
Hãy bắt lấy mụ ta, tống giam mụ ta, và mang mụ ta đi.
Monk’s Tun, như tôi đã kể, giống như một trò vui. Tuy nhiên, sau bao nhiêu biến động dữ dội của những năm tháng ấy, tôi vẫn nhớ rất rõ về nó, đơn giản vì nó đã đánh dấu lần đầu tiên Holmes chấp nhận để tôi được tự mình quyết định và hành động mọi việc. Chỉ là một vụ nhỏ, nhưng đó là vụ của tôi.
Nhưng năm tuần sau, một vụ khác lại đến với chúng tôi, khiến cho vụ Monk’s Tun trở về đúng vị trí trò vui trẻ con của nó. Tôi muốn nói rằng, bắt cóc tống tiền con gái ngài Thượng nghị sĩ Mỹ không phải là một trò đùa, mà là một vấn đề mang tầm quan trọng quốc tế, một vụ án căng thẳng, đầy kịch tính mà tôi không có cơ hội được can thiệp quá nhiều. Nhưng vụ án có một không hai ấy đã ràng buộc chúng tôi lại gần nhau hơn theo cái cách mà thời gian học việc của tôi không có được.
Một ngày nóng bức khủng khiếp giữa tháng Tám, sau khi lao động vất vả như một cô gái nông dân thực thụ, tôi ăn một bữa đầy tú hụ trong bếp nhà bác Pattrick, rồi tắm rửa thật sạch sẽ và nhảy lên cái xe đạp phóng đến nhà Holmes.
Đạp xe chầm chậm lên con đường nhỏ dẫn tới ngôi nhà tranh, tôi nghe thấy một âm thanh rất khác thường, bị những bức tường đá ở hai bên làm cho méo mó. Đó là tiếng nhạc - nhưng không phải thứ âm nhạc mà tôi từng nghe trước đây - mà nó phát ra từ nhà của Holmes, một giai điệu vui tươi, hứng khởi và thực sự gây bất ngờ. Tôi nhấn pê đan đạp vòng qua khu nhà rồi tiến đến gần cửa nhà bếp. Rồi tôi bước vào trong. Và khi lần theo thứ âm thanh đó, lướt qua phòng khách, trong khoảnh khắc tôi đã không nhận ra người đàn ông da đen sì, mái tóc cũng đen nốt với cây đàn violin kề ngay dưới cái cằm lởm chởm râu phải đến hai ngày không cạo kia. Một chút chột dạ ánh lên trên khuôn mặt quen thuộc, rồi nhanh chóng được thay thế bằng ánh vàng chóe lóe lên từ chiếc răng cửa bên trái khi “gã lưu manh kỳ cục” này toe toét cười đầy tự mãn với tôi. Nhưng tôi không dễ bị lừa gạt. Tôi đã chớp được phản ứng đầu tiên của ông khi ông trông thấy tôi xuất hiện bất ngờ ngay trước cửa ra vào.
“Holmes,” tôi nói. "Đừng nói với cháu là ông linh mục cần một nghệ sỹ vĩ cầm dân gypsy chơi trong ngày lễ thánh của làng nhé.”
“Chào cháu, Russell,” ông ấy cố tỏ vẻ tự nhiên. “Hứng thú bất chợt ấy mà. Thật vui vì đột nhiên cháu lại đến đây, ta đỡ phải viết lại lời nhắn cho cháu. Russell này, ta muốn nhờ cháu theo dõi thí nghiệm này hộ ta. Chỉ trong vài ngày thôi, và sẽ không có gì tệ hại đâu...”
“Holmes, chuyện gì đang diễn ra vậy?”
Ông ấy tỏ ra hoàn toàn ngây thơ: “Đang diễn ra? Chẳng có chuyện gì ‘đang diễn ra’ cả. Ta cảm thấy phải đi xa vài ngày, chỉ vậy thôi.”
“Ông có vụ án nào đó!”
“Ồ, thôi nào, Russell."
“Tại sao ông không muốn cho cháu biết? Đừng có nói với cháu những điều vô lý về những bí mật của chính phủ nữa đấy nhé.”
“Đây là một bí mật. Ta không thể nói ngay được. Có thể là sau này. Nhưng ta thật sự rất cần cháu giúp...”
“Những kế hoạch vớ vẩn!” tôi giận dữ nói. “Thí nghiệm chẳng quan trọng một chút nào, không hề.”
“Russell!” Ông ấy thốt lên khó chịu. “Có những người nhờ ta giúp đỡ, những người mà ta không thể từ chối.”
“Holmes,” tôi cảnh cáo, “ông đang nói chuyện với Russell, chứ không phải với bác sĩ Watson, không phải bà Hudson, cháu tuyệt đối không bị ông hăm dọa đâu. Cháu muốn biết là tại sao ông lại lên kế hoạch lủi đi mà không hề muốn cho cháu biết?”
‘“Lủi đi’? Russell, ta đã nói rằng ta rất vui vì cháu bất ngờ đến đây mà.”
“Holmes, cháu có bị mù đâu! Ông đang cải trang một cách hoàn hảo chỉ trừ mỗi đôi giày, và ở góc nhà có một cái ba lô căng phồng kia kìa. Cháu hỏi lại: Chuyện gì đang diễn ra vậy?”
“Russell, ta rất lấy làm tiếc, nhưng ta không thể cho cháu tham gia vào vụ án này được.”
“Tại sao lại không, thưa ngài Holmes?” Tôi sôi máu. Ông ấy cũng vậy.
“Khốn kiếp, bởi vì, nó rất nguy hiểm, hiểu chưa?”
Tôi đứng đó, nhìn chằm chằm vào ông ấy, không nói được lời nào, và khi tôi cất được tiếng lên, giọng tôi rất lặng lẽ và bình thản: “Holmes yêu quý của cháu, cháu sẽ coi như ông chưa nói ra những lời đó. Cháu sẽ đi dạo trong vườn và ngắm nhìn những bông hoa trong mười phút. Khi cháu quay lại đây, chúng ta sẽ bắt đầu lại cuộc nói chuyện vừa rồi, và trừ khi là ông muốn hoàn toàn rời xa cháu, thì cái ý tưởng che chở cho Mary Russell bé bỏng này coi như chưa bao giờ xuất hiện trong đầu ông.” Tôi bước ra ngoài, nhẹ nhàng đóng cánh cửa lại và đến nói chuyện với ông Will cùng với hai chú mèo con. Khi nhổ mấy cọng cỏ dại, tôi nghe thấy tiếng violin vang lên một lần nữa, nhưng lần này là một giai điệu cổ điển hơn. Mười phút sau tôi quay trở lại khu cửa chính.
“Chào ông, Holmes. Bộ quần áo ông đang mặc chải chuốt thế. Chúng ta sắp sửa đi đâu ạ?”
Holmes nhìn tôi qua đôi mắt khép hờ. Tôi đứng bình thản ngay cửa ra vào, khoanh tay trước ngực. Cuối cùng thì ông ấy cũng khịt mũi và nhét mạnh cây violin vào hộp đàn.
“Tốt lắm, Russell. Có thể ta là kẻ điên rồ, nhưng chúng ta sẽ thử một lần. Cháu vẫn theo dõi báo chí đấy chứ, vụ bắt cóc tống tiền nhà Simpson ấy?”
