

Có ai đơn độc giữa thế gian này, đơn độc giữa một mùa xuân đang bùng dậy.
Trở lại Oxford, tôi lao vào học như điên. Tôi đã nghỉ đến gần một tháng, và mặc dù chương trình học của Oxford không phụ thuộc nhiều vào việc lên lớp, ai vắng mặt vẫn bị ghi lại và bị kiểm điểm gắt gao. May thay, trợ giáo môn toán của tôi không có ở trường, hình như là cô bị ốm, và tôi âm thầm vui sướng vì điều đó. Trợ giáo tiếng Hy Lạp của tôi cũng đang nghỉ dạy, cô ấy vừa lên chức Mẹ vào kỳ nghỉ Giáng sinh vừa rồi. Học hành cật lực trong suốt ba tuần liền, rốt cuộc tôi cũng lấy lại được “hình tượng” trong mắt những người giám thị.
Và mùa xuân đó tôi cũng đã thay đổi bản thân mình. Tôi không hay mặc quần và đi giày ống nữa, thay vào đó, tủ quần áo của tôi đầy ự những bộ váy áo đắt tiền nhưng giản dị. Với Ronnie Beaconsfield, tôi không còn đủ nghị lực để chiếm lại tình cảm của cô ấy nữa. Năm học này tôi cố gắng chuyện trò với những người bạn gái khác, dù chỉ sau vài tiếng trò chuyện, tôi đã cảm thấy mất hết kiên nhẫn. Tôi đi bộ thật lâu qua các con phố và những ngọn đồi mùa đông tiêu điều quanh Oxford. Tôi đến nhà thờ, đặc biệt là dự những buổi lễ ban chiều ở nhà thờ lớn, chỉ là đến đó ngồi và lắng nghe. Có lần tôi đi nghe hòa nhạc cùng một chàng trai khá trầm tính mà tôi quen trong một buổi nghe giảng giáo lý ở nhà thờ. Đó là buổi trình diễn âm nhạc Mozart, các bản nhạc được chơi rất tuyệt, nhưng đến nửa chừng, thứ âm nhạc xuất chúng cùng sự nhức nhối của nó khiến tôi không thể nào thở được, và tôi đã bỏ ra về sớm. Người bạn đó cũng không mời tôi thêm lần nào nữa.
Những bài luận của tôi cũng có nhiều thay đổi. Chúng trở nên chính xác hơn, đanh thép hơn, những điểm nhìn linh hoạt hơn, và mang tính lôgic lạnh lùng hơn. “Sáng rực và cứng rắn, giống như kim cương vậy,” một độc giả từng nhận xét về chúng như thế.
Tôi lao vào học hành cật lực. Tôi ăn ít hơn, làm việc từ sớm tinh mơ, và đến cuối ngày, tôi uống một chút rượu brandy để dễ dàng chợp mắt. Tôi bật cười khi người thủ thư ở Bodleian nói với tôi, nửa đùa nửa thật, rằng tôi sẽ chết chìm trong những chồng sách mất. Nói một cách khác, tôi đang trở nên giống Holmes hơn cả chính Holmes: sắc sảo, thông minh, luôn suy nghĩ và phân tích, chẳng quan tâm gì tới bản thân, không để ý gì đến những người xung quanh. Nhưng tôi lại không có niềm say mê và tình yêu bẩm sinh tận đáy lòng dành cho bản chất tốt đẹp của con người - những điều nền tảng trong toàn bộ sự nghiệp của ông ấy. Holmes yêu mến nhân loại dù họ không thể hiểu hết hoặc chấp nhận con người ông theo đúng nghĩa; còn tôi, giữa loài người, chỉ giống như một cái máy biết suy nghĩ mà thôi.
