
Ả không chịu xuất đầu lộ diện, ả không hề tuân theo những nguyên tắc chúng ta đặt ra, và phá tan tành mọi quy chuẩn của chúng ta.
Russell, cháu đã chỉ ra những khúc mắc mà bấy lâu nay ta phải tốn không biết bao nhiêu công suy nghĩ. Cháu đã cứu ta thoát khỏi sai lầm tồi tệ nhất mà một thám tử mắc phải: bỏ qua những chi tiết rất rõ ràng. Nào, chỉ cho ta xem điều cháu vừa nhìn thấy đi.” Ánh mắt Holmes trở nên dữ dội dưới ánh đèn. Nhiều người mang thêm đèn đến, và chẳng mấy chốc khu nhà bằng đá sáng rực lên. Fowler xác thực là khu nhà đã được lau dọn trong khoảng tám tiếng tính từ đêm hôm trước cho đến thời điểm xảy ra sự việc. Tôi đứng lùi ra sau, cùng với Lestrade quan sát Holmes căng thẳng kiểm tra từng chi tiết nhỏ nhất, ông luôn miệng lẩm bẩm gì đó, thi thoảng lại thốt ra vài chỉ dẫn.
“Lại là giày ống, cỡ nhỏ, gót vuông, không còn mới. Một kẻ đi xe đạp. Lestrade, anh đã cách ly khu vực này và con đường bên ngoài chưa? Tốt lắm. Ả đã đến đây, và đã đứng ngay tại chỗ này. A! Thêm một sợi tóc vàng nữa; đúng vậy, nếu là tóc đàn ông thì có vẻ hơi dài, và khá thẳng. Hãy đánh dấu những túi tang vật này lại, Russell. Những vết bùn bám trên gót giày, những vết còn lại ở bồn rửa, đúng rồi, cả trên vòi nước nữa. Nhưng không hề có dấu vân tay trên bùn. Chẳng lẽ ả mang găng tay?” Holmes lơ đãng nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong gương, huýt sáo nhè nhẹ. “Tại sao ả lại để dính bùn lên găng tay, rồi lại rửa chúng đi nhỉ? Một câu hỏi phức tạp đây. Mang thêm một cái đèn qua đây đi, Lestrade, và gọi người chụp ảnh đến, tôi cần chụp thêm ảnh về chiếc xe sau khi MacReedy lấy dấu vân tay xong. Đúng vậy, đúng như tôi đoán, kẻ này thuận tay phải. Rửa tay, vẩy nước cho khô tay, hoặc là cho khô găng tay, rồi đi ra cửa. Này anh kia, tránh xa khỏi vết giày đó ngay. Trời đất ạ! Sau đó ả đi bộ ra đường lớn... không, không phải đường lớn, mà quay trở lại lối đi này, ở đây, đúng rồi, và ở đây.” Holmes đứng thẳng người, cau mày, lơ đãng nhìn lên mấy cành cây trụi lá ngay phía trên chỗ ông ấy đứng, trong khi chúng tôi thì im lặng quan sát. “Nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả, trừ khi... Lestrade này, tôi cần đến phòng thí nghiệm của anh tối nay, và tôi muốn toàn bộ khu công viên này phải được cách ly. Bất cứ ai cũng không được bén mảng vào đây cho đến khi tôi tới ngày mai. Liệu đêm nay có mưa không, Russell?”
“Cháu không rõ lắm, nhưng có vẻ sẽ không mưa đâu. Và chắc chắn sẽ không có tuyết nữa, trời rất ấm mà.”
“Không, ta nghĩ chúng ta nên đề phòng vẫn hơn. Hãy cầm lấy những phong bì tang vật này, Russell. Chúng ta có rất nhiều việc phải làm trước khi trời sáng đấy.”
Thành thật mà nói thì chỉ có Holmes mới có nhiều việc phải làm, bởi vì chỉ có một chiếc kính hiển vi duy nhất, mà ông ấy lại không muốn nói cho tôi biết thứ mà ông ấy đang tìm kiếm. Tôi ghi nhãn lên một vài bản kính, mí mắt như muốn rũ xuống mặc dù tôi đã uống rất nhiều cà phê đặc, và điều tiếp theo mà tôi được biết đó là sáng hôm sau, Holmes đứng bên cửa sổ với cái tẩu thuốc trên môi, còn tôi thì gần như tê cứng người vì ngủ gục trên bàn suốt mấy tiếng đồng hồ. Xương sống tôi kêu răng rắc khi tôi ngả lưng ra sau ghế, và Holmes quay người lại.
“À, Russell,” ông ấy nói rất khẽ, “cháu luôn có thói quen ngủ trên ghế như thế này à? Ta nghĩ bà cô của cháu khó mà tán thành việc này. Bà Hudson thì chắc chắn là không đâu."
Tôi dụi mắt và nhìn trừng trừng cái con người luôn ngăn nắp đang đứng trước mặt mình. “Có phải câu trêu đùa đáng ghét này có nghĩa là ông đang rất hài lòng với đống công việc đêm qua?”
“Ngược lại, Russell thân mến, công việc khiến ta rất bực mình. Những nghi ngờ mơ hồ vụt qua trong trí óc ta, và ta không thấy hài lòng với bất cứ điều gì cả.” Thái độ của Holmes bỗng dưng xa cách và nặng nề khi ông ấy nhìn chằm chằm như bị thôi miên vào các bản kính đang nằm ngổn ngang trên bàn làm việc. Ông ấy quay lại nhìn tôi với ánh mắt đanh thép rồi lại nở một nụ cười dịu dàng. “Ta sẽ kể với cháu trên đường đến công viên.”
“Ôi, Holmes, đừng vô lý thế chứ. Ông đã chỉnh tề từ đầu đến chân, còn cháu thì có thể ra ngoài với bộ dạng này sao?” Holmes nhìn cái váy nhăn nhúm mà tôi đang mặc, đôi bít tất dài và đôi giày có một không hai của tôi, rồi gật đầu. “Ta sẽ nhờ một mệnh phụ nào đó giúp chúng ta việc này.” Ông ấy vừa định bước đi thì có tiếng gõ cửa.
“Mời vào.”
Một anh chàng cảnh sát trẻ măng với vẻ rất căng thẳng đứng ngay trước cửa ra vào.
“Thưa ngài Holmes, thanh tra Lestrade lệnh cho tôi đến báo cho ngài biết có một cái gói được đặt ngay trước cửa để gửi đến cho cô đây, nhưng... ”
Holmes lao như tên bắn ra khỏi căn phòng, chứng minh tất cả những lời đồn thổi về sự chậm chạp, những vết thương và căn bệnh thấp khớp của mình là hoàn toàn vô căn cứ. Tôi nghe thấy tiếng ông ấy hét lên: “Đừng chạm vào cái gói đó, đừng chạm vào, hãy gọi ngay đội gỡ bom đến đây, đừng chạm vào! Anh có nhìn thấy kẻ mang nó đến đây không, hả Lestrade???”
Khi tôi đuổi theo Holmes ra chỗ cầu thang thì tiếng của ông ấy cũng nhỏ dần lại, anh chàng cảnh sát trẻ kia cứ nói liến thoắng bên cạnh tôi.
“Tôi đang định nói thì ông Holmes đã bỏ đi rồi, quả bom giờ đang ở chỗ đội tháo gỡ, thanh tra Lestrade muốn ông ấy đến để hỏi cung thằng nhóc đã mang quả bom đến đây... Ông ấy đã không để tôi kịp nói hết, thưa ngài thanh tra.” Câu nói cuối cùng của anh ta là để báo cáo với Lestrade. Chúng tôi quan sát những người đàn ông làm việc ngay tầng dưới, một người đang cầm ống thăm dò đặt lên cái gói có bọc giấy bên ngoài - thận trọng và căng thẳng. Một sự im lặng chết chóc bao trùm toàn bộ căn phòng. Holmes quay sang ngài thanh tra.
“Anh vẫn giữ thằng nhóc mang quả bom đến đây chứ?”
“Vâng, nó vẫn ở đây. Nó nói rằng có một người đàn ông đã chặn nó lại trên đường khoảng một tiếng đồng hồ trước, và thuê nó mang cái gói này đến đây với giá hai sovereign1. Một gã đàn ông nhỏ con, tóc vàng, khoác áo khoác dày, hắn nói rằng một người bạn của hắn rất cần cái gói này vào sáng nay, nhưng hắn không thể tự mình mang đến được. Sau đó hắn đưa cho thằng bé một đồng sovereign và hỏi địa chỉ của nó để gửi nốt đồng còn lại sau khi biết chắc chắn món hàng đã được gửi đi.”
“Đồng vàng còn lại sẽ chẳng bao giờ được gửi đến.”
“Thằng nhóc ngóng chờ điều đó lắm. Nó tin sái cổ lời gã kia. Ngay cả khi nó chưa biết về giá trị của một đồng vàng, thì cái ánh sáng lấp lánh của loại tiền này cũng đủ làm nó mê mẩn rồi.”
