

Việc phát hiện ra một trí tuệ thực sự ở thế giới này đem lại cho chúng ta những xúc cảm giống như khi Robinson Crusoe nhìn thấy dấu chân người in lên cát trên hòn đảo của mình.
Tôi gặp Sherlock Holmes lần đầu tiên khi tôi mới mười lăm tuổi. Mười lăm tuổi - khi ấy tôi vừa đi bộ trên đồi Sussex Downs vừa chúi mũi vào quyển sách và gần như giẫm phải ông. Tôi phải biện hộ rằng quyển sách đó vô cùng cuốn hút, mà việc tình cờ quen với một người ở một nơi rất riêng biệt trên thế giới này - vào năm chiến tranh 1915 - thì quả thật rất hiếm xảy ra. Trong bảy tuần đọc sách giữa những bầy cừu (có vẻ như chúng luôn muốn chạy xa khỏi tôi) và những bụi cây kim tước (nhờ chúng mà những linh cảm bản năng của tôi được phát triển đáng kể), tôi chưa bao giờ giẫm phải một người khác như thế này.
Đó là một ngày đầu tháng Tư mát mẻ và dịu nắng, tôi mang theo quyển sách của nhà văn Virgil, lặng lẽ rời khu nông trang và lên đường vào lúc sớm tinh mơ. Khác mọi lần, lần này tôi đi về hướng Đông Nam - hướng biển - và dành hầu hết những giờ tiếp theo để đánh vật với những động từ Latin, trèo qua các thành đá một cách vô thức, rồi đi vòng qua các hàng rào, và gần như không chú ý là mình đã đến biển cho tới khi tôi hất văng một viên đá vôi xuống làn nước.
Và rồi, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong tôi là dường như có một linh hồn đang ở ngay đây khi tôi nghe thấy tiếng hắng giọng rõ to của một người đàn ông cách tôi chưa đầy bốn bước chân. Những dòng chữ Latin tan nhanh vào không khí, cả những lời tuyên thệ cũng biến mất hút. Tim đập thình thịch, tôi vội vàng lấy lại vẻ nghiêm trang và nhìn trừng trừng xuống cảnh tượng trước mắt: có một người đang nằm, ngay dưới chân tôi, một người đàn ông độ năm mươi tuổi, hơi gầy và tóc hoa râm, đội mũ vải mềm, khoác áo choàng vải tuýt may theo kiểu cổ điển, đôi giày khá tươm tất, với cái ba lô kiểu quân đội đã mòn chỉ đặt ngay dưới chân. Có lẽ đây là một kẻ lang thang, đã từ bỏ tất cả của cải kiếm được dưới một lùm cây nào đó. Hoặc là một kẻ lập dị. Nhưng chắc chắn không phải là một linh mục.
Ông ta im lặng một cách mỉa mai. Tôi gấp nhanh quyển sách lại.
“Ông đang làm gì vậy?” Tôi hỏi. “Ông đang nằm đợi ai à?”
Ông ta nhướng mày, mỉm cười với vẻ hạ cố và khiêu khích đặc trưng rồi nói bằng một giọng thật chậm, đúng theo kiểu những quý tộc Anh được giáo dục cẩn thận. Một giọng nói cao vút, có phần hơi đay nghiến; ông ta... ông ta... chắc chắn là một kẻ lập dị.
“Ta nghĩ ta sẽ không bị buộc tội bởi vì ‘nằm’ ở bất cứ nơi đâu,” ông ta nói, “rõ ràng là ta có một chỗ thật đàng hoàng trên ngọn đồi xinh xắn này, và đang suy nghĩ về những chuyện của riêng ta. Ở đây, ta có thể tránh được những kẻ bon chen bé mọn”. Ông ta uốn cong âm ‘tr’ để cho khác cái cách tôi nói.
Nếu ông ta nói một điều gì khác, hoặc thậm chí nói những lời ấy theo cách khác, thì tôi chỉ cần xin lỗi một cách khó chịu rồi chuồn ngay khỏi đó, và cuộc đời tôi có lẽ đã theo một hướng khác. Tuy nhiên, ông ta đã vô tình xúc phạm ghê gớm đến một tâm hồn nhạy cảm. Lý do khiến tôi rời khỏi nhà mình ngay lúc bình minh là để tránh mặt cô tôi, và lý do thuyết phục nhất trong các lý do là tôi ao ước được tránh khỏi cô ấy từ sau trận tranh cãi dữ dội giữa chúng tôi đêm qua. Tôi không thể hiểu nổi cô tôi. Cô nhỏ người, ngăn nắp, đanh đá, ăn nói sắc sảo, nhanh trí, và luôn tự đắc về đôi tay và đôi chân nhỏ nhắn của mình. Lúc nào cô ấy cũng khiến tôi cảm thấy mình thật vụng về, cộc cằn và hay giận dỗi vô lý. Tệ hơn, những tranh cãi tiếp theo về chuyện tiền bạc, cô tôi luôn luôn là người thắng thế.
Những câu nói ngây thơ của ông ta và thái độ không phải như vậy đã khiến cho cơn giận dữ đang ầm ỉ trong tôi bỗng trào sôi. Tôi đứng thẳng vai, hất cao cằm, như thể chuẩn bị cho một trận giao đấu. Tôi không cần biết là tôi đang ở đâu, và người đàn ông này là ai, tôi cũng không cần biết là tôi đang đứng trên khu đất của ông ta hay ông ta đang đứng trên khu đất của tôi, và liệu rằng ông ta có phải là kẻ mất trí nguy hiểm không, hay là một kẻ vượt ngục, hay đức vua của một vùng nào đó. Tôi không quan tâm. Tôi chỉ thấy điên tiết.
“Ông vẫn chưa trả lời câu hỏi của cháu!” Tôi nóng nảy. Ông ta lờ đi cơn giận dữ của tôi. Tệ hơn nữa, ông ta làm như không biết đến nó. Ông ta có vẻ chán nản, như thế muốn tôi hãy đi khỏi đây ngay lập tức.
“Cháu muốn biết là ta đang làm gì ở đây đúng không?”
“Đúng vậy.”
“Ta đang quan sát những con ong.” Ông ta nói một cách dứt khoát, rồi lại trầm ngâm nhìn về sườn đồi.
Những câu ông ta nói không hề có một dấu hiệu nào cho thấy rằng ông ta bị điên hay mất trí. Tuy nhiên tôi vẫn cảnh giác, tôi nhét quyển sách vào túi áo khoác rồi nhảy xuống - vẫn giữ một khoảng cách khá an toàn với người đàn ông lạ - và nhìn kỹ những bông hoa phía trước mình.
Quả thực, ở đó có một bầy ong, chúng cần mẫn làm việc với những túi phấn căng phồng dưới chân và bay vo vo từ bông hoa này tới bông hoa khác. Tôi theo dõi, và thấy chẳng có gì hấp dẫn cho đến khi nhận thấy một con ong có dấu hiệu khác thường xuất hiện. Hình như đó là một con ong mật với một đốm đỏ trên lưng. Kỳ quặc làm sao! Chẳng lẽ ông ta cũng đang dõi theo con ong ấy? Tôi liếc nhìn người đàn ông kỳ lạ, lúc này ông ta đang lơ đãng nhìn vào khoảng không vô định, rồi lại gần hơn chỗ những con ong mà không hề đếm xỉa gì đến tôi. Tôi nhanh chóng kết luận rằng cái đốm đó không phải đốm tự nhiên mà giống như được sơn vẽ, vì có một con ong khác có cái đốm hơi lệch, và một con khác nữa, một con cũng kỳ quặc không kém: nó có cái đốm màu xanh. Khi tôi đang dõi theo thì hai con ong đốm đỏ bay về phía Tây Bắc. Tôi cẩn thận quan sát các đốm màu xanh và nhìn chúng bay về hướng Đông Bắc.
Tôi suy nghĩ trong chốc lát rồi đứng dậy đi bộ lên đỉnh đồi, bầy cừu cái và cừu non bỗng giật mình chạy tán loạn. Khi nhìn xuống ngôi làng và dòng sông lặng lẽ ngay phía dưới, tôi lập tức nhận ra mình đang ở một nơi cách xa nhà đến khoảng hai dặm. Tôi lắc đầu ngán ngẩm trước sự lơ đễnh của mình rồi suy nghĩ miên man về người đàn ông đó, và về những con ong đốm xanh đốm đỏ trên đồi. Tôi đi bộ ngược xuống phía ông ta. Ông ta cũng không nhìn lên, buộc tôi đành phải nói chuyện với ông ta từ phía sau.
