Tôi tỉnh dậy thấy Afra đang đặt tay lên ngực mình. Tôi cảm nhận được những ngón tay em, nhưng còn một điều gì đó khác nữa. Tôi nhớ tới Mohammed và chiếc chìa khóa tôi đã tìm thấy trong khu vườn của bà chủ nhà. Nhưng khi tôi đưa tay lên xem, đó là một bông hoa cúc.
“Anh lại có một món quà nữa cho em à?” Em nói. Em thực lòng muốn biết.
“Ừ,” tôi đáp.
Em đưa tay chạm vào cánh hoa và phần cuống.
“Hoa màu gì thế?” Em hỏi.
“Màu cam.”
“Em thích màu cam… Em tưởng anh sẽ ngủ dưới tầng suốt đêm. Em ngủ gật, bác Hazim đã dẫn em lên tầng. Bác ấy không muốn đánh thức anh.”
Giọng em phảng phất nỗi tuyệt vọng và những câu hỏi không nên lời. Tôi không thể chịu được mùi hoa hồng trên người em.
“Em thích là được rồi,” tôi nói, nhấc tay em khỏi ngực mình. Bông hoa rơi xuống giường.
Sau đó, khi tôi đã cầu nguyện và giúp Afra mặc đồ xong, Lucy Fisher tới. Hôm nay cô có vẻ vội, mang theo hẳn hai chiếc ba lô như đang định đi đâu đó. Lần này đi cùng cô còn có một người phụ nữ nữa mà tôi nghĩ là người phiên dịch. Chị có làn da nâu, dáng người đậm và đeo một chiếc túi đã cũ.
Chúng tôi ngồi trong bếp khoảng mười phút. Cô đưa cho tôi một tờ giấy mới với địa chỉ của quán trọ được in rõ ràng, nhắc tôi thời gian của buổi phỏng vấn cấp quyền tị nạn.
“Anh có năm ngày để chuẩn bị,” cô nói.
“Như kiểu đang ôn thi vậy,” tôi nói và cười, nhưng cô vẫn rất nghiêm túc. Cô nói thêm rằng Afra và Diomande mỗi người sẽ có một phiên dịch riêng, và tôi cũng vậy.
“Diomande cũng phỏng vấn vào hôm đó sao?” Tôi hỏi.
“Phải, anh chị và cậu ấy có thể đi cùng nhau. Nơi phỏng vấn ở phía nam Luân Đôn.” Cô cứ nói, vừa nói vừa mở tấm bản đồ ra, chỉ lên địa điểm đó, mở thêm một tấm sơ đồ tàu chạy, giải thích các thứ cho tôi, nhưng tôi thực sự nghe không vào lắm. Tôi muốn kể cho cô nghe về đội cánh của Diomande. Tôi muốn kể cho cô nghe chuyện của Mohammed và những chiếc chìa khóa, nhưng tôi sợ phản ứng của cô. Và rồi, qua khung cửa sổ, có thứ gì đó lọt vào tầm mắt tôi. Những chiếc máy bay trắng rạch ngang bầu trời. Nhiều quá, không đếm xuể. Tôi nghe tiếng gió rít, rồi đến tiếng đùng đùng, như thể bầu trời vừa rách ra. Tôi chạy ào đến bên cửa sổ. Máy bay xoay tít, bom rơi như mưa trút. Ánh sáng chói quá, tôi phải che mắt lại. Tiếng ồn khiếp quá, tôi phải bịt tai lại.
Có một bàn tay đặt lên vai tôi.
“Anh Ibrahim?” Tôi nghe người đó gọi mình.
Tôi quay lại và Lucy Fisher đang đứng phía sau tôi.
“Anh không sao chứ?”
“Máy bay,” tôi nói.
“Máy bay?”
Tôi chỉ vào những chiếc máy bay trên bầu trời.
Bỗng không ai nói gì. Và rồi tôi nghe Lucy Fisher thở hắt ra. “Không, không phải đâu,” cô nói rất nhẹ nhàng. “Anh nhìn kỹ xem, anh Ibrahim, chúng là chim.”
Tôi nhìn lại lần nữa và thấy những con hải âu đang chao liệng. Lucy Fisher nói đúng. Không có cái máy bay nào đang xoay tít cả, chỉ có một chiếc máy bay dân dụng bay đằng xa, ẩn hiện sau một dải mây. Trên đầu chúng tôi chỉ có những con hải âu.
“Đúng chứ?” Cô nói.
Tôi gật đầu, cô dẫn tôi trở lại ghế ngồi.
Lucy Fisher là một người phụ nữ làm việc rất năng suất, có thể ngay lập tức quay lại tập trung vào điều mình đang nói, chỉ sau một thoáng ngần ngại và một ngụm nước. Cô cần đảm bảo rằng việc sẽ đâu vào đấy. Và khi cô đưa đầu bút chì dọc theo đường tàu chạy trên bản đồ, tôi đã bình tĩnh lại và cảm thấy an tâm hơn. Cô nói tên những địa điểm mà tôi chưa nghe bao giờ, cô chỉ vào bản đồ và tôi tưởng tượng ra những đường phố, những ngôi nhà, những con ngõ, và công viên, và con người. Tôi tưởng tượng ra mình sẽ cảm thấy thế nào khi xa dần vùng biển và đi sâu vào đất nước này.
