Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 823 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 9 -

Tôi tỉnh dậy, thấy mình đã được ai đắp cho chiếc áo khoác, giày vứt trên sàn và chiếc máy hút bụi bị dồn vào một góc. Trong này rất ấm, trên đầu tôi là một cái ấm đun nước. Bên trái, phía cuối hành lang, ông lão Maroc đang đứng nhìn tôi chăm chú. Ông bước tới gần và lẳng lặng chìa tay ra với tôi, đưa tôi về phòng ngủ. Ông lão không nói gì nhưng khuôn mặt lộ rõ vẻ buồn bã. Afra không ở đây, chăn màn đã gấp gọn, bộ abaya cũng không thấy treo trên mắc, nhưng trên kệ tủ ở bên phía giường của tôi có một bức vẽ vườn ong tuyệt đẹp: cánh đồng trải rộng ngút tầm mắt, những thùng ong rải rác khắp nơi và vầng mặt trời đang rực rỡ. Em thậm chí còn vẽ cả căn bếp và căn lều nơi mọi người thường ngồi ăn trưa. Màu sắc bị sai hết cả, những đường nét thô ráp và gãy vỡ nhưng mọi thứ như chuyển động. Bức tranh đang sống. Tôi dường như nghe được tiếng rù rì của bầy ong. Những bông hồng đen hiện lên phía xa xa, sắc thẫm của nó thấm dần và lan ra cả bầu trời.

Ông lão Maroc đỡ tội ngồi xuống giường, giúp tôi tháo giày, nâng chân cho tôi nằm ngay ngắn. Tôi ôm bức tranh Afra vẽ đặt lên ngực.

“Afra đâu ạ?” Tôi hỏi.

“Đừng lo, con bé ổn, đang ở dưới nhà. Farida đang nói chuyện với nó.”

“Farida là ai ạ?”

“Cái cô ở Afghanistan đó.”

Ông lão ra ngoài một lát và trở lại với một cốc nước. Ông giữ cốc kể miệng tôi và tôi uống hết cả cốc. Rồi ông lão chỉnh gối, kéo rèm và bảo tôi nghỉ ngơi. Ông đóng cửa và để tôi nằm lại trong bóng tối.

Tôi nhớ những con ngõ, nhớ chiếc áo phông đỏ của Mohammed và cả tiếng chân chạy của thằng bé. Nhưng người tôi nặng trịch, chân tay như đeo đá và hai mắt nóng như thiêu. Tôi nhắm lại.

Trời đã tối hẳn khi tôi mở mắt ra. Tôi nghe thấy tiếng cười xuyên qua bóng tối và vang vọng như chuông ngân. Tôi xuống phòng khách dưới nhà, thấy vài người đang tụ tập chơi domino. Afra cũng ngồi đó. Em đang rướn người qua chiếc bàn ăn, sáu mảnh domino đứng thẳng thành hàng trước mặt em, và với bàn tay vững vàng, khuôn mặt hết sức tập trung, em cố gắng đặt mảnh thứ bảy vào cạnh chúng. Tất cả mọi người xung quanh bàn đều đang nín thở dõi theo. Em đặt xuống, vẫy vẫy tay và lại cười. “Được rồi! Tôi làm được rồi! Mọi người thấy rồi nhé!”

Lần đầu tiên tôi nghe thấy em nói chuyện lại với mọi người sau hàng tuần liền, lần đầu tiên ánh sáng và tiếng cười trở lại trong giọng nói của em, sau hàng tháng trời.

Ông lão Maroc nhận ra tôi đang đứng ở hành lang.

“Anh khọm!” Ông lão nói bằng tiếng Anh, hai mắt lấp lánh vui mừng. “Vào đây ngồi chơi đi. Tôi đi pha cho cậu cốc trà.” Ông cụ kéo ghế rồi ra khoác vai dẫn tôi vào, sau đó đi vào bếp.

Mọi người ngẩng lên nhìn tôi, gật đầu chào rồi nhanh chóng quay lại với Afra và bàn domino. Em rướn lưng ngồi thẳng hơn, hai tay có chút run và khẽ nghiêng đầu về phía tôi. Em đặt quân domino tiếp theo quá gần với quân trước, và ngay lập tức chúng đổ hàng loạt.

Tất cả cười ồ vui vẻ và than thở tiếc nuối. Người phụ nữ Afghanistan thu dọn đống domino đã đổ rạp và kéo về phía mình. Chị chơi trò này rất giỏi. Đến lúc ông lão Maroc quay lại với cốc trà trong tay, chị đã xếp được một hàng liền mười lăm quân. Afra đang ngồi bên phải của chị, được chị đếm cho nghe.

Tôi uống một ngụm trà, ngọt quá, và gọi tới phòng khám đa khoa để báo họ hay rằng giờ tôi đã có thông tin đầy đủ rồi, và tôi muốn đặt lịch khám mắt cho Afra.

Đến khuya, tôi nhắc mình nhất định phải đi ngủ cùng Afra. Tôi theo em lên tầng, cố lờ đi cánh cửa cuối hành lang. Cửa phòng của Diomande lại đang mở và cậu đứng nhìn ra cửa sổ, quay lưng về phía chúng tôi. Đôi cánh hiện lên rõ dưới lớp áo phông. Như biết tôi đang nhìn, cậu quay đầu lại.

“Chúc anh ngủ ngon,” cậu mỉm cười, nói. Tôi thấy cậu đang cầm một bức ảnh, cậu liền đem tới cho tôi xem. “Đây là mẹ em, đây là các chị em gái của em.” Tất cả họ đều đang cười rạng rỡ.

Vào phòng ngủ, tôi giúp Afra thay đồ rồi nằm xuống bên cạnh em.

“Hôm nay em vui chứ?” Tôi nói.

“Có anh sẽ vui hơn,” em đáp.

“Ừ, anh biết.”

Tôi có thể nghe thấy tiếng một cậu bé đang gọi ai đó, bằng tiếng Ả Rập. Hình như tiếng gọi vọng sang từ phòng khác, nhưng ở đây đâu có trẻ con, trừ khi hôm nay có gia đình mới đến. Hình như là từ khu vườn bên dưới vọng lên.

“Anh đang làm gì thế?” Afra nói. Tôi đã đến bên cửa sổ từ lúc nào và nhìn xuống mảnh sân tối đen bên dưới.

“Em không nghe thấy sao?” Tôi hỏi.

“Tiếng tivi thôi mà,” em đáp. “Ai đó đang xem tivi dưới tầng.”

“Không phải. Có người đang kêu bằng tiếng Ả Rập.”

“Kêu gì cơ?”

“Đằng này! Đằng này!”

Tôi gí mặt vào sát cửa kính. Từ đây tôi thấy sân vườn không bóng người, ngoại trừ cây anh đào, cái thùng rác và chiếc thang gấp.

“Thôi quay về nằm đi anh,” Afra nói. “Nằm xuống, nhắm mắt lại và đừng nghĩ về cái gì cả.”

