
...láy lại lòng can đảm và nghiên cứu một hướng đi hoàn
toàn mới, ta sẽ đạt được một mục đích hữu ích hơn rất nhiều.
[1]
Tôi đã không nhận ra mình khao khát đến Palestine đến thế nào cho tới khi một thành phố trong danh sách những nơi mà chúng tôi có thể đến đập vào mắt tôi, và môi tôi mấp máy gọi tên thành phố ấy. Tôi vẫn tâm niệm rằng một ngày nào đó (sang năm chẳng hạn), tôi sẽ hành hương về nơi chôn nhau cắt rốn của dân tộc tôi, nhưng cuộc hành hương đó mãi chỉ là một dự tính trong tâm trí và trái tim tôi. Vậy mà, khi vây quanh tôi là nỗi sợ hãi và hỗn loạn, khi mặt đất dưới chân tôi chẳng còn chỗ nào vững chãi, và khi những nơi quen thuộc lại trở thành mối đe dọa khôn lường, thì vùng đất xa xôi này lại dang rộng vòng tay và vẫy gọi tôi. Tôi đã tới đây, để tìm về một sự bình an, che chở và ôm ấp. Tôi, một kẻ không gia đình, không mái ấm, đã tìm thấy được cả hai điều đó ở nơi này.
Palestine , Israel , vùng đất hỗn loạn nhất - với cướp bóc, hãm hiếp, tàn phá - và cũng được tôn sùng nhất trong suốt bốn thiên niên kỷ qua; một dải đất hẹp, màu mỡ nhưng lại khó trồng trọt vì mỗi tấc đất đều bị giày xéo dưới đế giày quân xâm lược; một vùng đất “hiếm muộn” mà sự giàu có duy nhất của nó lại nằm ở những đứa con mà nó sinh ra. Palestine .
Đến chiều tối, chúng tôi đi về phía Nam, song song là bờ biển xa tít tắp, nhưng khi màn đêm buông xuống, thuyền trưởng đổi hướng về phía Đông, tàu chạy khá nhanh và êm, chúng tôi tiến vào đất liền. Holmes xuất hiện với một cái ba lô gần như xẹp lép, rồi khi trời sáng, chúng tôi xuống một con thuyền nhỏ và kẽo kẹt chèo vào bờ. Vùng đất chúng tôi đặt chân lên là vùng phía Nam Jaffa, hoặc Yaffo - nơi những người Do Thái từng phải bỏ trốn trong những vụ tàn sát đẫm máu của người Ả Rập.
Hai tuần đầu chúng tôi đi lang thang, không dự định rõ ràng, thực hiện đủ loại nhiệm vụ vô thưởng vô phạt. Chúng tôi lấy được một tập tài liệu từ một căn nhà khóa kín, gặp lại hai người bạn cũ, và vẽ bản đồ chi tiết của hai khu đất chẳng mấy quan trọng. Trong suốt khoảng thời gian đáng mơ ước này, tôi vẫn có cảm giác chúng tôi bị theo dõi, mặc dù tôi không thể chắc chắn được rằng liệu có ai đó đang thử thách khả năng của chúng tôi, hay đang đợi để giao một nhiệm vụ phù hợp với chúng tôi hay không. Nếu “âm mưu” của Mycroft là lo liệu cho chúng tôi một kỳ nghỉ kỳ quặc hết sức, thì chắc chắn nó đã thành công rồi.
Cái tên của Mycroft giúp cho chuyến đi của chúng tôi dễ dàng hơn, nhưng việc đi lại từ nơi này đến nơi khác bằng con dấu chứng thực của ông ấy không có nghĩa là chúng tôi đang được bảo vệ an toàn. Bên cạnh những mối đe dọa từ côn trùng và vi khuẩn, chúng tôi còn suýt bị bắn bởi một tay súng kém cỏi đến khó tin, rồi bị thương bởi một nhóm những kẻ sát nhân cuồng tín ngay bên ngoài Nhà thờ Mộ Chúa Jesus, nhưng khủng khiếp nhất là vụ tôi bị ba thương gia si tình ở khu phố Ả Rập phát hiện ra là con gái và say mê theo đuổi. Rốt cuộc tôi suýt thì phạm tội giết người ngày hôm ấy, nhưng không phải giết ba thương gia kia, mà chính là Holmes - người mãi mới chịu nhúc nhích đến giải cứu tôi, lại còn thích thú đến cực độ nữa.
