Hôm nay là buổi sáng sau ngày phỏng vấn. Diomande và ông lão Maroc đang ngồi trong phòng khách, uống trà với sữa – món ưa thích mới của hai người họ. Chắc lúc tôi dậy, hai người đã nghe tiếng, bởi chiếc cốc đợi tôi trên bàn ăn vẫn còn nóng hổi. Tôi ngồi vào với họ, Afra vẫn còn đang ngủ.
Cầm cốc trà nóng trong tay, tôi bước tới cánh cửa kính và nhìn ra bên ngoài. Hôm nay sân vườn ngập nắng. Chim chóc đến đậu kín trên cây anh đào mang bộ rễ chằng chịt đứng giữa sân. Chắc phải có đến ba mươi con, ríu rít và líu lo không ngừng. Mảnh vườn đằng sau của bà chủ nhà ngày càng um tùm xanh tốt, len qua cả hàng rào gỗ. Hoa tím, hoa đỏ và cánh hoa rơi rụng đầy trên tảng đá chặn. Tôi lấy chiếc chìa khóa đằng sau tấm rèm và mở cửa. Không khí ùa vào mang theo hương vị thoang thoảng của biển cả.
Diomande đang kể cho ông lão nghe buổi phỏng vấn của cậu.
“Cháu nghĩ buổi phỏng vấn hết sẩy,” cậu nói, miệng cười tươi ngoác mang tai.
Ông lão đập tay ăn mừng với cậu.
“Cháu nói với họ y như những gì bác bảo. Mẹ cháu, các chị em gái của cháu, cuộc sống khó khăn. Nhưng họ còn hỏi vài câu kỳ cục lắm.”
“Kỳ cục như nào?”
“Họ hỏi quốc ca nước cháu là gì, rồi bảo cháu hát.”
“Cháu có hát không?”
Diomande đứng phắt dậy, đặt tay lên ngực và bắt đầu hát, vẫn cười tươi như cũ:
Xin cúi chào Người, mảnh đất của hy vọng,
xứ của lòng hào phóng hiếu khách.
Những quân đoàn anh dũng hùng mạnh
đã giành lại phẩm giá cho Người.
Hỡi những người con Bờ Biển Ngà yêu dấu,
tự hào xây nên sự vĩ đại cho Người,
tụ về đây không vì vinh quang sáng ngời,
mà vì dựng xây trong niềm vui.
Hỡi những người con Bờ Biển Ngà,
đất nước đang gọi ta.
Khi đem lại tự do một cách ôn hòa,
thì ta chính là tấm gương ngời sáng
của hy vọng cho nhân loại lầm than,
khẳng định mình trong niềm tin vững vàng,
nơi vùng đất khai sinh tình huynh đệ.
“Cháu biết lời tiếng Anh à?”
Diomande gật đầu.
“Cháu hát cho họ nghe bằng tiếng Anh à?”
“Vâng.”
“Sao thế? Hát tiếng Anh thì có vấn đề gì ạ?”
“Lời ca mô tả một bức tranh khá là tích cực.”
Diomande ngồi xuống, tỏ vẻ không đồng tình. “Nhưng cháu có kể cho họ nghe. Cháu kể cuộc sống rất vất vả, kể về Libya, kể chuyện cháu bị đánh đến gần chết. Cháu kể mẹ và các chị em cháu đã phải khổ sở thế nào vì nội chiến. Cháu không có việc làm và mẹ cho cháu đi để tìm cuộc sống tốt hơn. Cháu kể hết. Cháu bảo, ở đây có hy vọng. Ở đây có lẽ cháu sẽ tìm được việc làm. Cháu có thể dọn phòng, có thể nấu ăn, có thể dạy học. Cháu có rất nhiều kỹ năng.”
Lũ chim đã yên. Lưng của Diomande gù rõ đến nỗi “đôi cánh” dưới lớp áo phông của cậu như đang xòe ra. “Cháu cũng kể cho họ nghe Bờ Biển Ngà đẹp như thế nào, cháu muốn sống ở đó nhiều thế nào.”
Ông lão Maroc trầm ngâm, im lặng nhìn ra khoảnh sân, đôi lúc lại liếc nhìn tôi với đôi mắt đầy câu hỏi. Nhưng ông không nói lời nào.
Diomande nói muốn đi ra khu chợ. “Cháu có thể ngắm biển và nghe cái nhạc Ả Rập đó cả ngày luôn. Chúng ta ra đó đi?”
Ông lão Maroc hào hứng trước viễn cảnh có người đồng hành. “Anh khọm Nuri, đi thôi! Ngắm trời biển và nghe nhạc thì mọi phiền não đều biến thành hạt cát hết!”
Họ khăng khăng muốn tôi đi cùng. Cả hai cứ quàng lấy tay tôi mà kéo về phía cầu thang, để tôi lên phòng và thay đồ.
