Người tình của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 4831 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
img
img

Cô lập ả. Dù có ủ thức ăn và ủ ấm đi nữa thì ít ngày sau ả cũng sẽ chết... không phải vì đói, không phải vì rét, mà vì quá cô đơn.

Con tàu tăng tốc trước khi chúng tôi vào khoang chính. Tôi tắm rửa và sung sướng lột bỏ bộ quần áo trát đầy bụi bẩn, rin rít mồ hôi, lại còn chua lòm và xơ mòn cả chỉ. Sau một tiếng với ba lần thay nước tắm, tôi như được hồi sinh: móng tay được đánh trắng hồng, mái tóc được giải phóng khỏi lớp khăn quấn chặt và làn da trở nên đầy sức sống. Tôi mặc vội chiếc áo choàng thêu Kaftan1 dài, và trong lúc cảm thấy vô cùng thích thú khi lướt đi trên sàn nhà, được trở lại là một nàng thiếu nữ trong bộ áo thướt tha, tôi đi pha một bình trà lớn. Holmes đã tắm xong từ lúc nào và đang ngồi đọc tờ Times, khoác áo sơ mi và áo choàng sạch sẽ, như thể ông

[1]

ấy chưa bao giờ để râu ria lởm chởm, chưa từng ngủ cuộn tròn trong những tấm da dê, chưa bao giờ quan tâm đến những động vật địa phương đang cư trú trên da đầu mình... Tôi cầm lên một tách trà bằng sứ tinh tế và lặng lẽ cười thích thú.

Chợt có tiếng gõ cửa, và tiếng viên thuyền trưởng vọng vào.

“Buổi tối tốt lành, ông Holmes. Tôi vào được chứ ạ?”

“Mời vào, Jones, mời vào.”

“Chắc hẳn ông đã có chuyến đi vừa ý đến Palestine, đúng không ạ?” Jones hỏi.

“Những tâm hồn đơn giản thường thích những điều đơn giản mà. Còn anh thì sao, Jones?” Holmes hỏi. “Tôi hy vọng anh vừa trải qua một tháng Giêng đầy ý nghĩa, mặc dù có vẻ anh không đi biển nhiều cho lắm. Nước Pháp thế nào? Xây dựng lại rồi đúng không?” Một sự im lặng bao trùm, và khi tôi từ khu bếp đi ra, tôi nhìn thấy ánh mắt bối rối quen thuộc trên khuôn mặt viên thuyền trưởng.

“Làm thế nào mà ngài biết được tôi đã ở đâu? Ô, xin lỗi, buổi tối tốt lành, thưa cô.” Jones chạm tay vào vành mũ.

“Không có bí mật lớn lao nào đâu, Jones. Nước da của anh cho tôi biết anh không hay ra ngoài nắng kể từ khi tiễn chúng tôi đi, và mùi sáp thơm bôi tóc còn mới cùng cái đồng hồ trên cổ tay anh cho tôi biết anh đã ở Paris một ngày. Đừng lo lắng thế chứ,” Holmes vừa nói vừa cười tủm tỉm, “tôi không thuê gián điệp theo dõi anh, chỉ là những gì tôi quan sát được thôi.”

“Thật vui khi ông nói thế, ông Holmes. Nếu như ông thực sự theo dõi tôi thì một vài quý ông sẽ tiếp chuyện với ông đấy. Xin ông đừng phiền lòng, đó chỉ là công việc của tôi thôi.”

“Tôi hiểu, Jones, và tôi cũng khá thận trọng khi quan sát những việc nho nhỏ ấy.”

“Cẩn tắc vô ưu mà, thưa ông. À đúng rồi, có một bọc hàng nhỏ được chuyển đến cho ông. Một người đưa thư đã chuyển nó từ London đến đây vào tuần trước, đến tận tay tôi - tức là đến tận Paris.” Tôi đang đứng cạnh Jones và đang định với lấy cái bọc thì giọng nói của Holmes đã cắt ngang, sắc lạnh, gay gắt, và vô cùng uy quyền:

“Đừng đưa nó cho cô Russell, Jones. Cái bọc đó và tất cả những bưu phẩm trong thời gian tới sẽ được chuyển thẳng đến cho tôi, mình tôi thôi. Anh rõ chưa, thuyền trưởng Jones?”

Căn phòng im lặng đến nghẹt thở, Holmes đứng dậy và tiến về phía trước, lạnh lùng cầm lấy cái gói trên tay viên thuyền trưởng rồi đến bên cửa sổ mở nó ra. Jones nhìn chằm chằm phía sau lưng Holmes một thoáng rồi quay sang tôi vẻ sửng sốt. Tôi đỏ bừng mặt và lập tức quay lưng lại, đi về phía căn phòng của mình, đóng sầm cửa. Một phút sau, tôi nghe thấy tiếng cánh cửa bên ngoài đóng lại sau lưng viên thuyền trưởng. Trò chơi của chúng tôi bắt đầu.

Ít phút sau tôi nghe thấy hai tiếng gõ nhẹ ở cửa phòng mình. Tôi đứng dậy đến bên cửa sổ rồi mới trả lời. “Ông vào đi.”

“Russell, cái bọc này là... À, ta hiểu rồi. Ý chí đã sẵn sàng nhưng con tim thì chưa, đúng không?” Tại sao ông ấy có thể thấy rõ sự giằng xé trong tôi khi chỉ nhìn thấy lưng tôi chứ? Tôi không tài nào lý giải nổi.

“Không, không, chỉ là mọi việc quá đột ngột, và cháu thực sự bất ngờ.” Tôi quay lại nhìn thẳng vào ông ấy. “Cháu không nghĩ mình phải bắt đầu vai diễn nhanh đến thế này, nhưng có lẽ thế là tốt nhất. Giờ thì thuyền trưởng Jones đã bắt đầu nhận ra có điều gì đó không ổn, và cháu không biết là mình có diễn nổi phần cảnh này không. Cháu không phải là Sarah Bernhardt1 mà.” Tôi mỉm cười, có phần gượng gạo.

“Còn ta chỉ sợ rằng trước khi vở kịch này kết thúc... chúng ta sẽ phải trải qua không ít những khoảnh khắc đau buồn.”

“Lời thoại được viết ra rồi, chúng ta phải diễn thôi... Ông định nói gì về cái bọc của ông Mycroft?”

“Đây, cháu tự xem đi. Kẻ thù của chúng ta thật khôn ngoan không ai bằng. Ta thực sự ngưỡng mộ những chiêu thức của ả. Càng ngày ta càng thấy hứng thú với vụ này hơn, ta chưa từng thấy có vụ nào mà hàng loạt đầu mối lại chẳng dẫn đến đâu thế này. Có lẽ ta nên đi lấy cái tẩu thuốc.”

