Sami vì Sami nhạy cảm và nhút nhát hơn, còn Sami có thể kể chuyện cho Mohammed nghe. Sami thích kể chuyện lắm.
“Ước gì mẹ cháu ở đây,” Mohammed nói. Tôi đặt tay lên vai thằng bé và thấy đôi mắt lấp lánh của nó đang dõi theo những con cá dưới biển. Afra ngồi ở ghế đằng sau, một nhân viên đã đưa cho em một chiếc gậy trắng nhưng em không thích nên để nó xuống ngay nền đất dưới chân.
Khi chúng tôi đến nơi, các tình nguyện viên đã đứng đợi sẵn. Ở đây mọi chuyện đều có trật tự, tôi biết. Đã có rất nhiều người qua đây, và các tổ chức hỗ trợ đều được chuẩn bị tốt. Chúng tôi được dẫn rời khỏi bến cảng, lên một ngọn đồi nhỏ, tới chỗ đăng kí dành cho người mới đến – một chiếc lều lớn. Nơi này đầy ắp người di cư, binh lính và những sĩ quan cảnh sát đeo kính râm. Tôi có thể thấy người đến từ Syria, Afghanistan, các nước Ả Rập và châu Phi khác. Những người đàn ông mặc đồng phục và mặt mũi nghiêm túc chia chúng tôi thành các nhóm: phụ nữ đơn thân, trẻ nhỏ bơ vơ, đàn ông đơn thân có hộ chiếu, đàn ông đơn thân không hộ chiếu, các gia đình. May sao ba chúng tôi vẫn ở cùng nhau. Chúng tôi được chỉ tới một hàng người dài đang đứng và được cho bánh mì ổ nhỏ cùng phô mai. Mọi người đều bồn chồn khi đợi đến lượt mình được xác minh danh tính. Họ muốn có giấy tờ để có thể được công nhận là tồn tại trong mắt Liên minh châu Âu. Những ai sai quốc tịch sẽ không nhận được giấy tờ gì hết, trừ một tấm vé trở về. Về đâu thì không rõ.
Cuối cùng, sau hàng tiếng đồng hồ xếp hàng, chúng tôi cũng đến lượt. Mohammed đã ngủ thiếp đi trên băng ghế phía xa chiếc lều. Tôi và Afra ngồi xuống trước mặt một người đàn ông đang xem lướt qua đống giấy tờ trên bàn. Afra vẫn đang cầm chiếc bánh mì trong tay. Người đàn ông ngước lên nhìn em và ngả người tựa vào ghế. Bụng anh ta đủ to để đặt đĩa lên mà không rơi. Dù trời đang lạnh, trán anh vẫn đổ mồ hôi và dưới mắt là quầng thâm cũng rộng như nụ cười của anh. Chiếc kính của anh trễ xuống mũi.
“Anh đến từ đâu?” Anh hỏi.
“Syria,” tôi đáp.
“Anh có hộ chiếu không?”
“Tôi có.”
Tôi lấy ba tấm hộ chiếu từ trong túi ra và đặt chúng lên bàn. Anh bỏ kính ra, quét một lượt qua chúng.
“Chỗ nào của Syria?”
“Aleppo.”
“Đây là con trai anh à?” Anh chỉ vào bức ảnh của Sami.
“Vâng.”
“Cậu bé bao nhiêu tuổi?”
“Bảy.”
“Cháu đang ở đâu?”
“Đang ngủ trên băng ghế kia. Đi một chuyến dài như vậy thằng bé rất mệt.”
Người đàn ông gật đầu và đứng dậy, và trong thoáng chốc tôi tưởng anh sẽ đi tìm Mohammed để xem gương mặt thằng bé có giống với bức ảnh không, nhưng anh đi tới một dãy máy phô tô rồi quay lại, mang theo mùi thuốc lá, và yêu cầu chúng tôi lấy dấu vân tay. Giấy tờ của chúng tôi đang được xác thực.
“Anh có cần dấu vân tay của Sami không?” Tôi hỏi.
“Không, cháu chưa đến mười tuổi nên không cần. Tôi xem điện thoại của anh được chứ?”
Tôi lấy điện thoại từ trong túi ra. Pin đã cạn sạch.
“Số PIN của anh là bao nhiêu?” Người đàn ông hỏi. Tôi viết số PIN ra và anh ta lại đi ra chỗ mấy chiếc máy phô tô.
“Tại sao anh lại nói với anh ta là chúng ta có một cậu con trai?” Afra nói.
“Như thế nhanh hơn. Họ sẽ không hỏi nhiều.”
Em không nói gì nữa nhưng tôi biết em đang không thoải mái, em cào lên da, mạnh đến mức khiến cổ tay đỏ ửng. Một lúc lâu sau người đàn ông mới trở lại, hổn hà hổn hển, lần này nồng cả mùi thuốc lá lẫn cà phê.
“Ở Syria anh làm nghề gì?” Anh hỏi, lại ngồi xuống, cái bụng phồng lên che mất cả lưng quần.
“Tôi là người nuôi ong.”
“Chị thì sao, chị Ibrahim?” Giờ anh ta quay sang nhìn Afra.
“Tôi là họa sĩ,” em trả lời.
“Những bức tranh trong điện thoại là chị vẽ à?” Afra gật đầu.
Anh ta lại ngả người vào ghế. Anh ta đeo kính như vậy khiến tôi không biết anh ta đang nhìn đi đâu, nhưng có vẻ anh ta đang nhìn Afra. Tôi thấy hình ảnh của em phản chiếu trên mỗi bên mắt kính. Dù trong lều đang rất ồn ào, nơi này bỗng như rơi vào yên lặng.
“Rất đặc biệt, những bức tranh của chị ấy,” anh nói. Rồi anh ta rướn người về trước, cái bụng đè lên thành bàn và đẩy nó dịch về phía chúng tôi.
“Chuyện gì đã xảy ra với vợ anh?” Anh ta hỏi tôi, giọng tò mò không thể nhầm lẫn được. Tôi nghĩ anh ta đang hình dung đủ loại chuyện kinh khủng, những câu chuyện đời thực về mất mát và hủy hoại. Đôi mắt kính đó giờ gán chặt vào tôi.
“Một vụ nổ bom,” tôi đáp.
Cặp kính lại quay sang Afra.
“Anh chị muốn tới đâu?”
“Nước Anh,” em đáp.
“Ha!”
“Chúng tôi có bạn ở đó,” tôi nói, cố lờ đi điệu cười mỉa mai của anh ta.
“Người ta thường thực tế hơn,” anh ta nói, đưa trả tôi hộ chiếu và điện thoại, nói thêm là chúng tôi sẽ phải đợi trên đảo tới khi chính quyền chấp thuận cho chúng tôi tới Athens.
Chúng tôi, với hai hay ba gia đình nữa, được dẫn ra khỏi khu đăng ký, tới một khu trại gần cảng. Mohammed nắm tay tôi, hỏi rằng chúng ta đang đi đâu thế.
