Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 827 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 11 -

Hôm nay là ngày phỏng vấn. Trên chuyến tàu tới đó, Afra ngồi cạnh tôi và tôi biết em đang lo lắng. Diomande đang đứng, tay nắm lấy thanh ngang phía trên. Có một chỗ trống dành riêng cho cậu nhưng cậu không ngồi. Thân hình cao gầy và kỳ cục của cậu càng thêm nổi bật giữa chốn đông người này. Cậu trông như một nhân vật trong truyện cổ tích, và tôi bỗng thấy thật lạ lùng rằng trong tất cả những người trên toa xe này chỉ có tôi là người duy nhất biết được bí mật của cậu. Diomande đang đọc lời khuyên cậu đã ghi trong cuốn sổ, miệng lầm rầm nói thành lời. “Đây không phải là một giờ học lịch sử,” cậu nói bằng tiếng Anh, “và họ không cần biết quá nhiều về vị tổng thống cuối cùng, trừ khi họ hỏi.”

Cuối cùng chúng tôi cũng đến được nơi gọi là Croydon. Lucy Fisher đón chúng tôi ở nhà ga và đưa chúng tôi tới trung tâm. Đó là một tòa nhà cao nằm trên một con phố cũ. Chúng tôi đi qua trạm gác, rào ngăn, cửa an ninh, nơi họ quét và soát người rồi yêu cầu chúng tôi đăng ký tên tuổi. Sau đó, chúng tôi vào phòng đợi với những người cũng trông sợ hãi và lo lắng như mình. Và chúng tôi đợi. Diomande vào trước. Sau đó tới Afra, và một vài phút sau tội được đưa tới một căn phòng ở cuối hành lang.

Trong phòng có hai người đang ngồi, một người đàn ông và một người phụ nữ. Người đàn ông có lẽ khoảng bốn mươi tuổi, tóc đã cạo sạch vì anh ta bị hỏi ở đỉnh đầu. Anh ta không nhìn vào mắt tôi, không một lần nào. Mời tôi ngồi, gọi tên tôi như thể biết tôi, nhưng đôi mắt không hề nhìn tôi. Và anh ta có chút kiêu ngạo. Một nụ cười nhếch mép rất khẽ. Người phụ nữ bên cạnh lớn tuổi hơn một chút. Tóc xoăn, lưng thẳng và cố gắng thể hiện sự hoan nghênh với tôi. Họ là các cán bộ xét duyệt nhập cư. Anh ta mời trà hoặc cà phê nhưng tôi từ chối.

Nói hết một lượt về thủ tục và thông báo rằng cuộc phỏng vấn đang được ghi âm, anh ta cho tôi biết sẽ còn một cuộc phỏng vấn nữa. Đầu tiên, anh ta yêu cầu tôi xác nhận tên tuổi, nơi sinh và nơi ở khi cuộc chiến nổ ra. Và sau đó các câu hỏi trở nên kỳ cục.

“Ở Aleppo có danh thắng nào không?”

“Tất nhiên là có.”

“Anh có thể kể tên một vài nơi không?”

“Bản thân Aleppo là một ngôi thành cổ, rồi có nhà thờ Umayyad, Khan al-Jumruk, al-Firdaws Madrasa nghĩa là ‘ngôi trường chốn thiên đường’, có nhà thờ al-Otrush, tháp chuông Bab al-Faraj… Ông muốn nghe thêm không?”

“Cảm ơn anh, như thế có lẽ đủ rồi. Khu chợ cũ ở phía bắc hay phía nam thành phố?”

“Nó ở giữa thành phố.”

“Họ bán gì ở chợ?”

“Hàng nghìn thứ!”

“Ví dụ như?”

“Tơ sợi, lụa là, lanh, thảm, đèn, đồ vàng đồ bạc đồ đồng, gia vị, trà, thảo dược. Vợ tôi thường bán tranh ở đó.”

“Tổ quốc anh tên là gì?”

“Syria. Ông không muốn biết làm sao tôi tới được đây à?”

“Chúng ta sẽ sớm nói tới chuyện đó. Đây là mấy câu hỏi thủ tục thôi.”

Anh ta dừng một lát và xem xét đống giấy tờ sau đó đưa tay lên gãi cái đầu nhẵn bóng.

“Anh đã từng gặp thành viên của Nhà nước Hồi giáo chưa?”

“Chưa, chưa gặp riêng.”

“Vậy tức là anh chưa từng có liên lạc gì với bất cứ ai thuộc tổ chức này?”

“Phải. Tất nhiên. Tôi đã thấy chúng trên phố hoặc nhiều nơi khác, nhưng tôi chưa từng có bất cứ liên hệ cá nhân nào với chúng.”

“Anh có từng bị kẻ nào thuộc Nhà nước Hồi giáo bắt giữ không?”

“Không.”

“Anh có hợp tác với tổ chức Nhà nước Hồi giáo không?”

“Không.”

“Anh đã kết hôn rồi à?”

“Phải.”

“Vợ anh tên là gì?”

“Afra Ibrahim.”

“Anh có con không?”

“Có.”

“Mấy đứa?”

“Một, con trai.”

“Con trai anh sinh ra ở đâu?”

“Ở Aleppo.”

“Bây giờ con trai anh ở đâu?”

“Thằng bé đã chết ở Syria.”

Anh ta dừng lại giây lát, nhìn chăm chăm vào cái bàn. Người phụ nữ bên cạnh anh ta trông có vẻ buồn. Tôi bắt đầu cảm thấy bực bội.

“Anh có thể nói vài điều đặc biệt về con trai mình được không? Điều gì anh nhớ về con?”

“Ai cơ?”

“Con trai anh. Tôi biết chuyện này rất khó khăn nhưng anh vui lòng cố gắng trả lời câu hỏi. Đây là điều rất quan trọng.”

“OK. Một lần, thằng bé đạp xe từ ngọn đồi chỗ nhà chúng tôi xuống trung tâm thành phố. Đoạn đường rất dốc, thằng bé muốn thả phanh lao dốc dù tôi đã bảo con không được làm thế. Cuối cùng thằng bé ngã xe và bị gãy ngón tay. Vết gãy không lành lại hoàn toàn được. Vậy nên thằng bé có một vết gập nhỏ trên ngón tay của nó.”

“Tay nào?”

“Tay nào?”

“Con trai anh bị thương ở tay nào? Phải hay trái?”

Tôi cúi đầu nhìn xuống tay mình và nhớ đến bàn tay Sami đặt trong bàn tay tôi.

