Người tình của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 4819 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
bà chủ
img
img

Trong khói lửa, người ta vẫn tưởng tượng rằng đó không phải là sự tấn công của kẻ thù... mà là một thế lực vô hình hay một thảm họa thiên nhiên buộc người ta phải cố gắng mà chịu đựng và tồn tại.

Đúng như tôi nghĩ, cuối cùng Holmes và tôi cũng hợp tác cùng nhau trong một vụ án của ông ấy. Mặc dù đã về hưu nhưng đôi khi Holmes vẫn giữ những thói quen cuộc sống trước kia: những người khách lạ, thời gian biểu thất thường, những lần bỏ bữa, những phút trầm ngâm với tẩu thuốc, và hàng giờ bất tận để tạo ra những âm thanh kỳ lạ từ chiếc violin. Có hai lần tôi đến nhà Holmes mà không báo trước, và cả hai lần ông ấy đều không có nhà. Tôi cũng không tìm hiểu về những việc ông ấy làm, bởi vì tôi biết lúc này ông ấy chỉ nhận những vụ án bất thường nhất, phức tạp nhất và để lại những vụ phạm tội thông thường cho Sở cảnh sát điều tra.

Ngay lập tức tôi tò mò muốn biết Holmes đã nhìn thấy những gì trong vụ án này. Bà Baker cất giọng đều đều kể lại.

“Ông và cháu gái đây biết đấy, vợ chồng tôi mua căn nhà trong trang viên ấy cách đây bốn năm. Chúng tôi đã từng sống ở Mỹ trước chiến tranh, nhưng Richard - chồng tôi, luôn muốn tôi trở về nhà. Ông ấy đã gặp may trong vài vụ đầu tư lớn, thế nên năm 1913 chúng tôi về Anh để tìm mua một căn nhà. Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi nhà trong khu trang viên ấy liền yêu thích nó ngay lập tức và quyết định mua nó không lâu trước khi cuộc đại chiến nổ ra.

“Cách đây khoảng một năm, chồng tôi ngã bệnh. Mới đầu có vẻ không nghiêm trọng lắm, chỉ đơn thuần là rối loạn tiêu hóa, nhưng rồi nó trở nên thật tồi tệ khi ông ấy quằn quại trên giường, ướt đẫm mồ hôi và rên rỉ đau đớn. Các bác sĩ không thể tìm ra nguyên nhân của căn bệnh, và khi họ bắt đầu tuyệt vọng thì cơn sốt cuối cùng cũng dứt và ông ấy ngủ thiếp đi. Một tuần sau đó ông ấy gần như lại bình phục, hoặc là chúng tôi nghĩ thế.”

“Kể từ đó, ông ấy bị thêm mười lần nữa, mặc dù không đến mức tồi tệ như lần đầu tiên. Mỗi lần đều bắt đầu bằng những cơn ớn lạnh vã mồ hôi, tiếp theo ông ấy phải chịu những trận chuột rút đau đớn và rơi vào mê sảng miên man, cuối cùng là sốt cao và rồi lại ngủ thiếp đi. Buổi tối đầu tiên ông ấy muốn ở một mình và không chịu để cho tôi chăm sóc. Các bác sĩ hoàn toàn bối rối, họ hỏi tôi rằng liệu ông ấy có thể bị ngộ độc không, tất nhiên là không phải rồi vì chúng tôi luôn ăn cùng nhau. Tôi luôn để mắt đến các món ăn khi chúng đang được nấu. Không phải do thuốc độc, mà đây là một chứng bệnh.

“Giờ tôi biết ông đang nghĩ gì, thưa ông Holmes.” Holmes nhướng một bên mày khi nghe bà Baker nói câu đó. “Ông đang thắc mắc tại sao tôi lại hỏi ông về một vấn đề y học.” Thưa ông Holmes, tôi tin đó không phải là vấn đề của y học. Chúng tôi đã hỏi ý kiến của các chuyên gia ở đây và cả ở đại lục. Thậm chí chúng tôi còn hẹn gặp cả bác sĩ Freud vì cho đó là biểu hiện của chứng tâm thần. Tất cả các bác sĩ đều bó tay, trừ bác sĩ Freud cho rằng đó là cảm giác tội lỗi của một người đàn ông khi kết hôn với một phụ nữ trẻ hơn mình hai mươi tuổi. Thật nhảm nhí hết sức!” bà ấy nói đầy phẫn nộ. Chúng tôi cùng lắc đầu thông cảm với bà.

Lọt thỏm trong ghế bành, Holmes bắt đầu nói.

“Bà Baker này, bà có thể nói cho chúng tôi biết lý do tại sao bà lại không tin căn bệnh của ông nhà chỉ đơn giản là một vấn đề y học không?”

“Ông Holmes và cô Russell à, tôi sẽ không xúc phạm đến hai người bằng việc bắt hai người phải thề rằng những điều tôi sắp nói đây sẽ không được vượt quá phạm vi căn phòng này. Trước khi đến đây, tôi đã quyết định để ông biết mọi chuyện, tôi tin vào sự suy xét chín chắn của ông. Chồng tôi là cố vấn của chính phủ Anh. Ông ấy không bao giờ kể cho tôi nghe chi tiết về công việc của mình, nhưng tôi không thể không chú ý khi các hành động của ông ấy diễn ra ngay trước mũi tôi. Đường dây điện thoại được kéo về ngôi làng xa xôi này, thưa ông Holmes, bởi vì ngài Thủ tướng cần liên lạc với chồng tôi bất cứ lúc nào. Mọi người đều cho rằng đường dây điện thoại về đến làng là bởi vì tất cả chúng ta đều sẵn sàng trả tiền lắp đặt, tôi biết vậy, nhưng không phải thế.”

“Bà Baker à, việc chồng bà là cố vấn của chính phủ và việc ông ấy đau ốm định kỳ không nhất thiết có liên quan với nhau.”

“Có thể là không, nhưng tôi đã chú ý đến một việc hết sức kỳ lạ. Chứng bệnh của chồng tôi luôn ứng với những hiện tượng thời tiết cụ thể: khi thời tiết rất trong lành thì ông ấy đổ bệnh, còn khi trời có sương mù hoặc mưa thì ông ấy lại chẳng làm sao. Tôi bắt đầu lưu ý điều này cách đây sáu tuần, vào tuần đầu tiên của tháng Ba, tôi nhớ là như vậy vì suốt thời gian vừa rồi vùng này chỉ có mưa và tuyết. Rồi một đêm trời rất trong, trăng sao sáng lấp lánh, chồng tôi bất ngờ tái bệnh sau hai tháng khỏe mạnh bình thường. Đó là lúc tôi nhìn lại và nhận ra mọi chuyện.”

