

Một kẻ đến nơi này, đến với trường học của những con ong chăm chỉ, để được dạy về niềm thán phục trước sức mạnh toàn năng của tự nhiên... Bài học về những công trình hăng say, không vụ lợi và những bài học khác nữa... để tận hưởng hầu hết niềm thích thú khôn tả của những ngày tinh khiết trong không gian hoài niệm bao la, tạo thành một hình cầu trong suốt, chẳng còn kí ức buồn đau nào như thế, niềm hạnh phúc hoàn toàn không có gì làm vướng bận.
Tháng sau sinh nhật lần thứ mười lăm của tôi, Sherlock Holmes đã bước vào cuộc đời tôi, trở thành người bạn đầu tiên của tôi, một người thầy, một người cha thứ hai, và cuối cùng là một người bạn tâm giao. Tuần nào tôi cũng ở nhà Holmes ít nhất là một ngày, và thường thì tôi sẽ ở đó từ ba đến bốn ngày trong trường hợp tôi phải giúp ông ấy làm thí nghiệm hoặc chuẩn bị những kế hoạch mới. Nhìn lại, tôi phải thú nhận rằng tôi cũng chưa từng được hạnh phúc như thế khi ở bên bố mẹ, ngay cả với bố tôi - người đàn ông tuyệt vời nhất mà tôi luôn cảm thấy hòa hợp đến hoàn hảo. Nhưng với Holmes thì còn hơn thế. Lần thứ hai gặp lại, tôi và ông ấy đã bỏ cách xưng hô “ngài” và “cô” đầy khách sáo đi. Một vài năm sau chúng tôi hiểu nhau đến chân tơ kẽ tóc, thậm chí là còn trả lời hộ nhau những điều không cần phải nói ra, và tôi cũng thấy mình tiến bộ hơn rất nhiều.
Vào những tuần đầu tiên của mùa xuân, tôi giống như hạt giống của vùng nhiệt đới, được tưới nước và nảy mầm trong ấm áp. Tôi đã trở thành thiếu nữ! Cơ thể tôi được chăm sóc dưới bàn tay của bà Hudson, và trí tuệ tôi thì được chăm sóc bởi một người đàn ông kỳ quặc, người đã bỏ lại tất cả những xô bồ của cuộc sống London để đến với vùng nông thôn yên tĩnh... nuôi ong, viết sách, và, có lẽ, để gặp tôi. Tôi không biết là định mệnh nào đã sắp đặt cho chúng tôi gặp nhau khi chúng tôi cách xa nhau tới mười dặm đường như thế. Nhưng tôi hiểu rằng, trong tất cả những cuộc hành trình của mình, tôi chưa bao giờ biết đến một trí tuệ như Holmes. Holmes cũng nói rằng, tôi là một đối thủ tuyệt vời nhất của ông. Nếu như tôi không gặp được ông ấy, nếu như quyền hành của cô tôi không bị ai tranh giành, thì rất có thể tôi sẽ trở thành kẻ lươn lẹo và ghê gớm giống như cô ấy. Ảnh hưởng của tôi đối với Holmes cũng không nhỏ, tất nhiên rồi. Ông ấy đang bế tắc - đúng là vậy, thậm chí ông ấy thấy chán ngắt cuộc sống này, và có thể ông ấy sẽ chết sớm vì thói quen dùng cocain của mình. Sự xuất hiện của tôi, và cả tình yêu của tôi - tôi phải nói như thế - đã truyền cho ông ấy mục đích sống từ ngày đầu tiên tôi gặp ông ấy.
Nếu đặt ông Holmes vào vị trí của bố tôi, thì có thể coi bà Hudson là người mẹ mới của tôi. Nhưng không phải, tất nhiên là như vậy, vì không có bất cứ tình cảm nào giữa họ ngoài mối quan hệ nghiêm túc nhất giữa người quản gia và ông chủ, được hòa dịu bởi sự thân thiết lâu năm. Tuy nhiên, bà ấy giống như một người mẹ và tôi giống như cô con gái nhỏ. Bà có một người con trai đang sống ở Úc, anh ấy vẫn viết thư đều đặn hàng tháng cho bà, nhưng tôi lại là cô gái duy nhất gần gũi với bà. Bà ấy vỗ béo cho tôi đến khi cơ thể tôi đầy đặn hẳn lên (tôi chưa bao giờ trở nên khêu gợi, nhưng hình dáng của tôi vẫn khá là quyến rũ ở cái tuổi hai mươi). Tôi cao hơn khoảng năm centimet trong năm đầu tiên, bốn centimet vào năm thứ hai, và tổng cộng là tôi cao gần một mét tám. Tôi cảm thấy yên tâm với chiều cao của mình, không như những năm trước tôi cứ nghĩ mình là một con bé lóng ngóng đến khó tin và thực sự là một mối nguy hiểm đối với những đồ trang trí dễ vỡ. Không phải đến tận khi tôi đi Oxford thì Holmes mới chuẩn bị cho tôi những bài thuyết giảng đậm chất Phương Đông cổ hủ về các quy tắc giữ mình, nó khiến cho tay chân của tôi như bị xiềng lại. Bà Hudson, khỏi cần phải nói, chắc hẳn bà sẽ thích thú với những bài học về ballet hơn.
Sự hiện diện của bà Hudson khiến tôi có thể dễ dàng gặp được người đàn ông cô độc đang sống trong ngôi nhà đó. Bà ấy chắc chắn là đồng tình với tôi chứ không phải chỉ là phép lịch sự. Ở bên bà ấy, tôi biết nhiều hơn về chăm nom vườn tược, biết cách đơm cúc áo, biết cách nấu một bữa ăn đơn giản. Bà ấy cũng dạy tôi rằng phụ
nữ thì không nhất thiết là phải chối bỏ trí tuệ sáng suốt của mình. Chính bà ấy, chứ không phải cô tôi, đã dạy tôi những cấu trúc cơ thể một người phụ nữ (bằng chính những lời nói của bà chứ không phải bằng những quyển sách giải phẫu mà trước đó tôi từng tin cậy, thứ mà tôi luôn phải giấu giếm và luôn thấy rối tung lên khi đọc). Cũng chính bà ấy đã dẫn tôi đến gặp những người thợ may và thợ làm tóc ở London, để khi tôi từ Oxford trở về - vào sinh nhật lần thứ mười tám của mình - có thể tạo bất ngờ cho Holmes bằng sự thay đổi kinh ngạc về ngoại hình này. Tôi rất vui sướng khi nhận được món quà từ bác sĩ Watson vào dịp sinh nhật, nhưng nếu như tôi biết tôi đã làm Holmes chết điếng với bộ váy của mình thì chắc hẳn tôi đã... tôi đã... tự ném mình vào dòng Isis¹ ngay khi kỳ học cuối cùng kết thúc.
Điều gì đã đưa tôi đến với bác sĩ Watson, một người đàn ông bình dân rất tử tế mà tôi thường gọi bằng cái tên bác ấy cũng rất vui vẻ đồng ý: bác John? Tôi đã từng rất ghét bác ấy. Làm thế nào mà một người ở với Holmes quá lâu nhưng lại học được quá ít từ ông ấy cơ chứ? Tôi nghĩ vậy. Và làm thế nào mà một người đàn ông có vẻ sáng dạ như bác ấy lại có thể luôn thất bại với việc nắm được vấn đề cơ chứ? Tại sao bác ấy lại có thể quá ngớ ngẩn như vậy? Tệ hơn là bác ấy lại bộc lộ điều đó trước Holmes, Holmes của tôi, có lẽ bác ấy gần Holmes với một trong hai mục đích: mang theo một súng ngắn ổ quay (mặc dù bản thân Holmes là một tay
[1]
súng rất cừ) hoặc tỏ ra đần độn để làm nền cho vị thám tử xuất hiện rạng ngời chói lóa hơn. Holmes đã thấy được điều gì nhỉ? Ôi, đúng rồi, tôi rất ghét bác ấy, nên tôi đang hủy diệt bác ấy bằng những lời lẽ cay độc của mình. Không còn cách nào khác cả.
Tôi đến nhà Holmes mà không báo trước vào một ngày đầu tháng Chín. Trận bão đầu tiên của mùa Thu đã làm hỏng tổng đài điện thoại, vì thế tôi không thể gọi điện báo trước như thường lệ. Đường lầy lội bùn, nên thay vì đi chiếc xe đạp mà tôi vừa mới mua (với số tiền vay được từ bà Hudson, tất nhiên rồi), tôi đi đôi giày ống cao và bắt đầu lên đường về miền quê thân thuộc ấy. Mặt trời ló rạng khi tôi đi qua những khu đồi ẩm ướt, và hơi nóng bắt đầu bốc lên. Kết quả là tôi phải để lại đôi giày lấm đầy bùn đất ngoài cửa và đi vòng qua nhà bếp. Bộ dạng nhem nhuốc và ướt đẫm mồ hôi của tôi chẳng hợp với bộ quần áo đang mặc một chút nào. Bà Hudson không có trong bếp, điều này hơi kỳ lạ vào buổi sáng sớm trong ngày, nhưng tôi nghe thấy một tiếng nói khe khẽ từ căn phòng chính. Không phải Holmes, mà là một người đàn ông khác, có giọng nói nông thôn khá nặng pha lẫn giọng London. Một người hàng xóm, hoặc cũng có thể là một người khách lạ.