Còn Holmes, lúc này ông ấy đang ở trong căn nhà của mình tại nông trang, trốn tránh cả thế giới để thu mình vào trong hoang mang và suy sụp. Bà Hudson đã rút ngắn chuyến đi đến Antipodes và trở về vào cuối tháng Hai. Lá thư đầu tiên bà viết cho tôi rất ngắn gọn và báo rằng bà đã sốc nặng khi nhìn thấy Holmes ở trong nhà. Những lá thư tiếp theo bà ấy không hề buộc tội cũng như nài nỉ tôi, nhưng lại khiến tôi đau đớn khi thông báo rằng có hôm Holmes không hề bước chân ra khỏi giường, lại có hôm ông ấy nói đến chuyện sẽ bán những tổ ong. Lestrade đã cho người canh gác khu nông trang suốt ngày đêm. (Ông ấy cũng từng làm vậy với tôi, nhưng tôi đã trốn tiệt tất cả bọn họ và cuối cùng họ phải rút lui bằng hết. Tôi không tin người của Lestrade lại có thể bảo vệ tôi tốt hơn tôi tự bảo vệ chính mình, và càng ngày tôi càng chắc rằng mình không còn trong tầm nguy hiểm nữa. Hơn nữa, tôi không thể chịu được việc họ cứ ra vào liên tục trước mắt tôi như vậy.)
Bác sỹ Watson cũng viết thư cho tôi, những lá thư dài mang tính thăm dò, hầu hết là kể về tình hình sức khỏe và tinh thần của Holmes. Một lần bác ấy đến Oxford thăm tôi. Tôi đã đưa bác ấy đi dạo một quãng đường dài để không phải ngồi đối diện với bác ấy; cái lạnh và sự thờ ơ của tôi khiến cho bác ấy đành ủ rũ quay về.
Mùa đông ấy thật dài và rét buốt sau những tuần ấm áp ở Palestine. Tôi đọc quyển Kinh Do Thái, nghĩ về Holofernes và con đường dẫn đến Jerusalem thần thánh.
Vào một ngày nghỉ, tôi đến London để gặp những người thi hành di chúc của bố mẹ tôi, đề nghị họ rằng tôi muốn tạm ứng một số tiền từ khoản thừa kế để mua một chiếc ô tô. Người quản lý di sản của bố mẹ tôi nghe thấy thế chợt ấp a ấp úng, rồi ông ta gọi mấy cuộc điện thoại riêng liên, và tôi không quá ngạc nhiên khi cuối cùng ông ta phải chấp thuận. Hôm sau tôi đến gara Morris Oxford tậu ngay một chiếc xe - vậy là tôi đã sớm có phương tiện để đi xa.
Chính trong thời gian ấy, khoảng hai tuần trước khi kết thúc học kỳ, lần đầu tiên tôi cảm thấy mình đang bị theo dõi. Tôi thường rất lơ đãng, hay chúi mũi vào đọc một quyển sách nào đó khi đi đường, vì thế rất có thể chúng đã theo dõi tôi từ trước mà tôi không nhận ra. Lần đầu tiên thấy một gã bám đuôi mình, lúc đó tôi đang ở bên ngoài khu nhà trọ và đột nhiên nhận ra mình quên mang theo quyển sách. Tôi vội quay về để lấy, và khi đi qua chỗ rẽ tôi để ý thấy một gã đang luống cuống cúi xuống buộc dây giày. Chỉ là, gã ta đang đi đôi giày không có dây buộc. Sau lần đó tôi chú ý hơn, và nhận ra có một ả đàn bà cùng một gã khác “thay ca” cho gã trước đó. Tất cả bọn chúng đều khá chuyên nghiệp trong việc cải trang, đặc biệt là ả đàn bà.
Không muốn rút dây động rừng, tôi quyết định coi như không biết chuyện gì và thậm chí còn trở nên lơ đãng hơn, cho đến một ngày, khi đang chúi mũi vào cuốn Tân ước bằng tiếng Hy Lạp, tôi đã đâm sầm vào một cái trụ đèn trên phố High Street. Lúc hoàn hồn trở lại, tôi thấy mình đang ngồi bệt một cách ngớ ngẩn trên mặt đường trong khi những người xung quanh kêu lên kinh hãi trước đám máu me trên mặt tôi, và một phụ nữ trẻ đang gỡ cặp kính vỡ vụn của tôi ra. Tôi từ phòng khám trở về với một miếng cao dán to tướng trước trán, và trong khi chờ cặp kính được làm lại, tôi phải đeo kính dự phòng suốt hai ngày liền. Ông bác sĩ khâu vết thương cho tôi đã ôn tồn dặn rằng tôi không nên nghĩ đến những động từ bị động thời quá khứ của tiếng Hy Lạp khi đang đi bộ nữa, và tôi buộc phải nghe theo ông ấy. Như một diễn viên, tôi có thể thay đổi tính cách của mình một cách dễ dàng.