*
Buổi tối hôm đó, chúng tôi ngồi trong phòng khách. Ông lão Maroc đang giúp Diomande chuẩn bị cho buổi phỏng vấn. Hai người ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn ăn, trước mặt Diomande là một tờ giấy và một cây bút để cậu có thể ghi lại những điều cần chú ý.“Xin mời anh giải thích lý do tại sao anh lại rời bỏ đất nước mình,” ông lão Maroc nói. Diomande bắt đầu trả lời, vẫn là câu chuyện cậu đã kể trước đó, nhưng lần này cụ thể hơn. Cậu nói tên mẹ và các chị em gái, miêu tả công việc ở Gabon, tình hình tài chính của họ và sau đó cậu nói về lịch sử và chính trị, về thời Pháp thuộc của nước cậu, về nền độc lập vào năm 1960, những bất ổn trong nước và các cuộc nội chiến, nghèo đói lan rộng. Cậu kể Bờ Biển Ngà đã từng là một đất nước phát triển và ổn định ra sao, đã thay đổi thế nào sau cái chết của vị tổng thống đầu tiên. Cậu cứ nói cứ nói, tôi không nghe nữa, cho tới khi ông lão ngắt lời cậu.
“Bác nghĩ này, Diomande, họ là họ sẽ muốn nghe câu chuyện của riêng cháu.”
“Thì đây là câu chuyện của cháu mà!” Diomande khăng khăng. “Làm sao mà họ hiểu được nếu cháu không kể ra chứ?”
“Có lẽ họ biết những điều cháu vừa nói rồi.”
“Có lẽ họ không biết. Nếu họ không biết, làm sao họ hiểu lý do cháu phải tới đây.”
“Cháu phải kể câu chuyện của riêng cháu. Lý do cháu rời đi là gì.”
“Thì cháu đang giải thích mà!” Diomande bắt đầu nổi cáu, và tôi thấy cậu dần rướn người ngồi thẳng lên. Cơn giận có vẻ giúp cột sống của cậu thẳng ra.
Ông lão Maroc lắc đầu. “Tức giận không giúp được cháu đâu. Cháu phải có câu chuyện của chính mình. Cuộc sống của cháu từng như thế nào? Cuộc sống của mẹ và các chị em cháu ở đó ra sao? Chỉ chuyện này thôi Diomande ạ! Không cần một bài học lịch sử.”
Họ bắt đầu lại từ đầu. Afra đang ngồi trên chiếc ghế bành, trong lòng là tập giấy nhớ và bút chì màu, trên tay là viên bi ve của Mohammed. Tôi ngắm những đường vẫn trên viên bi, nhìn chúng quện vào nhau và sáng lên dưới ánh đèn bàn. Những giọng nói bên tai lặng dần. Tôi mặc kệ bài phỏng vấn của họ và bắt đầu nghĩ tới bầy ong. Tôi thấy chúng dưới bầu trời mùa hạ, bay cao và xa để tìm cây và hoa. Tôi nghe được bài hát của chúng. Tôi ngửi được hương mật và thấy được những cầu ong óng ánh dưới nắng hè. Mắt tôi trĩu lại nhưng vẫn kịp nhìn thấy Afra mở tập giấy, đưa tay xoa mặt giấy và lấy ra cây bút chì màu tím.
*
Tiếng những viên bi lăn trên sàn nhà làm tôi tỉnh giấc. Ngay tức khắc, tôi biết Mohammed đang ở đây. Tôi mở mắt ra và thấy thằng bé đang ngồi khoanh chân trên nền nhà, bên cạnh là một chiếc chìa khóa.“Cháu tìm thấy chìa khóa rồi hả?” Tôi nói với nó.
“Chú đã đánh rơi lúc trèo qua hàng rào đó.” Nó đứng lên, đi tới bên tôi. Hôm nay Mohammed mặc một bộ đồ khác, áo phông đỏ, quần soóc. Có vẻ thằng bé đang bận tâm chuyện gì đó. Nó cứ ngoảnh lại nhìn về phía cánh cửa đang mở dẫn ra hành lang.
“Mặc thế này cháu sẽ cảm lạnh đấy,” tôi bảo nó.
Thằng bé không nghe và bắt đầu đi về phía cửa. Tôi đứng dậy và đi theo. Chúng tôi lên cầu thang, đi dọc hành lang, qua tất cả các phòng ngủ và phòng vệ sinh, cho đến khi tới một cánh cửa ở cuối dãy mà trước đây tôi không hề biết là nó tồn tại.
“Sao cháu lại dẫn chú tới đây?” Tôi hỏi thằng bé. Nó đưa cho tôi chiếc chìa khóa.
Tôi tra chìa vào ổ, xoay một cái và cánh cửa mở ra. Luồng sáng mạnh ập tới làm tôi choáng váng, và khi mắt tôi thích ứng được với nó thì tôi nhận ra mình đang đứng trên một đỉnh đồi trông xuống Aleppo. Trăng tròn vành vạnh, nằm kề sát đường chân trời, bàng bạc toàn một màu cát hoang mạc. Một vầng trăng máu.