“Bà Baker này, trong khoảng thời gian vợ chồng bà tìm gặp các bác sĩ châu Âu, chồng bà có đang bị ốm không? Hai người đã ở đó bao lâu, và điều kiện thời tiết lúc đó ra sao?”

“Chúng tôi đã ở đó khoảng bảy tuần, à, có vài đêm trời quang đãng nhưng sức khỏe của ông ấy lại ổn định.”

“Tôi nghĩ bà chưa kể hết những điều cần kể, bà Baker ạ!” Holmes nói. “Bà hãy thuật lại đầy đủ đi nào.”

Bà Baker thở dài thườn thượt, và tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy đôi bàn tay được chăm chút đẹp đẽ của bà ấy đang run rẩy.

“Ông nói đúng, thưa ông Holmes, còn hai điều nữa. Đầu tiên là chồng tôi lại tái bệnh cách đây hai tuần - một tháng kể từ khi tôi bắt đầu nghi ngờ về sự trùng hợp ngẫu nhiên ấy. Vào cái đêm chồng tôi đổ bệnh trở lại, ông ấy nói với tôi hãy để cho ông ấy được ở một mình, như thường lệ. Tôi rời buồng bệnh và đi ra ngoài để hít thở chút khí trời. Tôi dạo quanh khu vườn vài vòng, rồi khi trở về, tôi tình cờ nhìn lên phòng của chồng tôi và phát hiện có ánh đèn nhấp nháy lúc sáng lúc tối từ phía mái nhà qua căn phòng của ông ấy.”

“Và bà cho rằng có thể chồng bà đang ngầm chuyển những mật tin của chính phủ cho vua Đức?” Holmes nôn nóng cắt ngang bà Baker.

Khuôn mặt của bà Baker trở nên trắng bệch như xác chết. Tôi bật dậy để giữ cho bà ấy ngồi vững trong khi Holmes vào lấy một ít rượu brandy. Bà ấy chưa ngất hẳn, mùi rượu mạnh khiến bà tỉnh lại. Khi chúng tôi ngồi trở lại ghế, trông bà ấy vẫn còn rất nhợt nhạt và run rẩy.

“Ông Holmes, sao ông biết được điều đó?”

“Quý bà tốt bụng của tôi ơi, chính bà đã nói lên điều đó đấy thôi!” Nhìn bà ấy có vẻ hoang mang, Holmes kiên nhẫn nói tiếp: “Bà đã nói với tôi rằng bệnh tình của chồng bà thường tương ứng với những đêm quang đãng, khi những tín hiệu có thể nhìn thấy từ hàng dặm. Bà còn nói rằng ông ấy lúc nào cũng muốn ở một mình vào những hôm như vậy. Sự xúc động của bà càng chỉ rõ rằng bà đang bị giằng xé giữa việc tìm ra sự thật và việc phải đối mặt với chuyện chồng mình là một kẻ phản quốc. Nếu nghi ngờ một người nào đó khác thì bà đã không phải lo lắng như thế này. Nào, bây giờ hãy kể cho chúng tôi nghe về ngôi nhà bà đang ở.”

Bà Baker run run nhấp một hớp brandy rồi tiếp tục. “Chúng tôi có thuê năm người giúp việc ở hẳn trong nhà, còn những người khác thì là người làng làm công nhật. Năm người đó là Terrence Howell, hầu nam của chồng tôi; Sylvia Jacobs, hầu gái của tôi; Sally và Ronald Woods là đầu bếp và cũng là người làm vườn chính; cuối cùng là Ron Athens, người trông coi chuồng ngựa và hai chiếc xe. Terrence đã hầu hạ chồng tôi từ nhiều năm nay, còn Sylvia, tôi thuê nó cũng tám năm rồi; những người còn lại đến làm khi chúng tôi chuyển về ngôi nhà này.”

Holmes ngồi nhìn chằm chằm vào góc tường đến mấy phút, rồi đột nhiên ông ấy đứng bật dậy.

“Thưa bà, bây giờ bà cứ về nhà đi, chiều nay sẽ có hai người hàng xóm đến gõ cửa nhà bà. Ba giờ chiều nay nhé. Một cuộc viếng thăm đầy bất ngờ, bà hiểu không?”

Bà Baker đứng dậy, nắm chặt cái túi xách.

“Cám ơn ông, ông Holmes, tôi hy vọng rằng...” Bà ấy nhìn xuống. “Nếu những điều tôi lo sợ là chính xác thì... tôi đã lấy một kẻ phản quốc. Còn như tôi sai, tôi sẽ cảm thấy vô cùng có lỗi với ý nghĩ bội bạc lại người chồng của mình. Sẽ không có thắng thua nào ở đây cả, đơn giản chỉ là bổn phận, ông Holmes!”

Holmes nhẹ nhàng cầm lấy đôi tay của bà Baker. Bà ấy ngẩng lên và Holmes mỉm cười trước sự biết ơn chân thành hiện lên trong đôi mắt của bà ấy.

“Thưa bà, không có sự bội bạc nào trong sự thật cả. Có thể điều đó sẽ khiến bà đau khổ, nhưng đối diện một cách thẳng thắn với sự thật cũng là một cách sống cao thượng nhất của con người.” Đôi khi Holmes có những đồng cảm đáng ngạc nhiên, những lời nói của ông ấy dường như đã tác động tích cực đến bà Baker. Bà ấy cười thiểu não, vỗ nhẹ vào tay ông ấy, rồi rời khỏi.

Holmes và tôi tiếp tục tiến hành các thí nghiệm, đến khoảng hai giờ thì chúng tôi rời khỏi nhà, vẫn mở toang cửa sổ và cửa chính, để đến khu trang viên. Chúng tôi tiếp cận nó ngẫu nhiên bằng cách đi tắt qua những cánh đồng chứ không đi dọc đường cái, đồng thời quan sát kỹ lưỡng không gian xung quanh khi đi bộ lên quả đồi hướng về phía ngôi nhà.

Ở một đầu nhà tọa lạc một tòa tháp cao vuông vắn - trông nó như một phần thêm vào ngu ngốc, cố gắng bắt chước một cách lệch lạc kiến trúc nguyên bản của người Norman1, và chẳng cân xứng gì với phần còn lại cuối cùng và vững chãi của căn nhà. Tôi nói điều này với Holmes.