Vì truyện đã khá dài nên tôi chỉ có thể kể qua về chuyến đi “bão táp” nhưng cũng vô cùng thú vị này. Chúng tôi trú ngụ ít ngày trong một túp lều gần Jaffa, rồi cải trang để khởi hành về phương Nam, đến vùng đất hoang tàn của những người du cư và những tu viện giờ chỉ còn tàn tích. Chúng tôi đi bộ tiếp qua những vùng đất hoang vu để hướng về biển Chết, và ở đó, trong bóng tối trước khi trăng lên, chúng tôi thả nổi mình trên làn nước mặn mòi, cảm nhận vô vàn ánh sao đang chiếu lấp lánh trên thân thể. Chúng tôi lại đi lên phương Bắc để được chạm vào những đền đài đổ nát, những tượng đá tinh xảo và những bụi nho quấn quýt ven đường. Chúng tôi ngủ dưới mái lều nồng nặc mùi dê của dân du cư, trong những hang động ăn sâu vào sườn núi, trên những mái nhà bằng phẳng và ấm áp dưới sao trời, trên
những chiếc giường lông thú xa hoa, trong xe tải quân đội, trên con thuyền của dân chài, và có khi là ngay dưới bầu trời bao la. Chúng tôi tắm (một việc quá hiếm đối với tôi - có rất nhiều bất tiện khi phải cải trang thành đàn ông, và một trong số đó là việc phải tắm ở nơi công cộng) trên một con suối sủi đầy bọt ở Cana [2] , trong những tấm bạt căng vội của người Jordan, rồi trong chiếc chậu thiếc của một nhà khảo cổ người Anh sống tại Jericho - người đã dành toàn bộ đam mê cuộc đời để bảo tồn khu đất ấy.
Rồi Holmes và tôi tới Jerusalem. Sau một hồi đi lòng vòng lên phương Bắc, chúng tôi cũng tới được những khu đồi dài hun hút và khô hạn dẫn lên thành phố. Chúng tôi cuốc bộ lên đó, đồng hành cùng một nhóm dân du cư và đàn dê gầy trơ xương của họ, rồi dừng lại trên đỉnh ngọn Olivet lúc hoàng hôn, người đen sạm đi vì cháy nắng, chân đau ê ẩm còn người thì hoàn toàn bẩn thỉu. Và rồi, nó hiện ra trước mắt chúng tôi, thành phố của những thành phố, umbilicus mundi - cái rốn của trái đất, trung tâm của vũ trụ, sừng sững hiện lên trên nền đất vững bền, và nhỏ một cách ngạc nhiên, như một viên đá quý lấp lánh. Tim tôi bỗng ngân nga, và môi tôi lẩm nhẩm một bài hát cổ của người Do Thái.
[3]
“Simchu eth Yerushalaim w’gilu bah kal-ohabeha/” tôi hát lên trong niềm hân hoan với Jerusalem và niềm hãnh diện về nó, về tất cả những ai yêu mến miền đất này. Chúng tôi ngắm mặt trời lặn rồi ngủ qua đêm giữa những lăng mộ trước sự thất kinh của mấy người dẫn đường, để rồi sáng sớm hôm sau, chúng tôi được chiêm ngưỡng cảnh mặt trời tỏa những cánh tay mềm mại bao quanh thành phố, khiến nó trở nên rực rỡ và ấn tượng hơn bao giờ hết.
Holmes và tôi cứ ngồi đó cho đến khi ánh mặt trời dát vàng lên các bức tường và những con đường bắt đầu phủ đầy bụi bẩn, lúc đó chúng tôi mới đi vào thành phố. Ba ngày liền chúng tôi cứ đi dạo trên những con đường hẹp, mua đồ ăn ở những khu chợ nhỏ, hít mùi hương trầm tỏa ra từ các nhà thờ. Chúng tôi chạm vào những bức tường của nó, nếm vị bụi đường, rồi ngắm nhìn vầng mặt trời mùa đông rời bỏ nó vào ban đêm. Rồi chúng tôi lại khoác túi lên vai và tiếp tục cuộc hành trình.