[2]

Cái bọc khá dày. Tôi bỏ qua năm phong bì thư dày cộp của bà Hudson với đủ loại tem được mua ở các trạm dừng chân khác nhau, để nhìn vào cái gói của ông Mycroft. Một tập dày bao gồm kết quả từ phòng thí nghiệm tại Sở cảnh sát phân tích những dấu vân tay trong cỗ xe, cái cúc với mảnh vải tuýt dính kèm, rồi những mẫu phân tích về ba quả bom. Riêng quả bom gài ở tổ ong được mô tả chi tiết nhất, và những mô tả ấy đã thay đổi bức tranh toàn cục. Người ta chỉ ra rằng số thuốc nạp đã bắt lửa không phải do Holmes, mà từ một sợi dây điện mỏng như sợi tóc ẩn dưới lớp cỏ, nối tổ ong Holmes đang kiểm tra với quả bom ở tổ ong cạnh đó. Người của ông Mycroft đã tìm thấy nó trong đống mảnh vụn.

“Ả không hề có ý định giết ông!”

“Thật mừng khi biết được điều đó. Chuyện này đã khiến ta suy nghĩ rất nhiều . Toàn bộ mục đích của việc giết cháu và Watson là làm ta đau đớn, vậy thì ta làm sao có thể đau đớn trước cái chết của hai người nếu như ta đã mất mạng rồi chứ? Điều này càng khẳng định rằng cháu sẽ được an toàn nếu như chúng ta tách nhau ra, coi như không còn liên hệ nào nữa. Ta sẽ sắp xếp một người bí mật bảo vệ bà Hudson khi bà ấy từ Úc trở về, còn việc bảo vệ Watson vẫn tiếp tục do Mycroft đảm nhận.”

Phần còn lại của tập tài liệu khá thú vị, nhưng không quan trọng bằng những gì tôi đã xem trước đó. Dấu vân tay trên quả bom ở Oxford là của gã đã chết, chỉ của gã mà thôi. Những dấu vân tay trên cỗ xe gồm dấu vân tay của Holmes, tôi, Billy - chủ nhân cỗ xe, và một gã đánh xe khác (hai người đó Lestrade đều đã thẩm vấn và thả ra), cộng thêm hai gã nữa, dấu vân tay của một gã trong số đó được xác định là khớp với dấu vân tay trên cái cúc áo. Gã đàn ông to lớn đã bị bắt vì bị buộc tội tấn công Billy và phá hủy cỗ xe, nhưng ngài Lestrade cho rằng hắn ta không chịu tiết lộ bất cứ thông tin nào về kẻ thuê mình. “Hắn dường như không sợ bị trừng phạt,” Lestrade viết, “chỉ đơn giản là kiên quyết không khai, dù mức án tù dài hạn đang treo lơ lửng trên đầu hắn. Cần phải lưu ý rằng vợ và hai đứa con trai tuổi teen của hắn gần đây mới chuyển đến một căn nhà mới, và dường như họ được hưởng một khoản tiền đến từ bên ngoài. Tài khoản ngân hàng của họ không có một giao dịch lớn nào, nhưng họ vẫn có một khoản tiền đáng kể để tiêu pha.”

Tôi ngẩng lên nhìn Holmes qua làn khói xám.

“Chúng ta lại có thêm một gã dốc lòng hy sinh cho gia đình nữa.”

“Cháu cứ đọc tiếp đi.”

Những tài liệu còn lại của Sở Cảnh sát liên quan đến John Dickson, cái gã đã mất mạng vì gài bom tại ngôi nhà của bác sĩ Watson. Hắn hình như lại thay đổi tâm tính. Trước đó, hắn đã sống rất vui vẻ cùng vợ con và làm việc cho một hãng kinh doanh về âm nhạc của bố vợ . Khoảng sáu tuần trước khi xảy ra vụ việc, hắn được thừa hưởng một gia tài kha khá từ một người họ hàng xa không may qua đời tại New York. Theo lời kể của người vợ, hắn đã nói với cô ta rằng số tài sản đó được chia thành hai phần , có giá trị như nhau, phần thứ hai sẽ được nhận trong vòng bốn đến năm tháng tới. Hắn bắt đầu nói đến chuyện học đại học với bọn trẻ, phẫu thuật chân cho một đứa con, và cả gia đình dự định sẽ đến Pháp nghỉ ngơi vào mùa hè năm sau. Tuy nhiên, khi nhận được nửa số tiền đầu tiên, Dickson bắt đầu trở nên mờ ám. Hắn lắp một ổ khóa ở cửa nhà kho phía sau rồi ở lì trong đó hàng tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng hắn lại biến mất một hai ngày rồi trở về nhà trong bộ dạng bẩn thỉu và mệt lử, nhưng lại phấn khích lạ thường. Một đêm thứ Bảy vào giữa tháng Mười hai, hắn rời khỏi nhà và nói với vợ rằng hắn phải đi xa vài ngày. Lẽ ra hắn không bao giờ nên đi chuyến đó. Người vợ đã cố gắng thuyết phục hắn ở lại, đó là khoảng thời gian bận rộn nhất trong năm, hắn cần phải ở nhà để cai quản cửa hàng, nhưng hắn cực kỳ cương quyết.

Sáng sớm thứ Năm thì hắn mất mạng. Một tuần sau, một số tiền lớn được rút dưới tên vợ gã, được chuyển tới từ một ngân hàng tại New York. Cảnh sát đã phát hiện rằng cách đó vài tuần có một phụ nữ đã mở tài khoản này nhằm mục đích chuyển tiền. Lạ một cái là khoản tiền thứ hai này nhiều gấp đôi so với khoản tiền thứ nhất, chứ không phải bằng nhau như Dickson nói. Sau hai lần rút tiền thì tài khoản đó rỗng không, và bây giờ nó đã bị khóa. Lestrade kết luận rằng dù chuyện này có vẻ bất bình thường, nhưng chúng ta vẫn chưa thể chứng minh số tiền đó có liên quan tới vụ đánh bom, và cô vợ góa vẫn được phép giữ số tiền đó.

“Ông nghĩ sao về số tiền còn lại, Holmes? Có phải là một sự cắn rứt lương tâm không nhỉ?”

“Sự tử tế đã ảnh hưởng đến não cháu rồi, Russell. Vụ giết người nào chẳng có kế hoạch kỹ càng từ trước!”

“Vâng, tất nhiên ạ. Số tiền ban đầu đã được chuyển theo kế hoạch. Nhưng chắc chắn kẻ lên kế hoạch không phải Dickson.”

“Chúng ta phải hỏi Lestrade về diễn biến tâm lý của Dickson trước khi gã mất mạng.”

“Ông đang nghĩ đến khả năng một vụ đánh bom liều chết? Đổi lại, số tiền đó sẽ được gửi hết cho vợ con hắn?”

“Bất kể là gì, nó cũng làm sáng tỏ thêm một mặt thú vị nữa trong tính cách kẻ thù của chúng ta. Ả thuộc loại người giao thiệp và hoạt động tầm cỡ quốc tế - khoản tiền lớn chuyển từ Mỹ đã chứng tỏ điều đó - nhưng ả vẫn hoàn thành thỏa thuận với một gã đàn ông đã chết. Trên tất cả mọi điều mà chúng ta biết về ả, ả là một kẻ giết người thật đáng nể phục. Cực kỳ khôn khéo và tinh vi.”

