Edward Rønning Con là một thanh niên chính xác lạ thường. Đúng 8 giờ 30 phút thứ Hai ngày 12 tháng Năm 1969, anh ta gọi điện cho tôi từ văn phòng và đọc cho tôi nghe di chúc của Magdalon Schelderup từ đầu đến chữ ký. Chỉ mất vài phút, dù anh ta đọc chậm đến bực mình. Di chúc đề ngày 6 tháng Năm cùng năm, gồm bốn đoạn ngắn. Sau những cuộc thẩm vấn hôm trước, nội dung đặc biệt thú vị khiến tôi sửng sốt, mặc dù tôi phải thừa nhận rằng ý nghĩa của nó vẫn còn khó hiểu.
Đoạn đầu tiên trong di chúc viết rằng giám đốc Hans Herlofsen, nhờ quá trình phục vụ lâu dài và trung thành, được xóa “một khoản nhỏ” vẫn còn tồn tại trong “khoản nợ cá nhân từ năm 1949”. Tiếp theo là một câu ngắn viết rằng “giấy nợ kèm theo tài liệu viết tay” đã được hủy.
Đoạn thứ hai của di chúc chỉ nơi Magdalon Schelderup để lại cho vợ là Sandra Schelderup hai triệu krone.
Đoạn thứ ba gồm hai câu, Magdalon Schelderup xác nhận mình là cha của đứa con trong bụng Synnøve Jensen và để lại cho cô số tiền 200 ngàn krone làm “chi phí sinh hoạt và chi tiêu cần thiết trong thời gian còn lại của thai kỳ”.
Đoạn thứ tư dài nhất và rắc rối nhất, nói rõ phần tiền và tài sản còn lại của Magdalon Schelderup sẽ chia đều cho các con của ông vào ngày mùng 6 tháng Năm 1970. Cả ba người con lớn của ông, mỗi người sẽ nhận ngay lập tức khoản tiền không nhiều hơn phần tối thiểu hợp pháp của mình là 200 ngàn krone.
Tôi cảm ơn luật sư đã giúp đỡ và quả quyết sẽ có mặt tại đó nghe đọc di chúc, và yêu cầu giữ kín nội dung cho đến khi công bố trước toàn thể gia đình và bạn bè của người đã khuất.
Vừa đặt máy xuống tôi nhận ra quên chưa hỏi trước kia có bản di chúc nào khác không, và nếu có thì viết những gì. Khi tôi cố gọi lại cho viên luật sư hai lần, cả hai máy đều bận, nên tôi quyết định để việc đó lại sau khi đọc di chúc. Trong thời gian chờ đợi, tôi có quá nhiều việc phải làm rồi.
II
Báo cáo sơ bộ của nhà bệnh lý học đúng như mong đợi. Magdalon Schelderup tử vong vì suy tim, do dị ứng cực mạnh với lạc. Ở độ tuổi của mình, ông là người sung sức, nhưng không có cơ hội sống sót qua căn bệnh như thế. Nói cách khác, trái tim và cơ thể của ông là của một người sáu mươi chín tuổi, đã làm việc vất vả cả đời, và bị dị ứng lạc vô cùng nghiêm trọng.
Các bài tường thuật trên báo không nêu lên bất cứ vấn đề gì, nhưng cũng không giúp giải quyết điều bí ẩn. Hội nghị Đảng Lao động thống trị các tiêu đề. Friheten, tờ báo cộng sản có một bài trên trang nhất với tiêu đề “Nhà tư bản quyền lực bị giết” và bóng gió đến một âm mưu trong “nhóm tư bản tham nhũng của Na Uy”. Các báo khác thận trọng hơn khi đợi xem diễn biến tiếp theo sau vụ người chết, và thay bằng cả đống giấy mực viết về sự giàu có và miêu tả sơ lược tiểu sử trước đó của người quá cố. Aftenposten là tờ báo duy nhất công bố danh sách các thực khách có mặt trong bữa tối đó và kết bài bằng câu “Chúng tôi rất hài lòng xác nhận rằng thanh tra cảnh sát Kolbjørn ‘K2’ Kristiansen nổi tiếng được chỉ định phá vụ án này và hồi hộp đợi xem anh ấy có thể leo lên tầm cao của thành công trước đây trong vụ án cực kỳ bí ẩn này không.” Tôi rất hài lòng khi đọc thông tin này nhưng cũng mỗi lúc một lo lắng hơn, vì hiểu mình có thể ngã đau biết chừng nào.
Sau đó, tôi nhanh chóng gạt báo chí sang một bên để theo đuổi những ưu tiên của Patricia, chuyển từ di chúc của Magdalon Schelderup sang câu hỏi ông ta nghĩ đến loại thư nào sẽ gửi vào ngày thứ Hai cho một hoặc vài người trong số các thực khách tại bữa tối Chủ nhật của ông.
Không tìm thấy các bức thư chưa gửi trong văn phòng hoặc phòng ngủ của người đã chết. Cả hai phòng đều ngăn nắp đến mức khó mà hình dung bất cứ thứ gì quan trọng hoặc phổ biến có thể giấu ở đó. Văn phòng của Magdalon Schelderup có một giá sách và một dãy sách thương mại, nhưng không hề lưu trữ bất cứ thư từ nào.
Qua điện thoại, bà Sandra Schelderup đã nói xẵng với tôi rằng bà không biết gì về những bức thư chưa gửi trong những ngày gần đây, bà cũng không hay hỏi han về bất cứ chi tiết quan trọng hay thứ yếu trong kinh doanh. Có lần, chồng bà đã nói đùa rằng bà không cần để cái đầu xinh xắn của bà lo lắng về việc kinh doanh của ông, chỉ nên quan tâm về xu hướng tình dục của ông mà thôi. Nói cách khác, tôi sẽ phải hỏi viên giám đốc về những tài liệu quan trọng liên quan đến kinh doanh, và hỏi thư ký của người quá cố về những việc tầm thường hơn.
Hôm nay bà Schelderup có phần cay đắng và căng thẳng, nhưng tôi có thể hiểu được. Bà vui hơn khi tôi nhắc đến bản di chúc và nói bà mong đợi một kết luận nhanh chóng. Bà lưỡng lự giây lát, rồi đồng ý di chúc sẽ được đọc tại Lâu đài Schelderup vào 3 giờ chiều hôm đó.
Giám đốc Hans Herlofsen đang ở văn phòng công ty tại trung tâm thành phố và trả lời ngay hồi chuông thứ hai. Ông ta chẳng quan tâm gì đến những bức thư chưa gửi, chỉ xác nhận rằng mọi tài liệu kinh doanh đều được gửi tới văn phòng ông rất mau lẹ. Tuy vậy, trong vài tuần lễ gần đây không có tài liệu nào quan trọng, và chuyến thư sắp tới không liên quan đến kinh doanh không thuộc phạm vi của ông. Tóm lại, cơ hội ông giúp được tôi là 0%, và ông khuyên tôi nên liên hệ với thư ký của Magdalon Schelderup.
Tôi hứa làm việc này, nhưng nói thêm tôi cần hỏi ông vài chuyện riêng tư. Một lúc im lặng ở đầu dây bên kia. Lúc đó, tôi đề nghị sẽ đến gặp ông ta tại văn phòng trong thành phố. Ông vội đáp ngay rằng ông sẽ đến đồn cảnh sát gặp tôi, để tránh làm đám nhân viên văn phòng xáo động. Ông hỏi liệu có thể tới vào giờ ăn trưa không, để không bị gián đoạn công việc trong ngày một cách không cần thiết. Tôi đồng ý ngay lập tức và vị giám đốc hứa sẽ tới đồn vào buổi trưa. Rồi ông đặt ống nghe xuống, hấp tấp khác thường.
Chuông điện thoại ở Sørum reo một lúc lâu. Tuy vậy, đến hồi chuông thứ bảy thì Synnøve Jensen cũng nhấc máy, hết cả hơi khiến ngay lập tức tôi hình dung cô chạy từ buồng tắm xuống cầu thang để nhận điện. Lúc đã lấy lại hơi thở, cô nói không biết gì về thư từ mà Magdalon Schelderup định gửi vào ngày thứ Hai. Tuần trước, cô đã viết hai bức thư và cả hai đều là thư chúc mừng đúng chuẩn mực và cô đã gửi đi trong ngày. Nếu ông có thư nào tự viết, thông thường ông để lại trên bàn hoặc trong ngăn kéo.
Ngay lập tức, tôi lọc ra công thức “thông thường ông để lại” và hơi cao giọng hỏi liệu ông có để ở nơi nào khác nếu không muốn để trên bàn hoặc trong ngăn kéo. Giọng cô hình như chậm dần lúc trả lời. Có cảm giác tôi đã đánh trúng một thứ mạnh hơn.
- Khi đó, chúng được khóa trong một cái hộp kim loại mà ông ấy cất ở đây.
Cô gần như thì thào những từ cuối cùng, trước khi thu hết can đảm và tiếp tục bằng giọng to hơn, nhanh hơn.
- Nhưng cho đến bây giờ tôi không mở hộp và cũng không biết bên trong đựng gì, hoặc có thể là cái gì. Ông ấy dặn cái hộp lúc nào cũng phải khóa và không bao giờ được mở, trừ khi ông ấy ở đây, - cô nói thêm, sợ sệt.
Chắc là cô cũng nghĩ như tôi. Mặt khác, lý do đó sắp đổ sụp. Cô nói tiếp sau vài giây im lặng căng thẳng, giọng cô càng tuyệt vọng.
- Chúa ơi, tôi mới ngu làm sao. Lẽ ra tôi nên nói đến cái hộp với anh từ hôm qua. Cái chết là một cú sốc. Tôi thực sự không nghĩ ra mình có thể có gì quan trọng trong nhà, mà anh cũng không hỏi…
Tôi hỏi ngay lập tức Magdalon Schelderup đến đó lần cuối là khi nào và ai có chìa khóa hộp. Cô đáp, đầm đìa nước mắt, rằng ông ta đến đó vào hôm thứ Sáu. Theo cô biết chỉ có hai chìa khóa. Một cái ở vòng đeo chìa khóa của ông, cái kia trong tay cô.
Cô đề nghị mở hộp ngay, nếu tôi cần. Thay vào đó, tôi yêu cầu cô ở nhà và không động đến cái hộp cho đến khi tôi tới đó.
III
Mất gần bốn lăm phút tôi mới tới bên ngoài trang trại ở Sørum. Sự trái ngược với Lâu đài Schelderup ở Gulleråsen chắc chắn không phải vì nó rộng lớn hơn. Mảnh đất không lớn hơn dải đất trồng khoai tây trước nhà. Ngôi nhà nhỏ và đang sụt lún. Nom như nó được dựng lên bởi những người vụng về và một người thợ mộc run tay.
Synnøve Jensen vẫn bình thường và thân thiện như trước. Vừa thoáng thấy tôi qua cửa sổ, biết đúng là tôi, cô mở ngay cửa ra vào và tặng tôi nụ cười can đảm. Cô đã pha cà phê và đặt ít bánh ngọt lên bàn trong phòng khách nhỏ. Tầng trệt gồm một căn bếp nhỏ, gần bằng phòng khách. Một cầu thang trông giống thang gấp mười bậc dẫn lên tầng trên, tôi có thể thấy ba cánh cửa, tất cả đều đóng.
Chủ nhân căn nhà huơ tay xung quanh, dường như xin lỗi.
