Người tình của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 4820 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
img

Cái thứ nhỏ nhặt và tệ hại còn tốt hơn là cái thứ không hề tồn tại.

Những ngày còn lại của kỳ nghỉ xuân trôi qua bình lặng, và tôi trở lại Oxford trong niềm hứng khởi căng tràn trước sự ngỡ ngàng của bác Pattrick. (Có lẽ tôi nên kể thêm rằng sau vụ phục kích đêm hôm nọ, chúng tôi còn bắt được hơn chục tên gián điệp Đức nữa, và rằng ông Baker đã khỏe dần, còn bà Baker thì khá rộng rãi trong việc thanh toán tiền công cho chúng tôi.)

Bác Thomas có vẻ rất vui mừng khi tôi trở về phòng trọ, còn tôi thì sung sướng vì được quay lại với hai môn Toán học và Thần học của mình. Tôi còn quyết tâm tập thể dục thường xuyên hơn: đi bộ lên những vùng đồi quanh thành phố (với một quyển sách trên tay, tất nhiên rồi), và khi năm học kết thúc vào tháng Sáu thì tôi thấy mình chẳng còn mệt mỏi đến mức kiệt quệ như xưa nữa.

Mùa xuân và mùa hè năm 1918 là khoảng thời gian có những xúc cảm mạnh mẽ cùng những biến động dữ dội xảy đến với đất nước, cũng như với một cô gái chưa tốt nghiệp như tôi. Vua Đức mở cuộc tấn công ồ ạt cuối cùng vào phe Đồng Minh, những khuôn mặt ảm đạm quanh tôi thắt lại vì nghèo đói. Chúng tôi chẳng ngủ yên giấc sau màn cửa tối om không chút ánh đèn. Sau đó, thật kỳ diệu, người Mỹ ồ ạt tiếp viện quân lính, vũ khí cùng các nhu yếu phẩm cho quân Đồng Minh, khiến cuộc tấn công của quân Đức bị chững lại. Ngay cả cuộc không kích đẫm máu với quy mô lớn vào London hồi tháng Năm cũng không làm thay đổi niềm tin ngày một dâng cao rằng quân Đức Quốc xã sẽ phải chết thảm trên đất nước này, và rằng sau bao nhiêu năm sinh tồn khổ cực, thì giờ đây, những tia sáng của tương lai đã bắt đầu le lói.

Tôi sải bước về nhà vào giữa mùa Hè, khi ấy tôi đã mười tám tuổi rưỡi, khỏe khoắn và tràn trề sức sống. Mùa Hè năm đó tôi bắt đầu quan tâm tới việc quản lý trang trại của mình, tôi hỏi bác Pattrick những câu hỏi đầu tiên về nông cụ và cả những dự định của chúng tôi cho tương lai sau chiến tranh.

Tôi nhận ra sự vắng mặt của tôi khiến Holmes thay đổi. Phải một thời gian sau tôi mới hiểu, có thể ông ấy hơi sửng sốt khi thấy cô bé Mary Russell cao lênh khênh, lóng ngóng ngày nào bỗng vụt trở thành thiếu nữ. Không hẳn là vẻ ngoài của tôi trở nên khác biệt - cơ thể tôi có lớn thêm, nhưng hầu hết chỉ là xương và cơ, chứ không phải là những đường cong, và tôi vẫn mặc những trang phục cũ cũng như vẫn tết tóc thành hai bím. Đó là ở dáng điệu của tôi, cách đi đứng của tôi và cả cái cách mà tôi nhìn vào mắt ông ấy nữa. Tôi bắt đầu nhận thấy sức mạnh của mình và khám phá nó, và tôi nghĩ chính điều này đã khiến ông ấy cảm thấy mình không còn trẻ nữa. Đôi khi ông ấy hơi trầm tư, và tôi thường bắt gặp ánh mắt ông ấy lặng lẽ nhìn tôi khi tôi hoàn thành xong một việc gì đó.

Hè năm đó chúng tôi đến London vài lần để thăm thành phố trong thời chiến, và tôi thấy những bước đi của Holmes có phần khác lạ, như thể chỉ dưới bầu không khí này thì các cơ bắp của ông ấy mới được căng ra và các khớp xương mới được dịp nới lỏng. London từng là nhà của ông ấy, và ông ấy về đây để thư giãn, cũng là để làm mới lại những cảm hứng của bản thân mình. Nếu như mùa hè năm ngoái là một mùa hè đầy nắng và những buổi ngồi chơi cờ cùng nhau dưới bầu trời trong xanh, thì mùa hè năm nay dường như đã có chút đắng trong những ngọt ngào - lần đầu tiên tôi nhận ra ngay cả Holmes cũng sẽ bị giới hạn bởi cái chết.

Cay đắng là một dư vị thường xuất hiện khi những điều ngọt ngào phai nhạt dần theo thời gian, và mùa hè năm đó lại có quá nhiều những điều ngọt ngào. Ngọt ngào hơn cả, là hai vụ án mà chúng tôi đã cùng nhau khám phá.