“Tay trái. Tôi nhớ vì bàn tay trái của con vừa khít bàn tay phải của tôi và tôi có thể cảm nhận được vết gập ấy ở ngón tay bé xíu của thằng bé.”

“Con trai anh sinh ngày tháng năm nào?”

“Ngày 5 tháng Một năm 2009.”

“Anh đã từng giết ai chưa?”

“Chưa.”

“Quốc ca của nước anh là bài hát nào?”

“Đây là câu hỏi đùa à?”

“Đó là câu trả lời của anh à?”

“Không! Bài Guardians of the Homeland.”

“Anh có thể thể hiện giai điệu của nó không? Không cần hát thành lời.”

Tôi ngâm nga vài câu với hàm răng nghiến chặt.

“Anh thích đọc không?”

“Không thích lắm.”

“Cuốn gần nhất anh mới đọc là cuốn nào?”

“Một cuốn sách về quá trình kết tinh của mật ong.”

“Anh có đọc sách chính trị không?”

“Không.”

“Vợ anh thì sao?”

“Cái đấy tôi không biết.”

“Vợ anh kiếm sống bằng nghề gì?”

“Cô ấy là họa sĩ. Đã từng là họa sĩ.”

“Tình trạng hiện tại ở đất nước anh như thế nào?”

“Thiên đường trên mặt đất!”

“Anh Ibrahim, tôi biết những câu hỏi này có vẻ hơi thừa thãi với anh, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xét duyệt anh.”

“Đất nước tôi đang ở trong tình trạng vô cùng hỗn loạn và bị tàn phá nặng nề.”

“Tổng thống của các anh là ai?”

“Bashar al-Assad.”

“Ông ta trở thành tổng thống khi nào?”

***

Và những câu hỏi cứ tiếp tục như vậy. Tôi có liên quan gì với tổng thống không? Syria ở đâu? Có chung đường biên giới với những quốc gia nào? Aleppo có dòng sông nào không? Tên dòng sông đó là gì? Cuối cùng anh ta cũng bắt đầu hỏi tôi về hành trình tới đây, và tôi kể cho anh ta tất cả những gì tôi có thể nhớ được một cách thẳng thắn, mạch lạc nhất có thể, như Lucy Fisher đã gợi ý. Ngoại trừ chuyện hóa ra việc này khó hơn tôi nghĩ, bởi khi tôi cố gắng trả lời câu hỏi thì anh ta lại tiếp lời bằng một câu hỏi tôi không ngờ tới, quẳng câu chuyện của tôi ra xa và đưa tôi đến quãng khác của hành trình. Tôi cố gắng kể dễ chịu nhất về hành trình tới được Thổ Nhĩ Kỳ, về căn hộ của tay trung gian, về Mohammed, về chuyến đi tới đảo Leros, về Athens, và những đêm ở công viên Pedion tou Areos. Tôi không kể chi tiết. Tôi không kể anh ta nghe về Nadim. Tôi không muốn anh ta biết tôi đã góp một tay giết người, rằng tôi có thể trở thành một kẻ sát nhân. Và cuối cùng, tôi kể cho anh ta hành trình đến Anh. Nhưng tôi không kể chuyện đã xảy ra với Afra trước khi chúng tôi đến đây. Thậm chí tôi còn không thể nói thành lời những chữ ấy.

Anh ta nói với tôi rằng cuộc phỏng vấn đã kết thúc. Chiếc máy ghi âm được tắt và thông tin trong các file đã ấn định. Vài tia sáng chiếu qua chiếc cửa sổ chữ nhật sát trần nhà rơi xuống nụ cười trên khuôn mặt anh ta.

Tôi đứng dậy, thấy chân mình tê rần và cảm giác như vừa bị rút cạn sức sống.

Lucy Fisher đang đợi tôi. Afra và Diomande vẫn chưa xong. Thấy gương mặt tôi như vậy, cô đi tới chiếc máy bán hàng tự động và trở về với một cốc trà nóng.

“Cuộc phỏng vấn thế nào?” Cô hỏi.

Tôi không đáp. Tôi không thể nói gì.

“Anh đừng để mất hy vọng,” cô nói. “Quan trọng là thế.” Giọng cô có chút bất lực. Cô đưa tay vén mấy sợi tóc lòa xòa. “Đây là điều tôi luôn nói với người khác. Đừng bao giờ, đừng bao giờ để mất

hy vọng
của chúng tôi ngày càng mong manh, tàn dần như ngọn lửa hằng đêm. Tôi cần tìm cách thoát khỏi đây. Ngày hôm sau, tôi thử ra khỏi công viên và hỏi được đường đến khu Victoria. Quảng trường ngổn ngang cả người và rác, những ai không còn nơi nào để đi thì ngồi trên những băng ghế dưới tán cây hoặc xung quanh các bức tượng. Tôi nhận ra vài gương mặt đã gặp ở công viên, mấy kẻ cò mồi ma túy lảng vảng quanh trạm gác hoặc bên ngoài những quán cà phê ngoài trời. Khắp nơi là mèo hoang lục lọi thùng rác. Một con chó nằm nghiêng, chân duỗi thẳng cẳng, không biết còn sống hay đã chết. Tôi nhớ đến những con chó hoang ở Istanbul và bản thân mình khi ấy, lòng mang hy vọng mà đứng giữa quảng trường Taksim. Hy vọng ấy tồn tại một tương lai không thể biết trước. Istanbul như một trạm chuyển tiếp, còn Athens giống như ngõ cụt. Những lời Angeliki nói cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi: “Mọi người chết dần chết mòn ở đây. Chết từ bên trong. Từng người, từng người một.”

Thành phố này như thành phố của những cơn mơ lặp đi lặp lại, không cách nào tỉnh dậy: thành phố của những cơn ác mộng không dứt.

Một người đàn ông giơ lên một nắm những tràng hạt. “Hai mươi euro,” anh ta nói với tôi, “mặt đá rất đẹp.” Giọng nói ảo não đầy tuyệt vọng. Lời mời nghe như một lời cầu xin, nhưng anh ta lại nở một nụ cười khác thường.

“Trông tôi giống người có hai mươi euro à?” Tôi nói và quay đi.

Tôi nhìn lên những tòa nhà dọc ngang khắp khu này và những con phố mất hút giữa chúng. Những ban công có mái che khiến người ta cảm nhận được rằng nơi đây từng có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vẻ đẹp suy tàn cùng sự cũ kỹ của chúng như đang kể một câu chuyện về sự bỏ rơi và lãng quên. Những hình vẽ graffiti trên tường, những dòng chữ giận dữ mà tôi không hiểu được, những quán cà phê, một tiệm hoa và một tiệm sách, những người đang cố gắng bán giấy, bút hay sim điện thoại. Họ như những con ruồi vật vờ quanh lối vào trạm tàu điện, bám theo người ta ngay khi họ vừa bước chân xuống từ thang cuốn.