Tôi nhìn lại cái gói, còn có một bản sao bằng giấy than rất mờ về vụ đánh bom, vài bức ảnh lớn chụp cỗ xe và khu nhà vệ sinh nữ, và một lá thư từ ông Mycroft. Tôi liếc nhìn, gạt những bức ảnh sang bên, rồi bắt đầu đọc những dòng chữ viết tay của Mycroft. Phần đầu của lá thư liên quan đến vụ đánh bom. Ông ấy cũng cho đó là hành động của Dickson, đồng thời nói thêm rằng ngòi nổ đó được sản xuất tại Mỹ trước năm 1909 và mới được bày bán ở London vài tháng trước. Rồi ông ấy tiếp tục đề cập đến cái gã đã bắn chúng tôi tại Sở Cảnh sát, không biết gã có phải là quý ông mà bà mẹ đẩy xe nôi qua cầu nhìn thấy hay không. Bà ấy đã thấy gã vội nhét một thiết bị rất phức tạp, trông như cái máy ảnh của một tay thợ ảnh đường phố, nhưng lại có nắp đậy và bánh xe, vào ghế sau một chiếc taxi rồi nổ máy phóng đi. Mycroft viết:

"Tôi nhận thấy ở đây có dấu vết đánh lạc hướng rõ ràng. Ngay sau khi chúng ta nghe thấy âm thanh như tiếng súng ấy, một chiếc xuồng hơi nước đã lao vọt đi trên sông - chiếc xuồng này được một kẻ nặc danh thuê. Liên quan đến kẻ đang săn đuổi chú, kẻ ấy đã lộ diện một lần rất hiếm hoi, nhưng theo cách như sau: ba ngày trước, khi tôi đang trên đường về Câu lạc bộ thì một gã trông vô cùng gớm guốc với gương mặt sẩn sùi như cóc đi sát vào tôi, vẻ như tình cờ, lẩm bẩm ở khóe cặp môi mỏng dính rằng gã muốn chuyển đến chú một lời nhắn. (Tôi ước gì chú đã sắp xếp cho những kẻ như thế này trực tiếp gửi thư cho chú. Chắc chúng bị mù chữ. Mà chúng không được hướng dẫn cách dùng điện thoại hay sao?) Đại khái lời nhắn của gã là: Kẻ thuận tay trái nói Glasgow Rangers với ong và mật ong trong thị trấn, trò đánh đáo sấp ngửa đang là rắc rối và xung đột của ai đó. Hết.

Tôi nghĩ điều này sẽ khiến chú quan tâm.

Nhân đây, gửi đến chú lời chúc mừng nồng nhiệt nhất về thành công của chuyến đi Palestine, tôi không mong gì hơn, nhưng Bộ trưởng và Thủ tướng thì hết sức phấn khởi. Tôi cho rằng khi tên của chú được ghi vào danh sách các nhân vật tiêu biểu của năm sau thì chú sẽ phải nhờ tôi gạch bỏ nó đi đấy.

Tôi tin rằng lá thư này sẽ đến được tận tay hai người.

Tôi cũng đoán trước được là hai người sẽ quay trở lại.

Mycroft."

Tôi rời mắt khỏi những dòng cuối cùng của lá thư để nhìn lên đoạn phía trên.

“Glasgow Rangers? Ong và mật ong?”

“Đó là kiểu nói lóng của khu đông London. ‘Glasgow Rangers’ chỉ những kẻ lạ mặt; ‘ong và mật ong’ nghĩa là tiền, ‘trò đánh đáo sấp ngửa’ ám chỉ tên trùm, ‘rắc rối và xung đột’ tức là vợ - một người phụ nữ. Những kẻ lạ mặt mang theo một số tiền lớn, và, kẻ cầm đầu là một mụ đàn bà.”

Tôi trầm ngâm gật đầu, đặt lá thư xuống rồi cầm những bức ảnh lên, trải chúng lên chiếc bàn thấp kê trước ghế sofa và tỉ mỉ xem xét chúng. Người chụp những bức ảnh này đã chụp toàn bộ bên trong cỗ xe, bức đầu tiên là từ lúc mới phát hiện ra sự việc, bức thứ hai là sau khi tôi đã mang đống vải vụn ra khỏi hiện trường. Tôi xót xa nhớ về chiếc váy lụa xanh mềm mại khi nhìn thấy một mảnh gấu tay của nó trong bức ảnh.

“Chúng phá hủy mọi thứ nhằm mục đích gì chứ,

[3]

[4]

Holmes? Tại sao lại cắt nát toàn bộ số quần áo, mà không phải chúng ta? Ngay cả Billy cũng không hề bị thương quá nặng. Cháu mở cửa sổ hé ra một chút nhé?”

“Trong này có vẻ hơi ngột ngạt nhỉ? Được thôi. À không, tốt hơn hết là cháu nên đóng cửa sổ lại, để không ai nghe thấy những gì chúng ta nói. Tại sao lại vậy, chẳng lẽ bọn chúng lại bằng lòng với mấy bộ quần áo và những tấm đệm bên trong một chiếc xe ngựa cũ kỹ thôi sao? Trừ khi ả muốn đánh động cho chúng ta rằng ả biết chúng ta đang ở đâu, và có thể dễ dàng ‘khử’ chúng ta như đã làm thế với số quần áo. Cuối cùng, rõ là ả đã cười nhạo chúng ta khi để chúng ta tự lần thấy những vết chân đi theo kiểu giật lùi, và chốt hạ bằng những vết bùn ở khu phố Baker. Rõ ràng là thế, nhưng đó có phải là tất cả không? Ta không nghĩ vậy, hãy nhìn kỹ những vết rạch trên ghế ngồi, ngay đây. Cháu có thấy gì không?”

Tôi nhìn những ghế ngồi bị rạch nát, những vết cắt giao nhau, hoặc chụm lại ở một đầu, hoặc chạy song song. Tôi gỡ cặp kính để sang bên và nheo mắt lại, cố nhìn thật kỹ vào những hình ảnh màu đen xám. “Ông đưa cây bút chì và tập giấy cho cháu được không,” tôi cất giọng hào hứng. Hai vết cắt đầu tiên giao nhau ở ngay chính giữa, nên tôi viết một chữ X lên tập giấy. Hai vết tiếp theo giao nhau ở một điểm thấp hơn, tôi bèn viết chữ V. Sau khi thảo luận với Holmes, tôi đã viết được một dãy X, V, I, và đây là dòng chữ thẳng tắp đó:

XVXVIIXXIIXIIXXIIXXIVXXXI

“Những chữ số La Mã ạ?” tôi thắc mắc. “Nó có ý nghĩa gì với ông không?”

Holmes đang nhìn chăm chú vào tờ giấy với vẻ rất nghiêm túc. Tôi nhận thấy ông ấy cũng chưa đoán ra điều gì, nên tôi lại đeo kính vào và ngồi lùi ra sau.