Tôi nói hai, nhưng vụ việc thứ nhất hầu như không thể coi là một vụ án, vì... nó không hơn một trò bông đùa là mấy. Một buổi sáng tháng Bảy, khi tôi đang đi xuống khu nhà bác Pattrick với một bài báo vừa mới đọc có liên quan đến kỹ thuật phủ rơm đang phổ biến ở Mỹ, tôi nghe thấy bác ấy đang ném vật gì đó đánh rầm trong bếp. Vội vàng lôi cái ấm nước từ tay Pattrick trước khi bác ấy tự làm bị thương mình, tôi trút hết nước nóng lên đống lá và hỏi bác đã xảy ra chuyện gì.

“Ồ, thưa cô Mary, không có gì to tát cả. Chỉ là bà Tillie Whiteneck ở quán trọ dưới kia bị cướp tối qua.” Quán trọ Monk’s Tun nằm trên con đường lớn giữa Eastbourne và Lewes là nơi khá quen thuộc với người dân địa phương và khách du lịch. Và với bác Pattrick nữa.

"BỊ cướp ạ? Bà ấy có bị thương không ạ?”

“Không, giờ ấy ai cũng ngủ cả rồi.” Nạn trộm cướp, luôn là thế. “Chúng đẩy cửa sau vào và lấy đi hộp tiền cùng với vài đồ ăn của bà ấy. Rất nhẹ nhàng - không ai biết cho đến khi sáng hôm sau Tillie xuống bếp bật lò sưởi và phát hiện cửa sau bị mở. Bà ấy lại còn để khá nhiều tiền trong hộp, nhiều hơn mọi khi. Có hai bữa tiệc lớn khiến bà ấy bận rộn đến mức chẳng thể đi gửi tiền vào ngân hàng được.”

Tôi động lòng, đưa cho bác Pattrick bài báo rồi quay về khu nhà chính, vừa đi vừa nghĩ ngợi. Tôi nối máy gọi cho Holmes, rồi trong lúc bà Hudson chạy đi tìm ông ấy, tôi ngồi ở bàn và dõi theo bác Pattrick đi qua khoảng sân giữa những kho thóc, đôi vai bác như đang run lên vì giận dữ và mệt mỏi. Ngay khi Holmes nhấc điện thoại, tôi đi thẳng vào vấn đề.

“Holmes à, vài tuần trước ông nói với cháu là có hàng loạt vụ trộm ở các quán trọ và quán rượu vùng Eastbourne đúng không ạ?”

“Ta khó có thể cho rằng hai thì đồng nghĩa với hàng loạt được, Russell. Cháu biết không, cháu đang làm gián đoạn một thí nghiệm phức tạp của ta về hemoglobin đấy.”

“Bây giờ là ba rồi ạ,” tôi nói, lờ đi sự phản đối của ông ấy. “Một người bạn của bác Pattrick ở Tun đã bị lấy mất hết tiền tối qua."

“Russell yêu quý của ta ơi, ta nghỉ hưu rồi. Ta không còn được cần đến để đi tìm những hộp bút chì bị thất lạc hay theo dõi những ông chồng thích đổi gió nữa.”

“Kỳ lạ kẻ trộm lại ‘tình cờ’ chọn đúng thời điểm cái hộp đựng nhiều tiền hơn mọi khi," tôi kiên trì nói. “Thật chẳng dễ chịu chút nào khi biết bọn trộm vẫn cứ lởn vởn trong vùng này. Hơn nữa,” tôi cố nói thêm, cảm thấy một thoáng ngập ngừng qua đường dây điện thoại, "bác Pattrick là một người bạn.” Thật không có gì tệ hơn khi tôi thuyết phục ông ấy bằng lý do đó.

“Ta rất lấy làm mừng vì cháu có thể coi người cai quản trang trại của mình như một người bạn, Russell à, nhưng điều này vẫn không thể biện minh cho việc cháu lôi kéo ta vào vụ việc vụn vặt này. Người ta nói Sussex giờ đã có lực lượng an ninh riêng rồi. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu cháu để họ đảm nhận trọng trách của họ và để cho ta làm những công việc của ta.”

“Ông cũng sẽ không quan tâm nếu như cháu tham gia vào vụ này, phải không?”

“Ôi trời ơi, Russell, nếu thời gian của cháu quá nhiều mà cháu chẳng biết làm gì khác thì cứ việc nhúng mũi vào đó. Ta chỉ khuyên cháu đừng nên làm phiền cảnh sát nhiều hơn nghĩa vụ của mình.”

Đường dây tắt ngóm. Tôi hậm hực gác máy và chạy đi lấy xe đạp.

Đến quán trọ, người tôi đã đẫm đìa mồ hôi và đầy bụi bặm, trông chẳng được dễ thương cho lắm, thế nên tôi phải kéo tay áo viên cảnh sát khu vực và năn nỉ anh ta thì tôi mới được phép nhìn thoáng qua hiện trường vụ trộm. Tôi thực rất nóng lòng được nhìn gần hơn, nhưng viên cảnh sát gương mẫu Rogers, với vẻ tự hào hơi thái quá về vụ án nho nhỏ của mình, lại đang phải bận bịu chăng dây giới hạn khu vực chờ thanh tra đến.