*
Chúng tôi bước vào một vùng được quây kín bởi những hàng dây kẽm gai, và trước mặt là một ngôi làng tiêu điều với những lối đi tăm tắp trải bê tông, rào ngăn bằng lưới mắt cáo và nền đất đầy sỏi đá. Những cabin vuông vắn xếp thành hàng thẳng thớm làm nơi ở cho những người đang đợi giấy tờ. Một thế giới đang đợi định danh.Sỏi vốn để hút nước chống ẩm nhưng giờ mặt đất vẫn ướt sũng, có lẽ là vì trận mưa vừa rồi. Trong khoảng trống giữa những cabin, quần áo treo thành hàng và tại cửa mỗi cabin là một chiếc máy sưởi bên trên hong đẩy giày tất mũ nón. Phía xa, bên ngoài ngôi làng và bên kia bờ biển, tôi có thể thấy biên giới mờ xa của Thổ Nhĩ Kỳ, và bên kia là những ngọn đồi tím thẫm của hòn đảo.
Đứng bên cạnh Afra và Mohammed, giữa những gia đình khác, sao tôi thấy lạc lõng đến thế, như thể chỉ có mình tôi giữa vùng biển tối tăm lạnh lẽo, không gì bấu víu này. Sau một khoảng thời gian dài, đây là lần đầu tiên tôi mới lại thấy có chút an tâm và đảm bảo, vậy mà trong giây phút này, trời sao quá rộng và xa, hoàng hôn đang buông như đem theo điều gì đó tối tăm vô định. Tôi nhìn chăm chăm vào ánh sáng vàng ruộm của chiếc máy sưởi, cảm nhận sự vững chãi của lớp sỏi dưới chân nhưng gần đó lại văng vẳng tiếng la hét của một thứ tiếng tôi không hiểu, theo sau là một tiếng kêu dài, đau đớn tuyệt vọng như từ một nơi trống không và sâu thẳm truyền tới. Lũ chim giật mình, bay vút lên trời chiều vàng rực.
Mỗi cabin đã được chia sẵn, ngăn với nhau bằng chăn và rèm để có thêm chỗ cho các gia đình. Chúng tôi được đưa tới một góc của một trong những cabin đó, được thông báo rằng có thức ăn ở tòa nhà cũ cạnh chỗ đăng ký vừa rồi, và tòa nhà đó sẽ đóng cửa lúc chín giờ tối, nên nếu muốn ăn, chúng tôi nên đi sớm. Nhưng Mohammed đang buồn ngủ đến nỗi đứng không vững, như kiểu nó vẫn đang trên thuyền. Có chỗ nằm là thằng bé ngả lưng luôn. Tôi đành đắp chăn cho nó.
“Chú Nuri,” nó gọi tôi, mắt he hé, “mai cháu ăn sô cô la được không?”
“Để xem chú tìm được chỗ bán không.”
“Loại mà quết được ấy. Cháu muốn quết lên bánh mì.”
“Chú sẽ cố tìm mua.”
Trời đã tối hẳn và lạnh. Tôi và Afra cũng nằm xuống. Tôi đặt tay lên ngực em, cảm nhận nhịp tim và hơi thở chậm rãi.
“Nuri,” em nói khi chúng tôi nằm bên nhau.
“Ừ?”
“Anh không sao chứ?”
“Sao cơ?”
“Anh biết anh không ổn.”
Em nằm sát bên tôi và tôi cảm thấy cả người em đang căng thẳng.
“Chúng ta có ai ổn đâu.” Tôi nói.
“Nó…” Em ngập ngừng.
“Chuyện gì?”
Em thở dài: “Chuyện thằng bé ấy.”
“Chúng ta mệt mỏi cả ngày rồi, mai lại nói. Ngủ thôi.” Em thở dài lần nữa và nhắm mắt lại.
Em thiếp đi rất nhanh. Tôi cố gắng điều chỉnh nhịp thở theo em, chậm rãi và bình thản, để không suy nghĩ gì nữa nhưng giọng em ảm đạm quá, như thể em biết điều gì mà tôi không biết. Tôi không ngủ được. Những lời em chưa nói như mở ra một lỗ hổng, từ đó tuôn ra biết bao hình ảnh trôi đi như những giấc mơ: đôi mắt đen láy của Mohammed, đôi mắt nâu như mắt Afra của Sami. Ngay cả khi tôi đang trôi đi, cơ thể tôi cũng giật mình trước âm thanh đột nhiên cất lên trong đầu, như một tiếng cạch cửa, và rồi từ phía bên kia hiện ra thân ảnh của một cậu bé. “Chúng ta sẽ rơi xuống nước ư chú?”
“Những con sóng sẽ đưa chúng ta đi sao? Những căn nhà không đổ nát thế này.” Giọng của Sami. Giọng của Mohammed.
Tâm trí tôi lại chìm vào bóng tối và tĩnh lặng. Tôi trở mình và nhìn chăm chăm vào hoa văn trên bức rèm ngăn. Tiếng thì thẩm phía bên kia bức rèm giữ cho tôi tỉnh táo. Một cô bé đang nói chuyện với cha, càng nói càng nôn nóng.
“Nhưng bao giờ mẹ mới đến ạ?” Cô bé hỏi.
“Khi con ngủ, mẹ sẽ đến vuốt tóc con, như trước đây vậy, con còn nhớ không?”
“Nhưng con muốn gặp mẹ cơ.”
“Con không gặp được mẹ nhưng con sẽ cảm nhận được mẹ rất gần con. Bố đảm bảo đấy.” Tôi nghe giọng người cha đã sắp vỡ vụn.
“Nhưng lúc những người đó đưa mẹ đi…”
“Chúng ta không nói chuyện đó nữa.”
Cô bé khóc nấc một tiếng. “Nhưng lúc những người đó đưa mẹ đi, con thấy mẹ khóc mà. Sao họ lại đưa mẹ đi? Họ đưa mẹ đi đâu thế? Sao mẹ lại khóc?”
“Chúng ta không nói chuyện đó nữa mà. Giờ ngủ thôi.”
“Bố bảo họ sẽ đưa mẹ về. Con muốn về nhà đón mẹ. Con muốn về nhà.”
“Chúng ta không thể về nhà được.”
“Không bao giờ nữa ạ?”
Người cha không đáp.
Bên ngoài vang lên một tiếng hét, giọng đàn ông. Tiếng đấm thùm thụp. Gây lộn à? Có ai đang bị đánh ư? Tôi muốn ngồi dậy và đi ra xem có chuyện gì nhưng tôi sợ. Có tiếng bước chân bên ngoài cabin, có người đang chạy, rồi màn đêm yên tĩnh trở lại, cuối cùng tiếng sóng mênh mang đằng xa như mời gọi tôi, đưa tâm trí tôi rời đi và chìm sâu vào vùng nước rộng.