Và tôi làm như em bảo. Tôi nằm xuống bên cạnh em, cảm nhận được hơi ấm và hương hoa hồng từ cơ thể của em. Tôi lại nhắm mắt lần nữa nhưng trong bóng tối ấy, tôi vẫn nghe được tiếng gọi. Tiếng của một đứa trẻ. Tiếng của Mohammed. Tôi biết. Thằng bé đang bắt đầu hát một bài hát ru. Tôi biết bài hát ấy. Tôi đưa tay bịt tai lại nhưng không ngăn được

bài hát
của những con dế cất lên chào đón chúng tôi đến công viên Pedion tou Areos. Một đường ray xe lửa chạy dọc con phố cao xuống khu trung tâm của Athens.

Tôi không thể ngừng nghĩ về Mohammed. Tôi cứ nghĩ thằng bé đang gọi mình nhưng rồi nhận ra đó chỉ là tiếng ồn ào của thành phố này. Neil đang dẫn đường và có lẽ vì thấy có lỗi, anh khăng khăng giúp chúng tôi xách đồ, một bên là ba lô của tôi, bên kia là túi của Afra. Trước khi rời ngôi trường này, Neil đã vứt hết đống túi cũ, cho chúng tôi ba lô mới và chăn giữ nhiệt.

“Họ xây nơi này để ăn mừng cuộc nổi dậy chống để quốc Ottoman vào năm 1821!” Neil quay lại nói với chúng tôi. Dọc đường đi là vài chiếc hộp gỗ để mở toang hoác, chúng tôi vẫn tiếp tục đi sâu vào rừng cây. Và rồi giữa những tán cọ, chúng tôi thấy vài căn lều với bao người nằm dài trên đống chăn đệm. Nơi này tỏa ra thứ mùi nhớp nhúa, ngay cả không khí cũng sặc thứ mùi kinh khủng của nước tiểu và sự mục nát. Nhưng Neil vẫn đi tiếp. Càng vào sâu, cỏ dại càng cao vút và sắc nhọn, ổ voi ổ gà lỗ chỗ trên đường đi. Một vài người dắt chó đi dạo, mấy ông bà già ngồi trên ghế băng nói chuyện, và sâu hơn, vài con nghiện đang chuẩn bị liều mới.

Cuối cùng chúng tôi cũng đến được một khu lều mới. Neil tìm cho chúng tôi một chỗ giữa hai cây cọ với vài tấm chăn. Phía đối diện là một bức tượng chiến binh thời xưa, và một người đàn ông gầy gò ngồi dưới chân tượng. Đôi mắt của người này làm tôi nhớ đến lũ trẻ ở ngôi trường vào đêm hôm trước.

Neil rời đi và trời tối dần, bóng tối bắt đầu trùm lên chúng tôi. Mãi tới lúc đó tôi mới bắt đầu nhận ra điều gì đang diễn ra ở đây. Đàn ông tụ tập thành bầy, như lũ sói hoang. Bulgari, Hy Lạp, Albania. Họ quan sát và chờ đợi điều gì đó, tôi biết là vậy qua mắt họ. Đôi mắt của những kẻ săn mồi tinh ranh.

Đêm rất lạnh. Afra không nói lời nào và đang run cầm cập. Ở đây em thấy sợ. Tôi quấn nhiều chăn hết mức có thể để em được ấm. Chúng tôi còn không có lều, chỉ có một chiếc ô lớn để chắn gió từ hướng bắc thổi tới. Đống lửa gần đó cho chúng tôi chút hơi ấm, nhưng tất nhiên không đủ thoải mái.

Xung quanh là tiếng ồn, tiếng cười và đủ loại chuyển động. Vài đứa trẻ chơi bóng chỗ khoảng trống giữa các cây, đá tung lên cả bụi đất. Mấy đứa khác thì chơi bài, hoặc ngồi ngoài lều nói chuyện với nhau. Một nhóm mấy đứa tầm cấp hai ngồi thành vòng tròn trên tấm đệm, kể chuyện cho nhau nghe, những câu chuyện hồi bé mà chúng còn nhớ được. Một cô bé đang nói, những đứa khác ngồi khoanh chân, mắt nhìn ngọn lửa đang lụi dần và nghe rất chăm chú.

Lúc ấy, một nhân viên tình nguyện bước tới. Một người đàn ông nhỏ bé, tóc vàng, hai tay cầm theo hai túi trắng. Cô bé dừng kể, cả nhóm quay ra nhìn rồi niềm vui trong phút chốc bùng nổ. Chúng nhao lên phấn khích, gọi nhau í ới. Người nhân viên đặt túi xuống và cả lũ háo hức đợi khi anh lấy ra từng lon Coca. Lũ trẻ cười sung sướng giữa những tiếng bật lon tới tấp rồi cả bọn cùng đưa lên uống.

“Trời ơi! Ba năm rồi tao mới lại được uống Coca đó chúng mày!” Một đứa reo lên.

Tôi biết chính quyền Daesh[9] đã cấm Coca vì nó là một nhãn hàng đa quốc gia của Mỹ.

“Nó còn ngon hơn ngày xưa chúng mày ạ!” Một đứa khác cảm thán.

Người nhân viên thấy tôi đang nhìn lũ trẻ. Anh lấy lon Coca cuối cùng trong túi ra và qua chỗ tôi. Chàng trai tóc vàng bông xù với đôi mắt nhỏ đen láy này trẻ hơn tôi nghĩ. Cậu đưa cho tôi lon nước, đem theo cả tiếng cười và niềm vui, cùng một nụ cười rạng rỡ trên gương mặt.

“Hẳn anh đang ngạc nhiên hả?” Cậu nói.

“Cảm ơn cậu.” Tôi mở lon và nhấp một ngụm nhỏ, tận hưởng vị ngọt. Rồi tôi đưa nó cho Afra, em vẫn đang rét run, cuốn mình trong chiếc chăn. Em uống một ngụm to.

“Chà, Coca luôn?” Em nói. Thứ đồ uống như giúp gương mặt em có chút màu sắc. Chúng tôi cứ thay nhau uống như vậy, vừa uống vừa nghe câu chuyện của lũ trẻ.

Đến nửa đêm, khi Afra cuối cùng cũng ngủ thiếp đi và không còn lạnh run nữa tôi mới để ý thấy vài người đàn ông đứng tuổi đang loanh quanh và quan sát đám thanh thiếu niên kia. Một người mang nạng, mẩu chân cụt của anh ta trơ trọi và càng lộ rõ trong bóng tối. Người đàn ông gầy gò bên chân tượng bắt đầu chơi đàn. Một bài ca đẹp và buồn, du dương như lời hát ru.

“Họ cũng đưa anh tới đây à?”

Tôi ngước lên và thấy người phụ nữ da màu đã gặp đêm hôm trước. Cô quàng một chiếc chăn qua vai và tay cầm một mẩu bánh mì.

“Sáng ra anh nhớ đi lấy đồ ăn sớm,” cô nói. “Họ đem thức ăn từ nhà thờ tới nhưng hết nhanh lắm. Cả thuốc men nữa.”