“Nếu ông đang cố tìm một tổ ong thì cháu thấy rằng những con ong đốm xanh là lựa chọn tốt hơn đấy,” tôi nói với ông ta. “Con ong mà ông đánh dấu màu đỏ có lẽ là từ vườn cây của ông Warner. Những con đốm xanh đã bay khá xa, nhưng gần như chắc chắn chúng là những con ong rừng.” Tôi lôi quyển sách ra từ túi áo, và khi tôi ngước lên để chúc ông ta một ngày an lành thì ông ta ngoái lại nhìn tôi với nét mặt khiến tôi không thể thốt lên lời. Đúng như một số nhà văn thường miêu tả, ông ta - giống như một con cá mắc câu - há hốc miệng nhìn tôi như thể tôi vừa mọc thêm một cái đầu. Rồi ông ta chậm rãi đứng dậy, từ từ khép miệng lại, nhưng vẫn nhìn tôi chằm chằm.
“Cháu nói cái gì cơ?”
“Cháu xin lỗi, nhưng có phải ông bị lãng tai không?” Tôi hơi cao giọng và nói thật chậm. “Cháu nói rằng nếu ông muốn tìm một tổ ong mới thì ông phải đi theo những con ong đốm xanh, vì những con đốm đỏ là của nhà ông Tom Warner.”
“Ta không bị lãng tai, mặc dù ta không dễ tin lời người khác. Nhưng làm sao mà cháu có thể biết cả sở thích của ta như thế?”
“Cháu nghĩ điều đó là dễ hiểu thôi,” tôi nôn nóng, mặc dù tôi biết ở độ tuổi tôi mà hiểu được những chuyện như này là không bình thường. “Cháu nhìn thấy vết sơn ở khăn mùi xoa của ông và để ý những ngón tay của ông, ông đã lau những vết sơn ấy. Cháu nghĩ lý do duy nhất để đánh dấu những con ong là ông muốn tìm được tổ ong. Ông vừa muốn thu mật, vừa muốn thu ong, nhưng lúc này lại chưa đến mùa thu mật. Cách đây ba tháng có một đợt lạnh bất thường và làm chết nhiều tổ ong lắm. Bởi vậy cháu cho rằng ông đang dõi theo những con ong để bổ sung thêm cho kho dự trữ của mình.”
Khuôn mặt ông ta nhìn xuống tôi không còn vẻ đờ đẫn nữa.
“Ôi Chúa ơi!” Ông ta thốt lên với một sự ngạc nhiên pha chút giễu cợt. “Có thể đấy”.
Sự giận dữ lúc trước của tôi đã dịu bớt đi phần nào khi tôi dõi theo những con ong đó, nhưng sự xúc phạm này lại vô tình khiến tôi nổi cáu hơn. Tại sao người đàn ông cao, gầy và điên rồ này lại có thể chọc tức một cô bé lạ mặt và vô tội như tôi cơ chứ? Tôi lại hất cao cằm, một chút xíu thôi vì ông ta cao hơn tôi rất nhiều, và tôi tỏ vẻ giễu cợt lại.
“Chúa ơi, bọn ong có thể nhận ra có người ở đây nếu chúng va phải đầu ai đó.” Và để ăn miếng trả miếng, tôi tiếp lời, “Và cháu được nuôi lớn đến bây giờ chỉ để tin rằng những người lớn thường có cách cư xử đúng mực.”
Tôi đứng lùi lại để nhìn những biểu hiện của ông ta sau cú trả miếng trúng đích của tôi. Nhưng, khi đối diện trực tiếp với ông ta, óc tưởng tượng của tôi đã liên kết ngay với những lời đồn đại mà tôi từng được nghe và cả những gì tôi đã đọc trong suốt thời gian dưỡng bệnh. Có vẻ như tôi đã biết ông ta là ai, và tôi thấy hơi hoang mang.
Phải nói rằng, tôi thấy phần lớn những câu chuyện đầy nịnh hót của bác sĩ Watson là sản phẩm của một trí tưởng tượng thấp kém. Tất nhiên là ông ấy cho rằng độc giả cũng chậm chạp như mình. Điều đó thật khiến người ta phát cáu. May mà đằng sau những thứ vớ vẩn và vô lý của người viết lại là một nhân vật thiên tài, một trong những tư tưởng vĩ đại nhất của thời đại này. Một huyền thoại!
Tôi cảm thấy khiếp sợ: tôi ở ngay nơi này, đứng trước một huyền thoại, xúc phạm ông ấy, càu nhàu dưới mắt cá chân của ông ấy như thể một con chó nhỏ đang giễu võ giương oai trước một con gấu khổng lồ. Tôi khúm núm và cố gắng hết sức vì cú sốc khiến tôi hơi lảo đảo.
Nhưng, trước sự kinh ngạc và gần như mất hết can đảm của tôi, thay vì phản công lại thì ông ấy lại cười một cách nhún nhường và cúi xuống nhặt ba lô. Tôi nghe như có tiếng vỡ vụn yếu ớt ngay trong lòng mình. Ông ấy đứng thẳng, kéo cái mũ cũ xuống mái tóc hoa râm, nhìn tôi với đôi mắt mệt mỏi.
“Này nhóc con, ta...”
“Nhóc con?” Gì cơ chứ? Cơn giận dữ lại sôi sục trong huyết quản của tôi, tràn đầy lồng ngực. Cứ cho là tôi không được quyến rũ cho lắm, cứ cho là tôi đang ăn vận... thực tế là, nam giới... quần áo của nam giới, nhưng điều đó thì có liên quan gì chứ!
‘“Này nhóc con’ ư?”, tôi nhắc lại. “Đó là những từ tồi tệ mà cháu nghĩ ông nên rút lại, nếu đó là tất cả những gì còn đọng lại trong bộ óc thám tử siêu việt của ông.” Tôi kéo luôn cái vành mũ quá khổ của mình xuống, hai bím tóc dài vàng hoe hất qua vai.
Một loạt những cảm xúc diễn ra trên khuôn mặt của ông ấy, và đó là phần thưởng quý giá dành cho chiến thắng của tôi. Ban đầu là sự kinh ngạc tuyệt đối, liền sau đó là cảm giác có phần thất vọng của người thua cuộc, và khi ông ấy nhìn lại toàn bộ cuộc đối thoại, ông ấy đã làm tôi ngạc nhiên. Khuôn mặt ông ấy giãn ra, đôi môi mỏng hơi nhếch lên, đôi mắt màu xám hơi hấp háy nhìn vào những đường hư vô, cuối cùng ông ấy ngửa đầu ra sau và cười một tràng thật lớn. Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy Sherlock Holmes cười, và mặc dù chuyện đó đã xảy ra cách đây khá lâu, nhưng nó khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, nhất là khi nhìn thấy khuôn mặt kiêu hãnh và khổ hạnh ấy như tan ra trong điệu cười gượng gạo. Sự thích thú của Sherlock Holmes thường không được vô tư, và lần này không phải là một ngoại lệ. Tôi hầu như đã nguôi giận.
Sherlock Holmes lau khô mắt bằng cái khăn tay lấy ra từ túi áo khoác, vết sơn màu xanh mờ mờ dính lên sống mũi xương xương của ông ấy. Sau đó ông ấy quay sang nhìn tôi, đó là lần đầu tiên Sherlock Holmes nhìn tôi.
Ông ấy chỉ về phía những bông hoa.
“Cháu có vẻ khá am hiểu về loài ong nhỉ?”
“Rất ít thôi ạ,” tôi thừa nhận.
“Nhưng chúng lại rất thu hút cháu, đúng không?” Ông ấy hỏi.
“Không ạ!”.
Lần này thì ông ấy nhướng cả hai lông mày.
“Vậy, cháu hãy nói thành thật đi, tại sao cháu lại có ý nghĩ như vậy?”
“Dạ, từ những kiến thức mà cháu biết được về chúng thôi! Chúng là những sinh vật vô thức, chỉ giống như một công cụ để đưa quả đến với cây. Ong cái làm hết mọi việc, những con ong đực thì... hầu như chẳng làm gì. Còn ong chúa, con ong có tầm quan trọng nhất, thì bắt buộc phải vì lợi ích của tổ ong mà làm việc cả đời như một cái máy. Và,” tôi nói, theo kiểu châm biếm, “điều gì sẽ xảy ra nếu có một con ong như thế xuất hiện, một con ong chúa nữa có nhiều điểm giống với con ong chúa hiện tại? Chúng đều bị bắt buộc - vì lợi ích chung của tổ ong - để chiến đấu với cái chết. Những con ong là những chú thợ cần cù, đó là sự thật, nhưng sản phẩm của cả một đời ong chỉ có thể đong được bằng một thìa mật thôi sao? Mỗi tổ ong được xây từ hàng trăm ngàn giờ lao động kiên trì của những con ong, chỉ để được phết lên những cái bánh mì nướng và để làm ra những cây nến, thay vì để tuyên bố chiến tranh hoặc tiếp tục những trận đánh giống như bất cứ chủng tộc tự tôn và hiểu biết nào có thể làm. Cháu thấy ở một điểm nào đó chúng rất gần với loài người.”