Tôi có thể nhìn ra xa thành phố, những tàn tích và những đỉnh núi, những đài phun nước và những ban công. Phía đằng đông bao la là những vườn ong, bụi mận gai và hoa dại. Lũ ong bặt tiếng. Chỉ có những con ong thợ làm việc dưới ánh trăng. Ong không nhìn thấy con người. Không khí ấm và thơm mùi ngọt của đất và nắng. Bên trái tôi là một con đường dẫn xuống thành phố, tôi men theo nó cho tới khi gặp dòng sông. Nó chảy ra từ công viên của thành phố và chật vật lách mình qua khe núi. Mặt sông trở nên lấp lánh dưới vầng trăng đêm vằng vặc.
Phía trước tôi có ai đó đang chạy, một tia sáng đỏ thoáng qua. Tôi đi theo âm thanh ấy vào sâu trong những con hẻm. Giờ trời đã tối hơn, đèn đường đã lên, ở các quầy hàng trong chợ, từng tháp bánh baklava tỏa sáng như dát vàng. Bàn được bày ra bên ngoài các quán cà phê, với thực đơn, cốc đĩa, dao nĩa cùng một bông hoa cắm trong chiếc lọ mảnh mai. Các cửa hàng bày ra tủ kính nào giày dép, túi xách giả hiệu, nào thảm trải, hộp quà, cà phê, nào nước hoa, da thuộc và cuối cùng là một cửa hàng bày kín những mẫu khăn trùm đầu bằng những chất liệu sang trọng nhất, xanh ngát và đỏ son, như khói tỏa trong ánh đèn.
Ở mái vòm cao cao trên đầu tôi là một tấm biển ghi chữ Bảo tàng. Ngay dưới mái vòm, tôi nhận ra mình đã tới cửa tiệm cũ kỹ của cha. Cửa đã đóng. Tôi dán mặt vào lớp kính và nhìn vào trong. Từng cuộn vải chất cao ở trong góc, lụa và lanh với đủ màu sắc. Đằng trước là ngăn kéo đựng tiền và hộp đồ nghề của ông với đủ loại kéo cắt, kim khâu và búa kim hoàn.
Phía cuối con hẻm bỗng có ánh sáng tím lóe lên. Khi nhìn kỹ, tôi thấy Mohammed đang rẽ vào đầu đó. Tôi gọi thằng bé, bảo nó đợi mình, đừng có chạy nữa, đang đi đâu thế. Nhưng nó không chậm lại đợi tôi, nên tôi phải bước nhanh hơn để bắt kịp thằng bé. Vậy mà đến khi tới cuối hẻm, một không gian khác lại mở ra, tôi thấy mình trở lại bên bờ sông và mặt trăng đã lên cao hơn. Không thấy bóng dáng Mohammed đâu nữa, tôi đành ngồi xuống đất, sát mặt sông, và đợi
bình minh
lên ở Piraeus, hải âu bay rợp trời. Chúng tôi cập cảng Athens và được đưa tới một sân bê tông gần đó, nơi nằm dưới tầm ngắm của những chiếc cần cẩu và đang hết chỗ dựng lều. Những người không có lều đang phải quấn chăn và ngồi trên mặt đất. Lũ chim sục sạo đống rác quanh họ và mùi nước thải bốc lên nồng nặc.Chúng tôi đứng dưới một tòa nhà hình chữ nhật dài, với mặt tường được vẽ kín cảnh một bến cảng xập xệ với những con sóng bạc đầu cao tít cùng một con thuyền cổ với cánh buồm căng gió. Trên tảng đá của bến cảng kia là một chiếc cần cẩu và dưới chân nó là một đảm người từ thuở nào. Sami chắc sẽ thích bức tranh này. Thằng bé thích tưởng tượng ra các câu chuyện về người ta lắm, con thuyền có lẽ là một phương tiện du hành thời gian, hoặc, với cái tính hài hước của nó, thì có lẽ là cái cần cẩu mới đúng. Chiếc cần cẩu túm cổ áo người ta nhấc lên và thả họ xuống dòng thời gian khác.
Tôi ước mình không cần đi tiếp nữa, ước gì mình có thể trở thành một phần của bức tranh này, ngồi trên tảng đá bên bến cảng mà ngắm biển mãi mãi.
Afra và tôi tìm được chỗ trên một tấm chăn trải ra nền đất. Người phụ nữ đối diện tôi ngồi một mình với ba đứa trẻ: một đứa trong chiếc địu đằng trước, một đứa sau lưng và một đứa đang tuổi tập đi ở bên cạnh bám chặt lấy tay chị. Chị có đôi mắt hạnh, chiếc hijab trùm qua loa lên tóc. Hoặc lũ trẻ là cặp sinh đôi, hoặc một trong số chúng không phải con chị. Chị đang nói gì đó bằng tiếng Ba Tư với thằng bé. Nó lắc đầu, chúi mũi vào ống tay áo của chị. Tôi thấy một cô bé khác đứng gần đó, trên má có một vết sẹo bỏng, và tôi nhận ra cô bé đã mất ba ngón tay. Tôi liền quay đi khi con bé bắt được ánh mắt của mình. Tôi quay sang nhìn Afra đang ngồi yên lặng bên cạnh trong bóng tối an toàn của em.
Bỗng nhiên có một tia sáng lóe lên và trong giây lát, tâm trí tôi tràn ngập ánh sáng.