Cô trải tấm chăn xuống đất và ngồi xuống bên cạnh tôi. Hôm nay cô dùng một tấm khăn trùm đầu màu xanh ngọc.

Bỗng nhiên, không biết từ đâu, một cơn gió mạnh quét qua khu trại, như thể các vị thần nơi này đã thức dậy. Lá và đất bụi khô cằn quệt qua chúng tôi. Cô vẫn ngồi yên đợi chúng lắng xuống, khiến tôi hiểu rằng cô đã quá quen với kiểu thời tiết đột ngột này. Lát sau, cô đưa tay vào chiếc túi lụa nhỏ và lấy ra một lọ phấn rôm, lắc ra chút bột thơm và trắng như mây rồi thoa khắp mặt và tay. Hiệu quả thật lạ lùng, trông cô xám đi, sự sống và ánh sáng của đôi má đã biến mất. Suốt cả lúc ấy cô vẫn nhìn tôi chằm chằm.

“Họ bắt lũ trẻ,” cô nói. “Bất thình lình tóm lấy một đứa.

Trong những tàng cây, đôi mắt của những gã đàn ông đứng tuổi lóe lên dưới ánh trăng.

“Tại sao?”

“Bán lấy nội tạng. Hoặc bắt chúng bán dâm.” Một lần nữa, cô nói những điều này rất thản nhiên, như thể đã vô cảm với chúng. Tôi không muốn nghe người phụ nữ này nói nữa, và tôi ước gì mình không nhìn thấy những cái bóng đang di chuyển giữa khu rừng. Tôi nhận ra ngực cô đang chảy sữa, một mảng ướt rõ trên chiếc áo trắng.

“Đầu tôi loạn rồi,” cô nói, đưa tay vỗ vỗ trán, sau đó lại véo phần thịt trong cánh tay. “Tôi chết rồi đấy. Người tôi đang đen từ trong đen ra. Anh biết như thế nghĩa là gì không?”

Ánh sáng từ ngọn lửa nhảy múa trong đôi mắt đen láy của cô, nhuộm cả chút ánh vàng cho nó. Mềm mại, tròn trịa, toàn vẹn, trong suốt. Có tất cả những điều ấy trong biểu cảm của cô, trong từng cử động của đôi bàn tay cô. Vậy mà tôi vẫn muốn tránh xa khỏi người phụ nữ này, vì tôi không muốn biết thêm điều gì nữa. Đầu tôi đã có quá nhiều thứ rồi, không còn đủ chỗ cho bất cứ điều gì nữa. Mảng ướt loang trên áo cô cứ đập vào mắt tôi, phần bên trái càng rõ, như thể nó rỉ ra trái tim của cô. Tôi cố không nhìn.

“Anh không thể rời nơi này đâu. Anh biết thế chứ?” Cô nói.

Tôi không đáp lại. Tôi còn đang nghĩ về Mohammed. Những gã đàn ông trong rừng kia làm tôi nghĩ đến những khả năng mới. Hay là thằng bé đã bị kẻ nào bắt đi rồi? Chúng dụ dỗ thằng bé đi theo hay nhân buổi đêm nó ngủ mà bắt nó đi?

“Anh biết là biên giới đã đóng cửa rồi đấy,” cô tiếp tục. “Bao người tới nhưng chẳng mấy ai đi. Tôi không thể quay lại. Tôi chết rồi. Tôi muốn rời khỏi đây. Tôi muốn tìm việc, nhưng không ai cần tôi.”

Dưới một tán cây, một trong số những gã đứng tuổi đang nói chuyện với một cô bé, có lẽ con bé mới chỉ mười một mười hai tuổi, nhưng dáng đứng của nó khiến con bé trông già hơn thế. Có gì đó rất lẳng lơ mời gọi trong cái kiểu đứng dựa vào thân cây kia.

“Anh có biết tại sao Odysseus lại lên đường không?” Cô hỏi, huých tay tôi. Tôi ước sao cô im lặng đi một lúc. Tôi quay lại nhìn cô chỉ giây lát, và khi đưa tầm mắt trở lại, gã đàn ông và cô bé kia đã biến mất. Tôi muốn nôn.

“Anh ta đi từ Ithaca tới Calypso rồi tới những nơi nào có Chúa biết, đi như thế, để tìm cái gì?”

Cô có vẻ khăng khăng muốn tôi trả lời, nghiêng người về phía tôi, đẩy đẩy chân tôi khi tôi nhìn đi chỗ khác.

“Tôi không biết,” tôi đành đáp.

“Để tìm lại nhà mình,” cô đáp. Và sau đó, cô im lặng suốt một lúc lâu, có lẽ đã hiểu được rằng tôi không muốn nói chuyện, hai tay yên tĩnh đặt lên đùi. Cô mang tới một cảm giác tồn tại vô cùng mạnh mẽ với đôi mắt to, luôn đầy cảnh giác. Tôi rất cố gắng nhưng không thể giả vờ rằng cô không ở đó.

“Cô tên là gì?” Tôi hỏi.

“Angeliki.”

“Một cái tên Hy Lạp.”

“Phải, nó nghĩa là thiên thần.”

“Quê cô ở đâu?”

Câu hỏi này có vẻ lại làm cô khó chịu. Cô thu dọn chiếc chăn, quấn quanh người rồi lững thững đi vào đêm tối, trên đường còn cúi xuống nhặt món gì đó.

Tôi nằm xuống bên Afra nhưng không thể ngủ được. Tít sâu trong rừng tôi nghe vọng ra những tiếng kêu khóc lạ lùng – của cáo, của mèo hay của người. Người đàn ông ngồi dưới chân tượng vẫn ở đó. Dưới ánh sáng yếu ớt của đống lửa sắp tàn, tôi nhận ra cánh tay người này có rất nhiều vết cào xước. Những vết thương còn đỏ ửng như vừa mới bị thú tấn công.

Tôi nhắm chặt mắt lại, dù tâm trí vẫn xao động không yên. Tôi không muốn nhìn thêm hay biết thêm bất cứ điều gì nữa.

Sáng sớm có tiếng cầu nguyện và sau đó công viên này như biến thành một sân chơi. Nắng sớm chiếu qua lá, vòm cây xanh như ngọc làm tôi nhớ đến chiếc khăn trùm đầu của Angeliki tối qua, lúc cô ngồi đây. Những người phụ nữ lớn tuổi ở địa phương tới mang theo những túi lớn đồ ăn. Họ đi quanh và phân phát các gói đồ.

Tôi nhìn thấy một người mẹ trẻ, chiếc hijab màu xanh da trời trùm qua loa trên đầu. Cô ôm một đứa bé sơ sinh nhỏ xíu, có lẽ chỉ mới vài tuần tuổi. Tay và chân nó như những cành củi khô, thò ra bên ngoài lớp chăn. Một thứ không còn sự sống. Dường như mắt cô biết điều đó nhưng cơ thể cô thì không, cô vẫn ôm nó trong lồng ngực vỗ về. Một người phụ nữ Hy Lạp lớn tuổi quỳ xuống bên hai mẹ con, giúp người mẹ cho đứa bé uống chút sữa pha sẵn trong bình, nhưng đứa bé không nuốt được. Người phụ nữ bỏ cuộc. Bà pha một ly sữa đặc và lấy mấy chiếc bánh quy sô cô la ra đĩa giấy rồi đưa cho người mẹ, động viên cô ăn và uống. Mỗi khi cô ngừng, bà lại đưa chiếc ly đến bên miệng cô nhắc nhở.