Khi bầu trời chuyển từ xanh thẳm sang một màu đen kịt, chúng tôi đi tiếp lên mạn Bắc, rồi dừng lại, nhóm hai đống lửa và dựng ba cái lều, múc một ít nước nấu món thịt dê dai nhách quen thuộc rồi uống những tách cà phê Mahmoud nhỏ xíu, loại cà phê sền sệt như mật ong và có vị ngọt như đường. Ông ấy đun lên, rót ra, và chúng tôi phải cố gắng lắm mới uống hết. Khi những đống lửa lụi dần, mấy người dẫn đường lục đục chuẩn bị đi ngủ, còn Holmes và tôi vẫn lặng lẽ ngồi đó, Holmes hút thuốc và cùng tôi ngắm nhìn những chòm sao. Rồi khi những viên than hồng chỉ còn là mấy đốm sáng li ti trong màn đêm đen kịt, và khi bầu trời bị xuyên thủng bởi hàng triệu ánh sao lấp lánh, tôi bất chợt cất tiếng hát một cách vô thức. Với tình cảm ấm nóng từ trái tim, tôi hát lên khúc hát tha hương, khúc hát được chưng cất từ niềm khát khao của bao con người phải chia lìa quê hương yêu dấu, chia lìa đất mẹ thánh thiêng...
Tôi bất chợt lặng im. Phía xa trên một đỉnh đồi, những con chó rừng cùng tru lên những âm thanh kỳ lạ. Tiếng động cơ ở đầu đó vang lên rồi nhạt nhòa dần. Một con gà trống cất tiếng gáy vang. Tận hưởng hết những giây phút thanh bình ấy, cuối cùng tôi đứng dậy và đi về phía lều. Holmes với tay ra để đổ tàn thuốc trong nõ điếu xuống đống tro.
“Ta phải cảm ơn cháu vì đã đưa ta đến đây, Russell. Đúng là một khoảng thời gian hữu ích tuyệt vời.”
“Còn một nơi nữa mà cháu cũng rất muốn đến,” tôi nói. “Chúng ta sẽ đi qua vùng đó trên đường đến Acre. Chúc ông ngủ ngon, Holmes.”
Hai ngày sau chúng tôi ngồi trên một đỉnh đồi lồng lộng gió và ngắm vùng đồng bằng đẫm máu Esdraelon. Bốn tháng trước tại đây, Tướng Allenby đã bắt gọn đám quân Thổ Nhĩ Kỳ chạy trốn; và 730 năm trước, quân Thập tự chinh đã gặp thất bại nặng nề. Suốt ba nghìn năm qua, những đạo quân khác nhau đã kéo đến đây, tranh giành quyền kiểm soát dải đất hẹp nối liền châu Phi với châu Á và châu Âu này. Tuy nhiên, tối hôm đó, dấu hiệu bạo lực duy nhất chỉ là âm thanh một con chó sủa và tiếng lục lạc ầm ĩ của bầy dê. Ngày mai chúng tôi sẽ đi về phía pháo đài Thập tự chinh ở Acre, nơi đó một con thuyền sẽ đợi sẵn để đưa chúng tôi trở về với cái lạnh lẽo của tháng Giêng nước Anh và tiếp tục cuộc chiến chống lại những kẻ thù chưa lộ diện. Một viễn cảnh hết sức buồn chán khi chúng tôi đang ngồi đây với mặt trời lặn sau lưng và mái lều khẽ lay trong gió. Tôi biết Holmes rất bực khi buộc phải hành động theo sự dẫn đường của kẻ khác, ngay cả khi “kẻ khác” ấy chính là ông anh Mycroft của mình, nhưng rồi ông ấy cũng cố kìm nén. Cuối cùng, trên đỉnh đồi nhìn xuống chiến trường kia, tôi quyết định nhắc đến cái chủ đề mà chúng tôi luôn tránh, một cách chắc chắn:
“Holmes, London đang đợi chúng ta.”
“Đúng vậy, Russell. Thật sự là nó đang đợi chúng ta.” Đôi mắt màu xám của ông ấy đột nhiên sáng lên, điều mà hàng tuần nay tôi đã không hề thấy, và tôi không nghĩ rằng “nó” ở đây có nghĩa là thành phố đó.
“Kế hoạch của ông là gì?”
Holmes luồn tay vào bên trong lớp áo choàng đã cáu bẩn, lôi ra cái tẩu và gói thuốc lá.
