Tôi đưa Afra đến phòng khám theo lịch hẹn. Phòng khám có quy mô tương đối lớn và có bác sĩ nói tiếng Ả Rập. Bác sĩ Faruk dáng người thấp tròn, chắc khoảng năm mươi tuổi. Ông đặt cặp kính trên bàn, ngay trước mặt mình, bên cạnh là một chiếc huy chương bằng đồng bên trên có khắc tên ông, ánh sáng từ màn hình máy tính hắt lên đôi mắt. Ông muốn ghi lại vài chi tiết, hỏi tiền sử bệnh trạng của Afra trước khi khám cho em. Mắt đau như thế nào? Cơn đau nhói hay âm ỉ? Có đau ở cả hai mắt không? Có bị đau đầu không? Có nhìn thấy những tia sáng chớp nhoáng không? Afra trả lời từng câu hỏi của ông, và sau đó ông kéo một chiếc ghế ra, đến ngồi cạnh em. Ông đo huyết áp, lấy ống nghe khám tim và cuối cùng rọi một chiếc đèn pin nhỏ vào từng bên mắt. Đầu tiên là mắt phải, tạm ngừng, rồi sang mắt trái, lại tạm ngừng, rồi quay lại mắt phải. Ông lặp lại quy trình một vài lần nữa và rồi ngồi yên lặng quan sát Afra một lúc, như đang suy nghĩ hay đang băn khoăn gì đó.
“Chị nói chị không nhìn thấy gì hết?”
“Vâng.” Afra đáp.
Ông lại soi đèn pin vào mắt em một lần nữa. “Bây giờ chị có thể nhìn thấy gì không?”
“Tôi không.” Afra đáp, vẫn ngồi yên bất động.
“Chị có nhận biết được bất kỳ thay đổi nào không? Một cái bóng hoặc chuyển động hoặc ánh sáng gì đấy?”
“Không, không có gì cả,” em đáp.
Tôi nghe thấy giọng em run run, em đã bắt đầu tức giận, và ông bác sĩ có lẽ cũng nhận ra điều đó, khi ông đặt chiếc đèn pin xuống và không hỏi thêm gì nữa. Ông ngồi lại vào bàn mình, đưa tay gãi gãi mặt bối rối.
“Chị Ibrahim,” ông nói, “chị có thể nói một chút về chuyện tại sao mắt chị thành như thế này không?”
“Một vụ nổ bom,” Afra đáp.
“Chị kể cụ thể hơn được không?”
Afra khẽ cựa người, xoay xoay viên bi trong lòng bàn tay.
“Sami, con trai tôi, thằng bé đang chơi trong vườn. Tôi cho con chơi dưới tán cây nhưng vẫn nhìn qua cửa sổ, trông chừng nó. Hai ngày qua không có vụ nổ nào nên tôi nghĩ chắc sẽ không sao. Nó chỉ là một đứa trẻ, nó muốn chơi trong vườn với các bạn nhưng không đứa trẻ nào còn ở lại. Thằng bé cũng không thể ở trong nhà suốt cả ngày, như thế chẳng khác nào giam cầm nó. Sami mặc chiếc áo phông đỏ yêu thích và quần soóc jean, hỏi tôi rằng con ra vườn chơi có được không hả mẹ, và khi tôi nhìn vào mắt con, làm sao tôi có thể nói không được, vì nó mới chỉ là một cậu bé, bác sĩ Faruk, một cậu bé muốn ra ngoài chơi.” Giọng của Afra vẫn rõ ràng và vững vàng.
“Tôi hiểu,” vị bác sĩ nói. “Chị kể tiếp đi.”
“Đầu tiên tôi nghe thấy một tiếng rít vang khắp bầu trời, tôi chạy ra để gọi con về.” Em dừng lại, hít một hơi thật gấp như vừa được trồi lên khỏi mặt nước. Tôi mong em đừng nói nữa. “Khi tôi mới ra đến cửa, tiếng nổ kinh hoàng đã vang lên và một luồng sáng rực ập tới từ phía sau của khu vườn, không gần chỗ của Sami nhưng lực rất mạnh, như thể nó xé đôi bầu trời.”
Tôi để ý thấy tiếng ghế di chuyển trong những căn phòng khác, tiếng trẻ con cười đùa.
“Và sau đó chuyện gì đã xảy ra?”
“Tôi không biết nữa. Tôi đang ôm Sami trong lòng, và chồng tôi ở bên cạnh, tôi có thể nghe thấy giọng của anh ấy nhưng tôi không thể nhìn thấy gì hết.”
“Thứ cuối cùng chị nhìn thấy là gì?”
“Đôi mắt của Sami. Đôi mắt đang nhìn lên bầu trời.”
Afra bật khóc, theo cái cách mà tôi chưa nhìn thấy em khóc bao giờ. Người em sụp xuống và tiếng khóc nức nở thoát ra từ lồng ngực. Ông bác sĩ đứng dậy, bước ra khỏi bàn và đến ngồi cạnh Afra. Tôi bỗng cảm thấy như mình đã trôi xa, cách họ cả một hoang mạc đang ngày càng lan rộng. Tôi thấy bác sĩ Faruk đưa cho em khăn giấy, rồi nước uống. Afra vẫn đang gập người lại, nhưng tôi không thể nghe được em nói gì, và bác sĩ cũng đang nói gì đó, rất nhẹ nhàng, những câu an ủi, nhưng tim tôi đang đập mạnh đến mức tôi không thể nghe được âm thanh nào từ bên ngoài, như thể tôi quá xa với chúng. Giọng của bác sĩ trở nên to hơn và tôi cố tập trung. Ông đã trở lại bàn ngồi và đeo kính, nhìn thẳng vào tôi. Tôi dám chắc rằng ông đã nói gì đó mà tôi không nghe. Sau đó ông nhìn vào Afra.
“Chị Ibrahim, đồng tử mắt chị có phản ứng với ánh sáng, giãn nở và co lại như đồng tử của một đôi mắt có thể nhìn thấy bình thường.”
“Ý bác sĩ là gì ạ?” Afra hỏi.
