Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 829 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 13 -

Tôi mở mắt ra và thấy trời cao rộng, xanh ngát. Hải âu bay rợp, băng qua rồi lặn sâu xuống biển, sau đó vút lên, bay cao mãi cao mãi, lên thiên đường. Một chùm bóng bay đủ màu sắc lơ lửng trên đầu tôi, rồi nhỏ dần cho tới khi nhạt màu hòa lẫn khoảng mờ xa xa. Xung quanh tôi vang lên những giọng nói khác nhau. Có ai đó cầm cổ tay tôi, và kiểm tra nhịp tim của tôi.

“Tim ổn,” giọng một người đàn ông.

“Anh ấy đang làm gì ở đây vậy?” Một người phụ nữ đang đứng giữa nắng sớm lên tiếng.

“Chắc người vô gia cư hả?”

“Nhưng sao anh ấy lại ở dưới nước được chứ?”

Không ai trong số họ hỏi tôi, mà tôi cũng không nghĩ là mình nói được gì. Người đàn ông buông tay tôi ra và choàng lấy cánh tay kéo tôi lên chỗ cát khô, rồi bỏ đi đâu đó. Người phụ nữ vẫn đứng yên, nhìn xuống tôi như thể tôi là một con hải cẩu. Chị cởi áo khoác và đắp lên người tôi, nhét cổ áo cẩn thận vào dưới cằm. Tôi cố gắng mỉm cười với chị, nhưng gương mặt tôi không sao cử động được.

“Không sao rồi,” chị nói. Giọng nói như nghẹn lại, và đôi mắt chị rơm rớm, khi chị nhìn tôi khắp một lượt. Tôi nghĩ có lẽ chị đang khóc.

Người đàn ông nhanh chóng quay lại với vài chiếc chăn. Anh cởi chiếc áo len ướt sũng của tôi ra và quấn chăn quanh người tôi. Một lát sau, tôi thấy có ánh sáng xanh nhay nháy và người ta đặt tôi lên một cái cáng, tôi được đưa vào bên trong, thật ấm, chúng tôi đi nhanh qua những con phố, tiếng còi vẫn hú đều. Tôi nhắm mắt lại khi nhân viên y tế bên cạnh bắt đầu đo huyết áp cho mình.

Tôi tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên giường bệnh, được nối với một chiếc máy theo dõi. Giường bên cạnh trống không. Một bác sĩ đến gặp tôi, cô muốn biết tôi là ai, tôi đã làm gì ở bãi biển với cả người ướt sũng như thế. Cô nói khi được đưa vào đây, tôi đang bị hạ thân nhiệt nghiêm trọng.

“Tên tôi là Nuri Ibrahim,” tôi trả lời. “Tôi đã ở đây bao lâu rồi?”

“Ba ngày,” bác sĩ nói.

“Ba ngày!” Tôi bật dậy. “Afra sẽ lo chết mất thôi!”

“Afra là ai?”

“Vợ tôi,” tôi đáp, cố lục tìm trong túi nhưng nhận ra là mình đang mặc quần áo người bệnh.

“Cho tôi hỏi tôi có thể tìm điện thoại của mình ở đâu?”

“Chúng tôi không tìm thấy chiếc điện thoại nào cả,” cô đáp.

“Tôi cần liên lạc với vợ tôi.”

“Tôi có thể liên lạc với chị ấy giúp anh. Anh cho tôi địa chỉ.”

Tôi nói địa chỉ nhà trọ và tên bà chủ nhà, nhưng tôi lại không biết số điện thoại.

Cô bác sĩ hỏi tôi rất nhiều: Anh có suy nghĩ tự tử không, anh Ibrahim? Tình trạng trí nhớ của anh như thế nào? Anh có thấy là mình quên mất nhiều sự kiện quan trọng không? Anh có quên những điều nhỏ nhặt hằng ngày không? Anh có thấy bối rối hoặc mất phương hướng? Tôi cố gắng trả lời tốt nhất có thể. Không. Trí nhớ của tôi rất tốt. Không, không và không.

Tôi được đưa đi chụp não bộ, sau đó họ đem tới bữa trưa. Đậu, khoai tây nghiền và gà chiên giòn. Tôi ăn hết suất ăn vì tôi thật sự đói, và thỉnh thoảng tôi ngồi dậy, ngâm nga một bài hát mẹ từng hay hát cho tôi nghe. Tôi không thể gạt nó ra khỏi đầu được. Tôi không nhớ lời nhưng giai điệu là một bài hát ru. Một vài bệnh nhân khác nhìn tôi khi họ đi ngang qua giường tôi nằm. Một bà cụ phải dùng khung tập đi cứ đi qua đi lại. Tôi nghĩ bà cụ cũng bắt đầu nhẩm theo giai điệu ấy. Tôi ngủ thiếp đi và khi tỉnh lại, giường bên cạnh đã có một phụ nữ chuyển tới. Chị đang mang bầu, đôi tay đặt nhẹ lên chiếc bụng căng tròn. Chị đang hát bài hát ấy, và chị biết lời.