- Nhà tôi chẳng có gì đáng khoe. Nhưng đó là tất cả thời thơ ấu của tôi và là của người cha nghèo khổ để lại cho tôi. Tôi nghe mọi người quen biết ông lâu kể lại, trước kia ông là một thợ mộc lành nghề. Nhưng rồi rượu chè làm hỏng ông. Rõ ràng ông đã lấy nguyên vật liệu của một tòa nhà bị cháy rụi để dựng ngôi nhà này.
Tôi gật đầu thông cảm. Thật khó mà không thương cảm với ngôi nhà nhỏ xập xệ và cô chủ đang mang thai. Nhưng lúc này mọi sự chú ý của tôi đều tập trung vào cái hộp kim loại trên bàn bếp, nhốt kỹ bao điều bí mật.
- Tôi thề chưa đụng vào nó từ lúc anh gọi điện. Nhưng dù sao thì tuần trước tôi đã mở nó nên dấu tay của tôi sẽ còn ở đó, - cô hấp tấp nói thêm.
Tôi nhấc cái hộp lên bàn phòng ăn và yêu cầu Synnøve Jensen không nhìn lúc tôi mở. Cô nghiêm trang gật đầu và đưa ngay chìa khóa cho tôi. Bàn tay cô run run lúc tôi chạm vào. Cô kiên quyết ngoảnh đi, mắt nhìn đăm đăm xuống sàn trong lúc tôi mở khóa hộp.
Tôi không biết mình có thật lòng mong tìm thấy một bức thư trong chiếc hộp hay không, nhất là loại thư tôi muốn tìm. Nhưng chắc chắn tôi không lường trước thứ mình sẽ tìm thấy.
Một chồng thư xếp gần đầy hộp.
Có mười bức cả thảy. Tất cả đều niêm phong và đề địa chỉ viết tay. Bức thư trên cùng tôi nhìn thấy ngay lúc mở hộp và sửng sốt thấy đề “Cô Synnøve Jensen”. Bức thứ hai đề “Ông Fredrik Schelderup”. Bức thứ ba để “Ông Leonard Schelderup”; còn bức thứ tư đề “Cô Maria Irene Schelderup”. Tất cả các thư khác tiếp theo thành một chuỗi. Các thư trong hộp đều đề gửi cho mười thực khách có mặt tại bữa tiệc cuối cùng của Magdalon Schelderup.
Sức cám dỗ mở ngay một trong những bức thư đó thật khó cưỡng. Tất cả trông đều giống nhau, nên tôi bắt đầu bằng bức thư trên cùng. Nó chứa các bản sao của hai tài liệu. Một là bản di chúc mà luật sư Edward Rønning đã đọc cho tôi nghe. Bản sao kia là một bức thư rất ngắn gọn như sau:
Gulleråsen, 12 tháng Năm 1969
Xin thông báo với cô, kèm theo đây là một bản sao di chúc của tôi đã công chứng. Đây là quyết định cuối cùng của tôi về nội dung.
Chân thành,
Magdalon Schelderup
Mấy dòng chữ ắt phải nhảy múa trước mắt tôi vài phút. Patricia đã đúng. Magdalon Schelderup đã định gửi một bức thư quan trọng vào ngày thứ Hai, có thể trước hoặc sau khi gặp tôi. Ông ta đã viết tay các bức thư và chuẩn bị mười bản sao giống hệt nhau để gửi đi. Nhưng tôi không thể hiểu hết ý định và mục đích của chúng là gì.
Khi tôi biết được nội dung của bản di chúc, dường như tôi nhìn nhận nó nghiêm túc hơn, có ba người được lợi nhất là hai con trai và tình nhân của Magdalon Schelderup. Căn cứ vào những điều tôi biết, ông ta sợ một người trong bọn có thể cố giết mình ngay khi nhận được thư. Nếu vậy, rất có khả năng ai đó đã chặn ông ta từ trước. Nhất là khi người đó biết nội dung bản di chúc đã ở đây từ ba ngày, trong cái hộp kim loại mà người tình của ông ta có chìa khóa. Cô ta đã thề với tôi là chưa dùng đến nó.
Synnøve Jensen hiển nhiên là một phụ nữ có ý chí mạnh mẽ. Vài phút sau, lúc tôi đóng cái hộp, cô vẫn ngồi ngoảnh mặt đi, mắt nhìn xuống. Cuối cùng, cặp mắt khiếp đảm của cô gặp cái nhìn của tôi qua bàn và các tách cà phê chưa đụng tới. Tôi cảm thấy thương cô nếu cô thực sự không phải là kẻ sát nhân máu lạnh, nhưng tôi ngờ cô chính là kẻ đó. Vì thế tôi không được thương xót, hy vọng là có thể phá được vụ này ngay lập tức và ngay tại chỗ.
- Trong hộp có vài bức thư, bức trên cùng đề gửi cô.
Một ánh long lanh thoáng trong mắt Synnøve Jensen, nhưng cô không ngoảnh đi.
- Tôi thực sự không biết chúng ở đây. Ông ấy yêu cầu tôi không bao giờ được mở hộp nếu không có ông ấy ở đây, và tôi đã làm như ông bảo, - cô nói. Giọng cô nghẹn ngào và không rõ, nhưng đủ to để nghe thấy. Cô nhắc lại lời biện hộ ngắn gọn thêm hai lần nữa, như thể đó là lời tuyên thệ.
Tôi không chắc nó là thật hay không. Nhưng tôi hiểu mình không thể bắt cô thay đổi lời giải thích. Vì thế tôi đề nghị cô kể lại chuyện Magdalon đến đây vào tuần trước.
Lúc đầu cô lắp bắp và sụt sịt, nhưng dần dần cô bắt đầu nói mạch lạc hơn. Sau khi hết giờ làm, ông đề nghị đưa cô về nhà. Trước kia ông đã làm việc này, và hầu như lần nào ông cũng vào trong nhà. Họ tạt vào một hiệu cà phê ở Sørum để ăn tối. Lúc về đến nhà, cô pha cà phê cho ông, nhưng họ lên phòng ngủ, không đợi pha xong. Sau đó, ông xuống dưới vừa mang cà phê lên cho cô vừa mỉm cười. Cô không trông thấy ông để gì vào trong hộp, nhưng ông có chìa khóa riêng và có thể ông cất những bức thư kia vào trước hoặc sau khi ông mang cà phê cho cô. Cô quá mệt và không dậy nổi cho đến lúc ông ra về.
Nghe có vẻ không mấy thuyết phục. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng không thể loại trừ khả năng này. Vì vậy tôi nhanh chóng quyết định mang cái hộp kim loại - chứ không phải Synnøve Jensen - theo mình. Tôi lệnh cho cô phải ở nhà cho đến khi tới Lâu đài Schelderup nghe đọc di chúc vào cuối chiều hôm đó.
Synnøve Jensen ngước nhìn tôi, rõ ràng là hoảng hốt, nhưng ngay lập tức tươi tỉnh lên khi tôi nói sẽ có mặt ở đấy nên cô sẽ an toàn.
Trên đường về thành phố, tôi cảm thấy khá chắc Synnøve Jensen sẽ giữ lời và tới buổi đọc di chúc. Bất cứ ý định bỏ trốn nào cũng là lời thú tội rành rành, và cũng khó hình dung cô chạy trốn bằng cách nào. Tuy vậy, tôi cảm thấy khó mà tin chắc vào khả năng có thể cô là kẻ sát nhân.
IV
Về tới đồn, việc đầu tiên là tôi kiểm tra những phong bì khác đựng cùng các tài liệu như nhau. Sau đó tôi gửi cả cái hộp kim loại cùng các bức thư đi lấy dấu vân tay kèm chỉ thị là việc khẩn và phải làm xong trước 3 giờ chiều.
Trong các hồ sơ thống kê cũng như báo cáo của cảnh sát không có gì quan trọng liên quan đến những con bạc quyền lực ngoài Magdalena Schelderup năm 1945 bị kết án nộp một ngàn krone tiền phạt và phải ngồi tù hai tháng. Một báo cáo ngắn về lý do: “là thành viên của Nasjonal Sampling (NS) và dính líu với các lực lượng chiếm đóng về tài chính”. Magdalon Schelderup có lý lịch sạch sẽ. Về những vị khách còn lại tại bữa tiệc cuối cùng của Magdalon Schelderup, chỉ có một hồ sơ mỏng về người con trai cả, Fredrik. Anh ta phải nộp phạt hai lần trong những năm 1960 vì lái xe trong khi say rượu và bị thu bằng lái. Lần thứ hai anh ta phải nộp một khoản phạt nặng vì cư xử “rất thiếu tôn trọng” cảnh sát. Anh ta chịu một khoản tiền phạt cố định và từ đó như những gì tôi thấy trong hồ sơ, trở thành người sống có nề nếp hơn hẳn. Tôi ghi nhận có lẽ Fredrik Schelderup có khí chất hơn là tôi đã thấy.
Vì tò mò, tôi kiểm tra luôn hồ sơ về cái chết của người em trai và cha mẹ đã mất của Magdalon Schelderup. Em trai ông ta bị kết án hai lần vì tội gian lận bất thành trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh, và vào thời gian cậu ta chết năm 1946, bị điều tra vì hợp tác nhiều mặt với kẻ thù. Cha mẹ ông ta bị tố giác ăn trộm một số nữ trang năm 1915 và một năm sau bị công ty bảo hiểm kiện vì gian lận tiền bảo hiểm bất thành. Vụ việc liên quan đến món nữ trang quý nhất của mẹ Magdalon Schelderup, theo hồ sơ là một “viên kim cương đỏ đẹp lộng lẫy trên sợi dây chuyền vàng” bị mất trong một vụ trộm, còn tên trộm bị bắt giữ đã chối tội. Tuy vậy, vòng cổ đó không tìm thấy trong nhà Schelderup hoặc ở bất cứ nơi nào khác, và cuối cùng vụ này chìm xuồng.
Tóm lại, tôi không tìm thấy gì liên quan đến cuộc điều tra hiện tại, nhưng ghi lại tiểu sử một gia đình ba chìm bảy nổi.
Về hai thành viên phong trào Kháng chiến bị giết trong chiến tranh, tôi gọi điện cho Petter Johannes Wendelboe trước. Song tôi cảm thấy lần này không cần thúc ép ông ta vì những cái tên, và rốt cuộc tôi đọc kỹ hồ sơ lưu trữ về các án mạng chưa tìm ra từ năm 1941. Những cuộc giao tranh có vũ trang từ những năm 1940 là việc của quá khứ, cuộc đấu tranh chống lại các lực lượng chiếm đóng chỉ thực sự trở nên gay gắt trong năm cuối của cuộc chiến.