Chúng tôi quan sát hai người đàn ông trong lúc họ làm việc, họ đang căng thẳng thấy rõ khi cắt nhẹ nhàng từng sợi dây buộc, cắt bỏ lớp giấy bọc, rồi mở ra xem thứ đang được chứa bên trong. Từ từ, nhẹ nhàng, cái gói được tháo rời. Một chồng quần áo xếp gọn gàng hiện ra
[1]
trước mắt chúng tôi: một cái váy lụa, một áo khoác bằng vải bông, hai bít tất dài bằng lông thỏ angora, quần đồng bộ, và một đôi giày. Một mảnh giấy gấp gọn nhẹ nhàng rơi xuống sàn nhà.
“Nhặt nó lên, nhớ dùng găng tay.” Holmes kêu to.
Người đàn ông trong đội gỡ bom bối rối gắp mẩu giấy đến chỗ ông Lestrade bằng một cặp nhíp mà các bác sĩ vẫn dùng trong phòng phẫu thuật. Ông ta đọc, rồi đưa nó cho Holmes, Holmes đọc to bằng một giọng chầm chậm rồi chuyển dần sang hoảng hốt và hoài nghi.
"Cô Russell thân mến!
Tôi biết những thiếu sót của ông ấy, tôi chắc rằng người đồng hành cùng cô sẽ không đoái hoài gì đến việc cô sẽ lấy đâu ra những bộ quần áo phù hợp để mặc cho sáng nay. Hãy vui lòng nhận món quà này cùng với lời thăm hỏi của tôi gửi đến cô. Cô sẽ thấy khá thoải mái khi mặc chúng.
Một người hâm mộ."
Holmes chớp mắt phải đến mấy lần rồi ném mạnh tờ giấy về phía Lestrade. “Hãy chuyển tờ giấy này đến bộ phận phân tích chữ,” ông ấy gần như gầm lên. “Hãy mang chỗ váy áo đến phòng thí nghiệm, kiểm tra chúng xem có vật thể lạ, bột phá hủy hay những thứ tương tự hay không. Hãy tìm ra chúng có nguồn gốc từ đâu. Và, vì Chúa, có ai làm ơn tìm cho quý cô Russell đây một ‘bộ váy áo phù hợp’ để cho vụ án không bị gián đoạn một giây nào nữa không?” Khi Holmes quay lưng đi trong cơn giận dữ điên cuồng, tôi vẫn kịp nghe thấy ông ấy càu nhàu, “Thật không thể chịu đựng nổi!”
Rất nhiều váy áo được đưa đến chỗ tôi: đồng phục cũng có, đồ bình thường cũng có, tất cả đều có vẻ không thoải mái. Chúng tôi lên đường đến khu công viên bằng xe chuyên dụng, Lestrade ngồi ghế trước ngay cạnh tài xế, Holmes ngồi cạnh tôi, im lặng và lạnh lùng nhìn ra ngoài cửa kính, những ngón tay dài gõ nhịp lên đầu gối. Ông ấy không hề muốn tiết lộ kết quả ở phòng thí nghiệm. Tại công viên, ông ấy chạy lên chạy xuống mấy lối đi, gật đầu với chính mình, rồi sau đó lại cộc cằn đẩy chúng tôi quay trở lại xe. Ông ấy giả điếc trước những câu hỏi của Lestrade, rồi chúng tôi quay trở về văn phòng của Lestrade trong im lặng, ở đó chúng tôi mới không bị ai quấy rầy. Holmes đi đến bàn làm việc của Lestrade, mở một ngăn kéo, lấy một gói thuốc lá nhỏ, lôi ra một điếu, dùng một chiếc bật lửa hiệu Vesta châm thuốc, rồi đi đến cửa sổ, quay lưng lại phía tôi, lơ đễnh nhìn ra ngoài đường đê nhộn nhịp, với tàu thuyền trôi trên sông tấp nập. Nhả những cuộn khói thuốc vào kính cửa sổ ố màu, ông ấy hút hết điếu thuốc mà vẫn không hé răng nửa lời, rồi lại đi về chỗ cái bàn, thong thả dí mẩu thuốc còn lại vào cái gạt tàn.
“Ta phải ra ngoài,” Holmes nói cộc lốc. “Ta sẽ không cho phép bất cứ gã bạn chậm chạp, nặng nề nào của cháu đi cùng. Họ chỉ được cái chạy nhốn nháo. Trong khi ta không có ở đây, hãy liệt kê những thứ cần thiết và đưa nó cho bà quản lý. Quần áo mặc trong hai ba ngày, không cần phải trang trọng quá đâu. Quần áo nam hay nữ, tùy cháu. Tốt hơn hết là cháu nên ghi thêm một số thứ nữa cho ta, cháu biết cỡ ta hay mặc rồi chứ? Ta có thể sẽ dùng đến chúng. Vài tiếng nữa ta quay lại."
Tôi giận dữ đứng bật dậy. “Holmes, ông không thể đối xử với cháu như thế này được. Ông không hề nói gì với cháu, không hề bàn bạc với cháu, chỉ đẩy cháu đến đây, đến kia và gạt phăng tất cả những kế hoạch cháu đã đặt ra, bỏ mặc cháu trong tăm tối như thể cháu là bác sĩ Watson vậy. Bây giờ ông lại định rời khỏi đây và bỏ mặc cháu với danh sách dài những thứ cần phải mua?" Holmes đã ra đến cửa, tôi chạy theo ông ấy, tiếp tục phản kháng.
“Đầu tiên thì gọi cháu là cộng sự, rồi sau đó ông đối xử với cháu như thể cháu là đầy tớ của ông vậy. Ngay cả một kẻ học việc cũng xứng đáng được đối xử hơn thế. Cháu muốn biết...”
Tôi vừa đi ngang qua cửa sổ thì một âm thanh dữ dội làm rung cả mặt bàn ngay phía bức tường ngoài kia, rồi lại một tiếng súng nữa vang lên chát chúa. Holmes phản ứng ngay lập tức, gần như bay người qua căn phòng đến chỗ tôi ngay khi cái cửa sổ bật tung thành một trận mưa các mảnh kính sắc như dao cạo. Cả hai chúng tôi đều cúi thật thấp xuống, rồi Holmes chộp lấy hai vai tôi.
“Cháu có làm sao không?”
“Chúa ơi...”
“Russell, cháu không việc gì chứ hả?” Ông ấy hét lên.
“Vâng, cháu không sao. Ông có... ” nhưng ông ấy đã cúi người xuống, lấy hết sức chạy thật nhanh về phía cửa ra vào. Đúng lúc đó thì cánh cửa mở tung, và viên thanh tra trong bộ thường phục đang há hốc miệng đứng nhìn. Holmes đứng thẳng dậy, rồi họ cùng lao xuống cầu thang. Tôi lấy lại tinh thần, lẻn đến chỗ cái cửa sổ bị vỡ và ghé mắt nhìn qua một góc thấp hơn. Một chiếc xuồng hơi nước đang lao như điên trên sông, một bà mẹ đang đẩy một chiếc xe nôi ở trên cầu, bà ta dừng lại và quay sang nhìn chiếc taxi đỗ gần đó, nhún vai tỏ vẻ ngạc nhiên. Trong vòng chưa đầy một phút Holmes và những người khác đã chạy như bay đến chỗ người đàn bà đó, khua chân múa tay loạn xạ, chỉ trỏ về phía đông dòng sông rồi lại chỉ về phía nam của cây cầu. Tôi thấy Holmes nhìn lên, chính xác ngay chỗ tôi đang đứng bên cửa sổ, rồi quay sang nói gì đó với viên thanh tra, sau đó với vẻ rất cương quyết, ông ấy bước đi, không đội mũ và đầu hơi cúi xuống, quay về phía trụ sở.
Trụ sở của Lestrade lúc này đã đông nghẹt những người đến đo đạc các góc nhà và tìm nhặt những viên đạn từ đống gạch đổ nát, không ai trong số họ có lấy một cái hót rác trong tay hay một dụng cụ nào đó để cản những đợt gió lạnh buốt từ khung cửa sổ bị vỡ. Tôi lánh sang văn phòng kế bên, nhưng văn phòng này lại không có cửa sổ. Vừa lúc đó Holmes xuất hiện, và tôi biết mình không nên tranh cãi với ông ấy, mặc dù tôi đã định như thế. “Ta nghĩ tốt hơn hết là cháu nên đổi lại cái đơn đặt hàng thành một cái đơn đặt quần áo đủ dùng trong vài ngày đi, Russell,” đó là những lời nói đầu tiên của ông ấy. “Hãy tránh xa mấy cái cửa sổ ra, đừng ăn hay uống bất cứ thứ gì mà cháu không chắc chắn là có an toàn hay không, và hãy mang súng bên mình.”
“Không nhận kẹo từ người lạ, ý ông là thế đúng không?” tôi mỉa mai, nhưng không thấy ông ấy nổi cáu.