"Trước tiên, hãy nói cho ta biết tại sao cháu lại đưa chúng ta đến nơi này?”
“Tới Jezreel1 ạ? Cháu nghĩ là cháu đã từng nói cho ông biết tên mẹ cháu rồi chứ nhỉ?”
“Ừ, tên bà ấy là Judith, phải không? Không phải là Mary McCarthy. Để ta nhớ lại đã, Russell. Ta luôn cố
[4]
gắng quên những điều mà ta thấy không cần thiết cho công việc của mình, và những câu chuyện của Kinh Thánh thường nằm trong số đó.”
Tôi mỉm cười. “Có thể đây là câu chuyện mà ông sẽ thấy có ích, Holmes à. Một câu chuyện mà hai mẹ con cháu đã cùng nhau đọc khi cháu lên bảy. Bà là cháu gái của một giáo sĩ Do Thái, một phụ nữ nhỏ bé, trầm tính và vô cùng thông thái. Mặc dù câu chuyện giống một sự ngụy tác hơn là những tích truyện được công nhận trong Kinh Do Thái, nhưng bà vẫn chọn nó là bài học đầu tiên để mẹ con cháu nghiên cứu cùng nhau, bởi bà tin rằng tôn giáo là một điều gì đó không hề dễ dàng. Và, nó cũng liên quan đến cái tên trùng hợp của bà nữa.”
“Câu chuyện về Judith và Holofernes?”
“Vâng, nó đã xảy ra ở nơi này, dù sao đi nữa thì câu chuyện cũng được bắt đầu từ nơi này, tại thị trấn nhỏ mà chúng ta vừa mới đến. Holofernes là tướng chỉ huy một đạo quân đến từ phương Bắc, tới đây với nhiệm vụ trừng phạt Jerusalem. Thị trấn nhỏ này đã cản đường hắn ta, thế nên hắn đã cắt nguồn nước và vây hãm thị trấn. Sau ba mươi tư ngày, người dân trong thị trấn đã gửi đến Chúa một tối hậu thư: Phải có nước dùng trong năm ngày, hoặc chúng tôi sẽ đứng sang một bên và Jerusalem có thể sẽ thuộc về Holofernes.
“Judith, một người đàn bà góa trẻ rất đỗi thông minh, ghét cay ghét đắng bọn giặc. Bà ấy mặc vào bộ quần áo đắt tiền nhất, gọi một hầu gái và rời thị trấn nhỏ để đến khu lán trại của Holofernes. Bà ấy nói với hắn rằng bà muốn được an toàn trong trận tàn sát sắp diễn ra, và cứ thế đi lại trước khu lán trại của hắn đến mấy ngày liền. Tất nhiên là hắn đã mời bà ấy vào trong lều của mình. Bà ấy chuốc cho hắn say khướt, và chỉ chờ có thế, bà ấy cắt phăng cái đầu của hắn rồi mang về thị trấn. Cuộc xâm lược đã không diễn ra như dự định, và Jerusalem được an toàn. Và hai nghìn năm trăm năm sau, những phụ nữ được đặt tên theo bà vẫn khiến con cái họ gặp ác mộng với câu chuyện rùng rợn này.”
“Một câu chuyện rất thú vị, Russell ạ, mặc dù có lẽ ta sẽ không chọn nó để kể cho một đứa bé bảy tuổi.”
“Mẹ cháu luôn tin rằng nên tìm hiểu thần học từ sớm. Năm cháu lên tám tuổi, bà đã để cháu đọc câu chuyện về ‘người vợ lẽ của Levite’, thế nên câu chuyện về Judith chỉ như một bài thơ mẫu giáo thôi. Đó là lý do tại sao cháu lại muốn đến đây, để tận mắt chứng kiến Holofernes đã bài binh bố trận như thế nào. Điều đó đã trả lời câu hỏi của ông chưa?”
Ông ấy thở dài. “Ta e là rồi. Vậy cháu cũng đã biết điều ta suy nghĩ khi ở trên tàu đúng không?”
“Cháu hiếm khi bỏ lỡ điều gì lắm.”
“Và cháu đưa ra điều này, giống như một sự lựa chọn?”
“Đúng vậy ạ.” Tôi không hề cần nhắc đến hàm ý trong câu nói đó.
“Không được, ta xin lỗi, Russell, nhưng ta sẽ không để cháu dấn thân vào lán trại của kẻ thù đâu. Ta không cho rằng kẻ thù của chúng ta là một tay nghiện rượu.”