“Sao chị biết lời bài hát này?” Tôi hỏi.

Chị quay sang tôi. Gương mặt với làn da tối màu, sáng bóng dưới ánh đèn vàng.

“Tôi biết từ lúc còn bé,” chị trả lời.

“Quê chị ở đâu?” Tôi hỏi.

Chị không đáp. Chị nằm trên giường, đưa tay xoa tròn bụng, khẽ hát bài hát như thầm ru đứa con còn chưa ra đời của mình.

“Tôi xin tị nạn,” chị nói, “và họ từ chối. Tôi đang nộp đơn kháng nghị. Tôi đã ở đất nước này được bảy năm rồi.”

“Quê chị ở đâu?” Tôi hỏi lại, nhưng đầu óc tôi bỗng mờ đi và tôi chỉ còn nghe thấy giọng chị loáng thoáng vọng tới. Ánh sáng vàng vọt yếu ớt trên đầu cũng dần chuyển thành một màu đen đặc.

Buổi sáng hôm sau, phòng bệnh rất yên tĩnh. Chiếc giường cạnh tôi đã lại trống không. Một y tá tới và nói tôi có người tới thăm, và tôi thấy ông lão Maroc đang đi về phía mình.

Ông ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường và đặt bàn tay lên cánh tay tôi. “Trời ạ, anh làm chúng tôi lo quá.”

“Afra đâu ạ?”

“Ở nhà trọ.

“Cô ấy không sao chứ?”

“Anh cứ nghỉ ngơi đi. Chúng ta sẽ nói chuyện đó sau.”

“Cháu muốn biết cô ấy sao rồi.”

“Thế anh nghĩ vợ anh làm sao? Vợ anh nghĩ là anh chết rồi kìa.”

Rồi chúng tôi chẳng ai nói gì nữa suốt một lúc lâu. Ông lão Maroc còn ngồi lại mãi. Ông cứ ngồi cạnh tôi như thế, đặt bàn tay lên cánh tay tôi, không hề hỏi tôi đã đi đâu hay tại sao tôi lại ngủ trên bãi biển, và tôi cũng không nói ông biết tôi đã đi xuống biển lúc nửa đêm. Ông không hỏi han, nhưng cũng không rời đi. Ban đầu tôi rất khó chịu, vì tôi chỉ muốn ở một mình để nhẩm theo bài hát ru thôi, nhưng dần dần, ông ngồi đó khiến tôi thấy được an ủi. Sự trầm tĩnh vững vàng của ông ấy khiến tâm trí tôi bình yên.

Ông lấy cuốn sách trong túi ra và bắt đầu đọc, thỉnh thoảng lại cười khúc khích một mình. Ông ở lại đến khi người khách thăm cuối cùng rời đi và quay lại vào sáng hôm sau để đón tôi về. Ông mang theo một túi quần áo. Tôi cởi bộ đổ bệnh nhân ra và mặc quần áo ông mang tới.

“Đây là đồ ngủ,” ông nói. “Thằng nhóc Diomande cứ gọi là đồ thể thao. Nó bảo mặc thoải mái lắm. Tôi chả hiểu. Giờ cậu sẽ phải bước ra phố và đi bộ về trong bộ đồ ngủ này.”

Ngay trước lúc chúng tôi ra viện, người bác sĩ nọ lại tới gặp tôi lần nữa. Tôi ngồi ở mép giường bệnh còn cô ngồi đối diện tôi, trên chiếc ghế cho người tới thăm và cầm bìa kẹp hồ sơ trên tay. Ông lão Maroc đứng bên cửa sổ, nhìn xuống bãi đỗ xe bên dưới.

“Anh Ibrahim,” cô nói, vẻ ngập ngừng, đưa tay vén sợi tóc nâu ra sau vành tai. “Tin tốt là kết quả chụp não của anh không có vấn đề gì, nhưng từ những gì đã xảy ra và những thông tin anh nói với tôi, tôi nghĩ là anh đang mắc chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn. Tôi rất mong anh có thể tìm được bác sĩ tư vấn tại phòng khám đa khoa nơi anh đang ở.” Cô nói một mạch với giọng chậm rãi và rõ ràng, nhìn thẳng vào mắt tôi, sau đó liếc nhìn tờ giấy trên chiếc bìa kẹp. Tôi nghe một tiếng thở dài khe khẽ khi cô nhìn đồng hồ trên tay mình. “Anh hãy đảm bảo với tôi rằng anh sẽ tìm bác sĩ tư vấn nhé!”

“Vâng,” tôi nói.

