Người tình của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 4822 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
img

Hãy trả cô bé trở về chỗ cũ... và họ sẽ đón cô bé trong niềm hân hoan cảm động vô ngần...

Vừa đến vùng ngoại ô, Holmes đã bắt tôi đánh xe vào sát ven đường.

“Chúng ta cần phải kiểm tra thật kỹ lưỡng cỗ xe này, ta hơi lo,” ông ấy nói. “Lần trước ta đã thuê phải một cái xe mà bánh của nó bị long hẳn ra. Cháu cởi dây buộc ngựa ra khỏi xe đi, rồi kiểm tra phía dưới dây cương ấy, kiểu gì cũng tìm thấy vài vết thương trên mình con ngựa. Bàn chải, thuốc mỡ và mấy miếng giẻ lót ta đều để hết trong cái túi vải in hoa kia kìa!” Nói rồi Holmes biến mất dưới gầm xe. Tôi bắt đầu công việc của mình, và trong khi tôi bôi thuốc mỡ, chải lại bộ lông cho con ngựa thì ông ấy cũng bắt đầu vặn lại ốc vít và tra dầu vào cái trục xe đã khô khốc. Tôi đi vòng quanh xem liệu có thể giúp được gì không thì chỉ thấy đôi chân dài của ông ấy thò ra từ phía sau xe.

“Ông cần cháu giúp gì không ạ?” tôi hỏi.

“Không đến mức cả hai chúng ta đều phải làm thợ sửa máy đâu. Ta sắp xong rồi đây.” Một phút trôi qua, tôi im lặng, trong khi ông ấy càu nhàu dưới gầm xe.

“Holmes à, cháu có vài chuyện muốn hỏi ông.”

“Không phải bây giờ, Russell.”

“Cháu cần phải biết... Liệu sự có mặt của cháu có làm ông thấy khó xử không?”

“Đừng có ngớ ngẩn thế!”

“Cháu muốn biết điều đó, thật đấy! Hôm nay, ngài cảnh sát trưởng gần như buộc tội ông... với cháu... cháu chỉ muốn biết liệu sự có mặt của cháu có gây bất tiện gì không thôi.”

“Ôi Russell yêu quý, đừng có hy vọng hão huyền. Chính cháu đòi ta cho cháu đi theo, ta làm sao có thể từ chối được! Ta rất... ôi trời! Đưa cho ta cái giẻ lau mau! Cảm ơn... Ta rất kinh ngạc, Russell ạ, vì cháu đã chứng tỏ mình là một trợ lý thành thạo, hơn nữa còn giữ đúng lời hứa trở thành một người có ích. Đưa cho ta cái cờ-lê to.” Ông ấy vừa hì hục làm vừa càu nhàu. “Connor là một tên ngốc. Ta chẳng quan tâm đến những gì hắn cùng những kẻ như hắn lựa chọn và tin tưởng, và cho đến lúc đó thì chuyện đó chẳng có hại gì đến cháu. Cháu không thể ngăn được việc mình là một cô gái, và ta sẽ là một kẻ ngốc nếu như ta coi thường năng lực của cháu chỉ vì điều đó.”

“Cháu hiểu.”

“Còn nữa,” ông ấy nói thêm, giọng như nghẹt lại dưới gầm xe, “nếu cháu là con trai, và lúc nào cháu cũng kè kè bên một kẻ độc thân lừng danh như ta, thì cháu còn thấy ngượng hơn nhiều đấy.”

Tôi thực sự không thể đáp lại được câu nói đó của Holmes. Vài phút sau ông ấy chui ra khỏi gầm xe, lem luốc như người thợ mỏ. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

Chiếc xe ngựa lắc lư đi về hướng Bắc. Holmes liên tục bảo tôi phải làm thế này thế nọ, can thiệp tàn nhẫn vào vai diễn của tôi, chỉ trích và chỉnh lại dáng đi của tôi, ngôn từ cùng điệu bộ của tôi, bắt tôi phải học cách phát âm và dùng từ đặt câu của người dân xứ Wales, làm như ông ấy biết mọi chuyện về xứ sở này vậy.

Xuyên qua hạt Glamorgan, chúng tôi đi bộ, rồi lại đánh xe ngựa, rồi lại đi bộ, cho đến khi tới hạt Gwent và hạt Powys. Bây giờ chúng tôi rẽ sang hướng Tây, dọc theo sườn đồi xanh mướt chạy quanh co đến dãy núi Brecon Beacons. Những người chăn cừu hoài nghi quan sát chúng tôi khi chiếc xe ầm ầm chạy qua, trong khi đó, những con chó gầy, đen, mắt sáng như sao đang nằm dài trên cỏ của họ lại chẳng thèm liếc nhìn chúng tôi một cái. Khi chúng tôi đi qua các thôn xóm nhỏ, bọn trẻ con trong làng chạy ra đường la hét ầm ĩ, rồi chúng đứng yên lặng và tò mò nhìn chằm chằm vào vẻ lộng lẫy toàn màu vàng, xanh, đỏ của chúng tôi, miệng ngậm ngón tay, những đôi chân trần lấm lem bùn.

Bất cứ nơi nào đến, chúng tôi đều có những màn trình diễn lôi cuốn. Khi bọn trẻ con đến xem, tôi thường chơi trò tung hứng, lôi ra những chiếc khăn sặc sỡ từ túi chúng hoặc đồng nửa xu từ những cái tai bẩn của chúng, và khi tôi khiến các bà mẹ cũng phải chú ý thì Holmes sẽ rời quán rượu, chùi miệng bằng mu bàn tay rồi lôi đàn violin ra kéo. Tôi ngồi xem bói qua những đường chỉ nứt nẻ trên lòng bàn tay thô cứng của họ, thì thầm mấy lời mập mờ về những người đàn ông lạ trong bóng đêm của họ, sự giàu sang bất chợt, hay tiên đoán chắc chắn về những đứa trẻ khỏe mạnh sẽ phụng sự họ lúc về già. Buổi tối, khi những người đàn ông trở về thì ngay lập tức các bà vợ nhìn tôi bằng ánh mắt hình viên đạn. Rồi khi thấy tôi gọi Holmes “Bố ơi!” và thấy chúng tôi rời khỏi ngay tối hôm đó thì họ đã bỏ qua cho tôi về việc làm nảy sinh những cái liếc và những lời bình phẩm của các đức ông chồng.

Sang ngày thứ hai, chúng tôi đã vượt qua rào chắn của cảnh sát để đi vào vùng đất được bảo vệ, chỉ bị quát mắng tí chút. Ngày thứ ba, chúng tôi đi qua nơi mà gia đình Simpson đã dựng lều, rồi đi tiếp một dặm nữa và dừng xe lại ven đường. Tôi nấu chút đồ ăn nhẹ, và sung sướng khi Holmes bảo tay nghề nấu ăn của tôi hình như đã khá hơn.

Khi cái chảo được đánh sạch bong, chúng tôi thắp đèn dầu và đóng cửa lại, bỏ lại ngoài kia bóng đêm đang dịu dàng buông xuống, rồi xem xét kỹ lưỡng một lần nữa tất cả những giấy tờ mà Connor đã đưa - các bức ảnh và các ghi chú được đánh máy, cuộc phỏng vấn hai vị phụ huynh, lời khai của những nhân chứng ở trên núi và những nhân viên của ngài Thượng nghị sĩ ở London, cuối cùng là một bức ảnh đẹp lung linh của Jessica chụp vào mùa xuân năm ngoái, cô bé cười rạng rỡ khoe chiếc răng khểnh trong một Studio với nền phông in hình khóm hoa hồng đang nở. Soi kỹ từng trang của tập tài liệu, nhưng những gì tôi thấy chỉ là sự thiếu chứng cứ một cách tuyệt đối, sự khánh kiệt dần của gia đình nạn nhân, và một sự thật tàn bạo hiển hiện rõ ràng: tất cả những kẻ bắt cóc sau khi nhận được tiền sẽ chỉ trả lại cho gia đình nạn nhân một xác chết, một xác chết câm lặng.

Holmes hút ba điếu thuốc liền và nhẹ nhàng trèo lên chỗ ngủ. Tôi đóng tập tài liệu, tắt đèn, và nằm trằn trọc trong bóng đêm khá lâu sau khi hơi thở của Holmes đều đều từng nhịp. Cuối cùng, khi gần hết cái đêm mùa hạ ngắn ngủi này, tôi mới thiếp đi được một chút... Giấc mơ đó lại đến, giật mạnh tôi với những móng vuốt sắc nhọn của nó - những lời trách mắng, nỗi khiếp sợ và cô đơn khi bị bỏ rơi... vùng địa ngục mênh mông tăm tối và rõ ràng một cách kỳ quái của riêng tôi... Bất chợt, trong khoảnh khắc đỉnh điểm của nỗi kinh hoàng, một giọng nói sắc lạnh kéo tôi trở về thực tại, tôi giật mình bừng tỉnh, thở hổn hển và run lập cập trong không gian lặng thinh của chiếc xe gypsy .

“Russell? Russell à, cháu không sao chứ?”

Tôi ngồi dậy, và ông ấy bỏ tay ra.

“Không ạ. Cháu ổn, ông Holmes.” Tôi hả hơi ấm vào hai lòng bàn tay và cố gắng bình tĩnh trở lại. “Cháu xin lỗi vì đã đánh thức ông. Chỉ là một cơn ác mộng thôi, chắc do cháu quá lo lắng về cô bé đó. Thỉnh thoảng cháu lại bị như vậy. Không có vấn đề gì nghiêm trọng đâu ạ.”