Khi định thần lại, tôi thấy một vật màu đen tròn và dài chĩa thẳng vào mình. Súng? Một khẩu súng sao? Tôi như ngạt thở, cố gắng hít lấy chút không khí, hai mắt mờ đi, cổ và mặt nóng bừng, những ngón tay tê dại. Là một chiếc máy ảnh.
“Anh không sao chứ?” Tôi nghe người đàn ông nói. Chiếc máy ảnh được thu về và anh ta bỗng nhiên cảm thấy xấu hổ, như thể anh ta không nghĩ được rằng mình đang chụp ảnh một người sống sờ sờ. Đảo mắt một cái, anh ta xin lỗi qua quýt rồi rời đi.
Mọi người đến để kiểm tra giấy tờ và tối hôm đó, chúng tôi được đưa vào trung tâm thành phố Athens bằng xe khách, tới một tòa nhà cũ nát, một trường học với những ô cửa sổ dài trông xuống sân chơi. Cái sân đang đầy người, người ngồi trên bục, trên ghế, người thì đang xếp hàng rửa ráy. Đứng lẫn lộn với họ là các nhân viên và tình nguyện viên. Một người trong số đó, một người đàn ông da trắng với mái tóc tết kiểu bện thừng, đến đón và đưa chúng tôi vào tòa nhà, đi lên hai tầng và tới một phòng học bỏ hoang. Afra leo chậm, cẩn thận từng bước.
“Nói được tiếng Anh với anh thật tốt quá,” anh nhân viên nói, “nhưng tôi đang cố học tiếng Ả Rập và một chút tiếng Ba Tư nữa. Khó kinh khủng.” Anh lắc đầu, nhìn Afra. “Phòng học ở dưới tầng là phòng cho các hoạt động. Vợ anh cũng nói được tiếng Anh chứ?”
“Không nhiều lắm.”
“Leo cầu thang thế này cô ấy có sao không?”
“Không sao đâu,” tôi đáp. “Chúng tôi còn từng trải qua nhiều chuyện tệ hơn.”
“Anh chị gặp may đấy. Nếu đến từ khoảng hai tháng trước thì chắc phải ra ở hè phố hằng tuần, mà giữa mùa đông luôn. Nhưng bên quân đội cử người đến và chuyển rất nhiều người đi rồi, nên chúng tôi dựng những lều này ở đây. Còn một khu lớn hơn nhiều ở chỗ sân bay cũ Ellinikon ấy, và ở công viên…” Mạch nói ngừng lại như thể anh bỗng nhiên bị phân tâm, và tôi nghĩ chắc anh không muốn nói thêm về chuyện này nữa.
Anh đưa chúng tôi vào một lớp học, vươn tay ra giới thiệu nó với lòng bàn tay mở ra, cùng một cử chỉ mỉa mai. Trong phòng học là ba chiếc lều làm từ ga giường. Tôi thấy thật thiện cảm với người đàn ông này. Đôi mắt anh có ánh sáng, không phải sự sợ hãi hay mệt mỏi như những nhân viên trên đảo Leros.
“À, tên tôi là Neil.” Anh phất phất thẻ tên của mình. “Anh chị chọn một trong ba lều đó nhé. Bữa tối lát nữa sẽ được phục vụ ở sân trường. Anh chị xem cả thời khóa biểu trên tường kia nữa, xem luôn nhé. Có giờ học và hoạt động vào buổi chiều cho lũ trẻ. Con anh đâu nhỉ?”
Những từ cuối như những viên đạn bất ngờ bắn vào lồng ngực tôi.
“Con tôi đâu nhỉ?”
Neil gật đầu và mỉm cười. “Nơi này là dành riêng cho các gia đình. Tôi tưởng… Trên thẻ thông hành của anh… Ngôi trường này dành cho gia đình nào có trẻ em.”
“Tôi mất con rồi,” tôi đáp.
Neil chần chừ, trán anh nhăn tít lại. Anh liếc nhìn xuống đất, phồng má suy nghĩ rồi nói. “Thế này nhé. Đây là những gì tôi có thể giúp. Anh chị có thể ở đây đêm nay và tôi sẽ xem chúng tôi có thể giúp được đến đêm mai không, như thế vợ anh sẽ được nghỉ ngơi thoải mái hơn.” Nói rồi anh để chúng tôi lại trong căn phòng học cũ, một lát sau quay lại với một gia đình khác với hai vợ chồng và hai đứa con.
Tôi không muốn nhìn vào những đứa trẻ ấy, một bé trai và một bé gái, đang nắm tay cha mẹ. Tôi không muốn biết về sự tồn tại của chúng, nên tôi không chào hỏi chúng như vẫn hay làm. Tôi quay người đi, cùng Afra vào trong một chiếc lều, đặt đồ đạc xuống, cùng nằm xuống đệm, đối diện nhau mà không nói năng gì. Trước khi chúng tôi ngủ thiếp đi, em nói “Mai anh tìm cho em một ít giấy với chì màu nữa được không?”
“Ừ,” tôi đáp.