“Pies to olo – Hết chỗ này,” người phụ nữ nói, bằng cả tiếng Hy Lạp và tiếng Anh. Người mẹ trẻ có vẻ hiểu được một trong hai thứ tiếng ấy. Cô uống hết, và đưa cốc ra xin thêm. Người phụ nữ đưa cho cô một cốc nữa, và khi cô uống hết, bà cầm tay cô, dùng giấy ướt lau sạch và thoa kem dưỡng cho cô. Đôi mắt người mẹ trẻ xanh mênh mông như biển, hiện rõ buồn rầu.

“Masha xinh đẹp,” người phụ nữ nói, khẽ hôn trán đứa trẻ.

Masha. Đứa bé là con gái. Tôi quan sát sự dịu dàng giữa hai người họ, quan tâm mà không cần nhiều lời. Họ biết nhau. Người phụ nữ có lẽ đã đến đây rất nhiều lần.

“Den echies gala?” Bà nói.

Người mẹ trẻ đáp lại bằng cách áp tay lên bầu ngực và lắc đầu. “Ochi,” cô nói.

Tôi lại nhìn sang người đàn ông chỗ chân bức tượng. Anh ta đang ôm chiếc đàn của mình. Thứ nhạc cụ thật đẹp. Hình như là một chiếc đàn luýt. Anh chỉnh dây và chơi một đoạn ngắn. Âm thanh dâng lên, giai điệu đột ngột như cơn mưa rào một ngày mùa hạ, vang lên êm ái từ thùng đàn.

Bỗng anh nhăn mặt một cái, dừng chơi và tiếp tục chỉnh dây. Một lúc sau, anh đặt chiếc đàn xuống và ngồi cuộn một điếu thuốc lá. Tôi đứng dậy, bước tới ngồi bên anh dưới cái bóng của bức tượng. Gương mặt anh có gì đó thật ấm áp và trìu mến, ngay cả khi anh chẳng nói gì.

“Chào,” anh nói bằng tiếng Ba Tư, giọng trầm và du dương như tiếng đàn của anh. Anh mời tôi điếu thuốc vừa cuốn xong.

“Cảm ơn,” tôi đáp bằng tiếng Ả Rập. “Tôi không hút thuốc.” Và trong khoảnh khắc ấy, cả hai chúng tôi đều bật cười vì cái hoàn cảnh lạ lùng này. Hai người đàn ông đứng trên đất Hy Lạp, một người nói tiếng Ả Rập, một người nói tiếng Ba Tư.

“Anh nói được tiếng Anh chứ?” Tôi hỏi.

Đôi mắt anh sáng lên. “Có! Không… Không được tốt lắm, nhưng nói được. May quá chúng ta tìm được ngôn ngữ chung rồi!” Anh thật có khiếu hài hước, nói năng như đang hát vậy.

“Quê anh ở đâu?”

“Afghanistan, ngoại thành Kabul. Cậu ở Syria à?”

“Vâng,” tôi đáp.

Móng tay của anh rất dài, và dù trông anh không hề vạm vỡ cao lớn, từng cử động của anh vẫn có một sức mạnh tiềm ẩn.

“Tôi rất thích cây đàn của anh,” tôi nói.

“Đây là đàn rebab[10], nghĩa là cánh cửa của tâm hồn.” Anh bảo tôi tên anh là Nadim.

Tôi vẫn nán lại trên cái bục ở chân tượng khi anh lại cầm đàn lên và chơi một bản nữa. Một giai điệu chậm rãi nhẹ nhàng, trôi trong không gian như những làn sóng biển. Tôi thấy Afra đã thức dậy, vén chăn lên và đưa tay tìm tôi. Không thấy tôi đâu, cả người em căng thẳng và cất tiếng gọi. Tôi lập tức quay về, cầm lấy tay em. Gương mặt em nhẹ nhõm hẳn lại. Một phần trong tôi bỗng thấy hài lòng khi thấy em biết sợ, khi thấy em nghĩ rằng em đã mất tôi, như thế nghĩa là em vẫn yêu tôi, dù em nhốt kín bản thân mình, em vẫn cần tôi. Tôi bóc chiếc sandwich được phần cho chúng tôi và đưa cho em.

“Nuri, ai đang chơi nhạc thế?” Một lát sau em hỏi.

“Một anh tên là Nadim.”

“Nghe hay thật đấy.”

Vài tiếng đồng hồ trôi qua khi âm nhạc gột rửa chúng tôi, và khi Nadim dừng lại nghỉ ngơi, tiếng nhạc biến mất nhường chỗ cho những âm thanh hiện thực khác: tiếng gãy tanh tách của cành khô trong rừng, tiếng rì rầm và thì thào, tiếng lũ trẻ nô đùa. Tôi muốn đánh thức anh dậy, xin anh chơi tiếp, chơi mãi cho đến ngày tôi chết để tôi không bao giờ phải nghe tiếng gì khác ngoại trừ tiếng đàn rebab đầy xúc động ấy. Và nếu Angeliki nói đúng, nếu chúng tôi không thể rời khỏi đây, thì tôi và Afra sẽ chết ở nơi này với những con thú săn mồi ban đêm và những anh hùng mà chúng tôi còn chưa biết tên.

Mặt trời lặn, lửa trại được nhóm lên và khắp nơi đều là mùi khói và mùi gỗ cháy. Mọi người tụ tập quanh đống lửa để lấy chút hơi ấm và tôi nhớ đến ngọn lửa ở Farmakonisi. Nhưng khi đó khác, ở đó khác. Ở đây, tất cả mọi người như thể đang sống trong vùng tối nhất của một đêm nhật thực.

Afra yên lặng hơn bình thường. Tôi nghĩ em đang lắng nghe những âm thanh trong rừng. Em cảm nhận được sự nguy hiểm nơi đây, nhưng em không hỏi lời nào. Hầu hết thời gian em đều ngồi cuộn mình trong chiếc chăn dày.

Nadim đi đâu trong chốc lát rồi quay lại chỗ quen thuộc nơi chân bức tượng. Nhưng anh không chơi đàn nữa. Tôi chờ đợi tiếng đàn ấy biết bao. Tôi cần tiếng đàn ấy, như cần nước cho tâm trí đang khô héo nứt nẻ của mình.

Người mẹ trẻ vẫn đang cố cho đứa con bú sữa. Bé Masha ngậm được đầu ti và cố hút sữa nhưng có vẻ chẳng có giọt sữa nào. Người mẹ lấy tay ấn ấn ngực, gương mặt ửng hồng vì tức giận và bất lực. Masha đành bỏ cuộc và trở về trạng thái suy yếu bất động. Người mẹ bật khóc, đưa tay gạt bỏ những giọt nước mắt.