“Tôi hứa với anh,” tôi nài nỉ, “tôi sẽ không làm xáo trộn thứ gì cả. Tôi chỉ muốn nhìn tấm thảm trải sàn một chút thôi.”

“Không được, cô Russell, cấp trên đã ra lệnh bất cứ ai cũng không được bước qua.”

“Vâng, tất nhiên,” một giọng nói vút lên từ phía sau, “tôi chẳng còn tí thức ăn nào trong bếp, thế là tôi không chỉ mất hộp tiền, mà còn chẳng được nhận lương ngày hôm nay nữa. Ôi, chào cháu, cháu có phải là quý cô Russell của ông Pattrick không? Cháu đến để xem xét vụ việc phải không?”

“Cháu đang cố gắng đây,” tôi thừa nhận.

“Ôi, ơn Chúa, Jammy, hãy để cho cô ấy... Ồ, được rồi, được rồi, ‘cảnh sát Rogers’, hãy dẫn cô ấy đi xem qua một vòng. Cô ấy thông minh lắm, và cô ấy đang ở đây rồi, điều đó còn đáng giá hơn nhiều những gì ta có thể nói với thanh tra của các anh.”

“Đúng rồi đấy, Rogers, hãy đưa cô bé đi xem một vòng,” một giọng lè nhè từ cửa ra vào. “Tôi xin đảm bảo rằng cô bé sẽ không làm xáo trộn bất cứ thứ gì.”

“Ông Holmes!” viên cảnh sát giật mình nhận ra nhưng ngay lập tức chỉnh lại cái mũ rồi cố sổ vai cho nghiêm ngắn hơn.

“Holmes!” tôi thốt lên, “Cháu tưởng ông bận cơ đấy.”

“Lúc cháu gọi máu ta đang nghẽn lại che lấp mất tâm trí rồi,” Holmes buột miệng, phớt lờ sự choáng váng trên những gương mặt xung quanh khi nghe câu nói đó, và vẫy tay chào viên cảnh sát trẻ.

"Hãy để cho cô bé vào, Rogers.” Ngoan ngoãn, người đàn ông mặc đồng phục thả tay cho tôi vào.

Vừa giận dữ vừa cảm thấy tổn thương ghê gớm, tôi hiên ngang đi về phía đầu tấm thảm rồi cúi xuống kiểm tra kỹ lưỡng. Tấm thảm còn khá mới và đã được chải vào đêm qua, chẳng mấy chốc tôi đã phát hiện ra những bí mật của nó. Tôi cúi sát đến nỗi gò má gần như chạm vào sợi thảm để tận dụng góc sáng, rồi quay sang nói với Holmes: “Có dấu vết của một đôi giày nam cỡ trung, mũi nhọn, gót giày trái bị mòn. Ở đây cũng có một ít sỏi, màu xám, màu đen, hay là...?”

Holmes kiểm chứng ngay trên sàn nhà chỗ tôi tì gối lên và đưa ra cái kính lúp mà tôi đã không nhớ mang theo. Qua thấu kính, ba mảnh đá nhỏ xíu hiện ra rõ ràng.

“Mảnh màu đen có dính nhựa đường. Và dưới này nữa, có phải sỏi màu đỏ không nhỉ, bị tán vụn ở mép thảm đây này?”

Holmes lấy cái kính từ tay tôi, xem xét dấu vết chỗ tôi vừa lùi lại, cả chỗ tay và đầu gối ông tì lên. Ông không nhận xét gì cả, chỉ đưa cái kính lại cho tôi và ra hiệu rằng tôi hãy tiếp tục việc của mình.

“Những viên sỏi màu đỏ này từ đâu ra nhỉ?” tôi hỏi. “Có một khoảng đất nhỏ ngay đoạn dốc xuống của con đường lớn phía nam ngôi làng, cháu nhớ là như vậy, và còn hai hay ba khoảng nữa dọc theo dòng sông. Và chẳng phải còn vài khoảng nữa gần nhà ông bà Baker sao?”

“Không hẳn là sỏi đỏ, ta nghĩ thế,” Holmes nói. “Một cái thấu kính lớn sẽ giúp chúng ta nhìn thấy rõ bề mặt giống đất sét hơn của nó.” Rồi ông ấy chẳng nói gì thêm. Tốt, tôi nghĩ, cứ cho là thế đi. Tôi quay sang cảnh sát Rogers, anh ta trông có vẻ khó chịu.

“Anh Rogers, gần đây có nhiều con đường mới được rải nhựa phải không? Anh có tình cờ biết những nơi nào vừa mới được làm tuần vừa rồi không?”

Rogers quay sang nhìn Holmes, rồi quay lại nhìn tôi và trả lời. “Cách đây khoảng sáu dặm về hướng Bắc có một con đường đến xưởng máy vừa được làm tuần trước. Và một đoạn thuộc khu đất phía Đông của Warner. Chỉ có vậy thôi.”