“Vì tôi không muốn anh lại tự đặt mình vào nguy hiểm lần nữa.” Bây giờ trông cô thực sự lo lắng.

“Vâng, bác sĩ. Tôi hứa sẽ làm theo lời khuyên của chị.”

***

Chúng tôi bắt xe buýt trở về nhà trọ. Đến nơi là đã gần trưa. Bà chủ nhà đang hút bụi ở phòng khách. Chị bước lộc cộc trên đôi guốc gỗ đến chào chúng tôi. Đôi găng tay cao su của chị màu vàng sáng chói.

“Anh uống một cốc trà nhé anh Ibrahim?” Chị ngân nga câu nói như hát lên. Tôi không đáp lời chị vì đang phân tâm bởi thứ trong sân vườn. Afra và chị Farida đang ngồi trên băng ghế dưới tán anh đào, bên cạnh chỗ của con ong. Trông thấy tôi, chị nói gì đó với Afra rồi đứng dậy, để chỗ cho tôi ngồi.

Afra cứ yên lặng như vậy một hồi lâu. Khuôn mặt em nghiêng nghiêng dưới ánh mặt trời. “Em có thể thấy bóng mờ và ánh sáng rồi,” em nói. “Lúc trời nắng nhất em có thể thấy cả bóng cây nữa. Nhìn này! Đưa tay cho em nào!”

Tôi đặt tay mình vào tay em. Em ngồi hẳn vào vùng sáng rực rỡ, đưa tay tôi lên ngang mắt.

“Sáng này,” em nói, mỉm cười, đưa tay tôi từ trái qua phải, bàn tay tạo thành một cái bóng trên gương mặt em. “Giờ là tối này.”

Tôi muốn để em biết rằng điều em đang nói làm tôi vui lắm, nhưng không hiểu sao tôi không thể.

“Em còn nhìn thấy vài màu nữa,” em nói. “Đằng kia. Gì ấy nhỉ? Một bụi hồng phải không?” Em chỉ vào một chiếc xô màu đỏ đang đặt trong góc vườn.

“Đó là một chiếc xô,” tôi nói.

Em buông tay tôi ra, gương mặt xịu xuống. Tôi thấy em đang lăn viên bi qua những ngón tay, để nó từ cổ tay xuống lòng bàn tay. Đường vân đỏ trên viên bi trở nên trong suốt dưới ánh nắng mặt trời. Tiếng rầm rì đằng xa ngày càng rõ hơn, như thể có một bầy ong đang bay tới khoảnh sân này.

“Em nhớ anh lắm,” tôi nghe em nói. “Em thấy sợ.” Gió thổi tới làm rung rinh những bông hoa và cuốn chúng xoay vòng quanh em. “Anh về rồi, em mừng lắm.” Giọng em buồn bã vô cùng. Tôi chỉ nhìn chăm chăm xuống viên bi.

“Anh đã quên anh Mustafa rồi,” em nói.

“Không, anh chưa quên.”

“Anh cũng quên luôn cả bầy ong nữa rồi phải không? Em nghĩ anh quên hết mất rồi. Anh Mustafa đang đợi chúng ta, mà anh chẳng nhắc gì với em cả. Anh đang lạc ở chỗ nào ấy. Anh có ở đây đâu. Em không còn biết anh nữa, Nuri.”

Tôi chẳng nói gì.

“Anh nhắm mắt lại đi.”

Tôi nhắm mắt lại.

“Anh nhìn thấy bầy ong không Nuri? Hàng trăm hàng nghìn con đang bay trong nắng, trên đồng hoa, trong những tổ ong và đậu trên cầu ong. Anh có thấy chúng không?”

Trong tâm trí tôi bỗng hiện lên đầu tiên là những cánh đồng ở Aleppo, những con ong mật vàng óng ở vườn ong, và rồi tôi thấy những cánh đồng thạch nam và oải hương, những con ong đen mà anh Mustafa đã nói tới.

“Anh có nhìn thấy chúng không?” Em hỏi.

Tôi không trả lời.

“Anh luôn nghĩ em mới là người không nhìn thấy, phải không?” Em lại hỏi.

Chúng tôi không ai nói gì thêm nữa suốt một lúc lâu.

“Anh không định nói với em ư? Anh định không kể cho em nghe sao?”

“Sao em lại có viên bi của Mohammed?” Tôi hỏi.

Hai tay em bỗng khựng lại.

“Của Mohammed?” Em nói.

“Phải, thằng bé mà chúng ta đã gặp ở Istanbul ấy.”

Em thở ra một hơi, ngồi thẳng người như thể đang đau.

“Viên bi này là của Sami,” em nói.

“Của Sami?”

“Vâng.”

“Nhưng anh thấy Mohammed đang chơi với viên bi mà.”

Tôi không nhìn vào em, nhưng tôi nghe thấy em lại đang thở dài.