Tôi nhanh chóng tìm ra hai vụ được nói đến, nhưng không thấy họ có liên quan gì. Những cái tên là Hans Petter Nilsen và Bjørn Varden, tuổi 38 và 28, sống tại Bekkestua ở Bærum, và Grønnegate ở Oslo. Cả hai được tìm thấy bị bắn chết trong phòng ngủ của họ vào buổi sáng, Nilsen vào ngày 12 tháng Năm còn Varden vào mùng 5 tháng Chín. Nilsen sống một mình và được một đồng nghiệp phát hiện ra khi anh ta không đến làm việc. Varden đã kết hôn và vợ anh ta ngủ trong phòng khác với đứa con nhỏ. Trong cả hai vụ đều không tìm thấy dấu vết bạo lực của kẻ sát nhân, được cho là hắn có chìa khóa hoặc vào, ra qua cửa sổ mở. Sự việc là cả hai nạn nhân bị bắn bởi cùng một thứ vũ khí - một khẩu súng lục Walther cỡ nòng 9x19 ly do Đức sản xuất, càng củng cố giả thuyết kẻ giết họ là một người. Vụ án khép lại vào mùa xuân năm 1943 vì thiếu bằng chứng và cũng không có gì cho thấy có thể làm sáng tỏ vụ việc. Một đơn kiện của vợ Bjørn Varden đệ trình năm 1949 không nhận được phản hồi, là tài liệu duy nhất từ sau chiến tranh. Từ “đã chết” bằng mực đỏ viết chéo trên cả hai hồ sơ.
Hồ sơ liên quan đến cái chết của Ole Kristian Wiig vào Ngày Giải phóng năm 1945 có phần dày hơn. Một giấy chứng tử xác nhận Wiig chết vì hai viên đạn bắn vào đầu. Có cả lời khai của hai cảnh sát tại hiện trường gây án, cả hai đều nói họ đang đứng bên ngoài ngôi nhà thì bất chợt nghe thấy tiếng súng ở tầng thứ nhất.
Họ trông thấy Magdalon Schelderup ở cửa sổ, ra hiệu cho họ chạy lên. Họ lao lên cầu thang và tìm thấy Wiig chết trên sàn, trong phòng làm việc của tên Đức Quốc xã. Cách đó vài bước, một thành viên trẻ của phong trào Kháng chiến đứng chết sững, khẩu súng trong tay. Lúc họ bước vào phòng, Magdalon Schelderup đã tước súng khỏi tay cậu ta rồi tuyên bố mình đã chứng kiến vụ giết người. Arild Bratberg rõ ràng quá hoảng loạn, đã cho lời khai ngay lập tức và ngay tại chỗ, rồi bị bắt giữ tại hiện trường.
Bản khai viết tay của Magdalon Schelderup là một bản giải trình chính xác về hiện trường gây án. Bratberg hình như bị trầm cảm, suốt ngày lo âu và bất chợt bắn Wiig không hề báo trước. Schelderup bổ sung một câu khá buồn ở cuối rằng Bratberg rõ ràng bị rối loạn tâm thần, lẽ ra Schelderup và những người khác trong nhóm nên nhận ra sớm hơn. Khẩu súng của Bratberg có dấu vân tay của cậu ta và của Schelderup là điều hoàn toàn bình thường vì Schelderup đã tước súng từ tay Bratberg.
Bản khai viết tay của Bratberg dài cả một chương. Tôi không biết nên cười hay khóc khi đọc nó. Theo Arild Bratberg, lúc cậu ta bước vào phòng thấy Wiig và Schelderup đang cãi nhau, Wiig giận dữ khua một tờ giấy vào mặt Schelderup. Schelderup đột nhiên lao tới Bratberg, vồ lấy súng của cậu ta và bắn Wiig. Rồi Schelderup mở cửa sổ vẫy ai đó. Sau đó, Schelderup vừa huýt sáo vừa bình tĩnh đi vòng quanh bàn, ve vẩy khẩu súng trong tay và hát bài được nhiều người yêu thích Mỗi ngày qua càng tốt đẹp hơn. Khi Bratberg hốt hoảng nói Wiig đã bị bắn trúng, Schelderup đáp lại: “Phải, nhưng chẳng có gì lạ; hơn nữa ngoài kia đang diễn ra chiến tranh kìa!” Anh ta bình luận như thể một người ngã xuống vào lúc đầu giờ chiều chẳng có gì khác thường, và nói thêm với một nụ cười: “Hơn nữa, đây chỉ là súng đồ chơi thôi. Cậu thử mà xem!” Schelderup đưa súng cho Bratberg và chỉ chộp lấy nó khi hai cảnh sát bước vào phòng. Trả lời câu hỏi then chốt là tờ giấy mà cậu khẳng định đã trông thấy ấy đâu, Bratberg khai Schelderup đã nuốt nó trước khi cảnh sát vào.
Tôi đã từng đọc nhiều lời khai lạ lùng, nhưng đây là bản lộn xộn và kinh khủng nhất. Chuyên gia tâm thần được tòa án chỉ định đã tuyên bố Arild Bratberg thần kinh không ổn định và cậu bị tuyên án giam giữ không thời hạn. Theo tài liệu đính kèm sau này, Bratberg bị giam cầm tại một khu kín trong nhà tù đến năm 1954, sau đó được chuyển tới bệnh viện tâm thần ở Gaustad. Cậu được phóng thích để quản chế năm 1960, nhưng lại bị cách ly vì bệnh tái phát vào những năm 1962, 1964, 1965 và 1967. Chân dung một người thần kinh ốm yếu phạm phải một tội ác bi thảm và vô nghĩa đủ rõ ràng. Chẳng có gì khó hiểu vì sao vụ này lại có ảnh hưởng tàn phá đến chị gái của Ole Kristian Wiig và gia đình bà đến thế. Nhưng tôi thấy khó tìm ra mối liên quan đến cái chết của Magdalon Schelderup.
V
Hans Herlofsen rất đúng giờ và tới vào buổi trưa như đã hẹn. Ông ta ăn vận chỉnh tề và căng thẳng trông thấy, ông gật đầu cảm kích lúc tôi đóng cửa văn phòng lại sau lưng ông.
Tôi mở đầu bằng câu hỏi thông thường về việc ông tới Lâu đài Schelderup vào chiều hôm đó như thế nào. Herlofsen đáp như thường lệ, ông lái xe riêng đến một mình nhưng hơi do dự khi tôi hỏi là xe nào. Ông gật đầu miễn cưỡng khi tôi hỏi có phải chiếc Peugeot màu xanh lơ là của ông không. Tôi cảm thấy đã thân thiện hơn. Lợi dụng cơ hội, tôi thử bắt nọn:
- Trong mấy năm đầu sau chiến tranh, quan hệ của ông với Schelderup tốt đẹp lắm phải không? Nhưng sau đó đã xảy ra chuyện và tôi nghĩ ông nên giải thích chi tiết hơn…
Tôi sẵn sàng đợi một phản ứng gay gắt, nhưng điều đó không xảy ra. Tuy nhiên, rõ ràng tôi đã đánh trúng đích. Hans Herlofsen bắt đầu run và gần như ngồi lún sâu vào trong ghế. Ông ta ngả người ra sau một lát, trước khi bắt đầu nói bằng giọng run run:
- Tôi mong anh hiểu cho, phải khó khăn lắm tôi mới nói ra chuyện này. Tôi sẽ nói thật, nhưng cầu xin anh đừng để mọi người biết đến, trừ khi chứng tỏ có dính dáng đến vụ giết người. Tôi có thể bảo đảm 100% với anh rằng nó không liên quan gì, - ông ta vội vàng nói thêm.
Tôi sốt ruột xua tay giục ông ta tiếp tục, nhưng cũng gật đầu thông cảm.
- Số phận thật trớ trêu vì suốt đời tôi chăm sóc hình ảnh cho người khác, lại không thể chăm sóc cho chính mình. Có một năm trong cuộc đời mà tôi không thể lý giải rõ ràng. Năm đó, bắt đầu từ ngày 12 tháng Hai 1948 tôi về nhà ở Lysaker, thấy vợ nằm chết trên sofa cùng đứa con trai lên hai trong tay. Và nó kết thúc vào ngày 14 tháng Hai 1949, khi tôi gặp Magdalon Schelderup vô cùng tức giận trong văn phòng và buộc tội tôi đã biển thủ của công ty 107.123 krone. Tôi nhớ rất ít về giai đoạn xen giữa. Tôi nhớ mình đã gửi con trai cho chị của vợ, rồi bắt đầu uống rượu một mình và đánh bạc vào các ngày nghỉ cuối tuần và hầu hết các buổi tối. Tôi không có cách giải thích nào khác, ngoài việc cho rằng đó là vì quá đỗi đau buồn, có lẽ được kết hợp với phản ứng chậm trễ trước những sự việc khủng khiếp của chiến tranh. Dù gì đi nữa, tôi vẫn không thể giải thích làm thế nào tôi lại đánh mất một khoản tiền lớn đến thế, dẫu tôi có cá độ nhiều con ngựa và đánh bạc bất cứ khi nào có dịp. Trên thực tế, tôi có thể làm bất kỳ việc không tưởng nào nhưng lừa đảo Magdalon Schelderup thì thật không thể nào lý giải nổi.
Tôi gật đầu nhất trí. Từ những điều nghe được về Magdalon Schelderup, ông ta đâu phải người để người khác dám lường gạt.
- Nhưng có lẽ ông nhớ chuyện xảy ra vào ngày 14 tháng Hai 1949?
Hans Herlofsen gật đầu và nuốt khan.
- Phải, và thật không may là nhớ rất rõ. Magdalon giận bầm gan tím ruột theo cách bình tĩnh đặc biệt của ông ấy, mỗi khi ông ấy bị mất tiền hay cảm thấy bị người khác lừa đảo. Ông ấy nói sẽ gọi điện cho cảnh sát, trừ khi tôi có thể đặt tiền lên bàn cùng tiền lãi trong ngày làm việc. Tôi thú nhận là tôi đã uống rượu hoặc chơi bạc hết rồi. Sau đó tôi quỳ gối trước bàn của ông ấy, khóc nức nở và van xin ông ấy thương tình đứa trẻ mất mẹ mà tha thứ cho tôi. Tôi hứa sẽ trả ông ấy từng krone cùng tiền lãi tính theo thời gian. Tôi giải thích rằng tài sản của tôi chỉ bằng một phần mười tổng số và tôi sẽ không thể kiếm tiền nếu tôi bị quy tội lừa đảo. Magdalon không nói có hoặc không, chỉ bảo hãy cút khỏi tầm nhìn của ông ấy. Ông ấy nói thêm rằng tôi có thể bò ra cũng không sao. Thế là tôi làm theo. Tôi bò bằng hai tay và đầu gối ra khỏi văn phòng Magdalon và không đứng dậy, cho đến lúc suýt vướng vào chân vợ ông ấy.
Rõ ràng nhắc đến hồi ức này thật vô cùng khó chịu và đau khổ.
Hans Herlofsen lau mồ hôi trên trán và ngừng trong giây lát trước khi nói tiếp.
- Tôi chẳng thể làm bất cứ việc gì trên đời, nên tôi trở lại văn phòng của mình và làm việc cật lực, hết mức có thể. Tôi đợi cảnh sát gõ cửa suốt cả ngày. Cuối cùng, vào cuối buổi chiều, chính Magdalon bước vào, không gõ cửa. Ông để hai tài liệu viết tay lên bàn, trước mặt tôi. Một là bản thú nhận tội lừa đảo. Cái kia là giao kèo, tôi xác nhận nợ ông ta 95.000 krone, trong đó 87.123 krone là “nợ chưa trả” và 7.877 krone là “lãi chưa trả”. Tổng số tiền phải hoàn trả với lãi suất 10%, mỗi năm nộp 10.000 krone. Ngôi nhà và toàn bộ tài sản của tôi dùng làm vật thế chấp phòng khi xảy ra sự cố trong khi trả nợ. Tôi được cho nửa phút để ký hoặc ông ấy sẽ gọi cảnh sát. Tôi ký, và ông ấy cầm cả hai tài liệu rời khỏi văn phòng. Từ đó tôi không bao giờ thấy chúng lần nữa, nhưng tôi ý thức được sự tồn tại của chúng từng ngày trong đời. Năm này tiếp năm khác trôi qua, chúng tôi chưa từng nhắc đến sự việc ấy một cách trực tiếp. Tôi trở thành nô lệ của ông ta, tôi phải tiếp tục làm việc với bất cứ mức lương nào do ông ấy quyết định, ông ấy có thể không bao giờ trả lời tôi, nhổ đờm vào mặt tôi cũng không sao. Đời tôi là một cuộc lao động khổ sai vô tận, là cuộc vật lộn không bao giờ kết thúc để trả nợ vào ngày 31 tháng Mười hai mỗi năm. Năm 1964, tôi đã phải đem cầm cố món nữ trang cuối cùng của vợ tôi để trả nợ.