“Một dãy gồm hai mươi lăm chữ số La Mã. Liệu nó có cho biết thêm điều gì không nhỉ?” Tôi nhẩm tính trong đầu, mười cộng năm rồi cộng thêm mười nữa... “Một trăm bốn mươi lăm, nếu như chúng được tạo thành từ hai mươi lăm chữ số tách biệt nhau. Tất nhiên, chúng cũng có thể là mười lăm, mười bảy, hai mươi hai, mười hai, vân vân.”

“Nếu như thế thì tổng dãy số là bao nhiêu?”

“Không khác nhiều lắm, đúng như bản chất của những con số La Mã, để cháu xem nào... 143 ạ.”

“Rất thú vị. Con số ở giữa chúng sẽ là 144, là 12 nhân 12.”

“Tổng hai kết quả là 288, đó chính là số đô-la mà bố cháu đã đặt trên bàn làm việc trước khi ông qua đời. Holmes à, trò chơi này sẽ tiếp diễn mãi mãi mất.”

“Nếu như chúng ta chuyển những con số này thành những chữ cái, hay những mật mã đơn giản hơn thì sao nhỉ?”

Chúng tôi viết nguệch ngoạc ra giấy và cố suy nghĩ, nhưng đều không thể nghĩ nổi điều gì. Đọc chúng thành 15, 17, 22, 12, 22, 24, 20, 11 rồi chuyển thành cụm chữ cái OQVLVXTK lộn xộn, chúng tôi chẳng tìm được sự kết hợp nào có nghĩa. Cuối cùng tôi gạt tất cả sang một bên.

“Có quá nhiều biến số, Holmes ạ. Nếu không có một ‘chìa khóa’ thì chúng ta không thể nào biết nó là một từ, một mã két sắt, hay một tọa độ bản đồ... ”

“Ả không để lại chìa khóa nào cho chúng ta. Vậy ả có thể giấu nó ở chỗ nào nhỉ?”

“Theo như phong cách của ả, hẳn là chìa khóa vừa có vẻ được giấu kín lại vừa hiển hiện rõ ràng ngay trước mắt chúng ta - nơi nguy hiểm vốn là nơi an toàn nhất mà.”

Lúc đó đã khá muộn, và hai mi mắt tôi bắt đầu nặng trịch.

“Cháu đồng ý là ả đang cố thể hiện rằng mình thông minh. Không biết đường kiếm tiếp theo của ả sẽ là gì. Cắt phăng cái mũi của bác sĩ Watson đi để chứng tỏ rằng ả cũng có thể lấy được cái đầu của bác ấy ư?”

“Điều quan trọng là những nước di chuyển hiện tại của ả. Ả sẽ cảnh giác trong bao lâu trước khi cho rằng đó có thể không phải là một cái bẫy, rằng thật sự chúng ta đã tách riêng và việc bị thương đã biến ta thành một kẻ tàn phế hoàn toàn? Việc thủ tiêu đơn thuần có vẻ không phải là những gì ả muốn. Ả muốn ta phải thất bại và suy sụp trước tiên. Được thôi, chúng ta sẽ để ả làm được điều đó, và đợi ả hành động.”

Holmes cẩn thận nhét đám giấy cùng mấy bức ảnh vào cái phong bì khổ lớn rồi nhìn xuống tôi.

“Ừm, Russell, cảm ơn cháu đã cho ta biết về Palestine.

Đúng là phải lâu, lâu lắm rồi chúng ta mới có thể nói chuyện với nhau thoải mái thế này. Chúc cháu ngủ ngon, và tạm biệt cháu, chúng ta sẽ gặp lại nhau khi con mồi cắn câu và sa bẫy." Holmes đặt nhẹ môi lên trán tôi, rồi rời đi.

Theo cách đó, chúng tôi bắt đầu hành động. Holmes và tôi chỉ có vài ngày để hoàn thiện vai diễn của mình: hai người bạn giờ quay ra chống lại nhau, hai cha con giờ bỗng trở nên xa cách, hai con người thương mến nhau giờ trở thành kẻ thù không đội trời chung... Phải mất khá nhiều thời gian để chúng tôi nhập vai của mình, để tìm hiểu sắc thái cũng như các thói quen của nhân vật mà mình sẽ vào vai. Chúng tôi phải thuộc làu làu lời thoại trước khi về Anh để cái bẫy giăng ra có khả năng dính mồi nhất. Bất cứ khoảnh khắc nào chúng tôi cũng bị theo dõi, và một sơ suất nhỏ thôi cũng có thể trở thành tai họa.

Một điều rất rõ ràng trong nghệ thuật diễn kịch là một diễn viên chỉ có thể đảm nhận một vai trên sân khấu. Để đạt được hiệu quả tốt nhất thì diễn viên phải thực sự đồng cảm với nhân vật của mình, mặc dù người ngoài có thể sẽ không thiện cảm với nhân vật đó. Nói cách khác, người diễn viên gần như phải hóa thân thành nhân vật, và đó là những gì mà Holmes và tôi đang làm. Từ sáng sớm đến giờ, chúng tôi không diễn vai kẻ thù của nhau, mà là kẻ thù thực sự. Khi chúng tôi gặp nhau, thái độ lạnh lùng sẽ nhanh chóng chuyển thành sự công kích dữ dội từ hai phía. Tôi vào vai một cô học trò bắt đầu nhìn ông thầy già của mình với ánh mắt coi thường, khinh miệt. Holmes đáp lại bằng một cuộc phản công cay độc với những lời mỉa mai sắc như dao. Chúng tôi khiến đối thủ bị tổn thương thực sự bởi miệng lưỡi của mình, rồi lẳng lặng rút về khoang cá nhân và rồi trở lại với những cuộc đấu khẩu gay gắt hơn.

Ngày đầu tiên thật chẳng dễ dàng gì, chúng tôi vẫn để con người thật của mình hiển lộ, và cứ miên man với suy nghĩ: nếu thực sự rơi vào trường hợp này thì mình sẽ phải làm thế nào? Sẽ phản ứng ra sao? Tôi thấy mệt rũ ra và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Ngày thứ hai mọi chuyện có vẻ dễ dàng hơn. Holmes giấu kín bản thân dưới lớp mặt nạ và tôi cũng vậy. Tôi trở về phòng khá sớm để đọc sách nhưng không thể tập trung được. Đầu óc tôi như ở trên mây. Tôi đang làm cái quái gì ở đây thế? Đáng lẽ giờ này tôi phải ở Oxford chứ đâu phải là trên chiếc thuyền này? Tôi đang lãng phí thời gian của mình để làm những việc không đâu. Hay tôi nên bảo ông thuyền trưởng cho tôi xuống khi thuyền đến nước Pháp và tôi sẽ bắt tàu quay về nhà nhỉ? Chắc chắn sẽ nhanh hơn, và cũng sẽ yên bình thoải mái hơn...