“Em chẳng biết Mohammed là ai cả,” em nói, đưa viên bi cho tôi.

“Thằng bé đã ngã khỏi thuyền ấy, em không nhớ à?”

“Chẳng có thằng bé nào ngã khỏi thuyền cả. Có một cô bé cứ khóc mãi và khi thấy bố mình nhảy xuống nước thì cô bé cũng nhảy theo. Họ phải kéo con bé lên và lấy khăn của mẹ nó quấn cho nó. Em nhớ rất rõ. Người mẹ đã kể hết cho em nghe lúc mọi người đã lên được bờ và ngồi sưởi quanh ngọn lửa.” Em đặt viên bi vào tay tôi, giục tôi nhận lấy.

Tôi cầm, vẫn còn do dự.

“Thằng bé đã đi cùng chúng ta từ Istanbul đến Hy Lạp,” tôi nói. “Là Mohammed, chính là thằng bé đã ngã khỏi thuyền!”

Em phớt lờ những gì tôi nói, chỉ nhìn tôi với ánh mắt ấy. Ánh mắt nói rằng em đã biết hết câu trả lời.

“Sao em không nói với anh?” Tôi nói.

“Vì em nghĩ anh cần thằng bé,” em nói. “Viên bi này, em nhặt trên sàn nhà vào cái ngày chúng ta rời đi, ngày những gã đó phá hủy mọi thứ và ném hết đồ chơi của Sami xuống đất. Anh có nhớ không?”

Những từ cuối cùng vang vọng trong đầu tôi khi tôi băng qua phòng khách tối om và lên tầng, đi hết hành lang để tới phòng ngủ của chúng tôi, khi tôi đứng bên cửa sổ nhìn xuống, thấy em đang ngồi dưới bóng cây anh đào, nắng chiếu trên gương mặt.

Anh có nhớ không?

Tôi không biết mình còn nhớ được điều gì nữa. Tôi kéo rèm, nằm xuống giường, nhắm mắt lại và lắng nghe tiếng bầy ong từ bầu trời sâu thẳm vọng tới.

Mở mắt ra và ngồi dậy, tôi thấy trên thảm có ba chiếc chìa khóa. Tôi nhặt chúng lên, bước tới cánh cửa ở cuối hành lang, tra chìa vào ổ khóa và xoay. Cánh cửa mở ra. Tôi lại đứng trên ngọn đồi cao ấy. Âm thanh ngày càng lớn, dâng lên lấp đầy tâm trí tôi. Nhà tôi ở bên dưới. Phía xa là dòng Aleppo trải dài và mênh mông. Bức tường bao quanh thành phố như làm bằng ngọc thạch anh vàng óng, còn trong thành phố là thủy tinh tinh khiết. Đường nét của các tòa nhà sáng lung linh, những giáo đường, những khu chợ, các mái nhà và cả ngôi thành cổ phía xa. Một thành phố huyền hoặc hư ảo trong ánh chiều tà. Phía bên trái tôi thoáng thấy bóng người: Một đứa trẻ lao nhanh từ sườn đồi xuống bờ sông. Tôi thấy thằng bé rõ ràng trong chiếc áo phông đỏ và quần soóc jean.

“Mohammed!” Tôi hét lên. “Đừng chạy nữa!”

Tôi đuổi theo thằng bé về phía dòng sông. Nó luồn lách qua làn xe cộ tấp nập, qua những khúc quanh, những mái vòm và những con đường dưới giàn nho. Tôi mất dấu thằng bé trong chốc lát; nhưng tôi tiếp tục đi và thấy nó ngồi dưới gốc cam chua bên bờ sông. Cái cây vẫn sống, đang mùa trĩu quả. Thằng bé quay lưng lại với tôi. Tôi tiến đến gần và ngồi xuống cạnh nó trên bờ sông.

Tôi đặt tay mình lên vai thằng bé. Nó quay sang nhìn tôi. Đôi mắt đen láy ấy bắt đầu thay đổi, ngày càng sáng hơn, biến thành màu xám rồi trở nên trong suốt. Đôi mắt ấy giờ đã chứa một tâm hồn. Những đường nét cơ thể mềm đi và biến đổi như một bầy ong đang chuyển động, rồi ổn định lại, cho tới khi tôi nhìn rõ được biểu cảm, gương mặt và đôi mắt mới. Thằng bé ngồi cạnh tôi, đang nhìn tôi đầy sợ hãi, không phải là Mohammed.

“Sami,” tôi nói khẽ.

Tôi muốn ôm lấy con, nhưng tôi biết rồi con sẽ lại tan biến như lớp màu vẽ trên mặt nước, vậy nên tôi cố gắng hết sức để ngồi yên. Giờ tôi mới nhận ra bộ đồ con đang mặc là bộ đồ con mặc vào ngày hôm ấy, áo phông đỏ và quần soóc xanh. Con đang cầm viên bi ve trong tay và nhìn về thành phố thủy tinh kia. Con lấy từ trong túi ra thứ gì đó và đưa cho tôi: một chiếc chìa khóa.