Người đàn ông bán tràng hạt vẫn đứng bên cạnh tôi, vẫn cười một kiểu càng khiến người ta phải cáu.

“Mười lăm euro,” anh ta thử lần nữa. “Đá rất đẹp.” Những sắc màu lấp lánh dưới ánh sáng. Hoa cương, hổ phách, gỗ, san hô và xà cử. Tôi nhớ tới những tràng hạt bán ở các khu chợ của Aleppo. Người đàn ông đưa những chuỗi hạt tới sát mặt tôi.

“Mười hai euro! Rất đẹp!”

Tôi đưa tay gạt mạnh chúng ra xa và thấy người đàn ông trở nên sợ hãi. Anh ta lùi lại, buông những chuỗi hạt xuống.

Tôi đưa tay ra. “Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Tôi xin lỗi.” Người đàn ông gật đầu và bỏ đi. Tôi chặn anh ta lại.

“Anh có thể chỉ cho tôi đường đến phố Elpida không?”

“Elpida?”

Tôi gật đầu.

“Zitas Elpida?” Người đàn ông cúi mặt và lầm bầm gì đó bằng tiếng Hy Lạp, rồi sau đó nói với tôi, “Anh đang tìm hy vọng? Elpida nghĩa là hy vọng. Ở đây không có hy vọng.” Đôi mắt anh ta giờ thoáng buồn, nhưng lại bật cười tự nói với mình. “El-pi-dos”, anh nói chậm rãi, nhấn mạnh vào chỗ tôi nói sai. “Phố Elpidos.” Anh chỉ tay sang phải, tới một con phố tít cuối khu rồi đi tiếp đường mình, những tràng hạt cầm trên tay như phần thưởng, khuôn mặt nở nụ cười.

Tôi băng qua quảng trường và rẽ vào một con phố với hàng cây thẳng tắp hai bên. Cuối phố là một hàng dài những người tị nạn đứng xếp hàng ngoài một tòa nhà với cửa ra vào sáng loáng. Nạng chống, xe lăn, trẻ em, người địa phương và những chú chó đang cố len qua đám đông. Cửa mở và một vài người tị nạn đi ra, đem theo những túi đồ, trong khi một số khác đi vào. Một đám đông khác đứng trong góc, người đứng người ngồi quanh bậc thềm đi lên từ một cánh cửa khác. Người ta chào hỏi và nói chuyện với nhau. Lũ trẻ vừa gặp bạn là ùa ra phố chơi ngay. Tấm biển ở cửa đề: Trung tâm Hy Vọng. Tất cả những điều này càng thôi thúc quyết tâm thoát khỏi đây của tôi.

Tôi nhận ra chỉ có phụ nữ và trẻ em đang đi vào, còn đám đàn ông đứng đợi bên ngoài. Một số ngồi luôn xuống bậc thềm, số khác ngó nghiêng qua cửa sổ, vài người thì quay lại khu Victoria. Tôi nấn ná ở đó, đi loanh quanh và thấy một người đàn ông bước tới cánh cửa, hạ cặp kính râm đang để trên đầu xuống đeo lại tử tế và bước ra ngoài. Tôi nhớ tới những cảnh sát ở khu trại trên đảo Leros; và khi tôi đang định quay đi thì anh ta vui vẻ chào tôi bằng một câu tiếng Ả Rập. Anh ta nói nơi này dành riêng cho phụ nữ và trẻ em. Có nước nóng để tắm, có trà bánh, phụ nữ mới sinh con cũng có thể đưa bé tới đây.

***

Tôi quay lại công viên đón Afra và đưa em tới khu Victoria này. Em yên lặng, đánh giá bầu không khí xung quanh như một chú cún, có lẽ trong đầu đang hình dung ra tiệm cà phê, những hàng cây, đống rác và ngửi thấy cả mùi nước tiểu lẫn mùi hoa.

Đến trung tâm, người đàn ông đeo kính kia chào đón chúng tôi và Afra được đưa một con số để xếp hàng đợi lượt tắm. Người ta bảo tôi vài tiếng nữa hãy quay lại. Tôi nhìn qua ô cửa sổ. Đằng sau chiếc khung gỗ và lớp kính, lũ trẻ đang vui đùa. Trên tường có vẽ tranh, trên sàn nhà là lego, bóng và đủ loại đồ chơi. Afra được dẫn tới một chiếc ghế. Người ta mang cho em một cốc trà và một đĩa bánh quy. Em mỉm cười, vậy nên tôi rời đi.

Đầu tiên tôi quay lại khu Victoria và tìm được một quán cà phê có Internet. Đã lâu tôi không kiểm tra email, hy vọng lại có tin tức từ anh Mustafa.

Ngày 12 tháng 4 năm 2016

Nuri thân mến,

Tuần trước anh tham dự một buổi tụ họp dành cho những người tị nạn và ở đó anh đã gặp một người đàn ông và một người phụ nữ. Người phụ nữ làm công tác tị nạn ở vùng kế bên, giúp đỡ những người mới tới hòa nhập cộng đồng. Người đàn ông là một người nuôi ong ở địa phương. Anh kể cho hai người họ nghe về ý tưởng dạy cách nuôi ong cho những người tị nạn và cả những ai đang tìm kiếm việc làm nữa. Cả hai đều bị bất ngờ! Họ rất sẵn lòng giúp anh bắt tay gây dựng với một chút hỗ trợ tài chính từ địa phương. Anh hy vọng sẽ sớm tổ chức được các buổi hướng dẫn thực hành cho các tình nguyện viên.

Bầy ong đang phát triển tốt, Nuri ạ. Những con ong đen Anh quốc này rất khác với ong Syria. Anh cứ nghĩ chúng sẽ không bao giờ làm việc được trong thời tiết dưới 15 độ C nhưng hóa ra nhiệt độ thấp hơn chúng vẫn chịu được và thậm chí còn làm việc được trong mưa. Lũ ong đi lấy mật từ hoa mọc dọc đường tàu, trong các vườn riêng hoặc hoa ở công viên.

Nuir thân mến, anh không biết giờ em đang ở đâu. Tối đến, anh hay trải bản đồ ra sàn và cổ tưởng tượng nơi em đang ở. Anh chờ em, Nuri.