Đột nhiên tôi giật mình hoảng hốt. Đây không phải là những suy nghĩ của diễn viên nữa, mà là của chính nhân vật. Chỉ trong chớp mắt, tôi đã hóa thành nhân vật mà tôi phải vào vai suốt cả ngày hôm nay. Tôi ngồi đó, thất kinh trước điều mình vừa phát hiện: nếu chưa đầy bốn mươi tám tiếng mà đã xảy ra chuyện đó, thì sau cả tuần liền tôi sẽ ra sao? Tôi có đủ khả năng thoát khỏi vai diễn không đây? Hoặc, Chúa ơi, biết đâu nó sẽ trở thành một thói quen ăn sâu đến nỗi tôi khó mà bỏ được?

Tôi trở dậy, vào phòng lớn để lấy thêm chút rượu brandy. Holmes cũng ở đó, ông ấy lặng lẽ đi ngang qua chỗ tôi, trở về phòng mình. Tôi đứng trong bóng tối, nhìn ra biển đêm cho đến khi cốc rượu cạn lúc nào không hay, rồi quay trở lại hành lang. Cánh cửa phòng Holmes đang khép hờ, tôi bước rón rén tới rồi dừng hẳn lại, dựa vai và đầu vào tường.

“Holmes?”

“Russell à?”

“Holmes à, khi ông phải diễn một vai trong nhiều ngày liền, ông có thấy khó khăn khi trở lại là chính mình không?”

“Đúng là sẽ rất khó khăn khi từ bỏ một vai diễn.” Giọng Holmes điềm tĩnh. “Cách đây vài năm, ta đã hóa trang thành một công nhân làm việc trên bến tàu một tuần liền, và khi tên tội phạm đã bị bắt, ta vẫn cứ mặc trang phục đó, ra ngoài đường như thường lệ, và cứ thế mà đi bộ xuống khu phố Oxford trước khi trở lại chính mình. Đúng vậy, một vai diễn có thể sẽ thành một thói quen. Cháu không biết sự rủi ro đó sao?”

“Không ạ.”

“Cháu đang làm rất tốt, Russell à. Dần dần rồi mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn.”

“Đó chính là điều cháu lo sợ, Holmes,” tôi thì thầm. "Mất bao lâu thì cháu mới có thể vào vai thật tự nhiên? Mà đến khi ấy, làm sao cháu có thể khách quan tỉnh táo để nhận ra những dấu hiệu để lộ mình của kẻ thù?”

“Khi thời cơ đến, cháu sẽ làm được điều đó. Ta tin vào cháu, Russ.”

Những lời giản dị của Holmes đã giúp tôi lấy lại được niềm tin và sự vững vàng trong cơn bão lòng. “Cháu rất vui vì ông đã tin tưởng cháu, Holmes,” tôi nói, “cháu xin ngả mũ trước kinh nghiệm bậc thầy của ông.”

Tôi có thể cảm thấy nụ cười của ông qua khung cửa.

“Thỉnh thoảng ta sẽ gửi thư cho cháu khi cháu về Oxford. Và cháu cũng thi thoảng viết vài dòng cho bà Hudson khi bà ấy từ Úc trở về nhé.”

“Ông cho rằng sẽ an toàn khi để bà ấy quay về Sussex ư?”

“Ta không biết làm thế nào nữa. Trên thực tế, Mycroft đã bắt cóc bà ấy để ép được bà ấy lên tàu – bà Hudson là người rất kiên quyết mà. Vậy thì chúng ta sẽ thuê thêm một hoặc hai người giúp việc nữa. Tất nhiên, sẽ là nhân viên của Mycroft.”

“Tội nghiệp bà Hudson. Bà ấy sẽ buồn lắm nếu biết chúng ta quay ra cãi nhau như thế này.”

“Ừ. Nhưng Mycroft sẽ là một cầu nối an toàn. Chúng ta chẳng giấu được ông ấy điều gì cả. Tuy nhiên, ta e chuyện này cũng gây ra cho Watson những tổn thương lớn. Hy vọng chuyện này sẽ không kéo dài quá lâu.”

“Ông nghĩ chuyện này có thể sẽ kéo dài quá lâu ư?” Ôi Chúa ơi!

“Ta tin kẻ thù của chúng ta là một nhân vật cẩn thận và kiên nhẫn. Ả sẽ không hành động một cách hồ đồ đâu.”

“Như mọi khi, ông luôn luôn đúng.”

“Ta còn e rằng bà cô của cháu sẽ rất vui mừng đấy. Tất nhiên, trang trại của cháu... cần phải có một chuyến đi đặc biệt đến Sussex.”

“Chắc chắn rồi.” Tôi suy nghĩ trong chốc lát. “Holmes à, một chiếc xe hơi sẽ giúp ích đáng kể cho chúng ta trong chuyến đi này. Nhưng cháu không thể lại mượn tiền của bà Hudson được, mà cô cháu sẽ chẳng chấp nhận phí tổn này đâu. Năm nay tiền trợ cấp của cháu nhiều hơn, nhưng vẫn không đủ để chi trả.”

“Mycroft có thể giúp chúng ta. Ông ấy sẽ thuyết phục người được ủy thác trông nom cháu và ban giám hiệu trường đại học rằng một chiếc xe hơi là thứ phương tiện cần thiết để cháu có thể đến trang trại của ta một vài lần nhằm thực hiện nỗ lực hòa giải.”

“Điều đó chắc chắn sẽ thất bại.”

“Tất nhiên.” Tôi tưởng tượng được nụ cười thoáng hiện trên khuôn mặt ông ấy. “Đây là một cái bẫy tinh vi mà chúng ta đang tạo ra, Russell, đơn giản mà hiệu quả. Chỉ cần kiên nhẫn, kiên nhẫn và tỉnh táo trước những động tĩnh của con mồi. Chúng ta sẽ tóm được ả, Russell. Ả không phải là đối thủ của chúng ta. Bây giờ thì đi ngủ thôi.”

“Vâng. Cảm ơn ông, Holmes.”

Tôi lên giường, chìm vào giấc ngủ, nhưng đến quãng nửa đêm về sáng thì một giấc mơ ập đến với tôi, khủng khiếp hơn bất cứ giấc mơ nào tôi gặp trong suốt mấy năm qua. Khi tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm trên sàn nhà, người co rúm lại, hai tay ôm lấy đầu, la hét inh tai trong sự tuyệt vọng và kinh hoàng tột độ. Những triệu chứng cũ lại ùa về: tôi thấy lạnh toát sống lưng, cả người đầm đìa mồ hôi, chất gì đó chua lòm trào lên trong họng, tim đập thình thịch còn phổi thì nặng trĩu. Đúng lúc ấy cửa phòng tôi bật tung ra, rồi Holmes quỳ xuống bên tôi và đặt đôi bàn tay mạnh mẽ lên vai tôi.

“Russell, có chuyện gì vậy?”