“Cái này để làm gì?” Tôi hỏi.

“Đây là chiếc chìa khóa bố đã đưa cho con mà. Bố bảo nó là chìa khóa của một ngôi nhà không bao giờ sụp đổ.”

Tội nhận ra trước mặt con là mấy mẩu lego.

“Con đang làm gì thế?”

“Con đang xây một ngôi nhà. Khi nào tới Anh, chúng ta sẽ sống trong ngôi nhà này. Ngôi nhà này sẽ không sụp như những ngôi nhà kia.”

Tôi nhớ ra rồi. Tôi nhớ ngày ấy con đang nằm trên giường, hốt hoảng vì những vụ đánh bom. Tôi đã đưa cho con một chiếc chìa khóa màu đồng cũ kỹ từng là khóa của một thùng ong trong vườn. Tôi để chìa khóa dưới gối con để con cảm thấy rằng vẫn có nơi an toàn cho con giữa đống đổ nát ấy.

Trước mặt hai bố con, thành phố lấp lánh dưới ánh mặt trời. Nó trông như thành phố trong bức tranh của một đứa trẻ với đường nét của các giáo đường và nhà cửa phác lên bằng chì.

Con đưa tay xuống nước, vốc lên một hòn đá.

“Chúng ta sẽ ngã xuống nước hả bố?” Con hỏi, ngước nhìn tôi với đôi mắt to tròn. Con đã hỏi tôi câu ấy suốt mấy tháng trời, trước khi con mất.

“Không đâu.”

“Như những người khác hả bố?”

“Không, chúng ta không giống họ.”

“Nhưng bạn con bảo muốn rời khỏi đây chúng ta phải đi qua sông và biển, và nếu chúng ta đi qua sông và biển, chúng ta cũng có thể ngã xuống nước, như những người khác ấy. Con nghe nhiều câu chuyện về họ lắm. Gió sẽ đẩy thuyền đi chứ ạ? Hay là gió sẽ lật thuyền hả bố?”

“Chúng ta có áo phao mà con. Chúng ta sẽ ổn thôi.”

“Và Thánh Allah, người che chở chúng ta, sẽ giúp ta chứ bố?”

“Ừ, Thánh Allah sẽ giúp chúng ta.”

Đó là những lời của Sami. Sami của tôi. Con lại nhìn tôi, lần này đôi mắt đầy sợ hãi. “Thế tại sao Người lại không giúp những bạn ấy hả bố? Những bạn bị chặt đầu ấy?”

“Ai chặt đầu cơ?”

“Lúc các bạn ấy đứng thành hàng và đợi. Tại các bạn ấy không mặc đồ màu đen. Bố bảo thế mà. Con đang mặc đồ đen đây. Bố có nhớ không ạ?”

“Hôm chúng ta đi dạo ư?” Tôi hỏi. “Hôm chúng ta nhìn thấy mấy cậu bé bên bờ sông ấy à?”

“Vâng,” con đáp. “Con tưởng là bố đã quên rồi. Bố bảo nếu con giữ chìa khóa và mặc đồ đen, con sẽ trở nên vô hình, và nếu con vô hình, con sẽ tìm được ngôi nhà bí mật đó.”

Đầu tôi hiện lên hình ảnh tôi với con đi bộ dọc bờ sông và cảnh chúng tôi nhìn thấy mấy cậu bé đứng xếp hàng gần đó.

“Bố nhớ,” tôi nói.

Con chẳng nói gì nữa, mặt đã buồn thiu, như thể sắp khóc rồi.

“Con đang nghĩ gì thế?” Tôi hỏi.

“Trước khi chúng ta đi, con muốn vào vườn chơi với các bạn một lần nữa, có được không ạ?”

“Ừ, tất nhiên là được rồi.” Tôi đáp, và thế là chúng tôi đi ra

xa
tít tận mặt trăng, tận một không gian khác, một thời gian khác, một thế giới khác. Bất cứ đâu ngoại trừ ở đây. Chúng tôi không thể thoát khỏi thế giới này. Chúng tôi bị buộc chặt vào nó, cho tới chết. Afra đứng yên bên cửa sổ khi tôi mặc quần áo cho em. Em như một con búp bê, gương mặt đã đánh mất mọi biểu cảm, chỉ ngón tay em vẫn còn run rẩy, dù rất khẽ, và mí mắt giật giật. Nhưng em không nói một lời nào khi tôi mặc cho em chiếc váy đỏ, quàng khăn cho em, đi giày cho em. Em đứng đó, là một người phụ nữ hoàn toàn khác.