Mustafa.

Tôi như nghe thấy giọng nói đầy hào hứng của Mustafa trong email này, nghe được cả cái tinh thần thiếu niên hồn nhiên đã đưa anh đi qua những chặng đường đời.

Anh Mustafa thân mến,

Em xin lỗi đã không liên lạc gì với anh làm anh lo lắng. Em hứa nhất định em sẽ tìm được cách để đến Anh. Bây giờ đang khó khăn một chút. Em và Afra đang ở Pedion tou Areos. Nó là một công viên lớn ở Athens. Em đang cố gắng để tìm được, hay để tưởng tượng ra thôi cũng được, một lối thoát khỏi đây. Anh yên tâm, nhất định chúng em sẽ đi được và tới Anh. Người ta gần như bị kẹt lại hết ở đây. Quá nhiều người đến và chẳng mấy người đi. Nhưng em có tiền và hộ chiếu. Em cần làm gì đó ngay bởi em sợ rằng chúng em không thể cầm cự ở đây lâu hơn được nữa.

Em nhớ anh chị và cháu. Em nghĩ tới những cảnh đồng oải hương và thạch nam, và những con ong đen Anh quốc. Việc anh đang làm thật tuyệt vời. Khi em đến nơi, chúng ta sẽ lại tiếp tục làm việc cùng nhau.

Em sẽ tìm được cách.

Nuri.

Tôi rời khỏi quán cà phê và ngồi lên một băng ghế. Dưới chân là một con chó đã điếc dở. Nó nhấc mí mắt nặng nề lên nhìn tôi một thoáng, và rồi lại rũ xuống, chằm chằm nhìn bước chân của những người qua đường. Một người đàn ông tới và ngồi cạnh tôi. Anh ta có một chiếc điện thoại và một tập giấy ghi chú. Tay anh ta gõ gõ lên tập giấy rồi liếc nhìn tôi. Đôi mắt đảo quanh quảng trường, ngỏ trước nhìn sau. Tôi nhận ra anh ta đang toát mồ hôi.

“Anh đang đợi ai à?” Tôi hỏi.

Người đàn ông gật đầu, vẫn không để tâm vào câu tôi hỏi.

“Quê anh ở đâu?” Tôi hỏi tiếp.

“Syria.”

“Chỗ người Kurd hả?”

Anh ta nhìn tôi và gật đầu, mỉm cười nhưng tâm trí rõ là không ở đây. Cuối cùng, một người đàn ông và một người phụ nữ xuất hiện.

“Tôi cứ tưởng anh không tới chứ,” người đàn ông nói. “Anh mang hết mọi thứ chứ?”

“Mọi thứ anh yêu cầu,” người đàn ông vừa tới đáp.

“Đi thôi, ông ấy đã đợi được một lúc rồi. Ông ấy sẽ cáu đấy.”

Tôi muốn hỏi họ đang đi gặp ai thế, nhưng người đàn ông đã đút chiếc điện thoại và tập giấy vào lại ba lỗ, quay sang nhìn thẳng vào mắt tôi, giờ ánh mắt ấy đã đầy tự tin. “Rất vui được gặp anh,” anh ta nói. “Mong anh có một ngày rực rỡ như nắng sớm.” Và trước khi tôi kịp nói gì, ba người họ đã rời đi về phía ga tàu.

Afra bước ra từ trung tâm Hy Vọng, người tỏa ra hương sữa tắm thoang thoảng, gương mặt mềm mại và làn da sáng nhờ lớp kem dưỡng. Giờ em đã có một chiếc khăn trùm đầu mới. Tôi bất chợt nhận ra cơ thể mình nặng mùi thế nào.

“Afra,” tôi nói khi chúng tôi trên đường về công viên. “Anh hôi quá.”

“Phải đấy,” em đáp, cố gắng không cười.

“Anh phải tìm chỗ nào tắm mới được.”

“Chuẩn.”

“Hôi quá.”

“Kinh khủng luôn.”

“Sao em phải nói thật thế!”

Tôi ngửi ngửi vùng nách, ngạc nhiên nhận ra làm sao mình lại quen được với cái mùi này. “Anh bốc mùi như con phố này vậy,” tôi nói.

“Anh có mùi như mùi cống ấy,” em nói. Nghe vậy, tôi nghiêng người sang và cố hôn em một cái. Em che mặt lại và vừa đẩy tôi ra vừa bật cười vui vẻ. Trong giây phút ấy, chúng tôi như lại là chúng tôi của ngày xưa.

***

Bước vào công viên, đi giữa những bóng cây, chân tay tôi lại nặng trĩu, miệng khô đắng và lòng bất an. Mọi điều đã xảy ra ở cái chốn này lại ùa tới trong trí nhớ của tôi.

“Tớ chưa bao giờ thấy bầu trời lớn như thế này luôn!” Một cậu bé nói với cô bạn gái đang ngồi bên cạnh. Cả hai đang ngước nhìn bầu trời. Thấy vậy, tôi cũng làm theo. Hôm đó trời không mây và lặng gió. Mặt trời rực rỡ, cả vùng cây lấp lánh sắc xanh và ánh vàng, mang theo hương vị của một mùa hè đang tới. Qua tán lá, tít phía đằng xa, bầu trời rộng lớn, xanh ngát, sáng bừng như bầu trời phía trên sa mạc, mang theo bao lời hứa với cậu bé đang ngắm nhìn nó. Thằng bé khẳng định chắc nịch với đứa bạn: “Đêm nay trời sẽ toàn sao là sao, bọn mình tha hồ ước.”

Giống như đứa trẻ nhỏ, tôi cũng thì thầm ước với trời xanh. Tôi ước mình tới được nước Anh. Tôi nhìn lên, trong tâm trí hoàn toàn là mong ước ấy. Tôi hình dung ra những con ong đen và tổ của chúng, tôi nghĩ tới bức thư của anh Mustafa, đến lời hồi đáp của tôi. Tôi sẽ tìm ra cách.

***

Chúng tôi quay về ngồi lại lên tấm chăn. Tiếng dế ngày càng rõ. Cặp sinh đôi vẫn chưa trở về. Chiếc chăn của hai đứa vẫn ở nguyên chỗ cũ, chiếc dù vẫn mở và bên dưới tán ô là đôi giày mới.