***
Gia đình kia cũng nhanh chóng đi nghỉ, và cả căn phòng cuối cùng cũng có được sự yên lặng dễ chịu. Tôi suýt nữa thì tin rằng mình đang ở trong một khách sạn hạng sang và tiếng cười nói ồn ào loáng thoáng phía trên tôi là tiếng của những vị khách khác. Tôi nhớ ngôi nhà của cha mẹ ở Aleppo, nhớ hồi bé tôi sợ ngủ làm sao cho đến khi nghe được tiếng bước chân như vỗ về của mẹ vang lên ở ngưỡng cửa phòng. Mẹ sẽ ngó vào, và khi tôi thấy vài tia sáng lọt qua khe cửa mở hé, tôi mới yên tâm và thiếp đi. Buổi sáng, mẹ sẽ giúp cha công việc ở tiệm vải, và dành suốt mấy tiếng buổi chiều để đọc báo, cầm chiếc quạt đỏ cụ ngoại cho mẹ. Cái quạt làm bằng lụa, có hình một cây anh đào với một chú chim, cùng một chữ Trung Quốc mà mẹ nghĩ nghĩa là nhân duyên và số mệnh. Mẹ nói chữ này rất khó dịch, nhân duyên là một điều kỳ diệu khiến hai cuộc đời gặp gỡ theo một cách đặc biệt.
Nó luôn khiến tôi nhớ đến hôm tôi gặp anh Mustafa. Sau khi mẹ anh, người bác của tôi, qua đời, gia đình chúng tôi mất liên lạc và mất ít nhất mười lăm năm không qua lại gì với nhau. Cha anh Mustafa sống một cuộc đời tách biệt trên những rặng núi, trong khi bố mẹ tôi là người thành phố, làm việc trong hơi nóng và tiếng ồn của phố chợ với việc buôn bán khắp nơi trên thế giới. Chính một ông khách Trung Quốc đã cho cụ ngoại tôi chiếc quạt kia. Ông ấy là thợ may ở Bắc Kinh, tự dệt lụa rồi vẽ tranh trên đó. Một hôm cha tôi sai tôi đi lấy ít trái cây, và tôi đã đi đường vòng để tạt qua bờ sông, nằm một lát dưới tán cây. Tôi phát chán việc bị nhốt trong cửa tiệm ấy, và ông lúc nào cũng muốn thúc tôi học càng nhiều càng tốt, để phục vụ khách, để nói tiếng Anh cho hay. Vậy nên khi cửa tiệm vắng khách, tôi vẫn sẽ ngồi đó với quyển sách ngữ pháp tiếng Anh mở ra trong lòng, vì theo như lời bố, đấy là con đường để tiến lên phía trước.
Tôi nóng và mệt. Đang giữa tháng Tám, không khí làm tôi thấy như thể chúng tôi đang ở sa mạc. Ngồi bên bờ sông, dưới bóng mát của cây cam đắng thật dễ chịu. Tôi phải ở đấy đến mười lăm phút thì có một thanh niên đến gần. Anh lớn hơn tôi khoảng mười tuổi và đen hơn tôi nhiều, cứ như sống và làm việc suốt ngày dưới ánh mặt trời vậy.
“Em có biết đường đến cửa hàng này không?” Anh chỉ vào một mẩu giấy trong tay mình, vẽ qua loa một con đường và một cửa hàng với hình mũi tên và vài chữ Mật ong Aleppo.
“Cửa hàng Mật ong Aleppo ạ?” Tôi hỏi.
Anh gật đầu, rồi lại lắc ngay, một cái tật rồi tôi sẽ thấy rất thường xuyên.
“Không phải ạ?” Tôi hỏi.
“Đúng vậy,” anh đáp, mỉm cười, lại lắc đầu lần nữa.
“Em về đường kia. Anh đi theo em đi. Em sẽ chỉ đường cho anh.” Và chúng tôi cứ thế vừa đi vừa nói chuyện. Ngay lập tức anh kể cho tôi nghe về vườn ong trên núi. Cha bảo anh vào thành phố để lấy mẫu những loại mật ong khác nhau. Anh kể anh vừa nộp đơn xin nhập học vào khoa nông nghiệp của Đại học Damascus, anh muốn học về thành phần của mật ong. Tôi kể cho anh nghe về tiệm vải của cha, nhưng cũng không nói gì nhiều lắm, bởi tôi cũng không thích nói chuyện như anh, và cũng bởi tôi chẳng hứng thú với nó nhiều đến thế. Tôi chỉ cho anh cửa hàng anh cần tìm khi đi ngang qua và đưa anh tới tận cửa rồi chào tạm biệt.
Một tuần sau anh đến tìm tôi ở tiệm vải của cha, mang theo một lọ mật ong to. Anh mới nhận tin báo đỗ từ trường đại học, vậy nên sau này anh sẽ tới Aleppo thường xuyên hơn, và anh muốn cảm ơn tôi vì đã dẫn đường cho anh hôm ấy. Lúc nhìn thấy anh đứng ở cửa với lọ mật ong trên tay, mẹ tôi sững sờ đến mức đánh rơi chiếc quạt. Mẹ đứng dậy, bước tới và nhìn anh hồi lâu rồi khóc nức nở.