“Chào buổi sáng, bà Hudson,” tôi khẽ gọi bà ấy, phòng trường hợp Holmes vẫn còn đang say ngủ. Những lúc rảnh ông ấy thường hay ngủ. ‘Việc ngủ mới là điều cần thiết với cơ thể,’ ông ấy đã tuyên bố, ‘chứ không phải thời gian.’ Tôi đi vào phòng rửa bát ở gần nhà bếp rồi bơm nước vào chậu để rửa khuôn mặt lấm lem và bàn tay đầy bùn đất của mình. Rửa xong, tôi mò mẫm những ngón tay tìm khăn lau thì thấy giá treo trống không. Đúng lúc tôi sắp cáu đến nơi vì chẳng nhìn thấy gì thì tôi nghe thấy tiếng người đi lại ở cửa phòng rửa bát, và một chiếc khăn được ai đó ấn vào tay tôi. Tôi túm lấy và ấp vào khuôn mặt.
“Cháu cảm ơn, bà Hudson,” tôi nói trong chiếc khăn. “Cháu nghe thấy bà nói chuyện với ai đó. Có phải cháu đến không đúng lúc không ạ?” Không có tiếng ai trả lời, tôi ngước lên và nhìn thấy một người bệ vệ, râu ria rậm rạp đang đứng ngay ở cửa, cười rạng rỡ. Thậm chí không cần đeo kính thì tôi cũng có thể nhận ra ngay đó là ai và tôi cũng ngay tức khắc che giấu sự cảnh giác của mình. “Bác sĩ Watson, đúng không ạ?” Tôi lau khô tay và chúng tôi bắt tay nhau. Watson nắm tay tôi một lúc, nhìn thẳng vào khuôn mặt tôi.
“Ông ấy nói đúng. Cháu rất đáng yêu.”
Điều này khiến tôi bối rối vô cùng. “Ông ấy” mà ông ta nhắc đến là ai cơ chứ? Chắc chắn không phải là Holmes rồi. Và “đáng yêu”? Mùi mồ hôi khó chịu, đôi tất len cũ rách thủng ở cả hai đầu, tóc tai rối bù và một bên chân dính bùn cao đến tận đầu gối - là đáng yêu ư?
Tôi gỡ tay khỏi bàn tay ông ta, tìm kính ở trên tủ bát đĩa đeo vào để nhìn rõ khuôn mặt tròn của ông ta. Ông ta đang nhìn tôi từ đầu đến chân, một niềm vui thích chân thật khiến tôi chẳng thể nghĩ ra mình phải làm gì ngoài việc đứng như trời trồng. Thật ngớ ngẩn hết sức!
“Russell, ta rất lấy làm vui mừng vì cuối cùng cũng đã gặp được cháu. Ta sẽ nói nhanh gọn thôi vì ta nghĩ Holmes cũng sắp thức dậy rồi. Ta muốn cảm ơn cháu, một cách chân thành, vì những gì cháu đã làm cho bạn ta trong thời gian gần đây. Nếu ta đọc nó trong sổ ghi chép những công việc đã được giải quyết thì ta có thể sẽ không tin, nhưng ta đã hiểu rõ và ta tin.”
“Bác hiểu rõ điều gì cơ ạ?” Tôi hỏi. Thật ngớ ngẩn. Giống như một anh hề vậy.
“Chắc là cháu biết Holmes đang bị ốm, mặc dù có thể cháu không biết được là ông ấy ốm ra sao. Ta trông nom ông ấy và ta đã rất thất vọng, vì ta biết trong trường hợp như vậy ông ấy có thể sẽ không đợi được đến mùa hè thứ hai, thậm chí còn không thể đón năm mới được. Nhưng kể từ tháng Năm vừa rồi, ông ấy đã tăng được hơn ba kilôgam, nhịp tim khỏe hơn, da dẻ cũng tốt hơn, và bà Hudson nói với ta rằng ông ấy đã ngủ, tuy không điều độ lắm, nhưng nói chung là đã ngủ. Holmes cũng nói rằng ông ấy đã bỏ cocain, cháu biết đó, ông ấy từng nghiện thuốc lá, giờ thì ông ấy đã bỏ hẳn. Ta tin ông ấy. Và ta muốn cảm ơn cháu, với tất cả tấm lòng của ta, bởi vì cháu đã làm được những điều mà ta không làm được. Cháu đã cứu được người bạn thân thiết nhất của ta thoát khỏi tay thần chết.”
Tôi đứng đó chết lặng và bối rối hết mức. Holmes bị ốm ư? Ông ấy có vẻ gầy gò và xanh xao khi chúng tôi gặp nhau lần đầu, nhưng sắp chết thì là thế nào? Một giọng nói mỉa mai cất lên từ phòng bên cạnh khiến cả hai chúng tôi cảm thấy như có lỗi.
“Ô, bác sĩ Watson đấy rồi, đừng làm cô bé hoảng sợ với những lo lắng quá đà của anh chứ.” Holmes bước vào căn phòng trong chiếc áo choàng màu xám xịt. “‘Đúng là tôi vừa thoát khỏi tay thần chết’. Làm việc quá sức, có lẽ là vậy, nhưng chỉ là ngấp nghé chết thôi, chỉ vừa mới thôi. Ta thừa nhận là quý cô Russell đây đã giúp ta bớt căng thẳng, và có Chúa biết là ta đã ăn nhiều hơn khi cô bé ở đây, nhưng không đến mức như thế. Tôi không muốn anh lo lắng như trẻ con vậy, cô bé không có bất cứ trách nhiệm nào với tôi, anh hiểu chứ, anh Watson?”
Khuôn mặt bác sĩ Watson hướng về phía tôi, vẻ tội lỗi đến mức, bao nhiêu ghét bỏ tôi dành cho ông ấy đều tan biến, và tôi bắt đầu cười.
“Nhưng tôi chỉ muốn cảm ơn cô bé.”
“Tốt, anh vừa cảm ơn cô bé rồi đấy. Nào, bây giờ chúng ta sẽ uống trà trong khi đợi bà Hudson chuẩn bị bữa sáng nhé. Cái chết và sự hồi sinh.” Holmes cười ha hả. “Thật buồn cười!”
Tôi tận hưởng cảm giác tuyệt vời ngày hôm ấy, dù đôi lúc tôi có cảm giác mình đang mở nửa chừng một cuốn sách và cố gắng hình dung lại những gì đã qua. Các nhân vật xa lạ trước đó cứ bay lòng vòng trong cuộc hội thoại, những cái tên được nhắc đến chớp nhoáng trong toàn bộ các cuộc phiêu lưu, và nhìn lại toàn bộ, có một mối quan hệ bền vững được xây dựng bởi những năm tháng dài đang hiện ra trước mắt tôi, nó giống như một dinh thự phức tạp mà trước đó tôi chưa hề nhìn thấy.
Đây thực là một tình huống mà trong đó thành viên thứ ba, cụ thể là bản thân tôi, hẳn sẽ dễ dàng cảm thấy lúng túng và xa lạ. Nhưng thật kỳ lạ là tôi đã không cảm thấy như thế. Có lẽ vì tôi đã quá tự tin trong kiến thức của mình về hình tượng Sherlock Holmes và thực sự là tôi đã bắt đầu như vậy. Chỉ trong vài tuần tôi biết ông ấy, chúng tôi đã trở nên thân thiết, tôi cũng không còn cảm thấy e dè bác Watson và những gì bác ấy nói nữa. Watson, về phần mình, lại chẳng bao giờ e dè hoặc không vừa lòng về tôi. Trước ngày hôm đó, tôi đã nói những lời đầy khinh miệt rằng bác ấy quá đần độn nên chẳng thể coi tôi là một mối nguy hiểm. Và đến buổi chiều thì tôi thực sự hiểu rằng, trái tim bác ấy quá rộng lượng nên chẳng thể loại bỏ bất cứ điều gì liên quan đến Holmes.
Một ngày trôi qua nhanh chóng, và tôi cảm thấy thích thú khi được là vị khách đặc biệt tham gia cùng nhóm ba người bọn họ: Holmes, bác Watson và bà Hudson. Sau bữa ăn tối, bác Watson ra khỏi phòng để thu dọn đồ đạc cho kịp chuyến tàu tối về London, còn tôi ngồi xuống cạnh Holmes, mơ hồ cảm thấy rằng mình phải nói lời xin lỗi một ai đó.
“Hình như ông biết cháu đã từng ghét bác ấy,” cuối cùng tôi cất tiếng.
“Ồ, đúng là vậy.”
“Giờ cháu đã hiểu tại sao ông lại luôn giữ bác ấy bên cạnh. Bác ấy... rất tốt ạ, ở một phương diện nào đó... Bác ấy có vẻ ngờ nghệch, đúng ạ, và không thực sự nhanh nhẹn lắm, nhưng khi cháu nghĩ về tất cả những điều xấu xa, ác độc và những nỗi đau đớn mà bác ấy biết... Những thứ đó làm bác ấy trở nên bóng như gương, làm bác ấy thanh khiết và tinh tế hơn.”
“Bóng như gương là một hình ảnh tốt đấy. Việc nhìn thấy hình ảnh của ta phản chiếu trong mắt Watson là rất hữu ích khi ta muốn suy ngẫm về một vụ nào đó khó khăn. Bác ấy đã dạy ta rất nhiều về việc loài người hoạt động như thế nào, những gì tác động đến họ. Bác ấy khiến ta cảm thấy ta thật tầm thường.” Ông ấy bắt gặp ánh mắt hồ nghi của tôi. “Ừ, tầm thường... như ta vốn thế.”