Holmes dịch người đến cái bàn nhỏ, quẹt một que diêm rồi thắp nến. Tôi ngoảnh mặt đi, tránh cái nhìn của ông ấy.

“Ta pha cho cháu thứ gì đó để uống nhé? Thứ gì đó nóng nhé?”

Sự quan tâm của Holmes khiến tôi rối bời.

“Không, không cần đâu, cảm ơn ông, một lúc nữa cháu sẽ ổn thôi. Ông ngủ tiếp đi.”

Holmes đứng quay lưng về phía ánh sáng, và tôi cảm thấy ông ấy đang nhìn mình không chớp mắt. Tôi đột ngột đứng lên, với lấy cặp kính và chiếc áo khoác.

“Cháu sẽ ra ngoài hít thở không khí trong lành. Ông cứ ngủ tiếp đi,” tôi rắn rỏi nhắc lại và trượt người ra khỏi chiếc xe.

Sau hai mươi phút đi dọc con đường, bước chân tôi chậm dần, và mười phút sau tôi dừng lại ngồi xuống một bức tường thấp. Những ngôi sao lấp ló trong đêm - một chuyện tương đối kỳ lạ ở cái xó xỉnh mưa nhiều này - không khí mát lành và thoảng mùi dương xỉ, mùi cỏ cùng mùi của những chú ngựa. Tôi vơ một đống cỏ lớn vào người và nghĩ đến bà Simpson, người đã ví mùi này giống như hơi sâm panh thoảng nhẹ. Tôi tự hỏi liệu cô bé Jessica Simpson có đang hít mùi cỏ thơm như tôi hay không.

Cơn ác mộng mờ nhạt dần. Từ khi bố mẹ tôi qua đời, ác mộng cùng hồi ức lúc nào cũng ám ảnh tôi, bám riết lấy tôi và khiến cho những đêm tôi ngủ trở thành địa ngục. Mặc dù vậy, tối nay tôi phải biết ơn Holmes vì nhờ có ông ấy đánh thức mà hậu quả của cơn ác mộng bớt nghiêm trọng hơn rất nhiều. Một tiếng sau, thấy hơi lạnh nên tôi quay trở lại chỗ chiếc xe trong ánh sáng yếu ớt đầu ngày, rồi leo lên giường và chợp mắt một lúc.

Sáng ra, cả hai chúng tôi đều không nhắc đến chuyện đêm qua nữa. Tôi nấu cháo yến mạch cho bữa sáng, món cháo được “rắc” thêm một lớp bụi tro từ than củi và vón cục đến mức bà Hudson thể nào cũng bảo đó là thức ăn cho gà. Ăn xong, chúng tôi đi bộ ngược lên địa điểm dựng lều của gia đình Simpson — chúng tôi đi đường vòng và mang theo một cái thuổng để ngụy trang cho sự xuất hiện của mình.

Địa điểm chúng tôi đến có vẻ đang bị bỏ hoang. Cái lều vẫn được dựng ở đó: những sợi dây thừng đã chùng xuống, tấm bạt nhão nhoét, và bên mé lều nơi bà Simpson từng nấu ăn là hai cái chảo nằm chỏng chơ, hoen gỉ. Cả khu đất có mùi tro cũ, ướt, và mang vẻ hoang vắng tiêu điều với món đồ chơi của trẻ con bị bỏ lại lăn lóc ngoài mưa...

Tôi đi lên phía cửa lều và nhìn vào một mớ lộn xộn toàn túi ngủ, ba lô và quần áo, tất cả đều bị bỏ lại trên bãi đất gồ ghề, hiện trường được giữ nguyên theo yêu cầu của cảnh sát nhằm xác định vị trí của đứa bé. Holmes đi vòng quanh căn lều, đôi mắt ông ấy chú ý đến nền đất bị giẫm nát, ướt đẫm nước mưa.

“Chúng ta có bao nhiêu thời gian?” tôi hỏi ông ấy.

“Connor đã sắp xếp để viên cảnh sát canh chừng khu vực này bị gọi đi cho đến chín giờ. Khoảng gần hai tiếng.”

Trước vẻ hài lòng của Holmes, tôi kéo tấm vải bạt xuống rồi đi vòng ra phía sau lều, và bắt gặp hình ảnh độc nhất vô nhị của một ông già gypsy một tay cầm kính lúp, tay kia cầm cây bút máy đâm từng chút một vào những đường may dưới mép lều. Cây bút biến vào bên trong. Tôi lại vòng ra phía trước rồi chui vào lều, và khi tấm nệm được kéo hẳn ra ngoài, tôi đã nhìn ra điều mà Holmes đang khám phá: một đường rạch nhỏ xíu ngay phía trên đường may nối, những lưỡi dao cắt vào sâu bên trong, và hai dấu vết cắt hơi cong lên một chút.

“Đúng như ông mong muốn, đúng không?”

“Cháu cũng vậy sao?” Tôi định nhăn mặt lại với Holmes qua tấm vải bạt, nhưng đã kiềm chế lại. Ông ấy đã biết rõ.

“Một cái ống, để thổi khí gây mê ư?”

“Cháu đoán đúng đấy, Mary Todd,” ông ấy đáp. Tôi đứng dậy, nhìn vào góc lều nơi Jessica Simpson từng ngủ. Theo như lời bố mẹ cô bé, thứ duy nhất không tìm thấy được trong ba lô của cô bé hay trong căn lều là đôi giày của nó. Không phải áo len chui đầu, không phải là những đôi tất, thậm chí không phải là con búp bê yêu quý của cô bé. Chỉ là đôi giày.

Con búp bê vẫn ở đó, bị một mớ lộn xộn trên tấm nệm lộn ngược đè lên, tôi lôi nó ra, vuốt phẳng bộ váy nhàu nát của nó và vén mớ tóc bằng sợi nylon rối bù ra khỏi đôi mắt xanh to tròn của nó. Đôi môi đỏ xinh cười với tôi một cách bí ẩn.

“Này, tại sao mày không kể cho ta nghe những gì mày đã nhìn thấy đêm hôm đó chứ?” tôi trò chuyện với con búp bê. “Nó sẽ giúp chúng ta giải quyết được rất nhiều vấn đề đấy, mày có biết không?”

“Chuyện gì vậy?” giọng Holmes vang lên cách một đoạn xa.

“Không có gì đâu ạ. Liệu chúng ta có được phép mang theo con búp bê này không, Holmes?”

“Chắc là có. Họ giữ những thứ này cho chúng ta xem xét mà, họ đã chụp ảnh cả rồi.”

Tôi nhét con búp bê vào túi váy, nhìn xung quanh lần cuối cùng rồi bước ra ngoài. Holmes đứng đó, quay lưng lại với cái lều, chống tay bên hông và nhìn xuống thung lũng.

“Ông đang định vị lại vùng đất đấy à?”

“Nếu như cháu định bắt cóc một đứa trẻ, Russell, cháu sẽ mang nó đi bằng cách nào?”

Tôi mím môi phải đến mấy phút và ngắm nhìn những sườn đồi phủ đầy dương xỉ. “Nếu là cháu, cháu sẽ dùng một chiếc xe hơi, nhưng đêm đó không ai nghe thấy tiếng động cơ nào cả. Cũng không thể chạy bộ - vác một đứa trẻ hai lăm cân trên lưng mà chạy thì ngay cả một người đàn ông to khỏe cũng mệt đứt hơi mất.” Tôi quan sát kỹ khu đồi và thấy những đường mòn quanh co. “Phải rồi! Những con ngựa! Những kẻ bắt cóc đã dùng ngựa, đúng không ạ?”

“Thật đáng buồn vì khi đối diện với những đường đồi khó khăn, các cô gái hiện đại bao giờ cũng nghĩ ngay đến xe hơi. Chậm chạp lắm, Mary Todd ạ. Cháu đã bỏ qua những điều rất rõ ràng đấy. Thuyết thần học đúng là có khả năng phá hủy tư duy lý luận của con người.”

Tôi khép nép và than vãn với ông ấy.

"Ôi, Bố ơi, đó không phải là lỗi của cháu mà. Cháu chỉ nhìn vào những bằng chứng thôi mà.”

“Phát âm “B” mạnh hơn nữa nào,” Holmes lơ đãng chỉnh tôi. “Vậy, đường nào đây?”

“Không phải về hướng đường lớn, vì ở đó rất dễ bị phát hiện.”

“Thế thì chúng sẽ đi xuống thung lũng, hay là băng qua những sườn đồi?”

“Tiếc là chúng ta không đến đây từ tuần trước; nếu không chúng ta chắc chắn đã tìm thấy thứ gì đó rồi.”

“Chúng ta chỉ còn một tiếng trước khi lính gác quay trở lại. Hãy xem xem còn có thể tìm được gì nữa không. Ta sẽ trèo lên đồi, còn cháu tìm ở dưới này nhé.”

Nửa tiếng trôi qua mà chúng tôi vẫn không tìm thấy gì cả ngoài cái lưng đau dần và cái cổ cứng đơ. Bốn mươi lăm phút, tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng. Chúng tôi đều đã đến những điểm xa nhất rồi lại vòng trở về điểm giữa... Ô, có thứ gì đó đập vào mắt tôi - tôi ngay lập tức chạy lại, nhưng hóa ra chỉ là một tia sáng lóe lên từ một viên đá bị móng ngựa sượt qua làm cho trầy xước . Tôi đi tiếp, rồi chợt quay lại. Liệu những con ngựa không được bịt móng có làm cho những viên đá này trầy xước được không? Theo lẽ thường, tôi nghĩ là không.