“Holmes, cháu sẽ không biến mình thành vật hy sinh đâu. Cháu không bỏ ông lại một mình đâu mà.” Tôi cảm thấy nhẹ nhõm, dù sao tôi cũng không phải là một kẻ hèn nhát.
“Ta không có ý bảo cháu bỏ ta lại một mình, Russell, chỉ là có vẻ như cháu định sẽ làm vậy.” Ông ấy đứng lên đi về phía lều, rồi quay lại với chiếc hộp gỗ quen thuộc trên tay. Ông ấy sắp xếp lại nước cờ mà chúng tôi đang chơi dở khi còn ở Crete, trước khi con hậu của tôi bị ăn mất. Sau đó ông ấy quay bàn cờ lại và nhận lấy quân đen. Lần này chính tôi mới là người dồn bắt quân hậu, và dồn ép ông ấy vào thế bí. Vị trí hai bên đã thay đổi, tuy nhiên, tôi hiểu được ý định của ông ấy và không để mình bị cuốn vào.
Những quân cờ di chuyển thật chậm chạp. Từng quân một bị ăn và phải rời khỏi chiến trường. Những ngôi sao đầu tiên xuất hiện trên nền trời, và Ali - một trong những người dẫn đường - đem đến cái đèn dầu nhỏ đặt trên một hòn đá giữa hai chúng tôi. Đúng lúc đó Holmes tấn công theo thế gọng kìm và hạ gục quân tượng thứ hai của tôi. Tôi di chuyển quân xe và chỉ hai nước cờ sau, ông ấy bị mất một quân mã. (Với cái tâm trạng chắc ăn của Holmes lúc này thì quân mã là một thứ vũ khí chết người, nó giống như cỗ chiến xa bọc đầy dao nhọn của Boadicea¹ hơn là một hiệp sĩ ngồi trên
[5]
lưng ngựa thông thường.) Mahmoud đặt vào tay chúng tôi hai tách cà phê ngọt như siro, ngồi im lặng quan sát ván cờ một lúc rồi đi khỏi.
Đó quả là một ván cờ dài. Tôi biết ông ấy có ý định hướng tôi đến chiến thắng như lần trước - khi tôi chịu hy sinh con hậu để tạo ra cái bẫy, nhưng tôi không để mình bị điều khiển như vậy. Tôi dàn trận, tránh xa những quân tốt của Holmes, di chuyển quân hậu thật thận trọng, và cuối cùng ông ấy thay đổi chiến thuật - cố tạo nên một gọng kìm tấn công khác để lừa tôi vào tròng. Tôi thoát khỏi vòng vây ấy, rồi ông ấy lại tạo một vòng vây khác xa hơn. Tôi lại tránh được nó một lần nữa, đưa quân xe còn lại ra để chặn Holmes. Khi ông ấy tránh được, tôi đưa quân hậu ra để yểm trợ, rồi sau đó, vì quá phấn khích tiến lên mà tôi đã bỏ qua một số chi tiết trên bàn cờ, và một con tốt nhỏ nhoi ở gọng kìm đầu tiên vốn bị bỏ quên từ lâu đã tiến đến hàng thứ hai bên phía bàn cờ của tôi, đến ngay trước mặt tôi. Một quân hậu mới ra đời.
“Nữ hoàng tái sinh,” Holmes khiêu khích, chuẩn bị tiến lên xé toạc phần hậu sơ hở của tôi. Tôi bối rối trước con hậu mới phong đó và chuẩn bị tinh thần cho một trận thảm bại hoàn toàn. Nhưng rồi tôi bất chợt tỉnh ra.
“Ả sẽ không dễ bị hạ gục đâu, Holmes.”