“Cám ơn anh, thế là đủ giúp tôi thu hẹp các nghi vấn hơn rồi. Còn bây giờ, thưa bà Whiteneck, liệu cháu có thể hỏi bà một vài điều không?” Tôi kéo người bạn của bác Pattrick sang một bên rồi hỏi bà ấy danh sách tên và địa chỉ của những người làm thuê cho bà ấy, tôi cũng nói luôn rằng ngay khi viên thanh tra xem xét xong hiện trường, bà ấy có thể sử dụng nhà bếp. Bà Whiteneck có vẻ an tâm hơn rất nhiều.

“Bác Pattrick nói rằng bọn trộm còn lấy mất thức ăn của bà nữa?”

“Ôi, đúng đấy! Bốn cái đùi lợn ngon tuyệt mà ta vừa lấy ra từ lò hun khói, những cái đùi lợn béo ngậy. Và ba chai whisky hảo hạng nữa. Chúng thật làm ta khốn đốn, có Chúa mới biết ta phải làm thế nào mới tìm được những thứ đã mất trong tình trạng thiếu thốn hiện nay. À này, cháu chắc chắn ông thanh tra sẽ để ta được sử dụng nhà bếp chứ?”

“Cháu chắc mà.”

Bên ngoài Monk’s Tun mặt trời đã lên cao, con đường nhỏ dần vào làng trở nên nóng bỏng dưới cái nắng chói chang của mùa hè. Tôi thoáng nghĩ về những công nhân làm đường mà tôi cho rằng có liên quan và vội gạt ngay ý nghĩ đó đi. Tôi cảm nhận được Holmes đang ở ngay bên cạnh.

“Cháu có thể xem qua những tấm bản đồ địa hình của ông không ạ?” tôi ướm hỏi. Đó giống như một lời thừa nhận thất bại, rằng tôi đã không nắm cặn kẽ về khu vực thuộc sở hữu của mình, nhưng Holmes không bình luận gì. Ông chỉ nói: “Cứ sử dụng tất cả những gì cháu cần,” rồi chúng tôi trở về ngôi nhà tranh của Holmes.

Tôi chào bà Hudson rồi đi qua phòng khách đến căn phòng nhỏ nơi Holmes cất giữ bộ sưu tập kếch xù các loại bản đồ. Tôi tìm được cái mình cần rồi trải rộng nó trên bàn làm việc, ghi lại tên năm nơi của vùng cao nguyên này có bề mặt đất sét đỏ phủ trên lớp đá phấn. Mặc dù Holmes rất bận rộn với những kế hoạch của mình, nhưng khi đi qua bàn làm việc lấy một quyển sách, ông ấy lại 'vô tình’ đặt một đầu ngón tay lên một điểm trên bản đồ, sau đó là một điểm khác, nhắc tôi nhớ về hai vụ trước đấy.

“Cám ơn ông,” tôi nói khi Holmes quay đi. “Bản đồ đã chỉ ra tại một trong những nơi có đất sét đỏ được tìm thấy, có một mỏ đá lộ thiên. Hai trong số chúng có mối liên hệ với... Liệu ông có chút hứng thú nào với chuyện này không, Holmes?”

Ông ấy không rời mắt khỏi quyển sách nhưng vẫn vẫy tay ra hiệu bảo tôi tiếp tục, vì thế tôi nói tiếp, “Chỉ có hai nơi chúng ta có thể tìm sự kết hợp giữa các yếu tố đất đỏ, những đoạn đường đang được làm, và những người làm thuê ở Monk’s Tun. Một là ở phía Bắc cách đường lớn Heathfield khoảng hai dặm, và vùng còn lại nằm ở phía Tây, đoạn dốc xuống gần con sông.” Tôi chờ đợi một sự đáp lại, nhưng chẳng nhận được câu trả lời nào cả, thế là tôi đi đến chỗ cái máy điện thoại. Có vẻ như tôi đang phải chịu trách nhiệm về vụ việc này, mặc dù, tôi ngờ rằng, có ai đó vẫn đang lặng lẽ dõi theo tôi. Tôi nối được đường dây với quán trọ Monk’s Tun.

“Bà Whiteneck phải không ạ? Cháu Mary Russell đây. Ngài thanh tra đã đến chưa bà? Ôi, thế sao? Vâng, cảnh sát Rogers hẳn là thất vọng lắm. Vâng ạ. Dù vậy bà vẫn sẽ được dùng nhà bếp của mình. Nghe cháu này, bà Whiteneck, bà có thể cho cháu biết hôm nay những ai bà thuê sẽ làm việc ở quán trọ, và thời gian họ làm là bao lâu không ạ? Vâng, vâng ạ. Tốt quá rồi, cháu cảm ơn bà. Vâng, cháu sẽ liên lạc với bà sau ạ.” Tôi gác ống nghe.