*
Tôi thức dậy giữa tiếng chim hót, tiếng bước chân, những giọng nói và nhận ra Mohammed không có ở đây. Afra vẫn đang ngủ bên tôi.Tôi ra ngoài tìm thằng bé. Vài người ra ngoài sưởi nắng, vài người phơi phóng quần áo. Trẻ con chạy nhảy quanh những vũng nước hoặc đánh bóng bay qua hàng rào kẽm như chơi bóng chuyền, cười khanh khách khi chúng nổ. Tôi không thấy Mohammed trong đám trẻ ấy.
Tôi thấy binh sĩ giắt súng bên eo đi quanh khu trại. Tôi tìm đường tới tòa nhà cũ, ở đó có một khu vui chơi cho trẻ cùng vài dịch vụ khác. Hòn đảo này có thứ gì đó rất ám ảnh – những tòa nhà dở dang xiêu vẹo, những cửa hàng hoang vắng – như thể cư dân của nó bỗng nhiên phải rời đi rất gấp, để lại nơi đổ nát này. Những cửa sổ như những con mắt nhìn vào các tòa nhà bỏ hoang tối om. Cửa chớp rụng hết bản lề. Tòa nhà cũ này như một nơi chỉ xuất hiện trong các cơn ác mộng. Giữa hành lang là một lò sưởi rất lớn nhưng bị bỏ lạnh lẽo đằng sau một chấn song bằng gang. Một cầu thang uốn lượn đi lên phía những giọng nói văng vắng từ các căn phòng khác trên những tầng khác.
“Anh cần gì thế?” Tôi nghe một giọng nói ở đằng sau.
Tôi quay lại: Một cô gái mới khoảng hai mươi, hai má rám nắng, vài chiếc khuyên bạc ở một bên tai và một chiếc trên mũi. Cô đang cười nhưng trông mệt mỏi, vùng da dưới mắt màu tím, đôi môi nứt nẻ.
“Tôi được biết ở đây có cung cấp đồ dùng. Tôi muốn lấy một vài thứ cho vợ tôi.”
“Tầng ba, bên trái.” Cô nói.
Tôi ngập ngừng. “Và tôi đang tìm con trai.” Tôi quay lại nhìn qua vai mình, biết đâu Mohammed lại đứng ngay đằng sau tôi.
“Cậu bé trông thế nào?” Cô nói, ngáp một cái, đưa tay lên che miệng. Hai mắt đỏ rơm rớm. “Xin lỗi, tôi không ngủ được. Đêm qua có chút rắc rối.”
“Rắc rối?”
Cô lắc đầu, cố nhịn một cái ngáp nữa. “Khu trại này đang đông quá, một vài người đã ở đây quá lâu, họ khó mà…” Cô ngừng lại. “Con trai anh trông như thế nào?”
“Con trai tôi?”
“Anh vừa nói anh đang tìm con trai mà.”
“Thằng bé bảy tuổi, tóc đen, mắt đen.”
“Anh đang miêu tả gần như mọi cậu bé ở đây.”
“Lũ trẻ ấy tóc nâu mắt nâu. Con tôi tóc đen mắt đen. Đen thẫm như đêm, nó rất đặc biệt.”
Có vẻ bây giờ cô đã để ý một chút, rút điện thoại trong túi ra và kiểm tra. Ánh sáng từ màn hình chiếu lên những khoảng tối trên khuôn mặt cô.
“Anh đang ở đâu?” Cô hỏi.
“Tôi ở khu cabin gần cảng.”
“Anh may đấy, không phải ở nơi khác.”
“Nơi khác?”
“Vợ anh cần quần áo không? Có một cửa hàng ở trên tầng. Tôi dẫn anh lên.”
Hành lang bắt đầu đông đúc hơn, người đến từ khắp nơi. Tôi có thể thấy đủ kiểu tiếng Ả Rập, trộn lẫn với âm điệu lạ lùng và tiếng nói của những ngôn ngữ khác.
“Tiếng Anh của anh rất tốt,” cô nói khi chúng tôi đi lên cầu thang.
“Cha tôi dạy tôi từ bé. Ở Syria tôi làm kinh doanh.”
“Anh kinh doanh gì?”
“Tôi nuôi ong. Tôi có một vườn ong và tôi bán mật ong.”
Tôi nhìn vào đôi dép tông loạt quẹt dưới chân cô.
“Đảo này từng là một trại phong. Tòa nhà này giống như trại tập trung thời phát xít vậy. Mọi người bị nhốt lại, bị xiềng xích mà không có tên tuổi, giấy tờ. Trẻ em ở đây từng bị bỏ mặc, nằm bệnh trên giường cả ngày.”
Cô ngừng lời khi chúng tôi gặp một viên cảnh sát đang đi xuống. Anh ta không đeo kính, ở đây quá tối tăm, chỉ gật đầu và mỉm cười thân thiện với cô.
“Tầng hai và tầng bốn là khu ở,” cô nói tiếp khi viên cảnh sát đi khuất. “Ban đêm họ đốt lửa trại rất lớn dưới sân và đun nấu, bởi nếu không thì tất cả thức ăn chỉ có bánh mì que và bơ, thỉnh thoảng có thêm quả chuối. Có lúc các bà các bác đem rau từ vườn nhà họ tới làm món hầm. Ở tầng này có hai tiệm quần áo, một cái cho phụ nữ và trẻ em, một cái cho nam giới. Có khi anh cũng mua được vài thứ cho con trai đấy. Hôm nay có khá nhiều đồ, anh lại đến sớm, may đấy.”
Cô dẫn tôi tới tiệm quần áo cho phụ nữ và để tôi ở đó. Lúc bước vào tiệm, tôi nghe một người đàn ông ở hành lang nói với cô “Cô biết quy định rồi cơ mà. Chỉ hỏi họ cần gì. Không nói chuyện với họ.”
Tôi nấn ná ở cửa trong vài giây để nghe cô trả lời. Tôi mong nghe cô tỏ ra hối lỗi nhưng cô lại cười, tiếng cười đầy tự tin và thách thức quy định. Cô có sự tự tin được thừa hưởng từ một thế giới khác. Hành lang thoáng chốc chỉ còn lại tiếng bước chân, tiếng vọng tắt dần khi tôi bước vào cửa hàng. Những bức tường xanh rêu ẩm thấp, ánh sáng chiếu lên một kệ đồ qua khung cửa sổ dài có chấn song. Người phụ nữ trong cửa hàng đứng dậy, hai tay để sau lưng đầy cảnh giác.
“Tôi giúp gì được nhỉ?” Cô nói. “Anh cần đồ gì?”
“Tôi cần vài bộ đồ cho vợ và con trai.”
Cô hỏi tôi kích cỡ của hai người, gạt nhanh những mắc treo trên thanh ngang cho tới khi tìm được những món phù hợp.