Thấy nước mắt của người mẹ tuôn rơi nhẹ bẫng, tôi bỗng nhận ra, Afra đã không khóc khi chúng tôi mất Sami. Trừ cái ngày chúng tôi trốn dưới căn hầm trong vườn, em đã không rơi một giọt nước mắt nào. Em không khóc khi Sami mất, chỉ là gương mặt em không còn biểu cảm gì nữa.

Nadim đến và ngồi xuống cạnh tôi, nhìn Afra trong giây lát. Tôi tự hỏi không biết anh có biết rằng anh đang nhìn chằm chằm vợ tôi không, hay chỉ là anh đang mải mê suy nghĩ gì đó. Dù thế nào, tôi vẫn cất tiếng để ngăn cái nhìn lại.

“Vậy… Anh bảo quê anh ở đâu nhỉ?”

Gương mặt anh bỗng chốc thay đổi và như sống lại. “Tôi ở Kabul.”

“Anh thích ở đấy chứ?”

“Tất nhiên, nhà tôi ở đó. Kabul rất đẹp.”

“Sao anh lại bỏ đi?”

“Vì bọn Taliban không muốn chúng tôi chơi nhạc ở đó. Chúng ghét âm nhạc.”

Nhưng còn lý do khác, tôi biết thế, bởi anh đột nhiên dừng lại và vô duyên vô cớ nhặt một quả thông, nhìn nó hồi lâu rồi vung tay ném về phía rừng.

“Vậy nên anh bỏ quê mà đi ư?” Tôi nói.

Anh ngập ngừng, vừa như đang suy nghĩ xem có nên nói tiếp không, vừa như để thăm dò tôi. Nhưng rất nhanh, anh hạ giọng và nói: “Tôi làm ở Bộ Quốc phòng. Bọn Taliban đe dọa tôi. Tôi nói tôi không thể giết người. Tôi không thể giết thậm chí một con kiến thế mà chúng lại mong tôi giết người ư?”

Anh không nói gì tiếp nữa, tất cả chỉ có vậy. Những mẩu vụn vặt của cả một câu chuyện dài. Anh im lặng nhưng sự im lặng ấy không hề dễ chịu, nên tôi bỗng thấy vui khi anh lại mở lời, chất giọng như hát ấy giúp tôi sao nhãng chút khỏi thực tại.

“Cậu biết công viên này gọi là gì không?” Anh nói.

“Tôi biết. Pedion tou Areos…”

“Pedion nghĩa là quảng trường. Areos là tên của vị thần Chiến tranh. Ông ta thích máu và quý mến kẻ giết người. Cậu biết cả điều này chứ? Bà lão mang thức ăn bảo tôi vậy đấy.”

“Tôi không biết.”

“Ông ta thích máu và quý mến kẻ giết người.” Nadim chậm rãi nhắc lại, nhấn mạnh từng chữ. “Và nhìn đi,” anh nói, “họ dựng một công viên cho ông ta luôn!” Anh vung tay, lòng bàn tay mở rộng như cách Neil chỉ cho tôi và Afra căn phòng của mình trong ngôi trường cũ kia. Những vết thương còn tươi máu trên cánh tay trắng của anh như những dải ruy băng đỏ bay lượn trong ánh lửa. Một đợt gió thổi tới dồn những đám mây tụ lại với nhau. Bóng tối xung quanh chúng tôi trở nên rõ ràng hơn, rình rập để át đi ánh sáng từ ngọn lửa. Tôi có một cảm giác lạ lùng rằng mình phải đối xử tử tế với người đàn ông này.

“Anh học chơi rebab từ khi nào thế?” Tôi hỏi.

Câu hỏi của tôi khiến Nadim nở một nụ cười thật tươi và anh rướn người về trước với hai mắt lấp lánh. Không hiểu sao khi nhìn ánh mắt ấy, tôi lại cảm thấy như mình đang xem người ta mài dao.

“Chuyện thế này,” anh bắt đầu kể. “Ở Kabul, cha tôi là một nhạc sĩ. Rất tài năng, rất nổi tiếng. Ông cụ chơi trống tabla[11].” Nadim gõ gõ tay lên một mặt trống vô hình. “Tôi hay ngồi và xem cha chơi trống. Mỗi ngày. Tôi quan sát và lắng nghe.” Anh đưa tay lên chạm vào tai mình, rồi lướt quanh viền mắt. “Một hôm, chắc hồi đấy tôi chỉ tám hay chín tuổi, cha ra ngoài để giúp chú tôi việc gì đó, tôi tranh thủ đến bên chiếc tabla và chơi thử. Cha về, bước vào với hai mắt mở to kinh ngạc, miệng há hốc. Ông cụ bất ngờ quá thể! Cha bảo ‘Nadim con ta, làm sao con học chơi trống được vậy?’ Làm sao học được ư? Vì tôi nhìn cha chơi suốt. Tôi đã nhìn và đã nghe suốt ngần ấy năm. Làm sao tôi lại không học được! Cậu nói xem!”

Tôi chìm đắm vào câu chuyện, bị chất giọng như hát của Nadim hấp dẫn và chỉ tập trung vào hình ảnh cậu bé chơi trống tabla trong một ngôi nhà ở Kabul mà quên khuấy chuyện anh vẫn chưa trả lời câu hỏi của mình. Anh đang nhịp nhịp bàn chân theo một giai điệu thẩm lặng nào đó, vui vẻ trong thế giới hồi ức của mình. Anh cuốn một điều thuốc và châm lửa hút. Anh ngả về sau và cả người như thư giãn hẳn, nhưng đôi mắt thì vẫn sắc nguyên như vậy. Chúng quét khắp mọi người, nhìn xuyên qua những cái bóng, quan sát và chờ đợi, y như những gã trong rừng.

*

Lũ dế hát đồng ca rồi yên lặng trong giây lát, một khoảng lặng như thể chúng là một cơ thể đang thở bỗng ngừng lại, trước khi âm thanh lại bắt đầu dâng lên. Tiếng râm ran như đấm vào tai lan xa và khoét vào tầng sâu của khu rừng cùng những điều chưa biết.

Nhóm mấy gã đàn ông lại tụ tập bên hàng cây. Vài kẻ ngồi hút thuốc trên băng ghế. Đêm nay có những tiếng trêu chọc và cười đùa. Nadim đang cầm một điếu thuốc cháy dở nhưng không hút, tay anh buông thõng trên đùi và tôi không thể không nhìn vào mấy vết thương trên cánh tay, những đường ngoằn ngoèo vừa sâu vừa đỏ ở mặt trong của cẳng tay, giống vết cào hung ác của những loài thú hoang. Anh lấy điện thoại từ trong túi ra và bấm một tin nhắn. Tôi đợi anh bấm xong mới hỏi điện thoại của anh có kết nối mạng không.

“Có,” anh đáp.