“Thanh tra Mitchell đã đến, đi một vòng quanh hiện trường, quát tháo Rogers vì đã làm tốn thời giờ của ông ta rồi ra về,” tôi dõng dạc nói trước căn phòng và nhận được sự đáp lại mà tôi không mong đợi: không gì cả. Tôi ngồi xuống và nhìn vào tờ danh sách. Gồm có Jenny Wharton, người hầu gái trong quán trọ, cô này sống trên con đường lớn phía Bắc, hôm nay cô ta làm việc đến tận tám giờ; và Tony Sylvester, chủ một quán rượu mới, anh ta rời khỏi căn nhà nằm bên bờ sông của mình đến tận bảy giờ.

Bây giờ thì sao?

Tôi không thể tự mình đến kiểm tra trong lúc họ vắng nhà được. Tôi khó có thể nói rằng mình chỉ tình cờ nhìn thấy một cái hộp dưới gầm giường hay ngửi thấy mùi chân giò lợn trong... Đợi đã, đánh hơi thấy mùi chân giò lợn, có thể là... Lẽ nào... ? Holmes vẫn tiếp tục lật trang sách ông đang đọc.

“Chào bà Baker. Cháu Mary Russell đây ạ. Bà khỏe không ạ? Ông Baker sao rồi thưa bà? Ô, cháu rất mừng vì điều đó. Vâng, chúng ta thật may mắn. Cháu muốn hỏi, bà Baker, trong đàn chó của bà có một con đánh hơi cừ lắm đúng không bà? Vâng, nghĩa là lần theo mùi thơm ấy ạ. Bà có phiền không nếu cháu mượn bà con chó ấy một lúc? Không, không ạ, cháu sẽ đến đó và đưa nó đi. Nó sẽ được chở trong một chiếc xe hơi. Thật tốt quá, cháu sẽ có mặt ở nhà bà sau ít phút nữa. Cháu cảm ơn bà.”

Tôi gác ống nghe. “Holmes à, liệu cháu có thể gọi chiếc taxi của bác hàng xóm không ạ?

“Tất nhiên rồi,” ông ấy nói, và xếp quyển sách lại vào giá.

Tôi và Holmes đến quán trọ, mượn một chiếc khăn lau sạch vết thịt lợn muối còn sót lại rồi vòng ra đường lớn đến nhà bà Baker. Ngay khi đàn chó xông ra ‘ngoạm sống nuốt tươi’ mấy cái bánh xe thì tôi mở cửa bước xuống, chúng tức khắc im bặt rồi bắt đầu ra vẻ hướng lên bầu trời, đánh hơi những bụi cỏ và lặng lẽ tản đi chỗ khác. Bà Baker bước ra, tay cầm một bộ vòng cổ và dây dắt chó. Bà tròn mắt ngạc nhiên trước sự thuần phục kỳ diệu của đàn chó dữ, rồi chạy đến một lùm cây lôi ra một chú chó tai dài, lông đốm, mắt đầy vẻ hối lỗi, và dẫn nó đến chỗ tôi.

“Đây là Justinian,” bà ấy nói, “tất cả chúng đều được đặt theo tên các vị hoàng đế1.”

“Vâng. Thế thì các hoàng đế sẽ gặp lại nhau trước khi trời tối, cháu mong là như vậy. Đến đây nào, Justinian.” Chú chó bước thong thả bước theo sợi dây dắt, nhảy lên xe, rồi tắm đôi giày ống của Holmes trong những cú âu yếm mềm mại bằng lưỡi.

Tôi bảo bác tài xế chạy xe theo con đường hướng lên phía Bắc rồi xuống đi bộ. Justinian khịt khịt đánh hơi nhưng nó không có phản ứng gì với cái khăn lau cả. Lúc sau chúng tôi trở lại xe và đi theo con đường dẫn vào xưởng máy, ngay phía trước là nơi Tony Sylvester sống. Holmes và tôi lại xuống đi dọc theo ven đường trong khi Justinian cố đánh hơi mấy cụm cỏ dại rồi đánh dấu nơi mình đã đến bằng cách mà đồng loại nó vẫn làm. Chúng tôi đi tiếp, đi tiếp, một cuộc diễu hành mà đi đầu là một chú chó, rồi đến hai người đi bộ, tiếp sau nữa là chiếc xe - tôi có quá đủ thời gian để kịp hối tiếc rằng mình đang tham gia vào một trò hề không hơn. Holmes vẫn lặng im.

[1]

“Lại thêm nửa dặm nữa,” tôi nói, hàm răng nghiến chặt, “và chúng ta phải thừa nhận rằng, hoặc là tên trộm đó không đi bộ, hoặc là cái mũi hoàng đế của Justinian chẳng ra làm sao cả. Tiến lên nào, Justinian.” Tôi cầm lấy cái khăn và ve vẩy trước mũi nó. “Tìm đi nào! Tìm đi!”

Justinian ngừng đánh hơi một con cóc đang nằm sõng soài bên đường để ngửi cái khăn có mùi thịt lợn muối, đôi mắt nó cụp xuống vẻ nghĩ ngợi điều gì đó. Nó chững lại một lúc, cái đầu bù xù dường như đang suy nghĩ rất lâu, rồi ngồi xuống gãi con bọ trong tai, rồi lại đứng lên, hắt hơi mạnh, rồi lại bắt đầu bước tiếp, rất kiên quyết, xuống con đường lớn. Chúng tôi đi theo nó, nhưng lần này thì nhanh hơn, và trong vài phút nó lần theo một vết rãnh nông, ngay dưới hàng rào, dẫn ra một cánh đồng. Holmes ra hiệu cho bác tài xế cứ đứng yên đó đợi, sau đó chúng tôi trèo qua hàng rào, theo sát con Justinian.