Khi cặp kính mới được chuyển đến, tôi nhận ra “cái đuôi” vẫn kiên trì bám theo mình. Tôi quyết định sẽ lái xe về Sussex thay vì đi tàu điện, đồng thời thông báo trước - và rất công khai - với gara ô tô nơi tôi gửi chiếc xe rằng sáng mai tôi sẽ lấy xe để trở về nhà. Tôi muốn đảm bảo rằng bọn chúng sẽ bám theo mình.
Chúng huy động đến năm cái ô tô trong chuyến đi đó, chứng tỏ chúng được chống lưng bằng một lượng tiền rất khủng. Tôi ghi lại từng biển số xe, cố ghi nhớ cẩn thận đặc điểm của từng chiếc xe cũng như từng tên tài xế. Khi tôi dừng lại ăn trưa trong một quán rượu trước khi đến Guildford, một cặp trai gái đang hôn nhau đắm đuối trước chiếc xe mui trần thò ra từ bãi đậu xe. Rồi khi tôi đỗ lại uống trà trên đường tới Eastbourne, lão già vừa thế chỗ đôi trai gái kia từ hai mươi dặm trước bèn phóng xe vụt qua, nhưng ả đàn bà trong chiếc Morris cũ - hình như là ả mà lần trước tôi đã thấy gần khu nhà trọ - ngay lập tức bám sát sau tôi. Chỉ khi tôi rẽ vào con đường nhỏ cách Eastbourne vài dặm thì ả mới phóng xe đi tiếp. Tôi thở phào vì chúng đã bám được theo tôi đến tận đây. Tôi muốn chúng có mặt tại đây, chứng kiến những hành động ngây thơ vô hại của tôi để báo về cho chủ.
Bà cô của tôi, ừm, vẫn chẳng có gì thay đổi. Nông trang trông thật tuyệt, tất cả là nhờ công bác Patrick. Buổi sáng, tôi cùng bác ấy dạo quanh nông trang. Chúng tôi chào đón những chú bò, bàn bạc về tình trạng mái chuồng gia súc, kiểm tra một chú ngựa con vừa được cô ngựa cái khổng lồ Vicky sinh ra, rồi bàn đến chuyện đầu tư một chiếc máy kéo cho nông trang. Tôi thò đầu qua cánh cửa vững chãi để ngắm chú ngựa non xinh đẹp màu nâu xám, với chiếc đuôi mập mạp dày lông đang vẫy điên cuồng, đang rúc mõm vào mẹ trong khu chuồng ấm áp trải đầy rơm. Tôi nói điều ấy với bác Patrick, nhưng bác ấy chỉ lẩm bẩm gì đó, như thể không có ý định ra chiều đa cảm về loài ngựa.
Sau một tháng trời, giờ tôi mới mặc lại quần jean và đi giày ống, chúng khiến tôi thật dễ chịu. Tôi mời bác Patrick lên nhà lớn dùng trà, nhưng bác ấy, vốn chẳng ưa nổi bà cô tôi, đã mời tôi về căn nhà nhỏ của mình.
Trà nóng, đậm đà và ngọt lịm, rất lý tưởng cho một buổi sáng mùa xuân se lạnh thế này. Chúng tôi nói chuyện về các hóa đơn và các khu nhà trong nông trang, rồi đột nhiên Patrick nói, “Có mấy người đàn ông trong làng hỏi về cô đấy.” Người làng thì hẳn là không khó để nhận ra, đó rõ ràng là những kẻ đến từ thành thị mà tôi đang phải đương đầu. Nhưng tôi vẫn hỏi bác ấy:
“Thế ạ? Khi nào vậy ạ?”