Tôi vào phòng, thấy Afra đã thay đồ xong và em lại đang ngồi bên mép giường. Nhưng em đang khóc. Tôi quỳ xuống trước mặt em. Hai hàng nước mắt tuôn như mưa.
“Em sao thế, Afra?” Tôi hỏi.
Em đưa tay lên gạt nước mắt nhưng chúng vẫn không ngừng tuôn rơi.
“Từ lúc em kể lại cho bác sĩ nghe về vụ nổ, em không thể nghĩ đến điều gì khác được nữa. Em có thể nhìn thấy khuôn mặt của Sami. Em thấy mắt con nhìn lên bầu trời. Em không biết con cảm thấy như thế nào. Thằng bé có đau không? Lúc ấy nhìn lên bầu trời con cảm thấy thế nào? Con có biết em đang ở bên con không?”
Tôi nắm tay em đặt trong tay mình nhưng tôi không thể nắm quá lâu bởi bỗng có một luồng nhiệt chạy dọc sống lưng tôi, đi qua cổ và lan trong đầu. Tôi buông tay và đứng ra xa khỏi em.
“Anh sẽ đi dạo với bác Harim.”
“Nhưng… em…”
“Anh sẽ đi dạo với bác Harim và cậu Diomande.”
“Vâng,” em nói khẽ. “Vậy anh đi vui nhé.” Tôi vẫn có thể nghe thấy những lời em nói, biết bao buồn bã, thậm chí khi chúng tôi đã ra tới con đường đi dạo lát gỗ và bước vào chỗ khu chợ, bị cuốn vào một cơn lốc những cầu trượt, xích đu, xe đẩy, xe đụng. “Anh đi vui nhé.” Bốn tiếng ấy cứ vang vọng trong đầu tôi, ngay cả lúc Diomande cứ thao thao về Bờ Biển Ngà.
“Biển chỗ em như pha lê cơ,” cậu nói, “chứ không thế này. Biển ở đây trông thảm quá. Biển phải như bầu trời ấy! Trong vắt! Anh còn nhìn thấy được cả cá con đang bơi nữa. Y như kính vậy. Và hoàng hôn thì mọi thứ biến thành màu đỏ – bầu trời, mặt biển. Anh phải nhìn thấy cảnh đó! Toàn một màu đỏ rực!” Cậu vung cánh tay lên quét qua bầu trời và tôi nhớ đến những bức tranh của Afra. Chúng tôi đi trên kè chắn sóng, nên đứng rất gần với mặt biển.
Chúng tôi vào ngồi ở một quán cà phê dưới mái vòm. Mùi giấm chua và hương nước quả thoang thoảng. Ông lão Maroc có chút tiền lẻ liền mua cho chúng tôi một thứ đồ uống cũng màu đỏ rực, để chúng tôi tha hồ mà suy nghĩ về bầu trời ở Bờ Biển Ngà. Thứ đồ uống làm từ đá bào và uống như nước nhựa tẩm hương cherry.
“Sao anh chẳng nói gì thế?” Diomande nói với tôi, đôi mắt đen láy dưới ánh mặt trời đã biến thành một màu nâu ấm áp.
“Biển ở Syria như thế nào?” Ông lão hỏi.
“Tôi sống gần sa mạc,” tôi đáp, “nó cũng dữ dội và lộng lẫy như biển vậy.”
Và sau đó cả ba chúng tôi ngồi trong yên lặng một lúc lâu, nhìn qua mặt biển mênh mông, tưởng tượng về mái ấm của mình. Tôi đoán thế. Những điều chúng tôi đã mất, những điều chúng tôi bỏ lại.
Đến lúc chúng tôi quay về, mặt trời đã lặn. Gió mạnh thổi lộng khắp bờ biển. Con đường trên mặt kè cót két và rung rung.
Trong nhà trọ, Afra không ở phòng khách cũng không ở trong bếp. Tôi thấy em trong phòng ngủ, nằm trên giường, nước mắt vẫn còn vương trên mặt. Em đang cầm viên bi ve trong tay, đôi khi đưa lên môi, lúc lại xoay quanh cổ tay.
Lúc tôi vào phòng, em không nói gì, nhưng khi tôi nằm xuống cạnh em, em nói: “Nuri, anh có nhận được thư của anh Mustafa không?”
“Sao em cứ hỏi anh mãi thế?” Tôi nói.
“Vì anh ấy là lý do chúng ta ở đây!”
Tôi chẳng nói gì.
“Anh lạc đường rồi Nuri,” em nói. “Thực sự là thế. Anh hoàn toàn lạc đường giữa bóng tối rồi.”
Tôi nhìn vào đôi mắt chứa đựng cả nỗi sợ hãi, những câu hỏi và niềm mong đợi của em. Tôi nghĩ em mới là người bị lạc, em mới là người bị kẹt lại trong bóng đêm của lòng mình. Nhưng tôi có thể thấy em vẫn còn ở đây, trong hiện tại này, thấy em cố gắng biết bao để chạm tới tôi. Tôi cứ nằm như vậy cho đến khi biết em đã ngủ, rồi tôi lặng lẽ xuống nhà.