Đầu tôi quay cuồng. Tình huống đủ dễ hiểu, nhưng chưa đủ chiều sâu. Trong số mười thực khách của Magdalon Schelderup, có nhiều số phận bi thảm với động cơ để giết người.
- Nhưng tôi đã cố dành dụm từng xu cho mỗi lần trả nợ. Từ ngày 14 tháng Hai 1949, tôi không động đến một giọt rượu hoặc mon men đến nơi cá độ. Tôi cố che giấu toàn bộ sự việc với mọi người, kể cả con trai tôi. Nó cho là tôi quá ư tằn tiện với chi tiêu hằng ngày và tôi có nhiều tiền gửi nhà băng. Tôi kể với hàng xóm là tôi phải cẩn trọng với tiền nong và hài lòng với chiếc ô tô mình có. Nhưng thực ra, tôi chỉ có thể mua một chiếc xe đạp mới.
- Ra vậy, 95.000 krone cộng với 10% lãi suất mỗi năm, hằng năm phải trả 10.000 krone từ năm 1949, còn lại…
Herlofsen ủ rũ gật đầu.
- Tôi e rằng vẫn còn tồn đọng 66.361 krone. Theo pháp luật, tội của tôi hiện giờ là thời gian ngồi tù, vì thế không dám liều báo cảnh sát. Nhưng tôi vẫn mắc nợ gia đình Schelderup. Nếu vụ việc tham ô của tôi bị vỡ lở, tôi không còn cơ hội kiếm được việc làm khác. Tôi đã để dành gần đủ khoản thanh toán năm nay và có 8.212 krone trong nhà băng. Nhưng ngoài số đó ra, tôi chẳng còn gì nữa, cho nên nếu họ nghe phong thanh về khoản nợ của tôi và đòi tôi phải trả ngay, tôi sẽ mất nhà và toàn bộ tài sản, gia đình con trai tôi và tôi sẽ một lần nữa phải ra đường. Bộ com lê của tôi là thứ đánh lừa: tôi cũng có thể buộc phải bán nó. Tuy vậy, điều tệ hại nhất vẫn là nỗi nhục nhã và đau đớn gây ra cho con trai tôi.
Hans Herlofsen nhìn tôi, vẻ đau buồn hiện rõ trên mặt và nói thêm:
- Tôi đoán chuyện đó sẽ xảy ra bây giờ.
Tôi thử an ủi viên giám đốc khốn khổ nhưng không dễ gì. Ông ta nói không biết bản thú tội và giấy ghi nợ hiện ở đâu, hoặc ai có thể biết về chúng. Nhưng chí ít ông cũng đoán giấy ghi nợ và khoản nợ chưa thanh toán đã được ghi nhận. Nếu công ty tan vỡ và giải thể, không chỉ mọi khoản nợ tồn đọng bị thu thập, mà vị trí của ông cũng mất. Còn nếu công ty không bị tan vỡ và giải thể, giải pháp duy nhất có thể là con gái và vợ của Schelderup sẽ nắm quyền điều hành. Trong viễn cảnh tối ưu, ông hy vọng mong manh rằng có thể tiếp tục thỏa thuận hiện hành, dẫu với lãi suất cao hơn và khoản trả nợ lớn hơn, ông nói với nụ cười chua xót. Hy vọng duy nhất của ông là trong di chúc hoặc các giấy tờ khác mà Magdalon Schelderup để lại, sẽ có chút khoan dung nào đó. Nhưng ông cũng thì thầm ước tính khả năng này là “dưới 15%”.
Lúc 12 giờ 30, tôi để Herlofsen đi. Ông ta xin lỗi tôi lần nữa vì hôm qua đã không kể hết mọi chuyện. Ông nói cảm thấy hầu như đất dưới chân mình đang mở ra sau những sự kiện của hai mươi tư giờ qua, và tôi tin ông. Lúc rời văn phòng tôi, Hans Herlofsen dựa vào khung cửa cho vững, và tôi tin bình thường ông không làm thế.
VI
Lúc 1 giờ, phần quan trọng của vấn đề nan giải được giải quyết khi tôi nhận được báo cáo miệng về cái hộp kim loại của Magdalon Schelderup và những bức thư trong đó. Nó là tin vui cho Synnøve Jensen. Dấu vân tay của cô ở bên ngoài hộp là đương nhiên, nhưng đã cũ và không rõ. Những dấu vân tay duy nhất trên các bức thư trong hộp đều của Magdalon Schelderup. Những phát hiện chuyên môn này không chứng tỏ lời khai của Synnøve Jensen là thật, nhưng cũng chứng tỏ là không giả, và đó là thứ quan trọng nhất ở đây và lúc này. Lệnh bắt giữ tôi để sẵn trên bàn vẫn còn đó, để trống.
Song bất ngờ lớn nhất xuất hiện tại đồn cảnh sát lúc 1 giờ 15. Một cảnh sát thở không ra hơi gõ cửa lúc một lá thư tới trong chuyến thư ngày.
Địa chỉ trên phong bì rất ấn tượng, viên cảnh sát nói. Tôi hiểu ý anh ta ngay tức khắc.
Bức thư đề gửi “Người chỉ huy cuộc điều tra vụ sát hại Magdalon Schelderup”. Tất nhiên, câu này chẳng phải là giật gân trong một ngày như hôm nay, nhưng nó trở nên ấn tượng hơn vì dấu nhật ấn trên thư là từ Oslo, vào ngày trước khi Magdalon Schelderup bị giết.
Nội dung gây xúc động không kém. Một tờ giấy gấp lại giản dị, nguyên bản đánh máy như sau:
Tại đây, thứ Bảy mùng 10 tháng Năm 1969
Thế là lão độc tài ngồi ở đầu bàn đã chết.
Ngay cả cô tiểu thư bé nhỏ ngồi bên phải lão cũng không rơi một giọt nước mắt lúc đời lão tắt.
Tôi tự hỏi anh sẽ xoay xở bao lâu để tìm ra ai đã rắc bột lạc lên món thịt quay?
Nếu anh không sớm nâng cốc ăn mừng, có thể sẽ thêm những người chết và các nhân chứng sẽ đỡ khoe khoang hơn…
Tôi ngước nhìn viên cảnh sát, nom anh ta xanh xao hơn thường lệ. Anh ta đảo mắt và nói lẽ ra tôi chỉ nói có cần giúp gì không. Rồi anh ta bối rối và rút lui thật nhanh.
Bức thư rõ ràng được viết bởi ai đó rất quen cách xếp chỗ và thực đơn tại Lâu đài Schelderup. Cũng như có thể thấy, thư đóng dấu bưu điện vào ngày trước khi xảy ra vụ giết người, ắt phải do một hung thủ tự tin đã lên kế hoạch và chắc chắn về hậu quả. Tôi có đủ lý do để hiểu rất nghiêm túc rằng lời cảnh báo sẽ có thêm các vị khách trong bữa tối cuối cùng của Magdalon Schelderup có thể bị giết hại. Tôi ngồi suy nghĩ vài phút, phần về kẻ sát nhân là ai, phần về tại sao hắn lại hợm hĩnh đến nỗi gửi cho cảnh sát thư báo trước bằng văn bản.
Tôi chụp lại một bản sao bức thư và gửi nguyên bản đi xét nghiệm, song không hy vọng nhiều lắm. Dù kẻ gửi thư này là ai đi nữa, hắn ta hoặc ả ta cũng có thể để lại dấu vân tay hoặc các manh mối khác. Vì thế, tôi báo cáo miệng với sếp rằng có vài người đã chứng kiến cái chết của Magdalon Schelderup có thể bị đe dọa và đề nghị tăng ca tối nếu cần thiết.
Sau đó tôi gọi điện cho Magdalena Schelderup và báo tôi cần nói chuyện với bà càng sớm càng tốt. Bà có vẻ không quá sốt sắng với chuyện này. Tôi nghe thấy một tiếng “Ồ, không” khe khẽ lúc tôi hỏi bà có thể ghé vào đồn cảnh sát không. Khi tôi gợi ý sẽ lái xe đến nhà bà, bà hỏi chúng tôi có thể gặp nhau ở giữa chừng được không. Tôi chấp nhận và chúng tôi thỏa thuận gặp ở hiệu cà phê trên đường Bogstad lúc 2 giờ 15 phút.
VII
Hiệu cà phê thật dễ chịu và cà phê rất ngon. Lúc chúng tôi ngồi trong một góc, không bị làm phiền, mỗi người một cái bánh sôcôla, tôi thấy cảnh vật xung quanh thích hợp hơn hẳn phòng làm việc tại Lâu đài Schelderup. Nhưng vẻ mặt bà Magdalena Schelderup rõ ràng không thoải mái và bực bội hơn hẳn so với cuộc thẩm vấn đầu tiên. Bà ngả về phía trước, gần như tức giận ngay khi tôi bắt đầu hỏi về hoàn cảnh và lập trường của bà trong thời chiến.
- Vợ chồng Wendelboe lại khua môi múa mép, uốn cái lưỡi độc địa của họ phải không? Họ đã căm ghét và khinh miệt tôi gần ba chục năm nay rồi. Tôi chắc Herlofsen và nhiều người khác cũng thế, nhưng hai người ấy vô cùng hiểm độc. Tất nhiên là tự tôi nên nói ra với anh hơn là cho phép người khác có dịp nói xấu tôi.
Bà ta hít một hơi rồi từ từ thở ra.
- Giống như cậu em đã chết của tôi, tôi là thành viên của NS từ mùa thu năm 1940 đến mùa thu 1942. Em trai tôi và tôi chỉ coi đó là một phương tiện thực tế để bảo vệ tài sản của gia đình. Tôi bỏ Đảng khi họ bắt đầu trục xuất người Do Thái và không bao giờ tham gia sự kiện nào của NS nữa. Sau chiến tranh, tôi bị kết án tù treo 60 ngày hoặc nộp 1.000 krone tiền phạt; tôi đã nộp tiền để gạt toàn bộ sự việc lại đằng sau, đồng thời gây ít thiệt hại cho gia đình và công việc làm ăn hết mức có thể. Vụ đó đã khép lại từ lâu và thực sự trở thành quá khứ. Nó là thế với mọi người, trừ những kẻ đạo đức giả ấy trong lực lượng Kháng chiến. Có kẻ muốn dựng chuyện tôi giết anh trai mình bởi vì tôi là thành viên NS trong hai năm chiến tranh chăng?
Sau cơn bùng nổ này, bà ta ngồi im một lúc, mặt hầm hầm. Bà châm điếu thuốc đầu tiên, nó làm bà ta dịu lại.