“Cháu có đọc, nhưng từ mấy ngày trước. Cháu phải giúp bác Pattrick phơi cỏ khô.”
“Được rồi. Hãy xem qua những thứ này trong khi ta lên kế hoạch cho cháu.”
Holmes đưa cho tôi một xấp tờ Times đã cũ, rồi lên lầu và biến mất vào phòng thí nghiệm.
Tôi phân loại đóng báo theo ngày phát hành. Tờ đầu tiên, xuất bản vào ngày 10 tháng Tám, có một đoạn tin tức nhỏ ở mặt sau được Holmes khoanh tròn lại, liên quan đến ngài Thượng nghị sĩ Mỹ, Jonathan Simpson, đi nghỉ mát với gia đình gồm vợ và cô con gái sáu tuổi, ở Wales.
Tờ báo tiếp theo phát hành ba ngày sau đó, dòng tin chính ngay ở trang đầu:
“CON GÁI NGÀI THƯỢNG NGHỊ SĨ BỊ BẮT CÓC. KẺ BẮT CÓC ĐÒI SỐ TIỀN CHUỘC KHỔNG LỒ”
Mảnh giấy ghi số tiền chuộc được đánh máy cẩn thận đã được gửi đến nhà Simpson, đơn giản thông báo rằng con gái họ đang bị giam giữ, và ngài Simpson có một tuần để chuẩn bị số tiền là 20.000 bảng, và nếu ông ta báo cảnh sát thì đứa trẻ sẽ bị giết. Bài báo không hề giải thích bằng cách nào mà tờ Times lại có được những thông tin đó, hay làm thế nào để ông Simpson giữ kín chuyện này với cảnh sát sau khi những thông tin về vụ bắt cóc sờ sờ ngay trên trang nhất. Những tin tức nóng hổi về vụ án này giảm dần, và số báo ra ngày hôm nay, năm ngày sau khi dòng tít kia gây chấn động dư luận, chỉ đăng ở trang sau một bức ảnh mờ của bố mẹ cô bé trong bộ dạng hốc hác.
Tôi đi đến và dựa vai vào cánh cửa phòng thí nghiệm trong khi Holmes vẫn chăm chú đo, rót rồi khuấy đều những ống nghiệm của mình.
“Ai đã gọi cho ông vậy?”
“Có vẻ như là bà Simpson, bà ấy đã năn nỉ.”
“Hình như ông không sẵn lòng giúp đỡ cho lắm.”
Holmes ném mạnh cái ống hút khiến nó vỡ tan.
“Ta phải sẵn lòng như thế nào đây? Một nửa xứ Wales này phải đi lại khốn khổ vì những sườn đồi ngập ngụa bùn lầy, dấu vết cũng mất dạng một tuần rồi, không còn dấu chân nào ở đó, chẳng ai nhìn thấy ai, cha mẹ cô bé thì đang cực kỳ hoảng loạn, và khi không ai còn biết phải làm gì, họ mới quyết định để bà ấy tìm đến Holmes già cả này. Một Holmes già cả với những phép màu thần diệu.” Ông ấy nhăn nhó nhìn vào ngón tay mình khi tôi dán lên đó miếng thuốc cao.
“Russell, ta biết những vụ án kiểu thế này, ta biết cái cảm giác chúng bắt đầu như thế nào, và ở đây có tất cả những dấu hiệu. Nó bốc lên mùi thất bại, và ta không muốn ở bất cứ nơi nào gần xứ Wales khi họ tìm thấy thi thể của đứa trẻ.”
“Vậy thì ông từ chối vụ này đi.”
“Ta không thể. Luôn luôn có những cơ may có thể bị bỏ sót, và biết đâu những con mắt hoài nghi già cả này lại trông thấy điều gì đó!” Holmes cười một điệu mỉa mai. “Giờ thì lại có thêm một mẩu thông tin cho những ghi chép của bác sĩ Watson rồi: Sherlock Holmes tin vào vận may. Ngồi xuống đi nào, Russell, để ta bôi thứ này lên mặt cháu.”
Thứ đó thật kinh khủng, ấm ấm, đen thui và nhầy nhụa, giống thứ mà bọn chó vẫn thải ra, được bôi lên mũi tôi, vòng lên tai, rồi xung quanh miệng tôi, nhưng tôi vẫn phải ngồi yên.
“Chúng ta sẽ hóa trang thành những người gypsy. Ta đã sắp xếp một cái xe ngựa ở Cardiff, nơi chúng ta sẽ gặp gia đình Simpson và sau đó sẽ thẳng tiến theo hướng Bắc. Ta định thuê một người lái xe, nhưng từ khi cháu được rèn luyện cùng những người nhà Pattrick, có vẻ như cháu tự lái xe được đấy. Không biết cháu có nhặt nhạnh được chút kỹ năng cần thiết nào ở Oxford không nhỉ, về bói toán chẳng hạn?”
“Cô bé ở tầng dưới chỗ cháu trọ là một phù thủy về bói bài Taro đấy ạ. Cháu có thể bắt chước những biệt ngữ ấy. À, ở đó còn có mấy trò bịp bợm nữa.”
“Có một cỗ bài trong tủ - Ngồi yên nào! Ta đã báo với Sở Cảnh sát London là ta sẽ có mặt ở Cardiff vào ngày mai.”
“Kẻ bắt cóc chỉ cho họ có một tuần. Ông mong đợi sẽ làm được những gì trong hai ngày?”
“Cháu không hay đọc mục tư vấn tâm lý trên báo chí thì phải,” ông ấy trách tôi. Chúng ta có thể thương lượng được cái hạn cuối cùng đó, với điều kiện cảnh sát nhất thiết không được can dự vào. Chẳng kẻ nào lại đưa ra những yêu cầu quá cứng nhắc cả, nhất là bọn bắt cóc. Chúng ta có thời gian đến ngày 30 tháng Tám. Thượng nghị sĩ Simpson đang cố gắng chạy đủ số tiền, nhưng cũng có nghĩa là ông ta sẽ gần như phá sản,” Holmes nói thêm, rồi bôi chất gì đó nhờn nhờn dinh dính rất kinh khủng lên mí mắt tôi. “Một Thượng nghị sĩ, thậm chí là một người quyền lực như ngài Simpson, không phải lúc nào cũng là tỉ phú.”
“Chúng ta sẽ đến Wales. Nghĩa là ông nghĩ đứa trẻ vẫn còn ở đó?”
“Đó là một vùng rất hẻo lánh, đến tối là im bặt tiếng động cơ, và cảnh sát sẽ chặn mọi con đường cho đến sáu giờ sáng hôm sau. Sở cảnh sát London, cảnh sát xứ Wales và ban tham mưu Mỹ đều cho rằng cô bé đang bị giam giữ tại London. Họ đều bận rộn ở đó, và họ ném chúng ta đến xứ Wales này như ném một mẩu bánh mì vào bát xúp vậy. Điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ hoàn toàn tự do khi đến đó. Đúng, ta nghĩ là cô bé vẫn còn ở Wales; không chỉ có vậy, ta còn cho rằng cô bé ở một nơi nào đó trong vòng hai mươi dặm tính từ vị trí cô bé bị bắt cóc. Nào, ngồi yên!” Holmes càu nhàu. Ông ấy đang miết những vết bùn đặc lên tai tôi, vì vậy tôi không thể nhìn thấy khuôn mặt của ông.