“Khoảng ba, bốn tuần trước.”
“Họ đã hỏi gì hả bác?”
“Chỉ là hỏi về cô thôi, cô đến từ đâu, đại loại thế. Và về ông Holmes nữa, họ muốn biết cô có hay đến gặp ông ấy không. Họ đã hỏi Tillie, ở ngay dưới khu quán trọ, cô biết cô ấy chứ?” Bác ấy và Tillie dạo gần đây thường hay qua lại với nhau. “Cô ấy đã không hề biết mình bị khai thác thông tin, vì đó cũng chỉ như một cuộc trò chuyện thôi, cô thấy đấy, cho đến khi cô ấy thấy họ cũng hỏi mấy người ở bưu điện những câu tương tự.”
“Thật thú vị. Cảm ơn bác vì đã kể cháu nghe chuyện này.”
“Tôi hơi tò mò một chút, nhưng tại sao cô không gặp ông ấy nữa? Ông ấy sẽ buồn lắm đấy.”
Tôi nhìn nét mặt thật thà của bác Patrick và kể cho bác ấy nghe những gì vốn được coi là sự thật.
“Bác có biết con ngựa đua của ông Tom Warner không, con ngựa mà ông ấy rất tự hào về nó, và muốn xây dựng hẳn một trại nuôi cho nó ấy?”
“Biết chứ, đó là một con ngựa rất cừ.”
“Bác có định buộc chung nó với Vicky lại để chúng cùng kéo cày không ạ?”
Rõ ràng đó là một câu hỏi cực ngu xuẩn đến nỗi bác ấy nhìn tôi một lúc lâu rồi mới trả lời.
“Ý cô là ông Holmes đang muốn biến cô thành một con ngựa kéo cày ư?”
“Là vậy ạ, trong khi cháu cần phải được chạy. Là ngựa kéo cày thì cũng không sao. Chỉ là nếu bác bắt một con ngựa đua phải làm việc cùng với một con ngựa kéo cày, thì cả hai con sẽ cảm thấy khó chịu và đấu đá lẫn nhau. Đó là những gì xảy ra giữa Holmes và cháu.”
“Ông Holmes là người tốt. Năm ngoái ông ấy đã giúp Tillie lấy ra một tổ ong từ dưới mái hiên. Không hề ổn ào. Để xem cô sẽ không gặp ông ấy trong bao lâu nữa. Người làm vườn của ông ấy nói với tôi là ông ấy đang ốm đấy.”
“Vâng, cháu sẽ gặp ông ấy. Thật ra, cháu định đến thăm ông ấy chiều nay.”
Sự phấn khích trong giọng nói của tôi bị Patrick hiểu lầm thành nỗi lo lắng. Bác ấy vươn người tới, vỗ nhẹ bàn tay thô kệch, chai sạn lên đôi tay suốt ngày chỉ biết cầm bút của tôi.
“Cô đừng quá lo lắng. Cô chỉ cần nhớ rằng mình không còn bị ‘lồng vào ách’ cùng ông ấy, và cô sẽ ổn thôi.”
“Cháu sẽ làm vậy, bác Patrick, cảm ơn bác.”
Tôi sắp xếp công việc để đến nhà Holmes lúc bốn giờ, biết rằng trà là đồ uống tuyệt vời nhất của bà Hudson. Có một chiếc xe ngựa chở hàng bị lật trên đường nên tôi đến hơi muộn - khoảng bốn giờ mười lăm tôi mới cho xe chạy vào con đường trải sỏi dẫn vào nhà ông ấy. Tiếng violin của Holmes chợt vẳng đến tai tôi. Violin là một trong những nhạc cụ tấu lên âm thanh sầu muộn nhất khi người ta chơi một mình; giống như Holmes lúc này - thứ âm thanh suy tư buồn nhức nhối, khiến người ta đau đớn. Tôi đóng cửa xe thật mạnh để cắt ngang dòng âm thanh ấy rồi xách theo giỏ đựng pho mát và hoa quả mang về từ Oxford. Cánh cửa ngôi nhà tranh đã mở tự bao giờ, và tôi nhìn thấy Holmes đang đứng tựa vào khung cửa, khuôn mặt không cảm xúc.