Holmes ngồi xuống trong khi lắng nghe bài văn dài của tôi, dõi theo con ong đốm xanh. Khi tôi nói xong, ông ấy không nói gì cả. Chúng tôi im lặng một lúc, cho đến khi con ong nặng nề bay về phía Đông Bắc, cách bãi trồng cây làm chất đốt khoảng hai dặm. Ông ấy nhìn cho đến khi chúng biến mất và lẩm bẩm một mình: “Phải, chúng rất giống người tinh khôn. Có lẽ điều đó giải thích tại sao chúng lại thu hút ta.”
“Cháu không biết ông thấy hầu hết các giống người thì tinh khôn như thế nào, nhưng chắc chắn cháu có thể nhận ra sự nhầm lẫn thú vị đó.” Tôi đã có một nền tảng
[1]
quen thuộc, đó là những ý kiến và quan điểm của tôi, một nền tảng đáng quý mà tôi không dùng đến trong nhiều tháng nay. Đó là những quan điểm của một đứa thiếu niên đáng ghét, chỉ khiến cho người đối diện vừa thấy không thoải mái lại vừa chẳng muốn ủng hộ tí nào. Trước sự thích thú của tôi, ông ấy đáp lại.
“Giống người nói chung, hay chỉ đơn thuần là người đàn ông?” Ông ấy hỏi tôi, với một sự trang nghiêm khiến tôi ngờ rằng ông ấy đang cười nhạo tôi. Ít ra tôi cũng đã chỉ cho ông ấy cách quan sát tinh tế những con ong.
“Ồ không, thưa ngài! Cháu thuộc phái nữ, nhưng cháu không phải là người ghét đàn ông hay một kẻ xa lánh xã hội! Và, không giống như ông, cháu nhận thấy phụ nữ thuộc một nửa có lý trí hơn của loài người.”
Ông ấy lại cười, có vẻ hòa nhã hơn trước, và tôi nhận ra rằng chính tôi mới đang cố gắng khiêu khích ông ấy.
“Này cô”, ông ấy nhấn mạnh vào từ thứ hai với một điệu mỉa mai nhẹ nhàng, “cháu khiến ta cảm thấy thích thú đến hai lần trong một ngày, điều mà nhiều người không thể làm được. Ta có thể cũng rất hài hước với cháu, nếu cháu muốn cùng ta về nhà, ít ra là ta có thể pha cho cháu một tách trà.”
“Cháu rất lấy làm hân hạnh, thưa ông Holmes.”
“A à, cháu có một lợi thế hơn so với ta. Cháu đã biết tên ta, từ trước đến giờ ta chưa bao giờ nài nỉ ai giới thiệu về mình như với cháu cả.” Cách nói sang trọng của ông ấy có vẻ hơi lố bịch, như thể chúng tôi là hai kẻ rỗi hơi đang gầm gừ lẫn nhau trên cái sườn đồi hoang vắng này.
“Tên cháu là Mary Russell,” tôi đưa tay ra, ông ấy cũng nắm chặt lấy tay tôi. Bàn tay ông ấy mảnh khảnh và khô cứng. Chúng tôi bắt tay nhau như thể đang cam kết một hiệp ước hòa bình, điều mà chúng tôi luôn mong đợi.
“Mary,” Sherlock Holmes thốt lên, “để ta gọi thử tên cháu xem nào.” Ông ấy phát âm theo kiểu Ireland với cách âu yếm kéo dài âm tiết đầu. “Một cái tên chính thống phù hợp cho những kẻ thờ ơ như cháu.”
“Cháu tin là tên cháu được đặt theo tên của Magdalene, chứ không phải theo tên của Virgin.”
[2]
[3]
“À, có thể đó là một lời giải thích. Bây giờ ta đi chứ, thưa cô Russell? Quản gia của ta rất giỏi nấu nướng, bà ấy có thể chuẩn bị một số thứ dành cho chúng ta.”
Thế là cuộc dạo chơi thú vị bắt đầu, một chặng đường dài gần bốn dặm qua vùng thảo nguyên. Chúng tôi trò chuyện rất nhiều về nghề nuôi ong. Ông ấy chỉ vu vơ về cái đỉnh đồi nhỏ khi so sánh sự khéo léo của những tổ ong với những chính sách quỷ quyệt của chính phủ. Ông ấy ngừng một chút để minh họa cho sự liên quan giữa việc chia tổ của loài ong và căn nguyên kinh tế của chiến tranh với những ví dụ về việc Đức xâm lược Pháp và chủ nghĩa yêu nước của người Anh. Thế là chúng tôi đã đi được một dặm. Khi lên đến đỉnh đồi, bài diễn văn của Sherlock Holmes có vẻ đã rất dài, và ông ấy lao xuống sườn đồi bên kia với một tốc độ như thể lấy đà để bay.
Ông ấy dừng lại nhìn xung quanh tìm kiếm tôi và bắt gặp điệu bộ khó nhọc của tôi; quả thật, tôi không thể theo kịp ông ấy, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Sherlock Holmes dừng lại đợi tôi, rồi chúng tôi cùng đi bộ và trò chuyện dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ. Đôi khi ông ấy độc thoại một cách khó hiểu làm tôi căng thẳng, nhưng giọng nói nhẹ nhàng của ông ấy khiến tôi thoải mái thêm đôi chút, và tôi thử khơi gợi lại những câu chuyện về đời sống cho bầu không khí trở nên hứng khởi. Khi đến ngôi nhà đơn sơ của Holmes, chúng tôi tưởng như đã quen thân nhau từ lâu lắm.
Bụng tôi bắt đầu cồn cào, và cảm giác ấy càng tăng lên một cách rõ ràng. Thời gian này tôi đã tự rèn luyện cho mình thói quen lờ đi cơn đói, nhưng một người dù còn trẻ và khỏe mạnh đến đâu, sau một ngày dài ở ngoài nếu chỉ ăn có mỗi cái bánh sandwich thì chắc chắn cũng không thể tập trung được vào bất cứ việc gì, ngoài các món ăn. Tôi cầu mong sẽ có một tách trà để uống, và tôi đang thực sự băn khoăn không biết làm thế nào để yêu cầu một thứ như thế khi chúng tôi về đến nhà ông ấy thì bà quản gia xuất hiện ngay ở cửa ra vào. Trong phút chốc tôi đã quên đi mối lo lắng của mình. Đó chính là bà Hudson, một con người biết chịu đựng, nhân vật mờ nhạt nhất trong tất cả những câu chuyện của bác sĩ Watson. Một ví dụ khác về sự chậm hiểu của người đàn ông, đó là sự bất tài của họ trong việc phát hiện ra ngọc quý trừ khi nó được đặt trong thỏi vàng lấp lánh.
Bà Hudson đáng mến có vẻ muốn trở thành bạn của tôi. Bà ấy ngay lập tức nhận ra điều mà ông chủ của mình không biết, rằng tôi đang thực sự rất đói bụng, và bà bắt đầu lấy hết thực phẩm trong bếp để chuẩn bị một bữa ăn cho một kẻ sắp chết đói. Holmes có vẻ phản đối khi bà ấy xuất hiện với cái khay chất đầy bánh mì, pho mát, gia vị và bánh ngọt, nhưng ông ấy ân cần nhìn tôi khi tôi cắt từng miếng to ở mỗi món ăn. Tôi cảm thấy vô cùng biết ơn khi Holmes không hề chế nhạo khả năng ăn nhiều của tôi như cô tôi mà còn cố làm ra vẻ cũng đang ăn nhiều như tôi vậy. Khi tôi đang ngồi thư giãn với tách trà thứ ba, thì người phụ nữ ở trong khu nhà ấy có vẻ hài lòng như thể lâu lắm rồi bà ấy mới hài lòng như thế. Thái độ của ông Holmes thật khiến cho người khác kính nể, và điều đó khiến bà Hudson thật vui lòng trong khi dọn dẹp chỗ thức ăn.
“Cháu cảm ơn bà thật nhiều,” tôi nói với bà ấy.
“Ta rất vui vì những món ăn ta nấu được khen ngợi,” bà ấy nói mà không nhìn ông Holmes. “Ta rất ít có dịp để bận rộn, trừ những khi bác sĩ Watson đến chơi. Còn ông ấy...” bà ấy nghiêng đầu về phía người đàn ông đang ngồi đối diện với tôi, ông ấy vừa lôi ra một cái tẩu từ trong túi áo, “Chỗ thức ăn mà ông ấy ăn còn chẳng đủ để nuôi một con mèo đói. Đừng ngưỡng mộ ta, cháu gái, vì ông ấy chưa bao giờ đánh giá ta cao.”
“Ôi, bà Hudson,” ông Holmes có vẻ miễn cưỡng, nhưng nhẹ nhàng, như thế đang tranh luận về một vấn đề xưa cũ, “tôi vẫn ăn đấy chứ, nhưng bà nấu nhiều món đến mức giống như cho cả một đại gia đình ăn vậy.”
“Con mèo kiểu gì cũng chết đói,” bà ấy nhắc lại một cách kiên quyết. “Nhưng hôm nay ông đã ăn được một vài món trong bữa, và tôi thấy mừng về điều đó. Nếu ông xong bữa rồi, thì ông Will có chuyện muốn nói với ông trước khi đi, hình như là chuyện về cái hàng rào.”