- Xin lỗi nếu tôi có vẻ quá đáng, nhưng từ hồi chiến tranh tôi đã bị nhiều lời xầm xì săn đuổi. Lẽ tất nhiên nguồn cơn khiến tôi bị suy sụp sâu sắc là vì sao tôi có thể ngu ngốc đến mức dính líu vào mọi chuyện đó ngay từ đầu. Nhưng một là tôi chưa bao giờ là Đảng viên Quốc xã, hai là tôi hết sức chắc chắn không giết anh trai mình.
Tôi nhận thấy câu sau bà ta nói với vẻ tin chắc hơn câu trước, và những điều bà ta kể lúc này khá phù hợp với hồ sơ vụ án tại các phiên tòa xử tội phản quốc. Thế nên tôi chuyển nhanh chủ đề và yêu cầu bà ta kể về cuộc hứa hôn tan vỡ của mình.
Câu này gây nên sự thay đổi tâm trạng bất ngờ. Một thoáng cười trên môi Magdalena Schelderup lúc bà ta đáp lại bằng câu hỏi:
- Cuộc hứa hôn nào?
Tôi chẳng biết gì về chúng, nên tôi nói muốn nghe về cả hai.
- Có lẽ anh định ám chỉ đến cuộc hứa hôn thứ hai, không phải là tổn thất lớn lao vào lúc đó. Anh ta đổi ý chỉ một ngày trước khi chúng tôi chính thức bước vào lễ đường, vì mọi chuyện nhảm nhí này trong chiến tranh và việc tôi là thành viên NS. Tôi không rơi quá nhiều nước mắt. Một thời gian trước đó, tôi đã hiểu anh ta không phải là tình yêu lớn trong đời tôi, anh ta không hấp dẫn cũng chẳng đẹp trai. Nhưng là một người đàn ông đứng đắn, có thể ra mắt được, tài chính vững vàng, chắc chắn sẽ là một người cha và người chồng tốt. Tôi đã ba mươi tám tuổi khi anh ta hủy hôn. Dù sao sau đó cũng đã quá muộn và quá phức tạp để bắt đầu tìm một người chồng mới. Có lẽ khi hồi tưởng quá khứ, sẽ cảm thấy sự mất mát lớn hơn, bây giờ tôi hiểu rằng anh ta là cơ hội để tôi không trở thành người lẻ loi, một phụ nữ không chồng không con.
- Còn cuộc hứa hôn đầu tiên?
Magdalena Schelderup gật đầu và ngồi thẳng lên trên ghế.
- Đó mới là một mất mát to lớn. Đó là tình yêu đầu tiên, tuyệt vời nhất và trẻ trung duy nhất của tôi. Một mối tình lãng mạn ngắn ngủi và cực kỳ mãnh liệt, kéo dài suốt mùa hè và mùa thu năm 1925, nhưng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đời tôi một thập kỷ nữa. Anh ấy điển trai và quyến rũ không cưỡng lại được, trong mắt tôi cũng như những người khác. Khoảnh khắc chúng tôi gặp nhau bên bàn cà phê, một ngày khi tôi lưu lại Bergen với một người bạn, mọi thứ dường như dừng lại. Có thể nói một cách chắc chắn rằng tôi không nhớ quá nhiều về bạn tôi trong phần còn lại của kỳ nghỉ hè, mà nhớ về anh ấy nhiều hơn.
Một nụ cười lan khắp mặt Magdalena Schelderup nhưng đông cứng ngay lại thành vẻ nhăn nhó cay đắng.
- Hình như sau này tôi nói rằng chuyến đi tới Bergen năm 1925 khiến tôi rất thoải mái trên giường, có thể nằm dài trong đó. Khi từ Bergen về nhà, lúc tới Bærum đeo chiếc nhẫn đính hôn, tôi đã quên mất vị thế của mình. Tôi không ngờ sự việc lại dễ dàng đến thế. Anh ấy thuộc tầng lớp lao động, và còn hơn thế nữa, anh ấy chưa có việc làm và không có tài sản của gia đình. Nhưng tôi không cho chuyện đó là tuyệt vọng. Mọi người không để ý nhiều trước khi ở nhà biết việc tôi đã làm. Ban đầu, cha mẹ tôi không phản đối lắm. Nhưng Magdalon vốn là người sắt đá, khăng khăng một mực đây chẳng qua chỉ là mối tình lãng mạn nông nổi và hôn phu của tôi theo đuổi tôi vì tiền. Từ hồi đó, anh trai tôi đã là người độc đoán nhất nhà và vẫn thế cho đến bây giờ. Trong vòng ít ngày, một mặt trận gia đình thống nhất - không thiếu người nào ngoài tôi - đã chống lại hôn phu của tôi, họ đến gặp anh ấy.
Vẻ buồn bã tràn ngập gương mặt Magdalena Schelderup lúc bà dụi tắt điếu thuốc và châm ngay điếu khác. Chắc bà mất cả ngon miệng nên không ăn bánh, nhưng tách cà phê của bà đã cạn. Đột nhiên, nom bà già hơn tuổi sáu mươi bảy của mình rất nhiều.
- Suốt đời, chúng tôi có thời làm những việc ngu ngốc như thế đấy. Ngày nào tôi cũng hối tiếc đã là Đảng viên NS trong chiến tranh, nhưng nó chỉ là chuyện vặt so với nỗi ân hận lớn lao vì đã để mình bị thuyết phục hủy hôn và trả lại chiếc nhẫn qua bưu điện. Tôi biết mình sẽ không thể làm được việc này nếu gặp mặt anh ấy, thậm chí chỉ nghe thấy tiếng anh ấy. Vì vậy tôi đề nghị anh không bao giờ tìm gặp lại tôi. Anh ấy là người chính trực và tôn trọng điều đó. Nhưng sau này chúng tôi đã gặp nhau lần nữa, theo cách gần như kỳ lạ, tại khu vực tiếp đón của một khách sạn ở Oslo. Chỉ vài phút trò chuyện tôi đã bị xáo động như mười năm trước, cho đến lúc vợ anh ấy xuất hiện. Điều tệ hại nhất là tôi đã đúng, anh ấy sẽ là một người chồng tuyệt vời. Anh đã là một doanh nhân thành đạt trong lĩnh vực của mình và ở trong hội đồng địa phương thuộc Đảng Tự do cánh tả. Khi chúng tôi gặp lại nhau năm 1935, chắc chắn gia đình tôi coi anh ấy là một người chồng hoàn hảo. Nhưng lúc đó, anh ấy đã lấy người khác và họ đã có ba đứa con. Đêm hôm ấy cảm giác của tôi thật kinh khủng khi về nhà chỉ có một mình, lại vừa gặp vợ anh và chứng kiến vẻ rạng rỡ, hạnh phúc của cô ấy bên chồng và các con.
Magdalena thổi mạnh khói thuốc. Những giọt nước mắt tôi không thấy khi anh trai của bà chết đang đầy ứ mắt bà.
- Tôi không bao giờ tha thứ cho bản thân. Đó là sai lầm lớn nhất đời tôi - phản bội anh ấy, không dám đấu tranh cho tình yêu thắm thiết của mình khi anh ở đó, ôm tôi trong vòng tay.
Không báo trước, bà giơ bàn tay phải lên và rút chiếc nhẫn bằng thiếc khỏi ngón tay.
- Tôi đã gửi trả chiếc nhẫn đính hôn năm 1925. Nhưng tôi luôn giữ chiếc này, nó là cái nhẫn đầu tiên anh ấy mua cho tôi. Tôi nghĩ anh ấy mua với giá một krone, nhưng nó quý giá vì là krone duy nhất anh ấy có, và đó là chiếc nhẫn đầu tiên mà một người đàn ông tặng tôi. Hóa ra, tôi có được nó từ tình yêu của đời tôi. Bởi vậy, tôi sẽ đeo nó cho đến ngày chết, để nhắc nhở mình về những chuyện đã và có thể xảy ra.
- Còn anh trai bà, bà đã tha thứ cho ông ấy chưa?
Tiếng thở dài của Magdalena Schelderup thật nặng nề.
- Tôi e rằng không thể nói có, ngay cả vào ngày sau khi Magdalon chết. Nó đã tồn tại giữa chúng tôi suốt từng ấy năm, mặc dù chúng tôi chưa bao giờ nói đến. Năm 1935, sau khi gặp lại người yêu cũ, khi về nhà tôi kể với Magdalon tình tiết này. Nhưng xin tha thứ không phải là bản tính của Magdalon. Nghe tôi kể xong, ông ấy không làm gì, cứ ngồi đó. Rồi ông ấy trở lại với công việc và im lặng làm cho đến khi tôi bỏ đi. Tôi cứ đợi để nghe ông ấy xin tôi tha thứ, nhưng Magdalon chẳng bao giờ nói.
Magdalena dụi tắt điếu thuốc và kết thúc câu chuyện bằng giọng kiên quyết.
- Mọi người tin rằng lý do khiến anh em tôi ít trò chuyện với nhau trong những năm vừa qua là do chiến tranh. Nhưng chuyện tình cũ của tôi từ năm 1925 đã để lại khe nứt sâu hoắm giữa chúng tôi. Nó bắt đầu trở thành nguyên nhân chính lần nữa khi tôi già đi và ngồi một mình cạnh gia đình cứ lớn dần lên của anh tôi. Magdalon tưởng mình có quyền gạt bỏ tình yêu lớn lao của cô em gái duy nhất, và có thể lấy bất cứ người nào ông ấy muốn, bất cứ khi nào thấy thích hợp. Nó càng khiến cho sự việc khó được tha thứ hơn, nhất là khi cô em chỉ còn lại một người anh trai.
Tôi biểu lộ sự thông cảm của mình. Đồng thời, tôi kết luận Magdalon Schelderup đã rất nhạy bén và sắc sảo trong cuộc điện đàm với tôi. Nhóm thân cận nhất với ông hầu như gồm toàn những người có thể mong ông chết. Kể cả người em gái đã già của ông cũng nung nấu mối hờn sâu sắc.
Sau khi Magdalena Schelderup rời đi, tôi còn ngồi lại hiệu cà phê ít phút nữa, cân nhắc về vụ án. Rồi tôi đứng dậy, càng tư lự hơn và ra xe để có thể lái đến Lâu đài Schelderup nghe đọc chúc thư. Lúc này tôi đã biết nội dung di chúc do Rønning Con đọc cho, nhưng tôi càng nóng lòng thấy nó gây ra những phản ứng gì.
VIII
2 giờ 50 phút, khi Lâu đài Schelderup đã lờ mờ hiện ra trước mặt, tôi là người cuối cùng trong những người được mời tới. Synnøve Jensen đến ngay trước tôi; cô lượn vòng quanh quả đồi và biến vào qua cổng. Các xe khác đỗ đúng chỗ ở lần cuối cùng, theo tôi nhớ. Lúc tôi bước vào phòng ăn, mười vị khách đã yên vị tại chỗ ngồi thường lệ. Ghế của Magdalon Schelderup đã để trống, nhưng quy định của ông vẫn hiển hiện trong nhà.