“Đúng vậy, người xây dựng khu nhà này chắc hẳn có khát khao được nhìn ra biển,” ông ấy đáp. “Ta tin rằng nếu kiểm tra kỹ tấm bản đồ địa hình nơi này, chúng ta sẽ thấy được sự tương quan giữa tòa tháp và những khoảng trống ở ngọn đồi đằng kia.”

[1]

“Đúng là như vậy!”

“Mà này, cháu vừa đi đâu khi ta buộc lại dây giày vậy?”

“Cháu xem những tấm bản đồ của ông. Cháu không biết về nơi này nhiều bằng ông mà.”

“Chúng ta có thể giả định rằng những căn phòng phía trên cao của tòa tháp này là của Richard Baker. Hãy làm như vô tình, như những người láng giềng tình cờ đi qua cửa nhé. Nào, Russell, chúng ta đi gặp quý ông Baker đáng kính thôi!”

Ông ấy gọi to: “Xin chào, có ai trong nhà không?”

Ngay lập tức có hai chuyện lạ lùng xảy ra. Một quý ông đứng tuổi bật dậy từ chiếc ghế đang ngồi, quay lưng lại phía chúng tôi rồi xua xua tay trong không khí, hét lên một cách khó hiểu. Holmes và tôi nhìn nhau rồi ngay lập tức nhận ra lý do vì sao. Một đàn phải đến bốn mươi con chó đang thi nhau cào bới chực xông ra và sủa inh ỏi về phía chúng tôi. Một biển đủ màu sắc ùa ra vây quanh quý ông đó phớt lờ tiếng quát và những cái xua tay điên cuồng của ông. Holmes và tôi bước thật nhẹ ra xa nhau, tay nắm chắc cây gậy chống đường to tướng mà chúng tôi luôn mang theo trong những dịp đi xa như thế này, nhưng bầy chó không cắn chúng tôi mà chỉ vầy quanh, sủa ầm ĩ và điên dại. Người đàn ông quát to hơn, nhưng sự xuất hiện của ông ta hoàn toàn chẳng có tác dụng gì. Tuy nhiên, một người đàn ông khác xuất hiện, theo ngay sau là một người thứ ba, anh ta xông vào giữa biển chó, tóm lấy gáy chúng, kéo đuôi và túm chắc lông của chúng. Những tiếng sủa dần dần lắng xuống, và sự trật tự từ từ trở lại. Hoàn thành xong nhiệm vụ của mình, bầy chó con đứng con ngồi một cách vui vẻ, đợi chờ những trò vui khác, lưỡi thè ra, tai ve vẩy. Đúng lúc đó thì bà Baker từ trong nhà đi ra, tức thì những con chó và chồng bà ấy đều hướng về phía bà ấy.

“Em yêu,” ông ta nói bằng một giọng nhỏ nhẹ, "những con chó này thực sự phải được dạy bảo thêm.”

Bà Baker lạnh lùng nhìn bầy chó và quát chúng: “Thật đáng xấu hổ. Đây là cách chúng mày đối xử với những người hàng xóm của ta đấy à? Chúng mày phải biết lịch sự hơn chứ?”

Lời nói của bà hiệu quả ngay tức thời. Những cái mõm tự nhiên im bặt, đầu cúi xuống, tai cụp cả vào. Chúng luống cuống nhìn bà chủ rồi quay ra nhìn chúng tôi, vẻ đầy hối lỗi, sau đó len lén rút lui. Tôi nhận thấy bầy chó chỉ có mười bảy con, bao gồm từ hai con chó Yorkshire nhỏ bé cho tới một con chó săn sói to lớn, loại chó mà có thể nặng đến hơn bảy mươi kilôgam. Bà Baker đứng chống nạnh cho đến khi con chó cuối cùng đi khuất vào vườn sau rồi quay về phía chúng tôi, lắc đầu.

“Tôi rất xin lỗi về điều này. Chúng tôi chẳng có mấy khách đến chơi, bọn chúng... tôi e là... chỉ hơi quá khích một chút thôi.”

“Hãy mặc kệ cho chúng sủa, vì Chúa đã trao cho chúng bản năng như vậy,” Holmes đưa ra một lời nhận xét văn hoa đáng ngạc nhiên. “Ồ, tôi xin lỗi, đáng lẽ chúng tôi không nên đến mà không báo trước như thế này. Tên tôi là Holmes, còn đây là Mary Russell.”

Tôi đang đi dạo và chợt thấy ngôi nhà xinh đẹp của bà, chúng tôi chỉ đến gần để được nhìn rõ hơn. Chúng tôi sẽ không làm phiền bà thêm nữa.”

“Ô không, không,” bà Baker nói trước khi ông chồng kịp lên tiếng. “Hai người nhất định phải vào đây để dùng một ít đồ uống. Một ly sherry, hoặc một tách trà, ồ đúng rồi, sẽ không quá sớm khi chúng ta dùng trà chứ? Chúng ta là hàng xóm mà! Tôi đã từng gặp ông trên đường. Tôi là Baker, còn đây là chồng tôi.” Nói rồi bà quay sang hai người đàn ông kia. “Cám ơn, Ron, bầy chó đã yên rồi. Terrence, nhờ cậu nói với bà Woods rằng chúng tôi muốn uống trà ngay bây giờ, có bốn người nhé. Trong vài phút nữa chúng tôi sẽ có mặt ở khu nhà kính. Cám ơn cậu.”

“Bà thật tốt bụng, bà Baker. Tôi chắc rằng cô Russell đây cũng đang muốn uống chút gì đó, giống tôi, sau một chặng đường đi bộ.” Holmes quay sang người đàn ông đang trìu mến đứng nhìn vợ mình khi bà ấy giải quyết chuyện bầy chó, những người khách và những người đàn ông. “Thưa ông Baker, đây đúng là căn nhà đẹp nhất mà tôi từng nhìn thấy. Đá Portland phải không ạ? Từ đầu thế kỷ mười tám, đúng không thưa ông?”

Holmes rõ ràng đang rất hào hứng dẫn dắt câu chuyện liên quan đến những phần móng nhà rạn nứt, những con bọ gỗ cánh cứng, cửa sổ lợp chì, chi phí than đá, và cả những khó khăn của những người đi giao hàng... Sau bữa trà thân mật, chúng tôi được mời đi dạo, và Holmes, một người say mê kiến trúc nghiệp dư, lại lái cuộc nói chuyện về chủ đề tòa tháp. Chúng tôi trèo lên những bậc thang gỗ hẹp trong khi ông Baker chui vào cái thang máy nhỏ xíu ngột ngạt. Chúng tôi gặp nhau trên đỉnh tháp.