Holmes ... Bố ơi!” tôi gọi. Holmes ngước lên, ông lập tức băng qua sườn đồi với những sải bước dài, cái thuổng nảy trên vai. Đến nơi, ông ấy thở hổn hển. Tôi chỉ tay và ông ấy ngồi xuống, soi xét nó bằng kính lúp.

“Cháu làm tốt lắm. Ta sẽ bỏ qua cho thiếu sót của cháu trước đó,” Holmes ra vẻ cao thượng. “Nào, chúng ta hãy xem dấu vết này đi đến đâu .” Tôi và Holmes tiếp tục đi về hướng mà chúng tôi đã đi trước đó, soi thật kỹ ở cả hai bên lối đi quang đãng các vết móng ngựa. Một giờ sau, chúng tôi đã đi qua ranh giới khám xét của cảnh sát.

Holmes và tôi cùng một lúc phát hiện ra một mảnh vải màu trắng. Đó là một chiếc khăn tay nhỏ, gần như bị vùi trong đống bùn. Ông ấy nhặt nó lên và căng rộng ra. Ở góc khăn có thêu chữ J.

“Có phải là một sự tình cờ không nhỉ?” Tôi ngạc nhiên hỏi to. “Lẽ nào cô bé thức dậy và cố ý đánh rơi chiếc khăn tay của mình? Một đứa bé sáu tuổi có thể làm được điều đó không? Cháu không nghĩ như vậy.”

Chúng tôi tiếp tục, vài phút sau tôi vẫn còn thắc mắc, nhưng rồi bên một lối đi hẹp, tôi chợt nhìn thấy một dải ruy băng màu xanh buông hờ hững trên một nhành dương xỉ. Tôi hoan hỉ gỡ nó ra.

“Chính là Jessie. Dải ruy băng buộc tóc của cô bé!”

Chúng tôi đi tiếp, nhưng không tìm thêm được dấu vết gì nữa. Rốt cuộc con đường mòn cũng bị rẽ đôi, một đường chạy lên và uốn qua đồi , đường kia chạy xuống phía những hàng cây. Chúng tôi nhìn hai lối rẽ trong hy vọng, nhưng đều không thấy dải ruy băng hay dấu vết gì nữa.

“Cháu sẽ đi lên dốc thêm một lần nữa.”

“Khoan đã. Chỗ những cái cây dưới kia, lớp đất bị cào lên phải không?” Chúng tôi đi xuống, và ở đó, trong một khoảng trũng nhỏ, thực sự có những dấu vết khả nghi. Holmes cẩn thận đi xung quanh, gập người xuống soi xét, rồi cầm lên một vật gì tôi không thấy rõ. Rồi ông lại soi xét, nhặt lên một vật khác nữa, và cuối cùng ông cho phép tôi tiến lại gần.

“Jessica đã nhảy xuống ngựa,” Holmes nói, huơ những ngón tay cách chừng ba phân trên mặt đất bị giẫm nát. “Cô bé đi chân đất - mặc dù bọn bắt cóc đã lấy đi cả đôi giày của cô bé, chúng cũng chẳng buồn cho cô bé đi giày. Đôi tay cô bé không bị trói. Ở ngay đây,” ông ấy nói, ấn một ngón tay vào lớp đất có cỏ mọc, “cháu có nhìn thấy những đường ngắn song song này không? Những ngón chân của cô bé đó. Và đây, những đường dài hơn chụm vào nhau? Đó là những ngón tay của cô bé vạch lên mặt đất khi ngã và chạy thật nhanh về phía những bụi cây đằng kia.” Holmes chỉ đến đâu, tôi thấy rõ dấu vết đến đó, rất rõ ràng mặc dù đã có những trận mưa đi qua. Ông ấy đứng dậy và lần theo những vết chân ngựa cùng dấu chân người. “Cô bé đã chạy được khá xa trước khi bị bọn chúng tóm lại, vì chiếc váy ngủ lòa xòa, một chiếc cúc bị bật ra này,” Holmes đưa tôi xem vật mà ông ấy đã nhặt lên trước đó, “và mái tóc của cô bé đã bị xổ tung ra vì dải ruy băng bị rơi.” Ông ấy giơ lên mấy sợi tóc màu nâu vàng bê bết bùn.

“Ôi Chúa ơi!” tôi rên rỉ. “Cháu hy vọng chúng không làm bé đau đớn khi bắt bé lại.”

“Chẳng còn dấu vết nào trên mặt đất cả,” ông ấy lơ đãng trả lời. “Mặt trăng sẽ thế nào vào ngày mười hai tháng Tám nhỉ ?”

Tôi chắc chắn là ông ấy không cần câu trả lời, nhưng tôi vẫn suy nghĩ trong chốc lát, rồi nói. “Trăng đã tròn được ba phần tư, và trời đã ngừng mưa. Ánh sáng lúc đó đủ rõ để bé có thể nhìn thấy cảnh vật và làm dấu cho chúng ta biết khi con đường rẽ ra hai hướng. Chúng ta biết bọn chúng đi theo hướng nào. Ôi, Simpson của chúng ta! Cô bé mới chỉ có sáu tuổi thôi đấy. Nhưng cháu e là sẽ không có thêm dấu vết gì nữa.”

“Ta cũng không chắc. Cứ xem xét kỹ lưỡng đã.”

Chúng tôi lần theo những vết chân ngựa suốt một tiếng nữa, nhưng không có thêm dấu hiệu nào khả quan. Chúng tôi dừng lại ở ngã ba đường tiếp theo.

“Hãy quay trở lại xe thôi, con gái của ta. Chúng ta cần dùng bữa trưa, và tiếp tục chương trình ca hát lưu động như dân gypsy thứ thiệt.”

Quay lại chỗ chiếc xe ngựa, chúng tôi gặp ngay viên cảnh sát to béo với một vẻ mặt tối sầm.

“Hai người đang làm cái quái gì trên sườn đồi này vậy?” hắn ta tra hỏi.

“Làm gì à? Đêm qua chúng tôi nghỉ lại đây, tôi nghĩ điều đó khá rõ rồi còn gì?” Holmes vặn lại, và đi qua trước mặt hắn ta để cất cái thuổng vào chỗ của nó.

“Thế hai người biến mất đi đâu cả sáng nay vậy?”

“Ra ngoài đào nấm cục.” Holmes thình lình xốc mạnh đống đồ đạc.

“Cái gì cơ?”

“Nấm cục. Những cây nấm nhỏ được bán với giá rất đắt trong các cửa hàng. Các quý ông quý bà đều mê loại nấm này. Chúng vẫn mọc rải rác quanh đây.”

“Nấm cục, phải rồi, nhưng người ta dùng những con lợn để tìm, chứ không phải thuổng.”

“Sẽ không cần đến lợn nếu như ngài có biệt tài tìm kiếm. Đây là con gái tôi, nó có khả năng quan sát tuyệt vời.”

“Thật à?” Hắn nhìn tôi hoài nghi, và tôi bẽn lẽn cười lại với hắn. “Thế cô con gái với biệt tài tìm kiếm của ông có tìm được cây nấm cục nào không vậy?”

“Ngày hôm nay thì không.”

“Tốt. Vậy thì hai người có thể rời khỏi đây. Trong vòng một giờ tới.”

“Chúng tôi muốn dùng bữa cái đã,” Holmes bực bội nói, mặc dù lúc đó đã gần đến giờ uống trà chiều hơn là giờ ăn trưa.

“Vậy thì, hãy ăn trưa đi, nhưng trong vòng hai giờ nữa là hai người phải rời đi đấy nhé, hoặc là hai người sẽ được thăm thú nhà giam đấy. Nhớ kỹ: chỉ hai giờ thôi.”

Nói rồi hắn ta bỏ đi nghênh ngang qua phía đồi, tôi ngồi xuống và cười khúc khích. “Nấm cục ạ? Vì Chúa, ở xứ Wales này có nấm cục sao ạ?”

“Ta cho là như thế. Để xem liệu cháu có tìm được chút thức ăn nào trong khi ta xem xét đống bản đồ này không nhé.”

Bản đồ của Holmes thuộc loại đo vẽ địa hình với tỉ lệ xích cực lớn, có thể thấy rõ tất cả các loại thực vật, các hướng đi đúng, và các ô vuông nhỏ màu đen là ký hiệu của nhà cửa. Ông ấy gấp tấm bản đồ lại, dẹp nó sang một bên rồi lấy ra một loạt bản đồ khác từ cái ngăn kéo nông ngay dưới chỗ ngủ của tôi. Tôi đưa cho ông ấy một cái bánh sandwich và một lon bia, rồi chúng tôi cùng nhau quan sát.

“Đây là lộ trình của chúng ta,” ông ấy chỉ trên bản đồ. “Khu đất cắm lều, đây, con đường mòn chạy theo hướng này.” Đầu ngón tay sạm màu của ông ấy chỉ theo con đường vòng quanh đồi, rồi trượt xuống một vùng trũng trên tấm bản đồ bên cạnh, và dừng lại ở một ngã ba gần mép tấm bản đồ thứ ba. “Từ chỗ này, rồi tới đâu nhỉ? Cô bé đã bị nhốt ở đâu đó trước khi trời sáng. Trong một tòa nhà, hoặc trong một chiếc xe.”