Nghi thức tư sản cho việc tiếp khách tuân theo bảng chữ cái. Cà phê, bánh ngọt và rượu anh đào đã dọn lên bàn nhưng không ai làm cử chỉ mời mọc và không ai nói một lời. Tôi cảm nhận sự im lặng gần như ngột ngạt, giống hệt khi tôi bước vào căn phòng này lần đầu tiên. Tôi tiến tới và ngồi cạnh cửa sổ. Lúc 2 giờ 56 phút, tôi nhẹ người khi thấy Edward Rønning Con đỗ xe rồi đi tới cửa trước với dáng vẻ cấp tập, hồ sơ kẹp dưới cánh tay. Tôi phải nén cười khi tiếng sủa hung hăng của đàn chó khiến anh ta nhảy vọt lên không trung. Nhưng dù sao, anh ta cũng kiềm chế được và kẹp chặt tập hồ sơ vào nách. Không khí căng thẳng và có phần giả dối lan khắp phòng, chỉ mình viên luật sư trẻ làm ra vẻ mô phạm và là người tôi có thể tin cậy - không thể nói thế cho nhiều người đang có mặt.
Tuy nhiên, Edward Rønning Con khiến tôi ngạc nhiên khi anh ta rõ ràng không hề muốn thử ngồi xuống cái ghế trống, thay vào đó vẫn đứng ở đầu bàn. Như mong đợi, anh ta bắt đầu đúng lúc đồng hồ trên tường điểm ba tiếng cúc-cù-cu.
- Nhân danh di sản của ông Magdalon Schelderup quá cố, trước hết tôi xin cảm ơn tất cả các vị hôm nay đã cố gắng tới đây theo yêu cầu, và thông báo lại gấp như thế.
Không nhận được tiếng vỗ tay, anh ta tiếp tục sau lúc ngừng gượng gạo đầu tiên.
- Chắc tất cả các vị có mặt tại đây đều biết rằng, vào lúc qua đời ngài Magdalon Schelderup đã có vợ và ba người con hiện đang tồn tại, tổng số tài sản của ông là hơn 100 triệu krone. Trong hoàn cảnh này, ông đã hào phóng chia hết số tiền như ông mong muốn, ngoài ra mỗi người con sẽ thừa hưởng tối thiểu 200.000 krone theo đúng luật định.
Viên luật sư lại dừng và giở qua giấy tờ tìm di chúc. Mười cặp mắt dán theo từng cử động của anh ta. Chính tôi cũng khó biết nên tập trung vào bên nào của bàn. Cuối cùng, tôi quyết định quan sát người mà tôi quan tâm nhất và là người tôi nghi ngờ nhiều nhất: nói khác đi, là cô thư ký và người tình của người đã khuất, Synnøve Jensen. Cô ngồi trên ghế, vô cùng bình tĩnh.
- Di chúc của người quá cố được một luật sư chứng thực rõ ràng và đề ngày tháng, với sự có mặt của những người làm chứng, ngày mùng 6 tháng Năm 1969.
Một ánh lóe lên trong mắt Synnøve Jensen. Cô thẳng người lên, nhưng vẫn ngồi im, vẻ mặt căng thẳng. Tôi liếc nhanh về phía Sandra và Maria Irene Schelderup. Khuôn miệng người mẹ giật giật khi nghe nhắc tới ngày tháng. Nhưng bộ mặt cô con gái vẫn vô cảm và thoải mái. Chỉ cặp mắt nhìn xoáy vào viên luật sư lộ rõ cô cảnh giác biết chừng nào.
- Di chúc trên nói rõ như sau: Người ký bên dưới là Magdalon Schelderup; sinh ngày 17 tháng Mười một năm 1899, tuyên bố di chúc cuối cùng của ông về việc phân chia tiền và tài sản của mình. Trước hết, tôi xóa khoản nợ còn tồn đọng mà Hans Herlofsen, giám đốc của tôi trong nhiều năm, nợ tôi. Giấy ghi nợ và các tài liệu khác liên quan đã được hủy.
Edward Rønning tự cho phép dừng lần nữa. Ngay lập tức tôi chuyển trọng tâm tới Hans Herlofsen. Ông ta vẫn giữ cái vẻ mặt kiềm chế trang nghiêm. Hai câu vừa đọc đã giải cứu không chỉ danh dự mà cả tương lai của ông. Dẫu sao, phản ứng duy nhất của Hans Herlofsen là một nụ cười thoáng qua và hơi nới lỏng cà vạt. Rồi Rønning kéo dài giọng lấy lại mạch và tiếp tục. Cái nhìn của tôi trở lại Sandra Schelderup.
- Vợ tôi, Sandra Schelderup, sẽ được hưởng ngay lập tức số tiền hai triệu krone, giúp đỡ bà ấy phần đời còn lại.
Người góa phụ nhíu mày và có thể hiểu được vì sao mắt bà ta tối sầm. Rõ ràng số tiền ấy ít hơn bà ta hy vọng. Nhưng bà vẫn ngồi bình tĩnh trên ghế. Dù thế nào đi nữa, ngón đòn chính không phải với bà mà với cô con gái đang ngồi cạnh bà, bình tĩnh vừa đủ. Cái nhìn của tôi lướt sang Synnøve Jensen.
- Theo đây tôi thừa nhận mình là cha của đứa con chưa ra đời của Synnøve Jensen, thư ký của tôi, và yêu cầu nó mang họ của tôi khi chào đời. Mong muốn của tôi là cô Jensen sẽ được cấp ngay 200 ngàn krone trong số di sản của tôi để trang trải mọi chi phí liên quan tới mang thai và sinh nở.
Nếu Synnøve Jensen biết điều này từ trước thì cô đúng là một diễn viên cừ hơn tôi hình dung. Sau vài giây cô vùi mặt vào hai bàn tay, vẻ mặt cô biến đổi từ hết sức ngạc nhiên sang vô cùng khuây khỏa. Ngay từ nơi tôi ngồi, tôi nhìn rõ những giọt lệ long lanh trong mắt cô.
Sự co giật rõ ràng hơn lan khắp mặt Sandra Schelderup. Những bộ mặt khác quanh bàn vẫn căng thẳng và mong đợi, trong chừng mực tôi thấy, khi luật sư đọc to đoạn cuối cùng và dài nhất trong di chúc. Thực tế cô thư ký là tình nhân của người quá cố hình như chẳng phải là cú sốc gì với bất cứ người nào trong bọn.
- Mong muốn của tôi là phần tiền mặt còn lại sẽ chia đều cho bốn đứa con hiện nay của tôi vào ngày 6 tháng Năm 1970. Đó là vì đứa con út của tôi phải được sinh ra và đặt tên trước, và vì việc giải thể ngay lập tức các công ty của tôi sẽ dẫn tới những chi phí tài chính quá mức. Để đề phòng sự tan rã sau này, các công ty của tôi sẽ tiếp tục do một hội đồng điều hành gồm ba người con đã trưởng thành của tôi, vợ tôi Sandra Schelderup, giám đốc Hans Herlofsen của tôi và Synnøve Jensen, thư ký của tôi.
Bây giờ, mọi sự đợi chờ đã chấm dứt. Lần này vẻ kinh ngạc quanh bàn thật hiển nhiên, dù tất cả vẫn giữ vững tinh thần và tránh bùng nổ cảm xúc. Fredrik Schelderup cười toét miệng và ra hiệu vỗ tay. Ingrid Schelderup cũng mỉm cười nhẹ nhõm. Con trai bà nhai kẹo cao su hăng hái hơn, trông cậu nghiêm trang và tư lự y như trước. Bà Wendelboe nhìn quanh bối rối, kể cả bộ mặt sắt đá của chồng bà cũng lộ vẻ ngạc nhiên. Synnøve Jensen vẫn vùi mặt vào hai bàn tay, nhưng những giọt nước mắt không ngừng rơi xuống má cô, tròn và nhanh. Sandra Schelderup gửi cho hai con trai của chồng cùng cô thư ký cái nhìn ít đằm thắm nhất và siết chặt đôi bàn tay.
Người duy nhất bên bàn có vẻ không xúc động một cách khó tin là người trẻ nhất. Gương mặt và thân hình Maria Irene Schelderup vẫn hoàn toàn thư thái. Đôi bàn tay của cô gái trẻ trung, xinh đẹp vẩn đặt trên bàn và mở ra.
- Tuy nhiên…
Sự im lặng căng thẳng lan khắp phòng lúc nghe thấy tiếng viên luật sư. Lần này tôi cũng nhìn anh ta chằm chặp, đề phòng. Đây là thứ anh ta không đề cập tới trên điện thoại.
- Tuy nhiên, còn tồn tại một bản di chúc trước đó, mà Magdalon Schelderup đã đọc và muốn đọc lên cùng bản di chúc hiện tại. Nó viết ngày 12 tháng Tám 1968, sau đó hủy bỏ khi di chúc mới này chính thức viết vào ngày 6 tháng Năm 1969. Bản đã hủy ngắn hơn nhiều…
Luật sư dừng lại lần nữa, ngắn và rất kịch trong lúc tìm tờ thứ hai, sau đó kiểm tra tới ba lần xem có đúng không.
- Di chúc đã hủy bỏ nói rõ như sau: Ngoài hai triệu krone chia cho Sandra Schelderup vợ tôi, 200.000 krone cho con trai Fredrik Schelderup của tôi và 200.000 krone cho con trai Leonard Schelderup của tôi, theo đây tôi để lại toàn bộ số tiền trong tài khoản và tài sản của tôi cho con gái tôi, Maria Irene Schelderup.
Mọi cảm xúc bị kiềm chế trong phòng đột ngột vỡ tung. Rõ rành rành.
Hans Herlofsen thốt ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm, nắm chặt cổ họng và nới cà vạt lỏng thêm.
Lần này nụ cười của Fredrik Schelderup nở rộng hơn và anh ta giơ cốc lên vui vẻ: “Chúc mừng di chúc mới.”
Leonard Schelderup giấu mặt vào hai bàn tay nhưng căn cứ vào chuyển động của cần cổ, cậu đang nhai kẹo cao su điên cuồng chưa từng thấy.
Sandra Schelderup hằm hằm nhìn cậu vài lần, rồi mất hết bình tĩnh. Không khí như nhiễm điện và mọi người, kể cả luật sư Rønning Con, đều giật mình khi bà ta nổi cơn thịnh nộ, bà đập nắm đấm xuống bàn trước rồi dứ về phía hai cậu con chồng, hăm dọa.
Người duy nhất có vẻ không bị cơn giận này ảnh hưởng, chính là người mà tôi nhắm tới.
Lúc bản di chúc bị hủy đọc xong, tôi ngỡ đã trông thấy đầu lưỡi cô ở khóe trái miệng. Nhưng sau đó, Maria Irene Schelderup vẫn thản nhiên như lúc trước.
Tôi tự hỏi trong tình huống tương tự, bị bản di chúc mới thảo ra bốn ngày trước tước đi 90 triệu krone, mình sẽ phản ứng ra sao đây. Dẫu cho cô vẫn được thừa hưởng 30 triệu đi nữa, gần như không thể không ấn tượng vì thái độ tự chủ của cô gái mười tám tuổi này.
Trong khoảnh khắc đó, tôi nhận thức được rằng, nếu tôi không yêu rồi, nhất định sẽ bị cô con gái trẻ trung và cực kỳ giàu có của Magdalon Schelderup quá cố mê hoặc.
IX
Cuộc tụ họp tan ngay khi bản di chúc đọc xong. Nốc cạn cốc rượu, Fredrik Schelderup viện cớ “chúc mừng cách giải quyết”. Anh ta ra khỏi phòng và không người nào có ý chúc mừng.