“Ông đi đi, hãy đi đi, hãy để cháu được yên.” Giọng nói tôi khản đặc và cổ họng thì đau rát. Tôi loạng choạng đứng dậy, Holmes bèn đỡ tôi ngồi xuống giường. Tôi ngồi đó, hai tay ôm lấy đầu và cố gắng xua đuổi cơn mơ, toàn thân thả lỏng. Holmes vẫn ở đó, thắt lại dây lưng áo ngủ, đưa tay vuốt lại mái tóc, và tôi cảm thấy ánh mắt ông đang khoan sâu vào gáy mình. Cuối cùng, ông ấy rời khỏi phòng tôi nhưng không đóng cửa phòng, rồi khoảng một phút sau ông ấy quay lại, một tay cầm ly, tay kia cầm túi thuốc lá. Ông ấy đưa cái ly về phía tôi.

“Uống đi.”

Tôi ngạc nhiên - đó không phải là rượu mà là một ly nước mát ngọt ngào, ngọt hơn cả rượu mật ong. Tôi đặt cái ly đã hết sạch nước lên bàn, tay tôi đã bớt run hơn, và rùng mình vì lúc này mồ hôi đã khô hết.

“Cảm ơn Holmes. Cháu xin lỗi vì đã lại đánh thức ông. Ông về phòng ngủ tiếp đi.”

“Nhớ đắp kín chăn, Russell, không là sẽ cảm lạnh đấy. Nếu cháu đồng ý, ta sẽ ngồi đây thêm một lúc nữa.”

Holmes bê một cái ghế đến đầu giường, ngồi xuống đó rồi lấy tẩu. Tôi nằm cuộn mình lại, lắng nghe những âm thanh quen thuộc khi Holmes nhét thuốc rồi châm lửa: tiếng nạo vét và gõ nhè nhẹ khi ông ấy lau nõ tẩu, tiếng sột soạt của túi thuốc, tiếng lách cách của bao diêm, tiếng quẹt thật nhanh, tiếng rít khe khẽ, và một vài tiếng thổi phù nhẹ nhàng. Mùi lưu huỳnh hăng hắc cùng mùi thuốc lá ngòn ngọt tràn ngập căn phòng, và Holmes ngồi đó, với một vẻ khiêm nhường kín đáo.

Tâm trí tôi dần dần định thần lại và quay trở về với giấc mơ. Tôi từng đọc nhiều tác phẩm của Freud, Jung cùng những học giả châu Âu khác viết về phân tâm học - sự thôi miên, sự tự lý giải bản thân, những biểu tượng giấc mơ... - để tìm hiểu về sự trỗi dậy của dòng tiềm thức. Tôi đã phân tích nó, mổ xẻ nó, rồi dồn toàn tâm toàn lực chống lại nó. Thậm chí tôi còn cố gắng lờ nó đi. Nhưng, dù thế nào, cuối cùng những cơn ác mộng vẫn quay trở lại, ném tôi xuống tận cùng địa ngục đau đớn.

Nhưng tôi không muốn kể chuyện này cho ai. Một buổi sáng, cô tôi cứ luôn miệng hỏi tôi về “cơn ác mộng”, như đỉa đói vậy, thế là tôi nổi cáu và hạ đo ván cô ấy ngay trên sàn nhà. Hàng xóm láng giềng cứ bàn tán ầm ĩ về chuyện đó, còn tôi thì vùi đầu vào học để quên đi. Mỗi lần nghĩ đến việc tôi sẽ kể chuyện này cho ai đó, rồi phải nhìn thấy nét mặt của họ ngay khi nghe xong câu chuyện, tôi lại chẳng muốn mở miệng tẹo nào. Nhưng bây giờ, khi cơn kinh hoàng tột độ vừa qua đi, tôi chợt cảm thấy những từ ngữ đang dần dần dâng lên trong miệng. Rồi, chậm rãi, chúng tuôn ra khỏi miệng tôi, vang lên trong căn phòng tối lờ mờ.

“Em trai cháu, nó là một thần đồng. Ba tuổi đã biết đọc, năm tuổi biết làm các bài hình học phức tạp. Nó rất có tiềm năng. Nó mất năm mới lên chín tuổi, nhỏ hơn cháu năm tuổi. Và cháu, cháu... đã giết nó.” Giọng nói khàn khàn của tôi nhỏ dần, chỉ còn âm thanh ù ù của động cơ tàu và tiếng tẩu thuốc rít nhè nhẹ. Holmes không hề phản ứng gì. Tôi quay lưng lại, đưa tay lên che mắt, như thể ánh sáng từ phía căn phòng lớn sẽ làm đau chúng, nhưng sự thật là tôi không đủ can đảm để nhìn thẳng vào khuôn mặt Holmes khi kể cho ông ấy nghe về chuyện này.

“Cháu đã gặp... gặp giấc mơ đó. Chỉ là nó không phải một giấc mơ, mà là một ký ức, mỗi phút trôi qua đều thật mệt mỏi và kinh hoàng. Cả nhà cháu đang trong một chiếc xe, chạy dọc theo bờ biển phía Nam San Francisco. Bố cháu sẽ gia nhập quân đội vào tuần sau đó. Ông ấy đã bị loại vì một bên chân không bình thường, nhưng cuối cùng ông ấy cũng thuyết phục được họ...” tôi cười chua chát. “Gia đình cháu định đi tận hưởng kỳ nghỉ cuối cùng tại ngôi nhà gỗ trong rừng. Năm ấy cháu mười bốn tuổi, cháu muốn đi chơi với đám bạn cùng lớp đến vùng Yosemite, nhưng lại phải đi cùng bố mẹ. Em trai cháu vốn nghịch như quỷ, mẹ cháu thì đang buồn chuyện bố cháu sẽ phải xa gia đình vì nhập ngũ, còn bố cháu thì toàn nghĩ về chuyện công việc với quân đội. Thật là một chuyến đi vui vẻ làm sao! Đường xá ở đó rất xấu, một vài chỗ còn chạy ngoằn ngoèo trên đỉnh những vách đá nhô ra Thái Bình Dương. Và, khi đến một góc quẹo sang trái bị khuất, thì cháu hét ầm ĩ lên với em cháu. Bố cháu phải quay lại nhắc chúng cháu hãy trật tự, và cái xe bị chệch khỏi làn đường. Bất chợt có một cái xe nữa cũng quẹo ở khúc cua, với tốc độ rất nhanh, và nó đâm thẳng vào xe của gia đình cháu. Chiếc xe quay tròn, cháu bị văng ra ngoài, và hình ảnh cuối cùng cháu nhìn thấy là đường nét mờ mờ của đầu em trai cháu qua cửa kính sau xe khi chiếc xe lao xuống vực. Bố cháu đã đổ đầy bình xăng trước đó. Không còn ai nữa. Chẳng còn một ai. Những gì còn sót lại chỉ đủ để tổ chức một lễ tang.” Im lặng.

Tại sao tôi lại kể cho Holmes nghe chuyện này cơ chứ? Tôi thấy trống rỗng, chết lặng, xung quanh tôi giờ chỉ còn tiếng gió gào rít và tiếng hàm răng tôi nghiến chặt vào nhau. Cơn ác mộng đã vượt thoát khỏi sự kiểm soát của tôi, quá khứ lại quay về hủy hoại tôi và - tôi thừa phải nhận điều này - tình cảm mà tôi dành cho người đàn ông bên cạnh.