“Tôi đã luôn mong muốn có được một tòa tháp ngà.” Ông ấy mỉm cười. “Đó là lý do tại sao tôi lại mua khu đất này, cũng chỉ vì cái tháp. Thang máy là một sự lãng phí, nhưng tôi luôn gặp phiền phức khi trèo lên các bậc thang. Phòng tôi ở ngay đây. Các bạn có muốn ngắm nhìn quang cảnh từ phòng tôi không?”

Quả thực điểm nhìn rất bao quát, trải dài từ phương Bắc này đến tận phương Nam xa xôi. Ngắm nhìn cảnh vật thêm một lần nữa rồi chúng tôi quay lại cầu thang, bỗng Holmes đột ngột dừng lại và đi về phía cái thang bộ dựa sát bức tường cuối hành lang.

“Tôi hy vọng là bà không cảm thấy phiền, thưa bà Baker, nhưng tôi muốn nhìn thấy đỉnh của tòa tháp tráng lệ này. Ta sẽ lên đó một lát, Russell. Hãy chú ý đến cái cửa lật thông minh này nhé.” Tiếng của ông ấy nhỏ dần và dội lại ngay khi bàn chân ông ấy mất dạng.

“Nhưng, ông Holmes à, trên đó không an toàn đâu,” ông Baker phản đối. Rồi ông ấy quay sang nói với tôi. “Tôi không thể hiểu được nguyên nhân mà cái cửa lại không khóa như thế này. Tôi đã bảo Ron là phải có một cái khóa móc. Cách đây ba năm tôi đã từng trèo lên đó, và thật sự là tôi chẳng thấy thích thú tẹo nào.”

“Ông Holmes sẽ rất cẩn thận, thưa ông Baker, và tôi chắc chắn rằng ông ấy chỉ lên trên đó một lát thôi. A kìa, ông ấy quay trở lại rồi.” Đôi chân dài của Holmes xuất hiện trở lại trên nấc thang cao nhất, ánh mắt đầy vẻ bí ẩn khi ông ấy háo hức tiến về phía chúng tôi.

“Cám ơn ông, thưa ông Baker. Ông sở hữu một tòa tháp thật tuyệt vời! Bây giờ ông có thể kể cho tôi nghe về những bức họa nguyên thủy mà ông treo trong đại sảnh tầng một được không? Của người New Guinea đúng không nhỉ? Chắc là của những thổ dân sống bên bờ sông Sepik?”

Ông Baker hoàn toàn bị rối trí và phải bám vào cánh tay Holmes mới chậm chạp bước xuống được các bậc thang, vừa đi vừa kể về những chuyến hành trình của mình tới những vùng đất hoang dã trên thế giới. Chúng tôi cùng chiêm ngưỡng và trầm trồ trước những cổ vật bằng đồng tuyệt đẹp của người dân châu Phi, một chiếc didgeridoo1 của thổ dân châu Úc, ba chiếc răng nanh hải mã được khắc chạm của người Esquimo, và một bức tượng bằng vàng cực kỳ tinh xảo của người Inca. Khoảng một giờ sau, tôi và Holmes tạm biệt ông bà Baker ra về. Ông bà Baker đứng nhìn theo chúng tôi ra tận cổng. Đột nhiên Holmes quay lại và đi thật nhanh về phía họ.

“Tôi phải trực tiếp cám ơn người đầu bếp về bữa trà tuyệt vời mà bà ấy đã dành cho chúng tôi. Liệu bà ấy có chỉ cho cô Russell đây công thức làm món bánh màu

[2]

hồng nhỏ xinh đó không nhỉ? Nhà bếp ở ngay dưới này, tôi đoán có đúng không?”

Tôi đáp lại những cái nhìn hoảng hốt từ phía ông bà Baker bằng một cái nhún vai đầy ý nghĩa, để lưu ý với họ rằng tôi không thể chịu trách nhiệm về những hành động kỳ cục của Holmes. Tôi cúi đầu chạy theo ngay sau Holmes và thấy ông ấy đang bắt tay một người phụ nữ nhỏ bé có mái tóc màu xám và đôi má hồng hào đang ngơ ngác. Holmes cảm ơn bà ấy hết lời.

“Cám ơn bà, bà là bà Woods đúng không ạ? Cô Russell đây và tôi vừa được thưởng thức những tách trà ngon tuyệt của bà, chúng giúp chúng tôi hồi phục lại tinh thần sau khi bị một bầy chó hung dữ đe dọa. Chúng đông quá cơ, bà có phải chăm sóc chúng không vậy? À, vâng, việc đó đàn ông làm thì sẽ tốt hơn. Mà, chúng chắc phải ăn rất nhiều, hẳn là bà luôn phải chuẩn bị thức ăn cho chúng, đúng không thưa bà Woods?”

Bà Woods đáp lại những câu bông đùa của Holmes bằng tiếng cười khúc khích như thể bà còn là một cô thiếu nữ.

“Ô vâng, thưa ngài, rõ là chúng luôn khiến những người bán thịt trong thị trấn bận rộn. Sáng nay chẳng hạn, cả ba chúng tôi đều phải đi khuân thịt từ các cửa hàng thịt về - chỉ tính mỗi xương thôi mà cũng phải đến gần chục ký đấy.”

“Đàn chó ăn nhiều xương quá nhỉ.” Tôi thắc mắc không biết những chuyện này sẽ đi đến đâu, nhưng có vẻ Holmes hoàn toàn ý thức được những điều mình đang làm.

“Vâng, cảm ơn bà thêm lần nữa, thưa bà Woods, và bà đừng quên cô Russell đang rất muốn học bí quyết làm bánh của bà đấy.”

Bà ấy đứng ở cửa nhà bếp và vui vẻ vẫy chào tạm biệt chúng tôi. Bầy chó cũng ở đó, nằm lăn lộn trên những bãi cỏ và hoàn toàn không để ý gì đến chúng tôi nữa. Chúng tôi đi vòng quanh căn nhà rồi sải bước ra đường lớn.

“Holmes à, chuyện về những cái bánh là thế nào vậy? Ông thừa hiểu là cháu không hề biết gì về việc làm bánh mà. Hay ông cho rằng chất độc là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật của ông Baker?”

“Chỉ đơn thuần là một mánh khóe của ta thôi, Russell ạ.” Tôi quan sát nét mặt người bạn đồng hành của mình và cảm thấy ông ấy đang rất hài lòng chứ không hề có chút thủ đoạn mánh khóe nào.