Herlofsen và vợ chồng Wendelboe rút lui lịch sự hơn, nhưng hầu như nhanh hết mức. Ingrid Schelderup ôm con trai vẫn run trông thấy, và giúp cậu ta lấy lại bình tĩnh. Vợ cũ của Schelderup thể hiện một khía cạnh mới mẻ, sắc sảo hơn khi bà cảm ơn lòng mến khách của các nữ chủ nhân, dù bà không động đến thứ gì. Gần như có thể thấy những tia lửa lóe lên giữa hai người vợ của Magdalon Schelderup. Nhanh như chớp, Maria Irene cứu vãn tình hình bằng cái siết tay bà Ingrid Schelderup, cảm ơn và chúc bà ra về may mắn. Lúc đó, mẹ cô buộc phải đứng dậy bắt tay khách và thì thầm chào tạm biệt với thái độ không quá hằn học.
Hình như Leonard Schelderup vẫn chưa đủ sức để nói thành lời, nhưng cũng cố gắng hết sức khắc phục mọi xung đột bằng cái nhún vai tỏ ý xin lỗi trước khi rời phòng rồi ra khỏi nhà, theo sát bước chân nhẹ nhàng của mẹ.
Bỗng nhiên, còn lại luật sư Edward Rønning Con và tôi với bốn người phụ nữ: vợ, con gái, em gái và tình nhân của người quá cố.
Chỉ đến lúc này tôi mới phát hiện ra Magdalena Schelderup vẫn ngồi đó, vẻ khó hiểu trên mặt và càng giống một con cú già hơn bao giờ hết. Tôi đã biết nhiều để hiểu bà ta đang nghĩ gì. Tôi sững sờ thấy bà ta có cái gì đó rất khác, nhưng khá khó chịu vì không thể vạch ra thật đúng là gì.
Synnøve Jensen ngồi như đông cứng ở bên kia bàn, ăn vận giản dị, mặt vùi trong hai bàn tay, chỉ đến lúc này tương lai của cô và đứa con chưa ra đời mới được bảo đảm.
Hầu như có thể chạm vào tảng băng làm không khí giá buốt giữa vợ và tình nhân của người đã mất. Một lần nữa, chính Maria Irene đột ngột cứu vãn, lần này không nói một lời. Cô gái bình tĩnh đặt tay lên vai mẹ và gần như kéo bà ra khỏi phòng. Magdalena Schelderup đưa mắt nhìn theo họ nhưng vẫn ngồi yên, mặt vẫn đăm chiêu. Bà rót một tách cà phê. Chúng tôi im lặng gần như nín thở quan sát bà ta uống, và đợi một thông điệp không bao giờ tới.
Chính Rønning Con là người đầu tiên hành động. Anh ta báo với Synnøve Jensen, giọng buồn rười rượi rằng nếu ngày mai hoặc ngày kia cô mang sổ ngân hàng đến văn phòng, anh ta sẽ thu xếp để chi trả cho cô 200 ngàn krone càng sớm càng tốt. Rønning Con đưa danh thiếp cho cô và bắt tay những người còn lại trước khi ra khỏi phòng.
Tôi nghĩ đã bắt gặp một thoáng đắc thắng và hài hước trong mắt viên luật sư lúc anh ta bắt tay tôi. Nhưng nó rất nhanh và tôi thấy chẳng có lý gì làm vụ việc thêm rắc rối bằng cách bắt đầu tranh cãi với anh ta. Phải trang trọng, không cãi vặt. Tôi chỉ hỏi về nội dung bản di chúc hiện hành và anh ta trả lời rất đúng thể thức. Nói đúng ra, tính hay quên của tôi mới đáng trách vì tôi đã không hỏi có các di chúc trước đó không và chúng nói gì. Dù sao thì hiện giờ, tôi đã có câu trả lời, chỉ là vấn đề thời gian sau này mà thôi. Nhưng tôi sẽ thích Rønning Con hơn nếu anh ta chịu khó kể trước với tôi về bản di chúc kia.
Âm thanh của giọng nói và tiếng chân của Rønning lúc này dường như làm Synnøve Jensen đang đờ đẫn tỉnh lại. Cô buông bàn tay khỏi mặt, nhét danh thiếp vào túi rồi rời phòng, khe khẽ xin lỗi vì việc này việc khác.
Magdalena Schelderup và tôi ngồi nhìn nhau giây lát. Thứ duy nhất phá vỡ sự im lặng là tràng tiếng sủa khi Rønning đi trước và sau đó là Synnøve Jensen đi qua lũ chó, đúng lúc tôi đứng dậy và nhìn qua cửa sổ. Lần này Rønning nhảy đại lên đường, trong khi Synnøve Jensen rõ ràng đã quen với tiếng ồn đó. Cô bình thản đi qua chúng, rồi xuống đường dành cho xe, cô độc trên thế gian nhưng can đảm xuất hiện khỏi tầm nhìn từ trên xuống của tôi.
- Bây giờ bà nghĩ gì? - Tôi hỏi Magdalena Schelderup.
Một nụ cười nhẹ nhàng lan khắp bộ mặt nhăn nheo lúc bà đáp lại.
- Lúc này tôi nghĩ như anh. Nói cách khác, thì cái quái gì trên đời khiến mọi chuyện này có nghĩa và ai là người rắc bột lạc lên đĩa của anh tôi? Chuyện gì xảy ra với những người còn lại chúng tôi?
Rồi Magdalena Schelderup cũng đứng lên. Tôi muốn hỏi bà ta điều gì đó, nhưng không thể nghĩ ra một câu hỏi có nghĩa. Tôi bực bội nhận ra mình vẫn không thể tìm ra cái gì khiến bà ta thay đổi từ lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Tôi ra về với cảm giác bà cô già Schelderup không chỉ là người phụ nữ thông minh hơn bà tỏ ra ban đầu, mà còn biết nhiều hơn lời bà ta nói.
Tôi ngồi một mình trong phòng được vài phút thì có tiếng gõ cửa và Sandra Schelderup bước vào. Bà ta xin lỗi vì cơn bột phát lúc trước, nói rằng tình huống rõ là khó khăn và quá mức xúc động. Bà cũng muốn hỏi liệu có thể giúp tôi được gì không.
Tôi có vài câu hỏi về các chi tiết có liên quan. Tôi hỏi lũ chó đến nhà bà vào hồi nào năm ngoái và ai chịu trách nhiệm xích chúng. Bà đáp ngay và không hề quan trọng hóa rằng chồng bà mua đàn chó vào giữa mùa thu. Bà không hay biết gì cho đến khi chúng đứng sủa ở bậc thềm. Bà, chồng bà và một người hầu thân tín là những người duy nhất hiểu rõ đàn chó đủ để điều khiển chúng. Mọi người khác, kể cả Maria Irene, đều tránh đường cho chúng.
Tôi hiểu ngay là bà muốn kể chuyện gì đó với tôi, nhưng không biết là gì. Rốt cuộc, tôi hỏi dưới ánh sáng của những sự kiện hôm nay, bà có ý nghĩ nào mới không. Bà tươi nét mặt và đáp một ý nghĩ khiến bà chú ý là lực lượng tiếp tục điều hành công việc. Bà thấy Leonard, con trai của Magdalon và tình nhân của ông ta, cả hai được quá nhiều vì cái chết của ông, rằng ông đã chỉ vào con trai ngay trước khi chết… Và, như chúng ta đều biết, người tình của ông có mang, mặc dù Magdalon đã thuyết phục rằng ông không thể có con được nữa… Có lẽ nào không nghĩ đến biết đâu họ có quan hệ nào đó và cùng nhau âm mưu?
Bà thừa nhận về phần mình, có lẽ không dám mơ tưởng nhiều hơn. Nhưng nhìn ngó mọi người tương tự có lẽ cũng bõ.
Tôi không thích Sandra Schelderup hơn chút nào về chuyện này, nhưng phải công nhận giả thuyết của bà không dễ bỏ qua. Nhưng tôi không đỡ ghét bà khi một lần nữa bà xin lỗi vì đã để lộ tính khí của mình, rồi nói thêm bà và con gái sẽ tin tưởng vào khả năng điều tra của tôi. Họ chắc rằng tôi sẽ giải quyết được vụ án mạng bí ẩn, gần như không thể giải thích được này. Chồng bà chắc hiểu việc mình làm khi liên hệ với tôi. Ông ta đã theo dõi vụ sát hại Harald Olesen hằng ngày và ca ngợi tôi khi vụ điều tra kết thúc. Dĩ nhiên tôi có thể gọi điện hoặc ghé vào bất cứ lúc nào khi có thêm câu hỏi.
Chúng tôi kết thúc cuộc nói chuyện, trao đổi vài lời về việc cảnh sát vẫn có mặt tại Lâu đài Schelderup. Chúng tôi nhanh chóng thỏa thuận để một cảnh sát ở lại canh gác đêm đó nhưng sẽ được phép rời đi vào hôm sau, trừ khi có sự cố bất ngờ xảy ra. Sandra Schelderup hứa gọi cho tôi ngay lập tức nếu nhớ ra sự việc gì có thể có ý nghĩa và nghiêm túc ghi lại số điện thoại của tôi phòng khi cần liên hệ nhanh.
Lúc 5 giờ 10, tôi chậm rãi xuống cầu thang dẫn ra cửa trước. Tôi đi chậm, phần vì tình hình có nhiều thứ bắt tôi phải suy nghĩ, nhưng chủ yếu vì tôi muốn tình cờ gặp Maria Irene.
Hóa ra việc này không khó. Cô từ một cửa ngách ở tầng trệt bước ra đúng lúc tôi xuống đến chân cầu thang. Tất nhiên không phải trùng hợp vì tôi xuống cầu thang chậm rãi hoặc cô vào hành lang đúng lúc đó. Tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều hiểu điều đó lúc chúng tôi đứng, mặt đối mặt. Không người nào có chuyện đặc biệt để nói, nên chỉ là một cuộc chạm trán ngắn và dễ chịu. Maria Irene cũng cam đoan với tôi rằng cô rất tin tưởng vào kỹ năng điều tra của tôi và chăm chú ghi số điện thoại của tôi phòng khi cẩn liên hệ. Tôi mạn phép nhận xét rằng tôi rất ấn tượng với vẻ chín chắn thể hiện trên mặt cô trong khi thực tế lại thất vọng như thế, do câu chuyện kỳ lạ của hai bản di chúc gây nên. Maria Irene đáp lại tất nhiên cô mong ước khác đi, nhưng khoản tiền 25 hoặc 35 triệu krone vẫn là một tài sản quá lớn để khởi nghiệp với một phụ nữ trẻ.
Tôi không dám chắc có nên ôm cô lúc chia tay không, thay vào đó tôi khôn ngoan chìa ra bàn tay vững chãi. Tôi nhận thấy mẹ cô đứng như một pho tượng im lìm ở đầu cầu thang, cách đó vài bước chân. Chắc chắn lúc này tôi thầm mến cô con gái hơn người mẹ. Tôi vẫn còn những cảm nghĩ mâu thuẫn về cô con gái, nhưng phải thú nhận là càng ngày càng bị mê hoặc vì vẻ đẹp và sự thanh thản của cô gái.