Tôi như được hồi sinh vào mùa hè năm 1915. Những năm đầu của chiến tranh, tôi chịu sự kèm cặp của Holmes, mặc dù trước đó, đôi khi tôi cũng nhận thức được rằng tôi không chỉ đang đến thăm một người bạn, mà đang được dạy dỗ bởi thám tử Holmes lừng danh, rằng tôi đang lĩnh hội, không phải là những bài giảng giải trí hời hợt, mà là sự hướng dẫn tỉ mỉ của một chuyên gia về lĩnh vực của mình. Tôi không hề nghĩ bản thân mình là một thám tử; tôi là một người nghiên cứu về thuyết thần học, và tôi sẽ dành cả cuộc đời để khám phá, không phải là những góc tối trong những hành vi tội lỗi của con người, mà là những nghiên cứu đỉnh cao của con người liên quan đến sự siêu phàm của thần thánh.
Thời gian học việc của tôi bắt đầu từ lúc nào không biết nữa. Tôi nghĩ Holmes cũng không ý thức được điều này, rằng ông ấy đã biến một cô bé hàng xóm kỳ cục hay đòi hỏi (mà ông ấy lúc nào cũng chiều lòng cô bé) thành một thám tử có nghề - cho đến tận vài năm sau đó tôi nhớ lại lời tuyên bố kỳ quặc mà ông ấy đã thốt lên ngay trong khu vườn của mình vào ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau: “Hai mươi năm trước,” ông ấy thì thầm “thậm chí là mười năm. Nhưng ngay ở đây, ngay lúc này thì sao?”. Tôi đã hỏi ông ấy về điều đó, nhưng ông ấy nói rằng ông ấy chỉ nhìn thấy nó thoáng qua. Holmes luôn nghĩ rằng ông ấy là chúa trời, thế nên tôi không thể tin tưởng ông ấy về điều này.
Cứ theo bề ngoài của những việc này mà xét thì thật khó mà tin được một quý ông đích thực như Holmes lại nhận một cô gái trẻ làm học trò, nhất là khi ông ấy muốn dạy cho cô bé những bí quyết nhà nghề của mình. Hai mươi năm trước đây, dưới thời trị vì của Victoria, một mối liên hệ kiểu như Holmes và tôi gần như không thể tưởng tượng nổi - sự gần gũi, sự kèm cặp, trong khi chẳng có tí ràng buộc an toàn nào của huyết thống. Ngay cả mười năm trước dưới thời Edward, chúng tôi cũng sẽ khiến cho cả cộng đồng dân quê sốc nặng và khiến cho cuộc sống của chúng tôi trở nên khó khăn hơn.
Tuy nhiên, bây giờ là năm 1915, và nếu như các tầng lớp tiến bộ trong xã hội cứ khoác mãi lên mình cái vẻ ngoài của trật tự cũ, thì họ không thể che đậy đi những hỗn loạn ngay dưới chân mình. Trong suốt cuộc chiến tranh, cơ cấu xã hội nước Anh cứ bị xé nhỏ ra rồi đan kết lại. Sự thiếu thốn đã khiến cho nhiều phụ nữ phải ra ngoài làm việc, và họ bắt đầu đảm nhiệm nhiều công việc của nam giới như lái xe điện, quản lý các nhà máy bia, các xí nghiệp và nông trại. Phụ nữ quý tộc thì đăng ký vào các khóa điều dưỡng dài hạn ở một số vùng xa xôi hẻo lánh của nước Pháp. Như một thú vui, họ khoác trên mình những chiếc áo lao động dài rộng rồi quấn xà cạp quanh chân, và trở thành những Cô Gái Nông Thôn trong suốt mùa gặt. Trong khi đó, những yêu cầu khắc nghiệt của nhà vua và đất nước cùng nỗi lo triền miên về những người lính ngoài chiến trường đã làm hạn chế những nguyên tắc đi kèm với các cô gái đến mức thấp nhất; con người, đơn giản là không còn sức lực để khép mình trong quy chuẩn mãi được nữa.
Sự hiện diện của bà Hudson trong ngôi nhà này khiến cho tôi có thể ở bên Holmes được lâu hơn. Bố mẹ tôi đều đã mất và cô tôi thì hầu như không quan tâm gì đến tôi cả, miễn là những hành động của tôi không xâm phạm đến quyền lợi của cô ấy - điều đó là quá hiển nhiên. Cuộc sống ở vùng nông thôn vẫn có những chuẩn mực riêng, và mặc dù nó rất khắt khe nhưng người ta vẫn có thể nhận ra một quý ông chân chính khi ông ta xuất hiện. Người dân nông thôn đã tin tưởng Holmes theo cái cách mà những người ở thành thị không bao giờ làm được. Đây đó vẫn có những tin đồn, nhưng ít khi tôi nghe thấy.
Nhìn lại, tôi nghĩ rào cản lớn nhất của sự kết giao giữa chúng tôi chính là con người Holmes. Phần bẩm sinh bên trong con người ông ấy vẫn nói tiếng nói của những phong tục xã hội, và đặc biệt cái phần bản chất ấy khiến ông vẫn nhìn phụ nữ như một sinh vật xa lạ hay là một phần tử ngoại lai không thể hoàn toàn tin tưởng được.
Xét cho cùng, Holmes là một con người hoàn toàn chẳng tuân theo bất cứ quy tắc nào, nếu không nói là cực kỳ phóng túng trong các mối quan hệ với bạn bè và những công việc mà ông ấy yêu thích. Thế nên, tình bạn của ông ấy gần như phổ khắp các mối quan hệ xã hội: từ cậu quý tử của một công tước cho đến một tay cầm đồ ở Whitechapel, từ các vị vua cho tới những người nghèo khổ, thậm chí là những quý bà với phẩm hạnh không đáng tin cậy. Holmes thậm chí còn không coi những hành vi phạm tội nho nhỏ là thứ gì đó ngăn cản ông ấy hướng đến tình bạn hữu, bằng chứng là ông ấy vẫn đi lại với mấy kẻ lang thang thoắt ẩn thoắt hiện trên phố Baker.
Cũng có thể còn những sự thật ẩn đằng sau những ấn tượng ban đầu. Tôi biết lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, Holmes đã có ý định đối xử với tôi như với một chú bé con hơn là một cô bé. Và ông đã giải quyết được mối phiền toái về giới tính của tôi chỉ đơn giản bằng cách lờ nó đi: tôi là Russell chứ không phải một cô gái nào đó. Và nếu hoàn cảnh buộc chúng tôi phải ở một mình với nhau, thậm chí là trải qua cả đêm dài mà không có người hộ tống, thì chúng tôi vẫn sẽ làm thế. Là một người theo chủ nghĩa thực dụng đầu tiên và lỗi lạc nhất, Holmes không có thời gian cho bất cứ sự can thiệp của những tiêu chuẩn không cần thiết nào.
Quãng thời gian tôi lớn lên thành một thiếu nữ, tôi đã trở thành một phần trong cuộc sống của Holmes. Và đã quá muộn để ông ấy có thể thay đổi điều đó.
Dẫu vậy, những ngày đầu tiên ấy tôi vẫn không hề có một ý niệm mơ hồ nào về việc sẽ xảy ra sắp tới. Tôi đơn thuần chấp nhận thói quen trú chân tại nông trang của Holmes, cứ cách vài ngày một lần trong những chuyến đi của tôi, để trò chuyện cùng ông. Hoặc là, ông ấy sẽ cho tôi xem một thí nghiệm nào đó mà ông ấy đang làm, và cả hai chúng tôi đều thấy rằng tôi còn thiếu kiến thức cơ bản để nhận thức thấu đáo về một vấn đề, thế nên ông ấy tống cho tôi một đống sách và bắt tôi phải mang chúng về nhà, rồi trả lại cho ông ấy khi tôi đọc xong. Đôi khi tôi đến phòng làm việc để tìm ông ấy, mân mê đống giấy tờ và những dòng chữ nguệch ngoạc, và ông ấy sẽ ngừng làm việc, một cách khoan khoái, để đọc cho tôi nghe những gì mình vừa viết. Sau đó là một loạt những câu hỏi, và điều đó đồng nghĩa với việc tôi sẽ phải đọc thêm nhiều sách hơn.
Chúng tôi đã dành khá nhiều thời gian để đi thưởng ngoạn vùng thôn dã, dưới ánh nắng, trong những cơn mưa, có khi còn lang thang dưới trời tuyết trắng. Chúng tôi lần theo những dấu chân, so sánh những vết bùn, lưu ý đến từng loại đất sẽ ảnh hưởng thế nào đến chất lượng và độ bền của một dấu chân hay một vết vó ngựa. Những người hàng xóm trong khoảng bán kính mười dặm đều được chúng tôi thăm viếng ít nhất một lần, chúng tôi muốn nghiên cứu về đôi bàn tay của những bác nông dân chăn bò sữa và những bác tiều phu, chúng tôi sẽ so sánh những vết chai sạn và bắp thịt trên cánh tay của họ, và, nếu họ cho phép thì cả lưng của họ nữa. Chúng tôi trông thật giống nhau trên những chặng đường. Một người đàn ông cao, gầy, tóc hoa râm với chiếc mũ vải mềm đi bên cạnh một cô bé cũng gầy và cao lêu nghêu với những bím tóc vàng hoe, chụm đầu với nhau, mải mê trò chuyện hoặc cùng nhau vượt qua những chướng ngại trên đường. Những người nông dân vui vẻ vẫy chúng tôi từ những cánh đồng, và thậm chí những con chim ở khu trang viên cũng cất tiếng hót véo von khi chúng bay qua vùng Rolls.