“Một thời gian dài cháu tưởng như muốn phát điên lên, cháu đã cố gắng kiềm chế bản thân mình. Cuối cùng cháu đã được gặp một chuyên gia về tâm lý. Bà ấy nói với cháu rằng việc duy nhất cháu có thể làm để chuộc lỗi không phải là tự hủy hoại bản thân mình, mà phải khiến mình trở nên có giá trị. Thực ra mọi chuyện không hề đơn giản, nhưng đó là một liệu pháp điều trị khá hiệu quả. Cháu đã không còn muốn tự trừng phạt mình nữa. Nhưng giấc mơ ấy bắt đầu xuất hiện.”

“Có thường xuyên không?” Holmes hắng giọng.

“Thời gian gần đây thì không. Từ hồi chúng ta đến Wales, cháu đã không còn mơ thấy nó nữa. Cháu nghĩ nó biến mất hẳn. Nhưng không phải vậy. Cháu chưa bao giờ kể với ai chuyện này. Chưa bao giờ.” Tôi nằm bẹp xuống và nghĩ về khoảng thời gian trước khi tôi rời California, bác sĩ Ginzberg đã lái xe đưa tôi xuống chỗ vách đá đó, nơi tôi từng nhìn thấy những mảnh thủy tinh lấp lánh và những vết cháy xém ở ngay bên dưới. Lúc đó, tôi đã thấy những con sóng mời chào và cám dỗ đến mức nào khi chúng tung bọt trắng xóa vào bờ đá dưới sâu.

“Russell à, ta...”

Tôi cắt ngang bằng một tràng từ ngữ tuyệt vọng.

"Nếu ông định nói với cháu rằng đó không hề là lỗi của cháu và cháu không việc gì phải thấy ân hận về điều đó, thì Holmes, cháu nghĩ ông nên đi khỏi đây thì hơn, vì thực sự điều đó sẽ giết chết mối quan hệ giữa chúng ta, thực sự là như thế.”

“Không, Russ, ta không có ý định như vậy. Cháu hãy tin ta, một chút thôi. Đúng là cháu đã làm họ chết. Đó không phải là việc giết người hay ngộ sát, nhưng tất nhiên cháu vẫn có lỗi vì đã gây ra vụ tai nạn định mệnh đó. Điều đó sẽ ám ảnh cháu mãi.”

Tôi không tin nổi vào tai mình. Tôi hạ tay xuống, nhìn vào khuôn mặt Holmes, và thấy ở đó hình ảnh phản chiếu nỗi đau của chính tôi. Chỉ có điều với ông ấy, nỗi đau đó đã được nguôi đi rất nhiều nhờ trí tuệ và tuổi tác.

“Ta chỉ định nói với cháu rằng ta mong cháu nhận ra lỗi lầm chỉ là một thứ nền móng yếu ớt cấu thành nên cuộc sống - chẳng có một động cơ nào tồn tại bên trong nó cả.”

Những lời nói nhẹ nhàng của Holmes khiến tôi bàng hoàng, giống như một cơn động đất. Tôi cảm thấy mình như đang rơi xuống một vực thẳm vốn ngoác miệng sẵn, và tất cả những gì níu giữ tôi là đôi mắt màu xám tĩnh lặng êm đềm. Dần dần cơn run rẩy qua đi, miệng vực từ từ đóng lại, và đôi mắt ấy nhìn thấu tất cả mọi chuyện. Tội lỗi của tôi, cái bí mật đã giày vò tôi cả ngày lẫn đêm trong suốt bốn năm trời, bây giờ đang hiển hiện trước mắt tôi. Tôi đã thú nhận, đã ăn năn về lỗi lầm của mình, đã nhận được lời xá tội và khuyến khích bước tiếp - vết thương lòng tôi bắt đầu lành lại. Lần đầu tiên... lần đầu tiên sau cái ngày tôi thức dậy và thấy xung quanh mình toàn những áo blu trắng, mùi thuốc kháng sinh nồng nặc, một tiếng nức nở òa vỡ trong lồng ngực tôi. Tôi cũng nhìn thấy điều đó trên khuôn mặt người đàn ông đối diện, và vội vã chùi nước mắt.

Sáng hôm sau chúng tôi tiếp tục vai diễn của mình, những bí mật của đêm hôm trước được xua khỏi tâm trí. Rồi mỗi buổi tối, sau khi mọi ánh đèn đã tắt, tôi sẽ nghe thấy hai tiếng gõ nhẹ ở cửa phòng mình, và Holmes bước vào, ở lại khoảng vài phút rồi mới trở ra. Chúng tôi nói về những điều đơn giản, hầu như là chuyện học hành của tôi. Hai lần, tôi thắp nến và đọc cho Holmes nghe quyển Kinh Do Thái nhỏ mà tôi đã mua tại một cửa hàng tạp hóa ở Jerusalem. Một lần, sau một ngày dài đấu khẩu quyết liệt, ông ấy đã ngồi trong phòng và vuốt tóc tôi cho đến khi tôi thiếp đi. Những khoảnh khắc này luôn đúng mực và trong sáng. Từ lúc tôi thức dậy vào sáng sớm cho đến khi tôi tắt hết đèn trong phòng, Holmes là kẻ thù của tôi, và con tàu cũng như chòng chành với những cơn thịnh nộ của chúng tôi. Nhưng khi màn đêm buông xuống, trong vài phút ít ỏi cuộc chiến được đình lại, giống như những người lính Anh và Đức trao cho nhau mấy điếu thuốc lá và hát cho nhau nghe những bài hát mừng Giáng sinh ở hai đầu chiến tuyến, chúng tôi có thể dẹp cuộc chiến đấu sang một bên và trở nên thân thiện với nhau, hai chiến binh đã kiệt sức và dạn dày sương gió.

Thời tiết chẳng biến chuyển gì nhưng tôi đã khỏe khoắn trở lại; tôi ngồi hàng giờ trên boong tàu đọc sách. Holmes, ngược lại, thường thu mình trong phòng. Những lời lẽ gay gắt bắt đầu hé lộ một nỗi hoang mang và tổn thương ở bên trong, một phản ứng cảm xúc mà con người kiêu hãnh như ông ấy sẽ không đời nào để cho thế giới này biết. Ông ấy hiếm khi rời khỏi phòng, và để đèn sáng cả ngày lẫn đêm. Chẳng động đến chút thức ăn nào, ông ấy còn hút một lượng khổng lồ thuốc lá sợi to màu đen. Ông ấy uống rượu rất nhiều, nhưng không bao giờ để lộ dù một dấu hiệu nhỏ nhất của cơn say xỉn. Nhìn ông ấy nhợt nhạt như xác chết, với một vết gì đó màu vàng lạ lùng ngay bên dưới làn da sạm, đôi mắt thì đỏ ngấu và thân hình gầy gò ngày càng trở nên hốc hác hơn. Một buổi tối, tôi không chịu nổi tình trạng này nữa.