“Bây giờ tôi vẫn chưa chắc chắn lắm. Tôi cần phải tiến hành chụp X quang nữa. Có thể sóng nổ hoặc ánh sáng mạnh từ vụ nổ đã làm tổn thương võng mạc, nhưng cũng có thể việc chị không nhìn thấy là do sang chấn, đôi khi cơ thể chúng ta có thể tìm cách ứng phó với những điều nó buộc phải đối mặt nhưng quá sức chịu đựng. Chị đã chứng kiến con trai mình qua đời, chị Ibraham, và có lẽ nơi nào đó trong cơ thể chị đã tự đóng kín nó lại, phần nào giống như chuyện chúng ta ngất xỉu khi quá sốc vậy. Tôi chưa thể khẳng định ngay. Chúng ta sẽ có câu trả lời khi chị được kiểm tra kỹ lưỡng hơn.” Trong một quãng thời gian ngắn ngủi như vậy, khi nói xong, vị bác sĩ trông nhỏ bé hẳn đi, hai tay đan chặt vào nhau, đôi lúc lại đưa mắt nhìn về phía bên trái của căn phòng, nơi có một bức ảnh đặt trên chiếc tủ đứng – hình một cô gái khoảng hai mươi tuổi với chiếc mũ và áo choàng ngày tốt nghiệp. Ông thấy ánh mắt của tôi và ông tránh đi.
Ông viết vài chữ lên tờ giấy và nói: “Và anh thì sao? Sức khỏe của anh ổn chứ anh Ibrahim?”
“Tôi không có vấn đề gì.”
Tôi nhìn qua Afra, thấy em bỗng ngồi thẳng lưng lên và nói: “Bác sĩ Faruk, thực ra tôi nghĩ chồng tôi không được ổn lắm.”
“Có chuyện gì vậy?” Ông nhìn từ Afra sang tôi.
“Tôi chỉ mất ngủ một chút thôi,” tôi nói. “Tôi bị khó ngủ.”
Afra lắc đầu. “Không, không chỉ có vậy…”
“Không! Anh rất ổn!”
“Chị nói thêm cho tôi biết được không, chị Ibrahim?”
“Bác sĩ không nghe thấy tôi nói ư?”
Afra suy nghĩ và nhớ lại điều gì đó, rồi em nói, “Tôi không biết diễn tả thế nào, bác sĩ Faruk, nhưng tôi biết có điều gì đó không ổn. Anh ấy không phải người chồng tôi biết.”
Bác sĩ Faruk nhìn thẳng vào tôi. Tôi cười. “Thật đấy, Afra, anh bị mất ngủ, thế thôi. Anh mệt quá nên anh mới bạ đâu ngủ đấy.” Tiếng cười của tôi có vẻ không tác động được ai trong hai người.
“Ví dụ như ở đâu?”
“Nhà kho,” Afra nói, “hoặc trong vườn.”
Ông bác sĩ nhăn mặt, tôi biết ngay là ông ấy sẽ nghĩ quá lên.
“Có gì bất thường nữa không?”
Cả hai người đều đang phớt lờ tội. Tôi nhìn sang Afra. Em nhanh chóng quay mặt đi.
“Anh ấy đã khác từ lúc ở Istanbul. Anh ấy…” Em ngập ngừng.
“Anh ấy…?”
“Anh ấy tự nói một mình, hoặc đúng hơn là nói với người nào đó không có mặt ở đấy.”
“Bác sĩ Faruk, tôi sẽ rất biết ơn nếu có chút thuốc ngủ giúp tôi nghỉ ngơi, và khi được như vậy tôi sẽ không vô tình ngủ thiếp đi trong nhà kho nữa.” Có vẻ tôi cười tươi quá mất rồi.
“Tôi đang suy nghĩ về những điều vợ anh vừa nói, anh Ibrahim ạ.”
Tôi cười: “Hả? Không phải vậy đâu. Chỉ là tôi nhớ lại trong đầu một loạt những chuyện đã xảy ra thôi. Mấy kỷ niệm. Mấy việc cần làm, kiểu vậy thôi. Có gì đâu!”
“Anh đã bao giờ thấy lại quá khứ chưa?”
“Ý bác sĩ là gì?”
“Kiểu như những hình ảnh lặp đi lặp lại hoặc những chuyện đau buồn?”
“Chưa từng.”
“Thế còn các triệu chứng như run rẩy, buồn nôn, toát mồ hôi?”
“Cũng không.”
“Mức độ tập trung của anh thế nào?”
“Tốt.”
“Anh có thấy đờ đẫn, kiểu như anh đã mất khả năng cảm nhận nỗi đau hoặc niềm vui không?”
“Không đâu bác sĩ. Cảm ơn ông đã lo lắng nhưng tôi rất ổn.”
Vị bác sĩ ngả người tựa vào ghế, trông càng có vẻ đăm chiêu hơn ban đầu. Gương mặt Afra thẫn thờ, hai mắt tối lại và tôi thấy buồn vô hạn khi nhìn em ngồi đó mà trong lòng lo lắng trĩu nặng.
Vị bác sĩ vẫn không tin tôi. Tuy nhiên, thời gian của chúng tôi đã hết. Ông kê cho tôi vài viên thuốc ngủ, loại mạnh, và yêu cầu tôi đến gặp ông sau ba tuần nữa.
*
Buổi chiều hôm đó, Afra không xuống phòng khách nữa. Em ngồi rất lâu bên mép giường trong căn phòng ngủ.“Vụ nổ bom không làm em mù,” em thì thầm. “Em đã thấy Sami chết. Đấy là lúc mọi thứ đều trở nên tối om.”
Tôi không biết nói gì với em, nhưng tôi ngồi bên em trong khoảng một hay hai tiếng gì đó và không nói gì với nhau. Qua ô cửa sổ, tôi thấy bầu trời chuyển màu, thấy những đám mây và đàn chim bay qua.
Chúng tôi còn chẳng đi lấy bất cứ đồ ăn gì. Thường thì bà chủ nhà sẽ đem một nồi hầm hoặc xúp từ nhà sang, đeo găng tay lò nướng và bê nó băng qua lối vào, lấy khuỷu tay gõ cửa thình thịch và đặt cái nồi giữa bàn ăn để chúng tôi tự phục vụ. Tôi biết mọi người đều đã ăn hết rồi, và tất cả chuyện này xảy ra mà không ai để ý rằng không có tôi. Tôi có thể nghe thấy tiếng bước chân, những giọng nói, tiếng tivi ở phòng khách, tiếng đóng và mở cửa, tiếng ấm ré sôi, tiếng xả nước ào ào. Bầu trời ngày càng thẫm lại và tôi thấy trăng, một mảnh lưỡi liềm trốn sau mấy dải mây mỏng. Đôi lúc tôi mong Mohammed, nhưng thằng bé không tới. Tôi ra ghế bành ngồi và đợi tới
sáng
ngày thứ mười lăm ở đây, người mẹ trẻ với chiếc hijab xanh lam bỗng đứng dậy, vẫn bế Mahsa trên tay và chạy tới chỗ người phụ nữ lớn tuổi đang chăm sóc một em bé khác. Cô đưa tay choàng lấy vai bà. Ban đầu, tôi tưởng có chuyện gì không hay và vội chạy tới, nhưng sau đó, tôi thấy cô gái nở nụ cười, cô buông bà ra và đưa tay ấn vào ngực mình.“Echeis gala?” Người phụ nữ reo lên. “Eftichos! Echeis gala!” Bà vội làm dấu thánh giá và hôn lên tay người mẹ trẻ. Cô giờ nằm thoải mải trên tấm chăn, ra hiệu muốn người phụ nữ tiếp tục quan sát mình khi cô ôm Masha trong vòng tay và cho con bú. Bé gái đã bắt đầu ăn được sữa mẹ. Hóa ra là như vậy. Tôi mỉm cười, một nụ cười thực sự từ trái tim tôi. Người phụ nữ lớn tuổi nhìn thấy và vẫy tay chào với tôi.