Đêm xuống, Angeliki tới, vẫn quấn chăn quanh người và ngồi xuống bên cái cây cạnh Afra. Những vết thương nhỏ xíu trên tay cô đã bắt đầu đóng vảy và lành lại. Khi cô chỉnh lại chiếc chăn và quấn cho nó chặt thêm quanh hai vai, tôi nhận ra ngực cô không còn chảy sữa nữa, chỉ còn những vệt ố đã khô trên chiếc áo trắng. Cô bắt đầu nói với tôi về Athens, kể những câu chuyện cổ đã nghe về nền văn minh cổ đại này, về một nhóm sinh viên khảo cổ đi đào kho báu ở ga Monastiraki mà cô từng gặp, về thế giới bí mật ẩn giấu bên dưới những nhà thờ. Rồi cô không nói gì nữa. Cô lại lấy phấn rôm ra thoa lên mặt và cánh tay, uống nước thật chậm rãi và yên lặng quan sát lũ trẻ con đang chơi đùa.

Tôi đã dần quen với mùi phấn rôm và giọng nói của Angeliki. Afra cũng khác khi Angeliki ở đây. Em ngồi dậy và lắng nghe Angeliki dù em không hiểu mọi điều cô ấy nói, và Angeliki gần như luôn đặt một tay lên cánh tay em, hoặc huých nhẹ khuỷu tay em để chắc rằng em đang chú ý nghe mình nói.

“Cô định không bao giờ nói cho tôi biết quê cô ở đâu à?” Một lần tôi hỏi, khi Afra đã ngủ.

“Somalia, nếu anh nhất định phải biết.”

“Sao cô lại không muốn nói cho tôi biết?”

Cô tháo khăn trùm đầu, chỉnh lại mái tóc rồi lại thắt chặt lại.

“Tôi không thích nói về nó vì nó làm tôi đau lòng.”

Tôi không nói gì. Có lẽ cô ấy không muốn nói với tôi vì tôi là đàn ông, có lẽ kẻ gây ra điều đó cho cô là một gã đàn ông. Tôi không muốn miễn cưỡng cô, nhưng dường như cô cảm nhận được rằng tôi sẵn sàng lắng nghe, và dường như việc này giúp cô thoải mái. Cô nói: “Chúng tôi không có gì để ăn. Nạn đói trầm trọng lắm. Tôi phải đi khỏi đó, vậy nên tôi tới Kenya. Tôi đang mang thai, tôi không muốn con mình sinh ra ở đó và phải chịu đựng khổ sở như tôi.” Cô ngừng một lát, tôi vẫn im lặng. “Ở Kenya, tôi ở một khu trại lớn tên là Dadaab nhưng họ nói khu trại sẽ bị dẹp sớm. Họ nghĩ mấy tên Nhà nước Hồi giáo từ Somalia đang lợi dụng khu trại để buôn vũ khí. Với lại có quá nhiều người như chúng tôi. Họ muốn đuổi bớt đi, muốn vứt bỏ. Vậy nên tôi lại rời khỏi đó và đi một hành trình dài để đến đây.”

Cô ngừng lời, tôi thấy cô lục tìm gì trong túi, cuối cùng lấy ra một chiếc túi nhỏ.

“Chúng cướp con tôi khi tôi tới Athens. Trong túi là một chút tóc của con bé. Một đêm, khi tôi đang ngủ trong công viên này, có kẻ đã lấy con khỏi tay tôi. Tôi biết chúng bỏ thuốc vào nước của tôi, để tôi không dậy được, vì bình thường tôi tỉnh táo lắm, con bé khẽ kêu một chút, khẽ động một chút là tôi biết ngay. Làm sao chúng nó có thể lấy con tôi đi mà tôi lại không biết được? Chúng đã bỏ thuốc tôi, tôi biết.”

Giọng cô vỡ vụn. Tôi không hỏi thêm một lời nào nhưng tôi biết cô đang nhớ lại những chuyện đó. Những ký ức về Somalia và đứa con đã mất đang vây lấy và nhấn chìm cô như cái cách những ký ức về cái nóng cùng những cồn cát ở sa mạc Syria hiện lên và tràn ngập trong tâm trí tôi. Ngọn lửa giờ đã cháy đượm, tỏa ra ánh sáng khiến khuôn mặt của Angeliki trông xinh đẹp như được tạc khắc, nhưng lớp phấn rôm khiến nước da cô xanh xao vàng vọt.

“Thỉnh thoảng, tôi vẫn nhớ rằng đất nước tôi thật ra rất đẹp. Ấn Độ Dương ở một bên, xanh lấp lánh như thiên đường. Những bờ biển cát vàng, núi đá và nhà cửa như những cung điện cẩm thạch trắng. Thành phố nhộn nhịp với các quán cà phê và cửa hàng. Nhưng tình hình giờ quá tệ.” Cô nhìn sang tôi, lần đầu tiên. “Tôi không thể quay về. Tôi ở Somalia thì không có hy vọng gì phía trước, không có gì để hy vọng. Giờ, ở đây, thì có.”

“Có sao? Tôi tưởng cô nói ở đây không có hy vọng mà.”

Cô trầm ngâm trong giây lát, rồi nói, “Đây là tôi tin như thế.”

Lại im lặng. “Tôi muốn tìm việc làm nhưng không ai cần tôi. Tiếng Anh chẳng có tác dụng gì ở đây cả. Ở đây người ta không thích tôi. Ngay cả người Hy Lạp cũng không tìm được việc cơ mà. Họ bán giấy trên phố đấy thôi. Người ta thì cần mua bao nhiêu giấy chứ? Có lẽ đây là thành phố than khóc chăng?” Cô cười và tôi bỗng nhớ tới tiếng cười tôi đã nghe qua ô cửa sổ trong ngôi trường cū kia.

Sáng hôm sau, Angeliki đi mất. Afra đang ngồi vẽ. Em ngồi khoanh chân trên tấm chăn, dùng cả hai tay để vẽ. Tay phải em cầm bút chì, tay trái lần theo những nếp sần trên mặt giấy. Hình ảnh hiện lên như hình ảnh từ một giấc mơ, nơi sa mạc gặp gỡ thành phố, những đường biên và giới hạn méo mó nhòa mờ, những màu sắc lẫn lộn. Nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy tâm hồn Afra qua những nét vẽ trên giấy đó, qua cách chúng chuyển động với đầy ánh sáng và sức sống.

“Cái này cho Angeliki,” em nói, và khi vẽ xong, em bảo tôi đặt tranh xuống dưới tấm chăn để gió khỏi thổi bay mất.