“Ả sẽ bị hạ gục, cháu thấy đấy, nếu như ả nhất thời xao lãng. Người đàn bà này vốn tự phụ và coi thường đối phương, sự giận dữ của ả trước sự vắng mặt của chúng ta sẽ khiến cho ả bất cẩn và tin chắc rằng Sherlock Holmes sẽ không thể giữ được quân hậu của mình, rằng Holmes già nua khốn khổ sẽ chỉ còn lại một mình, yếu ớt và vô dụng.” Ông ấy rướn người, gõ nhẹ đầu ngón tay lên vương miện của quân vua đen. “Ả sẽ đột kích vào khu vực này, hạ gục ta,” rồi lại gõ nhẹ lên quân hậu trắng, “và lúc ấy, chúng ta sẽ tóm được ả.” Holmes nhấc quân tốt đen khỏi bàn cờ, lăn trong lòng bàn tay như thể để làm nóng nó, và khi ông mở lòng bàn tay, một quân hậu đen đã nằm đó. Ông đặt nó vào bàn cờ rồi ngồi lại trong dáng vẻ thư thái nhẹ nhàng. "Tốt,” ông ấy nói, “thật sự rất tốt.”
“Nguy hiểm đấy, Holmes à,” tôi phản đối, “thật sự rất nguy hiểm. Nếu như ả biết được mọi kế hoạch của chúng ta thì sao? Nếu như ả không muốn ‘chơi đẹp’ nữa, mà lại muốn thanh toán cả hai chúng ta thì sao? Nếu như...” Nếu như cháu thất bại - một giọng nói rên rỉ trong tâm can tôi.
“Nếu như, nếu như! Tất nhiên là sẽ rất nguy hiểm, Russell, nhưng ta không thể ở lại Palestine cả quãng đời còn lại được, cũng không thể lúc nào cũng vác theo cả tá vệ sĩ đi kèm!” Ông ấy có vẻ thoải mái khi nói ra điều đó, nhưng lúc này bỗng dưng tôi chỉ muốn trốn chạy.
“Chúng ta không biết được ả sẽ làm gì,” tôi gào lên. “Ít nhất ông cũng nên nhờ Lestrade gửi cho chúng ta một vài người hỗ trợ đã chứ. Hoặc nhờ Mycroft, nếu như ông không muốn Sở cảnh sát nhúng tay vào vụ này, cho đến khi chúng ta biết được phản ứng sắp tới của ả.”
“Chúng ta cũng có thể đăng một quảng cáo trên tờ Times để thông báo cho ả biết những dự định của chúng ta nữa nhỉ,” Holmes giễu cợt. “Cháu nên học đấu kiếm, Russell ạ, thực sự đấy. Nó sẽ cung cấp cho cháu những bài học hữu ích nhất trong việc đánh giá kẻ thù. Giờ ta đã hiểu kẻ thù của mình, hiểu được lối đánh và tầm với của ả. Lúc này ả đã đâm ta được vài nhát, nhưng đồng thời cũng để lộ ra một vài điểm yếu. Khi chúng ta quay trở lại, ả sẽ nghĩ ta vẫn tiếp tục ẩn nấp và né tránh. Nhưng... ta sẽ không làm vậy. Thay vì thế, ta sẽ hạ kiếm và bước về phía ả trong tư thế không phòng thủ. Ả sẽ đứng lùi lại trong một thoáng, xem ta định làm gì tiếp theo. Ả sẽ nghi ngờ, rồi dần dần tin rằng ta bị điên, và hả hê hạ đòn tấn công. Nhưng còn cháu, Russell,” Holmes quét tay áo choàng qua bàn cờ, và khi ông ấy thu tay về, vị trí của quân vua trắng đã được thay thế bằng quân hậu đen. “Cháu luôn phải đợi ả, nhưng rồi chính cháu sẽ là người tấn công ả trước.”
Chúa ơi, tôi đã mong đợi một vai trò mang nhiều tính trách nhiệm hơn, và bây giờ, nó còn hơn những gì tôi mong đợi. Tôi cố kiểm soát giọng nói của mình.
“Holmes, không phải là cháu cố giả vờ tỏ ra khiêm tốn khi nói rằng cháu không hề có chút kinh nghiệm nào trong... trong ‘trò chơi’ này, như ông vẫn khăng khăng gọi thế. Có thể cháu sẽ gặp sai lầm. Chúng ta nên có phương án hai.”
“Ta sẽ cân nhắc chuyện này,” cuối cùng ông ấy cũng thốt lên, rồi rướn người qua bàn cờ, nhìn vào mắt tôi với một ánh nhìn dữ dội kỳ lạ. “Tuy nhiên, ta muốn cháu nhận thấy một điều, Russell, đó là ta biết rằng khả năng của cháu không chỉ có thế. Ta đã đào tạo cháu. Gần bốn năm trời nhào nặn, tôi luyện và mài dũa cháu, ta biết cháu là một cô gái có chí khí và lòng can đảm. Ta biết rõ điểm mạnh và yếu của cháu là gì, đặc biệt là trong mấy tuần vừa qua. Cháu đã được tôi luyện trong những gì mà chúng ta đã trải qua. Ta không hề thấy hối hận khi cùng cháu đến nơi này, Russell ạ.