Mùa thu ấy, Holmes bắt đầu nghĩ ra những câu đố khó khăn dành cho tôi. Những khi mưa rơi, khi tia nắng cuối ngày cắt ngang câu chuyện của chúng tôi trên đường trở về nông trang, và khi những người lính đang ngã xuống chiến hào Châu Âu còn những chiếc Zeppelin đang phũ phàng dội bom xuống thành phố London,... chúng tôi lại cùng nhau chơi trò chơi. Cờ vua là một trong số những trò mà chúng tôi yêu thích, tất nhiên là còn có những bài tập khám phá và phân tích dữ liệu nữa. Holmes bắt đầu bằng việc miêu tả cho tôi một số vụ án của ông ấy và yêu cầu tôi hãy giải quyết chúng từ những bằng chứng thực tế mà ông ấy đã thu lượm được. Một lần, có một vụ án không nằm trong hồ sơ của ông ấy mà được lấy từ trên báo, đó là một vụ án mạng đang được điều tra ở London. Tôi thấy bực dọc vì những sự kiện không được trình bày một cách đầy đủ và cẩn thận, nhưng thật là tuyệt vì cuối cùng gã đàn ông tôi chọn là ứng cử viên sáng giá cho chức danh tội phạm cũng đã thú nhận tội lỗi.
Một ngày tôi đến nông trang của Holmes, như đã hẹn trước. Nhưng khi đến nơi, tôi chỉ tìm thấy một mảnh giấy gắn ở phía sau cửa, viết vỏn vẹn:
À,
Hãy tìm ta.
-H.
Tôi lập tức hiểu rằng Holmes không muốn tôi tìm kiếm, vì thế tôi đưa mảnh giấy đó cho bà Hudson, và bà ấy lắc đầu như thể đang chứng kiến một trò chơi trẻ con vậy.
“Bà có biết tờ giấy này là thế nào không ạ?” tôi hỏi bà ấy.
“Ô không, ta chẳng biết đâu . Ta mà hiểu được người đàn ông đó, ta sẽ tự thôi việc trong niềm hạnh phúc. Sáng nay, khi ta đang lau nhà thì ông ấy xuất hiện và nhờ ta bảo ông Will hãy mang đôi giày mới của ông ấy vào làng vì có một cái đinh sắp bị long ra khỏi đế. Will giờ đã sẵn sàng đi, vậy mà có bất cứ dấu hiệu nào của Holmes hoặc đôi giày của ông ấy không? Không, chẳng có gì cả. Ta chẳng bao giờ hiểu nổi người đàn ông này.
Tôi đứng đó và ngượng nghịu gãi đầu phải đến vài phút cho đến khi mình nhận ra tôi đang lúng túng giữa những đầu mối của Holmes. Tôi bước khỏi cửa và nhận ra quả nhiên có rất nhiều dấu chân . Nhưng hôm qua trời mưa rất to, những lớp đất mềm xung quanh khu nông trang gần như đã mất hết dấu vết. Tôi nhận thấy một nhóm dấu chân có vết kéo lề nhẹ ở ngay mé trong của bàn chân bên phải, đó là phần ngón chân nhô ra ấn xuống đất tạo thành những lỗ nhỏ trên mỗi bước chân. Chúng dẫn tôi đến chỗ những luống hoa nơi mà Holmes trồng rất nhiều thảo mộc để làm thuốc hoặc làm thí nghiệm. Tôi tìm thấy đôi giày ở đấy, nhưng chẳng thấy Holmes đâu . Nhìn qua bãi cỏ cũng không hề có một dấu chân nào. Sau vài phút bối rối, tôi bắt đầu chú ý đến những kén tằm, có vẻ như chúng vừa mới tách vỏ làm đôi. Tôi quay trở lại ngôi nhà đưa đôi giày cho bà Hudson (bà ấy hình như cũng đang rất bối rối) và tìm thấy Holmes ở nơi tôi biết ông ấy sẽ ở đó: trong phòng thí nghiệm, khom mình bên đống hạt anh túc, chân đi đôi dép rơm đã mòn cũ.
Holmes ngước nhìn lên khi tôi bước vào.
“Không phỏng đoán tí nào đúng không?”
“Không ạ.”
“Tốt. Vậy hãy để ta nói cho cháu biết thuốc phiện được chiết xuất từ đâu .”
Sự dạy dỗ của Holmes đã khiến cho tầm nhìn và trí tuệ của tôi ngày càng trở nên nhạy bén, nhưng lại chỉ có một chút xíu ích lợi cho những kỳ thi mà tôi phải trải qua để được vào Oxford. Chúng có thể sẽ rất khó khăn nếu như tôi cứ tiếp tục thế này, thế nên, tôi cố gắng tìm một ai đó để bù lấp khoảng trống lớn trong việc học hành của mình. Tôi là kẻ may mắn nhất ở đây , bởi vì tôi đã gặp được một bà hiệu trưởng đã về hưu sống trong làng, bà ấy luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi đọc sách. Chúa phù hộ cho bà Sim và tất cả những ai yêu quý bà ấy. Bà ấy đã truyền cho tôi một tình yêu lớn đối với văn học Anh, đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi bằng những ý thơ, đã khai sáng cho tôi những kiến thức cơ bản nhất về tính nhân văn của con người.
Tôi dự định vào học tại Oxford vào mùa thu năm 1917. Tôi đã ở cùng Holmes trong suốt hai năm trời, và tính đến mùa xuân năm 1917, tôi đã có thể lần theo một dấu chân xa tới mười dặm, nhận ra từ nhân viên kế toán sống ở London đến giáo viên của vùng Bath chỉ qua áo quần của họ, mô tả hình dáng của một người chỉ qua đôi giày họ đi, ngụy trang đủ khéo để đánh lừa cả bà Hudson, và nhận ra tàn tro của 112 loại thuốc lá và xì gà phổ biến nhất. Thêm nữa, tôi có thể đọc thuộc những trường đoạn trong những tác phẩm kinh điển của Hy Lạp và Latin, Kinh Thánh, hay của Shakespeare; miêu tả những địa điểm khảo cổ ở Trung Đông; và nhờ có bà Hudson, tôi biết được cây trúc đào thuộc dòng dạ yên thảo nữa.
Nhưng, đằng sau tất cả những điều đó, đằng sau những trò chơi, những thách thức, thì trong chính bầu không khí chúng tôi cùng hít thở hàng ngày đó lại là sự chết chóc, sự chết chóc cùng những nỗi kinh hoàng và ý thức ngày một lớn dần lên rằng cuộc sống mỗi con người không bao giờ giống nhau. Khi tôi khôn lớn và hiểu biết hơn về cuộc sống thì cũng là lúc có biết bao nhiêu sinh mệnh khỏe mạnh bị đổ dồn không thương tiếc vào cái vũng bùn hơn năm trăm dặm của mặt trận phía Tây . Cả một thế hệ thanh niên phải gánh chịu những điều không mong đợi: những thi thể thối rữa, những ý chí tiêu tan rời rã trong một chiến trận ngập ngụa bùn lầy và khí độc, bên dưới là khói lửa, là thuốc súng, là những hàng rào dày thép gai rối tung vì đạn pháo điên cuồng ...
Những năm ấy cuộc sống thật không yên bình. Tất cả mọi người đều vật lộn với một khối lượng khổng lồ của những công việc bất thường: trẻ con làm việc trên những cánh đồng, phụ nữ thì làm việc trong các nhà máy và sau cả những bánh xe. Người ta đều nói cho nhau biết ai đó vừa mới bị giết, bị mù, hoặc bị què. Đàn ông ở một trong những ngôi làng bên cạnh đang chuẩn bị sẵn sàng để nhập vào đội ngũ của những "trung đoàn anh em bạn bè", cho đến tháng Mười năm 1916, số lượng đó đã trở nên quá dư thừa và sau chiến tranh, trong làng không còn bóng dáng bất kỳ người đàn ông nào trong độ tuổi từ mười bốn đến bốn mươi sáu nữa.
Tôi đủ trẻ để thích nghi với cuộc sống kỳ cục này, đủ linh hoạt để cảm thấy rằng không có gì quá lạ lùng khi tôi dành cả buổi sáng ở một bệnh viện tạm thời gần đó, tìm những miếng vải băng cho những vùng da bị trầy phồng, cố không nôn ọe vì mùi tanh rợn của những phấn thịt bị thối rữa, rồi băn khoăn rằng người nào sẽ không phải nằm lại đây trong những lần tiếp theo. Buổi chiều, tôi ở cùng Holmes bên chiếc kính hiển vi và ngọn đèn Bunsen, rồi đến tối, tôi lại ngồi vào bàn học và giải mã các mẫu chữ Hy Lạp... Đó là khoảng thời gian thật khủng khiếp đối với tôi, nhưng bằng cách này hay cách khác, tôi đã cố gắng chống chọi với những thứ điên rồ và lộn xộn xung quanh bằng tất cả ý chí của mình, tôi đã sống sót ngay giữa vòng vây của nó.
Đôi khi tôi cũng băn khoăn hình như Holmes không quan tâm lắm đến chuyện quê hương ông đang bị giày xéo trên khắp các cánh đồng vùng Somme và Ypres, trong khi ông ấy lại ở Sussex này, nuôi ong và tiếp tục làm những thí nghiệm khó hiểu của mình. Và trò chuyện liên miên với tôi nữa. Lúc nào, ông ấy cũng đóng vai trò là một người cố vấn. Có những kẻ lạ mặt xuất hiện vào những lúc ông ấy rảnh rỗi, thì thầm to nhỏ với ông ấy trong phòng riêng có khi đến cả một ngày trời, rồi lại biến mất khi màn đêm buông xuống. Có hai lần, Holmes đã đi London để tham gia vào những khóa huấn luyện kéo dài hàng tuần. Nhìn ông ấy trở về nhà với khuôn mặt có vẻ hốc hác hơn và những cơn ho dữ dội kéo dài không dứt, tôi buộc phải thắc mắc là ông ấy đã tham gia những khóa huấn luyện gì ở đó. Khi tôi hỏi, Holmes có vẻ lúng túng và không chịu trả lời câu hỏi của tôi. Nhiều năm sau tôi vẫn không biết câu trả lời là gì.