Phòng khách đêm nay rất yên tĩnh. Ông lão Maroc đang ở trong bếp, vừa nghe điện thoại vừa đi đi lại lại, thỉnh thoảng lại lớn tiếng mấy câu. Diomande đi tắm sau khi ở khu chợ về và ở lì trong phòng. Hai, ba người khác đang ngồi chơi bài ở bàn ăn. Tôi ngồi vào chiếc bàn máy tính. Ánh sáng từ màn hình tivi nhấp nháy giữa căn phòng.
Tôi nhanh chóng đăng nhập vào hòm thư trước khi để mình đổi ý. Có một thư mới của anh Mustafa.
Ngày 11 tháng 5 năm 2016
Nuri thân mến,
Anh không biết em đã rời khỏi được Athens chưa. Anh ngồi đây mà không rõ em và Afra đã an toàn hay chưa, cảm giác này thật khổ sở. Anh mong là hai em đang trên đường đến đây rồi. Trời đang mưa. Mưa suốt cả ngày. Anh nhớ sa mạc và ánh nắng mặt trời quá. Nhưng ở đây cũng có nhiều điều tốt đẹp, Nuri ạ. Ước gì em đang ở đây để thấy những điều này. Nơi này thật rực rỡ, mùa xuân bạt ngàn hoa. Anh vừa xong workshop thứ ba cho những người tình nguyện. Có một người phụ nữ Syria tới đây cùng mẹ và con trai, một người tị nạn từ Congo với những kiến thức về việc lấy mật trong rừng, và một học sinh Afghanistan vừa mới học được cách chọn con ong chúa đầu tiên.
Hiện tại anh đang có sáu tổ để hướng dẫn việc nuôi ong, và dự án đang phát triển theo từng tuần. Những con ong này rất hiền, không như ong Syria. Anh còn có thể lấy mật mà không cần đồ bảo hộ. Nhưng khi nhịp điệu của chúng thay đổi thì tức là chúng đang hăng lên đấy. Thật tuyệt vời khi có thể đứng trần trụi giữa bầy ong như vậy. Anh đã quen với chúng rồi, Nuri. Tiếng rì rầm của chúng thật hay, như khi em nghe một bài hát khiến tim em dâng đầy cảm giác ngọt ngào ấy.
Nhưng đôi khi âm thanh ấy lại nhắc anh nhớ tới những gì anh đã mất, và nhớ tới em cùng Afra.
Anh mong tin em.
Mustafa.
Tôi viết thư trả lời rồi nhấn nút gửi.
Mustafa thân mến,
Afra và em đã đến được Anh. Chúng em đã ở đây hơn hai tuần lễ rồi. Em xin lỗi không gửi thư cho anh sớm hơn. Chuyến đi thực sự rất khó khăn. Bọn em đang ở một nhà trọ phía nam, ngay bên bờ biển. Bọn em phải ở đây đến khi được phỏng vấn và đợi họ quyết định xem chúng em có được phép tị nạn hay không. Em lo lắm, anh Mustafa. Em sợ họ sẽ bắt chúng em rời đi. Em rất mừng cho những dự án của anh. Ước gì em cũng được ở đó cạnh anh.
Nuri.
Tôi nghĩ lại giọng điệu lạnh lùng của mình trong email vừa rồi, nghĩ tới chuyện mình đã đến Anh lâu như vậy mà vẫn không gửi thư cho anh Mustafa. Tôi đến đây vì anh, tôi cố gắng thoát khỏi Athens vì hy vọng và ý chí từ anh, vậy mà bóng đêm trong lòng đã nuốt chửng lấy tôi và khiến tôi quên mất.
Tôi gửi thêm một thư khác:
Mustafa, em nghĩ em không khỏe lắm. Từ lúc đến đây, đầu óc em như hỏng rồi. Em đang lạc trong bóng tối.
Khi tôi đang định thoát mail thì một thư khác liền tới:
Nuri! Anh mừng quá! Cuối cùng các em cũng đã đến Anh rồi. Tuyệt vời! Gửi cho anh địa chỉ của em.
Tôi tìm thấy địa chỉ nơi này trên một lá thư trong phòng ngủ, quay lại bàn máy tính và gõ lại rồi gửi cho anh. Tôi không nói thêm gì khác, và cũng không có thư hồi đáp được gửi tới nữa.
***
Tôi ngủ thiếp đi trên ghế bành và khi tỉnh dậy, trời đã tối. Phòng khách không có ai nhưng tôi có thể nghe tiếng viên bi đang lăn trên sàn gỗ. Ban đầu tôi chưa nhìn ra nhưng cuối cùng cũng thấy Mohammed đang chui dưới gậm bàn, mặc chiếc áo phông đỏ và quần soóc xanh y như lần trước tôi gặp thằng bé.