“Mustafa? Là cháu đấy ư? Lần trước ta gặp cháu, cháu mới có mấy tuổi chứ? Mới chỉ là một cậu bé thôi. Trời ơi, khuôn mặt vẫn không khác tí nào.” Sau này mẹ tôi bảo hôm ấy như thể mẹ đã nhìn thấy chị gái tái sinh. Tình bạn của tôi và anh Mustafa đã bắt đầu như thế, với một cuộc gặp gỡ bên bờ sông và sau đó là với một lọ mật ong. Một thế lực huyền bí nào đó mà tôi không bao giờ hiểu được đã đưa anh Mustafa tới với tôi, giúp anh tìm được tôi khi tôi còn đang thẫn thờ bên bờ sông và vô vọng với sự nghiệp tương lai. Cuộc đời của tôi đã thay đổi mãi mãi kể từ giây phút đó. Nhân duyên. Nhân duyên. Hai chữ ẩn hiện trong cái nóng mùa hè, dưới đôi mắt của mẹ tôi.
Tôi tua đi tua lại đoạn ký ức ấy trong tâm trí mình, như đang tua một cuộn băng xưa, cho tới khi ngủ thiếp đi.
***
Tôi tỉnh giấc giữa đêm vì tiếng la hét và tiếng rít vang trời, một quả bom xé toạc màn đêm. Tôi ngồi bật dậy, cả người ướt đẫm, đầu đau như búa bổ và bóng tối xung quanh cũng như đang đập thình thịch. Tôi thấy khung cửa số lờ mờ qua tấm ga treo lên làm rèm. Ánh trăng lọt vào. Gương mặt của Afra mờ nhòa trong bóng tối, và tôi dần nhớ ra mình đang ở đâu. Tôi vươn tay ra cầm lấy tay em. Đâu có quả bom nào đâu. Chúng tôi không còn ở Aleppo nữa. Chúng tôi đang an toàn ở Athens này, trong một ngôi trường cũ. Tiếng thình thịch trong đầu tôi đã lặng dần, nhưng tiếng hét vẫn còn đó, và khi nó đột ngột tắt vài phút sau đó, xung quanh tôi bỗng tuyệt nhiên không còn âm thanh gì nữa. Tiếng vọng từ các căn phòng khác, từ những tầng khác, tiếng người khóc trong tuyệt vọng, tiếng ván sàn cọt kẹt, tiếng bước chân, tiếng thì thầm, tiếng cười nói. Tiếng cười như vắng lại từ bên ngoài, từ dưới sân chăng. Tiếng cười của một người phụ nữ.
Tôi bước khỏi lều, ra ngoài phòng học và đi vào hành lang. Phía đầu kia, bên cửa sổ, một người phụ nữ đang đi đi lại lại, đôi dép nghiến lên sàn đá cẩm thạch xoàn xoạt, hai mắt dán xuống nền nhà. Cả người căng cứng, cong xuống, giật mình rồi lại đứng thẳng, như một cỗ máy đồ chơi. Tôi đến gần, do dự giây lát rồi đặt tay lên cánh tay của chị, hi vọng giúp chị bình tĩnh và hỏi chị có cần giúp gì không, nhưng khi người phụ nữ ngẩng lên, tôi nhận ra là chị đang mộng du. Đôi mắt chị mở to, rưng rưng sợ hãi và ánh mắt của chị như xuyên qua tôi. “Anh về từ lúc nào thế?” Chị hỏi tôi.
Tôi không trả lời. Tôi biết rằng ta không bao giờ nên đánh thức một người đang mộng du, họ có thể sẽ chết vì sốc. Tôi để chị tiếp tục lang thang như vậy trong cơn ác mộng của mình.
Tôi lại nghe thấy tiếng cười ấy, đột ngột và the thé, xé ngang những âm thanh mơ màng của giấc ngủ. Trong một căn phòng học phía trên, ai đó đang ngáy. Trong một căn khác, một đứa trẻ đang khóc. Tôi theo tiếng cười mà đi xuống cầu thang, bước vào trong sân và bất ngờ khi thấy còn rất nhiều người đang thức. Giờ phải hai giờ sáng rồi. Cảnh tượng đầu tiên tôi nhìn thấy là vài đứa nhóc cả trai lẫn gái đang ngồi trên ghế gỗ túm tụm lại một góc ở chân tường, chuyển tay nhau một chiếc túi giấy và hít thứ gì trong đó.
Một đứa ngước lên nhìn tôi, ngẩn người. Trông con bé sai sai, con ngươi giãn ra và đôi mắt gần như chỉ toàn màu đen. Gần đó, hai người đàn ông đang ngồi bệt trên mặt đất, dựa lưng vào tường hút thuốc. Trên chiếc bục chắc từng một thời được làm sân khấu, hai cậu bé đang đá bóng dưới nguồn sáng duy nhất của cả cái sân. Ở giữa sân, ba người đàn ông với nước da sậm màu đang tranh luận kịch liệt, mỗi người nói một kiểu tiếng Ả Rập. Một người đẩy vai người kia, và người còn lại xen vào, tách họ ra, cao giọng nói gì đó rồi mở chốt cửa sân, đẩy cánh cửa nặng nề mở ra. Cả ba giải tán.
Khi cánh cửa đóng lại, tiếng kim loại ken két vang vọng khắp sân cuối cùng cũng tắt hẳn, tôi thấy mình đứng đối diện một trái tim khổng lồ màu xanh được sơn trên cả hai phần cánh cửa, mỗi bên có vẽ thêm một đôi cánh màu đỏ rực. Trên đầu trái tim phẳng lì là một hòn đảo, một cây cọ và một vầng mặt trời rực rỡ đang nhô lên. Trên nền xanh mát của những bức tường cũ, trái tim kia như đang phập phồng sự sống trong ánh đèn đêm.