“Chào cháu, Russell.”
“Chào ông, Holmes.” Tôi bước trên lối đi nhỏ, cố đoán xem điều gì đang ẩn sau đôi mắt xám kia, nhưng thất bại. Tôi dừng lại ngay bậc cửa dưới chỗ ông ấy đang đứng, giơ cái giỏ lên. “Cháu mang đến cho bà Hudson và ông chút quà từ Oxford.
“Cháu thật chu đáo, Russell,” Holmes nói khách sáo, giọng nói và đôi mắt dường như trống rỗng. Rồi ông ấy bước sang nhường đường cho tôi. “Cháu vào nhà đi.”
Tôi xách cái giỏ đi vào bếp và phải cố gắng lắm mới không bật khóc khi bà Hudson ôm hôn tôi. Tôi ôm lại bà, thật chặt, và đặt đôi môi run rẩy lên má bà, chỉ để bà biết rằng tôi vẫn là cô bé Mary Russell, rồi sau đó tôi chỉnh đốn lại tác phong.
Bà Hudson bày la liệt các món ăn lên bàn, luôn miệng kể về con tàu mà mình đã đi, về kênh đào Suez, về Bombay và về gia đình của cậu con trai trong khi tôi xếp đầy thức ăn vào đĩa của mình.
“Sao cháu lại bị thương ở đầu thế hả Mary?” Cuối cùng thì bà cũng hỏi tôi.
Tôi định pha trò một chút, kể lại chuyện cô sinh viên đãng trí đâm sầm vào cột đèn đường, nhưng có vẻ câu chuyện chẳng được hài hước cho lắm. Bà Hudson cười gượng gạo và nói rằng bà thấy mừng vì mắt tôi đã không sao, còn Holmes nhìn tôi như thể tôi là một mẫu vật dưới cái kính lúp của ông ấy. Bà Hudson xin phép rời khỏi phòng ăn, để chúng tôi lại một mình.
Holmes và tôi cùng uống trà, đồ ăn trên đĩa hầu như còn nguyên. Tôi kể cho ông ấy nghe những gì mình đang làm trong học kỳ này, ông ấy cũng hỏi tôi một vài câu lấy lệ. Rồi im lặng. Tôi đánh liều hỏi ông ấy làm gì trong thời gian qua, thế là ông ấy kể cho tôi về một thí nghiệm đang dở dang. Tôi hỏi thêm vài câu nữa để duy trì câu chuyện, và ông ấy lần lượt trả lời, không mấy hào hứng. Cuối cùng Holmes đặt tách trà xuống và lơ đãng chỉ tay về hướng phòng thí nghiệm.
“Cháu có muốn xem không?”
“Vâng, chắc chắn rồi ạ, nếu ông muốn cho cháu xem.”
Chúng tôi đứng lên và đi đến căn phòng thí nghiệm kín bưng. Holmes đóng cánh cửa lại. Ngay lập tức tôi nhận ra chẳng có thí nghiệm nào đang được làm trong căn phòng này cả, tôi quay sang định thắc mắc thì thấy ông ấy đứng tựa vào cánh cửa, hai tay đút túi quần. “Chào cháu, Russell,” ông ấy chào tôi, gương mặt quen thuộc nhìn thẳng vào tôi, và tôi không thể chịu đựng được ánh nhìn ấy. Tôi quay lưng lại, hai bàn tay nắm chặt, mắt nhắm nghiền. Như vậy mới không phải nhìn thấy ông ấy, không phải nói chuyện với ông ấy, và tôi có thể diễn tiếp vai diễn của mình. Một giây sau tôi nghe thấy hai tiếng gõ nhẹ lên cánh cửa, tôi bèn mỉm cười nhẹ nhõm. Holmes hiểu. Ông ấy đẩy một cái ghế cao đến chỗ tôi, và tôi ngồi xuống, mắt vẫn nhắm.