Sự việc này bỗng khiến tôi tin rằng mọi điều có thể thay đổi, rằng hy vọng sẽ lan tỏa, kể cả trong những tình huống khó khăn nhất. Có lẽ chúng tôi sẽ sớm ra khỏi đây. Tôi nhớ tới số tiền trong ba lô của mình. Tôi đã luôn giữ nó cẩn thận như giữ lấy mạng sống, đêm nào cũng đặt dưới gối để không kẻ nào có thể lấy được mà không đánh thức tôi. Người ta nói xơi xơi về lũ trộm cắp, nhưng lại im lặng về những thứ đang ẩn nấp trong vùng bóng tối kia.
Đêm đó tôi thấy hai thằng bé ngồi trên tấm chăn quen thuộc của chúng dưới tán cây, tôi định đến gần hai đứa nhưng khi ngửi thấy hương cologne rõ ràng trong không khí, tôi mới thấy hai đứa đang té loại nước thơm đó lên mặt nhau.
Tôi lại gần và hỏi xem tôi ngồi đó được không. Chúng cảnh giác với tôi, đôi mắt liếc nhanh về phía rừng cây, nhưng chúng quá ngây thơ và hồn nhiên để nói từ chối. Hai đứa bắt tay tôi và tự giới thiệu mình là Ryad và Ali, mười lăm tuổi, sinh đôi nhưng không giống nhau hoàn toàn. Ryad là anh, cao và khỏe khoắn hơn, còn Ali vẫn có nét của một đứa trẻ, nhưng cả hai trông vẫn như cún con. Tôi hỏi hai đứa mấy câu, chúng trả lời, thỉnh thoảng còn tranh nhau nói.
Hai đứa kể đã chạy trốn khỏi Afghanistan và kẻ đã giết cha hai đứa thế nào. Sau khi cha chết, hai đứa trở thành mục tiêu của Taliban và mẹ giục chúng phải trốn đi trước khi bị bắt. Chị không muốn đã mất chồng và rồi mất cả con trai nữa. Chúng kể mẹ đã khóc và hôn khắp khuôn mặt hai đứa cả trăm lần bởi mẹ biết sẽ không bao giờ gặp lại chúng nữa. Hai đứa kể tiếp về hành trình qua Thổ Nhĩ Kỳ và Lesbos, và đến được thành phố xa lạ này mà không có sự giúp đỡ nào và không biết làm gì tiếp theo. Đó cũng là khi một người đàn ông khuyên chúng đến khu Victoria, một điểm tập trung nổi tiếng cho người tị nạn.
“Bọn cháu nghĩ ở đó sẽ có người giúp chúng cháu,” Ali nói.
“Chúng cháu không thể ngủ trên hè phố nữa.”
“Tất cả các băng ghế đã có người nằm.”
“Và có quá nhiều các băng nhóm.”
“Anh Ryad sợ lắm.”
“Ali còn sợ hơn ấy, em í run rẩy cả đêm.”
“Vậy nên họ bảo chúng cháu tới đây.”
“Vậy là các cháu biết Nadim hả? Anh ấy giúp các cháu nhiều chứ?”
“Nadim nào ạ?” Ryad nói, cả hai đứa chăm chú nhìn tôi không chớp mắt, đợi câu trả lời.
“À chắc chú nhớ nhầm tên,” tôi cố nở một nụ cười. “Người đàn ông mang cây đàn ấy, tay có nhiều vết sẹo.”
Chúng liếc nhìn nhau trong thoáng chốc và hai mắt tối lại, không còn thân thiện nữa.
“Ý chú là chú Ahmed?” Ryad nói.
“A đúng rồi đấy! Chú biết là chú nhầm mà. Mấy tuần nay chú gặp nhiều người quá mà chú nhớ tên tệ lắm.”
Hai đứa vẫn im lặng.
“Anh ấy có giúp các cháu không?” Tôi hỏi. “Chú nghe nói anh ấy rất tốt bụng.”
“Đêm đầu tiên thì chú ấy có giúp chúng cháu một chút.” Ali nói, và Ryad huých nó. Một cái huých rất nhẹ vào cẳng chân nhưng tôi đã nhìn thấy.
“Thì ra thế. Thế còn sau đấy?”
Ali do dự. Nó cúi mặt xuống đất, không muốn nhìn vào tôi hay anh nó.
“Anh ấy có muốn lấy lại tiền không?” Tôi hỏi.
Ali gật đầu. Ryad đảo tròn mắt, ngước mặt nhìn trời.
“Bao nhiêu?”
“Chúng cháu đang trả góp, được chưa?” Ryad lên tiếng. Giọng thằng bé có vẻ tức giận.
“Làm sao các cháu có tiền? Các cháu lấy đâu ra tiền để trả?” Ryad có lẽ đã thấy tôi liếc nhìn đôi giày mới của nó, nên giờ nó khoanh chân lại, nhưng phản ứng của Ali làm tôi ngạc nhiên hơn. Thằng bé thu người lại và vòng tay ôm lấy mình như tự vệ, khuôn mặt đỏ bừng. Một cái bóng từ đâu xuất hiện chặn mất ảnh mặt trời và tôi nhận ra Nadim đang đứng nhìn chúng tôi, tay cầm đàn rebab, nở nụ cười thâm trầm.