“Tôi không quan tâm tẹo nào về cái hàng rào đó cả,” Holmes phàn nàn. “Tôi trả một khoản tiền lớn chỉ để ông ta làm phiền tôi về cái hàng rào sao? Cả những bức tường và tất cả những thứ vụn vặt khác nữa à?”
“Ông ta cần hỏi ông một vài chuyện,” bà Hudson nhắc lại. Hình như việc nhắc đi nhắc lại một cách chắc chắn có vẻ là cách để bà ấy thuyết phục Holmes.
“Trời ơi, tức muốn chết đi được! Tại sao tôi phải rời London? Tôi không muốn phải để những tổ ong của mình ở lại mảnh đất này và sống trên con phố Baker đó. Hãy tự xoay sở với cái giá sách nhé, Russell. Một lát nữa ta sẽ quay lại.” Ông ấy vồ lấy cái tẩu, châm thuốc rồi đi hiên ngang ra ngoài cửa. Bà Hudson hơi cúi đầu và đi về phía nhà bếp, còn lại mình tôi trong căn phòng tĩnh lặng.
Nhà của Sherlock Holmes là một ngôi nhà nông thôn cổ, đúng kiểu đặc trưng ở khu Sussex: tường đá lửa và những mái nhà ngói đỏ. Căn phòng chính ở tầng trệt trước kia là hai phòng riêng biệt, nhưng bây giờ nó là một căn phòng vuông vắn rộng rãi với một lò sưởi khổng lồ bằng đá đặt ở cuối phòng, những xà nhà tối và cao, sàn nhà bằng gỗ sồi thông với cửa bếp. Phía nam của căn phòng có một cửa sổ rất lớn, từ đây tôi có thể nhìn thấy những sườn đồi thoai thoải hướng về phía biển. Một bộ sofa, hai cái ghế bành, một cái ghế mây đã sờn, tất cả xếp thành hình tròn xung quanh lò sưởi, một cái bàn tròn và bốn cái ghế chiếm hết diện tích khung cửa sổ phía nam đầy nắng (chỗ tôi đang ngồi). Cái bàn làm việc với những chồng giấy cao ngất đặt ngay dưới một khung cửa sổ hình thoi phía tây: căn phòng có quá nhiều hướng. Có vẻ như những bức tường đã không còn khoảng trống với những giá sách và tủ ly chật cứng.
Ngày hôm nay tôi thích thú với vị chủ nhà hơn là những quyển sách của ông ấy. Tôi tò mò nhìn những tựa sách (Sự may mắn của Borneo nằm giữa Ý tưởng của Goethe và Những tội ác trong tình yêu thế kỷ mười tám của nước Ý) nhưng tôi chỉ nghĩ về Sherlock Holmes chứ không muốn mượn chúng. Tôi đi một vòng quanh phòng và mỉm cười khi thấy tàn thuốc lá còn vương trên đôi dép đi trong nhà kiểu Ba Tư của Holmes. Trên một chiếc bàn, có một cái hộp nhỏ in dòng chữ “CHANH TÂY BAN NHA”, trong hộp đựng vài khẩu súng ổ quay bị tháo rời. Trên một cái bàn khác có ba chiếc đồng hồ bỏ túi gần giống nhau với độ chính xác cao, cùng đó là một chiếc kính lúp lớn, một bộ compa, vài tập giấy đã ghi kín một mặt ở cuối bàn. Tôi chưa kịp nhìn lướt qua những chữ viết rõ ràng là của ông ấy thì ông ấy đã làm tôi giật mình khi cất giọng từ phía cửa ra vào.
“Chúng ta sẽ ra ngoài hiên ngồi chứ?”
Tôi vội vàng đặt tờ giấy ở trên tay xuống, có vẻ như đó là một bài phân tích về bảy công thức pha trộn thạch cao và những hiệu quả tương đối của chúng trong việc đánh dấu các loại lốp xe. Tôi đồng ý với Holmes rằng ngồi nghỉ ngơi ở ngoài vườn thật là thoải mái. Tôi cầm tách trà lên, và theo ông ấy đi qua một căn phòng với những cánh cửa kiểu Pháp, tôi chú ý đến một vật thật kỳ quặc được đặt ngay sát bức tường hướng nam: một cái hộp rộng chỉ chừng chục phân nhưng cao tới hơn một mét và dài đến bốn mươi lăm phân. Có vẻ đó là một cái hộp bằng gỗ cứng. Dừng lại một chút để kiểm tra, tôi phát hiện ra đó là những tấm ván rất dễ trượt.
“Tổ của ta đấy”, ông Holmes nói với tôi.
“Ong ạ?” Tôi thốt lên. “Trời ơi, ngay trong ngôi nhà này sao?”
Thay vì trả lời tôi, Holmes đi qua tôi và trượt nhẹ một tấm ván, để lộ ra một tổ ong phủ kính long lanh, mỏng và đẹp một cách hoàn hảo. Tôi ngồi xổm trước tổ ong, và mê mẩn nhìn vào. Những lỗ ong dày đặc, thậm chí còn lấn sang cả phần giữa và kéo dài đến tận mép tổ, toàn bộ được phủ bởi một lớp màu vàng đen dày lấp lánh. Tổ ong đang rung lên với tất cả năng lượng của nó, dù từng con ong chỉ đang cần mẫn lao động một cách say mê và vô thức.
Tôi nhìn gần hơn, cố gắng cảm nhận những cử động thật nhẹ nhàng của chúng. Những con ong nặng trĩu phấn hoa chui vào trút mật và bay ra qua một ống dẫn dưới đáy thùng. Một ống nhỏ hơn nằm trên đỉnh dính đầy sáp mật, và tôi đoán rằng nó để thông hơi.
“Cháu có nhìn thấy con ong chúa không?” Holmes hỏi tôi.
“Nó cũng ở đây ạ? Để cháu xem có nhận ra nó không nhé!” Tôi biết ong chúa là con ong to nhất trong tổ, và khi nó bay đến bất cứ nơi đâu đều có những con ong khác xu nịnh vây quanh, nhưng tôi vẫn phải lóng ngóng một lúc lâu mới nhận ra nó giữa khoảng hai trăm con cả ong đực và ong cái. Nhưng tôi không thể tưởng tượng được tại sao ong chúa lại không xuất hiện ngay lập tức. To gấp đôi những con ong khác, không kêu một tiếng nhưng có thể nổi giận bất cứ lúc nào, trông nó như một loài côn trùng khác so với những con ong trong tổ. Tôi hỏi người nuôi ong một vài câu - kiểu như chúng có sợ ánh sáng không, hay số ong này có thay đổi ở những tổ lớn hơn không - rồi ông ấy kéo tấm phủ xuống, che lại bức tranh sống động và chúng tôi đi ra ngoài. Tôi chầm chậm nhớ lại rằng mình chẳng thích ong tẹo nào.
Bên ngoài cánh cửa ra vào kiểu Pháp là những phiến đá lát nền lớn hơn, được chắn gió bởi một tấm kính xây lên từ tường bếp và một bức tường đá cũ kỹ. Sân hiên ngập tràn hơi nóng đến khi có làn gió nhẹ ùa qua, và tôi cảm thấy thoải mái hẳn lên khi Holmes tiếp tục đi về phía những chiếc ghế gỗ đang nằm yên bình ngay dưới bóng mát của cây sồi khổng lồ. Tôi ngồi đó và nhìn ra eo biển qua đỉnh một vườn cây ăn quả xinh xắn ngay thung lũng phía dưới. Các thùng ong được sắp xếp khá ngăn nắp giữa vườn cây và những con ong thì vẫn miệt mài trên những bông hoa mới nở. Một chú chim sâu đó cất cao giọng hót. Tiếng của hai người đàn ông xa dần phía bên kia bức tường. Tiếng bát đĩa loảng xoảng từ nhà bếp. Một con thuyền đánh cá nhỏ xíu xuất hiện phía chân trời và chầm chậm hướng về chúng tôi.
Tôi đột nhiên bừng tỉnh và nhận ra rằng mình đang thờ ơ với vai trò của một người khách. Tôi chuyển tách trà đã nguội lạnh từ tay ghế sang chiếc bàn và ngước nhìn vị chủ nhà.
“Là do ông tự làm hết ạ?” tôi hỏi, chỉ về phía khu vườn.
Ông ấy cười mỉa mai, không biết vì sự hồ nghi trong giọng nói của tôi hay vì tôi đã kịp bừng tỉnh để phá vỡ sự im lặng ban nãy - tôi cũng không chắc chắn nữa.