“Cháu xin lỗi, nhưng Holmes à, chúng ta đang tìm kiếm điều gì vậy? Ông đã nhìn thấy gì ở trên đỉnh tháp phải không?”

“Ô, Russell, người xin lỗi phải là ta mới đúng. Tất nhiên là cháu chưa hiểu được vấn đề. Nếu cháu lên đỉnh tháp, cháu cũng sẽ tìm thấy thứ này như ta thôi,” ông ấy nói và đưa ra một mảnh gỗ nhỏ màu đen, “và còn một nửa tá đầu mẩu thuốc lá nữa, đó là điều chúng ta cần phải xem xét khi trở về nhà.”

Tôi xem xét mẩu gỗ nhỏ, nhưng chẳng thấy nó nói lên điều gì cả. “Ông có thể gợi ý cho cháu một chút không, Holmes?”

“Russell, đừng làm ta thất vọng. Nó khá đơn giản mà. Hãy suy nghĩ kỹ nhé: một mẩu gỗ trên đỉnh một tòa tháp chẳng mấy khi có người lên; ngày đi chợ; những đống xương cho chó; những bức họa của thổ dân sông Sepik; không có chất độc nào; và những cánh rừng con đường này cắt ngang ngay phía trước chúng ta.”

Tôi đứng bất động, bộ óc tôi làm việc hết công suất trong khi Holmes đứng dựa mình vào cây gậy và nhìn tôi vẻ thích thú. Những miếng gỗ mỏng... một ai đó ở trên đỉnh tháp... chúng tôi biết điều đó, tại sao lại là... ngày đi chợ... một ngày đi chợ được tính trước... với những đống xương lớn cho bầy chó... trong khi đường dây điện thoại lại chạy dọc con đường... Tôi nhìn lên, và cảm thấy xấu hổ.

“Có phải ông định nói với cháu rằng người hầu nam của ông Baker đã làm những chuyện này?”

“Ta e là như vậy. Chúng ta sẽ vào rừng tìm những mẩu xương còn sót lại chứ, Russell?”

Holmes và tôi phải loay hoay mất đến mười phút mới tìm thấy khoảng đất trống nhỏ có những mẩu xương rải rác. Người chủ hàng thịt đã đóng góp cho thực đơn thường ngày của bầy chó đến vài tháng nay, chúng tôi phán đoán điều đó qua những mẩu xương khô sạm. Gần đó có mấy cột điện thoại, Holmes và tôi lập tức đến kiểm tra. Trong nháy mắt Holmes đã thốt lên những tiếng nho nhỏ.

“Đầy rồi, Russell à.” Tôi chạy đến chỗ ông ấy và nhìn thấy những đôi giày đinh rõ rành rành, thường dùng và còn khá mới.

“Nhưng cháu không hề nhìn thấy dấu vết đinh nào hay biểu hiện của sự leo trèo nào trên giày của ông ta, ông có thấy không?” Tôi vừa hỏi vừa cúi gập người tháo đôi giày nặng trịch của mình ra để chuẩn bị trèo lên cây cột điện thoại.

“Không, nhưng ta chắc chắn rằng nếu kiểm tra phòng ông ta, chúng ta sẽ tìm thấy một đôi giày có vết cào xước bất thường.”

“Rồi, cháu đã sẵn sàng trèo lên. Hãy đỡ lấy cháu nếu cháu ngã nhé.” Với sự trợ giúp của chiếc dây lưng đầy sáng tạo mà Holmes đưa cho tôi để giữ an toàn, tôi đặt đôi chân trần của mình thật vững chãi lên trên mặt gỗ gồ ghề và bắt đầu chầm chậm trèo lên từng bước: bước, bước, di chuyển dây lưng, bước, bước, di chuyển... Tôi trèo lên đến đỉnh mà không gặp một chút rủi ro nào. Giữ cho bản thân ở tư thế an toàn, tôi kiểm tra các đường dây gắn ở đầu cột. Các dấu vết đã quá rõ ràng.

“Ở đây có dấu hiệu một đường dây bị mắc rẽ để nghe trộm,” tôi gọi Holmes. “Ai đó đã ở đây vài ngày trước, vì nút công tắc đã mất đi lớp bụi. Chúng ta sẽ quay về nhà để lấy bộ đồ lấy dấu tay chứ ạ? Tôi trườn xuống và đưa trả Holmes chiếc dây lưng. Holmes nhăn nhó nhìn vào cái móc khóa bị uốn cong. “Có lẽ cháu nên dùng một bộ dây chắc chắn hơn.” Tôi nói thêm.

“Ta nghĩ nếu tình hình thời tiết này cứ kéo dài, chúng ta sẽ có khả năng bắt quả tang được bọn chúng, không phải tối nay thì sẽ là ngày mai. Nhớ nhắc ta gọi điện cho bà chủ nhà tốt bụng, để ta cảm ơn bà ấy và cũng để hỏi thăm tình hình sức khỏe của chồng bà ấy nữa nhé.”

Mặt trời xuống núi khi chúng tôi trở về nhà, không khí bây giờ đã có vẻ dễ chịu hơn. Holmes hút xong điếu thuốc rồi bỏ vào phòng thí nghiệm trong khi tôi tìm được vài món ăn mà bà Hudson đã để phần cho chúng tôi trong tủ lạnh, rồi pha cà phê uống. Chúng tôi vừa ăn vừa khom người trên kính hiển vi, nhưng những dấu tay trơn mờ in trên các bản kính khiến chúng tôi chẳng quan sát được gì cả. Cuối cùng, Holmes ngồi xuống.

“Những điếu thuốc lá này là của một người buôn thuốc lá nhỏ ở vùng Portsmouth. Ta tin là cảnh sát ở đó có thể cho chúng ta biết một vài thông tin. Nhưng trước hết phải gọi cho bà Baker đã.

Người trả lời điện thoại, không ai khác, chính là bà Baker. Holmes cảm ơn lòng hiếu khách của bà ấy thêm một lần nữa, và tôi chắc chắn những phản ứng tinh tế của Holmes trong cuộc điện thoại nói lên rằng bà ấy không chỉ ở đó một mình.

“Thưa bà Baker, tôi cũng muốn cảm ơn ông nhà nữa. Ông ấy có ở đó không? Không à? Ồ, tôi thật sự rất tiếc, nhưng bà biết không, có vẻ như chiều nay ông ấy không được khỏe cho lắm. Tôi rất tò mò, nhưng ông nhà có hút thuốc lá không, thưa bà? Vâng, tôi cũng nghĩ là không. Ồ, không có gì đâu thưa bà. Bà Baker, bà hãy nghe tôi nói đây. Tôi tin rằng ông nhà sẽ ổn, bà hiểu ý tôi chứ? Sẽ ổn. Vâng, chúc bà ngủ ngon, và cảm ơn bà lần nữa.”