“Cháu hy vọng đây không phải là một cánh đồng với lũ bò trên đó.”

“Có một đường mòn, điều đó cũng đáng chú ý đấy. Ồ, cái gì đây?”

Một tờ tiền mười shilling nhàu nát lẫn vào lớp đất mềm, in hình móng bò. Holmes gỡ đồng tiền ra một cách cẩn thận rồi đặt vào tay tôi.

“Không phải trộm chuyên nghiệp rồi, cháu có ý gì hay không, Russell? Thậm chí hắn còn không chờ được đến lúc về nhà rồi hãy hả hê với món chiến lợi phẩm này.”

“Cháu không định lấy cuộc điều tra này để phát triển trí tuệ,” tôi ngắt lời Holmes. “Cháu chỉ muốn giúp đỡ một người bạn.”

“Nhưng người ta không có nhiều kiên nhẫn để chờ đợi mãi. Và ta cũng muốn về nhà đúng giờ để tiếp tục với thí nghiệm hemoglobin của ta. À, đúng rồi, ta tin là chúng ta... à... ta tin là cháu đã tìm được nhà của Sylvester.”

Con đường mòn chạy qua một hàng rào rồi thu hẹp dần trước một căn nhà trại bằng đá, khung cảnh có vẻ hoang vắng. Không hề có dấu hiệu của sự sống, không có ai trả lời chúng tôi. Justinian giật mạnh sợi dây kéo chúng tôi đến một lò sấy nhỏ, tách biệt hẳn với khu nhà, những cuộn khói nhè nhẹ tỏa lên thơm phức. Nó chạy đến rồi dừng lại, dí mũi ngửi qua khe cửa và rên ư ử. Tôi mở cửa ra, và trong bóng tối, trong hơi khói tràn ngập là ba cái đùi lợn muối sấy khô còn nguyên và một phần của cái thứ tư. Tôi lấy ra con dao trong túi cắt một miếng to rồi ném xuống sàn, ngay trước mõm con Justinian.

“Giỏi lắm.” Tôi vỗ nhẹ chú chó rồi rụt tay lại vì nó gầm gừ với tôi. “Ngốc ạ, tao sẽ không cho mày ăn rồi lại lấy mất của mày đâu.”

“Cháu định tìm cái hộp tiền ở đâu hả Russell?”

“Có lẽ nó được giấu ở một nơi khó tìm, chẳng hạn như những xà ngang của khu sấy này, hoặc dưới một hầm bí mật nào đó. Cũng chẳng phải suy nghĩ hay tưởng tượng quá nhiều - cháu thừa nhận là kẻ trộm đã khá khôn ngoan khi giấu những đùi lợn sấy ở đây, nhưng cháu nghĩ đôi lúc chúng vẫn hành động theo bản năng của chúng.”

“Cuộc sống của ta luôn bị quấy rầy bởi những tên tội phạm bản năng, không hề suy nghĩ.” Holmes thở dài. “Ta sẽ để việc này lại cho cháu. Cứ tìm kiếm đi, ta sẽ quay lại chỗ để xe để bảo bác tài vào đây.”

“Vâng.”

Cái hộp tiền bị mất không có trên xà ngang, và cũng chẳng có cái hầm nào cả. Tôi cũng không tìm thấy nó dưới lớp nệm giường, trên gác mái hay thậm chí là dưới những ván sàn lung lay. Bác tài vẫn vui vẻ chờ đợi ở bên ngoài - bác ấy đang chìm đắm vào một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền - nhưng trời đã khá muộn. Holmes và tôi va phải nhau trong căn bếp chật chội toàn những chiếc đĩa cáu bẩn. Tối qua Sylvester ăn đậu, cái chảo dựng trên tủ bát đĩa đã kết lại một lớp màng. Phần còn lại của cái đùi lợn thứ tư vẫn còn trong chiếc đĩa đặt trên tủ bếp. Bọn ruồi đang mở tiệc tưng bừng.

“Hắn không quá khôn ngoan trong việc lấy đi, nhưng lại rất giỏi trong việc cất giấu,” tôi nói.

“Ừ, mà bà Whiteneck nói hắn sẽ hết giờ làm vào lúc mấy giờ nhỉ? Phải rồi, bảy giờ. Sáu rưỡi rồi, chúng ta phải về thôi. Ta có nên chuyển tên trộm này cùng với một lời nhắn tới viên cảnh sát mẫn cán của chúng ta không nhỉ, ta sẽ bảo anh chàng đó có mặt ở đây khoảng bảy rưỡi nhé?”