“Chính xác. Ta sẽ quay trở lại sau hai hoặc ba tiếng nữa. Hãy chuẩn bị đi, khi ta quay lại, chúng ta sẽ rời khỏi đây ngay lập tức.”
“Holmes, ít nhất thì ông nên...”
“Russell,” ông ấy ngắt lời tôi, rồi tiến đến ôm lấy vai tôi, “ta rất xin lỗi, nhưng thời gian gấp lắm rồi. Cháu muốn ta phải cho cháu biết chuyện gì đang diễn ra đúng không, và ta sẽ làm điều đó. Cháu muốn bàn bạc cùng ta; ta cũng định sẽ làm điều đó. Thật ra, ta cũng rất phân vân xem có nên để cháu tham gia hay không. Nhưng không phải lúc này, Russell, cháu hãy tạm dừng lại đã.” Rồi ông ôm lấy đầu tôi, cúi xuống, chạm nhẹ đôi môi lên trán tôi. Tôi ngồi phịch xuống, như thể bị sét đánh, và đến tận khi ông ấy đi khỏi rất lâu... tôi mới nhận ra, chính xác tại sao ông ấy lại làm như vậy.
Thái độ không bình thường của Holmes mách bảo tôi rằng ông ấy chắc chắn sẽ không thể quay trở lại trong vòng hai ba tiếng nữa. Giận dữ, tôi viết nguệch ngoạc những thứ cần mua vào một tờ giấy rồi đưa cho một nữ cảnh sát trẻ cùng những đồng tiền cuối cùng, sau đó bước ra khỏi căn phòng không cửa sổ. Tôi vẫn bị giật mình mỗi khi đi ngang qua ô cửa sổ nào đó, nhưng tôi muốn được nhìn tận mắt cái bọc quần áo gửi tới cho mình sáng nay. Đến khu phòng thí nghiệm, tôi gặp một người đàn ông khoác một cái áo choàng trắng trang trọng quá mức cần thiết, ông ta đang đứng bên cạnh bàn và giật mình quay lại đúng lúc tôi bước vào. Tôi sững người không thốt lên lời khi nhìn thấy thứ mà ông ta đang cầm trên tay: một chiếc giày. Đó là chiếc giày của tôi.
Đôi giày đang án ngữ trên chiếc bàn của phòng thí nghiệm lúc này đã biến mất khỏi phòng tôi từ đợt mùa thu. Tôi đã diện nó vào tuần thứ hai của tháng Mười, và hai tuần sau thì nó không cánh mà bay. Và bây giờ, nó ở đây.
Sự căng thẳng trong tôi dịu bớt đi khi tôi nhìn thấy đống quần áo, chúng lạ hoắc, mặc dù có vẻ rất hợp với sở thích của tôi. Tất cả đều là đồ mới và là đồ may sẵn tại một cửa hàng lớn ở Liverpool, không nổi bật cho lắm, dù không hề rẻ chút nào. Như vậy, những người giám định đã không phát hiện thêm được điều gì - ngay một cái ghim áo bị mất cũng không.
Bức thư đi kèm gói quần áo nằm trên chiếc khay thép đặt trên mặt bàn, nó còn vương lớp bột lấy dấu vân tay màu xám. Cứ cho là người gửi đã rất bất cần đi chăng nữa thì loại giấy này cũng quá ráp để có thể hằn lại dấu vân tay. Tôi cầm tờ giấy lên, đọc nó với một sự thích thú bất đắc dĩ, tình cờ chú ý đến sự đặc biệt trong từng nét chữ, rồi sững người, đặt nó xuống. Nỗi hoài nghi làm tôi đông cứng lại. Có quá nhiều việc choáng sốc đã xảy ra trong những ngày vừa qua. Tôi lần mò tìm một chiếc ghế đẩu, và sau một lúc, tôi bắt đầu nhận thức được sự lo lắng của người đàn ông trong phòng. Tôi nói cho ông ta biết những gì mình vừa nhìn thấy. Khi Lestrade xuất hiện, tôi cũng kể lại với ông ta y hệt. Một lúc sau, tôi quay về căn phòng không có cửa sổ cùng với nữ cảnh sát - người vừa đi mua đồ cho tôi về. Chị ấy kể cho tôi nghe mình đã cẩn thận như thế nào khi quan sát người ta lấy những bộ quần áo xuống và gói chúng, thỉnh thoảng tôi đáp lại chị ấy một cách lịch sự rồi ngồi lặng yên ở đó một lúc lâu, những ý nghĩ đang xáo trộn dữ dội trong đầu.
Đến lúc Holmes thình lình xuất hiện trong phòng, trong bộ dạng đầu tóc rối bù và đôi mắt sáng rực; tôi đã kịp tỉnh táo trở lại để xem tất cả những món đồ mà chị cảnh sát mua về cho mình. Tôi đột ngột bước lùi về phía sau khi ông ấy bước vào.
“Chúa lòng lành, Holmes, ông mang cái mùi hôi thối này từ đâu về vậy? Rõ là ông vừa ở bến tàu lên, nhìn chân ông cháu cũng đủ biết là ông vừa chui xuống mấy cái cống rãnh ở đó rồi, nhưng cái mùi khủng khiếp này là mùi gì vậy?”
“Thuốc phiện, cô gái ngây ngô của ta. Nó đã bám vào tóc và quần áo của ta, mặc dù ta không hề dùng nó. Ta phải chắc chắn rằng mình không bị theo dõi.”
“Holmes, chúng ta cần phải nói chuyện, nhưng cháu đến nghẹt thở mất nếu như ông cứ đứng đây. Nếu như ông không quá cầu kỳ thì trong khu nhà giam có dãy nhà tắm còn khá tốt đấy. Hãy mang theo những bộ quần áo này, nhưng đừng để chúng dính phải những thứ mà ông đang mặc trên người.”
“Không còn thời gian đâu, Russell. Chúng ta phải ‘cất cánh’ thôi.”
“Không được!”
“Cháu nói gì cơ?” Holmes nói gay gắt. Sherlock Holmes không quen với hành động từ chối theo kiểu toạc móng heo như vậy, ngay cả khi nó xuất phát từ phía tôi.
“Cháu hiểu ông, Holmes à, cháu có thể thấy chúng ta đang chuẩn bị lao vào một cuộc hành trình vừa dai dẳng vừa gian khổ. Nhưng nếu phải lựa chọn giữa việc chết dần chết mòn với cái mùi khủng khiếp của ông và việc bị bom đánh tan xác thì cháu thà chọn việc thứ hai. Một cách sung sướng.”
Holmes trừng trừng nhìn tôi trong vài giây và thấy khó có thể lay chuyển được tôi. Ông ấy quay sang nguyền rủa cái bến tàu, chộp lấy mấy bộ quần áo mà tôi đưa cho, rồi lao nhanh ra khỏi cửa, nổi cáu với một viên cảnh sát tội nghiệp đang đứng bên ngoài, mà chỉ là hỏi đường đến dãy nhà tắm.
Khi Holmes lao vào trở lại, tôi đã sẵn sàng để lên đường, trong bộ dạng một gã trai đi giày ống. Kiểu gì, tôi nghĩ, bộ quần áo mới này cũng sẽ nhanh chóng tả tơi thôi.
“Tốt lắm, Russell, ta đã sạch sẽ thơm tho rồi. Lên đường thôi.”
“Cháu để sẵn một tách trà và một chiếc sandwich cho ông đấy. Cháu sẽ xem lại lưng cho ông trong lúc ông ăn.”
“Vì Chúa, thưa cô, chúng ta phải có mặt ở bến tàu trong ba mươi lăm phút nữa đấy! Chả còn thời gian cho tiệc trà nữa đâu.”
Tôi vẫn ngồi yên, điềm tĩnh đặt tay lên vạt áo. Tôi quan sát và lấy làm thích thú khi thấy gò má của Holmes dần chuyển sang màu tía trong nỗi bất an, và đôi mắt ông ấy mở căng ra. Ông ấy đành cởi áo khoác ngoài, một cái cúc mà ông ấy cài nhầm trước đó bị bật ra, rơi xuống rồi nảy trên sàn. Tôi nhặt nó lên và đút vào túi, rồi gỡ những miếng gạc ra trong khi ông ấy uống hết tách trà. Tôi làm thật nhanh tay ở những vết thương sắp liền, và năm phút sau, chúng tôi đã bước chân xuống phố.
Holmes và tôi chui vào một chiếc xe hơi bóng lộn đang nằm nhàn rỗi bên vệ đường, chiếc xe nổ máy phóng vụt đi. Gã tài xế trông giống một tên lưu manh hơn là chủ của một chiếc xe đẹp đẽ thế này, nhưng tôi không muốn bàn luận gì thêm. Tôi đợi cho Holmes nguôi cơn giận đang ầm ỉ, nhưng ông ấy cứ lầm lì như thế cho đến khi chúng tôi đến bờ Nam của cầu tháp Tower Bridge.