“Vậy là mọi người gặp nhau hết rồi nhỉ,” anh nói, ngồi xuống bên cạnh chúng tôi trên tấm chăn và bắt đầu chơi đàn. Âm thanh êm đềm trôi qua tâm trí tôi, quét sạch những suy nghĩ và lo lắng. Giai điệu ấm áp, trầm lắng trở nên mê hoặc hơn bao giờ hết. Chơi suốt một tiếng đồng hồ, Nadim mới đặt cây đàn xuống và bắt đầu lảng đi. Tôi thấy anh ta đi vào rừng và quyết định theo sau, đi qua một nhóm mấy người đàn ông Hy Lạp đang ngồi hút thuốc quanh một băng ghế, qua hai người phụ nữ lang thang quanh những cái cây, tới một khoảng đất rộng có một cái cây đổ rạp. Anh ngồi xuống một khúc gỗ bị nứt, lấy từ trong ba lô ra một con dao nhíp nhỏ nhưng sắc. Đặt lưỡi dao lên cổ tay trái của mình, ngừng một giây rồi nhìn nhanh quét một vòng xung quanh. Tôi lùi lại vào chỗ khuất để đảm bảo anh ta không nhìn thấy mình. Và rồi tôi thấy anh dứt khoát cứa lưỡi dao dọc theo cánh tay. Mặt anh nhăn lại, hai mắt trợn lên vì đau đớn. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, đôi mắt ấy chỉ còn lại màu trắng. Máu tuôn ra từ cánh tay, anh lấy vài tờ giấy lau trong túi ra và giữ chúng trên miệng vết rạch vừa xong. Nhưng biểu cảm trên gương mặt anh mới là điều tôi nhớ nhất: Anh tức giận. Đây là tự trừng phạt mình sao?
Tôi khẽ di chuyển một chút. Một cành khô gãy rắc một cái và Nadim nhìn lên, hai mắt nhìn trúng tôi, nheo lại thâm hiểm. Tôi lùi sâu vào vùng bóng cây, không biết làm gì khác nữa và bắt đầu chạy qua khu rừng để trở về chỗ khu trại.
“Có chuyện gì thế anh?” Afra hỏi khi tôi ngồi xuống bên cạnh em.
“Có chuyện gì đâu. Sao thế?”
“Vì anh đang thở hồng hộc đấy.”
“Không, anh vô cùng bình tĩnh.”
Em khẽ lắc đầu không tin lời tôi và chính lúc đó, Nadim đi từ rừng ra và về ngồi ở chân bức tượng. Trông anh bỗng nhiên hốc hác hệt như ngày đầu tiên tôi gặp. Cả người anh như bị rút cạn sức lực. Tôi đợi xem anh ta có đến gần mình không, nhưng anh còn không thèm liếc về phía bên này. Anh cứ ngồi cuốn thuốc lá, hết điếu này đến điếu khác và hút thuốc trong suốt một tiếng đồng hồ.
Hai đứa sinh đôi ngồi trên tấm chăn, chơi game điện thoại và cười khúc khích. Thỉnh thoảng, Ali lại đánh Ryad một cái khiến thằng bé tức lên giật lấy chiếc điện thoại và ngồi xoay lưng lại với em để nó không nhìn được màn hình.
Dù Nadim có vẻ thoải mái và chìm đắm trong suy nghĩ của mình, tôi biết anh ta vẫn đang nhắm vào hai thằng bé, đôi mắt không ngừng liếc về phía chúng.
Tôi nằm xuống bên Afra, nhắm mắt lại nhưng vẫn chú ý nghe ngóng chỗ Nadim và hai thằng bé. Đến mười giờ, anh ta đứng dậy và đi vào trong rừng. Ba phút sau, hai thằng bé đi theo. Tôi ngồi dậy và theo dấu họ, cố giữ khoảng cách để không bị phát hiện trong khi vẫn đảm bảo đủ gần để không bị mất dấu.
Họ rẽ theo những lối rất lắt léo và bất ngờ, như thể tất cả đang đi theo một con đường vô hình và rốt cục cũng đến được một khoảng trống khác. Chỗ này rác rưởi chất đống, một cái hồ cạn trở thành hố rác. Giữa khoảng trống là một cái giếng, vòi nước hoen gỉ được bao quanh bằng những đường ống của một hệ thống nước từ thời nào. Đằng trước nó là một vườn hồng nho nhỏ đã chết héo từ lâu. Con nghiện và cò mồi lảng vảng quanh cái giếng, kim tiêm rơi đầy trên mặt đất. Người ngồi lơ đễnh trên mái của một ngôi nhà đang sửa chữa, rải rác xung quanh là những tấm chiếu và các loại hộp – những gì còn lại của cuộc đời trước đây.
Hai đứa sinh đôi đứng bên cái giếng và rất nhanh có một gã đến dúi tiền vào tay Ryad. Cặp sinh đôi tách ra. Ali đi về phía bên phải vòi nước, Ryad đợi cho tới khi một gã khác đến ngay sau đó và đi theo hướng ngược lại. Tôi đứng đó một lúc và người ta dần nhận ra sự có mặt của tôi. Không thấy Nadim đâu cả, chắc anh ta chuồn đi đâu rồi. Tôi không thể ở đây quá lâu được. Tôi phải rời khỏi nơi này, về lại khu trại.
Vậy nên tôi bắt đầu tự tìm đường về, nhưng tôi rẽ nhầm đường và phải quay lại từ đầu. Khi nghe được tiếng lũ trẻ đá bóng, tôi biết mình đã gần về tới nơi và rồi ngay sau đó tôi nhìn thấy đống lửa đã được thắp lên. Tôi thấy Angeliki ngồi bên cái cây ngay cạnh Afra. Cô ôm lấy hộp chì màu và giấy vẽ, đầu dựa vào thân cây mà ngủ thiếp đi. Afra cũng đang ngủ, cuộn tròn như trẻ sơ sinh, hai tay chắp lại đưa lên kể dưới đầu. Tôi cảm thấy có ai đang theo dõi mình, và khi quay lại, tôi thấy Nadim đã trở lại bên bức tượng, hút thuốc và nhìn tôi chằm chằm.
Anh ta giơ tay ra hiệu cho tôi lại gần. Tôi bước tới và ngồi xuống bên cạnh.
“Tôi có thứ này cho cậu,” anh ta nói.
“Tôi không cần gì cả.”
“Ai cũng cần một thứ gì đó, đặc biệt là ở đây.”
“Tôi thì không.”
“Cậu cứ chìa tay ra xem nào.”
Tôi nhìn anh ta không chớp mắt.
“Nhanh nào! Chìa tay cho tôi. Đừng sợ. Không phải chuyện gì xấu. Tôi đảm bảo.”
Anh ta cầm tay tôi và lật lòng bàn tay lên.
“Giờ cậu nhắm mắt lại.”
Chuyện này đi quá xa rồi. Tôi cố rụt tay về nhưng Nadim giữ rất chặt. “Thôi nào, cậu chỉ cần nhắm mắt lại thôi,” anh ta nói và cười lớn, hai mắt phản chiếu ngọn lửa đang bập bùng.