Tôi cúi xuống nhìn nó. “Cháu đang làm gì ở đó thế hả Mohammed?”
“Đây là nhà cháu,” thằng bé đáp, “nhà gỗ giống như nhà của Ba chú lợn con ấy. Chú có nhớ câu chuyện chú đã kể cho cháu nghe đó không?”
“Chú đã kể chuyện đó cho cháu nghe à? Chú mới kể cho cháu nghe đúng một chuyện, là chuyện về Thành phố Đồng thôi mà. Chỉ có Sami mới được nghe chuyện Ba chú lợn con vì hôm đó chú tìm thấy cuốn truyện ở một sạp hàng trong chợ.” Thằng bé không nghe lọt lời nào vì nó còn đang mải đẩy đẩy viên bi dọc theo những đường vân trên sàn gỗ, rồi nhét viên bi xuống dưới tấm thảm.
“Chú thấy nhà của cháu thế nào? Chú thích không ạ? Ngôi nhà này sẽ không sập như những ngôi nhà khác ở quê hương. Chú thấy đẹp đúng không, chú Nuri?”
Đầu tôi bỗng đau nhói. Cơn đau đến bất ngờ và dữ dội đến mức tôi phải đứng lên, nhắm mắt lại và đưa tay day day trán.
Mohammed khẽ giật ống quần tôi, “Chú Nuri, chú đi với cháu nhé?”
“Đi đâu thế?”
Thằng bé nắm lấy tay tôi và kéo tôi ra cửa trước. Ngay khi mở cửa, tôi đã nhận ra có điều gì kỳ lạ. Trước mắt tôi, phía trên những tòa nhà cao tầng, bầu trời lóe lên những tia trắng tia đỏ. Xung quanh vẳng lại tiếng rít điên cuồng, tiếng kim loại va vào nhau, như hai con quái thú đang cố gắng giết nhau. Một luồng gió nổi lên mang theo mùi khói lửa và tro tàn. Tôi băng qua con phố, nắm tay Mohammed trong tay mình. Những ngôi nhà bị bom đánh tơi tả, trông như những cái xác dưới ánh sáng của những tia chớp nháy trên bầu trời. Chúng tôi vẫn đi dọc theo con đường. Mohammed lê chân bước trong bụi. Chúng rất dày. Chúng tôi cứ ngỡ mình đang đi trong tuyết. Những chiếc xe cháy rụi. Quần áo vẫn đang phơi trên những ban công bỏ hoang, dây điện võng xuống mặt đường, rác chất đống trên vỉa hè. Tất cả bốc lên mùi của cái chết và cao su cháy dở. Khói bốc lên ở phía xa, cuộn lại và trôi về chân trời. Mohammed kéo tay tôi, suốt cả chặng đường, cho tới khi tới bờ sông Aleppo. Sông nổi sóng và nước đục hơn mọi khi.
“Những bạn ấy đã ở đây,” Mohammed nói, “nhưng cháu mặc đồ màu đen nên bọn chúng không nhìn thấy cháu, bọn chúng không dìm cháu xuống sông. Thánh Allah đã chăm sóc cháu.” Thằng bé ngước nhìn tôi với đôi mắt đen to tròn.
“Đúng, chắc chắn Ngài ấy đã làm thế.”
“Tất cả các bạn ấy đều ở chỗ này,” thằng bé nói, “tất cả những ai đã chết. Các bạn ấy ở dưới sông, các bạn ấy không thoát ra được.”
Nhìn kỹ lại tôi nhận ra dòng sông đầy những gương mặt và cánh tay và cẳng chân. Trong bóng tối tôi chỉ có thể nhìn thấy những đường nét nhòa mờ của chúng, nhưng tôi biết chúng là gì. Tôi bất giác lùi lại phía sau.
“Chú đừng sợ. Chú phải xuống đó,” thằng bé nói.
“Tại sao?”
“Vì đó là cách duy nhất để tìm được cháu.”
Tôi tiến lên một bước. Dòng nước mờ đục nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy những cái bóng trườn đi dưới mặt nước.
“Không, Mohammed, chú không xuống đâu.”
“Sao thế ạ? Chú sợ à?”
“Tất nhiên là chú sợ chứ!”
Thằng bé cười, “Cháu mới là người sợ nước cơ mà. Làm sao chúng ta lại đổi chỗ cho nhau thế?”
Thằng bé đá bỏ giày và bắt đầu lội xuống.