“Nhưng nếu... dưới lòng đất thì sao ạ?”

“Ta nghĩ là không. Nếu chúng rắp tâm giết cô bé, chắc chắn chúng đã ra tay khi cô bé cố gắng trốn thoát, để tránh gặp phiền phức. Nhưng ta thấy không có vết máu nào ở đó cả.”

“Holmes!”

“Gì vậy, Russell?”

“Không có gì ạ. Chỉ là, ông có vẻ... lạnh lùng quá.”

“Cháu thích một bác sĩ phẫu thuật lại rơi nước mắt khi nghĩ đến vết thương mình sắp sửa gây ra ư? Ta nghĩ cháu nên biết về bài học này, ngay bây giờ, Russell ạ. Để cho những xúc cảm lấn át mình trong một vụ điều tra không tốt một chút nào. Bây giờ, cứ giả định rằng cô bé Jessica bị bắt cóc vào lúc sớm nhất - khoảng lúc nửa đêm - như thế, đến năm giờ sáng, chúng chỉ có thể cưỡi ngựa được đến đây,” ông ấy vẽ một nửa đường tròn, lấy cái ngã ba hình chữ Y làm tâm. “Trong khu vực này, điện thoại luôn có sẵn, một ngôi làng đủ lớn để những tin tức có thể được chuyển đến tờ Times ở London. Cháu không bỏ sót những mục quan trọng đăng trên báo chứ?”

“Tất nhiên là không ạ,” tôi vội cam đoan.

Holmes với tay lại chỗ bó bản đồ rồi rút ra sáu cái có tỉ lệ xích lớn nhất, nối chúng lại với nhau. Chúng tôi hoa cả mắt trước các đường vẽ những dòng suối, những con đường lớn, đường mòn, và cả những ngôi nhà. Tôi lơ đãng lau vết nước sốt và phủi sạch những mẩu vụn bánh mì trên tấm bản đồ, chợt một ý tưởng lóe lên:

“Ở hướng đó chỉ có bốn ngôi làng nhỏ. Năm, nếu như chúng ta tính cả ngôi làng xa nhất này, nhưng để tới được đó hẳn chúng phải đi rất nhanh. Cả năm ngôi làng đều khá gần đường lớn, có lẽ sẽ có đường dây điện thoại. Hai làng này nhà cửa thưa thớt hơn, có vẻ rất thuận lợi cho bọn chúng ẩn nấp. Kiểu gì thì ngày mai chúng ta cũng chưa thể tóm được tất cả bọn chúng.”

“ừ.”

“Chúng ta chỉ còn hơn sáu ngày nữa.”

“Ta biết điều đó,” Holmes nói bực bội. “Cứ phải lần theo những dấu vết thôi.”

Chúng tôi đi khỏi trước khi tay cảnh sát quay lại, nhưng khi đến được ngôi làng đầu tiên thì trời đã sẩm tối. Holmes lê bước chậm chạp đến một quán rượu, có vẻ như nó được xây trên nền một ngôi nhà nào đó, còn tôi đi chăm sóc con ngựa và cố gắng tập trung suy nghĩ về những câu chuyện mình sẽ nói với bọn trẻ - chúng chắc chắn sẽ xuất hiện ngay khi chúng tôi đến. Tôi nhận ra rằng luôn có một đứa đảm nhận trách nhiệm giao tiếp với khách lạ đến làng - lần này là một con bé nhem nhuốc chừng mười tuổi.

“Chị là dân gypsy à?”

“Em nghĩ sao?” Tôi lẩm bẩm.

“Bố em bảo phải.”

“Thế thì bố em sai rồi.”

Con bé có vẻ sốc nặng, nhưng chỉ một phút sau nó đã bình tĩnh lại. “Nếu không phải dân gypsy, thế thì là gì?”

“Dân di-gan.”

“Di-gan? Thật ngớ ngẩn! Những chiến binh mang giáo mác ấy chết cả rồi!”

“Đó là người La Mã. Còn chị là người di-gan cơ mà! Có muốn lấy thứ này cho ngựa ăn không?” Một thằng bé cầm những cọng yến mạch từ tay tôi. “Có ai ở thị trấn này muốn bán cho chị hai suất bữa tối không nhỉ?”

[1]

Lũ trẻ thì thầm bàn bạc với nhau, cuối cùng con bé kia lên tiếng: “Maddie, chạy đến hỏi mẹ mày xem nào. Nhanh đi.” Con bé nhỏ thó tên Maddie nhăn mặt lại, miễn cưỡng nhảy xuống rồi biến vào trong quán rượu.

“Cô không có chảo à?” một người không biết là nam hay nữ cất giọng hỏi.

“Tôi không thích nấu ăn,” tôi cao ngạo trả lời, và một cơn sốc im lặng bao trùm. Nếu là dân dị giáo, thì chắc tôi đã bị thiêu sống vì câu nói vừa rồi. “Trong thị trấn có điện thoại không?” tôi hỏi con bé được cử làm người phát ngôn.

“Điện thoại ạ?”

“Đúng, điện thoại, là đồ vật mà em cầm lên và hét vào đó ấy? Trời quá tối nên chị không nhìn thấy đường dây nào. Trong thị trấn có trạm điện thoại nào không?” Những khuôn mặt bối rối cho tôi biết đây không phải là ngôi làng mà chúng tôi cần tìm. Một đứa trẻ con nói to:

“Bố em đã từng sử dụng điện thoại, đúng rồi, khi ông nội em mất, và ông ấy đã gọi điện tới Caerphilly để báo tin cho bác em.”

“Ông ấy đã đi đến đâu để gọi điện?”

Một cái nhún vai. Ôi!

“Chị cần một cái điện thoại để làm gì vậy?”

“Để gọi cho người môi giới của chị.” Tôi tiếp tục trước khi lũ trẻ kịp hỏi về định nghĩa của từ đó, “Các em chắc không thấy nhiều người lạ qua đây, đúng không?”

“Ô, thấy nhiều ấy chứ. Nhưng chỉ vào giữa mùa hè thôi, có một chiếc xe ô tô chở đầy người Anh đi qua đây, họ dừng lại và uống một chút tại quán của mẹ Maddie.”

“Chỉ đi qua thì không tính. Ý chị là những người đến đây, ăn uống ở đây và nghỉ lại trong một thời gian cơ. Không có nhiều người như vậy, đúng không?”

Dựa vào nét mặt của chúng, tôi đoán là chúng không biết có nhóm người lạ nào nữa để có thể kể với tôi, vậy là tôi đành thở dài. Để mai vậy. Trong lúc ấy... “Thế thì, chị sẽ ở đây, nhưng chắc không lâu đâu. Nếu như các em muốn chạy về nhà và thông báo với người lớn, thì chị sẽ có một tiết mục biểu diễn cho các em xem trong vòng một tiếng đồng hồ nữa nhé.”

Bữa tối khá ngon lành thịnh soạn, đó là kết quả mà chúng tôi có được từ cây đàn violin và những lá bài. Trước khi bình minh ló rạng, chúng tôi đã leng keng trên con đường lớn.

Ngôi làng kế tiếp có đường dây điện thoại, nhưng lại có rất ít những ngôi nhà biệt lập. Cả “người phát ngôn” nhỏ bé của tôi lẫn những cư dân trong quán rượu đều không tiết lộ ra bất kỳ sự viếng thăm nào của những kẻ lạ thời gian gần đây. Đến đầu giờ chiều thì chúng tôi đi tiếp, không màng dừng lại để diễn trò nữa.

Nơi tiếp theo chúng tôi đến bắt đầu đầy hứa hẹn. Những đường dây điện thoại, vài ba ngôi nhà rải rác, và thậm chí câu hỏi của chúng tôi về các vị khách lạ cũng đã có lời đáp. Tuy nhiên, hóa ra “khách lạ” chỉ là hai quý bà lớn tuổi người Anh đã từng sống ở nơi này sáu năm về trước.

Chúng tôi phải quay lại lối cũ để tìm đến những ngôi làng khác, và khi trời nhá nhem tối thì người tôi đã hoàn toàn ê ẩm vì cái chỗ ghế cứng đơ xóc lên xóc xuống, đến con ngựa cũng kiệt sức chẳng còn nhấc nổi chân. Chúng tôi thắp đèn ở một bên xe và trèo xuống, rồi xách theo một cái đèn nữa để dẫn đường cho con ngựa. Tôi nói rất khẽ với Holmes.

“Có khi nào những tên bắt cóc lại là dân địa phương không ạ? Cháu biết, bọn chúng có vẻ là dân nơi khác, nhưng nếu chúng sống ngay tại một trong những ngôi làng này thì sao?”

“Ai đã phát hiện ra vị Thượng nghị sĩ Mỹ đến đây, ai đã nghĩ ra một cái ống phun thuốc mê và cả việc cung cấp thông tin cho tờ Times để thúc đẩy sự việc tới nước này?” Holmes kéo dài giọng một cách mỉa mai. "Con hãy sử dụng biệt tài mà chúa ban cho con đi, Mary Todd. Đương nhiên là những người dân ở đây có liên quan, nhưng không chỉ có một mình họ.”