“Nhân vật ấn tượng đấy!” tôi nói, không có ý nói đến nạn nhân.
“Ấn tượng, ừ. Và xem kỹ nhé: lời nhắn được in trên một loại giấy rẻ tiền, được đánh máy bằng cái máy đánh chữ cũng rẻ tiền không kém và chắc cũng phải dùng đến ba bốn năm rồi, được nhét vào trong một cái phong bì tầm thường, rồi được gửi qua những bưu điện khá nhộn nhịp khắp London. Không hề có dấu vân tay. Chính tả, cách dùng từ và cách chấm câu cực kỳ tồi tệ. Nhưng cách trình bày trên mặt giấy thì rất rõ ràng, ngay cả những chỗ thụt vào đầu dòng cũng bằng nhau ngay ngắn, và những vết hằn của phím chữ trên tờ giấy cho thấy kẻ này khá thành thạo trong việc đánh máy. Khác với vẻ ngoài giả tạo như thể chữ nghĩa tồi tệ lắm, thông báo này rất rõ ràng và cũng không quá dữ tợn, giống như mọi chuyện đã diễn ra.”
“Vẻ ngoài giả tạo?”
“Phải, vẻ ngoài giả tạo,” Holmes kiên quyết. “Có một trí tuệ đằng sau tất cả những chuyện này, Russell à, không phải là một kẻ thô lỗ tầm thường và thất học.” Khuôn mặt và giọng nói của ông ấy lộ vẻ ghê tởm sâu sắc đối với tội ác này, đồng thời chính nó cũng mang lại cảm giác về sự thất bại trong hứng thú theo đuổi vụ này của ông ấy. Tôi không nói gì cả, trong khi ông ấy tiếp tục phủ lên hai bàn tay tôi, rồi lên cánh tay, vòng ra cả khuỷu tay với một thứ nguyên liệu hóa trang gớm ghiếc. “Điều đó giải thích tại sao chúng ta không nên liều lĩnh, không nên bất cẩn. Sự cải trang của chúng ta sẽ được hiện thực hóa ngay khoảnh khắc chúng ta bước ra khỏi cửa, và sẽ không chỉ là tạm thời thôi đâu. Nếu cháu không thể chịu đựng được điều này, thì tốt nhất là hãy nói ra ngay bây giờ, bởi vì chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể cướp đi mạng sống của cô bé tội nghiệp đó. Và còn những phức tạp chính trị có thể sẽ xảy ra khi con gái của ngài Thượng nghị sĩ nước Đồng minh lại bị mất tích ngay trên lãnh thổ của chúng ta nữa.” Giọng của Holmes rất nhẹ, nhưng khi ông ấy nhìn vào mắt tôi, tôi gần như nao núng. Khả năng thất bại trong vai diễn này có thể đe dọa đến tính mạng của một đứa trẻ. Thậm chí là của chúng tôi nữa. Cũng dễ dàng lắm nếu tôi rút chân khỏi vụ án này, nhưng... nếu không phải lúc này, thì sẽ là lúc nào đây? Nếu như bây giờ tôi từ chối, liệu rằng tôi có tìm được một vụ án nào vừa yêu cầu thời cơ lại vừa cần có lòng can đảm như vụ này không? Tôi nuốt nước bọt, và gật đầu. Holmes quay lại đặt cái cốc lên mặt bàn, và chúng tôi bắt gặp ánh mắt mệt mỏi của nhau.
“Giờ thì,” Holmes nói. “Cháu đi tắm đi và nhuộm cái này lên tóc.
Tôi cầm lấy cái lọ đựng thứ thuốc nhuộm màu đen sền sệt, đi qua hành lang đến phòng tắm, và một lúc sau tôi nhìn vào gương. Một con bé với mái tóc đen nhánh, nước da màu cà phê sữa và một đôi mắt màu xanh kỳ lạ, mặc cái váy rộng thùng thình được may từ quần soóc của Holmes, khoác thêm một tấm khăn sặc sỡ cùng với một mớ lùng nhùng những vòng vàng nặng trịch và những đồ nữ trang lấp lánh rẻ tiền trên cổ và tay. Tôi đeo kính để nhìn rõ hơn hình ảnh mình trong gương, nhưng trông tôi trí thức hàn lâm quá nên tôi quyết định đổi sang một cặp kính gọng vàng nặng trịch và mắt kính nhạt màu. Mọi thứ thật chẳng ăn khớp với nhau tí nào -
sự giàu có lỉnh kỉnh trên người tôi. Tôi bước lùi lại để tập cười cho thật quyến rũ, nhưng rốt cuộc lại thành cười toét miệng.
“May quá, hôm nay bà Hudson nghỉ,” là tất cả những gì Holmes thốt lên được khi nhìn thấy tôi xoay như chong chóng đi vào phòng khách. “Ngồi xuống đi, và chúng ta sẽ xem xem cháu có thể làm được những gì với những quân bài này.”
Chúng tôi rời khỏi nhà khi trời tối để bắt chuyến tàu cuối cùng đi về miền Đông. Tôi gọi điện thoại từ nhà Holmes để báo cho cô tôi biết rằng tôi sẽ ở cùng cô bạn Lady Veronica ở Berkshire trong vài ngày tới, bà ngoại của cô ấy vừa mới mất và cô ấy cần được an ủi động viên. Tôi gác máy giữa lúc cô tôi còn đang chất vấn và phản đối. Tôi sẽ đối phó với cơn giận dữ của cô khi tôi trở về, nhưng ít nhất là cô ấy không có ý định làm cho vấn đề trở nên phức tạp bằng việc gọi báo cho cảnh sát về việc cháu gái mình mất tích.
Chúng tôi xuống khỏi chiếc xe buýt hai tầng thở phì phò rồi khuân đống đồ lặt vặt của mình qua cửa soát vé. Sau một loạt những câu hỏi đầy nghi hoặc của nhân viên soát vé, và sau những cặp mắt tò mò có phần khó chịu của những hành khách trên tàu, cuối cùng chúng tôi cũng đến được chỗ ngồi trong khoang hạng nhất. Tôi mở tập hồ sơ vụ án mà Holmes đặt vào tay tôi, nhưng một ngày dài khổ sở làm việc dưới cái nắng nóng và tình trạng căng thẳng đã khiến tôi kiệt sức. Holmes đánh thức tôi dậy khi đến Bristol, ở đó chúng tôi tìm được phòng trong một khách sạn bẩn thỉu gần ga và ngủ cho đến tận sáng hôm sau.
Chặng hành trình còn lại đến Cardiff rõ ràng là kém xa hoa hơn chặng trước, và Holmes đã phải giúp tôi trèo xuống toa tàu, vì cẳng chân tôi gần như tê liệt bởi sức nặng của những túi đồ và sự chèn ép của một bà béo phị ngồi ngay bên. Khi tôi có thể tự đi được, ông ấy ghé sát khuôn mặt lởm chởm râu vào tai tôi và nói bằng một giọng rất khẽ: "Bây giờ, ta sẽ xem xem tự bản thân cháu có thể làm được điều gì. Chúng ta có một cuộc hẹn với hai vợ chồng nhà Simpson tại văn phòng của ngài cảnh sát trưởng Connor vào lúc mười hai rưỡi. Sẽ không hay lắm nếu chúng ta đi thẳng vào cửa chính, thế nên chúng ta sẽ tự làm cho mình bị bắt giữ nhé. Mà đừng cư xử quá thô bạo với kẻ ngược đãi cháu đấy nhé. Xương cốt của lão ấy già cỗi lắm rồi.”