Cuối cùng, sự căng thẳng của mọi chuyện đã khiến tôi kiệt sức. Tôi bắt đầu băn khoăn rằng có được tấm bằng đại học để làm gì đây? Và có ích gì khi cứ mải mê rèn luyện kỹ năng săn lùng tội phạm, thậm chí là săn lùng kẻ giết người, khi mà nửa triệu lính Anh đang đổ máu ở chiến trường châu Âu, khi mà từng người trong số họ bước chân lên máy bay và biết rằng họ hiếm có cơ may trở về mà không mang thương tật đầy mình...
Những thất vọng cay đắng dấy lên trong tôi trong một ngày ảm đạm đầu năm 1917 khi tôi ngồi trên chiếc giường của một người lính trẻ đọc cho anh ta nghe lá thư từ người vợ ở quê nhà, và thật xót xa khi chỉ một lát sau, tôi bàng hoàng chứng kiến cảnh người lính ấy bị nhấn chìm trong nỗi đau đớn vì chất dịch vỡ trào ra trong phổi. Hầu hết những đứa con gái mười bảy tuổi khi chứng kiến cảnh ấy đều sẽ chạy trốn thật nhanh về nhà và khóc. Tôi lao về ngôi nhà của Holmes để trút cơn thịnh nộ của mình, tôi gần như muốn phá tung hết sạch các ống nghiệm của Holmes, tôi chạy đi chạy lại trong phòng như một kẻ điên rồ trước sự sợ hãi của ông ấy.
“Vì Chúa, chúng ta đang làm gì ở nơi này?” tôi gào lên. “Ông có nghĩ là chúng ta chẳng làm được gì cả hay không? Chắc chắn là họ cần những gián điệp hoặc những người phiên dịch hoặc cái gì đó, nhưng chúng ta thì ngồi đây và chơi những trò chơi vô bổ này...” Chuyện này đã xảy ra một vài lần. Khi tôi bắt đầu bình tĩnh lại, Holmes lặng lẽ đứng lên và bảo bà Hudson chuẩn bị một ít trà. Ông tự mình mang trà đến, rồi chầm chậm rót trà cho chúng tôi, và ngồi xuống.
“Thế có chuyện gì nào?” Holmes hỏi một cách bình tĩnh. Tôi ngồi phịch xuống cái ghế bên cạnh, đột nhiên thấy mệt lử, và kể cho ông ấy nghe mọi chuyện. Ông ấy nhấp một ngụm trà.
“Cháu cho rằng chúng ta đang là những kẻ vô tích sự ở đây, đúng không nào? Ồ không, đừng chùn bước với vị trí bây giờ của cháu, cháu đang rất đúng. Nhìn thoáng qua, chúng ta là những người ngồi ngoài cuộc chiến tranh. Chúng ta đang giao phó chiến tranh cho những gã hề nắm trong tay quyền lực và những người lính trung thành – ra đi là để chết. Và sau đấy sẽ là gì, thưa quý cô Russel? Cháu có khả năng nhìn nhận mọi việc xa hơn không, hay vạch ra được chuyện gì sẽ diễn ra khi những điều điên rồ này kết thúc không? Có hai khả năng: một là, chúng ta sẽ thất bại. Thậm chí, nếu người Mỹ có đến đây, thì chúng ta cũng sẽ sớm cạn kiệt nguồn thức ăn và chết ngạt dưới những chiến hào trước người Đức, và cái đảo nhỏ này sẽ bị giày xéo không thương tiếc. Còn khả năng thứ hai, và ta nghĩ rằng nó thật mong manh ở thời điểm hiện tại, là chúng ta sẽ thành công trong việc đẩy lùi quân Đức? Điều gì sẽ xảy ra sau đó? Chính phủ sẽ xây dựng lại đất nước, những người
Sống sót sẽ khập khiễng trở về nhà... nhìn vẻ ngoài thì có vẻ tất cả sẽ thật hạnh phúc và bình yên. Nhưng đằng sau đó là sự gia tăng chưa từng có về các loại tội phạm, những kẻ nhơ bẩn sẽ được nuôi béo và ngày càng lớn mạnh dưới con mắt lơ đễnh của chính quyền. Nếu chúng ta thắng trong trận này, Russell à, những người như ta, như chúng ta, sẽ thực sự có ích cho xã hội lắm.”
“Nhưng nếu chúng ta thua thì sao?”
“Nếu chúng ta thua? Cháu nghĩ một người được đào tạo thành thục trong việc nắm bắt tình huống và chú ý đến từng tiểu tiết lại không có chút hữu dụng nào trong một nước Anh bị chiếm đóng à?”
Thật chẳng biết nói gì về chuyện này. Tôi lặng im quay lại đống sách vở của mình với một thái độ lì lợm.
Trở lại Oxford vào mùa tựu trường, tôi chọn cho mình hai chuyên ngành chính: hóa học và thuyết thần học - để được nghiên cứu về vũ trụ vật chất, và những điều sâu kín nhất trong suy nghĩ của con người.
Mùa xuân và mùa hè cuối cùng được ở bên Holmes trọn vẹn là quãng thời gian tôi học tập căng thẳng và dữ dội nhất. Giống như các nước Đồng Minh, lúc này đã trở nên mạnh mẽ khi được cứu viện về kinh tế, và quân đội Mỹ rút cuộc cũng chầm chậm tiến vào, sự kèm cặp của Holmes với tôi trở thành một sự cố gắng bền bỉ, và luôn khiến cho cả hai chúng tôi cảm thấy kiệt quệ. Những thí nghiệm hóa học trở nên phức tạp hơn bao giờ hết, những bài kiểm tra mà ông ấy nghĩ ra cho tôi đôi khi khiến tôi mất mấy ngày để giải quyết. Tôi đã được chứng kiến những nụ cười thoáng qua nhưng rất đỗi tự hào, họa hoằn lắm mới xuất hiện mỗi khi tôi đạt được một thành công đáng kể, và tôi biết rằng mình đã vượt qua những bài thi ấy với kết quả mỹ mãn.
Mùa hè đến, những bài thi thưa thớt dần, tôi và Holmes thường trò chuyện với nhau lâu hơn. Mặc dù một cuộc chiến đẫm máu đang gây chấn động mạnh mẽ khắp vùng biển Măng Sơ, mặc dù cả bầu không khí như rung lên trong những cuộc oanh tạc cuối cùng của trận Somme tháng Bảy, mặc dù tôi biết là mình phải dành nhiều thời gian cho trạm y tế khẩn cấp, những điều làm tôi nhớ nhất về mùa hè năm 191 đó lại là bầu trời năm ấy đẹp như thế nào. Cả mùa hè dường như chỉ có bầu trời, bầu trời và những sườn đồi mênh mông nơi chúng tôi cứ trò chuyện và trò chuyện nhiều giờ không dứt. Tôi đã mua một bộ cờ rất xinh xắn khảm ngà voi và dát gỗ, tôi luôn để chúng trong túi và cùng Holmes chơi dưới ánh nắng gay gắt của mùa hè. Ông ấy đã không còn phải chấp tôi nước nào nữa. Tôi vẫn giữ bộ cờ đó, và mỗi khi mở nó ra, tôi đều thấy thoang thoảng mùi hương cỏ đang được cắt dưới cánh đồng gần chỗ chúng tôi ngồi vào cái ngày tôi vấp phải ông ấy lần đầu tiên.
Một buổi chiều chạng vạng bình yên và ấm áp, chúng tôi trở về nhà sau cuộc dạo chơi sang phía bên kia vùng
[2]
Eastbourne, chúng tôi thong thả dạo bước về nhà từ bờ biển, và khi đến gần những hàng rào nhỏ xinh của vườn cây ăn quả nơi những tổ ong của Holmes đang cư trú, Holmes đột nhiên đứng sững lại, đầu nghiêng hẳn sang một bên. Sau một thoáng, ông bắt đầu càu nhàu và mau lẹ sải bước qua thảm cỏ đến cổng vườn cây. Tôi đi theo ông ấy, và khi đứng ngay giữa vườn cây, tôi mới có thể nghe thấy tiếng ồn ào mà đôi tai đầy trải nghiệm của ông ấy đã nghe được từ rất xa: một âm thanh cao vút, dữ dội của một cơn cuồng nộ rất rõ ràng từ cái tổ ong ngay phía trước chúng tôi. Holmes đứng đó, nhìn trừng trừng xuống cái thùng màu trắng yên tĩnh bên cạnh, và tặc lưỡi trong sự bực tức.
“Cái gì thế ạ?” tôi hỏi, “Đàn ong đang tạo ra những âm thanh quái quỷ gì vậy?”
“Đó là âm thanh của một con ong chúa đang nổi giận. Đàn ong này đã chia tổ hai lần, nhưng có vẻ nó vẫn quyết tâm tự chia lần nữa khiến bọn ong hoàn toàn mệt mỏi. Con ong chúa mới vừa có một chuyến bay giao phối vào tuần trước, và bây giờ thì nó rất lo lắng để làm sao loại bỏ được những đối thủ cạnh tranh với mình. Thông thường, lũ ong thợ sẽ cổ vũ cho ong chúa, nhưng chúng cũng biết rằng, ong chúa có thể sẽ chỉ đạo một tổ ong khác, hoặc là bằng cách nào khác chúng sẽ khiến con ong chúa làm như vậy. Trong cả hai trường hợp, chúng sẽ giữ con ong chúa này tránh xa những con ong chúa non đời sau. Chúng che phủ các lỗ ong hoàng tộc bằng một lớp sáp dày, và cháu nhìn xem này, ong chúa không thể nào chạm tới những con ong chúa non.
bé, còn lũ ong non thì không thể trả lời lại những âm thanh đầy thách thức của con ong chúa kia. Tiếng ồn chính là của những con ong chúa bị giam cầm, chúng đang nổi xung lên với nhau qua bức tường tù ngục ấy.
“Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong những ấu trùng ong chúa đó lọt ra ngoài lỗ ong của chúng?”
“Con ong chúa đầu tiên chộp được nó chắc chắn sẽ giết nó.”
“Cho dù con ong chúa đó muốn từ bỏ tổ ong bằng mọi cách?”
“Ham muốn loại trừ những con ong chúa khác không phải là điều dựa trên lý trí. Với ong chúa, đó chỉ là một phản ứng bản năng.”
Tôi đến Oxford ít tuần sau đó. Cả Holmes và bà Hudson đều đi tàu cùng tôi, để đưa tôi đến ngôi nhà mới của mình. Chúng tôi đi bộ đến đường Cherwell và xuống phía bờ sông Isis, rắc thức ăn cho những con thiên nga cáu bẳn, rồi trở về ngắm vòi phun thủy ngân Mercury cùng tòa tháp chuông buồn rầu lặng lẽ tên là Tom trên đường quay lại nhà ga. Ở ga tàu, tôi ôm chặt bà Hudson, rồi quay sang Holmes.
“Cám ơn ông,” đó là tất cả những gì tôi có thể thốt ra được.
“Hãy học được điều gì đó ở nơi này,” Holmes nói. “Hãy tìm vài người thầy và học hỏi từ họ,” ông ấy cũng chỉ nói thế, rồi chúng tôi bắt tay nhau và bắt đầu cuộc sống riêng của mỗi người.
Đại học Oxford năm 1917 chỉ còn là một cái bóng so với vẻ bề thế uy nghi thường ngày của nó. Số lượng sinh viên chỉ bằng một phần mười so với thời điểm năm 1914 - trước chiến tranh, một con số thậm chí còn ít hơn cả những năm sau Cái Chết Đen1. Những người lính bị thương, mặc áo xanh, uể oải và run rẩy với làn da sạm lại vì nắng đông gấp đôi những vị linh mục mặc áo choàng đen trong tu viện.
Tôi đã mong đợi những điều lớn lao ở trường Oxford, và thực sự, nơi này đã mang đến cho tôi những trải nghiệm phong phú. Tôi đã tìm được các giáo viên như lời Holmes dặn. Tôi nhận thấy các giáo viên giảng dạy cho tôi đều không bị thói kiêu căng và những suy nghĩ lạ lùng của tôi uy hiếp. Họ là những người đã thử thách tôi, tranh luận với tôi và hơn cả là họ đã chinh phục tôi một cách nhanh chóng bằng tài năng của mình. Hai người trong số họ thậm chí còn giỏi hơn Holmes trong việc đưa ra những lời bình luận ngắn gọn và mang tính công phá ghê gớm. Có cả những điều tốt đẹp và những điều tồi tệ xảy ra, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm của họ suốt trong
[3]
những năm chiến tranh hơn là sau khi những người lính trẻ trở về. Tôi nhận ra rằng tôi đã không nhớ Holmes nhiều như tôi vẫn lo sợ, và những ước mơ cháy bỏng về việc tránh xa người dì của tôi đã gần như không còn nữa, nó làm tôi có thể cân bằng trong tình trạng dị ứng với những nguyên tắc đi kèm với các cô gái (bất cứ khi nào muốn ra ngoài cũng phải xin phép, phải có hai người phụ nữ tại một buổi tiệc có cả nam và nữ, những bữa tiệc như vậy tại các quán cà phê chỉ được diễn ra từ hai giờ đến năm giờ ba mươi phút chiều, và sau đó như thế nào thì còn phải tùy vào việc có được cho phép hay không, v.v. và v.v.). Cô gái nào cũng phát điên lên với những luật lệ này, tôi thì không đến mức độ như vậy, nhưng có lẽ bởi vì tôi thường trèo tường nhanh hơn hoặc trườn qua nóc xe ngựa và các ô cửa sổ giỏi hơn trong những đêm mọi người còn đang say giấc.
Một điều mà tôi không nghĩ là có thể tìm thấy ở trường đại học, đó là niềm vui. Xét cho cùng, Oxford đơn thuần chỉ là một thị trấn nhỏ với vô số rác rưởi, những tòa nhà toàn làm bằng đá lạnh ngắt và đâu đâu cũng thấy những người lính tàn phế. Cũng có một vài nam sinh viên chưa tốt nghiệp, một số thầy giáo sắp đến tuổi về hưu, vài người đàn ông - không phải là những người lính Anh trở về từ chiến trường - yếu ớt và phiền muộn, bệnh tật và đau đớn. Thức ăn khan hiếm và chẳng ngon lành gì, các lò sưởi cũng không còn đủ củi than để mà giữ ấm. Chiến tranh liên miên, những kế hoạch tình nguyện cứ xâm nhập ngày càng nhiều vào quỹ thời gian học tập của chúng tôi, và để hoàn thành...
những công việc này, một nửa đoàn thể và các tổ chức của trường đã tạm thời ngừng hoạt động, trong đó có Hội Sân khấu Đại học Oxford, OUDS.
Một buổi sáng khi tôi đang tự giam mình trong phòng để nghiên cứu tỉ mỉ về khả năng sửa lại cái giá sách vừa bị gãy nát dưới sức nặng của một khối lượng sách khổng lồ, bất chợt có tiếng gõ cửa.
“Mời vào,” tôi nói.
“Ta muốn hỏi là,” một giọng nói cất lên, rồi nhanh chóng chuyển từ giọng tra hỏi sang thái độ quan tâm, “cháu vẫn ổn chứ?”
Tôi đẩy gọng kính lên trên sống mũi, vén nhanh mái tóc đang lòa xòa trước mặt và bắt gặp ngay cô Veronica Beaconsfield. Cô ấy cao khoảng một mét năm mươi lăm, khoác chiếc áo choàng bằng lụa với những họa tiết màu xanh và vàng lòe loẹt đến khó tin, có vẻ nó không hợp với màu da của cô ấy lắm.
“Vâng, chắc chắn là cháu vẫn ổn ạ! Ồ, những quyển sách. Không phải chúng rơi xuống đầu ạ, mà cháu xếp chúng như vậy đấy! Chắc cô không có tua vít nhỉ?”
“Không, ta cũng không tin là ta có.”
“À vâng, thế thì có khi người gác cổng sẽ có cô nhỉ? Cô hẳn là đang đi tìm ai đúng không ạ?”
[4]
“Cháu đấy!”
“Thế thì cô đã tìm thấy rồi đấy.”
“Petruchio,” cô ấy nói, rồi dừng lại như chờ đợi. Tôi ngồi sụp xuống ghế bành một lúc, giữa những cuốn sách vương vãi trên sàn nhà.
“Lại đây và hôn anh đi Kate?” Tôi ướm hỏi. “Điều gì, em yêu, khiến em thất vọng buồn rầu làm vậy?”
Cô ấy vỗ tay và kêu thét lên tận trần nhà: “Ta biết mà! Giọng nói, chiều cao, thậm chí cô ấy còn biết cả lời thoại nữa... Cháu có thể diễn hài kịch không nhỉ?”
“Cháu, ờ...”
“Tất nhiên chúng ta không thể sử dụng đồ ăn thật trong các cảnh mà cháu phải ném đồ ăn vào đám người hầu được, nhất là khi thức ăn đang khan hiếm thế này.”
“Liệu cháu có thể hỏi...”
“Ôi xin lỗi cháu, ta thật ngớ ngẩn. Ta là Veronica Beaconsfield. Hãy gọi ta là Ronnie.”
“Cháu là Mary Russell.”
“Ta biết. Vậy thì Mary, tối nay chín giờ ở phòng của ta nhé. Hai tuần nữa là đến buổi biểu diễn đầu tiên rồi.”
“Nhưng mà cháu...” tôi phản đối. Nhưng cô ấy đã bỏ đi.
[5]
Tôi là người cuối cùng phát hiện ra việc từ chối cộng tác với những kế hoạch của cô Ronnie là điều không thể. Buổi tối hôm đó, tôi ở trong phòng cô ấy cùng với khoảng hơn chục bạn khác, và ba tuần sau chúng tôi diễn vở Cô nàng đanh ác bị buộc phải biết điều cho những “cư dân” của trường Somerville, đấy là cách chúng tôi gọi họ. Và tôi nghi ngờ rằng ngôi trường dành cho các nữ sinh bình lặng đó chưa bao giờ biết đến một sự náo động nào như vậy. Chúng tôi “kiếm” thêm một vài vai diễn giả nam cho đội kịch ngay tối hôm đó, và tôi sớm được đảm nhận vai Petruchio.
Tuy vậy, tôi vẫn phải tham gia vào hội diễn kịch nghiệp dư này, bởi mọi người nhanh chóng nhận ra tôi có năng khiếu về trang điểm, và cả hóa trang nữa. Bây giờ tôi không thể nhớ lại quá trình mà cô sinh viên nhút nhát Mary Russell đã trở thành trung tâm của những trò cải trang tinh vi nhất trong năm như thế nào. Tôi chỉ còn nhớ mùa hè năm đó tôi đã cải trang thành một thanh niên quý tộc người Ấn Độ, rồi tham gia vào một nhóm những người bạn Ấn, tuy liều lĩnh một chút nhưng thú vị vô cùng.