“Anh cho tôi mượn kiểm tra email một chút được không?”

Nadim mở khóa điện thoại và đưa cho tôi mà không ngần ngại gì. Rồi anh lại yên lặng ngồi đó và châm thuốc.

Một lần nữa, là những email từ Mustafa:

Ngày 15 tháng 3 năm 2016

Nuri yêu quý,

Đã lâu rồi anh không nhận được thư em, anh mong rằng em đã đến Athens an toàn.

Ở đây anh đã mất một thời gian mới quen được. Anh đang đợi xem mình có được cấp tị nạn không và tranh thủ thời gian làm tình nguyện viên ở một hội người nuôi ong trong thị trấn anh đang sống. Anh đã kết bạn với một vài người ở đây, nhưng anh là một người nuôi ong mà không có ong. Anh chỉ cần một tổ để bắt đầu, nên đã đăng tin tìm kiếm trên facebook xem có ai có tổ muốn quyên góp không. Anh đang rất mong đợi có người sẽ phản hồi.

Anh mong sớm nhận được thư em. Không ngày nào trôi qua mà anh không lo lắng cho em và Afra.

Mustafa.

*

Ngày 25 tháng 3 năm 2016

Nuri thân mến,

Một người phụ nữ ở thị trấn không xa nơi anh ở đã trả lời bài đăng tìm tổ ong của anh! Cô ấy không chỉ cho anh một tổ mà còn cho hẳn một bầy ong đen Anh quốc. Mãi đến gần đây người ta mới biết giống này chưa tuyệt chủng. Một kho báu Nuri ơi! Anh định tách tổ bảy lần. Mục đích của anh là hợp tác với cộng đồng địa phương để cải thiện chủng ong. Người nuôi ong tại Anh thường lấy mật ong Italia được nhập khẩu từ New Zealand nhưng với kiểu khí hậu dở ương như ở đây thì những con ong bản địa này có thể chống chọi tốt hơn nhiều. Có rất nhiều bầy bị vỡ rồi, giống ong châu Âu chống chịu không tốt lắm. Anh nghĩ giống ong đen này có thể là câu trả lời chúng ta cần, và anh vừa biết rằng hóa ra cũng có người nghĩ như anh. Và Nuri ơi, đất nước này có những cảnh đồng cải dầu, thạch thảo và oải hương! Bởi mưa quá nhiều mà nơi đây tràn ngập hoa! Và rất nhiều cây xanh. Nhiều hơn mức em có thể nghĩ luôn. Nơi nào có ong nơi đó có hoa. Nơi nào có hoa, nơi đó có hy vọng và cuộc sống mới.

Em còn nhớ những cánh đồng xung quanh vườn ong không? Chúng đẹp quá Nuri nhỉ? Đôi lúc anh nhớ tới cái ngày vườn ong bị thiêu rụi nhưng rồi lại cố không nghĩ về chúng nữa. Anh không muốn lạc mãi trong vùng tăm tối ấy.

Anh rất rất mong tin em, chúng ta có nhiều việc để làm cùng nhau Nuri ơi! Anh đợi em! Bầy ong đợi em!

Mustafa.

“Tin nhắn ấy đã làm cậu cười,” Nadim nói.

Trong giây lát tôi quên mất mình đang ở đâu. Tôi ngẩng đầu nhìn lên vầng mặt trời Athens đang chiếu nắng qua hàng cây.

“Anh họ tôi đang ở Anh. Anh ấy giục tôi mau đến đó,” tôi đáp.

“Hành trình gian khổ đấy,” Nadim cười. “Đến được đó là anh ta may mắn rồi.”

Chúng tôi im lặng một lúc và tôi không nghĩ đến điều gì khác ngoài những cánh đồng cải dầu, thạch thảo và oải hương. Tôi có thể thấy chúng rõ ràng và sống động như những cánh đồng trên các bức tranh của Afra. Nhưng rồi tiếng dễ ùa vào tâm trí tôi.

“Khu rừng kia như thể trải rộng vô tận nhỉ,” tôi nói.

“Không, xung quanh đều là phố xá hết đấy. Văn minh mà.” Nadim cười với chút vui vẻ nhưng có một chớp thoáng qua của một kiểu nhân cách khác, một kiểu chế nhạo thâm ý của người biết nhiều hơn những gì họ thể hiện ra bên ngoài.

“Anh ở đây lâu lắm rồi sao?” Tôi hỏi.

“Phải.” Và chỉ vậy, tôi thậm chí còn không biết “lâu lắm” là bao lâu. Là hàng tuần hay hàng tháng hay hàng năm liền? Hay hàng thế kỷ như những anh hùng cổ đại được tạc tượng ở đây?

Ngay lúc đó tôi nhận ra một điều rất kỳ lạ. Nó xảy ra nhanh tới mức nếu khi ấy tôi ngoảnh đi trong một giây thôi, tôi sẽ không bao giờ thấy được nữa. Một gã ngồi trên băng ghế gần đó, quay lưng về phía chúng tôi bỗng ngoái đầu lại và bắt được ánh mắt của Nadim. Đó là ánh mắt của những người quen biết nhau, một cái gật đầu rất nhanh và cùng với đó là hành động khác thường của Nadim, một sự bồn chồn, hai bàn tay vặn vẹo và khóe mắt run run. Nhưng điều này còn làm tôi chú ý hơn. Nadim đợi một lát rồi nhịp nhịp chân theo một giai điệu bí mật nào đó, cuối cùng đứng dậy, lấy một chai nước từ chỗ mình vừa ngồi, đổ nước ra tay và đưa lên vuốt tóc. Chuyện này thì không phải lạ lắm nhưng điều xảy ra sau đó mới là điều đáng kinh ngạc nhất.

Vẫn đưa tay vuốt lên mái tóc ướt, Nadim lại gần hai cậu thiếu niên kia, một cặp sinh đôi mới đến đây hôm trước. Cả hai đang ngồi trên một tấm chăn đặt cạnh gốc cây, quần áo tả tơi, làn da đã bẩn sạm. Hai đứa mới đến và vẫn đang sợ hãi nhưng rõ vẻ nghịch ngợm của con trai. Đứa này nói một cầu, đứa kia sẽ cười rồi hai đứa huých huých nhau. Tôi nhìn Nadim ngồi xuống bên cạnh tấm chăn của chúng, tự giới thiệu về mình và bắt tay chúng.

Lúc này gã đàn ông gật đầu ám hiệu với Nadim đã đi mất.

Nadim đưa tay vào túi quần jean và lấy ra chút tiền. Tôi thấy anh đưa cho mỗi đứa bốn mươi euro. Đó là một số tiền rất lớn với hai thằng bé có lẽ đã sống nhờ lục thùng rác.

“Nuri,” Afra gọi, kéo sự chú ý của tôi trở lại, “anh đang làm gì thế?”

“Anh chỉ nhìn thôi.”

“Nhìn ai thế?”

“Anh không thích ở đây,” tôi nói.

“Em cũng vậy.”

“Ở đây có gì đó không ổn.”