Holmes nhặt hai cái túi nhỏ nhất lên và đi khỏi, để mặc cho tôi xoay sở với bốn cái túi to còn lại. Tôi theo sau Holmes ngang qua một viên cảnh sát mặc quân phục đứng quan sát đám đông - và chúng tôi, chẳng có gì đáng nghi cả. Đám người chen chúc ngay trước cửa ra vào, và Holmes bỗng đột ngột dừng lại để tránh va phải một cô bé con. Tôi đâm sầm vào ông ấy, một bọc túi rơi ra, và trong khi tôi vật lộn để tìm nó thì nó đã bị đá đi khá xa bởi hàng tá người, bắt đầu từ một đôi giày ống gypsy lòe loẹt. Những cái vai và những cú huých khiến tôi chật vật mãi mới theo sát được nó, và khi tôi cúi xuống để nhặt thì bất thình lình một cái gì đó đẩy mạnh tôi vào tường, tôi ngã quỵ xuống đống hành lý và lúng túng giữa mớ váy vóc. Một giọng gầm gừ khó chịu ngay trên đầu tôi.
“Ôi vì Chúa, mày không thể cầm cho chắc mấy cái túi đồ của mày được hả? Nhẽ ra tao nên mang anh trai mày đi theo, ít nhất thì nó cũng có thể đứng thẳng lên rồi!” Một bàn tay thô cứng chộp lấy vai tôi và xốc mạnh tôi dậy, nhưng chưa kịp đứng lên thì tôi đã loạng quạng ngã vào một nhóm mấy người đàn ông ăn mặc rất lịch sự. Những bàn tay mang găng đỡ tôi khỏi bị ngã, nhưng tất cả đám đông đang di chuyển qua lối ra vào đều đã dừng lại đột ngột.
“Quỷ tha ma bắt mày đi, cái con nhỏ này, mày còn tởm hơn con mẹ mày khi ngã dúi dụi vào cánh tay của lũ đàn ông lạ mặt! Cút khỏi đây và mang những thứ của mày đi!” Lão om sòm lên và giật tôi ra khỏi họ, thô bạo đẩy tôi về phía những cái túi. Nước mắt tôi trào ra vì cơn đau buốt sau cú va chạm đầu tiên vào tường, và giờ tôi phải mò mẫm tìm các túi đồ vung vãi. Một giọng bất bình của ai đó vang lên tỏ vẻ phản đối sự ngược đãi vừa rồi, nhưng không ai dám động đậy để ngăn cản “bố tôi”.
“Nhưng bố ơi, họ chỉ cố gắng giúp con thôi...”
Tôi thấy bàn tay lão lao về phía tôi và tiếng bẻ đốt ngón tay kêu răng rắc. Tôi co rúm người lại, dựa vào tường, giơ cả hai cánh tay ôm lấy đầu và bật khóc thảm thương khi lão ta đá mũi giày vào cái túi đựng quần áo dưới chân tôi.
Cuối cùng thì tiếng còi cảnh sát cũng vang lên.
“Dừng ngay lại, ông kia,” một giọng nói xứ Wales đầy uy quyền hét lên. “Thật đáng xấu hổ, thật quá đáng, làm tội làm tình một đứa trẻ như thế này!”
“Con bé này không phải là một đứa trẻ, và nó cần xơi vài cú đấm!”
“Ông không được làm vậy, không là không!” ông ấy quát to và túm lấy cánh tay đang giơ lên của Holmes. “Không được làm điều đó. Cả hai người phải đến đồn cảnh sát, chúng tôi sẽ xem xem ông có bình tĩnh lại được không.” Ông ấy nhìn tôi gần hơn nữa rồi quay sang mấy người đàn ông lịch sự kia. “Có lẽ các quý ông nên kiểm tra lại túi quần của mình, xem có bị mất thứ gì không?”
Tôi và Holmes thi nhau kêu la chửi bới om sòm khi bị nhét vào thùng xe cảnh sát. Khi đã ở trong đó, chúng tôi không hề nhìn nhau. Thỉnh thoảng tôi khụt khịt một cái, cố che giấu sự buồn cười đang ngự trị trên môi.
Tại Sở, một viên cảnh sát tóm lấy cánh tay bị còng của Holmes và thô lỗ dẫn ông ấy đi. Một cảnh sát khác trẻ hơn và đoan trang như mệnh phụ dẫn tôi đi qua hai nhân vật dường như không hiểu tôi là một nạn nhân vô tội hay là còn vô lại hơn cả “ông bố” tôi nữa. Phải mất một nỗ lực khủng khiếp và một lúc lâu mệt mỏi tôi mới thuyết phục được họ chấp nhận yêu cầu của tôi - đó là một cuộc gặp gỡ nho nhỏ với ngài cảnh sát trưởng Connor. Một phụ nữ đứng tuổi và nghiêm trang, có vẻ dữ tợn, gầy gò rít lên rằng tôi phải ngồi yên một chỗ rồi đến nói gì đó với người thư ký. Bà ta ném cái nhìn giận dữ vào tôi, còn người thư ký thì nhìn tôi khó chịu, nhưng tôi không quan tâm. Tôi đã ở đây, và lúc này mới là mười hai giờ hai mươi phút.
Tôi cố làm ra vẻ mất tinh thần, nhưng người thư ký đã quyết định từ chối. Cô ta lắc đầu, chỉ tay về phía cánh cửa đóng im ỉm, và rõ ràng cô ta không cho tôi tiếp cận người đàn ông bên trong đó. Tôi moi ra một cái bút và một mảnh giấy nhỏ từ cái túi to tướng của mình, và sau một thoáng suy nghĩ, viết lên đó tên của đứa trẻ mà vận mệnh của nó đã mang chúng tôi đến nơi này. Tôi gấp tờ giấy làm ba, bước đến và kính cẩn đưa nó cho cô thư ký.
“Tôi rất xin lỗi, thưa quý cô," tôi nói. “Tôi sẽ không nghĩ đến việc quấy rầy ngài cảnh sát trưởng nếu như tôi không tuyệt đối chắc chắn rằng ông ấy muốn gặp tôi. Cô làm ơn chuyển thứ này đến cho ông ấy. Nếu sau đó ông ấy vẫn không muốn gặp tôi, tôi sẽ rút lui im lặng.”