Chúng tôi mệt mỏi lê bước vào ngôi làng thứ tư, đây là nơi đầu tiên chúng tôi không bị đám trẻ con chào đón. “Quá muộn rồi, bọn trẻ phải đi ngủ,” Holmes càu nhàu rồi liếc nhìn một quán rượu nhỏ bên đường với vẻ ghê tởm. “Ta phải kiếm ở đâu mới được một chai vang tử tế bây giờ?” ông ấy thở dài.

Tôi cột con ngựa lại, nhóm lửa đun nóng một lon đậu rồi ngồi sụp xuống bên cái bàn gỗ nhỏ xíu với cỗ bài Tarot và xem vận mệnh của mình. Tôi bốc được ba lá:

The Hanged Man1, The Fool2 và The Tower3, và ngửi ngay thấy mùi thảm họa. Holmes ở trong quán rượu khá lâu, và tôi bắt đầu cân nhắc xem mình có nên trèo lên giường đi ngủ hay không. Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng ông ấy nghêu ngao cất lên trên con đường lớn của làng:

“...cây vĩ cầm của ta, ta sẽ chơi một điệu nhạc khiêu vũ, một điệu nhạc nồng say và vui nhộn nhất mà ngươi từng nghe thấy...” Tôi bật dậy, mặc kệ cơn buồn ngủ đang ám quẻ và những hạt đậu đang lộn tùng phèo trong dạ dày mình. Cánh cửa xe bật mở và “ông bố già” của tôi bước vào, say chếnh choáng. Ông ấy bị vấp ở cửa khi đang loạng choạng những bước ngắn và ngã dúi lên vạt váy tôi.

“A, cô con gái bé nhỏ ngọt ngào của ta,” ông ấy tiếp tục lè nhè. “Con đã thấy những gì ta làm với cây đàn này chưa?” Rồi ông ấy đi qua chỗ tôi đứng, lấy chiếc violin

[2]

[3]

[4]

từ trên giá và thì thầm dữ dội vào tai tôi. “Sẵn sàng hành động, Russell nhé: có một căn nhà hai tầng màu trắng cách nửa dặm về phía Bắc, trước nhà có trồng một cây tiêu huyền và sau nhà cũng vậy. Căn nhà này được thuê vào cuối tháng Sáu, năm gã đàn ông sống trong đó, có lẽ còn có kẻ thứ sáu, nhưng hắn thường đến rồi đi ngay. Trời ạ!” ông ấy gầm lên, “tao đã dặn mày cất gọn đống dây chết tiệt này lại rồi cơ mà!” rồi khom mình xuống tiếp tục, “Ta sẽ đánh lạc hướng ở phía trước nhà trong khoảng năm mươi phút. Cháu hãy đi đường riêng - cẩn thận nhé, nhớ kỹ là hãy vòng ra đằng sau xem mình có thể nhìn thấy những gì, nhưng không được đến quá gần. Hãy bôi đen da và cầm theo khẩu súng, nhưng chỉ được dùng nó trong trường hợp khẩn cấp nhất. Hãy để ý những tên canh cửa, hoặc những con chó. Nếu cháu bị phát hiện, tất cả sẽ kết thúc. Cháu có làm được không?”

“Vâng, cháu nghĩ là cháu làm được, nhưng...”

“Mary yêu quý của ta,” ông ấy nói oang oang trong một giọng điệu say mèm, “con mệt rồi phải không? Lên giường ngủ ngay đi, đừng có đợi ta về.”

“Nhưng Bố ơi, bữa tối...”

“Này Mary, con không muốn làm hỏng hết hơi bia trong người ta bằng thức ăn của con đấy chứ? Đi ngủ ngay bây giờ nào, Mary!” Nói rồi ông ấy đóng sầm cửa lại, tiếng vĩ cầm vút lên trong không khí. Tim đập thình thịch, những ngón tay lóng ngóng, tôi xỏ chiếc quần vào dưới bộ váy sẫm màu, một dải dây lụa dài màu nâu quấn quanh eo, một ống nhòm nhỏ, một cái đèn pin cỡ bút

chì, rồi bôi những vết bẩn lên tay và mặt. Và khẩu súng. Tôi nhìn xung quanh lần cuối cùng trước khi tắt đèn, và mắt tôi dừng lại ở con búp bê rách rưới đang ngồi xếp xó. Một thôi thúc dấy lên trong tôi – có khi nó lại là sự may mắn? Tôi bèn nhét con búp bê vào túi và lặng lẽ lẻn ra ngoài, lẩn trong bóng đêm, xa khỏi quán rượu, và đi về phía căn nhà to lớn nằm cách xa hẳn đường cái – một ngôi nhà hoàn toàn biệt lập.

Tôi rón rén đi trên đường với sự thận trọng hết mực nhưng không gặp ai cả. Khi gần sát đến căn nhà, tôi ngồi thụp xuống giữa những bụi cây và lấy ống nhòm ra quan sát. Tất cả các phòng ở tầng trệt đều sáng đèn, nhưng những âm thanh mà tôi nghe thấy lại ở một nơi nào đó xa hơn tầng trệt, không có cách nào để biết căn nhà này đang che giấu điều gì. Trên lầu tối om.

Sau khoảng mười phút, dấu hiệu duy nhất của sự sống là một gã đàn ông cao to đi qua căn phòng, phía trước ngọn đèn, rồi quay trở lại sau vài phút. Không có dấu hiệu của những kẻ canh gác hay lũ chó, tôi cúi người chạy thật nhanh trên lối dẫn đến khu nhà phụ xiêu vẹo đổ nát đầy mùi than và dầu hỏa phía sau. Cái rèm cửa mỏng manh khiến ánh sáng của ngọn đèn len lỏi ra ngoài, nhờ đó mà mắt tôi dần thích nghi được với bóng tối và quan sát ngôi nhà rõ hơn. Hơn mười phút núp ở đó, tôi chẳng thấy có chuyển động gì ngoài một con ruồi cứ vo ve bên cạnh.

Tôi lúi húi bò vào một vườn rau tốt um tùm rồi chui qua cái hàng rào xiêu vẹo để núp sau khu nhà phụ thứ hai

(căn nhà này cũng thoảng mùi dầu) và một cái chuồng gà bên cạnh, ngay dưới những tán lá của vườn cây ăn quả nhỏ xinh, nơi những quả mận chín đã thối rữa dưới chân. Tôi từ từ tiến lại căn nhà phụ thứ ba, có vẻ đó là một nhà xí. Dù mùi của nó không được dễ chịu cho lắm, nhưng ở đây tôi có thể bao quát được phía sau căn nhà và cả khoảng sân.

Có ánh đèn sáng ở căn phòng trên lầu. Nhờ cách bài trí của cửa sổ mà tôi quyết định rằng có hai căn phòng phía bên này của ngôi nhà, ở giữa có thể là một căn buồng nhỏ chứa đồ không có cửa sổ. Căn phòng sáng đèn là căn phòng phía bên phải, cách xa hàng cây. Căn nhà này đang rơi vào tình trạng đổ nát, hoang phế, tấm rèm cửa bị rách te tua và chẳng thể khít lại với nhau được nữa, khiến cho một tia sáng lọt ra ngoài, yếu ớt và vàng vọt. Nếu như tôi đủ cao, tôi đã có thể nhìn vào trong căn phòng đó. Tôi rất muốn được nhìn thấy những gì có trong căn phòng đó.

Tôi nhìn quanh. Cái nhà xí cạnh tôi đủ cao, và những phiến ngói đen lợp mái trông cũng khá chắc chắn để có thể chịu được sức nặng của tôi. Tôi liếc nhìn xung quanh để tìm thứ gì đó làm đệm bước lên. Chợt nhớ ra cái thùng nằm lăn lóc ở giữa đám cỏ dại trong vườn cây ăn quả, tôi lại lom khom đi đến đó. Đáy thùng bị thủng một lỗ, nhưng xung quanh vẫn còn lành lặn, tôi úp ngược nó lại và đặt một tấm ván lên trên, cái bậc tạm thời giúp tôi có thể với tới nóc nhà xí. Tôi vừa trèo lên đến nơi thì cánh cửa phía sau bật mở – một gã to lớn cầm cái đèn sáng quắc xuất hiện.

Một cơn sợ hãi thúc giục tôi nhảy xuống và lao vào bóng tối. Nhưng trước khi gã đó đi đến giữa sân thì tôi chợt nhận ra mặc dù hắn đang đi về phía tôi nhưng hắn lại không cầm gì ở tay kia cả – rõ ràng hắn không có ý định gì ngoài việc đến thăm “căn nhà” phía dưới tôi. Tôi gần như nín thở vì sợ tấm ngói có thể kêu lên cọt kẹt, may mà bảy phút sau gã đó cũng quay lại ngôi nhà – bảy phút mà tôi tưởng như dài hàng thế kỷ – và nỗi sợ hãi dần qua đi, tôi cảm thấy lòng dạ nôn nao.

Căn phòng mà gã đó vừa vào là một nhà bếp, và, quan trọng hơn, sự có mặt của gã chẳng gây ra phản ứng nào đặc biệt cả. Không có bọn gác cửa, cũng không có chó.

Rất có thể là như vậy.

Mặt trăng lên rọi sáng cả bầu trời, và khi tôi từ từ đứng dậy, tôi thấy mình bị phơi ra như thể một con voi trên đường ném bóng cricket. Nhưng vô ích: đứng ở vị trí này là một sai lầm. Cái ống nhòm của tôi chỉ thấy phần trên của khung cửa phía bên kia căn phòng. Tôi nhẹ nhàng trèo xuống, đặt cái thùng và tấm ván lại chỗ cũ, rồi nhìn lên cửa sổ, băn khoăn suy nghĩ.