Tôi rời đi với ba chiếc bàn chải đánh răng, vài lưỡi dao cạo, một bánh xà phòng, một túi đầy quần áo và đồ lót, một đôi giày cho Mohammed. Tôi nghĩ thằng bé chắc rất muốn chạy chơi nô đùa với lũ trẻ ở đây. Có lẽ sáng nay nó đã nghe thấy tiếng chúng chơi đùa và ra chơi cùng rồi. Hay là chúng ra biển để chào những người mới đến? Dọc bến cảng là vài cửa hàng: Vodafone, Western Union, một tiệm bánh mì, một quán cà phê, một sạp báo với biển đề bên ngoài đều bằng tiếng Ả Rập: sim thẻ, wifi, sạc điện thoại.
Tôi vào quán cà phê. Quán toàn những người di cư đang uống trà, uống nước, một chút đổi gió khỏi khu trại. Có người nói tiếng Kurd và tiếng Ba Tư. Phía trước, một người đàn ông và một cậu bé nói chuyện bằng tiếng Ả Rập vùng Syri. Người phục vụ từ bếp đi ra, mang theo tập giấy nhớ, hỏi tôi muốn uống gì. Đằng sau cô là một phụ nữ lớn tuổi hơn, bê một khay đầy toàn các ly nước. Chị đặt xuống các bàn, nói chuyện với khách, gọi đúng tên của họ. Chị đã học được ba thứ tiếng, mỗi thứ một chút.
Tôi gọi cà phê, hóa ra là được miễn phí và ngồi xuống một bàn. Cà phê được đem ra, tôi nhấp từng ngụm, thưởng thức. Chưa bao giờ tôi nghĩ được rằng mình sẽ ngồi đây, bên cạnh những gia đình khác mà không phải nghe tiếng bom đạn, không phải sợ hãi những tay bắn tỉa. Những hỗn loạn lắng xuống, lúc này đây tôi nhớ tới Sami. Và rồi tôi thấy tội lỗi vô cùng, khi được uống cà phê như thế này.
“Cậu đi một mình à?”
Tôi ngước lên. Người phụ nữ bê nước khi nãy đang nhìn tôi mỉm cười.
“Có nói tiếng Anh không?” Chị hỏi.
“Tôi có. Không, tôi đến với vợ và con trai. Tôi đang đi tìm nó. Thằng bé cao ngần này, tóc đen, mắt đen.”
“Như mọi thằng bé khác à!”
“Chị có biết chỗ nào bán sô cô la không?” Tôi hỏi.
Chị bảo có một cửa hàng tiện lợi ở cuối đường. Lúc này tôi thấy có người gọi cả đồ ăn. Những người tị nạn cũng kinh doanh ở đây; thường vào tháng Ba, khi hòn đảo gần như đã hoang vắng.
Tôi ra khỏi quán cà phê và tới cửa hàng tiện lợi, mua một lọ bơ đậu phộng và một ổ bánh mì tươi. Thằng bé sẽ thích. Tôi thật mong thấy nó hào hứng vui sướng.
Tôi vào một quán cà phê có mạng vì muốn kiểm tra email một chút, xem anh Mustafa có gửi thư cho tôi không. Gõ tên và mật khẩu thôi mà tôi cũng thấy lo lắng. Một phần trong tôi không muốn biết, bởi không có thư anh thì tôi không biết làm sao để gắng gượng đi tiếp. Nhưng thật vui vì tôi đã thấy vài tin nhắn đang đợi mình.
*
Ngày 4 tháng 2 năm 2016Nuri thân mến,
Mustafa hiện không đọc thư của em được. Hôm nay chị đã nói chuyện với anh ấy. Anh đã tới Pháp và nhờ chị kiểm tra tin nhắn, mong là có tin em, rồi trả lời em. Anh ấy ngóng đợi mỗi ngày. Chị thậm chí không biết làm sao cho em hiểu chị mừng thế nào khi thấy tin em. Chị và Mustafa đều rất lo lắng. Anh ấy không muốn nghĩ tới những chuyện xấu, nhưng thật khó, em cũng biết mà.
Khi nói chuyện lại với Mustafa, chị sẽ nhắn với anh ấy. Anh ấy sẽ vui lắm. Aya và chị đang ở Anh. Hai mẹ con đang ở trong một căn nhà thuê chung để đợi xem có được cho phép tị nạn hay không.
Mừng là em đã tới Istanbul, Nuri a. Hy vọng em bình an đến được Hy Lạp và những chặng đường tiếp theo.
Thương mến,
Dahab.
*
Ngày 28 tháng 2 năm 2016Nuri thân mến,
Cuối cùng anh cũng gặp được Dahab và con ở Anh. Hành trình qua Pháp thật kinh khủng, anh không muốn viết ra ở đây, anh sẽ kể cho em nghe khi em đến. Anh biết em sẽ đến được chỗ bọn anh. Mọi người đều mong đợi em. Em chưa đến, anh chưa yên tâm được. Em như em trai anh vậy, Nuri ạ. Gia đình vẫn chưa đông đủ khi thiếu em và Afra, Dahab đang rất buồn. Cô ấy cố gắng mạnh mẽ vì Aya nhưng từ lúc anh tới đây, cô ấy ôm bức ảnh của Firas mà nằm cả ngày trong bóng tối. Đôi lúc Dahab khóc nhưng hầu hết thời gian đều im lặng. Cô ấy không nói về thằng bé. Tất cả những gì cô ấy nói là cô ấy rất vui vì giờ anh đã ở bên cô ấy.
Thư trước em có nói em đã đến Istanbul rồi. Anh mong giờ em đã tới được Hy Lạp. Nghe nói Macedonia đã đóng cửa biên giới, nên chuyến đi sẽ khó khăn hơn, như anh từng gặp phải. Nhưng em phải đi tiếp. Lần tới nhận thư em, anh mong hai em đã tới gần bọn anh hơn.
Bao lần anh ước anh đã không nán lại thêm nữa, ước rằng anh rời khỏi Aleppo cùng Dahab và con ngay khi ấy, thì lúc đó Firas sẽ vẫn bên anh. Suy nghĩ này khiến anh khổ sở vô cùng. Chúng ta không thể trở lại quá khứ, không thể thay đổi những quyết định từng đưa ra. Anh không phải là người đã giết con. Anh cố ghi nhớ điều này vì nếu không anh sẽ lạc mãi trong bóng tối.
Ngày anh có tin em đã đến được Anh, ngày ấy lòng anh sẽ có chút ánh sáng.
Mustafa.