“Ô không, cháu gái, có cả sự hợp tác của bà Hudson và ông Will Thompson - người đã từng là tổ trưởng của Hội những người làm vườn ở trang viên - nữa. Ta cảm thấy thích thú với vườn tược ngay từ lần đầu tiên tới đây, nhưng công việc cứ khiến ta xao lãng mãi. Rồi ta lại trở lại đây chỉ để tìm ra những mảnh đất chết vì khô cạn hay bị chôn vùi dưới những bụi gai. Nhưng bà Hudson có vẻ thích thú với chúng, và điều đó có nghĩa là bà ấy sẽ có việc khác để làm thay vì làm phiền ta với những món ăn. Thế là ta đã có một nơi thật dễ chịu để nghỉ ngơi và suy nghĩ. Không những thế, ta còn có một nơi tuyệt vời để nuôi những con ong của ta - hầu hết những bông hoa đều có vị mật rất ngọt ngào.”
“Một nơi thật dễ chịu. Nó khiến cháu nhớ đến khu vườn nhà cháu hồi cháu còn nhỏ.”
“Hãy kể cho ta nghe về cháu đi, Russell.”
Tôi miễn cưỡng trả lời, mới đầu thì ngần ngại và sau đó là bất đắc dĩ kể về tiểu sử tẻ nhạt của mình, nhưng một vài biểu hiện lơ đễnh thoáng qua trong thái độ của ông ấy khiến tôi dừng lại và cười toe toét.
“Tại sao ông không kể cho cháu nghe những chuyện về cháu, ông Holmes?”
“A ha, một sự thách thức đây!” Một tia sáng thích thú lóe lên trong đôi mắt của ông ấy.
“Đúng vậy ạ.”
“Tốt thôi, với hai điều kiện. Thứ nhất, thứ lỗi cho bộ não cũ kỹ và già cả của ta nếu nó vận hành quá chậm chạp và rệu rã, nó đã từng bị cùn mòn theo những thói quen và trở nên lỗi thời vì không được sử dụng liên tục. Cuộc sống thường ngày ở đây với bà Hudson và ông Will chẳng khác nào một hòn đá mài xấu xí dành cho một trí thông minh sắc sảo.”
“Cháu không tin là bộ não của ông lại không được tận dụng, nhưng cháu chấp nhận cái lý do về điều kiện sống đó. Còn điều thứ hai thì sao ạ?”
“Cháu hãy hỏi ta như vậy khi nào ta kể xong đã.”
“Ồ, được ạ! Cháu sẽ cố gắng cho dù phải chịu sự chế nhạo của ông.” Xét cho cùng thì tôi cũng không tránh nổi giọng lưỡi của ông ấy.
“Tốt.” Holmes xoa hai bàn tay khô cứng và mỏng manh với nhau, và đột nhiên tôi gặp phải ánh mắt trừng trừng dò xét của một nhà côn trùng học. “Ta có thể nhìn thấy người ngồi ngay trước mặt ta đây, là cô Mary Russell, được đặt tên theo tên của bà nội.”
Tôi giật mình sửng sốt trong một thoáng, rồi tôi hiểu ra và sờ lên cái mề đay cổ có khắc chữ MMR vừa tuột khỏi nút áo. Tôi gật đầu.
“Cô bé ấy, để ta xem nào, mười sáu tuổi, có phải không nhỉ? Hay là mười lăm? Đúng vậy, mười lăm tuổi, mặc dù còn nhỏ và gần như không được đi học nhưng cô bé vẫn có ý định vào đại học.” Tôi chạm phải quyển sách trong túi áo khoác và gật đầu tán thưởng. “Cô bé đó rõ ràng là thuận tay trái, bố mẹ cô bé có một người là người Do Thái, chắc là người mẹ, ta đoán vậy. Đúng, chắc chắn là người mẹ, bà ấy biết đọc và viết tiếng Do Thái. Hiện tại cô bé thấp hơn người bố gốc Mỹ của mình khoảng mười phân, có phải kia là bộ quần áo của ông ấy không? Tất cả đều đúng chứ?” ông ấy hỏi một cách thích thú.
Tôi suy nghĩ dữ dội. “Người Do Thái ạ?” tôi hỏi.
“Vết mực trên ngón tay của cháu chỉ có thể xuất phát từ thói quen viết chữ từ phải sang trái của cháu.”
“Tất nhiên rồi ạ.” Tôi nhìn những vết mực gần móng tay cái bên trái. “Quả là rất ấn tượng.”
Holmes gạt tay. “Chỉ là trò chơi trong nhà thôi. Xem nào, giọng nói cũng là một vấn đề thú vị đây.” Ông nhìn tôi chằm chằm một lúc rồi khép mắt lại, ngả người ra phía sau và bắt đầu nói.
“Giọng nói... Cô bé mới chuyển tới đây từ nhà của bố ở miền Tây nước Mỹ, Bắc California. Mẹ của cô bé thuộc tộc người Do Thái vùng Đông London, và bản thân cô bé lớn lên ở Tây Nam London. Cô bé ấy chuyển tới nhà bố, như ta đã nói, ở California, trong vòng một, ồ không, hai năm. Hãy nói từ ‘kẻ chịu đọa đày’ cho ta xem nào.” Tôi nhắc theo lời ông ấy. “Đúng vậy, hai năm. Trong khoảng thời gian từ lúc đó tới tháng Mười hai, cả bố và mẹ cô bé đều qua đời, rất có thể là trong cùng một vụ tai nạn mà cô bé có liên quan vào tháng Chín hay tháng Mười vừa rồi, tai nạn đã gây ra vết sẹo ở cổ của cô bé, cả da đầu, tay phải - bàn tay có vẻ yếu, và đầu gối bên trái đi lại hơi khó khăn.”
Đột nhiên trò chơi không còn thú vị đơn thuần nữa. Tôi ngồi cứng đờ người, tim như ngừng đập khi lắng nghe cái giọng nói điềm tĩnh, lạnh lùng của ông ấy.
“Sau khi bình phục cô bé được gửi đến nhà một người quen, đó là một người họ hàng keo kiệt và khó chịu, không chăm sóc cô bé được đầy đủ. Và điều cuối cùng,” ông ấy nói thêm, “ta thừa nhận rằng ta có phỏng đoán, nhưng phỏng đoán ấy dựa trên một sự thật là cơ thể gầy gò không được nuôi dưỡng tốt của cô bé cùng cái cách cô bé xuất hiện trước bàn ăn của một người lạ và ăn uống có phần hơi thoải mái, mặc dù rõ ràng cô bé ấy đã được dạy phải cư xử như thế nào cho đúng mực. Ta rất sẵn lòng lắng nghe một lời giải thích khác.” Ông ấy ướm hỏi, đôi mắt mở to và nhìn thẳng vào khuôn mặt tôi.
“Ôi cháu gái thân yêu!” Giọng nói của ông ấy là sự pha trộn kỳ quặc giữa thông cảm và thái độ chọc tức tôi. “Ta đã cảnh báo về tình huống này rồi. Ta thực sự xin lỗi nếu có làm cháu buồn.”
Tôi lắc đầu và giơ tay với lấy tách trà đã nguội lạnh. Thật khó khăn để cho tôi nói điều gì đó với cục nghẹn trong cổ họng.
Holmes đứng dậy và đi vào trong nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng ông và bà quản gia bàn bạc gì đó, rồi ông quay lại, mang theo hai ly thủy tinh mỏng manh và một bình đựng rượu. Ông rót rượu và đưa cho tôi một ly, có vẻ như đó là rượu mật ong do chính ông làm. Ông ngồi xuống và chúng tôi cùng nhấm nháp từng hớp rượu thơm phức. Một lúc sau thì cục nghẹn có vẻ như đã mất đi, và tôi có thể bình tĩnh trở lại. Tôi hít một hơi thật sâu và quay sang liếc ông thật nhanh.
“Nếu là hai trăm năm về trước thì ông đã bị thiêu sống rồi.” Tôi cố gắng nói đùa một cách tỉnh queo nhưng có vẻ không thành công cho lắm.
“Trước kia cũng có người nói với ta như vậy,” ông ấy nói, “mặc dù ta chưa từng tưởng tượng ta chính là một lão phù thủy ba hoa khoác lác để kiếm ăn.”
“Thật ra, Sách Lê-vi 1 không ném họ lên dàn hỏa thiêu, mà chỉ khiến cho họ - iõb, những ông đồng bà cốt có khả năng trò chuyện với linh hồn, hoặc yidõni, những người có thể nắm trong tay tri thức cùng sức mạnh mà không nhờ ơn đức Chúa Trời Israel, ờ... tức là phù thủy ấy - bị ném đá cho đến chết mà thôi!” Tôi ngừng bặt khi nhận ra Holmes đang nhìn tôi với một vẻ kinh ngạc lớn. Bài đọc thuộc lòng vừa rồi của tôi đã tự động bật ra khi có một quan điểm về thần học xen vào giữa cuộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi cười với một sự vững dạ yếu ớt. Ông ấy hắng giọng.
[4]
“À, ta có thể kết thúc được chưa?”
"Vâng, ông nói tiếp đi ạ,” tôi trả lời, hơi bối rối.
“Cha mẹ của cô bé ấy có vẻ giàu có, và con gái của họ là người thừa hưởng gia tài. Điều đó, cùng với sự thông minh của cô bé khiến cho người họ hàng keo kiệt không thể không ghen tị và ép buộc cô bé vào khuôn khổ. Vì lý do đó, cô bé thường lang thang một mình và cứ đi, cứ đi như vậy hàng giờ liền.”