Nếu gặp em trên phố, có lẽ tôi sẽ đi ngang qua mà không nhận ra được em là ai. Trong thân xác của người mà bạn biết là một người xa lạ với bạn. Nhưng Afra thay đổi hoàn toàn, từ trong ra ngoài. Tôi tránh chạm vào làn da của em. Ngay khi tôi mặc xong đồ cho em, tôi bước lùi lại. Em bình tĩnh chấm nước hoa lên cổ và cổ tay. Mùi hương quen thuộc ấy bây giờ lại khiến tôi nôn nao. Lần này, chúng tôi sẽ thật sự rời đi, đi thật xa, xa khỏi Hy Lạp này, xa khỏi Sami.

Fotakis sắp xếp người đưa chúng tôi tới sân bay. Người đàn ông này không chỉ là tài xế, gã còn hộ tống chúng tôi và dẫn chúng tôi tới người sẽ đưa vé và hộ chiếu. Trong lúc chờ đợi, Fotakis pha cà phê Hy Lạp cho chúng tôi, như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Tôi nhìn gã làm nóng cái lò nướng và phải cố hết sức bình sinh để ngăn mình không lấy một con dao trong ngăn kéo kệ bếp. Tôi muốn giết gã từ từ. Tôi muốn dùng dao lột từng mảnh da của gã, róc thịt của gã. Nhưng nếu làm vậy, tôi và Afra sẽ không bao giờ rời đi được. Nếu tôi để gã sống, chúng tôi vẫn có cơ hội thoát khỏi đây, dù phần nào đó trong tôi đã ở lại đây mãi mãi, mắc kẹt trong những bức tường ẩm ướt của căn hộ này. Tôi đã từng góp một tay giết người, tôi biết tôi có thể làm vậy lần nữa. Tôi nhìn chằm chằm vào ngăn kéo, tưởng tượng mình mở nó ra, lấy ra một con dao. Một việc đơn giản.

“Vậy cuối cùng anh trở thành một công nhân chăm chỉ, hả? Rất nghe lời đấy nhỉ.”

Mắt tôi nhìn lên tay gã và nhìn gã khuấy cà phê. Gã cười, rót cà phê ra ba chiếc cốc.

“Chắc giờ giấc mơ của anh thành hiện thực rồi. Lòng quyết tâm và ý chí mạnh mẽ có thể khiến người ta kinh ngạc, nhỉ.” Gã đưa tôi một cốc cà phê, cầm hai cốc còn lại đi ra khu phòng khách, đặt chúng lên chiếc bàn thấp. Mắt gã dừng lại trên người Afra. Em đang ngồi trên xô pha, tôi ước sao em có thể làm gì đó, xoa xoa cánh tay, cầm cốc lên uống, hay thậm chí khóc lóc cũng được, nhưng em chỉ ngồi đó như thể phần hồn bên trong đã chết, chỉ còn thân xác của em còn sống. Tôi cảm thấy linh hồn em đã rời đi rồi.

Có tiếng chuông cửa. Fotakis giúp chúng tôi mang hành lý xuống tầng. Gã đặt mấy cái túi vào cốp chiếc xe Mercedes màu bạc. Lái xe là một người đàn ông Hy Lạp cao to, vạm vỡ, khoảng bốn mươi tuổi, tự giới thiệu mình là Marcos. Anh ta đứng dựa vào nắp capô và hút thuốc lá.

Thời tiết rất đẹp. Mặt trời lên cao chiếu sáng những tòa nhà xung quanh. Phía sau là cái bóng mờ nhòa của rặng núi với chút mây loáng thoáng. Gió đã se se, nhưng đám hoa trong sân vườn của các tòa nhà vẫn đang bung nở.

“Tôi sẽ nhớ anh đấy,” gã cười khùng khục.

Chúng tôi sẽ rời đi. Gã sẽ sống tiếp.

Chúng tôi ngồi vào ghế sau. Chiếc xe lăn bánh. Tôi quay đầu lại nhìn qua lớp kính xe phía sau. Fotakis đang đứng nhìn chúng tôi rời đi. Tôi ngồi lại nghiêm chỉnh và nhìn về phía trước, cố gắng gạt khuôn mặt của gã ra khỏi đầu. Xe đi qua những con phố của Athens và thật lạ lùng khi nhìn thành phố này dưới ánh mặt trời. Trong hàng tuần liền, tôi gần như chỉ biết nó khi về đêm, hoặc khi trời vừa tảng sáng, lúc mặt trời chưa kịp xua hẳn bóng tối. Giờ tôi có thể thấy nó trong dáng vẻ bình thường, xe cộ, đường sá, cuộc sống thường nhật. Chiếc đài trên xe đang phát nhạc Hy Lạp, và đến chín giờ là giờ tin tức, Marcos tăng âm lượng và cứ gật hoặc lắc theo những gì anh ta nghe được. Cửa kính chỗ ghế lái đang mở. Anh ta gác khuỷu tay lên đó, những ngón tay chỉ chạm hờ vào vô lăng. Tôi ngạc nhiên khi thấy anh ta thư thái đến thế. Lúc bản tin kết thúc, anh ta lo lắng liếc nhìn tôi qua chiếc kính trên trần xe.