“Không,” tôi nói, cố sức rụt tay lại mà không đến nỗi làm quá. Nhưng những gì xảy ra sau đó quá đột ngột và khó tưởng tượng đến mức nó khiến cả đầu óc và cơ thể tôi đông cứng lại. Tôi cảm thấy cơn đau nhói buốt ở cổ tay. Anh ta đã dùng dao tấn công tôi. Tôi giữ lấy cánh tay mình như một chú chim bị thương. Máu nhanh chóng tuôn ra, nhỏ giọt xuống quần.
Tôi chạy nhanh khỏi đó, ào xuống chỗ Afra, lay em mau tỉnh dậy. Em mở mắt, hốt hoảng và tôi cầm tay em chạm vào cổ tay mình. Em ngồi bật dậy, máu của tôi giờ chảy dọc những ngón tay em. Em đưa tay cảm nhận vết thương và ấn lên đó, cố gắng trong tuyệt vọng để cầm máu. Angeliki tháo chiếc khăn trùm đầu xuống và quấn nó quanh cổ tay tôi.
“Đã xảy ra chuyện gì thế?” Afra hỏi. Tôi quay lại nhìn về phía bức tượng nhưng Nadim đã biến mất.
Angeliki thở dài và ngồi xuống, khuôn mặt đầy lo lắng. Máu đang thấm qua chiếc khăn, tay tôi đau nhói. Tôi nằm xuống nghỉ vì đã kiệt sức, nhưng Angeliki vẫn đang ngồi thẳng. Điều cuối cùng tôi thấy trước khi nhắm mắt lại là chiếc cổ cao và gò má nhọn của cô trong ánh lửa đang lụi dần.
Nhiều giờ sau tôi tỉnh lại. Đã là nửa đêm. Tôi thấy cô vẫn ngồi nguyên vị trí cũ, đôi mắt quét khắp màn đêm và những chiếc bóng trong rừng.
“Angeliki,” tôi thì thào. Cô quay sang, hoàn toàn tỉnh táo.
“Cô nằm xuống cạnh Afra đi, tôi sẽ trông chừng tiếp cho.”
“Anh không ngủ lại à?” Cô hỏi.
“Không.”
Cô do dự một lát nhưng rồi nằm xuống cạnh Afra trên tấm chăn và nhắm mắt lại.
“Odysse,” bỗng nhiên cô nói, “anh ta đi qua đảo Tiên cá. Anh có biết Tiên cá là ai không?” Đây không phải là một câu hỏi tu từ, cô thực sự đợi tôi trả lời. Cô còn hé mắt xem tôi có đang nghe không. Nhưng tay tôi đang đau vô cùng và không thể tập trung vào những gì cô đang nói.
“Không,” tôi đáp. “Tôi không biết.”
“Họ sẽ cố dẫn đám đàn ông tới cái chết bằng tiếng hát của mình. Nếu anh nghe họ hát, họ sẽ kéo anh đi. Vậy nên, khi đi qua hòn đảo, đám người đó gắn sáp vào tai để không nghe được tiếng hát, nhưng Odysse muốn nghe bởi anh ta nghe nói rằng nó rất hay, rất mê hoặc. Anh có biết họ làm thế nào không?”
“Không.”
“Việc này rất hệ trọng. Họ trói Odysse vào cột buồm của con thuyền, trói rất chặt. Anh ta nói với họ rằng không được cởi trói cho mình, bất kể anh ta có cầu xin thế nào, đến khi họ an toàn, thoát khỏi đám Tiên cá và tiếng hát của họ.”
Tôi không đáp gì. Tôi giữ cánh tay đang quấn khăn, cố gắng không để ý tới cơn đau đang nóng rực, và nhìn ra khu rừng, nơi những thứ vô hình đang ẩn náu.
Angeliki tiếp tục, “Athens này là nơi người ta vướng vào vô số điều nguy hiểm, họ được mời gọi và không thể kìm lòng, nên họ buông xuôi theo nó.”
Tôi nhận ra Ryad và Ali không có ở chỗ tấm chăn của hai đứa. Chúng vẫn chưa về. Tôi không muốn nghĩ tới chuyện chúng đã đi đâu và chúng có thể đang làm gì. Tôi nhìn xuống chiếc khăn xanh của Angeliki đã thấm đẫm máu đang quấn trên tay mình, nhìn vào những búi tóc lộn xộn xù xì nhưng tràn đầy sức sống của cô, nhìn mái tóc của Afra buông dài khi không quấn hijab. Angeliki lại thiếp đi nhanh chóng, giờ cả hai đều đã ngủ. Tôi nhớ những gì Angeliki đã nói về Odysse khi chúng tôi mới đến đây, anh ta đã đi nhiều nơi như vậy, thực hiện một chuyến hành trình giông bão như vậy, là để tìm đường về nhà. Nhưng còn chúng tôi, không có ngôi nhà nào dành cho chúng tôi cả.
Tôi đưa tay lên chạm vào lá thư anh Mustafa đã viết cho tôi mà tôi vẫn luôn giữ trong túi áo. Tôi lấy ra bức ảnh chụp tôi với anh và ngắm nó hồi lâu dưới ánh sáng của ngọn lửa.
Nhà là cái gì? Nhà chúng tôi ở đâu? Trong tâm trí tôi, nó đã như một bức tranh được nhuộm trong ánh nắng vàng rực rỡ, một thiên đường không thể nào chạm tới nữa. Tôi nhớ có một buổi tối, chắc khoảng mười năm trước rồi, đó là ngày lễ Eid, và để mừng tháng Ramadan kết thúc, anh Mustafa và tôi tổ chức một buổi tiệc ăn mừng ở khách sạn Martini Dar Zamaria cho tất cả nhân viên. Bữa tiệc diễn ra ở sân trong, với hàng cọ dừa và tầng ban công treo bao đèn lồng cùng các giỏ cây hoa. Trên đầu chúng tôi là bầu trời đêm đầy sao.
Khách sạn đã chuẩn bị thịt và các món cá, cùng cơm, ngũ cốc và rau. Chúng tôi cùng nhau cầu nguyện và ăn uống. Những người bạn. Những người thân. Lũ trẻ chạy đùa quanh người lớn. Afra thật xinh đẹp trong bộ abaya đỏ và vàng kim. Em đi quanh phòng tiệc, dắt theo Sami và chào hỏi mọi người bằng một nụ cười mà tôi thấy như chứa đựng hết ấm áp của thế giới này.