Ông ấy có vẻ sắp nói xong, nên tôi thu gom những ý kiến vụn vặt của mình lại và dõng dạc nhận xét:
“Ông nói rất đúng, ông Holmes. Cháu được thừa kế, và cô cháu cho rằng cháu luôn làm những điều trái ngược với địa vị của một quý cô. Vì cô ấy giữ chìa khóa của nhà bếp và luôn tìm cách mua chuộc cháu bằng thức ăn, cháu thỉnh thoảng cũng bị đói đấy, ông Holmes. Tuy nhiên, có hai thiếu sót nhỏ trong lập luận của ông.”
“Ồ?”
“Thứ nhất, cháu không đến ở với cô cháu ở Sussex. Ngôi nhà và nông trang là của mẹ cháu. Gia đình cháu thường nghỉ hè ở đây khi cháu còn nhỏ, đó là một trong những quãng thời gian hạnh phúc nhất cuộc đời cháu. Và khi cháu được gửi về Anh, hoàn cảnh đã buộc cháu phải chấp nhận cô ấy như một người giám hộ. Cô ấy không nhà không cửa, nên đã miễn cưỡng đồng ý. Mặc dù cô ấy quản lý tiền bạc trong sáu năm sau đó, nghiêm túc mà nói, cô ấy sống với cháu, chứ không phải là cháu sống với cô ấy.” Một người nào đó có thể không nhận thấy sự ghê tởm trong giọng nói của tôi, nhưng Holmes thì khác. Tôi dừng ngay chủ đề này lại trước khi tiết lộ thêm những điều khác về cuộc đời mình. “Thứ hai, cháu luôn phải cẩn thận xem xét thời gian sao cho kịp trở về nhà trước khi trời tối. Cháu phải về sớm, vì chỉ trong vòng hai tiếng nữa là trời sẽ tối sầm, mà nhà cháu thì cách chỗ cháu và ông gặp nhau tới hai dặm.”
“Russell này, cháu không cần phải vội đâu,” ông ấy nói một cách điềm tĩnh để tôi có thể khép lại chủ đề trước đó. “Một trong những người hàng xóm của ta luôn muốn thỏa mãn niềm say mê xe hơi của ông ấy bằng việc sẵn sàng phục vụ như một tài xế taxi khi có bất kỳ người nào gọi tới. Bà Hudson đã gọi ông ấy đến để lái xe đưa cháu về nhà. Cháu còn tận một tiếng mười lăm phút nữa để nghỉ ngơi trước khi ông ấy đến đưa cháu trở về với vòng tay thân yêu của cô cháu.”
Tôi nhìn xuống, bối rối. “Ông Holmes à, cháu e rằng tiền trợ cấp của cháu không đủ để tiêu xài xa hoa như thế. Thật ra, cháu đã dùng số tiền tuần này để mua quyển sách của Virgil rồi.”
“Russell, ta là một người đàn ông có một ngân quỹ đáng kể nhưng lại rất ít khi phải tiêu đến. Hãy cứ để ta thỏa mãn cơ hội tiêu tiền này nhé?”
“Không ạ, cháu không thể!”
Ông ấy nhìn tôi và có vẻ nhượng bộ. “Thôi được rồi, thế này nhé, ta sẽ đưa ra một thỏa thuận. Ta sẽ trả tiền cho việc đó và các phí tổn sau này, coi như đây là tiền ta cho cháu vay. Có lẽ tài sản thừa kế sau này của cháu sẽ đủ để trả cho cái khoản nợ tích tụ dần dần này đấy nhỉ?”
“Ô, vâng ạ.” Tôi cười khi tưởng tượng ra một cách sinh động khung cảnh ở một văn phòng luật, đôi mắt tham lam của cô tôi sẽ trở nên tối sầm vì sửng sốt. “Sẽ không có vấn đề gì cả, thưa ông!”
Holmes liếc tôi một cái sắc bén, ông ngập ngừng rồi nói một cách nhã nhặn, “Russell này, thứ lỗi cho sự đường đột của ta, nhưng ta thường không được lạc quan cho lắm về bản chất con người. Ta có thể tìm hiểu một chút về bản di chúc của cháu không... ?” Holmes vốn là người có khả năng đọc thấu suy nghĩ của người khác, với sự am hiểu một cách chắc chắn những vấn đề cơ bản của cuộc đời. Tôi cười dứt khoát.
“Nếu cháu có chết thì cô cháu cũng chỉ nhận được một số tiền thỏa đáng hàng năm thôi. Chắc cũng không hơn mức tiền hiện tại mà cô ấy được hưởng đâu.”
Ông ấy có vẻ bớt căng thẳng. “Ta hiểu rồi. Bây giờ, về chuyện số tiền cho vay - đôi chân của cháu sẽ trở nên tồi tệ lắm đấy nếu như cháu cứ một mực đòi đi bộ về nhà với đôi giày này. Ít ra thì ngày hôm nay cháu nên đi taxi đi. Ta luôn sẵn lòng chi trả cho cháu, nếu cháu muốn.”
Những lời cuối của Holmes có vẻ rất kỳ cục. Nó giống như một lời đề nghị mỉa mai - mà đối với một người nào đó ít điềm tĩnh hơn thì kiểu gì nó cũng trở thành một lời cầu khẩn. Chúng tôi ngồi đó, hiểu hơn về nhau trong khu vườn tĩnh lặng khi hoàng hôn dần buông, và tôi chợt nhận ra rằng hình như ông ấy đã tìm thấy ở chú chó nhỏ phiền nhiễu là tôi đây một người bạn đồng hành đáng yêu. Dường như những cảm giác yêu mến đầu tiên đã xuất hiện trên khuôn mặt của ông ấy, và có Chúa mới biết niềm vui sướng của tôi nhanh chóng vỡ òa ra như thế nào khi tôi nhận ra ông ấy bắt đầu quan tâm đến mình. Chúng tôi là một cặp thật kỳ quặc và khập khiễng - một con bé cao lênh khênh, lóng ngóng, đeo kính cận, và một người đàn ông cao lớn, sống ẩn dật, hay mỉa mai, dù là ban phúc hay nguyền rủa người khác thì cũng bằng một trí tuệ hà khắc, thờ ơ với tất cả và hầu như ngoan cố. Chắc chắn tôi phải viếng thăm ngôi nhà này thật nhiều lần nữa. Tôi hiểu và chấp nhận lời đề nghị kết bạn bóng gió của Holmes:
“Mất ba đến bốn tiếng trong ngày để cuốc bộ thì sẽ chẳng còn mấy thời gian để làm những việc khác, cháu chấp nhận lời đề nghị của ông. Bà Hudson sẽ giữ giấy biên nhận chứ ạ?”
“Bà ấy vốn cực kỳ cẩn thận với các con số, chứ không như ta. Nào, hãy uống thêm một ly rượu nữa, và hãy kể về Sherlock Holmes cho ta nghe.”
“Vậy, ông đã nói xong rồi ạ?”
“À, ừm... có những việc rõ ràng hơn, chẳng hạn như cháu không quan tâm mấy đến giày dép của mình, hay cháu thường đọc sách khuya mà không đủ ánh sáng. Thế là cháu có khá ít thói quen xấu đấy, mặc dù cha cháu có hút thuốc và không giống hầu hết những người Mỹ, ông ấy có vẻ thích thú với những bộ cánh hợp thời hơn là những thứ khác. Nào, có lẽ ta nên nghỉ ngơi một lát. Đến lượt cháu rồi đấy. Nhưng ta nhắc nhở cháu là ta muốn nghe những điều từ cháu, chứ không phải từ những điều cháu lượm lặt được từ người bạn rất nhiệt tình của ta là bác sĩ Watson đâu.”
“Cháu sẽ cố gắng không vay mượn con mắt quan sát sắc sảo của ông ấy,” tôi nói thản nhiên. “Những hình vẽ minh họa chắc chắn là nhầm lẫn, nó khiến ông nhìn già hơn tuổi. Cháu không giỏi đoán tuổi lắm, nhưng chắc là ông chưa quá... à... năm mươi tuổi đầu nhỉ? Ôi, cháu xin lỗi. Có một số người không muốn nói về tuổi của họ.”
“Ta năm mươi tư tuổi rồi. Nhà văn Conan Doyle và những kẻ đồng lõa ở tạp chí The Strand nghĩ rằng việc tăng thêm tuổi sẽ khiến ta trở nên trang nghiêm hơn. Tuổi trẻ thường không khiến người ta tin tưởng lắm, kể cả trong những câu chuyện hay trong đời thực. Ta nhận ra điều phiền toái này kể từ khi ta chuyển đến phố Baker - khi đó ta chưa đầy hai mốt tuổi, và ban đầu chỉ nhận được vài vụ án lẻ tẻ thất thường. Nhân thể, ta hy vọng rằng cháu sẽ không học cách tạo nên thói quen phỏng đoán. Cháu biết không, phỏng đoán là một nhược điểm dẫn đến sự biếng nhác, và cháu không bao giờ được nhầm lẫn nó với trực giác của mình.”