Tất nhiên tôi không thể hoàn toàn từ bỏ việc học hành. Tôi vẫn tham dự những bài thuyết trình và những cuộc thảo luận ở trường. Tôi đến thư viện Bodleian như đến với một người tình, nhất là dạo trước tháng Năm, tôi có thể ngồi hàng giờ trong vòng tay Bodleian, tròn mắt, choáng váng và mê mẩn với mùi thơm của sách và cả những cảm giác tuyệt vời khi được chạm vào các cuốn sách. Phòng thí nghiệm hóa học ở đây hiện đại hơn phòng thí nghiệm của Holmes rất nhiều. Đôi lúc tôi còn thầm cảm ơn chiến tranh vì đã biến những căn phòng của trường thành những khu ăn ở hiện đại cho quân lính, với bóng đèn điện, lò sưởi, và thậm chí như phép màu của những phép màu - còn có cả ống dẫn nước được đưa đến từng căn hộ. Cái bồn rửa tay ở góc nhà cũng là một xa xỉ phẩm lớn (thậm chí những quý tộc trẻ của nhà thờ Công giáo cũng phải phụ thuộc vào đôi chân của những người phục vụ thì mới có nước nóng mà dùng). Nhờ cái bồn ấy, tôi đã tự tạo một phòng thí nghiệm nhỏ ngay trong phòng khách. Cái bếp hơi hình vòng dùng để đun nóng ca cao cũng được tôi biến thành một cái đèn Bunsen.
Giữa niềm say mê nghiên cứu khoa học và những yêu cầu ngày một nhiều của cuộc sống hiện đại, tôi hầu như có rất ít thời gian để ngủ. Khi kết thúc học kỳ vào tháng Mười hai, tôi lập tức trốn về nhà, bỏ lại tất cả những say mê hào hứng của tuần đầu tiên. May mắn thay người soát vé vẫn nhớ mặt tôi, và ông ấy đã kịp đánh thức tôi dậy để bắt chuyến tàu tiếp theo.
Tôi bước sang tuổi mười tám vào ngày mùng hai tháng Một năm 1918. Tôi về đến nhà Holmes với mái tóc được chải gọn gàng, mặc một chiếc áo dài nhung màu xanh đậm và đeo khuyên tai kim cương của mẹ. Bà Hudson mở cửa, tôi cảm thấy vui mừng khôn xiết vì được gặp lại bà ấy, Holmes và cả bác sĩ Watson nữa. Họ đều ăn vận trang trọng như tôi, vì thế nhìn chúng tôi, theo một mức độ nào đó, lộng lẫy như các bậc vua chúa vậy. Sau khi bác sĩ Watson cứu được Holmes khỏi cơn tai biến bất ngờ (do nhìn thấy tôi trong bộ dạng mới), chúng tôi đã cùng nhau mở tiệc và uống rượu sâm panh, bà Hudson còn làm một chiếc bánh sinh nhật với những ngọn nến lung linh, họ hát mừng sinh nhật tôi và tặng tôi những món quà đầy ý nghĩa. Bà Hudson tặng tôi một đôi lược bằng bạc. Quà của bác sĩ Watson là một bộ đồ viết nhỏ xinh với đầy đủ giấy viết, bút và mực viết, được bọc trong một cái hộp làm bằng da thuộc. Chiếc hộp nhỏ Holmes đặt trước mặt tôi đựng một cây trâm gài tóc đơn giản mà thanh nhã làm bằng bạc và có gắn những hạt ngọc trai nhỏ xíu.
“Ông Holmes, nó đẹp quá.”
“Đó là cây trâm của bà ngoại ta đấy, cháu mở nó ra đi?”
Tôi tìm cái móc cài, khả năng quan sát và sự khéo léo của tôi hình như bị chút hơi men làm chếnh choáng. Cuối cùng ông ấy đứng dậy, tự tay khéo léo tách hai viên ngọc, và nó mở bụp trong tay tôi. Bên trong là bức chân dung tiểu họa của một cô gái trẻ có mái tóc màu vàng sáng tuyệt đẹp và một ánh nhìn trong sáng khiến tôi liên tưởng ngay đến ánh mắt của Holmes.
“Anh trai của bà, họa sĩ Vernet, đã vẽ nó vào ngày sinh nhật lần thứ mười tám của bà,” Holmes nói với tôi. “Màu tóc của bà gần giống với màu tóc cháu, và nó vẫn giữ nguyên màu như thế ngay cả khi bà đã về già.”
Tấm chân dung trở nên lung linh trước mắt tôi và bất giác nước mắt tôi chảy dài trên gò má.
“Cảm ơn... cảm ơn tất cả mọi người,” tôi nghẹn lời rồi bật khóc nức nở, và bà Hudson đã phải dìu tôi vào chiếc giường ngủ trong phòng dành cho khách.
Tôi chợt tỉnh giấc vào giữa đêm, hoàn toàn mất phương hướng bởi căn phòng lạ lẫm và hơi rượu còn sót lại trong cơ thể. Dường như có tiếng bước chân rất khẽ khàng ngoài cửa, tôi lắng nghe, nhưng chỉ còn tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ phía bên kia tường.
Tôi quay lại Oxford vào cuối tuần tiếp theo, kỳ học mùa đông, dường như cũng chẳng khác những tuần học mùa thu là mấy. Nhưng niềm say mê chính của tôi lại là lý thuyết toán học và sự phức tạp của đạo Do Thái, hai vấn đề không hề giống nhau chút nào dù chỉ là bề nổi. Một lần nữa ngài Bodleian đáng kính lại dang rộng cánh tay đón tôi, và cũng một lần nữa tôi theo chân cô Ronnie Beaconsfield (lần này là Đêm thứ mười hai [6] , kèm theo đó là một chiến dịch để cải thiện điều kiện sống cho những con ngựa phải miệt mài kéo xe trên phố). Một lần nữa tôi lại học hành quên ăn quên ngủ. Một lần nữa tôi lại nổi trội về kết quả học. Và một lần nữa, lại ngủ lịm và kiệt sức.
Căn nhà tôi thuê được trông nom bởi một đôi vợ chồng tên là Thomas, hai bác rất dễ mến, và vẫn còn giữ lại được chất thổ âm hơi nặng của vùng Oxfordshire. Bác Thomas đã giúp tôi mang đồ ra xe ngựa để tôi chuẩn bị vào thành phố. Nghe tiếng bác ấy càu nhàu vì một cái hòm quá cao, nặng trĩu những sách, tôi vội vàng chạy lại giúp. Bác ấy phủi tay, nhăn mặt nhìn chiếc hòm rồi quay sang nhìn tôi.
“Bây giờ thì, thưa cô, ta không thể tiếp tục theo cô được nữa, nhưng ta hy vọng cô sẽ không tiêu tốn toàn bộ kỳ nghỉ của mình bên bàn học. Cô đã đến đây với đôi gò má hồng hào, và bây giờ thì ta chẳng còn thấy chúng đâu nữa. Nghe lời ta, hãy hít thở không khí trong lành đi, quý cô sẽ cảm thấy sáng suốt hơn khi quay lại đây đấy.”
Tôi rất ngạc nhiên bởi vì từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ nghe bác ấy nói nhiều như thế. Tôi quả quyết với bác ấy rằng mình nhất định sẽ dành nhiều thời gian hơn để tận hưởng không gian bao la ngoài trời. Đến nhà ga, tôi bất chợt nhìn thấy mình trong gương và chợt hiểu những điều bác ấy nói. Tôi đã không biết rằng trông mình lại thảm hại đến vậy, những quầng thâm dưới mắt thực sự khiến tôi trông mệt mỏi vô cùng.
Sáng hôm sau, sự tĩnh lặng quá đỗi và tiếng chim hót véo von trong lành đã đánh thức tôi dậy từ rất sớm. Tôi mặc vào bộ quần áo cũ nhất và đi một đôi giày cao cổ mới, mang thêm đôi găng tay nặng trịch và một chiếc mũ len để chống lại cái giá lạnh của buổi sáng tháng Ba. Tôi đi tìm bác Pattrick. Pattrick Mason là một bác nông dân tốt bụng vùng Sussex, cao lớn, chậm chạp, và đã năm mươi hai tuổi. Bác ấy đã cai quản trang trại từ trước khi bố mẹ tôi kết hôn. Hồi bác ấy và mẹ tôi còn bé (bác ấy hơn mẹ tôi ba tuổi), hai người đã cùng nhau chạy trên những cánh đồng bao la mà hiện giờ bác đang cai quản, tôi nghĩ bác ấy có một tình cảm đặc biệt với mẹ tôi và mang nó theo suốt cuộc đời. Tất nhiên bác Pattrick vẫn tôn thờ mẹ tôi như một Quý bà. Vợ bác mất và để lại cho bác gánh nặng nuôi sáu đứa con, chỉ bằng đồng lương của một người quản lý trang trại. Khi đứa con út tròn mười tám tuổi, bác ấy chia đất đai cho các con rồi đến ở nông trại mà giờ thuộc quyền sở hữu của tôi. Dù gì đi nữa nông trang này cũng thuộc về bác ấy hơn là thuộc về tôi, một quan điểm mà cả hai chúng tôi cùng hiểu được và cùng thừa nhận. Bác ấy yêu ngôi nhà này tha thiết, dù có phải miễn cưỡng chịu đựng bất cứ chuyện vô lý nào mà người chủ hợp pháp gây ra.