“Mohammed, đừng!” Thằng bé phớt lờ tôi, lội ra xa hơn. Nước đã dâng quá đầu gối, rồi hông, rồi ngực nó…
“Mohammed, quay về ngay không chú sẽ giận đấy!” Nhưng thằng bé vẫn bước tiếp. Tôi lại tiến thêm một bước, rồi một bước nữa, và một bước nữa, cho đến khi nước đã ngang hông. Có thứ gì đó lướt ngang qua người tôi, hình như là một con cá, hay một con rắn… Ngay phía trước, một vật gì đó nhỏ bé lấp lánh đang nổi trên mặt nước, tôi đưa tay ra chụp lấy. Một
chiếc chìa khóa
được đặt vào lòng bàn tay tôi. “Cứ tự nhiên,” gã nói và lại cười. Tôi thoáng thấy một chiếc răng bạc của gã. Căn hộ này chỉ cách trung tâm Athens một quãng ngắn, không xa biển là mấy. Chúng tôi leo bộ hết ba tầng cầu thang vì thang máy hỏng. Một căn nhà tí hon tỏa mùi gia vị cũ ẩm.Cuối hành lang chật hẹp là một kiểu không gian chung với hình dáng kỳ quặc kết nối ba căn phòng. Mọi khung cửa sổ đều trông ra những bức tường và hệ thống thông gió của những tòa nhà xung quanh. Gã môi giới giới thiệu mình tên là Constantinos Fotakis. Tôi ngạc nhiên với cái tên Hy Lạp của gã vì gã nói tiếng Ả Rập quá sõi, nhưng khi nhìn dáng vẻ và màu da ấy, thật khó mà biết gã là người nước nào.
Chiếc chìa khóa tôi được đưa cho là chìa khóa phòng ngủ. Sàn phòng trải chiếu đôi và có một chiếc chăn cũ xù lông giờ được dùng làm thảm. Căn phòng nồng mùi mốc và trên tường hiện rõ những vệt ẩm xanh như rêu. Chúng tôi có thể nghe tiếng rì rì của đường ống thông khí. Bức tường của tòa nhà đối diện cách khoảng một cánh tay. Sức nóng và khói sưởi từ căn hộ khác dồn lại trong khoảng trống giữa các tòa nhà và chui hết vào căn phòng này.
Đây không phải là một nơi dễ chịu để ngủ, nhưng thế này cũng đã tốt hơn ngủ ở công viên rồi. Nhưng tôi không dám chắc nơi này đủ an toàn hay không. Gã Fotakis khiến tôi thấy bất an, có lẽ vì điệu cười khà khà của gã, có lẽ vì chiếc nhẫn signet[13] vàng trên ngón tay út của gã. Giờ gã còn có vẻ khệnh khạng hơn cả lúc ở quán cà phê. Nhưng gã cũng thân thiện, cho chúng tôi vào ở căn hộ của gã như người nhà, thậm chí khăng khăng đòi xách túi giúp chúng tôi và xách vào tận phòng ngủ. Gã dẫn chúng tôi xem phòng tắm, chỉ cách dùng vòi nước vì thỉnh thoảng không có nước nóng, giới thiệu những đồ đang để trong tủ lạnh và bảo chúng tôi cứ lấy ăn tùy ý. Chúng tôi được đối xử như khách quý. Trên chiếc bàn nhỏ bằng đồng xanh là mấy đầu thuốc lá cần sa hút dở và mấy tờ hai mươi bảng cuộn lại. Thấy vậy tôi đã hiểu mình phải làm kiểu vận chuyển gì.
Tối hôm đó Fotakis có bạn tới chơi. Hai người đó đều ngồi lì ở xô pha và tranh nhau chiếc điều khiển tivi như hai đứa trẻ con. Tôi thấy họ giống anh em, một người hơi lùn, người kia cao hơn nhưng dáng vẻ giống nhau với chiếc mũi dài, mày nhăn lại và hai mắt gần nhau khiến họ luôn trông như đang giật mình sợ hãi.
Khoảng mười giờ Fotakis hướng dẫn tôi đi chuyến hàng đầu tiên. Có năm hộp màu trắng cần chuyển tới những nơi khác nhau ở Athens. Gã đưa cho tôi địa chỉ, theo thứ tự hàng cần giao và tên, hoặc tên giả, của người nhận. Gã cũng đưa tôi một chiếc iPhone mới cứng, chỉ sử dụng cho công việc, nếu tôi gọi cho bất kỳ số lạ nào, gã sẽ biết. Gã còn đưa tôi một bộ nạp điện dự phòng cho chiếc xe, đảm bảo dữ liệu được đồng bộ và đã bật để tôi có thể dùng Google Map.
“Lái cẩn thận. Đừng đâm chết ai đấy,” gã nói, cười mỉa. “Anh không có bảo hiểm cũng không có bằng lái ở đây đâu.”
Khi tôi chuẩn bị rời đi, Afra đang nằm trên chiếc giường trong phòng ngủ, tay nắm chặt chìa khóa của căn phòng, đặt kể lên ngực. Tôi lại gần hôn lên trán em, nhắc em cẩn trọng. Em đưa cho tôi chiếc chìa khóa.
“Sao em lại đưa chìa khóa cho anh?”
“Anh hãy khóa phòng, nhốt em lại,” em trả lời.