Cô ta nhìn tờ giấy gấp ba, và như thể đọc được những gì ghi trong đó, cô ta cầm tờ giấy và kiên quyết đi qua cánh cửa. Những âm thanh bên trong vang lên đứt quãng, tiếp theo là giọng xin lỗi của cô thư ký, rồi cánh cửa mở ra, một người đàn ông trung niên với vẻ ngoài bóng bẩy và mái tóc màu đỏ lưa thưa xuất hiện. Ông ta lao như cơn lốc ra khỏi phòng, nói oang oang bằng thứ thổ âm xứ Wales thao thao bất tuyệt:
“Vua Pharaoh ngày xưa chỉ bị mỗi Moses1 làm cho khó chịu, còn tôi thì phải mệt mỏi bởi không biết bao kẻ phá rối trên thế giới này. Bây giờ thì, tôi đã nhìn thấy cô ở đây, thưa quý cô,” đôi mắt màu xanh lấp lánh nhưng cũng có phần mệt mỏi ghim chặt vào tôi, “trông đáng thương thật đấy, đúng vậy, nhưng cũng ma mãnh vô cùng, cái cách cô vào được đây và...”
Tôi ngả người trước những gì ông ta nói và góp thêm hai từ nhẹ nhàng nhưng đầy sức thuyết phục: “Sherlock Holmes,” tôi phát âm từng từ một. Đầu Connor bật ngửa lên, như thể là tôi vừa tát ông ta vậy. Connor lùi lại một bước và nhìn tôi từ đầu đến chân, tôi cảm thấy rất thích thú khi nhìn ông ta trong bộ dạng băn khoăn rằng thậm chí một người đàn ông lừng danh khắp thế giới với biệt tài cải trang thì cũng không đời nào là người đang đứng trước mặt ông ta được. Đôi mắt Connor nheo lại.
[1]
“Vậy cô làm thế nào để biết về...” Ông ta dừng lại, liếc nhìn người phụ nữ đang hoảng hốt ngay trước cửa ra vào và dẫn tôi sang một phòng nhỏ hơn, có vẻ tồi tàn hơn - một căn phòng cho những cuộc nói chuyện riêng, với ba cánh cửa. Ông ta đóng cánh cửa sau lưng chúng tôi lại.
“Cô giải thích mọi chuyện đi,” ông ta yêu cầu tôi.
“Tôi rất sẵn lòng,” tôi nói một cách duyên dáng. “Ông không phiền nếu tôi ngồi xuống chứ?”
Lần đầu tiên ông ta thực sự nhìn kỹ tôi, và co rúm người lại trước giọng nói đặc sệt vùng Oxford của cô bé người gypsy, (tôi ngẫm nghĩ về những tác dụng phi thường có thể đạt được bởi một lời nói chẳng hề thích hợp với vẻ ngoài của một ai đó.) Ông ta chỉ vào cái ghế bảo tôi ngồi xuống. Tôi ngồi. Tôi chờ đợi. Và ông ta cũng ngồi xuống.
“Cảm ơn ngài,” tôi nói. “Có một quý ông gypsy nữa đang bị giam giữ ở một trong những phòng xà lim của ngài - đó là ‘bố tôi.’ Thật ra người đó là Sherlock Holmes. Ông Holmes không muốn việc ông ấy được nhờ trong vụ án nhà Simpson bị lộ, vì thế chúng tôi đã chọn cách đến chỗ hẹn này qua cửa sau. Những nhân viên của ngài đã rất lịch sự,” tôi vội trấn an ông ấy, dù không hoàn toàn chân thành.
“Jesus ơi,” ông ta khẽ thốt lên. “Sherlock Holmes đang ở trong nhà giam. Donaldson!” ông ta gầm lên. Cánh cửa phía sau tôi mở ra. “Ta muốn người đàn ông gypsy mà họ bắt giữ ở nhà ga đến đây ngay! Cậu hãy đưa ông ấy đến đây, đích thân cậu ấy!” Một sự im lặng nặng nề bao trùm căn phòng, cho đến khi Connor đột ngột ra khỏi văn phòng và nói với cô thư ký bằng một giọng rất nhỏ. “Cô Carter, chúng tôi sẽ dùng trà, bánh quy nữa, bất cứ thứ gì. Một khay cô vui lòng chuyển đến ông bà Simpson. À, ở đây sẽ là ba tách trà, ba tách nhé.”
Ông ta quay trở lại phòng, thận trọng hạ thấp người xuống cái ghế ngay trước tôi và đan hai tay lại với nhau trên mặt bàn.
“À,” ông ta nói, “thật khôi hài quá. Tại sao tôi lại không biết..." Ông ta ngừng lại, và với một sự cố gắng tuyệt vời, ông ta giũ sạch chất giọng Wales khỏi đầu lưỡi mình và chuyển sang chất giọng Anh như khoác vào một bộ đồng phục. “Nói thật nhé, tôi không nghĩ lại có một cô gái đi cùng ông ấy.”
“Chính ông ấy cũng không biết cho đến tận ngày hôm qua. Tên tôi là Mary Russell. Tôi là cộng sự của Holmes trong vụ này.”
Miệng Connor há hốc vì kinh ngạc, vừa lúc đó Donaldson và Holmes bước vào. Ông “bố” của tôi vẫn bị còng tay, nhưng đôi mắt ông ấy lại lấp lánh một sự thích thú kỳ lạ, hoàn toàn không để ý đến những vết thâm tím trên gò má và mép trái đang bị sưng vù. Connor thất kinh. “Donaldson, thế này là thế nào hả? Chuyện gì đã xảy ra với khuôn mặt của ông đây? Tháo cái còng ra khỏi tay ông ấy mau!”
Holmes cắt ngang bằng chất giọng gypsy khàn khàn, “Ồ không sao, không vấn đề gì hết. Họ chỉ làm đúng trách nhiệm thôi.”
Connor khổ sở nhìn Holmes, rồi liếc nhìn cấp dưới của mình. “Thưa ‘ngài’ Donaldson, ‘ngài’ sẽ phải đi xuống khu nhà giam và chuyển lời đến những ‘anh hùng’ luôn sẵn sàng giơ nắm đấm lên ở dưới đó rằng: tôi cũng chẳng có gì để thưởng cho họ ngoài những nắm đấm này đâu! Thật tồi tệ, Donaldson. Đi, hãy đi ngay đi!”
Người phụ nữ tên Carter bước vào ngay khi viên hạ sĩ lui ra ngoài, và đặt một khay ba tách trà cùng một đĩa bánh ngọt lên bàn, không dám nhìn ai, nhưng vẫn tò mò quan sát. Rõ ràng chúng tôi không phải hạng khách thường được mời trà của Connor.
Cánh cửa đóng lại sau lưng cô ta, và Holmes bước đến ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi.
“Cháu hành động rất kịp thời, Russell. Ta hy vọng là ta không làm hại đến cháu?”
“Chỉ vài vết thâm tím thôi ạ. May là cái kính của cháu không bị vỡ. Ông có sao không?”
“Ta đã nói rồi, không vấn đề gì cả. Thưa ngài cảnh sát trưởng Connor, ngài cũng vừa mới gặp cô Mary Russell đây đúng không?”
“Cô ấy... đã tự giới thiệu mình. Là ‘cộng sự’ của ông. Tôi muốn hỏi ông một điều, thưa ông Holmes, điều này có thực sự cần thiết không vậy?”
Có nhiều ẩn ý bóng gió trong câu hỏi của ông ta, nhưng tôi đã ngây thơ không hiểu được ngay... cho đến khi tôi thấy cái cách rất kỳ lạ mà Holmes nhìn ông cảnh sát trưởng, đột nhiên tôi cảm thấy mình đỏ bừng từ đầu đến chân. Tôi đứng dậy.