Đằng sau tôi lại vang lên tiếng cười quen thuộc kia. Tôi quay lại nhìn. Trong góc sân phía xa, trên băng ghế duy nhất, dưới một giàn dây phơi, chính là người phụ nữ đang cười đó.
Cô gái trẻ, mái tóc tết kiểu chân rết, sau đó buộc cao thành đuôi ngựa, làn da đen sẫm. Bước lại gần tôi mới nhận ra bầu ngực cô đang rỉ sữa. Cô bắt gặp ánh mắt của tôi, vô thức đưa tay khoanh trước ngực.
“Là vì họ đã đưa cô ấy đi sao?” Cô nói bằng tiếng Anh. “Họ đưa ai đi?”
Cô không trả lời tôi ngay. Hai mắt cô đảo quanh vẻ để phòng.
“Tôi không sống ở đây. Ban đêm tôi mới tới đây cho an toàn, nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi.”
Tôi ngồi xuống cạnh cô. Cô quay sang và chìa cánh tay cho tôi xem. Trên đó là rất nhiều những vết chấm tròn nho nhỏ.
“Máu của tôi đấy,” cô nói. “Họ đã làm bẩn nó.”
“Ai làm?”
“Tôi đang ở trong một căn phòng thì anh ta tới cố để giết tôi. Anh ta giữ đầu tôi và ấn xuống sàn. Tôi hết cả hơi. Từ đấy tôi không thở được nữa. Giờ người tôi không có hơi thở đâu. Tôi đã chết rồi.”
Nhưng đôi mắt cô vẫn tràn ngập sức sống.
“Tôi suýt muốn đến Đức, hoặc Hy Lạp,” cô nói tiếp. “Tôi phải rời khỏi đây. Nhưng e là khó, vì Macedonia đã đóng cửa biên giới. Athens ở trung tâm. Mọi người đều đến đây để đến những nơi khác. Mọi người đều bị kẹt ở đây.” Hai mày nhăn tít lại, cô trở nên buồn bực hơn. “Mọi người chết dần chết mòn ở đây. Chết từ bên trong. Từng người, từng người một.”
Tôi bắt đầu cảm thấy nhộn nhạo. Tôi nghĩ giá như khi nãy đừng có lại gần và bắt chuyện với người phụ nữ này, với bầu ngực đang chảy sữa và dòng máu đã nhiễm độc này.
Những đứa trẻ chơi đá bóng đã rời đi, nơi này càng yên tĩnh. Luồng sáng giờ chiếu xuống cái bục đã trống không. Hai người đàn ông vẫn đang hút thuốc nhưng lũ choai choai ngồi trên ghế gỗ đã tản đi hết. Chỉ còn hai thằng bé đang ngồi nghịch điện thoại, khuôn mặt sáng lên nhờ ánh sáng từ màn hình.
“Họ bảo tôi phải uống thật nhiều nước, để tốt cho máu ấy, nhưng tôi chết rồi.” Cô đưa tay tự cấu mình. “Tôi như một tảng thịt thôi. Thịt sống á? Thịt thiu thôi. Thế mà tôi vẫn đang bị ăn.” Cô lại cấu tay mình và cho tôi xem những vết sẹo. Tôi không biết phải nói gì trong tình cảnh này. Tôi mừng vì cô không cười nữa, ít nhất là được một lúc. Nhưng sự im lặng ngay sau đó còn tồi tệ hơn.
“Cô sống ở đâu?” Tôi hỏi.
“Ở công viên. Nhưng thỉnh thoảng tôi đến đây, ở đây an toàn hơn, lại bớt gió. Ở công viên chúng tôi ở chỗ cao lắm, cạnh các vị thần.”
“Sao tiếng Anh của cô tốt thế?”
“Mẹ tôi dạy.”
“Cô quê ở đâu?”
Thay vì trả lời tôi, cô gái bật dậy, nói: “Đến giờ đi rồi. Tôi phải đi bây giờ.” Và tôi nhìn theo cô mở chốt cổng sân, đẩy nó ra, cắt đôi trái tim màu xanh. Cánh cửa đóng lại, trong sân lại tràn ngập yên lặng. Hai cậu bé đá bóng giờ cũng đi nốt, chỉ còn hai đứa đang nghịch điện thoại, dựa vào tường, vẫn hút thuốc. Và qua những khung cửa sổ của các phòng học, tôi nghe tiếng những đứa trẻ khóc, một đứa nhỏ một đứa lớn.
Tôi tìm đường về phòng, lên cầu thang, băng qua hành lang. Người phụ nữ mộng du không còn ở đó nữa. Sự tĩnh lặng của toàn bộ nơi này đang an ủi hồn tôi.
***
Tôi thức dậy trước tấm rèm trắng lóa và những âm thanh hỗn độn của máy móc và tiếng la hét bằng đủ thứ tiếng. Ả Rập, Hy Lạp hay Ba Tư, hay cả ba trong một câu. Afra vẫn đang ngủ.