Nếu cháu thực sự cảm thấy không thể kham nổi việc này, ta sẽ chấp nhận. Ta sẽ không coi đó là một thất bại của cháu, chỉ đơn giản là cháu muốn gia nhập hàng ngũ của Watson trong khi ta nhờ cậy sự viện trợ của Mycroft mà thôi. Cách ấy có vẻ... hơi kém cỏi, nhưng không phải vô vọng hoàn toàn. Tuy nhiên, tất cả là do cháu lựa chọn, Russell.”
Giọng nói của ông ấy rất bình thản, nhưng từng từ từng chữ khiến tôi ngừng thở. Holmes - con người cẩn thận, Holmes - con người khôn ngoan thấu đáo, Holmes - một kẻ chỉ huy độc lập không cần đến lời khuyên của ai, con người mà tôi tưởng mình đã biết rõ này lại đang đề nghị tự lao mình vào vực thẳm, và tin tưởng tuyệt đối rằng khả năng của tôi sẽ cứu được ông ấy. Không có một chút do dự ngập ngừng nào. Ông ấy đã thổi bay mọi nghi ngờ, và đang nói với tôi một cách cực kỳ rõ ràng rằng ông ấy sẵn sàng coi tôi hoàn toàn, dứt khoát ngang bằng với ông ấy, nếu đó là điều tôi mong muốn. Holmes đã trao cho tôi không chỉ cuộc đời ông ấy, mà còn cả cuộc đời tôi.
Tôi không biết mình đã ngẩng lên từ con hậu để nhìn vào khuôn mặt như tạc ấy trong bao lâu, chỉ biết rằng khi tôi làm thế, đôi lông mày Holmes nhíu lại như đang chờ đợi điều gì. Không cần phải suy nghĩ thêm nữa.
“Khi đối mặt với những điều chưa từng lường trước,” tôi run run nói, “thì người ta sẽ lựa chọn cái điều không thể.” Tôi vừa dứt lời, ông ấy liền nở một nụ cười ấm áp, như muốn khích lệ tôi.
Rồi một điều kỳ diệu xảy ra.
Holmes dang rộng cánh tay dài về phía tôi, và như một đứa trẻ sợ sệt, tôi chui vào vòng tay ấy. Ông ấy ôm lấy tôi, mới đầu còn hơi ngượng nghịu, rồi dần dần thoải mái hơn, cho đến khi cơn run rẩy của tôi lui dần. Tôi ngồi đó, thật an toàn, lắng nghe những tiếng đập đều đều từ lồng ngực của ông ấy, cho đến khi cái đèn cạn dầu, tắt phụt, để lại chúng tôi trong bóng tối bình yên.
Hai ngày sau, những bức tường Crusader của Acre đã khép lại trong tâm trí chúng tôi, không như những phiến đá dãi đầy nắng trời của Jerusalem, dù đã cách xa chúng tôi đến tám mươi dặm nhưng vẫn hiển hiện rất rõ ràng. Những bức tường Jerusalem lúc nào cũng sáng lên lấp lánh, và cả thành phố như ngân vang lên trong bài hát thấm lặng về hạnh phúc và nỗi đau, nhưng những bức tường ở Acre lại rất nặng nề, còn bài hát của nó là những giai điệu buồn thương về sự lãng quên và cái chết. Ali và Mahmoud vẫn đi trước chúng tôi bốn sải chân, có vẻ như họ chẳng mấy quan tâm đến sự ảm đạm xung quanh.
Chúng tôi đi xuống con đường dẫn đến một hồ nước, và đến góc rẽ cuối cùng, Ali và Mahmoud bỗng biến mất. Tôi thấy trơ trọi kinh khủng khi không thấy hai tấm lưng rộng trước mặt mình, nhưng Holmes chỉ cười và thúc tôi cứ tiếp tục đi. Khi chúng tôi bước qua một cánh cửa gỗ, đột nhiên ông ấy nói to vào không trung:
“Marhaba,” và trước sự ngạc nhiên của tôi, ông nói tiếp, “cAlla-M''aq."