Chúng tôi cùng nhau tới trung tâm Hy Vọng. Tôi để Afra ở đó rồi đi tới phía quảng trường, mong gặp lại người đàn ông đã gặp ngày hôm qua. Tôi lại ngồi xuống băng ghế đó và đợi. Được một lúc, người đàn ông bán tràng hạt hôm trước đi ngang qua chỗ tôi, hướng về đằng tàu điện. Ông khua khua đống tràng hạt lên chào tôi.

“Anh tìm thấy phố Elpidos chứ?” Ông gọi to.

“Có, tôi tìm được. Cảm ơn ông.”

“Elpidos nghĩa là hy vọng,” ông lại nói, hệt như lần trước, khi ném cho con chó đang nằm trên đất một mẩu bánh mì, nhưng con chó chẳng hề động đậy gì.

Khoảng một giờ sau, tôi tìm được người đàn ông mình muốn gặp. Anh đang đứng cạnh bức tượng ở quảng trường với một nhóm những người khác. Họ đang cười nói, hút thuốc, chuyện trò và trong số họ có hai nhân viên nữ của nhóm tình nguyện, mặc áo phông màu xanh lá và đeo ba lô. Tôi đợi đến lúc cả nhóm giải tán. Người đàn ông ngồi xuống, mở giấy ra và bắt đầu viết. Hôm nay trông anh thoải mái hơn mấy ngày trước nhiều.

Tôi đứng dậy, bước tới và ngồi xuống bên cạnh anh. Anh vẫn tập trung vào việc viết nhưng cuối cùng cũng ngẩng lên nhìn xem ai đang ngồi cạnh mình.

“Anh cho tôi hỏi một chút được không?” Tôi mở lời.

“Tất nhiên,” anh đáp nhưng vẫn tiếp tục viết.

“Tôi muốn tìm một người trung gian, không biết anh có thể giúp tôi được không. Tôi có cảm giác đó chính là điểm đến của cặp vợ chồng hôm qua.”

Người đàn ông gập cuốn sổ lại và chỉnh tư thế ngồi, nhìn thẳng vào tôi. Anh cười. “Anh thật biết quan sát.”

“Vậy là tôi đã không lầm? Anh giúp tôi được không?”

“Người tử tế thường được xếp ở trong trường, sao anh lại ở đây nhỉ,” anh ta nói. “Tôi có thể giới thiệu anh. Anh muốn tới đâu?”

“Nước Anh.”

Anh ta cười, như tất cả mọi người. “Anh điên à? Hoặc là rất giàu? Đấy là nơi đắt nhất và khó đến nhất.”

“Sao nó lại đắt như thế?” Tôi hỏi.

“Vì khó đến được đó chứ sao. Với lại mọi người nghĩ ở đó họ sẽ an toàn hơn, và có cơ hội được giúp đỡ hơn, miễn là anh xin được tị nạn.”

Tôi càng ý thức rõ hơn về số tiền trong túi mình. Nếu có kẻ biết được, chúng sẽ giết tôi để cướp tiền.

“Tên tôi là Baram,” anh ta nói, chìa tay ra với tôi. “Anh thật sự nghiêm túc chứ?”

“Phải.”

“Anh có muốn tôi thu xếp một chút cho anh không?”

“Tất nhiên rồi.”

Anh lấy điện thoại từ ba lỗ và đi cách xa tôi vài mét để gọi điện thoại, nói chuyện với ai đó trong vài phút trước khi trở lại.

“Anh có mấy người.”

“Hai.”

“Ngày mai, một giờ chiều tại quán cà phê ở Acharnon, có được không?”

Tôi gật đầu nhưng đã bắt đầu cảm thấy nôn nao. Chiếc áo phông ướt đẫm mồ hôi.

Baram đút điện thoại vào ba lô và ngồi xuống cạnh tôi. “Tôi sẽ gặp anh ở đây vào lúc mười hai giờ bốn mươi lăm ngày mai và đưa anh tới quán cà phê. Nhớ mang hộ chiếu và dừng đến muộn nhé. Ông ta không thích đâu.”

“Tôi có cần mang tiền không?”

“Chưa đâu.”

***

Đêm đó, hai người phụ nữ với rất nhiều túi đồ đến ngồi trên tấm chăn và dùng chiếc ô của cặp sinh đôi. Tôi định ngăn những người này lại, để họ đừng biến chiếc chăn của hai cậu thiếu niên thành đồ của mình, thi bỗng nhận ra rằng cặp sinh đôi có lẽ sẽ không trở lại nữa. Tôi đang mong chúng sẽ lại xuất hiện, ngồi bên nhau, cười đùa nghịch ngợm và chơi điện thoại. Tôi càng ngạc nhiên nhận ra rằng hai người phụ nữ đó trông không hề lo lắng khi ở đây. Họ liếc nhìn xung quanh với một chút hài lòng, như thể nơi họ vừa rời khỏi còn tệ hơn thế này nhiều. Họ cởi giày trước khi bước lên tấm chăn, và khoảng nửa giờ sau, sau khi đã gọi vài cuộc điện thoại và ăn mấy quả táo, họ bắt đầu làm gì đó với những sợi chỉ màu. Hai người ngồi đối diện nhau, một người bắt đầu đan, người kia cầm hai đầu chỉ.

Ở những chỗ khác, một vài người đàn ông chơi bài và cười hô hố. Họ bắt đầu hát những ca khúc bằng tiếng Urdu xen lẫn vài từ Ả Rập. Gió nổi lên, mang theo mùi hương gia vị và hơi ấm. Ngọn lửa tí tách. Ai đó đang nấu ăn. Pedion tou Areos đang dần trở thành một mái nhà cho người ta: giày xếp thành hàng cạnh chăn đệm và lều bạt, quần áo treo trên cây, những bộ bài và âm nhạc ở khắp nơi, tiếng hát vang vọng. Và dù lẽ ra nên cảm thấy chút thoải mái trước cảnh này, tôi lại thấy càng thêm ngột ngạt vì những tàn tích lấp ló của một cuộc sống cũ đã không còn.

Tôi kéo chiếc ba lô sát vào người mình. Chỗ tiền này là lối thoát duy nhất của chúng tôi và ngày mai chúng tôi sẽ gặp tên trung gian kia. Tôi không thể ngủ được. Tôi ngồi cả đêm bên cạnh Afra, lắng nghe những âm thanh trong rừng, đợi mặt trời ló dạng và dát vàng lên tán lá.