Firas, Aya và chị Dahab cũng ở đó, cả bố của anh Mustafa cũng xuống thành phố chung vui. Một người đàn ông tĩnh lặng, khiêm tốn và lạ lùng, nhưng ông rất tự hào với thành tựu của con trai. Ông thưởng thức món ăn và thích trò chuyện, nói với tôi bao điều về vườn ong của ông. Khung cảnh ấy như mang một phép màu siêu thực. Những chiếc lá sáng lấp lánh, khói shisha bay lên trên nền trời đêm mông lung như những dải lụa, những giỏ cây bất ngờ đơm hoa với những bông hoa rực rỡ tỏa hương thơm ngát ngọt ngào xuống sân dưới. Một khung cảnh như trong những cuốn sách tranh cho thiếu nhi, kiểu sách mẹ vẫn hay đọc cho tôi nghe trong căn phòng lát đá hoa xanh dịu.
***
Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi nhận ra mình đã không làm được như lời mình nói. Tôi đã ngủ thiếp đi bên cái cây và Angeliki đã rời đi. Chiếc khăn xanh giờ không thể thấm thêm máu nữa và tay tôi càng đau dữ dội hơn. Người phụ nữ đang đi phát đồ ăn cho chúng tôi và tôi thấy vài nhân viên tình nguyện khác đang ở xung quanh. Tôi giơ tay lên và gọi một người trong số họ, một cô gái trẻ mới khoảng hai mươi. Tôi đưa cánh tay bị thương ra khiến cô giật mình lùi lại. Cô đứng đó bối rối một lúc, không biết nên làm gì, sau đó bảo tôi đợi và cô sẽ gọi người tới giúp, vì cô hay làm việc với trẻ em thôi chứ không có kinh nghiệm y tế nào, nhưng cô có thể tìm người để giúp tôi.
Tôi cảm ơn và cô rời đi, nhưng gần hết ngày rồi cô vẫn chưa quay lại. Tôi tháo chiếc khăn xanh ra, thấy vết thương rất sâu và vẫn đang chảy máu. Tôi dùng chút nước sạch để rửa rồi lại quấn lại bằng chính chiếc khăn xanh kia.
Đến chiều muộn tôi mới thấy cô nhân viên trở lại, đi qua khu rừng, tới chỗ tôi. Phía sau cô là một phụ nữ lớn tuổi hơn, với một chiếc ba lô trên vai. Họ đứng lại bên cạnh tôi và cả hai nói chuyện với nhau bằng một thứ tiếng tôi không nhận ra. Có lẽ là tiếng Hà Lan, hoặc tiếng Thụy Sĩ hoặc tiếng Đức, tôi không thể nói chắc. Người phụ nữ quỳ xuống bên cạnh tôi, mở ba lô và đeo găng tay y tế, tháo chiếc khăn ra, nhíu mày khi nhìn thấy vết thương.
“Sao anh lại bị thương thế này?”
“Có người khiến tôi bị thương như vậy,” tôi trả lời.
Cô băn khoăn nhìn tôi nhưng không nói gì thêm. Cô mất khá nhiều thời gian để khử trùng bằng giấy ướt kháng khuẩn và khéo léo dùng nhíp đặt hai miếng gạc cánh bướm lên đóng miệng vết thương.
“Tôi cần phải rời khỏi đây,” tôi nói.
Cô không nói gì.
“Làm sao để đi khỏi đây?”
Cô nhìn tôi một lúc lâu, bàn tay cầm nhíp ngừng lại nhưng rồi tiếp tục, hai môi mím chặt. Khi bắt đầu dùng gạc sạch quấn vết thương lại, cô mới thả lỏng và nói chuyện lại.
“Tôi có lẽ sẽ khuyên anh tới Scopje,” cô nói, thổi thổi mấy sợi tóc vương trên mặt, “nhưng ở đó người ta đang đánh nhau với cảnh sát để vào được Macedonia. Họ đã đóng cửa biên giới. Giờ không ai vào được. Anh sẽ bị kẹt ở đó.”
“Tôi có thể làm gì khác không?”
“Anh có thể bắt xe khách đi vào thị trấn. Mỗi tuần có một chuyến. Người Syria sẽ được ưu tiên.”
“Sau đó thì sao?”
“Anh ở lại đó.”
“Trong bao lâu?”
Không có câu trả lời. Cô túm lại mái tóc đang lòa xòa, cuộn thành một búi rồi thả ra sau gáy. Tôi để ý thấy cô đeo một thẻ tên. Tên cô là Emily. Dưới cái tên được viết tay này là một logo nhỏ.
Cô bắt đầu thu dọn đồ đạc.
“Vậy cô gái đến từ châu Phi kia thì sao, và tôi biết có hai cậu bé đang gặp rắc rối. Họ có thể đến ngôi làng đó được không?”
“Tôi không biết,” cô nói, nhưng sau đó, “không, tôi nghĩ là họ sẽ không được tới đó. Trời ạ, anh thực sự không nên hỏi tôi mấy chuyện này. Tôi không thể chịu trách nhiệm được. Có các chuyên gia tư vấn mà.”
“Họ ở đâu vậy?”
Tôi có thể thấy cô đang đấu tranh với điều gì đó, hai mắt cô thoáng vẻ mệt mỏi vì phiền hà, khuôn mặt đã ủng đỏ vì kìm nén cơn giận.
“Nếu anh tới khu Victoria…”
“Tôi đã nghe nói về khu Victoria rồi.”
“Tới đó, anh sẽ thấy một trung tâm nằm trên phố Elpidos, trung tâm Hy Vọng. Họ giúp đỡ các bà mẹ, trẻ em và thiếu niên không người giám hộ. Họ sẽ tư vấn cho anh.” Cô nói một lèo và sau đó cố nở một nụ cười.
Đêm đó, Angeliki trở lại. Cô ngồi xuống bên cái cây quen thuộc và lại thoa phấn rôm lên mặt. Khăn trùm đầu của cô hôm nay màu đen, đính sequin bạc. Chúng lấp lánh dưới ánh sáng của ngọn lửa. Cô lấy cái chai và nhấp một ngụm nước nhỏ, rồi quan sát vết thương trên tay mình. Afra biết được cô đã tới, em ngồi dậy, cảnh giác hơn và tiến gần lại phía Angeliki.
“Cô đang làm gì thế?”
“Họ bảo tôi phải uống nhiều nước.” Angeliki đáp. “Bởi vì máu tôi có độc.”
Afra lắc đầu.