Tôi lặp lại những lời tạ ơn và chúc phúc ấy rồi cùng Holmes đi đến bờ hồ, uống trà bạc hà bán ở quầy hàng gần đó và ngồi nhìn những con sóng vỗ vào bến tàu Crusader cho đến tận lúc trời tối, khi người thủy thủ đưa chúng tôi vào bờ Jaffa tháng trước tìm thấy chúng tôi. Anh ta lặng lẽ chèo thuyền đưa chúng tôi về phía con tàu đang đợi; chúng tôi đứng quay lưng lại với pháo đài, nhìn về phía nước Anh.
Holmes và tôi đứng trên boong tàu, nhìn khoảng sáng cuối cùng của Palestine mờ dần. Jerusalem đã biến mất, nhưng dường như tôi vẫn còn thấy một chùm sáng le lói phía Đông Nam. Tôi bỗng cất lên tiếng hát:
" Al naharoth babel sham yashavnu gam bakinu... "
" Im eshkahek Yerushalaim tishkah y'mini. "
“Cháu đã từng hát bài hát này, đúng không?” Holmes hỏi. “Là bài gì vậy?”
“Một bài thánh ca, một trong những bài hát nổi tiếng nhất của người Do Thái.” Tôi dịch lời bài hát:
"Bên bờ sông Babylon, chúng ta nằm xuống và than khóc, khi nhớ đến Zion... Chúng ta đã treo hết đàn lia lên, bởi những kẻ bắt giam chúng ta muốn cướp những bài hát của chúng ta, và những tên hành hạ chúng ta muốn được vui vẻ...
Làm sao chúng ta có thể hát bài hát của Người trên một vùng đất lạ?
Nếu tôi lãng quên Người, Jerusalem, thì cánh tay phải của tôi sẽ bị teo lại.
Và lưỡi của tôi sẽ bị tách ra làm đôi, nếu như tôi không nhớ đến Người."
“Amen!” ông ấy lẩm bẩm khiến tôi ngạc nhiên thêm lần nữa.
Mảnh đất đó lùi xa dần, chỉ còn là một vệt sáng mờ trong bóng đêm dày đặc.
Phần BỐN: ƯU THẾ

Giao Chiến
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] £/ôi đã không nhận ra mình khao khát đến Palestine đến thế nào cho tới khi một thành phố trong danh sách những nơi mà chúng tôi có thể đến đập vào mắt tôi, và môi tôi mấp máy gọi tên thành phố ấy. Tôi vân tâm niệm rằng một ngày nào đó (sang năm chẳng hạn), tôi sẽ hành hương vế nơi chôn nhau cắt rốn của dân tộc mình, nhưng cuộc hành hương đó mãi chỉ là một dự tính trong tâm trí và trái tim tôi. Vậy mà, khi vây quanh tôi là nỗi sợ hãi và hỗn loạn, khi mặt đất dưới chần tôi chẳng còn chõ nào vững chãi, và khi những nơi quen thuộc lại trở thành mối đe dọa khôn lường, thì vùng đất xa xôi này lại dang rộng vòng tay và vầy gọi tôi. Tôi đã tới đây, để tìm về một sự bình an, che chở và ôm ấp. Tôi, một kẻ không gia đình, không mái ấm, đã tìm thấy được cả hai điều đó ở nơi này.
[2] Cana là một thị trấn ở Galilee, Israel, nơi Chúa Jesus đã thực hiện phép lạ đầu tiên của mình, biến nước thành rượu tại một đám cưới.
[3] 1 Cana là thành phố được nhắc đến nhiều lần trong kinh Phúc âm John (thuộc kinh Tân ước). Ở thành phố này, chúa Jesus đã lần đầu tiên thi hành phép lạ trước đám đông: Người đã biến một lượng lớn nước thành rượu trong một lễ cưới, khi mà rượu cưới cho chú rể đã hết sạch.
[4] 1 Tên gọi khác của vùng đồng bằng Esdraelon.
[5] 1 Boadicea (năm 60 hoặc 61 sau CN): là nữ thủ lĩnh của bộ lạc Iceni ở Anh, người đã lãnh đạo bộ lạc làm cuộc khởi nghĩa chống lại sự xâm chiếm của người La Mã.