Vì chẳng có gã nào đứng canh nên không ai có thể nhìn thấy tôi ở chỗ cái cây sau nhà. Những nhánh cây to và sum suê lá sẽ cho tôi một chỗ quan sát tương đối an toàn. Tuy nhiên, tôi phải vượt qua một số chướng ngại vật trước đã. Phía trước lối xe chạy, tôi trông thấy một bụi cây thấp, mà hóa ra đó là một hàng rào bằng cây thủy lạp xác xơ rất dễ chui qua. Tôi bèn giấu đôi giày ống và đống váy vào bụi cây, giắt con búp bê vào lưng

quần, nhét sâu mấy vật dụng cần thiết vào những cái túi khác nhau rồi đi rón rén qua lối xe chạy đến gần bức tường của ngôi nhà. Tôi chỉ có chưa đầy tám phút trước khi Holmes xuất hiện với chiến thuật nghi binh của mình. Tôi áp tai vào cửa sổ nhà bếp và hài lòng rằng bọn chúng đang mải mê chơi bài ở phía cuối căn phòng.

Những cành cây đầu tiên quá cao so với mặt đất. Nếu trèo thẳng lên chắc chắn sẽ gây ra nhiều tiếng động. Tôi tháo sợi dây buộc quanh eo (tôi luôn mang theo một sợi dây dài bởi đó là vật hữu ích nhất trên thế gian này) và quăng nó lên cành cây trên thẳng vào ngôi nhà, giật giật để thử độ chắc chắn của nó rồi bắt đầu leo lên. Những tiếng răng rắc và cọt kẹt phát ra như tiếng rên rỉ trong đêm, nhưng bên trong vẫn không thấy có động tĩnh gì, tôi bèn thu sợi dây lên và nhìn qua rèm cửa sổ.

Và số phận đã mỉm cười với tôi, bởi cô bé đang ở đó.

Lúc đầu, khi chỉ nhìn thấy một cái giường ngủ với đống chăn đệm nhàu nát, tim tôi đã chùng xuống, nhưng khi nhoài người ra phía đầu cành chênh vênh và nhìn lại một lần nữa, tôi thấy một mái đầu nhỏ xinh đang tựa lên gối, mái tóc nâu vàng được bện lại thành một bím bờm xờm. Tóc của Jessica Simpson, khuôn mặt cũng của Jessica Simpson.

Tôi đã hoàn thành một nửa nhiệm vụ của mình: chúng tôi đã biết cô bé đang ở nơi này. Một nửa nhiệm vụ còn lại, quan trọng hơn rất nhiều , là tìm cách đưa cô bé ra khỏi đây. Thật không may, chẳng có một nhánh cây to nào mọc thẳng đến cửa sổ phòng cô bé. Tuy nhiên, cái cây lại gần một căn phòng khác - một căn phòng tối thui. (Bỗng có một âm thanh bất ngờ xuất hiện từ phía thị trấn - tiếng hát nghêu ngao của một gã đàn ông, ám hiệu đầu tiên trong chiến thuật nghi binh của Holmes.) Tôi trèo sang phía không có ánh sáng và nhận ra có một nhánh cây gần chạm đến ngôi nhà. Gợi ý hay đấy. Nhưng một khi đã vào được trong, tôi cân nhắc, tiếp theo sẽ phải làm gì? Không một gờ tường nào nói hai ô cửa sổ lại với nhau; máng nước lại cách quá xa chỗ tôi đứng, mà tôi quyết tâm sẽ không bắt chước Holmes treo lủng lẳng trên sợi dây quấn quanh ống khói như con nhện. Không, kiểu gì cũng phải có một lối vào bí mật thông qua căn phòng tối om kia.

Năm gã đàn ông, có khả năng là sáu. Bốn gã đang chơi bài - bốn giọng nói, tôi đính chính lại, còn một gã đích xác đang lêu lổng ở đâu đó. Ở tầng dưới chăng? Hay là ở cùng với cô bé? Hay là ở trong căn phòng tối om kia? Tối nay chắc vẫn chưa có chuyện gì xảy ra, nhưng ngày mai, khi chúng tôi quay trở lại, biết đâu ...

Và ngay khoảnh khắc này tôi đã nảy sinh một ý nghĩ, một ý nghĩ điên rồ về một hành động táo bạo và ngay lập tức tôi đã dập tắt nó, bản thân tôi cũng thấy sợ hãi. Đây không phải là một trò chơi, Russell ạ - tôi hoang mang tự nhủ. Hãy làm như những mày được dặn dò, và sau đó hãy trở lại xe.

Nhưng ý nghĩ đó đã bám rễ như một cái gai, và tôi không thể chịu được việc phải nhổ nó ra trong khi tôi đang ngồi chồm hỗm và bất động trên cái cây này. Mắt tôi mở căng, đầu óc tôi quay cuồng với cái suy nghĩ điên rồ ấy, tôi nghiên cứu nó, lật đi lật lại vấn đề , rồi gạt nó đi, nhưng nó càng bền bỉ hơn và không chịu bay biến.

Nếu tôi không đợi Holmes để cùng thực hiện cuộc giải thoát vào ngày mai thì sao?

Điên rồ. Cứu mạng sống một đứa trẻ bằng đôi tay lóng ngóng đến mức lố bịch của mình ư? Tôi lắc đầu như để cảnh báo một kẻ dễ bị kích động chỉ nên thực hiện nhiệm vụ của một người quan sát. Nhiệm vụ đã được phân công. Nhiệm vụ sống còn và tự nguyện của tôi. Một đoạn điệp khúc bay vút lên nghe khá rõ, ngay lúc này, bên ngoài ngôi làng và trên con đường lớn. Một phút nữa thôi, những gã trong kia sẽ nghe thấy... Tôi di chuyển, để có thể nhìn gần hơn vào căn phòng sáng đèn.

Trong một khoảnh khắc, ý nghĩ đó lại xuất hiện, mạnh mẽ hơn và chắc chắn hơn. Nếu như chúng tôi không trèo qua cái cửa sổ tối om đó với một sự đánh lạc hướng ngoài kia, ngay trước ngôi nhà này, thì còn cách nào khác nữa?! Tiếp cận trực tiếp thì không được - một con tin bị chĩa súng vào đầu thì khó giải thoát hơn một con tin bị giam trong phòng rất nhiều . Và Holmes sẽ làm cách nào để đưa cô bé ra ngoài mà không trèo qua những cành cây mỏng manh này? Holmes, một ông già gần sáu mươi tuổi, lúc nào cũng phải băn khoăn về những rủi ro có thể xảy đến với xương cốt của mình, sẽ phải giữ thăng bằng với một trọng lượng lớn gồm cả ông ấy bé Jessica ở trên cùng một cành cây. Trong khi lúc này, năm gã chơi bài trong nhà đang ngày một cao hứng với trò đen đỏ, không thèm nhắc nửa lời tới việc phải cảnh giác những tình huống bất ngờ có thể xảy ra.

Trong tích tắc, như có một kẻ đang nhanh chóng tiếp cận ngôi nhà từ con đường lớn.

Điên rồ. Hoang tưởng. Tôi không thể mang cô bé đi được, qua cửa sổ, bò trên cành cây này, rồi tụt xuống đất và bỏ chạy, nhất là khi cô bé chống cự lại tôi (tôi ngờ là khả năng này có thể xảy ra lắm). Một đứa trẻ “độc lập, thông minh” cũng có thể cực kỳ hốt hoảng khi bất thình lình gặp một "ả" lạ hoắc với khuôn mặt đen kịt muội đèn trên giường ngủ của mình và lần thứ hai bị bắt đi trong màn đêm.

Tâm trí tôi quay cuồng giữa một bên là sự thận trọng ngoan ngoãn với một bên là sự liều lĩnh điên rồ, một bên là sự chuẩn bị nghiêm chỉnh cho hành động đã định với một bên là nhận thức rõ ràng rằng chúng tôi chẳng có cơ hội nào thực hiện được kế hoạch đó, một bên là thực thi những chỉ thị trực tiếp của Holmes với một bên là chộp lấy những gì các giác quan thông thường đang mách bảo tôi. Cơ hội không đến lần thứ hai, và tôi cầu Chúa rằng Holmes sẽ xuất hiện một cách kỳ diệu ngay dưới chân tôi, và làm theo quyết định của tôi.

Đó là những bài hát mừng Giáng Sinh, và tôi quyết định rằng lý trí của mình không thể bị tê liệt vì sự do dự của chính mình nữa. Không hiểu bằng cách nào "bố" tôi đã tụ tập được một đám đông hỗn độn và say xỉn ở cái nơi nhỏ bé này, và còn đánh cả xe chở họ xuống con đường nhỏ với cây vĩ cầm ầm ĩ của ông ấy nữa - nhưng quả là một dàn hợp xướng tuyệt vời bằng tiếng Xentơ, hát vang những bài hát Giáng sinh, tiếng hát vang lên giữa một ngôi làng rất nhỏ ở xứ Wales này, vào một đêm tháng Tám ấm áp...