“Russell, nghe này,” Holmes cất tiếng, “ta không định nhờ cháu...” nhưng tôi đã cắt ngang lời ông ấy bằng một cách cực kỳ đơn giản: giơ thẳng một ngón tay lên. (Ngẫm lại tôi thấy cực kỳ xấu hổ trước thói ngỗ ngược của một con nhóc chưa đầy mười chín tuổi với một người đàn ông gấp gần ba lần số tuổi mình, lại chính là thầy dạy của mình, nhưng vào thời điểm đó, tôi không còn lựa chọn nào khác.)
“Ông mới là người cần nghe, Holmes. Cháu không thể bắt ông kể hết mọi việc cho cháu, nhưng cũng không vì thế mà cháu bị bắt nạt đâu. Ông không phải là vú em của cháu, cũng không phải là người có bổn phận bảo vệ và nuông chiều cháu. Ông đã không hề đưa ra bất cứ lý do nào để cháu thấy rằng ông không hài lòng với khả năng suy luận của cháu. Ông từng thừa nhận việc cháu đã trưởng thành - ông gọi cháu là “cô” không phải chỉ cách đây mười phút - và với tư cách một đồng sự biết suy nghĩ chín chắn, cháu muốn đưa ra những quyết định của riêng mình. Cháu đã thấy ông trở về trong bộ dạng bẩn thỉu và mệt mỏi, cháu dám cá là ông chưa có gì bỏ vào bụng từ tối hôm qua đến giờ, và cháu có quyền bảo vệ mối quan hệ giữa chúng ta bằng việc ngăn chặn sự ngớ ngẩn hết sức của ông. Đúng vậy, ngớ ngẩn. Ông tin rằng mình đã nằm ngoài giới hạn của sự sống chết, cháu biết, nhưng trí óc, Holmes thân mến của cháu, trí óc ông phụ thuộc vào tình trạng già yếu của cơ thể ông. Việc ông không ăn không uống và không chịu chăm sóc vết thương đang đặt mối quan hệ giữa chúng ta - đặt cả cháu nữa - vào những mối nguy không cần thiết. Và đó là điều mà cháu không hề muốn.”
Tôi đã quên hẳn gã tài xế, có vẻ như gã ta là một khán giả sắc sảo trước bài diễn văn vô cùng ấn tượng của tôi. Gã phá lên cười và đập thình thình vào tay lái. “Thật xuất sắc, thưa cô,” hắn cười ha hả, “sao cô không bảo ông ấy đêm nay tự ngồi giặt tất luôn đi?”
Thế là mặt tôi đỏ bừng lên vì xấu hổ.
Gã tài xế vẫn tiếp tục nhăn nhở, và khi chúng tôi đến nơi, một cầu tàu nhớp nháp và bẩn thỉu ở đâu đó gần vùng Greenwich, thì Holmes đã trở nên mềm mỏng hơn. Mặt sông dày đặc sương mù và âm u dưới trời chiều chạng vạng, trông lạnh lẽo và xa lạ. Vùng này có vẻ bị bỏ hoang, mặc dù chúng tôi nghe thấy tiếng người nói và tiếng máy móc vọng lại từ tòa nhà kế đó.
“Cảm ơn, anh bạn trẻ,” Holmes lặng lẽ nói, “Đi nào, Russell.” Chúng tôi thận trọng đi trên những tấm ván dẫn đến một cái cổng làm bằng tôn múi bị tróc hết vỏ ngoài, nó trượt mở với một sự im lặng kỳ quái rồi đóng lại sau lưng chúng tôi. Người gác cổng đi theo chúng tôi đến tận cuối cầu tàu, ở đó có một con tàu nhỏ đang đợi sẵn. Người đàn ông đứng trên boong tàu réo gọi chúng tôi, rồi đi xuống phía cầu tàu giúp chúng tôi xách đồ lên khoang.
“Chúc một ngày tốt lành, ông Holmes. Chào mừng ông lên chuyến tàu xuất ngoại.”
“Tôi rất vui khi được ra nước ngoài, thưa ngài thuyền trưởng, thật sự rất vui. Đây là..." ông ấy nhướng mày với tôi, “cộng sự của tôi, cô Russell. Russell, thuyền trưởng Jones đây là người điều khiển một trong những con tàu nhanh nhất trên sông này và ông ấy đã đồng ý đưa chúng ta vượt biển."
“Biển ư? Ôi, Holmes, cháu không cho rằng... ”
“Russell, chúng ta sẽ nói chuyện sau. Jones, chúng ta khởi hành luôn chứ?”
“Nhất trí, thưa ông, càng sớm càng tốt. Nếu như ông muốn xuống bên dưới, con trai tôi, Brian, sẽ lo chỗ nghỉ ngơi cho ông và cô Russell.” Một cậu bé xuất hiện ngay khi chúng tôi bước xuống lối đi hẹp, nó có vẻ nhút nhát, lúc nào cũng cúi gằm mặt xuống.
Một cầu thang hẹp dẫn xuống một khoang tàu rộng rãi đến khó tin, đủ chỗ cho một gian bếp nhỏ nhắn, vài cái ghế đệm, và cả một chiếc sofa được bắt bu lông cố định trên sàn. Qua hành lang là những cánh cửa dẫn đến hai phòng ngủ nhỏ với một nhà vệ sinh và một phòng tắm ở giữa. Không quá tiện nghi, nhưng con tàu này rõ ràng vẫn mang lại sự thoải mái cho những người không phải thủy thủ như chúng tôi. Chúng tôi ngồi xuống hai chiếc ghế đệm và lặng lẽ ngắm nhìn London dần trôi qua cửa sổ. Tiếng động cơ trầm lắng dần. Tôi ngả người về phía trước.
“Holmes, giờ thì cháu có vài chuyện muốn nói với ông..."
“Trước tiên, hãy uống chút brandy đã.”
“Sao ông lúc nào cũng bắt cháu uống thứ đồ uống đó!” tôi gắt gỏng.
“Để tránh bị say sóng, Russell.”
“Cháu không bị say sóng.”
“Cô Russell, mấy ngày gần đây cô trở nên khó hiểu quá đấy. Nếu đôi tai ta không đánh lừa ta, thì điều cô vừa nói là giả dối. Lúc trên boong tàu cô đã định nói với ta rằng cô không hề muốn ra biển vì đi biển khiến cô phát ốm, có đúng vậy không?”
“Ồ, hay đấy, cháu thừa nhận là cháu không thích đi biển. Rót cho cháu ít rượu nào.” Tôi uống hai ngụm lớn đầy miệng trước sự nhăn nhó tỏ ý không hài lòng của Holmes, rồi đặt mạnh cái cốc lên mặt bàn. “Holmes, bây giờ...”
“Được rồi, Russell, cháu muốn biết về những ổ thuốc phiện ngày hôm nay ta đã tìm thấy và... ”
“Holmes!” tôi gần như hét lên. “Ông có nghe cháu nói không hả?”
“Tất nhiên rồi, Russell. Ta rất sẵn lòng nghe cháu nói, ta chỉ nghĩ rằng”
“Đôi giày, Holmes, đôi giày được gửi đến trong cái gói đó! Chúng đã từng là của cháu, là giày của cháu, nhưng đã bị lấy trộm, từ phòng cháu ở Oxford. Chúng biến mất vào khoảng giữa ngày mười hai và ngày mười ba tháng Mười!”
Chúng tôi im lặng, dễ đến nửa phút.
“Trời đất ơi!” Cuối cùng thì ông ấy cũng thốt lên. “Ta vô cùng biết ơn cháu, Russell ạ, ta đã quên mất điều đó hoàn toàn.” Ông ấy rõ ràng đang bị xáo trộn, làm cho chút sung sướng ác ý mỏng manh mà tôi có khi chuẩn bị thông báo cái tin thứ hai bỗng rủ nhau tiêu tan hết.
“Còn nữa. Thật ra, cháu nghĩ ông hãy uống cho xong chỗ rượu đó đi, Holmes ạ, bởi vì mảnh giấy đó được đặt ngay trong đôi giày. Cháu đã kiểm tra rất, rất nhiều lần, và cháu tin chắc rằng nó đã được đánh máy bởi cùng cái máy chữ trong vụ đòi tiền chuộc cô bé Jessica Simpson!”
Cú đánh này chẳng hề mềm mại chút nào. Đã có quá nhiều việc tồi tệ xảy đến với chúng tôi, nhưng sự tác động tất yếu trong lời nói của tôi tới ông ấy mới thật khủng khiếp: lần thứ hai trong hơn hai ngày, tôi đã cứu ông ấy khỏi những sai sót lớn. Ông ấy đứng bật dậy, đến bên cửa sổ và quay lưng lại phía tôi.