Đôi mắt Holmes đột nhiên rực sáng khi ông ấy cúp máy.

“Vậy là tối nay, đúng không Holmes?”

Đúng. Ông Baker vừa lui vào phòng để người hầu nam chăm sóc. Sao cháu không nghỉ ngơi một lát đi, Russell? Ta sẽ gọi điện thoại cho những người chịu trách nhiệm về chuyện này, chúng ta có ít nhất hai giờ đồng hồ trước khi hành động.”

Tôi làm theo lời ông ấy, và dù tâm trạng đang vô cùng phấn khích, tôi vẫn ngoan ngoãn bước vào phòng để nghỉ ngơi. Chỉ một lát sau, tôi đã bị đánh thức bởi tiếng bánh xe lăn lạo xạo trên đường, tôi bèn xuống nhà và thấy Holmes trong phòng khách cùng với hai người đàn ông nữa.

“Tốt, Russell, hãy chuẩn bị đi, đừng quên cái áo choàng ấm nhất của cháu nhé, chúng ta chỉ còn ít thời gian thôi. Ồ, để ta giới thiệu, đây là ông Jones và đây là ông Smith, vì vấn đề nhỏ của chúng ta mà họ phải từ London về đây. Thưa hai quý ông, đây là cô Russell, trợ thủ đắc lực của tôi. Chúng ta đi thôi nhỉ?” Holmes khoác lên vai một chiếc ba lô nhỏ và kéo cái mũ vải xuống đầu, rồi chúng tôi lên đường.

Phải đi bộ mất ba dặm mới tới ngôi nhà trong khu trang viên, chúng tôi lặng lẽ bước dọc theo bờ cỏ. Khi tới những hàng cây cao, chúng tôi rời khỏi đường lớn và men theo bìa rừng dẫn xuống khu vườn chính. Ở đó chúng tôi dừng lại và thì thầm với nhau. Một làn gió nhẹ chợt đến xua tan những tiếng thì thầm ấy và mang mùi hương trên cơ thể chúng tôi đi xa khỏi mũi của bầy chó săn đang trú ngụ trong ngôi nhà.

“Từ đây là chúng ta có thể nhìn thấy đỉnh tháp rồi. Mọi người hãy tìm chỗ nấp nhé!”

“Vâng, thưa ông Holmes. Chúng tôi sẽ ổn định vị trí trước mười một giờ. Bây giờ là mười giờ hơn. Chúng tôi đã sẵn sàng.”

Các bóng đèn lần lượt tắt phụt trong căn nhà ngay bên trên chúng tôi, và chúng tôi bước vào một trạng thái đặc biệt: vừa buồn tẻ vừa kích động khi phải chờ đợi trong khoảng thời gian dài bất tận. Khoảng một giờ đêm, tôi cúi xuống thì thầm vào tai Holmes.

“Chắc chắn khi bà Baker nhìn thấy ánh đèn từ phía khu vườn thì không quá muộn như thế này. Lẽ nào lại không phải là tối nay?”

Holmes vẫn ngồi yên lặng, chìm khuất hẳn vào màn đêm và căng thẳng suy nghĩ. “Russell à, cháu có nhìn thấy gì từ cái tháp kia không?”

Tôi căng mắt ra để nhìn tòa tháp tối mù đứng hiên ngang trong bóng đêm đen kịt đến nỗi mắt tôi bắt đầu run lên. Tôi nhìn xa hơn một chút và chợt thấy những dấu hiệu mờ mờ ngay trên bầu trời buổi đêm. Tôi thốt lên một tiếng thật khẽ và Holmes đứng lên ngay lập tức.

“Nhanh lên nào, Russell, trèo lên cây đi. Chúng ta ngồi ở đây mù tịt mọi sự, trong khi đó ông ta ở quá xa, chúng ta không thể nào nhìn thấy. Trèo lên đi, Russell, cháu nhìn thấy gì?”

Khi tôi trèo lên và nhìn về phía tòa tháp thì đột nhiên một tia sáng xuất hiện đằng sau đỉnh tháp, cách mặt đất khoảng bốn mét rưỡi, rọi qua đầu chúng tôi xuống khu đồi thấp và ra ngoài biển.

“Kia rồi.” Tôi trườn xuống nhánh cây, bị trầy da một chút, “ông ta ở trên đó với một cái đèn pin...” Tôi chưa kịp nói hết câu thì thấy họ đã ở cả trên đồi, những ngọn đuốc đung đưa dữ dội trong bóng đêm. Tôi đi sau họ, lao qua cả những luống hoa và vòi phun, rồi đột nhiên ngay phía trước tôi màn đêm như bùng nổ. Mười bảy bộ hàm đồng loạt nhe ra trước những kẻ đang đột nhập vào nhà chúng, chúng sủa dữ dội, những tiếng gầm gừ ớn lạnh như xé tan màn đêm, sau đó, những tiếng quát của mấy người đàn ông trong khu nhà vang lên, rồi tiếng loảng xoảng của mảnh kính vỡ. Tôi nghe thấy tiếng Holmes giục giã những người đi cùng, bầy chó bắt đầu kêu ăng ẳng và tru lên, có hai tiếng người ho và chửi rủa, một tiếng vỡ kính to hơn, rồi đến âm thanh của cánh cửa bị bật tung ra. Các bóng đèn được bật sáng khắp khu nhà, một luồng khí hôi thối xộc vào mũi tôi và tôi có thể thấy bầy chó bỏ chạy về các hướng. Tôi phải nín thở khi bước qua cửa ra vào. Gian bếp chính cùng tòa tháp bên cạnh sáng rực rỡ. Tôi chạy theo hướng đó, nghe thấy những bước chân nặng nề chạy lên cầu thang ngay trên đầu tôi. Rồi những âm thanh ấy và tiếng người nói đột nhiên im bặt, có lẽ Holmes và hai người đồng sự đã ở trên đỉnh tháp.