“Cháu sẽ ghi nhớ điều này,” tôi nói rồi với lấy ly rượu của mình, vừa nhấm nháp vừa nghĩ về những gì mình đã nhìn thấy trong căn phòng. Tôi thận trọng với từng câu nói. "Trước hết, ông xuất thân từ tầng lớp trung lưu, và mối quan hệ của ông với bố mẹ không được tốt cho lắm. Đến bây giờ ông vẫn không thôi thắc mắc về họ và cố gắng tìm hiểu về quá khứ của mình.” Tôi đáp lại cái nhướng mày của Holmes, “Điều đó giải thích vì sao ông lại giữ bức ảnh gia đình rất trang trọng ở ngay trên kệ bàn gắn nơi làm việc - mặc dù nó bị những cuốn sách che khuất, nhưng vẫn còn hơn là bị treo lên tường rồi bị lãng quên.” Ôi, thật ngọt ngào làm sao khi nhìn thấy vẻ mặt đầy thán phục của Holmes và cả những tiếng thì thầm của ông ấy, ‘Hay, thật sự là rất hay!’ Giống như được trở về nhà vậy.
“Thế nên ông không bao giờ kể với bác sĩ Watson về thời thơ ấu của mình. Là một người đơn giản và xuất thân từ tầng lớp bình dân, chắc chắn ông ấy khó có thể thấu hiểu được gánh nặng đặc biệt của một trí tuệ thiên tài. Không phải cháu tọc mạch đâu, nhưng hình như đó cũng là lý do khiến ông ngay từ đầu đã quyết định lánh xa phụ nữ, cháu khó có thể tin được một người như ông lại có một mối quan hệ tốt đẹp với phụ nữ - người sẽ can thiệp vào tất cả các ngõ ngách đời sống của ông, chứ không phải là sự cộng tác thất thường và có phần kỳ quặc của ông với bác sĩ Watson.” vẻ mặt của Holmes lúc ấy không thể tả được, nửa thích thú nửa xấu hổ, pha lẫn một chút tức giận và một chút bực bội nữa. Cuối cùng nó cũng dịu xuống thành sự giễu cợt và thách thức. Tôi cảm thấy khá hơn rất nhiều về sự tổn thương vô tình mà ông ấy đã gây ra cho tôi, và nói tiếp:
“Tuy nhiên, như cháu đã nói, cháu không có ý xâm phạm đời tư của ông. Quá khứ vốn rất quan trọng vì nó góp phần tạo nên hiện tại. Ông có mặt ở đây để trốn tránh cảm giác bị vây bủa bởi những bộ óc kém cỏi - những bộ óc không bao giờ có thể hiểu được ông. Mười hai năm trước, ông đã nghỉ hưu sớm một cách khác thường, hình như để tìm hiểu về sự đoàn kết và thống nhất hoàn hảo của loài ong và để theo đuổi sự nghiệp trinh thám vĩ đại của mình. Trên giá sách gần bàn làm việc của ông là bảy tập sách đã hoàn thành, và cháu đoán chừng, trong cái hộp đựng giấy tờ ngay dưới những quyển sách kia có ít nhất một lượng sách tương tự mà ông sẽ phải viết tiếp.” Holmes gật đầu và rót thêm rượu cho chúng tôi. Cái bình gần như sắp cạn.
“Cháu không tin ông lại lãng quên những thí nghiệm hóa học của mình. Những vết bẩn ở gấu áo của ông đã chỉ ra rằng ông vẫn đang làm việc rất say mê trong phòng thí nghiệm, dấu vết của axit còn chưa mất đi sau nhiều lần giặt tẩy. Ông cũng không còn hút thuốc lá nữa, những ngón tay của ông đã nói lên điều ấy, tuy nhiên cái tẩu thuốc lại được sử dụng rất thường xuyên. Những vết chai trên đầu ngón tay cho thấy ông đang theo học violin. Có vẻ như ông không lo lắng đến những ngòi chích ghê gớm của loài ong bằng lo lắng cho công việc và vườn tược, da của ông chi chít nốt ong đốt, cả những vết cũ và mới. Chính sự linh hoạt ấy của ông đã cho thấy lý thuyết về những vết ong đốt là một liệu pháp chữa bệnh thấp khớp có cơ sở. Hay là chứng viêm khớp nhỉ?”
“Với ta thì đó là bệnh thấp khớp!”
“Ngoài ra, cháu cho rằng ông không hoàn toàn từ bỏ cuộc sống trước kia của mình, hoặc là cuộc sống đó không hoàn toàn từ bỏ ông. Cháu có thể nhìn thấy vùng da mờ mờ trên cằm của ông, chứng tỏ mùa hè năm ngoái thi thoảng ông cũng để râu trước khi cạo sạch, và ánh nắng mặt trời không đủ để xóa đi những dấu vết đó. Cháu cho rằng ông làm thế vì mục đích cải trang thành một người nào đó trong vòng vài tháng, có thể là trong giai đoạn đầu của chiến tranh. Ông đã bí mật theo dõi vua Đức, cháu đánh bạo mà nói như vậy.”
Khuôn mặt Holmes trở nên đờ đần, ông ấy quan sát tôi một lúc lâu mà không có bất cứ một biểu hiện gì. Tôi im lặng với một nụ cười e dè. Cuối cùng thì ông ấy cũng nói.
“Ta đã hỏi rồi, có đúng không nhỉ? Có phải là cháu biết rất rõ những tác phẩm của Sigmund Freud1 không?”
“Đúng ạ, mặc dù cháu thấy tác phẩm của các tác giả sau này hữu ích với cháu hơn. Ông Freud luôn bị ám ảnh thái quá với những hành động khác thường - và lý thuyết của ông ấy hỗ trợ rất nhiều cho công việc của ông, có lẽ vậy, nhưng lại không hữu ích với hầu hết mọi người.”
Đột nhiên có sự náo động ở luống hoa. Hai con mèo vàng phi ra và rượt nhau trên bãi cỏ rồi mất dạng ở lỗ hổng của bức tường trong khu vườn. Holmes dõi theo chúng và ngồi nheo mắt dưới ánh mặt trời yếu ớt.
“Cách đây hai mươi năm,” ông ấy lẩm bẩm. “Thậm chí là mười năm. Nhưng ngay ở đây? Ngay bây giờ thì sao?” Ông ấy lắc đầu và lại quay sang tôi. “Lên đến đại học thì cháu sẽ đọc cái gì nhỉ?”
[5]
Tôi cười. Tôi không thể tránh được điều đó. Tôi biết ông ấy sẽ phản ứng như thế nào.
“Thuyết thần học ạ.”
Phản ứng của ông ấy dữ dội đúng như tôi nghĩ, nhưng giá mà tôi chắc chắn được về mọi điều trong cuộc đời mình như vậy. Chúng tôi dạo bước dưới ánh hoàng hôn đổ đầy trên vách đá, tôi thả tầm mắt hướng về biển trong khi Holmes còn mải mê đấu tranh với những suy nghĩ của mình. Cuối cùng ông ấy cũng lên tiếng khi chúng tôi trên đường quay trở về, “Cũng không tệ lắm nhỉ, dù ý tưởng đó có vẻ hơi buồn tẻ và vô ích.” Tôi không đáp lại.
Xe đến không lâu sau đó và Bà Hudson ra ngoài để trả tiền. Holmes giải thích về vụ thỏa thuận giữa chúng tôi trước sự thích thú của bà ấy, và bà hứa sẽ ghi chép lại cẩn thận.
“Ta có một thí nghiệm phải hoàn thành tối nay, thứ lỗi cho ta nhé.” Holmes lên tiếng, mặc dù tôi biết ông ấy không muốn nói lời tạm biệt. Tôi đưa tay ra và gần như rụt lại khi ông ấy đưa nó lên môi thay vì bắt tay tôi như lần trước.
“Hãy đến thăm chúng ta bất cứ khi nào cháu muốn. À, chúng ta có kết nối với mạng lưới điện thoại quốc gia nhé. Hãy bảo tổng đài cho gặp Bà Hudson, mặc dù những quý bà tốt bụng đôi khi lại quyết định trả lời ‘không biết’ để bảo vệ ta, nhưng Bà Hudson thì họ luôn sẵn lòng nối máy.” Holmes nhìn tôi rồi quay mặt đi, nhưng tôi đã kịp ngăn ông ấy lại.
“Ông Holmes,” tôi gọi tên ông ấy, cảm nhận rõ là mặt mình đang đỏ bừng lên, “Liệu cháu có thể hỏi ông một câu được không ạ?”
“Tất nhiên là được rồi, thưa cô Russell.”
“Thung lũng sợ hãi kết thúc như thế nào ạ?” tôi buột miệng.
“Truyện gì nhỉ?” Holmes có vẻ ngạc nhiên.