“Holmes à, cháu... ”
Tôi đặt một ngón tay lên môi, và kìm lại được những điều nếu nói ra sẽ chỉ làm mọi chuyện tồi tệ hơn: Holmes à, bốn ngày trước ông đã bị bọn chúng đe dọa rồi bị thương, ông đã ngủ ít hơn ba tiếng mỗi ngày, ông đã kiệt sức và giận dữ khi nhìn thấy mảnh giấy đó. Nếu không phải trải qua những chuyện như thế, thì hẳn ông đã nhớ được nét bị thiếu ở chân chữ ‘a’, chữ ‘l’ bị nghiêng đi, còn chữ ‘M’ thì cao hơn các chữ cái khác. Ông sẽ nhớ được những chữ cái đó, không chỉ hôm nay, ngày mai, mà cả những ngày về sau...
Tuy nhiên, tôi đã không nói như thế, mà chỉ khẽ nói một câu: Holmes, ông đang không khỏe mà.
Rồi tôi thở dài và ngồi xuống ghế, quan sát khung cửa sổ đối diện.
Mười phút sau, Holmes quay lại và ngồi xuống với cái tẩu thuốc trên tay. Ông ấy ngừng lại, tay cầm que diêm đang cháy.
“Cháu có vẻ khá chắc chắn về chuyện đó, đúng không?”
“Vâng.” Tôi bắt đầu định kể lể những đặc điểm mà mình ghi nhớ, nhưng ông ấy cắt ngang.
“Không cần thiết, Russell. Ta có một niềm tin lớn lao vào con mắt của cháu mà.” Holmes thổi phù đám khói nhỏ và vẩy nhẹ que diêm. “Và trí thông minh của cháu nữa,” ông nói thêm. "Rất xuất sắc. Giờ chúng ta đã biết được động cơ của chúng.”
“Chúng muốn trả thù vì vụ bắt cóc Jessica không thành?”
“Đúng, và chúng cũng biết chúng ta đang mong đợi tóm được một vụ tương tự trong thời gian tới. Ai đã quen với mấy câu chuyện bịa đặt của bác sĩ Watson thì đều chắc chắn một điều rằng kiểu gì Sherlock Holmes chẳng tóm được hết mấy tên tội phạm. Hoặc, trong trường hợp này, là một ‘ả’ tội phạm.” Thật mừng khi lại được nghe cái giọng điệu mỉa mai châm biếm quen thuộc của ông ấy. “Tuy nhiên, thật hay ho khi ta đã không thể tìm thấy dấu hiệu nào của một băng nhóm xảo quyệt mà kẻ cầm đầu lại là một mụ đàn bà.”
Tôi khép lại chủ đề có phần không thoải mái này và hỏi về kết quả của mười tám tiếng đồng hồ vừa rồi. Holmes lộ vẻ ngạc nhiên.
“Mười tám tiếng? Tối qua ta tưởng cháu đã theo kịp những suy đoán của ta rồi chứ?”
“Mấy lời lẩm bẩm của ông trong công viên hoàn toàn không thể hiểu nổi, còn lúc ở phòng thí nghiệm, nếu ông có nói điều gì với cháu trước khi trời sáng thì đúng là cháu chẳng nghe thấy gì cả.”
“Lạ thật, ta tưởng là mình đã nói rất nhiều rồi chứ. Được rồi, ta sẽ kể cháu nghe. Ở công viên, thoạt nhìn vào cái đống từng một thời là chiếc xe bốn bánh hoành tráng , ta nghĩ mình sẽ chẳng tìm được điều gì thú vị cả. Nhưng ta đã xác định được có hai gã đàn ông cao lớn, và một kẻ nữa, nhỏ con hơn, đi một đôi giày ống đế vuông đặc biệt. Hai gã to con đến phía sau Billy, lúc này Billy đang đứng nói chuyện với ai đó, dù ta luôn nghĩ cậu ấy là một người rất cảnh giác. Chúng khử Billy bằng một cái dùi cui, còn kẻ nhỏ con hơn đã gây mê cậu ấy. Hai gã to lớn tiếp tục vào xe phá hủy đống quần áo của cháu. Xong việc, kẻ nhỏ con trèo vào và dùng dao rạch những đường điệu nghệ lên chỗ ngồi, cùng lúc đó những sợi bông từ đám vải vụn dính cả vào những vết cắt ấy, mặc dù lưỡi dao có vẻ sắc khủng khiếp. Tình cờ ta biết được đó là một con dao cán ngắn, hai lưỡi, lưỡi dao dài khoảng mười lăm phân và bề ngang khá hẹp.”
“Một thứ vũ khí ác hiểm. Một con dao bấm tự động chăng?”
"Chắc chắn. Cỗ xe bị phá hủy làm ta thật đau đầu. Cháu có thấy điều gì không hợp lý không?”
“Những vết rạch có vẻ kỳ lạ. Chúng quá chính xác, tất cả đều dài bằng nhau và cùng theo một hướng, nhưng lại dừng lại ngay phía cuối chỗ ngồi như thế bọn chúng muốn tìm kiếm thứ gì đó dưới lớp da thuộc. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ có bàn tay thọc vào ạ?”
“Đúng, không hề có. Một câu hỏi nữa không kém phần thú vị là tại sao kẻ nhỏ con, tức kẻ cầm đầu , lại là kẻ rạch những vết cuối cùng này? Ta đã bỏ qua điều gì đó, Russell. Giá như được xem lại những bức ảnh. Có lẽ chúng sẽ giúp ta nhớ được điều gì đó.”
“Bao giờ thì chuyện đó xảy ra đây ạ?”
“ Điều đó tùy thuộc vào cháu. Mà không, hãy để ta giải thích điều đó khi cuối cùng mọi thứ đã đâu vào đấy. Ta vốn không muốn nhảy cóc trong bản tường thuật về những chứng cứ của mình.”
“Tiếp tục nhé: Chúng để lại một cái cúc áo trong xe, một dấu tay rõ ràng là của tên cao lớn, một sợi tóc màu vàng, cùng một số vết bùn bẩn màu nâu nhạt trên sàn xe và chỗ ngồi. Tẹo nữa chúng ta sẽ kiểm tra lại những chi tiết đó.”
“Trong khi cháu xem xét những mảnh vụn quần áo của mình thì ta đã lần theo dấu vết của bọn chúng. Những vết bùn khá rõ: nó trải dài qua công viên, trên lối đi trải sỏi mịn. Nhưng ta không tìm thấy dấu chân của hai gã to lớn hơn, điều đó thật bất thường. Tận đến khi cháu tìm được vết bùn tương tự trong khu nhà vệ sinh đó, ta mới khám phá ra: ba kẻ đó không hề băng ngang qua công viên mà đi vòng qua con đường lát đá cứng, đông người qua lại. Hành sự xong, hai gã cao lớn quay lại bằng lối đó, nhưng kẻ nhỏ con thì đi giật lùi qua con đường trải sỏi giữa công viên , vào khu nhà vệ sinh nữ, rửa tay, và tiếp tục đi theo kiểu giật lùi tới điểm mà chúng đã cùng nhau đi vào công viên lúc đầu. Sau đó bọn chúng đã cướp một chiếc xe rồi trốn thoát.”
“Và hôm sau ông đã kiểm tra lại những dấu chân trên con đường trải sỏi để chắc chắn rằng chúng được đi theo kiểu giật lùi?”
“Chính xác. Cháu đã đọc công trình nghiên cứu của ta về các dấu chân chưa? Bốn mươi bảy cách xóa sạch dấu vết ấy? Chưa à? Trong công trình đó ta đã đề cập đến việc sử dụng các phương thức khác nhau để đánh lạc hướng, như đảo dấu chân, hay như buổi sáng thứ Ba hôm nọ, chúng ta đã giấu vết chân này trong vết chân kia, nhưng có vẻ như chúng ta không cẩn thận nên đã bị phát hiện. Và còn một bài báo nữa liên quan đến sự khác nhau bẩm sinh giữa dấu chân của nam và nữ. Ta cho cháu xem chưa nhỉ? À ừ, tất nhiên là chưa, lúc đó cháu đâu có ở nhà. Ta đã phát hiện ra rằng dù con người có đi bất cứ loại giày nào, thì cách đặt ngón chân và cách nện gót giày xuống nền đất vẫn hoàn toàn khác nhau giữa hai giới tính. Ta nảy ra ý tưởng này trong một lần nói chuyện với cháu. Vào một buổi tối, hình như thế. Sau khi cháu tìm ra vết bùn trong khu nhà vệ sinh, và sau khi quan sát chúng dưới ánh sáng ban ngày, ta đã tìm ra sự thật. Đó là một người đàn bà, cao khoảng mét bảy, khá mảnh dẻ, chắc không quá năm mươi kilôgam. Có thể ả có mái tóc vàng...”
“Chỉ có thể thôi sao?”
“Chỉ là có thể thôi,” Holmes nhắc lại. “Ả khá thông minh, hiểu biết rộng, đặc biệt là có phần kỳ cục và khá hài hước.”
“Ông muốn nhắc đến bức thư?”
“Không, ta đã biết trước khi bức thư được gửi đến. Cháu đọc công trình nghiên cứu của ta về các loại đất ở London rồi chứ?"
“Một vài đặc trưng điển hình...” tôi nói.