“Ông Holmes à, có lẽ... cháu nghĩ sẽ tốt hơn nếu một mình ông tham gia vụ này. Cháu sẽ quay về nhà.”
“Cháu ngồi xuống đây.” Holmes nhẹ nhàng, và tôi đành ngồi xuống, không thèm nhìn vào cảnh sát trưởng Connor nữa.
“Cô Russell là cộng sự của tôi, thưa ngài cảnh sát trưởng. Trong vụ này cũng như các vụ khác nữa.” Đó là tất cả những gì Holmes nói. Connor ngồi thụt vào ghế bành, hắng giọng, rồi liếc nhìn tôi - đó là tất cả những gì gọi là sự xin lỗi mà tôi nhận được.
“Cộng sự của ông. Tốt quá.”
“Đúng vậy. Sự có mặt của cô Russell sẽ không ảnh hưởng gì đến kế hoạch cả. Ông bà Simpsons có ở đây chứ?”
“Họ ở phòng bên. Trước khi gặp họ, tôi nghĩ tôi và ông cần trao đổi một vài điều.”
“Đồng ý. Gặp họ xong chúng tôi sẽ rời khỏi thành phố ngay. Tôi cho rằng những thanh chắn đường đã được mở, và người của ngài đã rời xa khu vực, như tôi đề nghị...”
“Như ông đã yêu cầu,” Connor đồng ý, giọng hậm hực vì phải làm theo lệnh từ cấp trên, mà điều đó thì chẳng lấy gì làm vui vẻ.
Holmes quắc mắt nhìn lên rồi lại ngồi yên trên ghế, đan những ngón tay dài vào nhau và cười nhạt. “Có lẽ chúng ta cần làm rõ vấn đề này, thưa ngài cảnh sát trưởng. Tôi không ‘yêu cầu’ gì cả. Tôi cũng không ‘đòi’ các vị phải chuyển vụ này cho tôi. Các vị đến đặt vấn đề với tôi, và tôi chỉ chấp thuận sau khi tất cả những người tham gia đều đồng ý rằng những đề nghị được ưu tiên của tôi chỉ liên quan đến mấy dặm vuông của vùng quê xứ Wales hẻo lánh. Cứ gọi đó là những yêu cầu nếu ngài muốn, nhưng đừng tỏ ra hậm hực như thế. Hơn nữa, tôi muốn được nói rõ rằng cô Mary Russell đây là đại diện hợp pháp của tôi, và ngay cả khi chỉ có cô ấy xuất hiện thì bất cứ thông điệp hay ‘yêu cầu’ nào của cô ấy cũng là của tôi. Ngài đồng ý như vậy chứ, ngài cảnh sát trưởng?”
“À, ông Holmes,” Connor tỏ ra tức giận, chất giọng xứ Wales dần dần trở lại trong cổ họng ông ta, “tôi khó có thể nghĩ...”
“Rất rõ ràng, Connor ạ. Cứ ngừng lại để suy nghĩ đi, ngài sẽ nhận ra ngay rằng chỉ cần hai từ đơn giản ‘có’ hoặc ‘không’ là đủ. Nếu như ngài đồng ý, thì chúng ta sẽ nói chuyện với ông bà Simpson và bắt tay vào việc. Nếu câu trả lời của ngài là ‘không,’ thì ngài có thể trả lại cho cô Russell đây mấy cái túi của cô ấy, và tôi sẽ giao lại cho ngài vụ án này. Quyết định hoàn toàn ở ngài. Cá nhân tôi thì sẽ rất vui lòng khi được trở lại với những thí nghiệm của tôi, và ngủ trên cái giường của tôi. Vậy sẽ như thế nào đây?”
Đôi mắt nâu lạnh lùng nhìn chằm chằm vào đôi mắt màu xanh sáng, và một lúc sau, đôi mắt xanh hoàn toàn nao núng.
“Xem ra tôi không có sự lựa chọn nào nhỉ?” Ông ta xô mạnh cái bàn, và chúng tôi theo chân viên cảnh sát trưởng đang bực tức qua cánh cửa thứ ba của căn phòng để đi vào văn phòng riêng của ông ta.
Hai người trong đó ngẩng lên nhìn chúng tôi, khuôn mặt quý phái của họ đẫm vẻ bi kịch. Người đàn ông không buồn đứng lên khi chúng tôi bước vào, mà chỉ nhìn qua ngài Connor. Những tách trà trên bàn còn chưa được chạm tới.
“Thưa ngài Thượng nghị sĩ và phu nhân, đây là ông Sherlock Holmes và trợ lý của ông ấy, cô Mary Russell.”
Ngài Thượng nghị sĩ bật ngửa ra sau như kiểu một người đang than khóc trong đám tang lại nghe phải một câu chuyện cười nhạt nhẽo. Holmes nhanh chóng bước lên phía trước.
“Tôi rất lấy làm xin lỗi vì vẻ ngoài kỳ quặc này,” ông ấy nói bằng cái giọng ồm ồm trang trọng của người đã từng tốt nghiệp tại một trường đại học cổ nhất nước Anh. “Tôi nghĩ điều đó tốt cho sự an toàn của con gái ngài. Không ai nhận ra tôi khi tôi bước vào nhà ga và đến đây, như ngài thấy đấy. Và tôi đảm bảo những đồ hóa trang trên người cô Russell đây hoàn toàn là giả, cũng như cái răng vàng mà tôi đang đeo vậy.” Ngài Simpson thôi không xù lông lên nữa, ngài đứng lên bắt tay Holmes. Còn phu nhân Simpson, tôi để ý, dường như chẳng mấy quan tâm đến vẻ ngoài của Holmes và tôi: ngay khi Connor nói tên Holmes, đôi mắt như có ma lực của bà ấy đã dán chặt vào Holmes như kiểu một người đàn bà sắp chết đuối nhìn chằm chằm vào cái cọc nổi trên mặt nước, và dõi theo nhất cử nhất động của Holmes khi ông ấy quay vòng cái ghế để ngồi đối diện trước mặt họ. Tôi ngồi một bên, Connor cũng đến cái ghế của ông ta và ngồi xuống.
“Bây giờ,” Holmes nói một cách mạnh mẽ, “ta vào việc luôn nhé. Tôi chỉ có hai câu hỏi thôi. Câu thứ nhất, tại sao hai vị lại đến đây nghỉ mát?”
“Là do... tôi đã khăng khăng đòi,” phu nhân Simpson đáp. Những ngón tay dữ dội vò chiếc khăn tay mỏng manh trên vạt áo. “Johnny chẳng có mấy ngày được nghỉ ngơi trong khoảng hai năm nay, và tôi đã đòi ông ấy... tôi nói rằng nếu ông ấy không muốn đi nghỉ, thì tôi sẽ dẫn Jessie về nhà mẹ đẻ.” Giọng bà ấy thổn thức, và trong khoảnh khắc Holmes đã ở ngay trước mặt bà ấy, với lòng trắc ẩn và sự cảm thông sâu sắc đặc trưng luôn khiến người ta cảm thấy bất ngờ. Holmes cầm lấy tay bà ấy, buộc bà ấy nhìn thẳng vào mắt mình.