“Sao em không khóa trong? Như thế nếu em cần ra ngoài thì vẫn đi được.”
Nhưng Afra lắc đầu. “Không, em muốn anh khóa cửa lại.”
“Anh biết mấy gã này rất ranh ma nhưng chắc họ không dám làm gì đâu.”
“Xin anh đấy. Em không cần chìa khóa. Em muốn anh giữ nó. Em muốn anh nhớ rằng anh có nó trong tay.”
“Em chắc chứ?” Tôi hỏi.
“Vâng, chắc chắn.”
Tôi thực sự không hiểu em lắm, nhưng tôi đồng ý. Tôi cất chiếc chìa khóa vào trong túi và suốt đêm đó, chốc chốc tôi lại kiểm tra xem nó còn ở đó không. Chiếc chìa khóa khiến tôi nghĩ về Afra, nhắc tôi nhớ rằng em đang ở một mình trong căn phòng ẩm thấp đó đợi tôi, nhắc tôi nhớ về những bức tường gạch, những đường ống thông khí và những gã đàn ông trong phòng khách. Chiếc chìa khóa cho tôi động lực tiếp tục, đặc biệt là trong những tiếng đồng hồ lê thê buổi sớm, khi mặt trời chỉ vừa mới lên và tôi phải lái xe hàng dặm đường xa lạ để chuyển hàng, bỏ lại đằng xa bóng dáng của những ngôi làng và thị trấn. Tôi tự hỏi có phải em đưa chìa khóa cho tôi là để đảm bảo tôi luôn nhớ tới em, để đảm bảo tôi không lái xe bỏ đi và để em ở lại đó.
Đêm ấy trời trong, sao chi chít. Chuyến chuyển hàng đầu tiên của tôi tới gần cảng Piraeus, không xa nơi chiếc phà thả chúng tôi xuống khi đến Leros là mấy. Thiết bị định vị bảo tôi rời đường lớn, rẽ vào một con phố trong khu dân cư với các căn hộ đứng gọn gàng, căn nào cũng có ban công. Có một người đàn ông đang đứng hút thuốc lá chờ tôi dưới gốc cây ô liu. Tôi xuống xe, mở cửa chiếc xe van màu trắng này và giao hộp hàng cho anh ta. Anh ta bảo tôi đợi rồi đi vào tòa nhà, ở trong đó khoảng mười phút rồi ra, lần này cầm theo một chiếc túi trắng bên trong có một gói hàng khác. Anh ta nói đừng chạm vào hay mở ra. Fotakis sẽ biết nếu mất bất cứ thứ gì.
Năm giờ sáng tôi bắt đầu lái xe quay lại trung tâm Athens. Mặt trời đã lên ngang mặt biển. Những rặng núi trên đảo phía xa hiện màu xanh xám. Tôi mở cửa sổ để nghe tiếng thì thầm của gió và nước nhưng ngay sau đó liền quay mặt đi khỏi bờ biển và bãi cát như đang phát sáng dưới nắng sớm, và ngay khi vào thành phố là những bức tường đầy graffiti, những tòa nhà và cái bóng thẫm lại của những ngọn núi trong đất liền.
Tôi trở lại căn hộ của gã, mọi người đều đang ngủ. Tôi có thể nghe được tiếng ngáy vọng ra từ phòng ngủ chính, hai anh em kia đang ngủ trên xô pha, tay vắt lên nhau. Tôi mở cửa phòng mình và đi vào. Afra vẫn đang ngồi thẳng tắp trên giường đợi tôi.
“Em không ngủ chút nào sao?” Tôi hỏi.
“Em không,” em đáp, hai tay vẫn đang vòng ôm lấy đầu gối.
Tôi ngồi xuống giường, bên cạnh em. “Anh đây rồi,” tôi nói. “Nằm xuống ngủ nhé?”
Em nằm xuống và tôi thấy em vẫn đang run rẩy, dù trong phòng ấm và ẩm. Tôi chẳng buồn thay quần áo. Tôi thả lỏng cơ thể nằm bên em, vòng tay ôm em, lắng nghe nhịp tim của em và thiếp đi.
Cả hai chúng tôi ngủ đến quá trưa. Đôi lúc tôi tỉnh giấc vì tiếng dao đĩa trong phòng bếp nhưng cố ép mình ngủ lại. Tôi không muốn thức dậy giữa thế giới thế này, những giấc mơ của tôi còn tốt đẹp hơn thực tế nhiều, và tôi nghĩ Afra cũng cảm thấy thế, vì em không muốn dậy cho tới khi tôi cũng dậy.
Đêm hôm sau cũng gần như thế, ngoại trừ việc người nhận hàng là một kẻ đi thuyền, nhận hàng xong thì đi về phía biển tối tới một trong những hòn đảo.
Ngày ngày trôi qua như thế, tôi ngủ cùng Afra vào ban ngày, với khung cửa sổ trông ra bức tường gạch và tiếng rù rù của hệ thống thông khí, rồi ban đêm đi lại khắp Athens và vùng ngoại ô để giao hàng cho những người đàn ông lạ mặt.