“Đúng đúng, là cuốn đó! Ta không đòi hỏi cháu phải thông thạo về London, nhưng cháu biết đấy, ta đã sống phần lớn quãng đời ở đây, cho đến khi ta giải nghệ. Ta hít thở không khí ở đây, bước trên vùng đất này, và ta biết rõ London như thể một người chồng hiểu rõ vợ mình vậy.” Tôi không phản ứng gì trước cách ví von của Holmes. “Ta có thể nhận dạng một số loại đất bằng mắt thường, nhưng cũng có loại ta phải dùng đến kính hiển vi. Loại đất mà ta tìm thấy trong cỗ xe và trong bồn rửa là loại không phổ biến. Căn phòng trọ của ta trên phố Baker được xây trên nền đất loại đó, nhưng nó còn xuất hiện ở một vài nơi khác nữa, và phải có một thấu kính thật rõ nét mới giúp ta phân biệt được.”
“Vậy vết bùn dưới đế giày ả kia là ở phố Baker?”
“Sao cháu biết?” Holmes mỉm cười.
"Suy đoán may mắn thôi ạ!” Tôi đáp lại thản nhiên.
Holmes nhướng mày. “Những câu nói bỡn cợt tầm thường không hợp với cháu đâu, Russell!”
“Cháu xin lỗi. Nhưng nếu đúng là ả đó đã đi bộ qua khu phố Baker trước khi đến công viên thì sao ạ?”
“Cháu nói cho ta biết đi?” Holmes yêu cầu, giọng ông thoảng qua như thể vọng lại từ một ngày xuân rất xa xôi.
Tôi ngoan ngoãn nhìn lại từng tình tiết, lướt trí óc qua các sự kiện và cố gắng tìm ra những lỗ hổng trong cái bề mặt tưởng chừng trơn nhẵn kia. Những vết bùn trên lối đi, trong xe, trên chỗ ngồi (trên chỗ ngồi ư?), trong khu nhà vệ sinh nữ (kỳ cục và khá là hài hước), trên sàn nhà, và trên bồn rửa (bồn rửa? Nghĩa là...)
“Bùn dính cả trên tay ả. Trên tay trái, và dưới đế giày phải.” Tôi dừng lại, tỏ vẻ hoài nghi, rồi nhìn Holmes. Đôi mắt xám của ông ấy lấp lánh. “Ả đã lấy thêm bùn, để khiến những dấu chân trên lối đi lộ rõ hơn. Toàn bộ kế hoạch đó đã được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng. Ả muốn ông biết rằng ả đã từng ở đó, và ả đã để những dấu bùn từ phố Baker dính dưới gót giày để giỡn mặt ông. Thậm chí ả còn cố ý rửa tay và để lại vết bẩn trên vòi rửa nhằm cung cấp thêm cho ông luận cứ, nếu ông không phát hiện ra thủ phạm là một ả đàn bà. Cháu không thể tin nổi kẻ điên rồ nào lại coi thường ông đến mức ấy? Ả đang bày trò gì vậy?”
“Rõ ràng là một trò khó chịu, với ba quả bom và suýt nữa là một mạng người - tính đến nay, nhưng cũng không kém phần thú vị với gói quần áo và tổ ong phát nổ tung tóe. Nhưng điều khiến ta còn phân vân là...” Holmes đăm chiêu, và ngập ngừng.
“Sao ạ?” tôi gạn hỏi.
“Không có gì, Russell, chỉ là một suy đoán vô căn cứ thôi. Ta đã từng nghĩ trí tuệ bậc thầy đích thực duy nhất trong số những kẻ phạm tội mà ta biết là Moriarty, thế nên ta đã không chuẩn bị tinh thần trước những kẻ quá tinh vi xảo quyệt này. Ta cũng đã khá chắc chắn về một số điểm, ví như mục đích của tay thiện xạ đã bắn chúng ta tại văn phòng của Lestrade, hoặc những nỗ lực đổi đời của gã Dickson, thậm chí là... Đúng, ta ngờ rằng... ” ông ấy lại ngập ngừng.
“Holmes, liệu cháu có hiểu đúng ý ông không vậy? Bọn chúng tấn công không nhằm lấy mạng chúng ta ư?”
“Ô, lấy mạng, tất nhiên rồi, mặc dù không chỉ có thế. Ta đang hồ nghi về một loạt những vụ mưu sát bất thành, khi mà thủ phạm đã chứng tỏ là một tay sát thủ tầm cỡ . Ta không tin vào những trùng hợp ngẫu nhiên , ta cũng phủ nhận luôn sự tồn tại của một thiên thần hộ mệnh. Đúng,” Holmes trầm ngâm suy nghĩ, và tôi cau mày khi nghe ông nói câu tiếp theo, “thật là một vấn đề hóc búa.”
“Hay lắm, nhưng ông không thể suy đoán một cách chung chung như thế được. Nếu như ả không muốn khử chúng ta, thì ả định làm gì?”
“Ta không nói rằng ả không muốn trừ khử chúng ta, chỉ là chưa thôi. Nếu quả thực những gì xảy ra trong mấy ngày qua không ít thì nhiều đều là những gì ả đã sắp xếp trong tâm trí , vậy thì chúng ta sẽ có ba kết luận sau: một là, ả chưa muốn chúng ta chết vào thời điểm hiện tại; hai là, ả muốn chúng ta biết rằng chúng ta đang đối mặt với một kẻ thù thông minh, chuyên nghiệp, lạnh lùng và khôn khéo; ba là, ả muốn chúng ta hoặc độn thổ hoặc biến mất khỏi London.”
“Chúng ta sẽ không làm thế, đúng không?”
“Thực ra là, chúng ta sẽ làm thế,” Holmes đáp với vẻ thỏa mãn.
“Cháu... ” tôi dừng lại, và chờ đợi.
“Những việc làm của ả nói với ta rằng đó là những điều ả muốn ta làm. Bởi vì ả rất hiểu ta, kiểu gì ả cũng cho rằng ta sẽ nắm được những bước đi của ả và từ chối hợp tác . Bởi vậy ta sẽ làm theo những gì ả muốn.”
Tôi quyết định rằng rượu brandy chính là nguyên nhân gây ra sự chậm hiểu của mình, vì dù tôi chắc chắn rằng có một sai lầm cơ bản trong những lý lẽ mà Holmes đưa ra, tôi vẫn không thể chỉ ra chính xác đó là điểm nào. Tôi lắc đầu và đánh bạo nói.
“Tại sao chúng ta không chỉ biến mất trong vài ngày thôi? Có thực sự cần thiết phải...”
“Cao chạy xa bay?” Holmes tiếp lời tôi. “Rút lui vội vã? Hay là lẩn trốn như thế này? Cháu hoàn toàn đúng. Đáng lẽ sáng nay ta nên đồng ý trốn lại vài ngày tại căn hộ của Mycroft hoặc một trong những nơi mà ta thường ẩn náu.” (Tôi chợt rùng mình khi nghĩ đến việc bị nhốt cùng với Holmes trong căn ‘nhà kho’ đó.)
“Nhưng những việc xảy ra hôm nay đã chứng tỏ ta hoàn toàn sai lầm . Không phải bọc quần áo đó đâu - đó chỉ là một trò đùa hóm hỉnh. Thậm chí cả đôi giày, tuy hơi rùng rợn , nhưng cũng không mấy đáng lo. Nhưng... là viên đạn đó. Nó gần như bắn trúng người cháu. Ta tin chúng đã cố tình làm vậy.” Holmes nói, và dù không hề nhìn tôi, nhưng việc điều chỉnh âm giọng cùng với những cái giật giật bên khóe miệng đã chứng tỏ ông đang vừa giận dữ vừa lo sợ.
“Ta cảm thấy mình giống như một mảnh gỗ đang trôi dạt giữa những ngọn sóng điên cuồng, bị chộp lấy rồi bị hất tung hết chỗ này đến chỗ khác. Cảm giác đó thật bất an. Nếu chỉ có một mình ta, có lẽ ta sẽ không thoát khỏi cám dỗ để cho những con sóng lật nhào, để xem mình sẽ bị cuốn trôi đến đâu . Nhưng đó không phải là lựa chọn.