“Có lẽ là muộn thêm một chút nữa. Sylvester phải mất ít nhất hai mươi phút để đạp xe từ quán trọ về đây. Cảnh sát cũng không cần thiết phải bắt hắn ngay trên đường hắn về nhà mà!”

“Cháu nói đúng, Russell, vậy thì bảy giờ bốn mươi lăm phút nhé. Tốt rồi. Ta sẽ đưa một bức thư ngắn cho bác tài và nhờ bác ấy đưa cho cảnh sát Rogers.”

“Nhờ bác ấy mang Justinian về nữa. Hãy để cho nó được về nhà trong niềm kiêu hãnh.”

Chiếc xe quay đầu ngay phía trước ngôi nhà và rời đi, Holmes biến mất trong khu nhà phụ rồi quay lại với một cái búa và cái đục han gỉ, ông tới trước cửa bếp rồi phá tan ổ khóa của nó bằng búa và đục. Tôi vào bếp, đổ bốn cái bánh mì đã quắt queo trong giấy gói lên mặt bàn, sau đó quay trở lại khu sấy thịt và tự tay cắt lấy vài khoanh từ mấy cái đùi lợn muối của bà Whiteneck. Thường thì tôi không hay ăn thịt lợn, nhưng tôi đã quyết định lần này sẽ là ngoại lệ. Tôi lau những vết bẩn trên mặt bàn dính đầy mỡ, và kẹp những lát thịt vào bánh mì. Chợt tôi nhìn thật lâu vào đôi tay mình, rồi nhìn sang tảng thịt lợn muối, rồi nhìn xuống sàn nhà.

“Holmes ơi,” tôi gọi.

“Cháu tìm được gì à, Russell?”

“Ôi trời, cái đùi lợn này đã được giấu ở một nơi có lớp đất sét màu đỏ, trên sàn còn in dấu chân lấm đất đỏ đầy này. Holmes, sẽ là ý kiến hay đấy nếu chúng ta xem xét kỹ những dải đất đỏ lộ thiên đằng kia. Bánh sandwich của ông đây, cháu xin lỗi vì không có bia.”

“Đợi chút nhé.” Holmes biến mất qua cánh cửa bị phá, và sau một tiếng uỳnh cùng vài tiếng loảng xoảng của kính vỡ, ông ấy quay trở lại với một chai Bass lớn và hai cái ly. “Chúng ta đi chứ nhỉ?”

Chúng tôi mang theo thức ăn đến con đường dốc gần khu nhà trại và tìm thấy dải đất sét đỏ nằm bên sườn một vách đá. Đã hơn bảy giờ, và chúng tôi sẽ phải mất một lúc để trườn qua các tảng đá tìm nơi ẩn nấp. Xem xét các lớp đất, chúng tôi nhận ra có vài vết chân giống hệt với những vết chân trên tấm thảm ở quán trọ. Những vết đỏ mờ kéo dài đến tận vách đá. Tôi cắn một miếng sandwich và nhăn nhó với lát bánh mì.

“Cháu nghĩ ta nên để hắn tự mang cái hộp tiền đến cho ta Holmes ạ. Cháu sẽ thưởng thức tiếp chỗ thịt lợn sấy cùng với bia này.”

“Thịt ngon đấy, Russell, dù nó bị ám khói đến hai lần. Mà ta nghĩ chúng ta nên đổi vị trí sang những bụi cây đằng kia để có một chỗ quan sát vừa kín đáo lại vừa bao quát được cả khu nhà và sườn đồi.”

Đó chính xác là những gì chúng tôi làm. Holmes khui nắp chai và chúng tôi thấy hào hứng trở lại. Ngay lúc đó “con mồi” của chúng tôi xuất hiện, hắn đạp xe nhanh chóng xuống con đường lớn và phóng thẳng vào cổng. Cảnh tượng trước mắt hắn quả rất giống một màn đổ cờ domino được dàn dựng khéo léo, điểm đầu là cái khóa cửa bếp bị vỡ tan tành. Chúng tôi chén sandwich, uống bia và chăm chú nhìn “con mồi” qua kẽ lá. Sylvester đứng đơ trước cái cửa bị phá rồi lao nhanh vào trong - chỉ để nhận ra cái ổ của mình đã bị xới tung một cách quá đáng. Hắn chạy xộc ra ngoài, cuống cuồng chạy lên ngọn đồi hướng về chỗ chúng tôi đang nấp. Khuôn mặt hắn đỏ tía và đầm mồ hôi khi trèo qua những tảng đá, tôi cau mày nhìn hắn trườn một cách khó khăn rồi va mạnh cẳng chân vào mép đá. Trườn được lưng chừng thì hắn nằm áp xuống, với tay về phía sau hai tảng đá lớn, và chúng tôi thấy hắn thở phào khi chạm được tay vào cái hộp tiền.

“Nào, bây giờ,” Holmes thì thầm, “hãy đem nó xuống như một cậu bé ngoan, để chúng ta đỡ phải trèo nào.”