Đúng như dự đoán, một cái bóng chuyển động, cắt ngang tia sáng vàng vọt phía trước tôi. Tôi ngồi chênh vênh, thõng chân xuống và nhìn thấy cái lưng của gã đó. Gã mặc một cái sơ mi bên trong áo gi-lê, với một cái mũ len tối màu kéo dài xuống tận đôi vai to bè. Gã đứng bên cánh cửa mở, ngay cạnh đầu giường của Jessica, rồi cúi người đi trên hành lang, ngập ngừng (Đứa quái nào đang la hét giữa đám đông hỗn loạn ngoài kia thế nhỉ?) Rồi hắn mở tung cánh cửa, đi về hướng đó.

Nếu như không nhìn thấy cái lưng to bè đã đi ra ngoài cửa thì tôi sẽ không bao giờ làm điều đó - không bao giờ di chuyển về hướng ô cửa sổ tối om. Ngay cả khi đang dồn hết sức quàng cái dây qua nhánh cây trên đầu, tâm trí có phần hưng phấn (thật điên rồ!), một phần trong con người tôi vẫn nhắc nhở tôi rằng phải tỉnh táo, phải làm một cuộc mặc cả mang tính quyết định với số phận rằng nếu như cái cửa sổ không mở chốt thì tôi sẽ rút lui ngay tức khắc.

Một tràng cười lớn rộ lên từ đám đông đang nghêu ngao hát. Tôi bước một chân từ cành cây sang chỗ ô cửa sổ, giữ thăng bằng trong một tam giác giữa dây, cành cây và ngưỡng cửa, rồi, vẫn trong tư thế ấy, lấy trong túi ra một con dao (Nào đến đây, chúng ta sẽ đi quanh các nhà, cùng hát mừng ngày Thiên chúa giáng sinh, giữa những hàng cây lá xanh...) và sờ soạng để mở cái lưỡi mỏng nhất của nó, sau đó lách nhẹ nó giữa khung cửa sổ. Sau một khoảnh khắc tưởng dài như hàng thế kỷ, cái chốt bật mở ra. Tôi nghe ngóng, nhưng không hề có động tĩnh gì từ bên trong, thế là tôi với tay (Và giờ, họ sẽ nhìn thấy chúng ta đi lang thang... ) hé mở cánh cửa làm nó phát ra tiếng cọt kẹt rõ mồn một. Tôi bước xuống tấm ván lót sàn, căng thẳng vì sự bị tấn công, nhưng không có ai cả; căn phòng hoàn toàn trống rỗng, tôi hít một hơi run rẩy thật sâu rồi nhanh chóng lẻn qua (Tình yêu và niềm vui sẽ đến với bạn...) cửa ra vào. Hành lang và cầu thang đều vắng tanh, tiếng nói rôm rả vọng lên từ tầng dưới, cả bên trong lẫn bên ngoài, cánh cửa dẫn tới căn phòng trong góc đang khép hờ. Tôi rút con búp bê ra và bước trên hành lang sáng chói.

(Và những bữa tối vui vẻ đêm Noel cũng sẽ đến với bạn, Chúa ban phước lành cho bạn... )

“Jessica!” tôi thì thầm. “Đừng sợ. Có người đến tìm em đây.” Tôi giữ con búp bê trước ngực, đẩy cửa bước vào, và nhìn xuống khuôn mặt cực kỳ nghiêm trang của cô bé sáu tuổi. Jessica chống khuỷu tay từ từ đứng dậy, nhìn chăm chú khuôn mặt được nhuộm đen sì của tôi mà không hề sợ hãi chút nào, và chờ đợi.

“Jessica, bố mẹ em cử chị đến đón em về nhà. Chị em mình phải đi ngay bây giờ, nếu không mấy gã kia sẽ không cho chúng ta đi đâu.”

“Em không thể,” cô bé thì thào.

Ôi Chúa ơi, tôi thầm nghĩ, chuyện gì thế này? “Tại sao em lại không thể?”

Im lặng, cô bé ngồi xuống giường và kéo tuột tấm khăn trải giường khỏi chân, để lộ ra một sợi xích bằng kim loại buộc chặt cổ chân cô bé với chân giường.

“Em đã cố trốn thoát khỏi đây, thế nên họ đã đeo cái này vào chân em.”

Sự náo loạn bên ngoài đã lên đến mức đỉnh điểm, với tiếng loảng xoảng và leng keng của thủy tinh vỡ, kế đến là tiếng hét giận dữ và một tràng cười của những kẻ say. Bọn bắt cóc có thể quay lại bất cứ lúc nào, và chúng tôi phải rời khỏi đây ngay lập tức. Tôi buộc phải đánh liều.

“Chỉ một phút thôi, bé ngoan. Đây, búp bê của em đây.”

Cô bé vòng tay ôm chặt con búp bê trong khi tôi quỳ gối xuống để kiểm tra sợi xích, nó còn mới và rất chắc, một đầu được đóng chặt vào cái vòng sắt đeo quanh mắt cá chân Jessica bằng một cái khóa móc rắn chắc. Đầu kia được cột vào chân giường bằng một cái bu-lông cỡ ngón tay út của tôi, cái đai ốc của nó được hàn chặt lại. Cái giường thuộc loại rẻ tiền, nhưng phần chân gỗ dày gần tám phân của nó lại có vẻ rất chắc chắn. Tôi chỉ có một lựa chọn duy nhất, và chỉ biết hy vọng rằng mình sẽ không làm dập cái xương nào ở chân mình cả.

Tôi nhấc bổng một chân giường lên, dồn tất cả trọng lượng lên chân trái và lùi chân phải ra phía sau, rồi giật mạnh nó. Góc kéo quá hẹp, xương của tôi kêu rắc một tiếng, nhưng đó là cái giá quá nhỏ mà tôi phải trả, bởi vì, cô bé đã được giải thoát. Không để ý đến tiếng ồn nữa, tôi hạ cái giường xuống sàn nhà, bế Jessica lên và vác cô bé trên vai như thể vác một bao khoai tây.

Chìa khóa ở sẵn trong ổ, thế nên lúc bước ra ngoài tôi xoay ổ rồi đút nó vào túi áo. Khi tôi chui được vào căn phòng tối om kia thì tiếng giày nặng trịch đã vang lên ở cầu thang. Tôi vội đóng cửa lại, chạy vọt tới cửa sổ, và xui xẻo thay, khi tôi vừa cố giữ thăng bằng giữa ngưỡng cửa và cành cây vừa cố đóng cửa sổ lại, tôi suýt làm rơi Jessica. Nhưng cô bé không kêu lên một tiếng nào cả, chỉ bám chặt lấy áo tôi bằng một tay, tay kia ôm ghì lấy con búp bê. Tôi nắm được một đầu dây treo sẵn ở đó rồi chầm chậm bò qua ngưỡng cửa sổ với cái chân đau, rồi bằng một bước nhún nhẹ, tôi đã sang tới được thân cây vừa lúc tiếng đập cửa thình thình phát ra từ phòng cô bé. Tiếp đó là những tiếng quát tháo. Tôi tung sợi dây lên một cành cây sao cho một đầu nó chạm đất để chuẩn bị tụt xuống. “Bám thật chặt nhé, Jessie,” tôi khẽ rít lên. Hai tay và hai chân con bé quặp chặt lấy người tôi, chúng tôi tụt xuống và ngã bịch xuống gốc cây, va vào hàng rào cây thủy lạp phải đến năm lần. Chúng tôi lao thẳng qua nó, bị trầy da một chút, và tôi chỉ kịp đưa tay bịt miệng cô bé lại khi cánh cửa sau bật mở đánh rầm.

Lần này thì cái gã chạy ra ngoài đã cầm theo một khẩu súng săn lớn trên tay. Tôi bịt chặt miệng cô bé hơn và quan sát gã lao ra sân, ngay dưới cái cây mà chỉ mười giây trước chúng tôi còn chênh vênh trên đó, gã ngước nhìn lên ô cửa sổ sáng đèn rồi hét to: “Con bé vẫn ở trong đó, Owen. Cửa sổ đóng chặt lắm!” Tôi không nghe thấy tiếng trả lời từ bên trong, có lẽ nó đã bị át đi bởi những tiếng chửi bới ngoài đường lớn, nhưng gã đó đi đến gần chỗ chúng tôi, chỉ cách vài bước chân, và ngó nghiêng nhìn lên cây. Tôi và Jessica gần như nín thở, đến nỗi có thể nghe thấy tiếng tim đập dữ dội của nhau, nhưng cô bé không kêu lên một tiếng nào cả, và tôi cũng không dám cử động dù chỉ một sợi tóc vì sợ sẽ gây ra tiếng động trên sợi xích hoặc làm cho mắt kính của tôi phản chiếu ánh đèn từ nhà bếp. Gã đàn ông đi vòng quanh gốc cây dễ phải đến hai, ba phút cho đến khi có tiếng ai đó gọi gã từ phía khu nhà (không khí lúc này có vẻ bớt ầm ĩ hơn), và gã bỏ vào trong. Ngay khi cánh cửa đóng lại, tôi lập tức nhấc bổng cô bé và đôi giày lên, cõng cô bé trên lưng, rồi chạy như ma đuổi xuống ven đường gồ ghề với đôi chân trần.

“Em làm tốt lắm, Jessica, chỉ cần giữ im lặng và chị sẽ đưa được em ra khỏi đây. Những người ở ngoài kia, ngay phía trước, đều là bạn của chúng ta, mặc dù có thể họ chưa biết hết mọi sự. Chúng ta phải trốn đi thật nhẹ nhàng ngay bây giờ, trước khi cảnh sát đến đây, và sau đó em sẽ được gặp lại bố mẹ. Được chứ?”