Tôi ngồi đó, đọc đi đọc lại bức thư. Em như em trai anh vậy, Nuri ạ. Ký ức đưa tôi quay về ngôi nhà trên núi dưới những tán thông và linh sam của cha anh Mustafa. Trong ngôi nhà âm u và lành lạnh là những đồ nội thất lâu năm từ gỗ cây nhạc ngựa, những tấm thảm đan thủ công, và ở một góc bên kia, phía dưới ô cửa sổ là chiếc bàn chân quỳ nơi tưởng niệm người mẹ đã khuất của anh. Những bức ảnh khi bà còn là một cô bé, rồi trở thành một phụ nữ xinh đẹp mảnh mai với đôi mắt lấp lánh. Những bức ảnh ngày cưới, những bức ảnh bà bé Mustafa trên tay và cả bức bà đang mang thai đứa con thứ hai, đứa trẻ không chào đời và đưa bà đi theo. Mustafa lớn lên dưới bàn tay chăm sóc và bảo vệ của cha và ông, không có anh chị em để vui đùa và nơi này cũng không còn người phụ nữ nào vỗ về an ủi hay sưởi ấm, vậy nên anh tìm sự khuây khỏa trong ánh sáng rực rỡ và thanh sắc rộn ràng của vườn ong.
Anh coi những con ong như anh chị em của mình, quan sát chúng, học cách chúng giao tiếp với bầy đàn, theo chúng suốt những con đường đi sâu vào núi và ngồi dưới tán cây ngắm chúng lấy mật từ hoa bạch đàn, hoa bông, hoa hương thảo.
Ông của Mustafa là một người mạnh mẽ, với đôi tay to lớn, con mắt tinh tế và khiếu hài hước tuyệt vời. Ông luôn ủng hộ Mustafa khám phá thiên nhiên. Ông rất thích tôi tới chơi, thường gọt khoai tây và dưa chuột cho chúng tôi, như thể chúng tôi vẫn còn bé và tôi là đứa con thất lạc của gia đình. Phết bơ và mật ong mới lấy lên bánh mì mềm cho chúng tôi xong, ông sẽ ngồi xuống kể chuyện ngày xưa và lại nhớ tới cô con dâu của mình. “Con bé ngoan lắm, chăm sóc ông rất chu đáo, không bao giờ phàn nàn khi ông càm ràm.” Sau ngần ấy năm, ông vẫn còn rưng rưng, đưa đôi tay đã đầy vết đồi mồi lên lau mắt. Ngồi trong gian phòng khách đó, dường như chúng tôi vẫn thấy được nụ cười chưa bao giờ tắt của mẹ anh, vịnh cảng bình yên che chở và ôm ấp chúng tôi, như âm thanh đầy mật ngọt của bầy ong.
Thoắt một cái, ông cụ phấn khởi trở lại. “Rồi, hai đứa đi đâu làm gì có ích tí đi nào. Dẫn Nuri đi xem cách lấy mật đi con. Nhớ ăn sữa ong chúa nữa đấy. Bị nhốt trong thành phố như thằng nhóc thì phải ăn mới được.”
Thế là Mustafa dẫn tôi tới nơi bầy ong đang ca hát.
“Anh tin là chúng ta sẽ cùng nhau làm nên chuyện đấy,” anh nói. “Chúng ta bổ sung cho nhau tốt thế này. Chúng ta sẽ làm được những điều tuyệt vời.”
***
Ngày 3 tháng 3 năm 2016
Anh Mustafa thân mến,
Lúc nào anh cũng như anh trai của em. Em nhớ những ngày đến chơi nhà anh trên núi, nhớ bức ảnh của mẹ anh và nhớ ông anh nữa. Thật ngưỡng mộ ông! Nếu không có anh, cuộc đời em đã rất khác rồi. Chúng ta đã cùng nhau làm được những điều tuyệt vời như anh nói. Nhưng cuộc chiến này đã cướp đi tất cả, mọi thứ chúng ta mơ ước và nỗ lực. Mất nhà, mất công việc, mất con. Em không biết làm sao em có thể sống như thế này. Em sợ rằng em chỉ còn là cái xác không hồn. Điều duy nhất giữ em bước tiếp là mong ước gặp anh, chị Dahab và cháu Aya.
Em mừng biết bao khi biết cuối cùng anh đã gặp được chị và cháu. Chỉ biết vậy thôi, chỉ cần biết anh đã đoàn tụ là em thấy rất vui giữa những lúc tăm tối tuyệt vọng.
Em và Afra đã đến đảo Leros và mong sẽ sớm tới được Athens. Nếu Macedonia đã đóng cửa biên giới, em sẽ tìm được đường khác thôi. Anh đừng lo, Mustafa. Em sẽ không dừng lại cho tới khi em tới được chỗ anh.
Nuri.
Tôi trở lại khu trại, trở lại nơi đầy sỏi cuội, bê tông và hàng hàng hộp vuông bị quây giữa lưới mắt cáo ấy. Afra đang đứng trước cửa cabin của chúng tôi, cầm chiếc gậy trắng như cầm vũ khí.
“Em đang làm gì thế?” Tôi hỏi.
“Anh đã đi đâu vậy?”
“Anh đi mua vài thứ.”
“Ồn ào quá. Em đã bảo chúng đi hết.”
“Ai cơ?”
“Lũ trẻ.”
“Thằng bé có quay lại không?”
“Thằng bé nào?”
“Mohammed.”
“Không có ai tới cả,” em đáp.
Tôi đặt chiếc túi xuống và bảo em mình sẽ lại ra ngoài để kiếm đồ ăn tối. Lần này tôi lên phố tìm Mohammed. Tôi đi theo tiếng cười của lũ trẻ, quanh mọi góc phố, trên những sân chơi, dưới những tán cây. Tôi quay lại tòa nhà kia, đi xem từng phòng, vào cả trung tâm trẻ em và phòng sinh, rồi phòng cầu nguyện. Tôi lại ra ngoài, đến một cửa hàng bên bờ biển. Bãi cát vắng lặng bên ngoài đầy dấu chân trẻ em nhưng giờ không còn ai ở đó nữa. Mặt trời sắp lặn. Tôi đứng đó một hồi lâu, hít thở chút không khí trong lành, cảm nhận ráng chiều vàng rực chiếu lên gương mặt mình.
Khi mở mắt ra, tôi thấy điều kỳ lạ nhất trên đời: ba bốn mươi con bạch tuộc đang xếp thành hàng trên dây phơi nắng. Hình dáng của chúng trên nền trời chiều khiến khung cảnh này như không hề có thật. Tôi dụi mắt, nghĩ mình ngủ thiếp đi à, nhưng lũ bạch tuộc vẫn ở đó, những chiếc tua rủ xuống vì trọng lực tạo thành hình thù kỳ dị, giống gương mặt của người đàn ông với bộ râu dài. Tôi chạm vào những thớ thịt dẻo dai đó, ngửi xem chúng còn tươi không và lấy một con đem về nướng. Tôi giữ nó trong tay như thể đang ôm em bé, tạt vào một tiệm để mua bật lửa và kiếm chút cành khô que gỗ gì đó trên đường về cabin.
Khi tôi về đến khu trại, Afra đang ngồi trên sàn, xoay xoay thứ gì đó trong tay. Tôi nhìn ra đó là viên bị trong suốt với những sọc màu đỏ của Mohammed. Tôi định hỏi về thằng bé, nhưng bỗng nhận ra gương mặt em trầm hẳn đi, đôi mắt không còn trống rỗng mà đầy buồn bã.