“Đúng vậy đấy, tôi kể với chị rồi mà. Hôm qua tôi đã kể hết với chị. Tôi đã nói là hơi thở của tôi đi mất rồi và không quay lại nữa. Hơi thở của tôi ngừng rồi. Họ đã lấy nó đi mất rồi. Có một vài người, họ sẽ muốn lấy hơi thở của chị đấy. Và rồi họ cho thứ gì đó vào máu của tôi nữa. Họ đầu độc tôi, giờ đầu óc tôi đau lắm.”
Dù Afra có lẽ không hiểu được tất cả những gì người phụ nữ vừa nói, tôi biết em đang rất xúc động vì giọng nói và từng câu từng chữ trong đó, và khi Angeliki không nói gì nữa, Afra liền ôm lấy cánh tay của cô.
Angeliki thở chậm lại và nói, “Thật vui vì có chị ở đây với tôi, Afra ạ.”
Từ trong rừng vọng tới tiếng đàn rebab, đẹp đẽ và rực rỡ như ánh mặt trời, dù đang giữa đêm tối. Những nốt nhạc như chạm được tới ngọn lửa, khiến chúng bùng lên và bay theo ngọn gió. Tiếng nhạc giúp tôi bình tĩnh lại, nhưng ngay khi tiếng đàn ngừng, tôi lập tức nhớ tới những móng tay dài vươn của Nadim, tới lưỡi dao sắc lẹm của anh ta và sức nóng nó cửa lên cổ tay tôi. Hai đứa sinh đôi đi từ đêm qua vẫn chưa về. Tôi muốn đi tìm chúng. Tôi suy nghĩ mãi về việc trở lại cái giếng cạn kia xem chúng có ở đó không, hay tôi có hỏi được ai đã trông thấy chúng không, nhưng nỗi sợ ngăn tôi mạo hiểm lần nữa. Tôi phải sống sót vì Afra. Tôi đành chờ đợi, hy vọng hai đứa thoát khỏi bóng tối và trở lại tấm chăn dưới tán cây kia.
***
Đêm đó tôi nằm mơ gặp Mohammed. Trên thuyền, giữa những ánh nhoang nhoáng của chiếc đèn pin, mặt thằng bé nghiêm túc và đầy quyết tâm. Giống như đêm đó, bóng tối ập xuống trong khoảnh khắc và khi ánh sáng trở lại, thằng bé đã biến mất.
Đó chính xác là những gì xảy ra vào đêm đó. Tôi sục sạo dưới nước, giữa những con sóng đen ngòm, mắt nhìn mọi hướng có thể, và khi tôi nhảy xuống, những con sóng cao vút. Tôi gọi tên thằng bé và nghe thấy Afra đang gọi tên mình. Tôi lại nhảy vào vùng tĩnh lặng tối tăm và ở đó lâu nhất có thể, quờ quạng xem có nắm được thứ gì không, một cánh tay hay một cẳng chân chẳng hạn. Khi phổi không còn chút khí nào nữa, áp suất của thần chết ngày càng nặng, tôi trở lại mặt nước, hít lấy bóng đêm và gió biển. Nhưng trong giấc mơ của tôi có một chi tiết khác: người đàn ông không cứu được Mohammed, thằng bé không ở trên thuyền. Ở chỗ của nó, được ôm lấy trong vòng tay của người phụ nữ và được khăn quấn quanh người, là một cô bé có đôi mắt như màn đêm.
Tiếng hét dữ dội khiến tôi bừng tỉnh. Một cậu bé đang gào thét. Trong bóng tối là tiếng huyên náo và tiếng di chuyển ồn ào. Mọi người đều đã thức dậy và chạy về phía cậu bé. Tôi cũng đứng dậy, chạy theo dòng người. Cậu bé đang khóc và cố gắng hít từng ngụm khí để thở, vừa thở vừa chỉ về phía rừng. Một nhóm đàn ông xuất hiện với gậy bóng chày trong tay như thể họ đã đợi giây phút này từ lâu, chạy theo hướng chỉ của thằng bé. Tôi chạy theo họ và nhanh chóng nhận ra rằng họ đang đuổi bắt ai đó. Họ vô lấy hắn như về con thú lớn, vật hắn xuống đất.
Đúng lúc đó có một người đưa cho tôi một chiếc gậy bóng chày. Tôi nhìn vào người đàn ông đang giãy giụa cố thoát thân và nhận ra đó là Nadim. Trông anh ta thật khác khi khuôn mặt lộ rõ sợ hãi. Vài người ghì anh ta xuống và những người khác luôn tay đấm đá anh ta. Tôi đứng bất động và nhìn họ cho tới khi hai mắt của anh ta như sắp rơi ra, khuôn mặt đã biến dạng, tay và chân thì co giật.
“Sao anh lại chỉ đứng yên như thế?” Một người đàn ông nói, huých tay tôi. “Anh không biết hắn là người xấu à?” Và thế là tôi bước đến gần hơn, coi như tới lượt của mình và nghe thấy tiếng reo hò của những người kia. Và khi đó, mọi thứ và tất cả mọi người xung quanh tôi dường như biển mất hết, tất cả những gì tôi có thể nhìn thấy là khuôn mặt của Nadim đang ngước lên nhìn tôi. Trong khoảnh khắc, tiêu cự của anh ta bỗng rõ ràng, ánh mắt dán chặt lên tôi. Anh ta nói gì đó mà tôi không thể nghe được, trong khi một giọng nói khác từ đằng sau lại thúc giục tôi hành động. Tôi thấy vết thương của mình đang nóng đến rần rật, và nhớ đến khuôn mặt non nớt của hai đứa sinh đôi. Một cơn thịnh nộ đang bùng lên trong tôi mà tôi không nhận ra, và tôi giáng cái chày xuống sọ của anh ta.
Rồi anh ta bất động. Tôi buông chiếc gậy ra và bước lùi lại. Một người đến đá một cái, một người khác đến vỗ vỗ vào cái xác, và rồi tất cả tản đi, khắp mọi hướng, vào rừng hoặc về trại.
Tôi kéo xác anh ta vào sâu trong rừng, nơi cây cối rậm rạp hơn, tiếng ồn của thành phố và của khu trại lùi xa. Tôi ngồi cạnh cái xác cho đến khi mặt trời mọc.
Dưới ánh sáng nhạt nhòa của bình minh, tôi tìm đường về trại. Trên đường về tôi bắt gặp hai người đàn ông đang tranh luận có vẻ rất gay gắt. Tôi nhận ra họ ngay lập tức và nhanh chóng trốn vào lùm cây. Một người đang ngồi trên khúc gỗ Nadim từng ngồi, người kia thì bồn chồn đi qua đi lại.