“Thung lũng sợ hãi. Trên tạp chí The Strand ấy ạ. Cháu chẳng thích series này lắm, và tháng sau là kỳ cuối rồi, nhưng ông có thể nói cho cháu biết trước nó sẽ kết thúc như thế nào không?”
“Là một trong những câu chuyện kể của bác sĩ Watson nhỉ?”
“Tất nhiên rồi ạ. Đó là vụ Birlstone và gia đình nhà Scowrers, John McMurdo, giáo sư Moriarty và...”
“Được rồi, ta tin là ta có thể nhận ra vụ đó, nhưng ta vẫn luôn thắc mắc, như Conan Doyle thích những cái tên đó thì tại sao ông ấy không đặt luôn biệt danh cho bác sĩ Watson hay cho ta nhỉ?”
“Vậy thì truyện kết thúc như thế nào ạ?”
“Ta không thể có một chút ý niệm nào về nó dù là mờ nhạt nhất. Đáng lẽ cháu nên hỏi bác sĩ Watson.”
“Nhưng chắc chắn ông biết vụ án này kết thúc như thế nào mà,” tôi nói, lộ vẻ ngạc nhiên.
“Vụ án này, chắc chắn rồi. Nhưng những gì bác sĩ Watson đã kể ra thì ta không thể phỏng đoán được, dù ta biết trong đó kiểu gì cũng có đổ máu, niềm say mê và những cái bắt tay bí mật. À, và một phần nào dính dáng đến tình ái nữa. Ta đoán rằng, Russell ạ, kiểu gì bác sĩ Watson cũng đã biến tấu nó đi. Một ngày tốt lành nhé.” Ông ấy xoay người đi vào trong nhà.
Bà Hudson đứng đó và nghe thấy hết cuộc trao đổi giữa chúng tôi, bà không nói gì cả, chỉ ấn một cái túi vào tay tôi, “cho chuyến đi trở về nhà”. Với trọng lượng của cái túi, tôi tin rằng việc ăn uống hẳn sẽ mất nhiều thời gian hơn là việc lái xe. Tuy nhiên, nếu có thể qua mặt được cô tôi thì đó sẽ là một sự bổ sung thoải mái cho khẩu phần ăn bí mật của tôi. Tôi nồng nhiệt cảm ơn bà ấy.
“Cảm ơn cháu vì đã đến đây, cháu thân yêu,” bà Hudson nói, "mấy tháng rồi ông ấy mới lại có sức sống như thế đấy. Hãy quay trở lại đây, thật sớm nhé?”
Tôi hứa với bà và trèo vào xe. Bác tài xế lăn xe lạo xạo trên con đường trải sỏi, và tôi bắt đầu suy nghĩ miên man về ngài Sherlock Holmes đáng kính.
Có lẽ tôi nên tạm thời ngừng lại câu chuyện này để nói vài điều về một người mà tôi muốn lãng quên hoàn toàn. Đó là cô tôi.
Trong khoảng thời gian gần bảy năm, kể từ khi bố mẹ tôi mất cho đến sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của tôi, cô ấy sống ở nhà tôi, tiêu tiền của tôi, quản lý cuộc sống của tôi, hạn chế quyền tự do của tôi, và áp đặt những điều tồi tệ nhất để kiểm soát tôi. Đã hai lần tôi phải khiếu nại người giám hộ của mình, và cả hai lần tôi đều thắng, tôi đã chiến thắng trong sự thù nghịch của cô ấy. Tôi không biết chính xác số tiền mà cô ấy lấy của bố mẹ tôi là bao nhiêu, nhưng tôi biết cô ấy đã tậu được một căn nhà mái bằng ở London ngay sau khi rời khỏi nhà tôi. Trước khi đến đây, cô ấy gần như không một xu dính túi. Tôi nói với cô rằng tôi coi đó là số tiền công tôi trả cho cô ấy, trả cho những năm cô ấy làm thuê ở nhà tôi, và tôi không cần số tiền đó nữa. Khi cô tôi mất, tôi đã không tới dự đám tang mà đến nhà một người em họ nghèo khổ của tôi.
Những tháng ngày cô tôi sống cùng tôi, tôi gần như không để ý đến sự hiện diện của cô ấy, điều này làm cho cô ấy càng tức phát điên. Cô ấy, theo tôi nghĩ, tự đủ thông minh để nhận ra sự cao thượng ở người khác, nhưng thay vì cảm kích vui mừng thì cô ấy lại cố gắng làm cho sự hợm hĩnh hạ thấp mình hơn. Một con người không thật thà, đáng buồn thay, thật sự là rất đáng buồn, nhưng sự thương cảm của tôi dành cho cô ấy dần dà cũng không còn nữa. Cho nên, tôi sẽ tiếp tục lờ cô tôi đi bằng việc xóa tên cô ấy trong tài khoản của mình bất cứ khi nào có thể. Đó là sự trả thù của tôi.
Kể từ ngày quen Holmes, sự can thiệp quá đáng của cô tôi lại càng làm tôi khó chịu. Những tuần sau đó, khi tôi đã tìm được thứ quý giá của đời mình - điều làm cho cô tôi rất cay cú - thì tôi lại càng khao khát một cuộc sống tự do, tránh xa khỏi cô ấy hơn. Tôi tự do sử dụng khoản tiền cho vay của bà Hudson giống như một đặc quyền của mình, và đến lúc trưởng thành tôi đã chất đống thêm một khoản nợ kha khá. (Sau này, hành động đầu tiên của tôi tại các văn phòng luật sư là viết một tấm séc để trả vào khoản tiền mà tôi nợ gia đình ông Holmes, kèm thêm năm phần trăm cho bà Hudson. Tôi không biết là bà Hudson đang dùng số tiền ấy để làm từ thiện hay để làm vườn, nhưng rốt cuộc bà cũng nhận nó.)
Hành động đỉnh điểm của cô tôi phản đối việc tôi ở nhà Holmes hàng giờ liền là cô ấy đe dọa sẽ làm om sòm và tung tin với dân làng rằng tôi là một đứa con gái hư. Tôi phải thừa nhận rằng điều đó thật phiền phức. Mỗi năm một lần, những lời hăm dọa quỷ quyệt như thế lại tạo cơ hội cho những kẻ thích làm lớn chuyện, và cuối cùng tôi cũng phải phản công lại, thường thì bằng cách dọa lại hoặc mua chuộc cô tôi. Nhưng có một lần tôi buộc phải nhờ Holmes đưa ra chứng cứ rằng ông ấy vẫn còn rất-được-kính-trọng, mặc dù ông ấy đã công khai giải nghệ hơn một thập kỷ qua, và gửi chứng cứ ấy cho bất cứ ai tin vào những chuyện ngồi lê đôi mách tầm thường của cô tôi. Bức thư đến tay cô ấy, và riêng địa chỉ được ghi trên bức thư đã khiến cô ấy im miệng đến mười tám tháng, cho đến khi tôi đề nghị được đi cùng Holmes tới châu Âu trong vòng sáu tuần. Suýt nữa thì cô tôi đã thành công trong việc ngăn cản chuyến đi của tôi, hoặc ít nhất là trì hoãn nó. Tuy nhiên, đến lúc đó tôi đã lần ra tài khoản ngân hàng của cô tôi, và tôi không có thêm bất cứ một rắc rối nào từ phía cô ấy nữa cho đến trước ngày sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của mình.
Nói như vậy là hơi nhiều về người em gái duy nhất của bố tôi. Tôi sẽ bỏ mặc cô ấy ở đó, quên hẳn cô ấy đi, và tôi hy vọng cô ấy sẽ không chiếm nhiều thời gian hơn nữa trong những câu chuyện kể của mình.
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] 1 Homo sapiens có nghĩa là người tinh khôn, là con người hiện đại ngày nay. Quá trình tiến hóa của loài người trải qua ba cấp độ: người đứng thẳng, người khéo léo và người tinh khôn. Sự khác biệt căn bản của người tinh khôn chính là khả năng thực hiện các hành vi tư duy trừu tượng và trở thành loài có tổ chức xã hội cao nhất ngày nay.
[2] 1 Mary Magdalene, người được miêu tả là gần gũi với Jesus hơn bất cứ môn đệ nào khác, tuy nhiên không có tài liệu cổ nào tuyên bố bà là vợ của Chúa Jesus. Mary Magdalene có thể nhận biết được những gì Jesus đang nói, bà hiểu Jesus trong khi các tông đồ khác không thể hiểu được.
[3] 2 Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
[4] 1 Đây là cuốn sách thứ ba trong năm cuốn sách Ngũ Kinh thuộc bộ Kinh Thánh của người Do Thái.
[5] 1 Sigmund Freud (1856 - 1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo. Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học. Cho đến ngày nay, mặc dù lý thuyết về phân tâm học của ông còn gây nhiều tranh cãi và người ta còn đang so sánh hiệu quả của các phương pháp phân tâm học của ông với các phương pháp điều trị khác, nhưng cũng phải thừa nhận rằng ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.