Đã qua ba tuần, rồi một tháng. Việc này mất nhiều thời gian hơn Fotakis đã hứa. Gã nói gã đang cố sắp xếp làm hộ chiếu và đặt chuyến bay cho chúng tôi. Nhiều lần tôi không tin lời gã, khi tôi nghĩ có ngày gã sẽ ném chúng tôi ra đường và chúng tôi sẽ kẹt lại mãi ở Athens này, quay về công viên Pedion tou Areos, mà với tôi, nghĩa là quay về địa ngục.
Rồi một hôm, hắn gõ cửa phòng chúng tôi. Lúc ấy mới đầu giờ chiều, tôi vẫn còn đang mơ màng ngủ bên cạnh Afra. Khi tỉnh dậy và ra tới chỗ phòng khách, tôi đã thấy hắn cầm một chiếc túi ni lông và đưa cho mình. Bên trong là thuốc nhuộm tóc cho Afra cùng kéo cắt và dao cạo râu, kem cạo râu cho tôi. “Hai người chuẩn bị một chút để chụp ảnh hộ chiếu,” hắn thông báo.
Trong phòng ngủ, tôi cởi hijab cho Afra, tháo búi tóc cho em và làm theo hướng dẫn ghi trên vỏ hộp thuốc nhuộm, chia tóc em thành từng phần nhỏ, phủ hỗn hợp kem nhuộm lên, để trong bốn mươi lăm phút trước khi đi vào phòng tắm và gội xả. Tôi đưa cho em một chiếc khăn tắm và đợi em ở phòng khách. Fotakis pha một ít trà bạc hà tươi. Gã có mấy lọ thảo mộc để trên bậu cửa sổ, tôi cảm giác chúng vẫn mọc thêm ra trong cái không khí ẩm thấp này. Tôi và gã ngồi nhấp trà trong những cái cốc thủy tinh nhỏ.
Afra bước ra và trông em như một người hoàn toàn khác. Mái tóc vàng khiến em trông cao hơn, gò má tròn trịa hơn và dù lẽ ra tóc sáng màu sẽ khiến da sạm đi nhưng nước da em lại như thêm xanh xao, trắng bệch đến mức khiến tôi nhớ tới tro bụi và tuyết lạnh. Đôi mắt xám của em như thẫm lại và chúng như lấp lánh khi em ngồi xuống bên tôi.
“Em thấy mùi bạc hà,” em nói. Fotakis đặt một chiếc cốc vào tay em. Gã không thể rời mắt khỏi em.
“Trông cô khác quá!” Gã thốt lên, cười cợt. “Thật kinh ngạc khi một điều nhỏ thôi cũng có thể thay đổi người ta đến vậy, nhỉ!” Nhưng giọng gã không chỉ có kinh ngạc, nó còn có âm điệu khiến tôi khó chịu ngay từ ngày đầu tiên tới đây. Vẻ thèm khát lẫn lòng tham toát ra từ cổ họng khi gã nói gần như không nhận ra, nhưng không thể lẫn được.
Tôi cắt tóc và cạo râu, mặc một chiếc áo phông trắng từng là của gã. Kẻ cao hơn trong số hai anh em kia tới chụp ảnh. Hắn bảo chúng tôi ngồi dưới ánh sáng từ cửa sổ và cứ bấm máy cho tới khi hắn hài lòng.
Tôi vẫn tiếp tục đi giao hàng vào các buổi tối. Có rất nhiều gói hàng và ngày qua ngày, tôi thường gặp lại những người nhận hàng đó. Họ dần quen với tôi và tin tôi, đôi khi họ còn mời tôi thuốc lá. Tôi chỉ tỉnh vào buổi tối, tôi không còn nhìn thấy mặt trời nữa. Tôi và Afra như đang sống trong bóng đêm.
*
Khoảng một tuần sau đó, chúng tôi có hộ chiếu mới. Tên mới của chúng tôi là Gloria và Bruno Baresi.
“Hai người là người Ý,” Fotakis nói.
“Nhỡ họ hỏi thì sao? Chúng tôi không biết một câu tiếng Ý nào.”
“Hy vọng điều đó không xảy ra. Hai người sẽ đi từ đây đến Madrid, rồi từ Madrid tới Anh. Không ai biết hai người không nói được tiếng Ý. Đừng nói tiếng Ả Rập. Cứ ngậm miệng càng chặt càng tốt.”
Vậy là ngày đã định và vé đã được đặt. Fotakis mua cho Afra một chiếc váy đỏ hạng sang và một chiếc khăn quàng màu xám được đan thủ công với hoa đỏ trang trí tiệp với màu chiếc váy. Bộ đồ đẹp nhưng không quá nổi bật. Gã cũng đưa cho Afra một chiếc áo khoác jean, một đôi giày mới. Tôi cũng có một chiếc quần jean mới, một chiếc thắt lưng da, áo sơ mi mới màu trắng, một chiếc áo len màu nâu. Gã muốn chúng tôi thay đồ để trông thật hơn.