Sylvester vụng về ôm cái hộp sắt trước ngực rồi chậm chạp trườn xuống. Hắn suýt nữa lại ngã trong khi tôi nín thở lo lắng lỡ không may hắn ngã gãy xương hoặc tiền rơi vung vãi hết ra thì khốn, nhưng hắn đã vững lại, không hề hấn gì ngoài cái đầu gối bị rách và trèo xuống an toàn. Khuôn mặt hắn hả hê khi hắn lóc cóc chạy về khu nhà. Holmes và tôi đã uống hết bia và lặng lẽ theo sau hắn.

“Russell này, ta tin là đã đến lúc các trợ thủ của cháu có thể hành động rồi. Ta sẽ đợi ở đây, cháu hãy ra đường lớn và dẫn viên cảnh sát Rogers vào đây. Đi nhẹ nói khẽ thôi nhé!"

“Holmes à, bầy chó nhà bà Bakers có thể sẽ nghe lời cháu, nhưng Rogers thì khó đấy ạ. Cháu nghĩ nếu có bất cứ yêu cầu nào với họ, thì ông sẽ là người thích hợp nhất đấy."

“Hừm, có lẽ cháu nói đúng. Nhưng nếu cháu cứ nấn ná ở chỗ này thì cháu đừng mong tóm được quý ngài Sylvester. Thêm nữa, những kẻ cùng đường thì liều thân, lúc đó, Russell ạ, không có vị anh hùng nào đâu.”

Tôi đảm bảo với Holmes rằng tôi không hề có ý định đấu tay bo với hắn, rồi chúng tôi tách làm hai ngả. Tôi nấp phía sau khu lò sấy và nhặt mấy viên đá lên để luyện trò tung hứng. Tôi đang tung được một lúc năm viên trên không thì một loạt những sự kiện diễn ra rất nhanh. Đầu tiên là tiếng quờ quạng và tiếng va đập mạnh phát ra từ phía ngôi nhà. Cánh cửa bếp đổ sầm và tên trộm có vẻ còn ít tuổi với mái tóc màu đen khiếp đảm lao ra, hộp tiền bật tung rơi lả tả như lá mùa thu. Những tiếng quát cùng tiếng bước chân rầm rập lao qua trước nhà, nhưng Sylvester đã nhanh hơn, hắn lao vút qua chỗ tôi rồi tăng tốc. Không cần suy nghĩ, tôi chộp lấy một viên đá đang tung hứng và ném xoáy ngay sau hắn, viên đá trúng cẳng chân khiến hắn quỵ gối ngay lập tức. Tôi cúi xuống định chộp lấy một viên đá khác, nhưng Holmes và Rogers đã đến kịp, và điều đó không cần thiết nữa.

Chúng tôi ăn tối tại quán trọ của bà Whiteneck. Holmes dùng thịt lợn muối trong khi tôi vô cùng thích thú trước món thịt cừu với nước sốt bạc hà, chúng tôi còn được thưởng thức những bát khoai tây nghiền nấu với cà rốt nhừ cùng rất nhiều món ngon khác của đất lành Sussex do bà Whiteneck tự tay dành tặng chúng tôi.

Một lát sau, tôi ngả lùi lại và thở phào hạnh phúc.

“Cám ơn, Holmes. Quả thực là cháu đã rất vui.”

“Cháu nhận thấy cái nghề thám tử mộc mạc không chút cầu kỳ này hóa ra lại rất thú vị phải không?”

“Vâng, đúng vậy ạ. Thực sự là như thế. Cháu không định dùng cả đời để theo đuổi những hành động như thế này, nhưng có một chiến công nho nhỏ, trên một vùng quê, vào một ngày hè, thì thật không gì thú hơn. Ông có đồng ý với cháu không?”

“Đó chỉ như một bài tập thôi, Russell ạ, nhưng cháu đã kiểm soát được nó với một phong thái chuyên nghiệp nhất.”

“Vậy ạ? Ồ, cháu cám ơn ông.” Tôi cười hài lòng.

“Ủa, mà cháu học ở đâu cái chiêu ném đá ấy vậy?”

“Bố cháu bảo các cô gái trẻ cũng có thể ném đá và chạy. Ông cực kỳ yêu thể thao, và đã cố gắng đưa môn cricket đến San Francisco vào mùa hè trước khi... tai nạn. Cháu đã từng chơi bóng gỗ cùng với bố.”

“Ghê gớm thật đấy,” người bạn của tôi thì thầm.

“Bố cháu cũng nghĩ vậy. Đó là một kỹ năng cần thiết, ông có công nhận không? Ai cũng có thể tìm thấy những mảnh đá để liệng vào những kẻ sai trái.”

Quod erat demonstrandum 1. Tuy nhiên, Russell à...” Ông ấy nhìn tôi chằm chằm với một ánh mắt lạnh lùng, và tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một lời chỉ trích gay gắt, nhưng những gì ông ấy nói chỉ là, "Bây giờ, Russell à, trở lại thí nghiệm về hemoglobin kia... ”

[2]

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] Justinian: Hoàng đế La Mã từ năm 527 đến năm 565.

[2] 1 Tiếng Latin: Điều đó đã được chứng minh.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurie r. king

Truyện bạn đang đọc dở dang