Tôi bước chậm chạp xuống vùng đồi và đi về phía chuồng ngựa. Hơi thở lạnh toát bốc khói quanh tai tôi trong ánh mặt trời mùa đông yếu ớt, và tôi gọi tên bác ấy. Một giọng nói cất lên từ đằng sau làm tôi giật mình, tôi quay lại và thấy bác ấy đang dọn chuồng ngựa.
“Chào bác Pattrick.”
“Chào mừng cô về nhà, cô Mary.” Từ lâu tôi đã không cho phép bác ấy gọi tôi bằng những từ quá trang trọng, nhưng bác ấy lại không chịu dùng những từ ngữ quá thân thiết, vì thế chúng tôi thỏa hiệp rằng bác ấy sẽ gọi tôi là “cô” kèm theo tên của tôi.
“Cảm ơn bác. Thật là tuyệt khi trở lại đây! Bác Pattrick à, cháu đang cần bác giúp cháu.”
"Chắc chắn rồi, cô Mary. Cô đợi tôi làm nốt việc ở đây đã nhé?”
“Ồ, cháu không có ý làm gián đoạn công việc của bác. Cháu muốn bác giao việc gì đó cho cháu cùng làm.”
“Việc gì đó để làm à?” Bác ấy có vẻ bối rối.
“Vâng, bác Pattrick ạ. Trong suốt sáu tháng qua cháu chỉ toàn ngồi học và chúi mũi vào đống sách dày cộp, và nếu cháu không chịu vận động các cơ bắp của mình... cháu e là chúng sẽ không biết cách để hoạt động cùng nhau như thế nào nữa. Bác sẽ nói cho cháu biết những việc mà cháu có thể làm xung quanh đây chứ? Cháu có thể bắt đầu từ đầu ạ? Cháu sẽ giúp bác làm nốt phần việc ở chuồng ngựa này nhé?”
Bác Pattrick nhanh chóng giành lấy cái cào phân trên tay tôi và chặn tôi lại ở lối đi vào chuồng ngựa.
“Không được, thưa cô, tôi sẽ làm những việc này. Cô muốn làm việc gì ở đây nào?”
“Bất cứ việc gì đang cần người làm bác ạ,” tôi nói rõ ràng và quả quyết, để cho bác ấy biết là tôi không nói đùa.
“Được rồi... ” Đôi mắt bác ấy lướt nhanh xung quanh và sáng lên khi nhìn thấy cái chổi. “Cô có muốn quét dọn không? Những đám vỏ bào bừa bãi trong xưởng cần được quét sạch.
“Được ạ." Tôi chộp lấy cái chổi to và hăng hái đi vào xưởng gỗ. Mười phút sau bác ấy đi vào và suýt bị ngạt thở trong đám bụi dữ dội tôi tạo ra, những mảnh gỗ nhỏ vương vãi khắp sàn nhà.
“Cô Mary à, ồ, được rồi, như vậy là cô làm việc rất nhanh đấy. Ý tôi là, cô nên dọn những đống bào ra ngoài trước khi hất tung chúng vào không khí như thế, cô có nghĩ như vậy không?”
“Ý bác là sao ạ? À, cháu hiểu rồi! Cháu sẽ quét chúng ra đằng kia ngay đây.”
Tôi cầm lại cái chổi và quét một nhát dài dọc theo bàn làm việc của những người thợ mộc. Tay tôi vướng vào phần mép bàn cồng kềnh, làm cái khay đựng đồ mộc văng tứ tung. Bác Pattrick nhặt cái đục đã bị mẻ lên rồi nhìn tôi như thể tôi vừa tấn công con trai bác ấy.
“Cô chưa bao giờ cầm đến một cái chổi sao?”
“Dạ, cũng không thường xuyên lắm ạ.”
“Có lẽ cô nên đi xếp củi thì tốt hơn.”
Tôi kéo mạnh cái xe đẩy để chuyển những khúc gỗ vừa đốn vào nhà. Nhận thấy trong nhà đang cần củi để nhóm lửa, tôi lập tức dùng cái rìu có quấn dây cáp để chẻ đôi những khúc gỗ vừa mới đốn ở gần một tảng đá to ngay bên cửa hậu. Đúng lúc đó bác Pattrick vội vàng chạy đến ngăn tôi lại để tôi không tự làm đứt tay mình. Bác ấy chỉ cho tôi xem những khối gỗ đã được chẻ đôi, cách cầm rìu đúng cách và chỉ rõ làm thế nào để dùng được nó. Hai tiếng sau tôi đi bộ xuống sườn đồi, mang theo một mảnh gỗ nhỏ và những bắp thịt rã rời để chứng tỏ mình vừa làm việc một cách hăng say.
Đường về nhà Holmes như dài hơn, hoặc có thể là do trong lòng tôi đang trào lên một nỗi bồn chồn kỳ lạ. Tôi đạp xe nhanh hơn bằng sức mạnh có thể của đôi chân, và khi tôi vượt qua ngọn đồi cuối cùng rồi nhìn thấy ngôi nhà tranh quen thuộc bên kia những cánh đồng, thấy làn khói mỏng tỏa lên từ ống khói, một cảm giác thanh thản và nhẹ nhàng xâm chiếm lòng tôi. Và khi tôi mở cánh cửa, hít thở mùi hương quen thuộc của nơi này, tôi biết tôi đã trở về nhà, an toàn.
“Bà Hudson ơi?” tôi gọi, nhưng nhà bếp vắng tanh. Hôm nay là phiên chợ, tôi nghĩ, rồi đến cầu thang và đi lên lầu. “Ông Holmes à?”
“Cháu phải không, Russell?” ông ấy hỏi, có vẻ hơi ngạc nhiên, mặc dù một tuần trước tôi đã viết thư báo cho ông ấy rằng tôi sẽ về. “Tốt rồi. Ta đang xem lại những thí nghiệm về các nhóm máu mà chúng ta đã làm trước khi cháu đi hồi tháng Giêng. Ta tin là ta vừa khám phá ra vấn đề mấu chốt. Đây, hãy xem những ghi chép của cháu. Và bây giờ, hãy nhìn vào mẫu vật ta vừa đặt dưới kính hiển vi... ”
Holmes đáng kính và tốt bụng của tôi, ông ấy lúc nào cũng giàu tình cảm và hay giãi bày như thế. Một cách ngoan ngoãn, tôi ngồi trước thị kính, như thể tôi chưa bao giờ đi xa cả. Cuộc sống trở về như trước kia, và tôi không nghi ngờ thêm một lần nào nữa.
Vào tuần lễ thứ ba của kỳ nghỉ, tôi tới ngôi nhà tranh thân thuộc của tôi. Hôm đó là thứ Tư - ngày mà bà Hudson vẫn thường vào thị trấn. Holmes và tôi đã lên kế hoạch cho một phản ứng hóa học bốc mùi nồng nặc vào ngày hôm đó, nhưng khi vừa đến cửa bếp thì tôi chợt giật mình bởi tiếng gọi từ phòng khách.
“Russell à?” Tiếng của Holmes.
“Vâng, cháu ở đây.” Tôi bước đến cửa và đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy Holmes đang ở bên lò sưởi cùng với một người phụ nữ ăn vận tao nhã. Khuôn mặt của bà ấy trông rất quen. Tôi bắt đầu khôi phục lại những dữ liệu trong đầu để cố nhớ lại mình đã nhìn thấy bà ấy ở đâu, nhưng Holmes đã cắt ngang suy nghĩ của tôi,
“Vào đây nào, Russell. Chúng ta đang đợi cháu đó. Đây là bà Baker. Bà ấy và chồng sống trong khu nhà ở trang viên. Họ mua chúng từ một năm trước khi cháu đến đây. Bà Baker, đây là cô gái mà tôi đã kể với bà, đúng vậy, chính là cô gái trong trang phục đó. Bây giờ cô ấy đã ở đây, bà có thể kể lại mọi chuyện cho chúng tôi chứ? Russell à, cháu tự rót trà cho mình và ngồi xuống đi.”
Và đó là trường hợp cộng tác đầu tiên.
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] 1 Tên một nhánh sông lớn đổ vào sông Thames tại Oxford, nước Anh.
[2] 1 Trận Somme là trận đánh nổi tiếng trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất, diễn ra vào mùa Hè và mùa Thu năm 1916 trên đất Pháp. Với con số thương vong tới hơn một triệu người, đây được xem là một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.
[3] 1 Cái Chết Đen (Black Death) là tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu thế kỷ XIV mà đỉnh điểm là ở châu Âu từ năm 1348 đến năm 1350. Đây được coi là một trong những đại dịch chết chóc kinh khiếp nhất của nhân loại. Người ta cho rằng nguyên nhân của đại dịch này là sự bùng phát của bệnh dịch hạch. Ước tính châu Âu đã phải mất tới một trăm năm mươi năm để phục hồi dân số như trước thời gian đại dịch. Sau này dịch hạch còn nhiều lần bùng phát trở lại và nó chỉ biến mất vào thế kỷ XIX.
[4] 1 Hội Sân khấu Đại học Oxford (OUDS) là một tổ chức hỗ trợ, phối hợp và quảng bá các hoạt động sân khấu của sinh viên thông qua trường đại học.
[5] 1 Tên một nhân vật trong vở kịch Cô nàng đanh ác bị buộc phải biết điều của William Shakespeare. Petruchio là người đã tìm thấy vận may trong cuộc hôn nhân với một cô gái trẻ cứng đầu có tên là Kate, đồng thời dùng đủ mọi cách để chế ngự tính khí đanh ác thất thường của vợ mình.
[6] 1 Một vở hài kịch khác của William Shakespeare.