“Em biết.” Và chỉ hai chữ ấy thôi, em nói với tôi không chỉ bằng miệng mà còn bằng cả trái tim, giúp tôi bình tĩnh hẳn lại. Tôi cầm tay em, siết nhẹ và hôn khẽ. Mỗi nụ hôn là một lời tôi muốn nói. “Anh yêu em. Anh yêu em. Anh yêu em, Afra. Anh yêu em.”

Tôi kể cho em nghe việc anh Mustafa đã đến Anh, những chuyện anh viết trong thư, về bầy ong và những con thuộc giống ong đen Anh quốc, và khi em nằm xuống lắng nghe tôi nói, lần đầu tiên tôi thấy em khẽ nở một nụ cười trên môi.

“Ở đó có những loại hoa gì?”

“Oải hương và thạch thảo, mọc thành những cánh đồng bát ngát.”

Em không nói gì một lúc lâu. “Em nghĩ loài ong cũng giống chúng ta,” cuối cùng em nói. “Chúng cũng dễ tổn thương như chúng ta vậy. Nhưng rồi có những người như anh Mustafa. Thế giới này có những người như anh ấy, những người sẽ đem tới sự sống chứ không phải cái chết.” Em lại im lặng và nghĩ ngợi, rồi thì thầm, “Chúng ta sẽ tới được đó phải không, Nuri?”

“Tất nhiên, chúng ta sẽ tới được đó.” Tôi đáp lời em dù khi đó không thực sự tin như thế.

*

Đêm đó, tôi cố tưởng tượng lũ dế là lũ ong. Tôi có thể nghe thấy tiếng chúng xung quanh mình. Không khí, bầu trời và vườn cây tràn ngập những con ong mang màu nắng. Tôi chợt nhận ra rằng mình còn chưa trả lời anh Mustafa. Chuyện về Nadim làm tôi sao nhãng và có điều gì mà tôi không giải thích được đã kéo tôi khỏi việc tôi cần làm. Và lũ dế lại hát lên, tối cố đẩy thứ tiếng ấy ra khỏi đầu và tưởng tượng ra lũ ong. Tôi nhớ mẹ, nhớ chiếc quạt lụa màu đỏ của mẹ. Nhân duyên. Số phận. Một sức mạnh vô hình kéo hai con người lại với nhau.

Chính mẹ là người đã ủng hộ tôi khi tôi muốn trở thành một người nuôi ong. Còn cha tôi thất vọng đến tiểu tụy hẳn đi suốt những ngày sau đó, sau khi tôi thông báo với cha rằng tôi sẽ không tiếp tục làm việc trong tiệm vải nữa, rằng tôi sẽ không tiếp quản công việc kinh doanh của gia đình. Ông trông gầy yếu hẳn đi. Hôm đó, dùng bữa xong chúng tôi vẫn ngồi lại trong bếp. Trời mới tháng Sáu mà đã rất oi nóng. Cha đang uống ayran[12] với muối và lá bạc hà. Viên đá lách tách trong chiếc cốc. Mẹ đang trút đồ ăn thừa vào thùng rác. Cha như thể đã biết rằng điều tôi muốn nói sẽ không vừa ý ông chút nào, vì ông cứ nhìn tôi qua miệng cốc, hai mày cau lại. Chiếc nhẫn cưới trên ngón tay lấp lánh dưới ánh sáng của vầng mặt trời sắp lặn. Cha vốn đã không có vóc người cao lớn gì, gần như chẳng có chút mỡ nào trên người, các khớp lộ rõ và nhất là yết hầu chỉ lộ ra khi ông nói, nhưng cha mang lại cảm giác hiện diện rất mạnh mẽ. Sự im lặng và trầm ngâm của cha thường nhấn chìm cả căn phòng.

“Hửm?”

“Hừm,” tôi đáp.

“Mai con nhớ ra chợ sỉ sớm. Tiệm nhà ta cần vải lụa vàng với họa tiết kim cương.”

Tôi gật đầu.

“Sau đó ra tiệm. Ta sẽ chỉ con cách làm rèm. Lần đầu tiên thì con cứ nhìn ta làm trước.”

Tôi lại gật đầu. Ông uống một ngụm cho hết nốt chỗ ayran rồi đem cốc ra chỗ mẹ tôi lấy thêm. Mẹ đang đứng quay lưng lại chỗ hai cha con tôi.

“Con sẽ làm theo yêu cầu của cha thêm một tháng nữa cha ạ,” tôi nói.

Ông đặt chiếc cốc xuống cái bàn, nó vẫn rỗng.

“Thế sau một tháng thì thế nào?” Giọng ông bắt đầu nặng nề với cơn giận ngấm ngầm.

“Con sẽ nuôi ong.” Tôi nói như thể tuyên bố một sự thật, hai tay đặt ngay ngắn trên bàn.

“Nên anh đang thông báo sớm cho tôi một tháng đấy à?”

Tôi gật đầu.

“Như kiểu tôi không phải cha anh nữa ấy nhỉ.”

Lần này tôi không dám gật đầu.

Ông nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh mặt trời chiếu vào đôi mắt cha, khiến chúng có màu như mật ong.

“Anh biết gì về nuôi ong? Anh định làm ở đâu? Anh định kiếm sống thế nào?”

“Anh Mustafa đã dạy con…”

“Ha! Mustafa! Thằng bé ngông cuồng đó. Tôi biết ngay là nó sẽ lôi kéo anh mà.”

“Anh ý không lôi kéo con đi đâu cả. Anh ý dạy con.”

Ông hừ một tiếng.

“Bọn con sẽ cùng nhau gây bầy và nuôi ong.”

Ông hừ tiếng nữa.

“Bọn con sẽ kinh doanh.”

Lần này không tiếng hừ nào. Một quãng dài im lặng. Ông nhìn xuống và lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự thất vọng mà cha không nói ra, cùng cảm giác tội lỗi nặng nề trong lòng tôi, những điều đeo bám tôi trong suốt nhiều năm sắp tới. Khi rửa bát xong và quay lại, mẹ nhìn tôi gật đầu và động viên nhưng tôi không thể nói thêm gì nữa. Mười lăm phút cứ thế trôi qua trước khi cha tôi lại cất lời.

“Vậy là cái tiệm vải sẽ chết cùng với tôi.”

Và đó cũng là những lời cuối cùng cha nói về chuyện này. Có lẽ cha nghĩ tôi đã đặt quyết tâm rồi thì chả còn gì cần thảo luận bàn bạc nữa. Nhưng suốt những ngày và tuần sau đó, tôi thấy cha gầy đi, mệt mỏi hơn, lơ đãng hơn khi đo lường, khi cắt vải, khi may, khi khâu, như thể cha đã đánh mất ngọn lửa giúp cha tiếp tục bấy lâu nay. Và trong giây phút ấy, khi nằm đó nhìn lên bầu trời Athens, tôi nghĩ rằng nếu mình đã đánh đổi hạnh phúc của cha để lấy công việc mình muốn, làm một người nuôi ong, thì mình phải tìm cách đến được chỗ anh Mustafa. Bao năm trước anh đã tìm thấy tôi, đưa tôi ra khỏi tiệm vải chật hẹp để đến với những cánh đồng rộng lớn bên rìa sa mạc, thì bây giờ tôi phải giữ lời hứa với anh. Tôi phải tìm được đường đến nước Anh.