Một ý nghĩ đột nhiên xuất hiện trong đầu tôi. Khoảng thời gian kể từ khi đàn chó sủa báo động lần đầu tiên đến khi Holmes chạy đến đây là đúng hai mươi giây. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu...? Tôi bèn nín lặng ngồi đợi dưới gầm cầu thang tầng trệt, phòng mọi bất trắc có thể xảy ra. Đột nhiên một tiếng động xuất hiện ngay phía trên cầu thang tôi đang nấp, rồi có tiếng bước chân đi nhanh xuống thật nhẹ. Tôi đặt tay ở tư thế sẵn sàng, rồi nhìn thấy một chiếc giày lạ hoắc thò ra. Tôi cầu mong đó không phải là giày của ông Smith, Johns hoặc bà Baker, rồi chộp lấy nó. Một tiếng hét và một cú ngã đâm sầm xuống dãy bậc thang kế tiếp, tiếp theo là những tiếng kêu la và bước chân chạy rầm rập từ phía trên. Tôi chui ra khỏi chỗ ẩn nấp. Dạ dày tôi cuộn lên khi tôi nhìn thấy Terrence Howell đang nằm sõng soài trên mặt đất. Holmes chạy đến bên tôi và tôi quay sang ông, cánh tay ông vòng qua ôm lấy vai tôi ngay khi có hai người đàn ông chạy vụt qua chúng tôi. Tôi run rẩy.

“Chúa ơi, Holmes, cháu đã giết ông ấy rồi. Cháu không nghĩ ông ấy lại ngã đau như thế này, ôi Chúa ơi, cháu đã làm gì thế này?” Tôi vẫn cảm nhận được bề mặt của chiếc giày da cọ xát vào từng ngón tay mình và nhìn thấy những bước chân hỗn loạn thoáng hiện qua những bậc cầu thang. Một giọng nói cất lên ngay chỗ chúng tôi đứng.

“Hãy gọi bác sĩ, làm ơn, thưa bà Baker. Ông ấy bị đập đầu khá mạnh xuống nền đất và có thể bị gãy vài cái xương, nhưng chắc chắn ông ấy còn sống.”

Một tia hy vọng êm đềm len lỏi trong tôi, ngay lập tức tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn.

“Cháu cần phải ngồi nghỉ một lát, Holmes à.”

Holmes kéo tôi ngồi xuống bậc đầu tiên của cầu thang rồi đẩy nhẹ đầu tôi gục xuống hai đầu gối. Sau đó ông ấy để cái ba lô xuống ngay cạnh tôi, và tôi mơ hồ nhìn ông ấy lôi ra từ trong ba lô một cái chai nhỏ. Tiếng “bốp” mở nút chai vang lên, và cái mùi nồng nặc khó chịu của thí nghiệm sáng nay xộc thẳng lên mũi tôi. Tôi giật mình lùi lại, và đầu tôi đụng cộp một cái đau điếng vào bức tường đá phía sau. Nước mắt giàn giụa, và tôi choáng váng. Holmes nhìn tôi đầy lo lắng.

“Cháu ổn chứ, Russell?"

Tôi cảm giác đầu mình ong ong.

“Vâng, cháu không thể chịu nổi cái thứ muối hóa học bốc mùi của ông, Holmes ạ. Cháu thấy chẳng hay ho tí nào khi làm cho người khác hồi tỉnh lại đột ngột bằng cách ấy, mặc dù thứ muối đó là một thứ vũ khí hữu ích để chống lại bầy chó.” Tôi lườm ông ấy, và nét mặt mỉa mai thường thấy lại xuất hiện.

“Khi cháu đã thấy ổn trở lại, Russell, chúng ta nên đi hỏi thăm ông Baker một chút.”

Holmes nắm lấy tay tôi, kéo tôi đứng lên, và chúng tôi bước thật chậm về phía căn phòng của ông Baker. Một mùi ẩm mốc của mồ hôi và bệnh tật bốc lên ngay khi chúng tôi đến cửa phòng ông ấy, và dưới ánh sáng, nước da xanh xao đẫm mồ hôi cùng đôi mắt đờ đẫn của người bị sốt cao hiện ra.

“Hãy lau mặt cho ông ấy, Russell, trước khi bà Baker xuất hiện. Ta sẽ vào phòng của Howell để xem có tìm được thứ gì ở đó không. Ah, bà đây rồi, bà Baker. Chồng bà đang cần bà chăm sóc. Đi với ta nào, Russell." Ông ấy lờ đi những câu hỏi nôn nóng của bà Baker.

“Ông đang tìm cái gì thế?” Tôi theo sau ông ấy và hỏi.

“Một gói bột nhỏ hay một cái chai đựng chất lỏng, một trong hai thứ đó. Ta sẽ bắt đầu với cái tủ quần áo, còn cháu thì tìm trong nhà tắm nhé.” Phòng ngủ chẳng mấy chốc đầy những tiếng lầm bẩm của Holmes và quần áo vứt ngổn ngang, còn phòng tắm thì sực nức mùi thơm khi tôi mở từng lọ một trong hàng đống những lọ nước hoa, dầu thơm bôi sau khi cạo râu, những bánh xà bông tắm.... Cái mũi tội nghiệp của tôi sắp bị nghẹt đến nơi thì cuối cùng tôi cũng tìm được một cái lọ có mùi hơi lạ. Tôi mang nó sang phòng bên nơi Holmes đang ngập sâu trong đống quần áo bừa bộn, ga trải giường, khăn, và những cái ngăn kéo vẫn còn mở tung.

“Holmes à, ông đã tìm được gì chưa?”

“Những điếu thuốc lá từ cửa hiệu Fraser của vùng Portsmouth, đôi giày ống có những vết xước nơi đầu mũi. Cháu có cái gì vậy?”

“Cháu không biết nữa. Mũi cháu không thể ngửi thêm bất cứ thứ gì. Cái mùi này có giống mùi nước hoa không ạ?” Holmes ngửi thật nhanh cái lọ rồi vội ra khỏi căn phòng ngập toàn đồ đạc.

“Cháu đã tìm ra nó, Russell. Bây giờ thì phải tính xem nên cho ông ấy uống nhiều hay ít.” Holmes chạy ra cầu thang và ngó đầu xuống. “Johns, ông ta đã dậy chưa?”

“Chưa thấy gì cả. Có thể phải đợi lâu đấy.”

“Vậy thì,” Holmes nói với tôi, “chúng ta sẽ phải làm thí nghiệm. Bà Baker!” Bà Baker ngước lên ngay khi chúng tôi bước vào căn phòng, trên tay bà ấy là đống quần áo ướt. “Bà Baker, bà có cái thìa nhỏ nào không? Vâng, đúng rồi đấy. Russell à, cháu đổ nhé. Tay cháu có thể đổ đều hơn ta. Bắt đầu là hai giọt. Cứ hai mươi phút lại đổ một lần như vậy, cho đến khi có kết quả. Hãy đổ nhanh vào các kẽ răng của ông ấy, đúng rồi. Có lẽ ông ấy cần chút nước lọc. Được rồi, tốt, bây giờ thì chúng ta chờ đợi.”