“Vậy sự lựa chọn là gì? Một cuộc tấn công dốc toàn lực chăng? Tấn công dựa vào cái gì chứ? Chỉ như khua màn sương bằng một cây gậy cricket mà thôi! Hay là tự vệ? Làm sao con người có thể tự vệ với một hình ảnh phản chiếu của chính mình? Ả đã đọc những câu chuyện của Watson, đọc sách nghiên cứu về loài ong của ta và cả những công trình nghiên cứu về các loại đất và dấu chân như lúc trước ta nói - những cuốn sách ấy đâu có xuất bản công khai - và có Chúa mới biết còn điều gì khác nữa. Một ả đàn bà! Ả đã khiến ta trở nên mâu thuẫn với chính lời nói của mình, khiến ta kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần, khiến ta mất cân bằng trầm trọng trong năm ngày qua, săn đuổi và quấy rầy ta ngay trên địa hạt của ta cho đến khi ta phải tẩu thoát ra biển. Cháu có biết...” Holmes ngừng lại, rồi tiếp tục, “kẻ này... thậm chí còn đột nhập vào một trong những nơi ẩn náu của ta. Đúng vậy, ngày hôm nay, ta đã thấy có những dấu vết... Ta không thể tin được một ả đàn bà lại có thể làm được điều này, luận ra cả những điều ta suy nghĩ, vẽ trước đường đi cho ta, và luôn luôn chứng tỏ rằng với ả đây là một trò chơi chết chóc nhưng chẳng cần mấy nỗ lực mà lại cực kỳ hài hước. Ngay cả Moriarty cũng không bao giờ đi quá xa như thế. Quả là một bậc thầy mèo vờn chuột! Một nữ bậc thầy!” Holmes ngừng lại, xốc lại vai áo cho vuông vắn.
"Đây là kẻ thù nhiều thách thức nhất mà cũng khiến ta thấy hào hứng nhất,” giọng ông ấy đã điềm tĩnh hơn, rồi ông châm tẩu thuốc, nó đã tắt ngúm tự bao giờ. Xong xuôi, ông nói tiếp với một giọng điệu hoàn toàn khác hẳn.
“Russell, ta đã cân nhắc đến những lời nói của cháu sáng nay. Cháu biết đấy, thi thoảng ta cũng quan tâm đến suy nghĩ của người khác. Đặc biệt là những suy nghĩ của cháu. Ta phải thừa nhận rằng cháu hoàn toàn có lý khi nói lên những phản đối của mình. Cháu đã trưởng thành, và ta thấy mình thật sai lầm khi đối xử với cháu như thể đã đối xử với bác sĩ Watson. Ta xin lỗi!”
Tôi hoàn toàn chết lặng vì kinh ngạc, cộng thêm sự nghi ngờ cực độ, nhưng ông ấy vẫn tiếp tục nói như thể chúng tôi đang bàn luận về thời tiết.
“Ngày hôm nay, câu hỏi mà ta phải đối mặt là: ta phải làm gì với một cô học trò đã vượt qua được mọi bài kiểm tra trước mắt? Cuối cùng cô ấy cũng phải được thoát khỏi tình trạng bảo bọc và được phép nhận lấy những quyền cùng trách nhiệm của tuổi trưởng thành.
Ta đã suy nghĩ rất nhiều, và thấy mình có rất ít lựa chọn. Trước mức độ trầm trọng của vụ án này ta đã nghĩ mình nên đưa cháu ra khỏi ‘tuyến lửa’ như đã từng làm với bác sĩ Watson, cho tới khi ta phá tan được nó. Không, đừng ngắt lời ta. Nhưng thật là khó chịu, ta lại không thể làm thế. Vì một điều: giữ cháu trong tầm kiểm soát thật quá là khó khăn.
Rút cuộc, ta chỉ còn hai lựa chọn: hoặc là vẫn duy trì việc ‘học nghề’ của cháu, như cháu vẫn gọi vậy, hoặc là sẽ chấp nhận cho cháu quyền tự chủ trong vụ này. Chẳng ích gì khi trì hoãn những điều không thể tránh được, vì thế...” Holmes ngừng lại, bỏ tẩu thuốc khỏi miệng, nhìn vào nõ rồi lại đặt lên môi, lần mò túi áo tìm thuốc. Tôi gần như gào lên trong nỗi căng thẳng vì giằng xé giữa “ơn Chúa, cuối cùng thì điều đó cũng đến!” và “Ôi Chúa ơi, ông ấy đã đuổi mình đi!”
Holmes mở cái túi đựng thuốc lá và moi ra một mảnh giấy nhỏ bị gấp lại nhiều lần. Thả nó xuống trước mặt tôi xong, ông ấy đi đến chỗ cái gạt tàn thuốc lá và bắt đầu cạo những tàn thuốc còn lại trong tẩu khi tôi mở mảnh giấy ra đọc. Trên đó là năm dòng chữ viết tay ngắn ngủi, được viết theo lối cổ, khó đọc và khó hiểu:
Ai Cập — Alexandria - Sayeed Abu Bahar
Hy Lạp - Thessaloniki — Thomas Catalepo
Italia - Ravenna —Fr. Domenico
Palestine - Jaffa - Ali & Mahmoud Hazr
Ma-rốc - Rabat - Peter Thomas
Theo sau mỗi cái tên là một dãy số giống như tần số radio vậy. Tôi ngước nhìn lên, nhưng Holmes đã đứng bên cửa sổ và lại quay lưng về phía tôi.
“Holmes, Đây là những lựa chọn duy nhất cho chúng ta sao?” Tôi hỏi.
“Tất nhiên là không. Thuyền trưởng Jones sẵn lòng chạy lòng vòng trên biển nếu chúng ta nhờ ông ấy, hoặc là đến Nam Mỹ, hoặc là lên phương Bắc xa xôi. Cũng có một vài giới hạn, nhưng nếu cháu có ý định tấn công nhà băng Monte Carlo thì ta vẫn phải kín đáo bố trí một vụ chuyển tiền. Chỉ cần tránh nước Anh và New York trong vòng sáu đến tám tuần mà thôi.”
“Hai tháng? Holmes, cháu không thể đi suốt hai tháng trời được, cháu sẽ bị đuổi khỏi trường nếu nghỉ quá nhiều như thế. Và cô cháu, cô ấy sẽ huy động cả quân đội tìm cháu mất. Và còn bà Hudson, còn bác sĩ Watson ...”
“Bà Hudson sẽ lên tàu ngay ngày mai trong một chuyến du lịch biển dài ngày.”
“Một chuyến du lịch biển? Bà Hudson ư?”
“Bà ấy đi thăm gia đình ở Úc, ta nghĩ vậy. Và cháu cũng không cần phải lo lắng cho bác sĩ Watson, mối nguy hiểm lớn nhất của bác ta bây giờ là căn bệnh gút khi được sống quá sung sướng và an toàn trong nhà Mycroft. Trường đại học và các trợ giáo của cháu sẽ cấp cho cháu một tờ giấy phép khi cháu đang phải lo chuyện khẩn cấp của gia đình. Bà cô của cháu sẽ được thông báo là cháu đi vắng một thời gian.
“Chúa lòng lành! Nếu như ông Mycroft có thể ‘thuần hóa’ được cô cháu thì ông ấy đúng là một đồng minh quý báu đấy ạ.” Tôi cảm thấy sự phản đối của mình bắt đầu nao núng.
“Vậy...?”
“Những người này là ai ạ?” Tôi hỏi. Holmes giật tờ giấy tôi đang cầm trong tay.
“Đây là chữ Mycroft,” Holmes nói như giải thích.
“Ông Mycroft có... nhiệm vụ cần làm ở những nơi này ạ?
"Đúng. Anh trai ta nói rằng nếu chúng ta chọn cách rời khỏi đất nước lúc này, thì chúng ta có thể có ích cho Đức Vua. Đây có thể coi là một chuyến đi ‘đổi gió’ dưới sự bảo trợ.” Đôi mắt của Holmes ánh lên một sự ranh mãnh thích thú, và tôi có thể thấy ngay ông ấy đã dẹp vụ việc sang một bên. Ông ấy phe phẩy mảnh giấy ngay trước mũi tôi. “Ta đã từng trải qua những chuyện thế này,” ông ấy nói thêm, “những nhiệm vụ của Mycroft luôn có xu hướng giải trí một cách kỳ lạ.”
Tôi gật đầu, lấy lại mảnh giấy từ tay Holmes, trải trên mặt bàn trước mặt và chỉ tay vào dòng thứ tư.
“Yisroel.”
“Cháu nói sao?”
“Palestine, Israel, Zion1, Vùng Đất Thánh. Cháu rất muốn đi qua Jerusalem.”
[2]
Holmes chầm chậm gật đầu, có vẻ rất kinh ngạc. “Thành thật mà nói, điểm đến đặc biệt ấy không phải là sự lựa chọn ban đầu của ta. Hy Lạp, cũng vậy. Ma Rốc, có thể. Thậm chí là Ai Cập. Nhưng còn Palestine? Hay đấy, lựa chọn là của cháu, và ta chắc chắn kẻ thù của chúng ta sẽ không bao giờ đoán được nơi chúng ta sẽ đến. Đó là Palestine.”
Quá nửa đêm, chúng tôi đã ra khỏi vùng biển của Pháp, mặt biển vắng tanh và tiếng radio đã im bặt từ lúc nào. Thuyền trưởng Jones bước vào phòng chúng tôi. Cậu con trai có vẻ nhỏ hơn ông bố rất nhiều, và tất cả, bao gồm cả cậu nhóc đó, đã được Mycroft lựa chọn từ nơi mà ông ấy và Watson ẩn náu.
“Chào ông, Jones,” Holmes nói. “Anh dùng brandy nhé, hay whisky?”