“Anh thấy tội lỗi vì cái quái gì chứ?”
“Chúng ta đã giết người.”
“Hắn dụ dỗ bọn trẻ. Anh biết hắn đang làm gì mà, đúng không?”
“Tôi biết. Tôi biết chứ.”
“Nếu chúng là con trai anh thì sao?”
Người đàn ông ngồi trên khúc gỗ không đáp.
“Ý tôi là anh cứ thử tưởng tượng xem nào?”
“Tôi không muốn tưởng tượng.”
“Hắn là quỷ, là loại quỷ độc ác nhất.”
“Anh có biết chuyện gì xảy ra với con trai của Sadik không?”
Đây không thực sự là một câu hỏi. Người đàn ông đang ngồi cúi đầu, đưa tay lên ôm mặt. Họ yên lặng suốt một lúc và tôi không dám cử động dù chỉ một chút. Một cơn gió nổi lên đem lá trên cây rơi lao xao xuống chỗ chúng tôi. Tôi có thể nghe thấy tiếng bước chân trong rừng, tiếng cười và tiếng nhạc văng vẳng.
Người đàn ông ngồi trên khúc gỗ giờ đã đứng dậy, đối mặt với người kia. “Điều gì khiến một người phải làm những chuyện như vậy chứ?”
Tôi không nghe được câu trả lời vì một đám thiếu niên bước tới, năm hay sáu đứa gì đấy. Một đứa cầm bóng, một đứa cầm điện thoại đang phát một bài hát tiếng Ả Rập nào đó và vài đứa khác hát theo. Hai người đàn ông coi đây là lúc nên quay về trại. Họ đi rồi, tôi đến chỗ khúc gỗ ngồi và đưa tay lên chạm vào những đường rãnh xù xì trên đó. Tôi hình dung ra Nadim, tôi có thể thấy anh ta, như thể anh ta đang ngồi bên cạnh tôi, với con dao nhíp trong tay, đưa lên cứa vào tay mình và đôi mắt thì đầy giận dữ.
“Chuyện gì đã xảy ra với anh thế hả Nadim?” Tôi nói thật to. “Tại sao anh lại làm như thế?”
Và gió trả lời tôi. Nó cuốn tung những chiếc lá, thổi chúng xoay quanh tôi và bỗng chốc buông xuống. Tiếng cười và tiếng nhạc đã tắt hẳn. Đám thiếu niên đã đi tít vào trong rừng.
***
Tôi trở lại khu trại. Angeliki đã đi. Tôi nằm xuống bên cạnh Afra.
“Anh đã đi đâu thế?” Em thì thầm hỏi tôi.
“Có một chút chuyện.”
“Chuyện gì thế?”
“Em không muốn biết đâu. Hãy tin anh. Mọi chuyện kết thúc rồi.”
Tôi nhớ đến một câu trong kinh Coran:
Hãy tử tế với người khác và con sẽ nhận được sự tử tế. Hãy tha thứ cho người khác và Allah sẽ tha thứ cho con.
Và vài chữ từ Hadith:
Thánh thần sẽ không đáp lại hành động quỷ dữ bằng một hành động như thế, mà bằng sự giám sát và lòng bao dung.
Tôi nhìn vào bàn tay mình, lạ lùng như thể mới thấy chúng lần đầu tiên: một bên quấn gạc, một bên đã từng cầm chiếc gậy bóng chày. Tôi lại bắt đầu cảm nhận được nỗi sợ đó, nỗi sợ đã ăn mòn tôi khi còn ở Aleppo, phải cảnh giác với mọi chuyển động mọi âm thanh, hình dung nguy hiểm ở mọi nơi, sẵn sàng cho những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra bất cứ lúc nào, rằng cái chết luôn cận kề. Tôi thấy mình như bị phơi bày hết cả, như thể mọi người đang từ khu rừng nhìn tôi. Ngọn gió thì thầm thổi tới: tên giết người, Nadim chết rồi đấy, tên giết người.
Tôi đặt tay lên ngực Afra, cảm nhận lồng ngực em dâng lên hạ xuống theo mỗi nhịp thở và cố gắng hòa nhịp hơi thở của mình với em, chậm hơn, vững hơn. Tôi nhớ tới những con ong đen của anh Mustafa và nhắm chặt mắt lại cho tới khi có thể nhìn thấy những cánh đồng oải hương và thạch thảo tím ngát trập trùng theo những ngọn đồi, trải dài đến tận rìa thế giới.
*
Khi tôi tỉnh dậy trời đã về chiều. Tôi nhìn về phía chân bức tượng, nơi Nadim lẽ ra đang ngồi cuốn một điếu thuốc lá. Tôi nhìn lên bức tượng trắng toát – phần đầu và vai của một người đàn ông để râu, chữ khắc bằng tiếng Hy Lạp và thời gian ghi 1788-1825. Tôi tự hỏi ông ta là người như thế nào. Trong tâm trạng bất an, tôi nghĩ tới câu chuyện mẹ hay kể mà giờ tôi chỉ còn nhớ mang máng. Những câu chuyện ấy nói rằng tượng không phải là tác phẩm nghệ thuật hay để tỏ lòng tôn kính mà chúng như những tấm bùa trừ tà, những thần bảo hộ, hoặc là con người hoặc động vật bị biến thành đá. Trong một vài chuyện, những con quỷ còn nhập vào những bức tượng đó và cất tiếng nói.Afra ngồi bên tôi và tôi ước gì em có thể nhìn thấy, ước gì em vẫn là em như trước đây, vì Afra luôn có một cái nhìn thấu hiểu về thế giới này. Cái nhìn của em rất đặc biệt. Em luôn biết quá nhiều, luôn mang theo gánh nặng của khả năng nhìn thấu, gỡ bỏ lớp mặt nạ của con người và nơi chốn, để tìm ra những tàn tích của quá khứ còn đọng lại ở hiện tại. Tôi nhận ra Nadim đã bỏ lại chiếc đàn rebab ở chân bức tượng. Tôi bước tới và cầm nó lên. Tôi so dây và nhớ tới giai điệu tuyệt đẹp đã giội qua tôi như nước suối, tưới tắm cho những khô nứt trong tâm trí tôi, cảm giác hệt như giọt nước đầu tiên tôi được uống khi mặt trời lặn trong tháng lễ Ramadan. Âm nhạc của Nadim chính là như thế, và chỉ riêng suy nghĩ này thôi cũng đã khiến tâm trí và trái tim tôi vật lộn. Tôi đành nhắm mắt lại và tập trung vào tiếng lũ trẻ đang chơi bóng, đùa nghịch và cười vui.