“Ông Holmes, đó là cái gì vậy?”

“Đó là thuốc giải độc cho chất độc đang nhiễm vào cơ thể của chồng bà. Có vẻ nó khá đặc, và tôi không muốn làm hại ông nhà bằng cách cho ông ấy uống quá nhiều và quá nhanh thứ thuốc này. Có thể ông ấy sẽ phải uống nó cả đời, nhưng ông ấy sẽ không bị ốm thêm một lần nào nữa.”

“Nhưng, thưa ông, ông đã từng nói với tôi là chồng tôi không hề bị đầu độc. Nếu sự thật đúng như vậy thì tôi không thể chịu nổi, thưa ông Holmes.”

“Ô không, ông ấy không hề bị đầu độc chút nào trong hơn một năm qua. Nhưng, bà kể với tôi rằng người đầy tớ nam đã chăm sóc ông nhà trong một thời gian dài, đúng không? Có bao gồm cả thời gian ông nhà ở New Guinea không, thưa bà?”

“Vâng. Tại sao ông lại hỏi thế?”

“Thưa bà, một trong những sở thích của tôi là tìm hiểu về các loại độc dược. Có vài loại độc dược cực hiếm, một khi chúng đã nhiễm vào người thì chúng sẽ đọng lại mãi mãi trong hệ thống thần kinh. Chúng ta không bao giờ đẩy được chúng ra khỏi cơ thể, nhưng có thể ngăn chặn được chúng khá hiệu quả nếu uống thuốc giải đều đặn. Một trong những loại độc dược như thế rất phổ biến với một bộ tộc cư trú bên bờ sông Sepik thuộc đảo New Guinea. Tình cờ và thú vị làm sao, loại thuốc giải được

chất độc này lại được chiết xuất từ một loại cây chỉ mọc ở vùng đất đó. Rõ ràng, trong khi ông chủ ở đó thì tên hầu đã thực hiện thí nghiệm của hắn ta ngay bên cạnh. Tôi cho rằng cuối cùng hắn sẽ phải nói cho chúng ta biết tại sao hắn lại trở thành kẻ phản bội và tận dụng thứ độc dược này từ năm ngoái. Ông chủ thường gọi điện thoại vào những ngày có phiên chợ, đúng không thưa bà?”

“Vâng, đúng, thưa ông, nhưng sao ông lại biết được điều này? Ron luôn là người lái chiếc xe đưa bà Woods vào thị trấn, còn Howell...”

“Còn Howell sẽ dẫn bầy chó đi dạo, đúng không?”

“Vâng, bằng cách nào mà ông...”

“Hắn cùng bầy chó sẽ đi xuống khu rừng; rồi trèo lên cột điện thoại và nghe trộm những cuộc trò chuyện của ông chủ , trong khi đó bầy chó thi nhau gặm đống xương hắn ném ra. Vào đêm nào đó tiếp theo, khi bầu trời quang đãng, hắn sẽ cố tình quên không cho ông chủ uống thuốc giải độc, rồi trườn lên mái nhà để báo những thông tin bí mật cho những kẻ đồng mưu bên bờ biển. À, tôi nghĩ là thuốc bắt đầu có tác dụng rồi đấy.”

Cặp mắt trên khuôn mặt nhợt nhạt của ông Baker sửng sốt nhìn chúng tôi, rồi quay sang bà Baker.

“Em yêu à,” ông ấy thều thào, “những người này đang làm gì ở đây vậy?”

“Russell này,” Holmes nói thật khẽ, “ta nghĩ chúng ta nên cân nhắc xem liệu có nên giúp đỡ hai ông bạn tốt bụng áp tải gã Howell đến đồn cảnh sát không nhỉ? Bà Baker, tôi có một đề nghị nhỏ là bà hãy để mắt đến cái lọ này thật cẩn thận cho đến khi nó được phân tích và được sao thành hai bản. Chúc bà ngủ ngon.”

Những người phục vụ cho công tác cứu thương đang làm việc một cách lóng ngóng trên những bậc thang hẹp. Johns đang đứng trước cửa đợi để đưa họ ra ngoài. Một thứ tạp âm quen thuộc vang lên từ ngoài cửa. Holmes lấy trong ba lô ra cái lọ nhỏ lúc nãy, nhưng tôi đã kịp ngăn ông ấy lại.

“Hãy để cháu thử trước,” tôi hắng giọng, đứng thẳng người hết cỡ (tôi cao hơn một mét tám nếu tính cả giày ), rồi mở cửa và đối mặt với bầy chó. Tôi chống nạnh nhìn chúng một cách giận dữ.

“Thật đáng xấu hổ!” Mười bảy con chó với mười bảy hàm răng từ từ ngậm miệng lại, ba mươi tư con mắt nhìn dán vào tôi. “Thật đáng xấu hổ, tất cả chúng mày! Đó là cách mà chúng mày đối xử với mật vụ của Đức Vua đấy à? Chúng mày đang nghĩ cái quái gì thế?” Mười bảy con chó nhìn nhau, nhìn tôi, và nhìn người đàn ông đứng ở ngay cửa ra vào. Con chó săn sói là con đầu tiên vẫy đuôi rồi lẩn vào bóng tối, con chó nòi Yorkie có vẻ chán nản đi cuối cùng, và rồi tất cả bọn chúng đều đi khỏi.

“Russell, cháu có những năng lực tiềm ẩn đấy,” Holmes nói thầm ngay bên cạnh tôi. “Hãy nhắc ta gọi cháu bất cứ khi nào cần đối phó với những con thú dữ tợn nhé!”

Chúng tôi nhìn thấy gã hầu bội bạc và những người áp tải gã đi bộ xuống con đường lớn tối om ngay dưới đường dây điện thoại. Và chúng tôi lại cùng nhau trò chuyện về đủ vấn đề trên suốt đường về nhà.

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] 1 Người Norman thuộc xứ Normandie, bắt nguồn là dân cướp biển Viking, họ từ phía Bắc tới định cư ở Pháp từ thế kỷ IX.

[2] 1 Đây là một loại nhạc cụ được cho là có nguồn gốc từ các bộ lạc thổ dân Yolngu ở vùng Arnhem, Bắc Úc, xuất hiện vào khoảng hơn hai nghìn năm trước đây, nó được làm từ một ống cây dài được mối đục rỗng một cách tự nhiên, tùy theo kích thước phù hợp mà chọn làm nhạc cụ.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurie r. king