“Sao thế?” Tôi hỏi. “Trông em buồn thế.”
“Vậy ư?”
“Ừ.”
“Em vừa nhận ra là em đã làm mất cái vòng tay bạc… cái mẹ tặng em ấy.”
“Ừ, anh nhớ cái vòng đó.”
“Cái vòng có những ngôi sao nhỏ.”
“Ừ.”
“Em đã đeo lên lúc chúng ta rời đi. Chắc em đã làm rơi nó lúc ở trên thuyền. Giờ nó nằm dưới biển rồi.”
Tôi ngồi xuống bên cạnh và vòng tay ôm lấy em. Em ngả đầu vào vai tôi, như trước đây từng làm thế khi chúng tôi trốn dưới hầm trong khu vườn ở ngôi nhà tại Aleppo. Lần này em không khóc. Tôi cảm nhận được hơi thở của em nhè nhẹ trên cổ mình và hàng mi khẽ chớp trên da. Chúng tôi cứ ngồi như vậy cho đến khi trời tối dần, chỉ còn thấy ánh sáng từ chiếc máy sưởi ánh lên cả căn phòng. Xung quanh là những tiếng ồn ào của người la hét, trẻ chạy nhảy, tiếng gió trên những ngọn cây, thổi vào từng đợt như sóng triều. Tôi không biết liệu thằng bé Mohammed vẫn đang mải chơi hay đã biết tìm đường về cabin.
Tôi ra ngoài để xử lý con bạch tuộc, lấy chỗ cành khô nhóm lửa rồi nướng. Nướng bạch tuộc lâu hơn tôi tưởng, dù nó đã được phơi dưới nắng một hồi rồi.
Khi bạch tuộc chín mềm và nguội bớt, tôi xé ra và đem cho Afra. Em ăn rất ngon, còn liếm ngón tay, cảm ơn tôi và hỏi tôi lấy đâu ra bạch tuộc.
“Tự anh xuống biển bắt đấy à?”
“Không,” tôi bật cười.
“Nhưng làm sao mình mua nổi, bạch tuộc đắt lắm.”
“Anh tìm được.”
“Hả? Anh đang đi bộ, trầm ngâm suy nghĩ xong tim được một con bạch tuộc à?”
“Ừ.” tôi đáp.
Em cười vang, và cả mắt cũng cười.
Tôi nhìn ra cửa, trong lòng lo lắng, đợi Mohammed về.
Afra nằm xuống, gối đầu lên một tấm chăn và nhắm mắt lại mà không nói gì nữa. Tôi nằm xuống cạnh em, và một lúc sau, tôi nghe tiếng mở cửa rồi đóng cửa, tiếng khóa lách cách vang lên từ xa. Bên kia tấm rèm, đứa trẻ đang khóc, người cha lại thì thầm dỗ dành. “Không, chú có súng đó sẽ không giết chúng ta đâu. Con đừng lo! Không, chắc chắn họ sẽ không làm thế. Bố đảm bảo.
“Nhưng họ có thể bắn chúng ta.”
Người cha khẽ cười. “Không, họ ở đây là để giúp chúng ta đấy. Giờ nhắm mắt ngủ đi nào. Nhắm mắt lại nghĩ về những gì con thích nào.”
“Như chiếc xe đạp ở nhà ạ?”
“Ừ, đúng thế. Cứ nghĩ về chiếc xe đạp nhé.”
Im lặng suốt một hồi lâu và tôi cứ nghĩ cô bé ngủ rồi, nhưng lần này con bé nói khẽ hơn, bình tĩnh hơn.
“Bố ơi,” nó gọi.
“Ừ?”
“Con cảm nhận được rồi.”
“Cảm nhận được gì cơ?”
“Cảm nhận được mẹ đang vuốt tóc con.”
Và dù không ai nói nữa, tôi biết cõi lòng người cha đang trĩu nặng. Xa xa là tiếng cười đùa, mọi người nói chuyện, trêu chọc nhau. Tối nay không có tiếng la hét.
Tôi nhìn mấy miếng bạch tuộc, lọ bơ đậu phộng và những lát bánh mì cho Mohammed. Tất cả chúng đang để sẵn trên sàn phòng trường hợp thằng bé về giữa đêm. Nó sẽ thấy đồ ăn và hiểu đó là phần của mình. Nhưng khu trại đã đóng cửa rồi. Tôi bị nhốt bên trong còn Mohammed bị kẹt bên ngoài. Tôi ngồi dậy, dò dẫm đi giữa mê cung của những căn cabin trong bóng tối, tới sát mép của khu trại cho đến khi thấy cổng vào. Có hai cảnh sát đang cầm súng đứng gác ở đó.
“Anh cần gì thế?” Một người nói.
“Tôi cần ra ngoài.”
“Bây giờ rất muộn rồi. Anh có thể ra vào sáng mai.”
“Tức là tôi bị giam trong này? Như một người tù?”
Người đàn ông không đáp lại và ánh mắt cũng không thay đổi.
“Tôi cần tìm con trai tôi!”
“Anh có thể tìm nó vào sáng mai.”
“Nhưng tôi không biết thằng bé ở đâu.”
“Anh nghĩ nó đi xa được thế sao? Nơi này là đảo.”
“Nhưng nó chỉ có một mình và nó sợ.”
Hai người cảnh sát nghe không vào nữa. Họ đẩy tôi đi và tôi cố quay trở về cabin nhưng trời tối, nhìn đường thật khó, góc nào cũng như góc nào và tôi không biết đi đường nào. Có lẽ Mohammed cũng bị lạc như thế này chăng? Hay thằng bé mải chơi mà không tìm được đường về? Hay có một gia đình khác đã nhận nó rồi? Tôi quyết định nằm xuống nền cửa của một cabin xa lạ để có thể gần hơi ấm của chiếc máy sưởi một chút.
*
Tôi thức dậy vào sáng hôm sau, giữa tiếng mưa rơi lộp độp trên mái cabin. Tôi ướt sũng cả người nhưng bằng cách nào đó vẫn tìm được đường về với Afra. Tôi nhận ra một tấm ga giường màu hồng treo lên dây phơi. Trời mưa sầm sập. Lũ ruồi bay vào và bu kín những con bạch tuộc.Afra đã tỉnh nhưng vẫn nằm trên giường, nhìn lên trần nhà như thể đang nhìn trời sao. Tay em vẫn giữ chặt viên bi, giống hệt như Mohammed.
“Anh đã đi đâu thế?”
“Anh ra ngoài, xong về bị lạc.”
“Hôm qua em không ngủ được. Trời bắt đầu mưa và tất cả mọi thứ em nghe thấy, em nhìn thấy đều là mưa.”
Tôi đưa tay xua lũ ruồi trên mấy con bạch tuộc. Chúng bay tán loạn khắp cabin, lòng vòng một hồi rồi lại về chỗ cũ như có nam châm vậy.
“Em có đói không?”
“Anh muốn em giành bạch tuộc với lũ ruồi à?”