“Chúng ta có khoảng năm phút,” ông ấy nói.
“Ông đang bị theo dõi, cháu thấy vậy.”
“Chúng theo dõi mọi chuyển động của ta, ngay cả khi ta ở trong phòng khách. Bọn chúng đã mua chuộc mấy người hàng xóm của ta và đặt kính viễn vọng ngay trên những cái cây ngoài kia. Thậm chí chúng còn quan sát miệng ta để đoán xem ta nói gì. Will nói với ta rằng hình như có một kẻ bị điếc đang lảng vảng quanh thị trấn.”
“Bác Patrick cũng kể với cháu rằng bọn chúng đã dò hỏi về cháu, và cả về ông nữa.”
“Ừ, bọn chúng có vẻ chắc chắn lắm. Và ta nghĩ là cháu cũng đang bị theo dõi đấy.”
“Cháu nhìn thấy bọn chúng từ hai tuần trước, hai gã và một ả. Rất khá. Rồi có năm chiếc ô tô bám theo cháu đến tận đây. Ả cầm đầu có vẻ có rất nhiều tiền.”
“Chúng ta đều biết điều đó.” Hình như Holmes đang nhìn chằm chằm vào lưng tôi. “Cháu vẫn ổn chứ, Russell? Cháu dễ phải sút đến ba ký từ tháng Giêng đến giờ, và trông còn có vẻ thiếu ngủ nữa.”
“Không, chỉ khoảng hai ký rưỡi thôi, và cháu vẫn ngủ mà. Chỉ là cháu hơi bận.” Giọng tôi chỉ còn là tiếng thì thầm. “Holmes à, cháu ước gì chuyện này đã kết thúc rồi.” Tôi cảm nhận được ông ấy đang ở ngay sau lưng, bèn đứng bật dậy. “Không, đừng lại gần cháu, cháu không chịu nổi đâu. Và có lẽ cháu sẽ không đến đây thêm lần nào nữa. Ở Oxford không có chuyện gì xảy ra với cháu cả, nhưng đừng bắt cháu về đây cho đến khi nào chuyện này kết thúc. Xin ông đấy.”
Sự im lặng từ phía Holmes tỏa ra như từng đợt hơi nóng, và rồi một giọng nói trầm khàn cất lên - giọng nói mà từ trước đến giờ tôi chưa từng được nghe. “Được rồi,” ông ấy nói. “Được rồi, ta hiểu.” Ông ấy dừng lại, hắng giọng, và thở dài một tiếng trước khi nói tiếp bằng giọng lưỡi sắc bén quen thuộc.
“Cháu nói rất đúng, Russell. Làm thế cũng chẳng mang lại điều gì cả. Chúng ta phải diễn tiếp thôi. Ta đã gửi cho Mycroft những con số La Mã, nhưng cả hai chúng ta vẫn không hiểu nổi dãy số đó. Ta biết nó phải mang ý nghĩa nào đó. Biết đâu cháu sẽ khám phá ra. Nó ở trong cái gói nhỏ trên ghế ngay trước mặt cháu kia kìa.” Tôi cầm lấy cái phong bì màu nâu ngoại cỡ và nhét vào túi áo.
“Giờ chúng ta phải quay trở lại phòng khách, Russell. Chúng ta có khoảng mười phút để tiếp tục diễn kịch, và cháu sẽ phải tỏ ra tức giận rồi rời khỏi đây trước khi bà Hudson kịp mời cháu dùng bữa tối. Cháu hiểu chứ?”
“Vâng, Holmes.”
Ông ấy quay trở lại phòng khách, rồi vài phút sau tôi cùng trở ra. Chỉ chưa đầy hai mươi phút, chúng tôi bắt đầu nói những lời chê bai cạnh khóe, và ngay sau sáu giờ tối, tôi đã đóng sầm cánh cửa bỏ ra về, chẳng thèm chào tạm biệt bà Hudson và phóng xe ầm ầm ra khỏi lối đi. Đi được hai dặm, tôi dừng xe và gục đầu xuống tay lái trong một lúc. Mọi chuyện diễn ra quá thật!