“Holmes à, nếu như ông cứ tự hủy hoại bản thân mình trước khi ả có cơ hội giết ông thì màn kịch chúng ta tạo ra còn có ích gì nữa? Hay là ông đang cố gắng làm việc đó thay ả thế?”

“Không tệ như cháu nghĩ đâu, Russell, ta đảm bảo đó.”

“Da ông vàng lắm, Holmes, có lẽ gan ông đang yếu lắm rồi, và nhìn mắt ông cháu cũng biết mấy ngày rồi ông không hề chợp mắt.” Tôi giật mình khi cảm thấy giường mình rung nhẹ, thì ra Holmes đang khẽ cười.

“Vậy là một lão già không thể bày ra mánh lới gì sao? Russell, ta đã phát hiện thấy rất nhiều đồ gia vị trong khoang tàu và đã lấy ra một ít bột màu vàng. Rồi ta thoa mấy loại khác lên mắt, dù tạm thời hơi khó chịu nhưng hiệu quả thấy rõ. Ta cam đoan với cháu, ta không làm điều gì có hại cho bản thân đâu.”

“Nhưng mấy ngày liền ông không hề ăn gì rồi, và ông lại uống quá nhiều?”

“Số rượu đó phần lớn được dùng để ngụy trang cho hơi thở và quần áo. Còn về việc ăn uống, ta hứa với cháu rằng ta sẽ để bà Hudson vỗ béo khi bà ấy quay trở về. Khi ta bước xuống thuyền, Russell, tất cả ánh mắt nhìn ta đều phải thấy rằng trước mắt họ là một lão già nhếch nhác, chẳng hề quan tâm mình còn sống hay đã chết. Ta chỉ có thể trở về một cách công khai theo cách ấy thôi.”

“Ra thế. Nhưng cháu chỉ muốn ông đảm bảo với cháu rằng ông sẽ tự chăm sóc cho bản thân khi cháu đi vắng. Cháu không muốn ai làm tổn hại đến ông cả, dù đó có là chính ông đi nữa.”

“Vì chúng ta còn phải hợp tác dài dài, phải không Russell?” Nụ cười trên môi ông ấy khiến tôi cảm thấy yên tâm hơn.

“Chính xác.”

“Ta hứa. Nếu cháu muốn, ta cũng sẽ giặt sạch tất vào các buổi tối.”

“Việc đó thật chẳng cần thiết, Holmes. Bà Hudson sẽ giúp ông việc đó.”

Chúng tôi cập cảng London vào một buổi sáng âm u, xám xịt, cả hai chúng tôi đều đen sạm đi vì nắng và đã kiệt sức vì những vụ cãi nhau. Tôi đứng một mình trên boong, nhìn thành phố đang dần hiện ra, cảm thấy sự gượng gạo khó xử có thể sờ thấy được của ông thuyền trưởng cùng những thuyền viên làm việc sau tôi và dưới khoang tàu. Hàng người quen thuộc đang đứng nơi đầu bến. Tôi nhìn thấy ánh mắt lo lắng của bác sĩ Watson, thanh tra Lestrade đứng cạnh bác ấy, cũng tò mò không kém về sự biến mất của ngài thám tử. Mycroft đứng một bên, nét mặt ông ấy thật khó đoán. Họ gọi tôi, nhưng tôi không trả lời. Khi cầu tàu được hạ xuống, tôi chộp lấy mấy túi đồ của mình rồi dứt khoát bước đi, mắt dán xuống sàn tàu trước sự ngạc nhiên của những người đàn ông đứng đó. Watson đưa tay ra, còn Lestrade thì gọi tôi.

“Cô Russell!”

“Mary? Đợi đã, Mary, có chuyện gì vậy?”

Tôi lạnh lùng quay lại, không nhìn Mycroft.

“Sao ạ?”

“Cháu đi đâu thế? Có chuyện gì xảy ra sao? Holmes đâu?”

Tôi nhìn thấy một bóng người trên boong tàu đang dịch chuyển, và bắt gặp ánh mắt Holmes. Ông ấy trông vô cùng mệt mỏi. Hai tròng mắt màu tro của ông ấy giống như hai hố sâu đỏ lòm. Làn da vàng vọt dính sát vào xương, còn bộ râu thì nham nhở. Cái cà vạt trông khá phẳng phiu, nhưng cổ áo sơ mi thì nhàu nát, và áo khoác ngoài phanh ra. Tôi cố kìm nén mọi xót thương, rồi trưng ra tất cả nỗi căm ghét khinh thường, để rồi, từng lời nói tôi thốt ra giống như từng giọt axit rơi xuống.

“Đó, thưa các ngài, quý ông Sherlock Holmes vĩ đại của chúng ta đấy. Vị cứu tinh của các quốc gia, trí tuệ của thế kỷ, món quà của Chúa dành cho loài người đấy. Ồ vâng, tôi nhường lại ông ấy cho các ngài.”

Mắt tôi và mắt Holmes gặp nhau trong một giây ngắn ngủi, và tôi thấy trong đôi mắt ấy vừa có vẻ tán thành, vừa có vẻ thấu hiểu, vừa ẩn chứa một lời chia tay. Tôi quay gót rồi đi hiên ngang xuống cầu tàu. Chắc chắn là bác Watson định đuổi theo tôi, vì tôi nghe thấy giọng nói kéo dài sắc lạnh và cao vút của Holmes cất lên, khiến cho bác ấy ngừng ngay lại.

“Hãy để cho cô ấy đi, Watson, cô ấy sẽ không ở cùng ai trong chúng ta nữa. Cô ấy cần phải rút lui để đi con đường riêng của mình, anh không nghĩ như vậy sao?” Giọng nói của Holmes sắc lạnh đến mức tưởng như đứng ở bờ bên kia cũng có thể nghe thấy được. “Và Chúa phù hộ kẻ nào dám ngáng đường cô ấy.”

Để lại những từ ngữ đau đớn ấy sau vạt áo, tôi vòng lại phía mạn tàu và tìm một căn buồng. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ấy, cho đến hai tháng sau.

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] 1 Áo dài của người Thổ Nhĩ Kỳ, có dây thắt ngang lưng.

[2] 1 Sarah Bernhardt (1844 - 1923) là nữ nghệ sĩ sân khấu người Pháp, nổi tiếng trong các vở diễn như Le Passant, Ruy Blas, Trà Hoa Nữ,... Bà được xem là một trong những nghệ sĩ lớn nhất của thế kỷ XIX.

[3] 1 Cách nói tiếng lóng của khu đông London:

[4] Glasgow Rangers - Strangers (những kẻ lạ mặt) Bees and honey (ong và mật ong) - Money (tiền) Pitch and toss (trò đánh đáo sấp ngửa) - Boss (tên trùm) Trouble and strife (rắc rối và xung đột) - Wife (vợ).

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurie r. king

Truyện bạn đang đọc dở dang