“Thưa bà Simpson, hãy nghe tôi nói đây. Đây không phải là một tai nạn,” ông ấy kiên quyết. “Con gái của bà không bị bắt cóc chỉ vì tình cờ ở trên ngọn đồi đó vào một thời điểm không phù hợp. Tôi biết những kẻ bắt cóc. Nếu như cô bé không bị đưa tới xứ Wales này, thì điều đó cũng sẽ xảy ra khi cô bé đi chơi trong công viên với vú nuôi, hoặc ở ngay trên giường ngủ, tại ngôi nhà của ông bà. Đây là một tội ác có kế hoạch hoàn hảo và có chủ tâm. Đó không phải là lỗi của bà.”
Vị phu nhân - tất nhiên là - suy sụp hoàn toàn, và chiếc khăn tay được tận dụng triệt để.
“Nhưng tại sao lại là nơi này?” Holmes kiên trì hỏi bằng được. “Các vị đã lên kế hoạch trước đó bao lâu, và có những ai biết kế hoạch này?”
Ngài Thượng nghị sĩ trả lời. “Bởi vì chúng tôi muốn tránh xa công chúng, càng xa càng tốt. London... ừm, tôi biết nói thế này là không được khéo léo lắm, nhưng London quả là một nơi vô cùng tồi tệ: không khí thì ô nhiễm và bốc mùi, ông không thể nhìn thấy những vì sao trên bầu trời ngay cả khi đèn đã tắt hết; một thành phố lúc nào cũng ầm ĩ; và, ông sẽ chẳng biết những quả bom sẽ nổ bất thình lình khi nào. Wales tách biệt hẳn khỏi nơi đó. Từ cuối tháng Năm chúng tôi đã lên kế hoạch sẽ đi nghỉ khoảng một tuần, ngay sau khi vụ đánh bom cuối cùng diễn ra.”
“Có ai gợi ý với ông bà về nơi này không?”
“Không. Gia đình bên vợ tôi xuất thân từ vùng Aberystwyth, thế nên chúng tôi cũng biết sơ sơ về miền quê này. Có nhiều đồi núi giống Colorado nơi tôi lớn lên, tất nhiên không có những dãy núi cao, nhưng chúng tôi nghĩ sẽ rất tuyệt khi đi bộ trên thảo nguyên và cắm lều ở đó một vài ngày. Chỉ là một nơi yên tĩnh và cách xa đường lớn.”
“Rồi các vị chuẩn bị những đồ dùng cần thiết và phương tiện đi lại, đúng không? Cả cuộc hẹn người tài xế quay trở lại trong vòng năm ngày nữa - có thông báo cho cảnh sát và báo chí, đúng không? Ai đã làm tất cả những chuyện đó?”
“Trợ lý riêng của tôi. Anh ta là người Anh. Tôi tin anh trai anh ta là người biết chỗ thuê lều trại và những vật dụng linh tinh, có lẽ ông nên hỏi anh ta để biết rõ hơn.”
“Tôi có những thông tin đó cho ông đấy, ông Holmes,” Connor lẩm bẩm từ phía bàn làm việc của mình. “Ông sẽ có chúng trước khi rời khỏi đây.”
“Cảm ơn, ngài cảnh sát trưởng. Ngài Thượng nghị sĩ, chúng ta sẽ xem ngày cuối cùng của gia đình ngài ở đó nhé. Ngài đã đi dạo, mua xúc xích và bánh mì tại một khu nhà trại, rồi nấu ăn và dùng bữa vào lúc năm giờ, sau đó ngài ở trong lều đọc sách vì ngoài trời đang mưa. Khoảng mười một giờ ngài ngủ thiếp đi, đến khoảng bốn giờ sáng ngài thức giấc và nhận ra con gái mình đã mất tích?”
“Con bé không đi đâu cả!” bà Simpson cắt ngang. “Jessica không bao giờ ra khỏi lều một mình. Con bé sợ bóng tối; nó không thể tự đi, dù là chỉ ra ngoài để xem những chú ngựa. Tôi biết con bé rất yêu những chú ngựa Pony vẫn lang thang trên thảo nguyên, nhưng con bé không đuổi theo những con ngựa đó, không hề.”
Holmes nhìn thẳng vào khuôn mặt bàng hoàng của bà ấy.
“Điều đó khiến tôi muốn hỏi tiếp hai vị câu hỏi thứ hai. Hai vị cảm thấy thế nào khi thức dậy vào buổi sáng hôm sau?”
“Cảm thấy?” ngài Thượng nghị sĩ nhìn Holmes không tin nổi vì một câu hỏi hết sức điên rồ. “Ông cho là chúng tôi cảm thấy thế quái nào hả? Cảm thấy thế nào khi thức dậy và không thấy con gái của mình đâu ư?”
Holmes giơ tay làm dấu ngắt lời ông ta.
“Tôi không hề có ý như vậy. Đương nhiên là hai vị sẽ hoảng loạn và mất phương hướng, nhưng thể trạng hai vị cảm thấy thế nào, thể trạng ấy?”
“Hoàn toàn bình thường, tôi đoán vậy. Tôi không nhớ nữa.” Ông ta nhìn bà vợ.
“Tôi nhớ. Tôi cảm thấy đầu nặng như chì. Không khí bên ngoài thì lại rất tuyệt vời, giống như hơi sâm panh thoảng nhẹ vậy.” Đôi mắt đang chịu đựng nỗi mất mát lớn lao nhìn chằm chằm vào Holmes. “Có phải chúng tôi bị đánh thuốc mê không?”
“Rất có khả năng là như vậy. Thưa ngài cảnh sát trưởng, người của ngài có tìm thấy gì ở những miếng xúc xích không?”
“Chúng đã được mang đi phân tích, nhưng chúng tôi không tìm thấy gì đáng khả nghi, kể cả trong những đồ ăn khác. Cặp vợ chồng già ở nông trang cũng dường như vô hại.”
Nửa tiếng sau Holmes vẫn kiên trì đặt câu hỏi với cả ngài cảnh sát trưởng và hai vợ chồng Thượng nghị sĩ, nhưng có vẻ không khả quan cho lắm. Họ không nghĩ ra kẻ thù địch nào, cũng không thấy có người lạ mặt nào lảng vảng trước đó, số tiền chuộc đang được chuyển đến từ nước Mỹ - ngài Simpson đã vay nó từ cha mình. Cuối buổi nói chuyện, ngài Thượng nghị sĩ có vẻ xanh xao còn vợ ông ta thì ngày một run rẩy. Holmes cảm ơn họ.
“Tôi rất lấy làm tiếc vì đã bắt hai vị phải tham gia vào thử thách cam go này. Trong một vụ án, những chi tiết nhỏ nhất có khi lại là những mấu chốt sống còn. Russell này, cháu có câu hỏi gì không?”
“Chỉ một câu thôi ạ, về bản thân cô bé. Thưa bà Simpson, cháu muốn biết bà nghĩ thế nào về phản ứng của con gái bà? Bà nghĩ cô bé sẽ phản ứng thế nào khi bị bắt đi bởi những người hoàn toàn xa lạ?” Tôi sợ rằng câu hỏi của mình sẽ làm bà ấy thêm đau đớn, nhưng thật kỳ lạ là không. Bà ấy ngồi thẳng lên, và lần đầu tiên bà nhìn thẳng vào tôi.