“Đến sân bay,” anh ta nói, “tôi sẽ mở cốp và anh lấy hành lý ra. Sau đó, anh hãy đi theo tôi, nhưng đảm bảo luôn cách tôi khoảng mười mét. Đừng đứng quá gần, nhưng cũng đừng để mất dấu tôi. Phải thật chú ý đấy. Tôi sẽ dẫn anh tới toilet nam. Afra đợi bên ngoài. Trong đó sẽ có người đợi anh. Anh hãy đợi ở bên trong toilet. Đến lúc không còn ai, chỉ khi không còn ai, anh hãy gõ ba lần lên cánh cửa.”

Tôi gật đầu. Anh ta chuyển làn mà không nhìn gương chiếu hậu.

“Anh đã hiểu chưa? Anh có cần tôi nhắc lại một lượt nữa không?”

“Tôi hiểu rồi,” tôi đáp.

“Tốt. Tới được Heathrow rồi, hãy vứt hộ chiếu và vé lên máy bay của anh vào thùng rác luôn. Đợi ba tiếng, rồi sau đó tự đi trình báo với chính quyền. Hiểu chưa?”

“Ừ,” tôi nói.

“Anh nhất định phải nhớ ném chúng đi. Và phải đợi ba tiếng, có thể đợi thêm, nhưng không được dưới ba tiếng. Đừng nói với họ anh đã bay chuyến nào.”

Anh ta mở ngăn để đồ trên xe, lấy ra một gói kẹo cao su và mời tôi. Tôi từ chối.

“Vợ anh thì sao?” Anh ta hỏi. Afra ngồi yên lặng, hai tay đặt lên đùi, giống như Angeliki. Hai môi em mím chặt, và nếu không biết em không nhìn được, người ta sẽ nghĩ em đang ngắm đường phố qua cửa kính của xe.

“Anh chị giàu nên may mắn đấy,” anh ta nói. Đôi mắt phản chiếu trong chiếc gương hiện lên nụ cười. “Người ta toàn phải đi chặng đường khủng khiếp qua hết châu Âu mới tới được Anh. Tiền đưa anh tới bất cứ nơi nào. Tôi luôn bảo thế mà. Không có tiền anh sẽ mất cả đời lang thang trên đường, cố gắng tới nơi anh nghĩ mình nên tới.”

Tôi định bảo anh ta rằng tôi không nghĩ thế, rằng chúng tôi cũng đã phải trải qua một chặng đường rất khủng khiếp, hơn mức anh ta có thể tưởng tượng nhiều, và chuyến đi ấy đã lấy mất linh hồn của Afra. Nhưng phần nào đó anh ta nói đúng. Không có tiền chúng tôi sẽ còn phải đi chặng đường dài hơn, khổ hơn.

“Anh nói đúng,” tôi nói. Anh ta gõ nhịp ngón tay lên vô lăng và hít vào một hơi khi chiếc xe uốn lượn qua bờ biển.

Tới sân bay, tôi làm như Marcos nói. Chúng tôi len lỏi qua những đám đông, trong khi mắt vẫn dõi theo bộ đồ màu xám của Marcos. Cách một quãng, tôi trông thấy anh ta đang đứng ngoài toilet nam. Anh ta cứ đứng đó cho tới khi biết chắc tôi đã nhìn thấy anh ta, sau đó anh ta rời đi. Tôi đi vào toilet nam. Có một người đàn ông đang ở đó, và tôi thấy một buồng đóng cửa. Tôi chờ người đàn ông kia xong, anh ta đủng đỉnh rửa tay rồi soi gương. Rồi lại có một người đàn ông khác vào, dẫn theo đứa con trai nhỏ. Họ ở đó mất một lúc, và trong giây lát, tôi bỗng nghĩ sẽ có một hàng người liên tục vào đây, và tôi sẽ bị kẹt ở đây hàng tiếng đồng hồ. Nhưng ngay sau đó, toilet không còn ai. Tôi gõ cửa ba lần, như được bảo, và một người đàn ông bước ra khỏi buồng vệ sinh. Tôi gần như không có cơ hội nhìn anh ta.

“Nuri Ibrahim?” Anh ta hỏi.

“Phải?” Tôi xác nhận.

Anh ta đưa cho tôi thẻ lên máy bay và hộ chiếu, rồi đi thẳng. Chỉ có vậy.

Sau đó, chúng tôi tự xoay xở.