Tôi đi xuống đã thấy dưới sân để đầy các thủng thưa toàn chuối đã thầm gần hết và rất nhiều túi bỉm trẻ con. Hai người đàn ông đang khiêng máy tải khoai tây, và ba người khác thì khiêng những hộp lần lượt gắn nhãn: rao cạo, bàn chải, giấy viết, bút. Bên ngoài cổng sân, vài chiếc xe tải trắng với logo của các nhà từ thiện đang đỗ chờ. Tôi đi vào khu cho trẻ em, thấy một phụ nữ đang sắp xếp đồ chơi, giấy bút và chì màu.
“Xin lỗi chị,” tôi nói.
“Vâng, anh cần gì?” Người phụ nữ đáp bằng một thứ tiếng Anh lơ lớ.
“Chị có chút giấy và bút chì màu nào ở đây không?”
“Đó là đồ cho trẻ em anh ạ,” cô đáp.
“Con trai tôi đang ở tầng trên. Cháu không khỏe lắm, tôi nghĩ cháu muốn vẽ vời một chút cho khuây khỏa.”
Người phụ nữ lục tìm trong túi và lôi ra một tập giấy cùng một hộp chì màu. Chị đưa cho tôi, miễn cưỡng mỉm cười.
“Khi nào cháu khỏe anh đưa cháu đến đây nhé,” chị nói.
Afra vẫn đang ngủ. Tôi để giấy và bút ngay dưới tay em, để em biết chúng ở đó khi thức dậy. Tôi cứ ngồi cạnh em như thế một lúc lâu, nhìn mãi lên tấm vải phủ trắng lóa dưới ánh mặt trời của chiếc lều, và trong giây lát, đầu óc tôi như trống rỗng. Những hình ảnh thi nhau hiện lên. Dòng Aleppo ở bên trái, bên phải là con phố xám xịt với một cây cam chua, phía trên là khách sạn Baron trứ danh, đằng xa là nhà thờ Umayyad tọa lạc ở quận Al-Jalloum trong ngôi thành cổ, ánh hoàng hôn đổ sắc cam vàng rực lên những mái vòm của nó, rồi xa nữa là những bức tường thành, những tòa nhà đổ nát, một mái vòm đã vỡ vụn trong khu chợ al-Madina, tháp đồng hồ Baby al-Faraj, con phố trong khu phía Tây, những ban công và hiên nhà hoang vắng, những vòm tháp trơ trọi. Rồi một cơn gió thổi tới qua khung cửa mở làm chiếc ga rèm khẽ bay và mọi hình ảnh tan biến. Tôi dụi mắt, quay lại nhìn Afra. Hình như em sợ ngay cả khi ngủ. Em căng thẳng, thở rất nhanh và lẩm bẩm gì đó. Tôi không nghe được. Tôi đặt tay lên trán em, vuốt nhẹ mái tóc và hơi thở của em bình ổn lại, tiếng nói mớ cũng ngừng.
Em tỉnh dậy một giờ sau đó, hai mắt vẫn nhắm nghiền. Em đưa tay chạm vào tập giấy và hộp chì màu.
“Nuri?” Em gọi tôi.
“Ừ.”
“Anh mua cho em à?”
“Ừ.”
Em cười khẽ, ngồi dậy và đặt chúng vào lòng rồi đưa tay chải tóc. Hai mắt vẫn nhắm nghiền. Làn da em trong suốt, và khi em mở mắt ra, hai con ngươi co lại như muốn trốn ánh sáng.
“Em vẽ gì bây giờ nhỉ?”
“Vẽ gì em thích.”
“Anh cứ nói đi. Em muốn vẽ cho anh.”
“Vậy thì quang cảnh trước nhà chúng ta.”
Tôi nhìn em phác họa, ngón tay lần theo nét bút chì như thể đó là một con đường. Hai mắt em nhìn xuống mặt giấy rồi lại ngẩng lên, chớp chớp như có ánh sáng mạnh vừa chiếu qua.
“Em có nhìn thấy gì không Afra?”
“Không. Anh yên nào. Em đang suy nghĩ.”
Tôi nhìn khung cảnh dẫn hiện ra trên mặt giấy, những mái vòm xuất hiện, những sân thượng thẳng tắp. Phía trước là lá và hoa cuốn dọc theo lan can trên những ban công. Em tô bầu trời bằng màu tím, nâu và xanh. Em đâu có biết mình lấy được màu gì, nhưng có vẻ em muốn phối ba màu với nhau. Tôi nhìn em đưa tay theo những đường biên núi đồi để không tô chờm lên những ngôi nhà.
“Sao em làm được vậy?”
“Em không biết,” em đáp, hai mắt thoáng cười. “Anh thấy đẹp không?”
“Đẹp vô cùng.”
Tôi đáp, và không hiểu sao em không vẽ nữa. Bên phải của bức tranh vẫn còn chưa tô màu. Kỳ lạ thay chúng lại làm tôi nhớ tới những con phố hoang tàn bạc màu vôi khi chiến tranh vừa xảy đến, nhớ đến mọi thứ đã mất hết tất cả sắc màu và những bông hoa héo chết. Em đưa tranh cho tôi.
“Em chưa vẽ xong mà,” tôi nói.
“Không, xong rồi.” Em đẩy tranh về phía tôi, rồi nằm xuống, hai tay kể dưới má và lại lặng thinh. Tôi cứ ngồi bất động thế mãi, nhìn vào bức tranh, cho tới lúc Neil ló đầu vào phòng và bảo rằng chúng tôi phải rời khỏi đây.