“Jessica là một đứa trẻ rất độc lập và quyết đoán. Con bé cực kỳ thông minh và không dễ hoảng sợ trước bất cứ điều gì. Chân thành mà nói, dù rằng con bé được chăm nom chu đáo từ tấm bé, thì nó vẫn bình tĩnh và bản lĩnh hơn mẹ nó.” Một nụ cười thoáng hiện trên khuôn mặt bà ấy. Và không ai nói gì thêm nữa.
Connor tiễn họ ra tận cửa rồi quay lại phòng với một tập tài liệu dày được buộc cẩn thận.
“Đây là báo cáo đầy đủ, mọi thứ mà chúng tôi tìm thấy, gồm cả những cuộc phỏng vấn người dân địa phương, tất cả mọi thứ. Tôi nghĩ ông sẽ muốn mang những thứ này đi, chứ không phải muốn đọc chúng ngay lúc này.”
“Đúng vậy, tôi muốn rời khỏi đây càng sớm càng tốt. Khu nhà lưu động của dân gypsy ở đâu vậy?”
“Ở đầu phía Bắc của thị trấn này, trên đường tới Caerphilly. Những tàu ngựa thuộc quản lý của một người tên là Gwilhem Andrewes. Lão ta không phải là bạn của cảnh sát như ông nghĩ đâu, nhưng ông sẽ cần đến sự giúp đỡ của lão ta. Tôi gọi xe chở hai người đến đó nhé?”
“Không, tôi không nghĩ đó là cách đối xử phù hợp với hai kẻ gypsy lang thang như chúng tôi, ngài có nghĩ như vậy không? Ngài cũng cần phải nói chuyện với cô Carter và hạ sĩ Donaldson nữa. Chúng tôi không muốn cả lực lượng cảnh sát biết được rằng ngài cảnh sát trưởng đã ở trong phòng nói chuyện suốt cả tiếng đồng hồ với hai kẻ gypsy đang bị bắt. Không, tôi nghĩ là chúng tôi sẽ tiếp tục như thể chỉ bị cảnh cáo, như thể ngài rất tốt bụng nên đã cho chúng tôi được tự do. Ngài biết nơi chúng tôi sắp đến, nếu ngài cần nói chuyện với tôi, hãy bảo một trong những cấp dưới của ngài ‘chặn’ tôi lại - không ai thèm thắc mắc khi một cảnh sát gây sự với một kẻ gypsy đâu. Nhưng, nếu như anh ta muốn bắt tôi, hãy bảo anh ta nhẹ tay thôi nhé. Tôi hứa là tôi sẽ không đánh con gái mình nhừ tử tại nhà ga nữa đâu.” Connor lưỡng lự, rồi phá lên cười. Có lẽ chỉ trong trường hợp này mới khiến cho ông ấy bật cười như vậy.
Chúng tôi đứng dậy chuẩn bị đi. Connor cũng đứng dậy vòng qua bàn làm việc và chìa tay ra trước mặt Holmes, “Tôi rất xin lỗi, thưa ông Holmes, về những gì đã xảy ra. Tôi vừa mới đến nhậm chức ở trụ sở này, và tôi chỉ muốn giải thích với ông chứ không hề có ý bao biện.” Holmes cầm lấy tay ông ta và hai người bắt tay nhau.
“Tôi đã thấy những người tốt ở nơi này, ngài Connor. Những người còn rất trẻ, nhưng dưới trướng của ngài, tôi tin là họ sẽ trưởng thành nhanh chóng.”
“Tôi hy vọng là như vậy, ông Holmes. Bây giờ thì, tôi chúc ông đi may mắn, và sớm bắt được con ác thú đó. Và cả cô nữa, cô Russell.”
Chúng tôi nhanh chóng bước ra ngoài phố, mỗi người xách ba cái túi, tiếp tục cuộc hành trình về phía ngoại ô, và tìm ra trại ngựa của Andrewes. Holmes để tôi một mình trong phòng làm việc rồi đi tìm lão. Đang thất vọng vì không tìm được cái gì để đọc thì tôi nghe thấy tiếng người nói chuyện ở ngoài cửa, rồi một nhân vật béo ú, trông có vẻ gian xảo bước vào, theo sau lão là hình dáng có vẻ “kém bất hảo hơn” của Holmes, nồng nặc mùi whisky và lóe lên chiếc răng vàng. Andrewes liếc nhìn tôi một cách đểu cáng cho đến khi Holmes dúi một tập tiền ngay trước mũi lão.
“Vậy, ông Andrewes, cứ quyết định như vậy nhé. Cám ơn ông vì đã giữ chiếc xe ngựa của anh trai tôi giùm tôi. Đây là những gì tôi nợ ông. Đi nào, Mary, xe ngựa đã để trong sân rồi.”
“Khoan đã nào, ông Todd, ông trả công tôi có vẻ hơi ít đấy.”
“A, rất xin lỗi, tôi sẽ trả thêm đấy.” Ông ấy tỉ mẩn đếm từng xu. “Đủ rồi nhé, giờ thì chúng tôi phải đi đấy. Cầm lấy những cái túi nào, con bé kia,” ông ấy càu nhàu.
“Vâng, thưa bố.” Tôi ngoan ngoãn lếch thếch theo sau Holmes, hai tay nặng trĩu với bốn cái túi to đùng, đi qua mặt sân ngập ngụa rác rưởi đến chỗ khu nhà lưu động của dân gypsy thứ thiệt. Một con ngựa với bộ lông bờm xờm và bộ vó to khỏe đang được dắt ra. Tôi đặt những cái túi nặng trịch xuống và đi vòng quanh để giúp Holmes, thầm thấy may mắn vì đã học được những điều có ích từ bác Pattrick. Tôi trèo lên xe ngồi cạnh Holmes, trên một cái ghế làm bằng gỗ cứng. Ông ấy đưa cho tôi dây cương, khuôn mặt lạnh tanh. Tôi liếc nhìn hai người đàn ông đang đứng gần đấy, chỉnh lại những sợi dây cương, và quất mạnh vào cái mông to bè ngay trước mặt mình. Con ngựa vội vã rướn người về phía trước, và chúng tôi theo con đường hướng về phía Bắc, lẩn theo dấu vết của Jessica Simpson.
---❊ ❖ ❊---
CHÚ THÍCH
[1] 1 Moses là nhà lãnh tụ tôn giáo, sử gia, người công bố luật pháp, nhà tiên tri, và là một thiên tài về quân sự. Theo Kinh Thánh, Moses là con của một phụ nữ Do Thái (thời kỳ bấy giờ người Do Thái đang bị người Ai Cập áp bức). Khi nhận biết đứa bé sơ sinh là con trai, bà tìm cách cứu con mình khỏi bị giết vì Pharaoh đã ra lệnh tàn sát tất cả bé trai thuộc dân tộc Do Thái ngay khi chúng vừa chào đời. Cuối cùng, cậu bé Moses được nhận nuôi và trở thành một thành viên của Hoàng gia Ai Cập. Sau khi ra tay giết chết một quản nô Ai Cập để cứu một người Do Thái, Moses phải chạy trốn, rồi trở thành mục tử. Về sau ông được Thiên Chúa kêu gọi trở về Ai Cập với sứ mạng giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ của người Ai Cập.