“Hai người đẹp đôi đấy,” gã cười, “như vừa bước ra từ tạp chí.”
“Trông em thế nào?” Lát sau, Afra hỏi khi tôi đang chuẩn bị cho chuyến hàng tiếp theo.
“Trông em không giống em.”
“Trông kinh lắm à?” Em nói.
“Không, tất nhiên là không. Trông em lúc nào cũng xinh.”
“Giờ cả thế giới đều nhìn thấy tóc em rồi, Nuri.”
“Thật ra họ không thể nhìn được đâu,” tôi nói, “tóc em màu khác mà.”
“Và họ thấy cả chân của em nữa.”
“Đó là chân của Gloria Baresi, không phải của em.”
Em cười, nhưng mắt không cười.
*
Chúng tôi sẽ đi vào ngày hôm sau. Đêm đó có nhiều hàng hơn thường lệ. Tôi vẫn khóa Afra lại trong phòng và đặt chìa khóa xuống chiếc bàn cà phê trong giây lát để đếm số hộp và kiểm tra chúng theo danh sách. Ngay lúc ấy, Fotakis đi vào, nói với tôi về chuyện ra sân bay thế nào. Sau đó, gã giúp tôi mang chỗ hàng ra xe tải. Mãi đến khi đi qua một nửa Athens rồi tôi mới nhớ ra mình đã quên chiếc chìa khóa. Tôi không thể quay lại lấy nó, tôi cần giao cho mười người và tất cả bọn họ đều có thời gian hẹn nhận hàng nhất định. Nếu tôi giao muộn cho một người, tất cả những người còn lại cũng sẽ nhận muộn. Tôi cố gắng đi tiếp và không nghĩ tới Afra. Tôi chỉ nhớ tới em khi đã quay lại thành phố vào sáng sớm hôm sau.Về tới căn hộ, tôi chạy như bay trên chiếc cầu thang ngoằn ngoèo, tới chỗ dùng làm phòng khách nhưng chiếc chìa khóa không còn trên bàn, cánh cửa phòng tôi vẫn khóa. Tôi gõ cửa. Không có tiếng trả lời.
“Afra?” Tôi thầm thì. “Em đang ngủ à? Em mở cửa cho anh được không?” Tôi ghé tai vào cửa, chờ đợi và lắng nghe động tĩnh, nhưng tôi không nghe thấy gì hết. Không tiếng trả lời. Không tiếng di chuyển. Tôi quay ra xô pha và định nằm chợp mắt một chút nhưng vừa nằm xuống thì nghe tiếng khóa xoay trong ổ và cửa mở ra. Afra đang đứng đó. Tôi nhìn gương mặt em và lập tức biết có chuyện không ổn. Ánh sáng buổi sớm chiếu lạnh lùng lên bức tường của tòa nhà đối diện, hắt vào căn phòng làm hiện rõ những vết cào trên mặt em, kéo dài từ mắt trái cho tới cằm và vẫn còn đang rớm máu đỏ tươi. Mái tóc vàng xõa tung, rối bời. Giây phút đó em dường như không còn là vợ tôi. Tôi không thể nhận ra em. Tôi không thể tìm thấy em nữa. Trước khi tôi kịp nói lời nào, em đã quay người và đi về phía giường ngủ. Tôi giật mình, nhanh chóng đi theo em và đóng chặt cánh cửa phía sau lại.
“Afra, có chuyện gì thế em?” Tôi hỏi. Em co người lại, cuộn tròn trên giường và xoay lưng lại với tôi.
“Em không nói cho anh biết có chuyện gì được ư?” Tôi đặt tay lên lưng em và em rụt người lại. Tôi đành nằm xuống bên cạnh em mà không chạm vào em thêm nữa, cũng không nói thêm lời nào. Cứ thế đến buổi chiều, tôi không ngủ một giây nào. Lúc ấy, em mới nói: “Anh có thật sự muốn biết không?”
“Có.”
“Vì em không chắc anh có thật sự muốn biết không.”
“Tất nhiên là anh muốn biết.”
Sau khi im lặng một lúc lâu, em nói: “Gã ta vào phòng, gã Fotakis ấy. Em tưởng đó là anh vì anh đã khóa cửa rồi. Em không biết gã có chìa khóa. Gã vào đây và nằm xuống bên cạnh em, chính chỗ anh đang nằm đó. Em nhận ra không phải là anh vì mùi trên da gã khi gã lại gần. Em hét lên nhưng gã đã bịt miệng em. Chiếc nhẫn của gã cào vào mặt em. Gã nói em nên im lặng nếu không khi anh quay về, anh sẽ chỉ thấy xác em thôi.”
Em không cần nói gì thêm nữa.