Tôi có thể cảm thấy cô bé gật đầu ngay sát gáy mình. Tôi cũng có thể cảm thấy con búp bê rách rưới bị chèn ở giữa hai chúng tôi. Tôi vừa chạy thật nhanh về phía đám đông đang ầm ĩ kia (có vẻ như bọn họ bắt đầu tan rã) vừa phải giữ chặt sợi dây xích vào cái chân đau để nó khỏi khua lạch cạch. Gần tới chỗ đám đông, tôi thấy một cánh tay đang vẫy chúng tôi cuồng loạn, ngay ở giữa những kẻ đang reo hò. Holmes đã nhìn thấy chúng tôi; và đám đông cũng đứng dậy theo ông ấy.

Tôi chỉ kịp dừng lại chỗ chiếc xe ngựa để gom vội cái chăn và chút thức ăn, rồi bế Jessica quay trở lại đường lớn và chạy ngược lên một sườn đồi xa xa. Mắt tôi đã ở trong bóng tối đủ lâu để có thể phân biệt được những hình dạng lờ mờ của cảnh vật. Tới một gốc cây, tôi dừng lại và đặt cô bé đứng xuống đất. Một tay vẫn đặt trên vai cô bé, tôi duỗi thẳng cột sống, rồi ngồi bệt xuống tựa mình vào thân cây. Tôi kéo cô bé lại gần, cô bé không hề cưỡng lại mà ngồi vào lòng tôi, ngoan ngoãn nép mình dưới tấm chăn tôi trùm lên cả hai.

Cảm giác thư giãn tràn ngập, và tôi chỉ có thể ngồi đó, rùng mình với những hành động vừa rồi và với mồ hôi khô bám rít trên quần áo. Nghĩ đến những biểu hiện trên khuôn mặt của những gã đó khi chúng tìm cách mở cửa, tôi bật cười khúc khích. Jessica vẫn giữ cứng người, và tôi buộc phải nén lại trạng thái kích động vừa mới chớm, hít một hơi thật sâu, tiếp tục một hơi nữa, rồi nói thầm vào tai cô bé.

“Bây giờ em được an toàn rồi, Jessica, an toàn tuyệt đối. Những gã đó không thể kiếm ra em ngay bây giờ đâu. Chúng ta chỉ đợi ở đây một lúc, cho đến khi cảnh sát đến bắt bọn chúng đi, và sau đó bố mẹ sẽ đến đón em về. Quấn cái chăn này vào người cho đỡ lạnh nào. Em có đói bụng không?” Tôi cảm thấy cô bé lắc đầu nguây nguẩy, “ừ được rồi bé ngoan, giờ thì hai chị em mình sẽ không nói chuyện nữa và phải ngồi yên, giống như con nai nhỏ trong rừng, em nhớ chưa, Jessica? Chị sẽ ở đây cùng em, búp bê của em cũng ở đây rồi. À, chị tên là Mary.”

Jessica lặng lẽ gật đầu, tôi kéo tấm chăn trùm lên cả hai chị em, rồi dựa lưng vào thân cây và chờ đợi. Cái thân hình nhỏ nhoi ngồi lọt thỏm trong lòng tôi, thở đều hơn, từ từ thả lỏng cơ thể, và cuối cùng, thật tự nhiên, đã chìm vào giấc ngủ. Tôi lắng nghe tiếng cười nói nhỏ dần của những kẻ đang chếnh choáng men say, và khoảng nửa tiếng sau đã có vài chiếc ô tô nhanh chóng xuất hiện trên đường lớn. Những tiếng la hét ở phía xa, hai tiếng súng vang lên (làm cho cô bé đang ngủ bỗng co rúm người lại), rồi lại là sự im lặng. Khoảng một tiếng sau tôi nghe thấy tiếng bước chân ai đó trên đường lớn, ánh sáng từ một cái đèn xách chiếu rọi qua gốc cây.

“Russell?”

“Cháu ở đây, Holmes à.” Tôi nhặt cái đèn pin từ trong giỏ đựng thức ăn và bật lên. Holmes trèo lên dốc và đứng nhìn về phía chúng tôi. Tôi không thể đọc được nét mặt của ông ấy bây giờ.

“Holmes, cháu xin lỗi nếu như cháu...” tôi bắt đầu, nhưng tôi chưa kịp đưa ra lời biện hộ ngắn gọn nhất với Holmes thì Jessica đã thức dậy và òa khóc khi nhìn thấy Holmes trong ánh đèn, khiến tôi phải vội vàng trấn tĩnh cô bé.

“Ô không, Jessie à, ông ấy là một người bạn - bạn của chị và cũng là bạn của mẹ em nữa, ông ấy chính là người đã gây ra vụ náo loạn, nhờ đó mà chị có thể cứu em ra khỏi căn nhà đáng sợ đó đấy. Ông ấy là Sherlock Holmes, và không phải lúc nào ông ấy cũng trông buồn cười như thế kia đâu, ông ấy chỉ đang cải trang thôi, giống như chị đây này.” Những câu nựng đơn giản này khiến cho bao nhiêu căng thẳng trong cô bé bay biến hết. Tôi gấp tấm chăn lại đưa cho Holmes rồi bế cô bé trên tay, và cùng Holmes đi bộ xuống sườn đồi.

Chúng tôi đến chỗ chiếc xe ngựa, nhóm một đống lửa, và tôi lấy cái váy len của mình mặc cho Jessica, cái váy lòe xòe xuống tận mắt cá chân của nó. Vợ người chủ quán rượu hâm cho chúng tôi món thịt cừu nóng và sền sệt, chúng tôi ăn ngấu nghiến còn cô bé thì nhón từng miếng một. Holmes đun một ấm nước trên lò, và khi nước đã ấm, ông xem xét và rửa vết thương ở chân cho tôi, băng chặt nó để giúp xương có thể cố định. Tiếp theo ông dùng chỗ nước nóng còn lại để pha một ấm cà phê và cạo những đám râu lởm chởm trên khuôn mặt. Jessica dõi theo từng cử chỉ của Holmes một cách rất nghiêm túc, nhất là khi ông ấy tháo chiếc răng vàng ra khỏi miệng. Cuối cùng, ông ấy lôi từ trong túi ra bộ đồ nạy ổ khóa và trải chúng trên mặt bàn, rồi ướm hỏi cô bé về việc sẽ giúp cô bé tháo sợi dây xích ra khỏi chân. Jessica co rúm người lại và cố gắng nép vào lòng tôi.

“Jessica,” tôi gọi tên cô bé, “không ai có thể động đến em nếu em không muốn. Nếu em đồng ý thì chị sẽ tháo nó ra khỏi chân em, nhưng em sẽ phải ngồi lên bàn - chị không thể làm được gì nếu em cứ ngồi trong lòng chị như thế này.” Cô bé không phản ứng gì. Chúng tôi đợi một lúc, sau đó Holmes nhún vai và đưa tay với bộ đồ nạy ổ khóa. Cô bé hơi nhúc nhích, rồi chầm chậm đẩy chân về phía Holmes. Cô bé trao cho Holmes một cái nhìn thật lâu và nghiêm túc, ông ấy cũng đáp lại cái nhìn đó, rồi nâng cô bé dậy khỏi vòng tay tôi.

Chúng tôi ngồi đó, ngủ gà ngủ gật và chờ đợi, cho tới khi cuối cùng một chiếc ô tô cũng xuất hiện và hãm phanh ngay phía ngoài chiếc xe ngựa. Holmes mở cửa cho vợ chồng nhà Simpson. Cô bé Jessica sà vào lòng mẹ, quấn chặt hai tay và hai chân quanh người mẹ, còn ngài Simpson thì vòng tay ôm cả vợ và con rồi dìu họ về phía chiếc xe. Mắt tôi nhòe dần đi, trong khi Holmes cũng sụt sịt trước cảnh tượng ấy...

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] 1 Trong tiếng Anh, người di-gan được gọi là “Romany”, gần giống với người La Mã - “Roman”.

[2] 1 The Hanged Man (Người Bị Treo) là lá bài cho thấy con người sẽ gặp những khó khăn, thất bại trong cuộc sống, nhưng đúng lúc họ buông xuôi đầu hàng, họ sẽ nhận ra khi từ bỏ nỗ lực kiểm soát mọi thứ, thế giới sẽ lại vận động theo đúng như cách họ muốn. Con người sẽ học được cách chấp nhận đầu hàng. Tư thế “người bị treo" nghe có vẻ đau đớn khổ ải, nhưng thực ra con người đang tìm lại được sự thanh thản, bình yên.

[3] 2 The Fool (Xuẩn Ngóc): lá bài của sự bắt đầu, cho thấy con người đang bắt đầu bước vào cuộc hành trình với một niềm tin thanh khiết, mặc cho những may rủi và đau khổ có thể sẽ đến với mình.

[4] 3 The Tower (Tháp): là lá bài ám chỉ về một pháo đài con người tự xây dựng xung quanh tâm hồn họ. Họ tưởng nó là một thành trì bảo vệ, nhưng thực chất nó là một nhà tù. Cần phải có một hành động mạnh mẽ, con người mới thoát khỏi nhà tù ấy, nhưng để vượt thoát được, họ phải trả giá bằng một kinh nghiệm đau đớn...

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurie r. king