Ngày hôm sau, tôi và Afra tới khu Victoria. Dù chúng tôi đã đến trước giờ hẹn khoảng nửa tiếng, Baram đã ở đó rồi. Anh ngồi trên băng ghế, mở sổ ra và lại đang viết. Thấy chúng tôi, anh đứng lên và bảo cùng đợi thêm chút nữa. Gã trung gian cũng không thích người ta đến sớm quá. Anh ngồi xuống và tiếp tục viết. Tôi cố gắng đọc xem anh đang viết gì nhưng chữ anh quá nhỏ. Cài ở giữa gáy của cuốn sổ là một bức ảnh chụp một thiếu nữ trong bộ quân phục.

“Cô gái trong bức ảnh là ai thế?” Tôi hỏi.

“Bạn gái tôi. Cô ấy mất rồi. Tôi đang viết lại nhật ký.”

“Viết lại?”

Anh không nói gì nữa suốt một lúc lâu. Tôi ngồi nhìn con chó điếc dở. Hôm nay nó ngước lên nhìn tôi và vẫy vẫy đuôi.

“Tôi đến Thổ Nhĩ Kỳ thì bị quân đội bắt,” Baram cuối cùng cũng lên tiếng. “Chúng tôi có ba mươi mốt người tất cả. Chúng giữ bọn tôi lại, lục soát hết, bắt đi ba người và thả những người còn lại tiếp tục hành trình.”

“Tại sao?”

“Vì chúng tôi là người Kurd. Tôi có thói quen viết nhật ký. Tôi đã viết suốt hai năm nay. Chúng tìm thấy nhật ký trong túi của tôi và chỉ nhìn thấy một từ, duy nhất một từ thôi: ‘Kurdistan,’ thế là chúng tống tôi vào tù và hỏi, ‘chữ này là gì đây?’. Tôi nói ‘Kurdistan.’ Tôi phải nói thật vì chúng đã biết rồi. Chúng giam tôi một tháng, lẻ ba ngày. Rồi thả tôi đi. Nhưng bọn chúng đã lấy hộ chiếu của tôi, cả chín trăm euro và đốt mất quyển sổ nhật ký. Tiền và hộ chiếu cũng chẳng quan trọng với tôi, nhưng quyển sổ, nó là cả cuộc đời tôi. Tôi bật khóc lúc chúng nó đốt mất cuốn sổ. Chúng lấy dấu vân tay và quét võng mạc mắt tôi. Tôi phải trả hai trăm euro để mấy thằng bảo vệ cho tôi đi. Tôi chạy về một thị trấn của người Kurd rồi gọi điện cho bố.” Anh gập cuốn sổ lại, một tay đặt lên bìa sổ như che chở nó.

“Sao giờ anh vẫn ở đây?” Tôi hỏi.

“Tôi đang cố kiếm đủ tiền. Anh tôi ở Đức. Tôi muốn tới được đó trước khi anh ấy kết hôn.”

Ở cửa lối lên tàu điện, người đàn ông bán tràng hạt vẫn đang chào mời người mua mỗi khi họ bước xuống từ thang cuốn.

“Tôi hy vọng anh có thể tới kịp để dự đám cưới của anh trai,” Afra nói.

***

Ba người chúng tôi cùng đi đến Acharnon. Khi vào tới quán cà phê, Baram khẽ chỉ cho tôi một người đàn ông đang ngồi một mình ở góc xa xa phía bên trái. Ông ta mặc một chiếc áo cổ lọ màu đen, khoác áo da màu đen và đang uống cà phê lạnh bằng ống hút. Tôi thấy ngay vẻ kỳ cục lố bịch của người này, nhưng khi quay lại để hỏi Baram xem có đúng người này không, tôi đã không thấy anh đâu nữa. Và đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp anh.

Tôi đành dẫn Afra tới chiếc bàn nơi người đàn ông đang ngồi. Ông ta đang hút nốt những ngụm cà phê cuối cùng.

“Xin chào,” tôi nói bằng tiếng Ả Rập.

Gã ngẩng lên dửng dưng như thể không phải đang đợi người. Rồi vẫn không nói lời nào, gã mở nắp cốc cà phê, thò ngón tay vào chiếc cốc nhựa để cố lấy một viên đá.

“Tôi là Nuri và đây là Afra. Chắc ông đang đợi chúng tôi.”

Gã đã lấy được viên đá và đút tủm vào miệng, nhai rau ráu.

“Ông có nói tiếng Ả Rập không?” Tôi hỏi.

“Ngồi đi,” gã nói bằng tiếng Ả Rập.

Cả hai chúng tôi ngồi xuống. Có lẽ vì tôi lo lắng, hoặc có lẽ sự im lặng của gã này ẩn giấu điều gì đó, tôi bắt đầu thấy run. “Chúng tôi gặp Baram ở quảng trường, anh ấy nói có thể giúp. Hôm qua anh ấy đã gọi cho ông và bảo chúng tôi đem theo hộ chiếu đến đây. Chúng ở đây.”

“Khoan,” gã đột ngột ngắt lời. Tay tôi khựng lại. Gã cười, có lẽ cười sự ngoan ngoãn bất ngờ của tôi, sau đó nhai viên đá to hơn, tỏ vẻ đắc ý khiến khuôn mặt gã trông như thằng nhóc mới chín tuổi. Tôi ngạc nhiên nhận ra gã trẻ con to xác trước mặt mình có bao nhiêu quyền lực. Nếu giữa đời thường, có lẽ hắn đang vật lộn qua ngày bằng sạp rau củ trong những con hẻm tối tăm ở Damascus. Mắt hắn có gợn chút tăm tối và tuyệt vọng, giống như những kẻ trong rừng.

“Vợ anh đây à?” Gã nói.

“Phải, tôi là Afra.”

“Cô bị mù à?”

“Phải,” em nói bình thản, với chút châm biếm mà chỉ tôi mới nhận ra, và tôi cứ tưởng như mình nghe được câu tiếp theo: “Ông cũng khôn đấy.”

“Thế thì tốt,” gã nói. “Phụ nữ lại còn mù càng bớt bị nghi ngờ. Cô phải cởi hijab đi và nhuộm tóc vàng. Còn anh thì không thay đổi được gì nhiều,” gã nói với tôi, “nhưng không thể vì thế mà để bị lộ được. Cạo râu đi, thay cái áo sạch nữa. Luyện tập biểu cảm kỹ vào.”

Chiếc điện thoại đặt trên bàn của gã rung lên và nhấp nháy sáng. Gã liếc nhìn màn hình, mặt biến sắc. Hai gò má nhọn lên, quai hàm nghiến lại. Gã úp cái điện thoại xuống.

“Hai người muốn tới đâu?”

“Nước Anh.”

“Ha!”