Chúng tôi không nói gì với nhau khi băng qua sảnh sân bay, đến quầy làm thủ tục, rồi tới cửa an ninh. Chúng tôi đi qua máy dò kim loại, đặt hành lý lên băng chuyền để quét. Khi đó, tôi rất căng thẳng và tự nhiên tỉnh táo lạ thường, hết sức chú ý đến biểu cảm trên gương mặt mình. Tôi không muốn mình trông có vẻ sợ hãi, không muốn nhìn vào bất cứ nhân viên an ninh nào, đề phòng họ thấy điều gì khả nghi, nhưng tôi nghĩ điều này khiến tôi trông có vẻ như tội phạm. Afra cầm lấy tay tôi, nhưng cảm giác chạm vào làn da của em, cảm giác em đứng sát bên tôi khiến tôi không thoải mái. Tôi bước dịch ra một bước.

Chúng tôi nhận lại túi đồ và bước vào sảnh đợi lên máy bay. Một giờ chờ đợi và nửa giờ trễ chuyến. Tôi mua cà phê cho em và tôi. Chúng tôi đi dạo loanh quanh, tỏ ra bình thường nhất có thể, giả vờ ngắm nghía mua sắm cho tới khi chúng tôi được gọi tới cổng số 27.

Chúng tôi ngồi cạnh một cặp vợ chồng với hai đứa con nhỏ đang chơi điện tử trên điện thoại. Tôi xuôi vai thả lỏng trong giây lát và nghĩ mọi chuyện sẽ ổn thôi. Tôi nhìn thằng bé mải mê với trò chơi của nó. Nó bé hơn Sami một chút, đeo một chiếc ba lô sặc sỡ ngay cả khi đang ngồi trên ghế.

Afra yên lặng và bất động tới nỗi tôi suýt quên mất em ở đó. Một phần trong tôi ước gì em cứ thế biến mất, ước gì chiếc ghế đang bên cạnh tôi trống không. Trò chơi đã kết thúc, thằng bé giơ hai tay lên và đúng lúc đó tôi nhận ra có vụ lộn xộn ở cửa lên máy bay. Năm cảnh sát đang nói chuyện với một tiếp viên hàng không. Người này trông càng ngày càng có vẻ lo lắng. Một trong năm cảnh sát đứng nhìn quét một lượt khắp sảnh chờ. Tôi hạ tầm mắt, thì thầm bảo với Afra hành động cho tự nhiên. Rồi rất vô tình, tôi liếc nhìn lên và trong một giây, ánh mắt của người cảnh sát bắt được ánh mắt tôi. Tôi nghĩ, thế là xong. Chúng tôi đã bị tóm. Chúng tôi sẽ bị tống trở về. Nhưng về đâu?

Nhóm cảnh sát đi qua cửa và tiến vào sảnh chờ. Tôi nín thở cầu nguyện khi họ đi về phía chúng tôi và đi qua chúng tôi, tới hàng ghế cuối cùng bên cạnh cửa sổ, nơi một nhóm bốn thanh niên và một phụ nữ bỗng nhiên đứng bật dậy, hốt hoảng và ôm chặt lấy túi của mình, như thể họ muốn chạy nhưng không có nơi nào để chạy. Tôi cố gắng không nhìn chăm chăm vào bốn người bị giải đi đó, và khi họ đi qua, tôi thấy cậu thanh niên đang khóc. Cậu đưa tay lên gạt nước mắt. Nước mắt giàn giụa đến nỗi cậu gần như không thấy đường đi. Cậu vấp phải cái túi của tôi và ngừng lại nhìn vào tôi. Người cảnh sát kéo cậu đi. Tôi sẽ không bao giờ quên được vẻ đau đớn và sợ hãi trong mắt cậu khi đó.

Đến cửa lên máy bay, tôi và Afra đưa thẻ lên máy bay và hộ chiếu ra. Người phụ nữ kiểm tra, lần lượt nhìn chúng tôi và chúc chúng tôi một chuyến đi an toàn và dễ chịu.

Vậy là chúng tôi lên máy bay và ngồi đúng chỗ của mình. Tôi ngồi xuống, nhắm chặt mắt lại, lắng nghe tiếng ồn xung quanh, những cuộc chuyện trò của những người bên cạnh, tiếng hướng dẫn an toàn bay và đợi tiếng động cơ vang lên. Afra nắm tay tôi và giữ thật chặt.

“Chúng ta đang đi rồi,” tôi nghe tiếng em thì thầm. “Nuri, chúng ta đang đi đến chỗ anh Mustafa và chúng ta sẽ an toàn.” Và trước khi tôi biết điều đó, chiếc máy bay đã cất cánh, bay lên bầu trời cao xanh rộng lớn. Cuối cùng, chúng tôi cũng rời đi. Đi xa.

« Lùi
Tiến »