“Không,” tôi cười. “Chúng ta có bánh mì và bơ đậu phộng nữa.”
Tôi lấy bánh mì ra khỏi túi và xé thành miếng, phần cho Mohammed một ít. Sau đó, tôi mở hộp bơ đậu phộng và đang nghĩ làm sao để phết bơ lên bánh mì mà không cần dao. Afra bảo chấm bánh mì vào hộp bơ cũng được mà.
Đến gần trưa, mưa cuối cùng cũng tạnh. Tôi lại ra ngoài tìm Mohammed lần nữa. Lúc đầu, tôi tìm quanh khu ra vào, len lỏi giữa những container hàng mà giờ đã trở thành chỗ chứa người, từng hàng từng hàng, bên dưới những dây phơi giăng mắc áo quần, gọi to tên thằng bé. Mặt đất đã ngấm no nước. Chỗ sỏi trắng chỉ có thể hấp thu một lượng nước nhất định mà thôi. Cơn mưa này như hút hết nước từ biển. Bây giờ những dãy lưới mắt cáo và mọi thứ ở đây đều như được phủ một lớp bạc lỏng trong suốt, làm nơi này càng giống như một nhà tù. Mặt trời đã lên, nắng rọi từng luồng và nước đọng óng ánh như gương.
Tôi tìm đến tòa nhà cũ kỹ kia. Một cậu nhóc tầm cấp hai đang ngồi trên bậc thềm, đeo tai nghe, tựa đầu vào tường và nhắm mắt. Tôi khẽ lay thằng bé để hỏi liệu nó có thấy đứa trẻ nào giống Mohammed không. Nhưng đầu thằng bé ngả hẳn xuống vai, mắt hấp háy khe khẽ. Tôi có thể nghe thấy tiếng cười nói loáng thoáng của lũ trẻ đang chơi đùa trên tầng, tôi đi theo âm thanh ấy, băng qua hành lang, lên tới tầng bốn, nhìn vào từng phòng nơi cũng có những tấm chăn treo lên làm rèm ngăn, giày dép thẳng hàng ngay lối, thỉnh thoảng liếc thấy mái tóc, đôi chân hay cánh tay của ai. Tôi cất tiếng gọi: “Mohammed!” và một ông già cau có đáp lại tôi, “Gì? Anh muốn cái gì? Tôi đây. Anh đến đón tôi đấy à?”
Đến khi ra tới hành lang tôi vẫn nghe thấy tiếng ông lão đó. Trẻ con ở trong phòng cuối cùng, đầy đồ chơi, bóng bay và các trò board game. Một vài tinh nguyện viên đang ngồi quỳ bên những trẻ nhỏ hơn, một cô còn bế trẻ trong lòng. Cô trông thấy tôi và ra chào.
“Đây là khu trông trẻ,” cô nói từng chữ thật chậm.
“Rõ ràng,” tôi nói. “Tôi đang tìm con trai.”
“Tên cháu?”
“Mohammed.”
“Bao nhiêu tuổi rồi?”
“Bảy.”
“Trông như thế nào?”
“Thằng bé có tóc đen, mắt đen. Không phải nâu nhé. Đen như trời đêm.”
Tôi biết là cô đang cố gắng nhớ lại, nhưng cuối cùng, cô lắc đầu. “Đừng lo, cậu bé sẽ về thôi, trẻ con toàn thế mà. Khi nào cậu bé về, anh có thể đưa cho cháu cái này.” Cô lục tìm trong chiếc túi nylon và lấy ra một hộp chì màu gắn với một tệp giấy nhớ. Tôi cảm ơn và rời đi. Lần này, khi ra đến hành lang và đi xuống tầng dưới, tôi gần như có thể cảm nhận được những hồn ma đó, vẫn chưa lâu lắm, bị trói và xích vào giường bệnh. Tôi nghe thấy những tiếng vọng, giờ không còn là tiếng cười của trẻ con, mà là những âm thanh ở ranh giới của sức tưởng tượng, nơi phần người quay về phần con.
Tôi nhanh chóng ra khỏi đó, bước vào ánh nắng như bạc và đi về phía cảng. Quán cà phê vẫn đầy người, tôi vào ngồi một lát để sạc điện thoại và uống một cốc cà phê, quan sát hai phụ nữ mà sau đó tôi nhận ra là hai mẹ con, đem nước, trà và cà phê ra cho những người tị nạn, hết sức cố gắng nói chuyện với họ bằng chút tiếng Ả Rập hoặc tiếng Ba Tư mà hai người biết. Ngày hôm nay, ông bố và cậu con trai cũng ở đó. Cậu con trai là phiên bản nhỏ của ông bố, chỉ thiếu bộ ria mép. Tôi để mình thư giãn một chút, ngả người ra ghế và nhắm mắt lại, lắng nghe những cuộc trò chuyện xung quanh và tiếng ầm ì của biển đằng xa.
Tôi ngồi đợi ở đó đến hết buổi chiều nhưng không thấy chút bóng dáng nào của Mohammed. Lúc bốn giờ, tôi đến trung tâm đăng ký để xem họ đã kiểm tra xong giấy tờ và có thể cấp giấy thông hành cho chúng tôi chưa. Hàng trăm người vây quanh một người đàn ông đang lúng túng đứng trên một cái ghế con, giơ cao các tấm thẻ và đọc những cái tên ghi trên đó. Anh ta không gọi tên chúng tôi, nhưng tôi thấy không sao vì tối không muốn rời đi mà không có Mohammed.
Ngày tiếp theo cũng trôi qua như vậy. Mặt trời hong khô những giọt nước mưa đọng lại và gió đã ấm hơn, như thể bóng tối đã được rửa trôi. Và dù cho ngày càng có nhiều người lên đảo, bằng thuyền hay nhờ sóng, và càng ít người rời đi, nơi này vẫn có vẻ yên bình hơn. Có lẽ bởi có nhiều tiếng ồn quá mà tất cả chúng quyện vào nhau và trở thành tiếng mưa rơi lộp độp, tiếng sóng ầm ì, tiếng ruồi vo ve quanh những con bạch tuộc, và đẳng xa mùi đất bay lên tươi mới ngọt ngào, cây cối bắt đầu ra hoa kết trái.
Mohammed vẫn biệt tăm.
Tôi mất dần hy vọng vào buổi tối hôm sau. Tôi mở hộp chì màu ra.
“Gì thế anh? Afra hỏi, em nghiêng đầu về phía tiếng động. “Anh đang mở cái gì thế?”
“Bút chì.”
“Bút chì màu à?”
“Ừ.”
“Có giấy ở đó không?”
“Đây, một tập giấy nhớ.”
“Anh đưa cho em với.”
Tôi xếp tất cả chỗ bút chì màu thành một hàng trước mặt em và cầm tay em đặt lên chúng. Tôi mở xấp giấy nhớ ra và đặt nó vào lòng em.
“Cảm ơn anh,” em nói.