*

Tôi tỉnh lại trong cái tĩnh lặng chết chóc của màn đêm. Ngọn lửa giờ chỉ lập lòe chút hơi tàn. Lũ trẻ đang ngủ. Một đứa bé sơ sinh đang khóc, tiếng khóc như vọng ra từ nơi sâu thẳm trong rừng, nhưng đó là điều không thể. Angeliki đang cuốn chăn, dựa vào một gốc cây đối diện chúng tôi. Hai mắt trống rỗng, hai tay đặt trong lòng, bầu ngực vẫn còn chảy sữa. Tôi tự hỏi không biết nhà cô ở đâu, gia đình cô ở đâu, cô đã bỏ lại ai. Tôi muốn hỏi cô một lần nữa: Angeliki, tại sao cô lại rời đi? Tên thật của cô là gì? Con của cô đâu?

Tôi cứ nghĩ mãi về những câu hỏi ấy khi ngồi trong khu rừng dưới ánh trăng này, giữa tiếng ri ri của lũ dế. Bóng tối bỗng trở nên êm đềm, như màn đêm của những câu chuyện trong Nghìn lẻ một đêm, kiểu truyện mẹ thường kể tôi nghe vào những ngày bà ngóng ra ngoài cửa sổ, trên một đất nước sục sôi vì quyền lực, tham nhũng và áp bức. Tôi có thể thấy sự căm giận, sự bất lực và đôi khi cả nỗi sợ của mẹ khi mẹ đọc cho tôi nghe.

Sự chuyển động của thời gian trong những câu chuyện ấy có gì đó khiến tôi vừa thích thú vừa sợ hãi. Đêm này qua đêm khác, quái thú trồi lên từ biển sâu. Đêm này qua đêm khác, các câu chuyện được kể để trì hoãn một mệnh lệnh chặt đầu. Những cuộc đời bị vỡ vụn thành những đêm đen, và buổi đêm chỉ còn đầy tiếng kêu than của những người bất hạnh.

Angeliki đặt tay vào trong lòng. Đứa bé vẫn đang khóc nhưng tôi không dám chắc tiếng khóc vọng tới từ đâu. Tôi không muốn ngủ lại vì nơi này không an toàn. Có gì đó rất không ổn ở đây. Tôi nhớ Afra đã bị chảy sữa thế nào khi Sami khóc. Chỉ cần nghe con khóc, thấy hơi Sami và ngồi trên chiếc ghế em vẫn hay ngồi cho con bú là em đã có sữa, như thế giữa hai mẹ con luôn có một hiệp ước vô hình vậy, giao tiếp giữa hai người không cần lời, nó tự đến từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn. Tôi nhớ có lần em cười chuyện này, bảo rằng em cảm thấy mình như con thú mẹ, Sami là thú con, và em nhận ra rằng chúng ta bớt người đi những khi yêu thương mãnh liệt nhất và sợ hãi kinh hoàng nhất. Hồi mới sinh xong, em không vẽ gì, em đã kiệt sức và dành toàn bộ tâm trí cho Sami. Sau này em cầm lại cọ vẽ vào những lúc Sami ngủ và những bức phong cảnh đó là những bức đẹp nhất, sống động nhất với bóng tối sâu hơn và ánh sáng lung linh hơn.

Khi tiếng khóc ngừng lại, Angeliki đã nhắm nghiền hai mắt. Tôi nghĩ đến Nadim và cảnh anh ta dúi tiền vào tay hai thiếu niên sinh đôi. Rồi tôi nhớ tới Mohammed, và giờ tôi lo lắng cho thằng bé hơn bao giờ hết. Và rồi, tệ hơn hết thảy, tôi nghĩ tới Sami. Đầu tiên là nụ cười của con. Sau đó là đôi mắt của con, khi chúng cạn hết ánh sáng và trở nên trong suốt như thủy tinh. Tôi có muốn nghĩ về Sami đâu. Tôi không bao giờ muốn nghĩ về Sami. Tôi nhìn lên bầu trời rộng lớn cùng những vì sao đêm, chúng biến thành những hình ảnh tôi không thể nào xua khỏi tâm trí.

*

Đêm này qua đêm khác, những kẻ săn mồi đi ra từ khu rừng. Nadim ngày càng gần gũi với cặp sinh đôi, và qua nhiều đêm hai đứa cứ biến mất rồi lại xuất hiện, tại cùng một nơi, mỗi lần trông lại nổi loạn hơn. Chúng có giày mới, thậm chí cả điện thoại mới, chúng vẫn trêu ghẹo cười nói và đùa nghịch với nhau, đặc biệt trong mấy tiếng lúc sáng sớm khi chúng vừa trở về. Rồi sau đó hai đứa đi ngủ, đến chiều muộn, tới cả lúc mặt trời sắp lặn, ánh sáng hoàng hôn chiếu lên hai cơ thể bất động với tâm trí không còn tỉnh táo.

Đêm này qua đêm khác, Angeliki vẫn ngủ ở gốc cây bên cạnh chúng tôi. Tôi nghĩ chắc làm vậy giúp cô cảm thấy an toàn. Tôi tự hỏi không biết cô còn đi vào ngôi trường cũ kia không. Nơi ấy giờ dường như đã quá xa, quãng thời gian ấy dường như đã quá lâu, dù có lẽ chúng tôi mới chỉ ở trong công viên này được một hoặc hai tuần.

Tôi đã đưa bút chì và giấy vẽ cho Afra nhưng lần này em không cầm. Em để chúng ra xa, ngay cả lúc ngủ. Tâm trí em đã quá mệt mỏi và bồn chồn. Em lắng nghe những âm thanh xung quanh mình, đáp lại tiếng chơi đùa và khóc lóc của lũ trẻ bằng những biểu cảm trên gương mặt. Em lo sợ cho chúng. Em đã đôi lần hỏi tôi rằng ai đang trốn trong rừng thế. Tôi bảo em rằng tôi không biết.

Có những hôm, có vài người thu dọn đồ đạc và rời đi, dù tôi không biết là họ đi đâu. Ở Leros, người ta được chọn nhờ quê hương bản quán. Có một thứ hạng nhất định. Người tị nạn từ Syria thì được ưu tiên, đó là những gì chúng tôi được kể. Người tị nạn từ Afganistan và châu Phi thì phải đợi lâu hơn, hoặc đợi mãi mãi. Nhưng ở đây, tại công viên này, tất cả dường như đã bị lãng quên. Có những ngày, có người mới đến, được một nhân viên tình nguyện đem theo một chiếc chăn dẫn vào. Người lớn và trẻ con với đôi mắt sợ hãi và mái tóc ướt đẫm nước biển.

« Lùi
Tiến »