“Không, cảm ơn ông. Tôi không uống rượu khi đang trên biển. Chỉ chuốc thêm rắc rối thôi, thưa ông. Tôi xuống đây để hỏi xem ông đã quyết định hành trình của chúng ta chưa.”
“Palestine, Jones.”
“Palestine ư, thưa ông?”
“Phải, Palestine. Ông biết đấy, Israel, Zion, Vùng Đất Thánh. Nó có trong hải đồ của ông chứ?”
“Tất nhiên rồi, thưa ông. Chỉ có điều, đó không phải là một nơi yên ổn để dừng chân đâu. Đang có chiến tranh ở đấy, ông biết đấy.”
“Tôi biết điều đó, Jones. London sẽ được thông báo về chuyện này, và họ sẽ chuẩn bị mọi thứ cần thiết.”
“Vậy tốt rồi, thưa ông. Chúng ta sẽ khởi hành ngay đêm nay chứ?”
“Sáng mai cũng được, ông Jones, không cần phải vội vàng. Đúng không, Russell?”
Tôi mở mắt. “Vâng,” tôi xác nhận, rồi lại nhắm mắt.
“Vậy là sáng mai nhé, thưa ông, thưa cô.” Tiếng chân người thuyền trưởng nhỏ dần về phía cầu thang.
Holmes vẫn đứng đó lặng lẽ, và tôi cảm giác ông ấy đang nhìn tôi chằm chằm.
“Russell!”
“Mmm...”
“Tối nay không còn việc gì nữa. Hãy lên giường đi ngủ đi. Hay ta lại đắp chăn cho cháu nhé?”
“Không, không, cháu sẽ đi ngủ. Chúc ông ngủ ngon, Holmes.”
“Chúc cháu ngủ ngon, Russell.”
Tôi thức giấc trong ánh sáng bình minh xám xịt và tiếng động cơ xình xịch bên ngoài. Đi qua gian bếp để rót một cốc nước, tôi thấy bóng Holmes đang ngồi thu mình trên ghế, mắt nhìn đăm đăm ra biển, hai đầu gối co đến tận cằm, cái tẩu thuốc trong tay. Tôi không nói gì và quay lại giường ngủ, chắc là ông ấy cũng không nhìn thấy tôi. Tôi ngủ cả ngày hôm đó, và khi thức dậy, tôi cứ ngỡ đó là một buổi tối mùa hè.
Không phải mùa hè, tất nhiên rồi, trời mưa suốt mấy tuần liền sau đó, nhưng cũng đủ nắng để Holmes và tôi có thể dành hàng giờ tắm nắng trên boong. Nhiều lúc nhớ về London co mình trong màn mưa tuyết và sương mù dày đặc, tôi thấy mình như lạc vào một thế giới hoàn toàn khác. Tôi cũng hy vọng cháy bỏng rằng bọn sát nhân kia sẽ sớm bị tóm cổ một cách thê thảm nhất, trong tình trạng viêm phế quản. Và bị cước hết chân tay.
Những ngày sau đó trôi qua thật nhanh. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi Holmes không hề bực mình khi phải nghỉ ngơi một cách ép buộc như thế này, mà còn tỏ ra rất dễ chịu và vui vẻ. Chúng tôi dành hàng giờ để nghĩ ra những trò chơi hóc búa, và ông ấy còn dạy cho tôi sự tinh vi của các loại mật mã khác nhau. Giáng Sinh đến rồi đi với món bánh pudding nóng hổi, bánh quy giòn, những chiếc mũ giấy nhọn, và cả những bài hát mừng Giáng Sinh hát về đất mẹ và những dấu chân in trên tuyết...
Những lúc rảnh rỗi Holmes và tôi còn hay chơi cờ vua. Holmes là một kỳ thủ giỏi, với những nước đi lạnh lùng và sáng tạo, nhưng cũng là một tay chơi rất thất thường - ông ấy hãnh diện về những nước đi đầu kỳ quái và những cú cứu nguy không tưởng, hơn là sự phòng thủ cẩn trọng cùng những nước tấn công được yểm trợ kín kẽ. Cờ vua với ông ấy chỉ như một bài học đôi khi chán ngắt, và luôn luôn là một thứ thay thế nghèo nàn cho những cuộc chơi thực sự.
Một buổi chiều nóng nực, khi con tàu đi qua đảo Crete, Holmes mang bàn cờ lên boong với một sự tập trung và khí thế hơn thường lệ. Tôi cảm thấy hơi bối rối, nhưng vẫn chơi cùng ông. Ba ván trôi qua trong sự đắc ý của ông ấy với những nước thí tốt đầu tiên hiểm hóc, và đến ván thứ tư, tôi bắt đầu dốc hết sức mình. Holmes điên cuồng di chuyển quần mã khắp bàn cờ trong chuỗi
tấn công ồ ạt khiến tôi phải vội vàng phòng ngự, đưa hàng loạt quân tốt ra, huy động rồi lại hy sinh cả quân tượng và quân xe. Nhưng hết lần này đến lần khác, ông ấy vẫn phá vỡ được sự phòng thủ của tôi, cho đến khi tôi phải tuyệt vọng di chuyển quân hậu rời xa quân vua yếu ớt để thu hút sự tấn công của kẻ thù. Trong giây lát tôi thành công, nhưng cuối cùng quân mã của Holmes đã bẫy quân hậu của tôi, và tôi đã mất “nàng”.
“Có chuyện gì với cháu vậy, Russell?” Holmes phàn nàn. “Cháu để đầu óc đi đâu vậy?”
“Ông mới là người để đầu óc đi đâu ấy,” tôi nhẹ nhàng nói, rồi tiến một con tốt, và với nước cờ đó, toàn bộ sự lộn xộn trên bàn cờ trở nên ngăn nắp, cái bẫy chết người kia giờ phụ thuộc hoàn toàn vào hai quân tốt và quân tượng. Chỉ sau ba nước cờ nữa, tôi đã chiếu tướng Holmes.
Tôi muốn reo lên, nhảy cẫng lên và hôn vào cái má lởm chởm râu của thuyền trưởng Jones khi nhìn thấy nỗi sửng sốt trên mặt Holmes, nhưng thay vì điều đó, tôi chỉ ngồi yên và nhe răng cười toe toét với ông ấy.
Holmes nhìn chằm chằm lên boong tàu như một khán giả đang được chứng kiến một trò ảo thuật, những cảm xúc trên khuôn mặt ông ấy là một trong những phần thưởng lớn nhất mà tôi nhận được từ trước tới giờ. Cuối cùng ông ấy lắc lắc đầu thừa nhận.
“Khá lắm, Russell. Thật thông minh. Cháu láu cá hơn ta tưởng đấy. Đứa trẻ của ta đã qua mặt ta mất rồi.”
“Cháu ước là mình có thể công nhận điều đó, nhưng đây là nước cờ cháu đã từng sử dụng khi chơi cùng với trợ giáo của cháu cách đây mấy tháng. Cháu đã mong đợi có cơ hội để được tiếp ông chiêu cờ này.”
“Ta không bao giờ nghĩ mình có thể bị mắc mưu vì bỏ qua một con tốt,” ông ấy thừa nhận. "Sự thí quân để mở đường cho vua.”
“Cháu cũng đã từng rơi vào trường hợp như thế. Đôi khi ông phải hy sinh quân hậu để cứu vãn thế cờ.”
Holmes nhìn tôi, giật mình, sau đó lại nhìn ra boong. Nét mặt ông ấy từ từ chuyển sang căng thẳng, cho đến khi làn da nâu trở nên xanh xám và nhợt nhạt.
“Holmes? Holmes à, ông không sao chứ?”
“Hả, à ừ, Russell, ta ổn. Chưa bao giờ ổn hơn bây giờ. Cám ơn cháu, Russell, vì một ván cờ rất thú vị. Cháu đã cho ta nhiều điều phải suy ngẫm đấy.” Nét mặt ông ấy dần giãn ra thành một nụ cười dịu dàng. “Cám ơn cháu, cháu yêu của ta.” Holmes vươn tay tới chỗ tôi, nhưng các ngón tay chưa kịp chạm đến má tôi thì bất ngờ rụt lại. Ông ấy chỉ đứng đó, rồi quay người đi xuống khoang dưới. Tôi đứng trên boong tàu ngập nắng và dõi theo dáng người Holmes cho đến khi khuất hẳn, niềm vui chiến thắng đột nhiên tiêu tan thành mây khói, và tôi băn khoăn không biết mình vừa gây ra chuyện gì.
Và tôi đã không gặp lại ông ấy cho đến khi chúng tôi đến Jaffa.
[3]
Bàn Thêm

Tập Hợp Sức Mạnh
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] 1 Tiền vàng của Anh trước đây, có giá trị bằng một bảng hiện nay.
[2] 1 Tên một ngọn núi gần Jerusalem, thường được dùng để chỉ Jerusalem.
[3] 1 Thành phố cảng cổ kính của Israel, được mệnh danh là một trong những thành phố cổ nhất của thế giới.