Tôi nằm xuống, nhìn chăm chăm lên trần cabin, nơi lũ nhện và côn trùng tụ tập hết vào một góc. Tôi nghe thấy tiếng trò chuyện loáng thoáng qua lớp rèm ngăn và bên ngoài những khoảng trống giữa các cabin. Tiếng bút chì sột soạt trên mặt giấy.
Vài tiếng sau, trời đã gần tối hẳn, cuối cùng Afra cũng cất tiếng. “Em vẽ cho anh này.”
Bức tranh ấy hoàn toàn khác với những tác phẩm của em: một cái cây đơn độc đứng trông ra một cánh đồng hoa.
“Làm sao em vẽ được?” Tôi hỏi.
“Em cảm nhận được nét chì trên mặt giấy.”
Tôi nhìn vào bức tranh lần nữa. Những màu sắc thật hoang đường – cái cây xanh dương, bầu trời đỏ rực. Những đường nét xô lệch, lá và hoa tứ tung. Nhưng bức tranh này lại như có ma lực, thật khó tả, như hình ảnh trong một giấc mơ nơi thế giới thực vượt xa sức tưởng tượng của chúng ta.
Chiều hôm sau tôi đã nghe thấy người ta gọi to tên mình ở trung tâm đăng ký. Tôi nhận được thẻ và giấy phép thông hành để rời hòn đảo và tới Athens: Nuri Ibrahim, Afra Ibrahim và Sami Ibrahim. Lòng tôi trĩu nặng khi nhìn đến cái tên Sami, được in thật rõ ràng trên tờ giấy trong tay tôi. Sami. Sami Ibrahim. Như thể con vẫn còn bên chúng tôi.
Tôi không nói cho Afra biết chúng tôi đã có giấy phép thông hành. Thậm chí tôi còn không tới đại lý du lịch để mua vé phà. Hết ngày lại đêm, Afra bắt đầu cảm thấy bồn chồn.
“Em gặp ác mộng,” em kể. “Em nằm mơ mình đã chết, lũ ruồi bâu kín lấy em mà em không thể động đậy để đuổi chúng đi được!”
“Em đừng lo, chúng ta sẽ nhanh rời khỏi hòn đảo này thôi,” tôi đáp.
“Em không muốn ở đây. Nơi này toàn hồn ma.”
“Hồn ma như nào?”
“Em không biết, không giống con người.”
Tôi biết em nói đúng. Tôi biết chúng tôi phải rời khỏi đây, nhưng tôi không muốn đi mà không có Mohammed. Nhỡ thằng bé quay lại và không biết chúng tôi ở đâu thi sao? Tôi biết thằng bé sẽ quay trở lại. Nó nhất định sẽ trở lại. Cảnh sát cũng nói rồi, đây là một hòn đảo, nó làm sao đi đâu xa được.
Đêm hôm sau trời lại mưa, Afra sốt rất cao. Đầu thì nóng, tay chân thì lạnh ngắt như nước biển. Tôi lau trán và ngực cho em bằng một mảnh vải ướt, chính là chiếc áo phông của tôi.
“Thằng bé đang chơi đấy,” em nói.
“Ai cơ?”
“Sami, em nghe được con. Anh bảo con cẩn thận.”
“Con không có ở đây,” tôi nói.
“Con bị lạc rồi.”
“Em nói ai thế?”
“Sami. Những ngôi nhà biến mất và con bị lạc.”
Tôi không nói gì nữa. Tôi nắm lấy tay em bằng cả hai tay mình, cố xoa cho nó ấm lên. Nhìn gương mặt quen thuộc của em, tôi biết em đang sợ.
“Em muốn rời khỏi đây,” em nói.
“Ừ, chúng ta sẽ rời khỏi đây.”
“Bao giờ? Sao chúng ta phải chờ lâu thế?”
“Chúng ta cần có giấy tờ.”
Ngày hôm sau em còn sốt cao hơn. Người em run lên và em kêu đau ở lưng và chân.
“Anh bảo con về ăn cơm tối đi.” Em nói khi tôi đang ủ chăn quanh người em.
“Ừ, để anh gọi.”
“Nó cứ rong chơi suốt ngày thôi.”
“Anh sẽ bảo con,” tôi đáp. Tôi tìm được vài quả chanh pha nước cho em uống nhưng càng ngày em càng yếu. Tôi nghĩ em đang mất hi vọng. Tôi biết chúng tôi phải rời khỏi nơi này, nên tôi báo với em rằng chúng tôi đã có giấy phép thông hành. Tôi đợi thêm vài ngày để em khỏe hơn, đến khi cuối cùng em cũng có thể tự đứng dậy và đi ra ngoài sưởi nắng. Sau đó, tôi đi mua vé và viết một lời nhắn.
Mohammed,
Chú đã đợi cháu suốt một tháng nay. Chú không biết chuyện gì đã xảy ra với cháu, cháu đã đi đâu và liệu cháu có về và quay thấy lời nhắn này không, nhưng chú đã tìm cháu mỗi ngày, và cầu nguyện Thánh Allah sẽ dõi theo cháu, bảo vệ cháu. Cháu hãy giữ chỗ tiền này và tấm thẻ. Cháu phải dùng cái tên Sami này nhé (đó là tên con trai của chú), và đi tới đại lý du lịch (nó nằm cạnh quán cà phê ở Cổng 7 ấy), tự mua vé phà tới Athens cho mình. Đừng để lỡ phà, vì cháu sẽ không có dư tiền để mua một chiếc vé nữa đâu. Cháu chỉ có một cơ hội thôi, vậy nên chú ý thời gian nhé.
Đây sẽ là lần thứ ba cháu ngồi thuyền đó! Khi đến Athens rồi, cháu hãy đi tìm chứ. Số điện thoại của chú đây: 0928-----. Nhớ là điện thoại có thể không hoạt động. Tên đầy đủ của chú là Nuri Ibrahim. Chú dự định sẽ đi từ Athens đến Anh. Nếu cháu đến Athens mà không tìm thấy chú, hãy kiên trì nhé. Cố gắng tìm đường đến Anh, và nếu cháu gặp bất kỳ ai tốt bụng, hãy nói với họ tên của chú và mong rằng họ sẽ giúp cháu tìm tới chú.
Chú rất mong gặp lại cháu. Trong lúc này, hãy luôn cẩn thận. Ăn uống đầy đủ và đừng bỏ cuộc, dù đôi lúc bỏ cuộc là điều dễ dàng hơn. Chú sẽ luôn nghĩ về cháu và cầu nguyện cho cháu dù cách trở xa xôi thế nào. Nếu phải qua biển thêm vài lần nữa, cháu cũng đừng sợ nhé. Mỗi ngày chú sẽ luôn cầu nguyện cho cháu.
Chú Nuri.
Viết xong, tôi gập lá thư cùng những tờ tiền rồi để vào chiếc phong bì, đặt nó dưới lọ bơ đậu phộng trên sàn trong góc cabin.