“Ai cũng cười vậy,” tôi nói.

“Tham vọng đấy. Rất đắt.”

Tôi cúi đầu, chỗ tiền trong ba lô làm tôi lo lắng hơn, cảm giác như tôi đang mang một túi trứng đầy.

“Hai nghìn euro đến Đan Mạch, ba nghìn đến Đức,” gã nói. “Tốt nhất anh chọn một trong hai nước này.”

“Đến Anh thì bao nhiêu?”

“Bảy nghìn, cả hai người.”

“Bảy nghìn!” Afra nói. “Điên rồi! Bay một chuyến từ đây tới Anh thì mất bao nhiêu chứ?”

Gã lại cười. Afra cau mày và quay đi chỗ khác.

“Đây không phải đi chơi,” gã nói. “Hai người đang trả phí dịch vụ cho chúng tôi. Nước Anh là nơi đặc biệt, hai người sẽ an toàn hơn, nhưng chúng tôi cũng khó đưa hai người tới đó hơn. Đó chính là chi phí phát sinh.”

Trông Afra như thể em đã muốn nhổ ngay vào mặt gã này. Tôi khẽ đá vào chân em dưới gầm bàn.

“An toàn nên chúng tôi mới muốn tới đó,” tôi nói. “Chúng tôi đã mệt mỏi, thực sự quá mệt rồi. Nhưng chúng tôi không có ngần đấy tiền.”

“Thế anh có bao nhiêu?”

“Năm nghìn.”

“Tiền mặt?”

Tôi quay đầu nhìn qua vai.

Thấy vậy, gã nhướn mày. “Anh đi loăng quăng với ngần đấy tiền mặt trong người?”

“Không, tôi có tiền mặt nhưng một phần nhỏ thôi. Chỗ còn lại ở trong một tài khoản bí mật. Tôi sẽ làm bất cứ việc gì để kiếm tiền. Nhặt rác, rửa xe, lau kính, bất cứ việc gì.”

“Ha! Anh nghĩ anh đang ở đâu? Người ở đây còn chẳng tìm được việc nữa là.”

“Em thấy đủ rồi,” Afra nói, đứng dậy chuẩn bị rời đi. Tôi nắm tay em lại. Gã mỉm cười khi thấy vẻ tuyệt vọng của tôi.

“Anh có thể làm cho tôi chút việc,” gã nói.

“Việc gì?”

“Chỉ là vận chuyển vài thứ thôi.”

“Chỉ?”

“Mấy đứa kia còn nhỏ, không lái xe được. Tôi cần người biết lái xe. Anh lái được xe chứ?”

Tôi gật.

“Anh có thể làm cho tôi trong ba tuần. Nếu ngoan ngoãn, tôi đồng ý mức năm nghìn euro cho hai vợ chồng anh.”

“Được,” tôi đáp, chìa tay ra đợi gã bắt tay thỏa thuận, nhưng gã lại cười khùng khục.

Afra vẫn yên lặng nhưng tôi cảm nhận được cơn tức giận của em.

“Anh phải đi theo và ở cùng chúng tôi,” gã nói.

“Tại sao?”

“Để đảm bảo anh không cuỗm cái xe và gói hàng rồi chạy mất.”

Chỗ đá còn lại trong chiếc cốc nhựa đã tan hết. Gã rướn người, ngậm lấy cái ống hút và hút xì xụp như lúc nãy.

“Làm thế cũng để đảm bảo anh không bỏ của chạy lấy người vì tôi sẽ giữ Afra, tên cô là Afra nhỉ?” Trước khi vợ tôi kịp trả lời, gã đã vẫy tay gọi bồi bàn lấy cho hắn một mẩu giấy và một chiếc bút, rồi viết ra một địa chỉ.

“Mười giờ tối mai gặp tôi ở đây. Nếu anh không đến, tôi coi như anh đã đổi ý.”

***

Chúng tôi trở lại công viên khi trời đã quá trưa. Lũ trẻ đang chơi bóng giữa những túp lều và tấm chăn. Vài đứa khác đang cãi nhau vì mấy viên bi. Hai đứa khác thì xây một ngôi làng bằng đá và lá cây. Ý nghĩ rời khỏi được nơi này khiến tôi tràn đầy sinh lực và hy vọng nhưng tôi lại nhận ra mình đang nhìn kỹ những đứa trẻ kia, hy vọng tìm được Mohammed trong số chúng. Những đôi mắt đen tràn ngập nỗi sợ và thắc mắc ấy. Tôi gần như có thể nhìn thấy thằng bé đứng trước mặt mình. Nhưng Sami lại mờ dần trong tâm trí tôi, mặc cho tôi có cố gắng nhớ tới con thế nào, có cố gắng níu kéo hình ảnh của con thế nào, tôi vẫn không thể giữ con lại.

Angeliki đã ngồi dưới bóng cây, đợi chúng tôi. Mặt đã thoa phấn rôm và hai tay đặt trong lòng. Cô thật bình thản và tĩnh lặng trong dáng vẻ này. Tĩnh lặng đến đơn độc khiến tôi đau lòng không nhìn thẳng được. Đâu đó đằng xa một cậu bé đang khóc và tôi lại thấy ngực cô chảy sữa. Mùi chua của sữa mẹ nồng lên xung quanh cổ.

Afra bảo tôi đi lấy bức tranh em vẽ và giấu dưới tấm chăn đến. Em cầm lấy và đưa cho Angeliki.

“Chị vẽ?”

Afra gật. “Vẽ tặng cô.”

Angeliki kinh ngạc nhìn bức tranh rồi lại nhìn Afra. Nhìn một hồi lâu. Tôi có thể thấy trong đôi mắt cô đầy câu hỏi nhưng cô không nói gì thêm, ngồi yên lặng với bức tranh trong tay, nhìn tranh hết lần này đến lần khác và rồi ngước lên tìm kiếm ở chỗ lũ trẻ đang chơi đùa, hoặc một điều gì đó trong trí nhớ của mình.

“Chốn này là nơi họ giấu mọi thứ mà thế giới không muốn nhìn thấy,” cuối cùng cô nói, “nhưng bức tranh này sẽ nhắc tôi nhớ về một thế giới khác, một thế giới tốt đẹp hơn.” Có lẽ cô biết chúng tôi sắp rời đi, bởi cô khóc và ở bên cạnh Afra cả đêm đó, nằm xuống, đặt một tay lên ngực Afra và hai người cứ thế thiếp ngủ, như bạn bè thân thiết, như chị em ruột thịt.

« Lùi
Tiến »