Tôi có một giờ tạm nghỉ tại văn phòng trước khi khởi hành đến nhà Patricia, nhưng tôi chỉ ngồi đó, xem xét kỹ càng hồ sơ vụ án song không biết chút gì hơn trước. Một bức thư bí ẩn đến trong chuyến thư buổi sáng nằm trên cùng. 5 giờ 30, tôi cho thư và các giấy tờ khác vào cặp. Không kể tôi đang cần lời khuyên và những nhận xét của Patricia để làm sáng tỏ sự việc, cho đến lúc này việc tôi chắc chắn đã làm là nhận được bức thư. Trừ khi có người thích đùa khá thạo tin và hay nhạo báng ở đằng sau nó, bức thư không chỉ là lời chỉ trích cay độc, mỉa mai với cảnh sát, mà còn đe dọa có thêm nhiều vụ giết người nữa.
Bộ mặt của mười vị khách ngồi quanh bàn tại bữa tiệc cuối cùng của Magdalon Schelderup và trong buổi đọc di chúc lướt qua tâm trí lúc tôi lái xe tới phố Erling Skjalgsson. Tôi không rõ ai trong bọn họ có thể viết bức thư, hoặc ai là người mà dòng cuối cùng đầy hăm dọa trong bức thư ám chỉ tới.
X
Sau những trải nghiệm ngày hôm đó và cảm giác bứt rứt đang lớn dần tại Lâu đài Schelderup, thật dễ chịu khi bước vào môi trường quen thuộc và an toàn ở số nhà 104-8 phố Erling Skjalgsson. Các căn phòng và cầu thang đều rộng rãi, đúng như tôi nhớ từ năm ngoái. Cha của Patricia, giáo sư hiệu trưởng Ragnar Sverre Borchmann, oai vệ, đáng tin cậy và nếu có thể nói, còn thân thiện hơn lúc tôi gặp ông ở cửa trước. Ông không nói về trải nghiệm căng thẳng của Patricia trong phần cuối bi thảm của vụ giết người mà cô giúp tôi năm ngoái, cũng như ông đang làm một việc quá tử tế là giả vờ quên.
Một lần nữa, ông thông báo với tôi rằng, từ khi tai nạn khiến Patricia bị liệt từ eo trở xuống, ông chưa thấy con gái sinh động như trong và sau cuộc điều tra năm ngoái. Hiện giờ, cô tỏ ra vô cùng thích thú đến điều huyền bí bao quanh vụ sát hại Magdalon Schelderup và ông rất hy vọng Patricia có thể cho tôi những lời khuyên hữu ích. Tôi nồng nhiệt cảm ơn ông đã cho con gái tham gia cuộc điều tra, và ông bắt tay tôi lần thứ ba lúc chúng tôi chia tay. Thiện chí của ông khá bất ngờ. Nói chuyện với giáo sư hiệu trưởng Ragnar Sverre Borchmann thường mất thời gian, ngay cả khi ta nói rất ít. Lúc đó là 6 giờ 15 phút và món khai vị đã đặt lên bàn lúc người hầu gái dẫn tôi vào thư viện, kèm nụ cười mỉm thông cảm.
Tôi nhẹ cả người khi thấy Patricia có vẻ không bị ảnh hưởng vì cả chuỗi sự kiện năm ngoái chồng chất lên thần kinh của cô. Cô ngồi bên bàn, rạng rỡ, sẵn sàng thiết triều, không lộ ra dấu hiệu hút thuốc lại như trong những giai đoạn cuối cùng của vụ đầu tiên của chúng tôi. Không khí tinh khiết và bộ mặt Patricia tươi sáng như mặt trời mùa hè. Tôi không thể trông thấy hoặc nghe thấy bất kỳ thay đổi nào trong con người cô gái Patricia mười chín tuổi hiện nay, so với cô gái mười tám đã chia sẻ cùng tôi mười ngày điều tra căng thẳng hồi năm ngoái. Một chồng sách cô đang đọc lúc này, có cả một cuốn truyện trinh thám của tác giả Rex Stout người Mỹ, một cuốn sách Nga vẽ vài bàn cờ trên bìa và một cuốn dày cộp của Anh về các trận đánh lớn trong Thế chiến I và II.
Hệt như trong lần đầu tiên gặp nhau, chúng tôi không hề có ý định bắt tay. Bây giờ một lần nữa tôi đang điều tra một vụ giết người, việc tôi ngồi đây nhờ cô tư vấn xem chừng hoàn toàn tự nhiên.
Patricia lắng nghe hết sức chăm chú và ghi chép kỹ càng, trong lúc tôi tận dụng thời gian dành cho chúng tôi ăn súp măng tây với nửa cái thăn bò để thuật lại những sự kiện trong ngày. Theo thói quen, cô kiên nhẫn lắng nghe cho đến khi tôi kể xong từ đầu chí cuối. Cô ăn xong lát thăn bò cuối cùng và chiêu bằng nước đá, rồi trầm ngâm suy nghĩ. Sau đó, cô nói nhanh.
- Trước hết, xin chúc mừng anh đã làm việc thêm một ngày nữa rất hiệu quả. Vụ này hết sức phức tạp, nhưng anh đã thu thập được một lượng thông tin khổng lồ, giải đáp được một số câu hỏi của tôi.
Cô bất giác chỉ vào cuốn truyện trinh thám trong chồng sách.
- Tài năng của anh còn lớn hơn của Archie Goodwin trong các tiểu thuyết của Rex Stout đấy. Thế nên về phần tôi, mặc dù vóc người chưa bằng được một nửa, cũng phải cố vượt qua khả năng phá án thần sầu mà không cần dời gót khỏi nhà của Nero Wolfe.
Mặc dù Goodwin được người khác giới mến mộ, tôi cũng không hẳn vui vì sự so sánh ấy. Tôi không thoải mái vì bị nhắc tới chuyện đã xảy ra, hoặc dễ có thể xảy ra, khi tôi thuyết phục Patricia để mặc sự an toàn của gia đình cô vài giờ trong vụ cuối cùng. Vì vậy tôi vội hỏi cô nói sao về vụ này.
Patricia bỗng trở nên vô cùng nghiêm túc.
- Vụ này không những không dễ giải quyết hơn vụ trước, mà có thể còn khủng khiếp hơn nhiều. Mặc dù nhiều sự việc trong quá khứ của Harald Olesen bị bại lộ trong suốt quá trình điều tra, Magdalon Schelderup có vẻ là người có nhiều điểm rất khó đồng cảm, song quả là một người để lại những dấu ấn khó phai mờ trong lòng những người xung quanh. Chắc chắn chúng ta đang giải quyết một vụ giết người khá dị thường, theo thuật ngữ của lịch sử hình sự Na Uy. Tôi bắt đầu tin rằng chúng ta đang nói đến một nạn nhân nổi bật, dù là tốt hơn hoặc xấu hơn, nhưng chủ yếu là xấu hơn. Theo quan sát đầu tiên của tôi, chúng ta sẽ tìm thấy mối liên quan vô cùng rõ rệt giữa vụ giết người và cuộc sống cũng như tính cách của nạn nhân. Còn quá sớm để đưa ra nhận định ai là người đã rắc bột lạc vào đồ ăn của ông ta. Tôi có thể hình dung vài giả định hàm ý tất cả mười thực khách đều có thể là kẻ sát nhân.
Tôi gật đầu và đánh bạo nêu ra:
- Tôi cũng nghĩ có nhiều điều tương tự giữa vụ này và vụ năm ngoái, và khái niệm người ruồi của cô cũng có thể áp dụng cho vài hung thủ ở đây.
Patricia tư lự lắc đầu.
- Phải, đúng thế, nhưng tôi thiên về ý nghĩ chúng ta đang đối phó với mười người vệ tinh.
Cô mỉm cười thấy tôi lúng túng và vội nói tiếp.
- Tôi xin lỗi vì đã dùng một thuật ngữ của riêng mình và sử dụng nó thường xuyên nên quên mất rằng điều đó khiến người khác khó hiểu… Người ruồi là người đã trải qua những sự việc gay cấn, gây nhiều xúc động, nếu không nói là bị chấn thương mạnh về tâm lý, đến nỗi họ cứ lởn vởn lượn quanh sự kiện ấy trong quá khứ hàng nhiều thập kỷ. Người vệ tinh cũng tương tự như thế, nhưng không giống hẳn. Họ là những cá nhân vì lý do nào đó cứ quay quanh người khác theo một quỹ đạo cố định. Đây là một hiện tượng có thể tìm thấy trong nhiều mối quan hệ và ở mọi phạm vi xã hội. Ví dụ, một bà mẹ ân cần thì dù đến lúc già vẫn tiếp tục xoay quanh đứa con ốm yếu, hoặc một người con trai dù đã trưởng thành vẫn hiến dâng mọi thứ cho cha mình. Có thể dễ dàng nêu ra người em trai làm biên tập viên của vị thủ tướng lâu năm nhất Einar Gerhertsen là một loại người vệ tinh với anh trai mình. Vợ của lãnh tụ Đảng Tự do hiện tại, vị thủ tướng tiếp theo của chúng ta chẳng hạn, cũng chỉ bay theo quỹ đạo quanh chồng bà.
Tôi nhận thấy Patricia rất hiểu biết về hoạt động chính trị của Na Uy, nhưng càng nóng lòng hơn nghe cô giải thích về ý nghĩa của khái niệm mới mẻ này đối với cuộc điều tra. Và tôi không phải đợi lâu.
- Thực ra, hiện tượng này đặc biệt rõ rệt trong các tầng lớp thượng lưu giàu có, như trong vụ này chẳng hạn. Nhiều người tài giỏi và quyền lực, dù cố tình hay không, đều khuyến khích người khác xoay quanh họ như các vệ tinh. Magdalon Schelderup chắc chắn là người như thế, và rõ ràng không có bất kỳ sự chống đối nào. Kết quả là cả mười thực khách này đã chuyển động quanh ông ta trong nhiều năm theo các quỹ đạo khác nhau của riêng mình. Bây giờ, có vẻ như một trong các vệ tinh bay chệch khỏi quỹ đạo theo một kiểu rất ngoạn mục và đâm sầm vào hành tinh nó đang bay quanh. Việc này đã gây ra một tình huống vô cùng khó lường. Tất cả các quỹ đạo cố định bị phá vỡ và trở nên hỗn loạn, đe dọa toàn vũ trụ vì đã mất tâm điểm và sức mạnh tổ chức.
Lúc này tôi đã hiểu sự xác đáng của khái niệm trên. Nắm bắt được vẻ hào hứng trên mặt tôi, Patricia mỉm cười.
- Anh thấy đấy, một chút hiểu biết về địa vật lý có thể rất hữu ích trong việc điều tra. Thế nhưng ở đời này có nhiều sự việc đơn giản hơn nhiều. Những ví dụ về các nước đông dân vẫn tiếp tục xoay quanh một kẻ thống trị trong nhiều thập kỷ. Người ta chỉ có thể tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra đối với một đất nước như Nam Tư, nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sắc tộc và tôn giáo một khi mà Tito không còn là sức mạnh thống nhất. Tôi đoán sau khi ông ta qua đời khoảng hai chục năm, đất nước ấy sẽ không còn tồn tại nữa.
Mặc dù thấy tiên đoán của Patricia về tương lai đất nước Nam Tư là hấp dẫn, tôi vẫn thấy có phần cường điệu và không tưởng, nhất là đang lúc tôi sốt ruột muốn cô nói tiếp về việc điều tra vụ án.
- Vậy cô tin rằng cả Petter Johannes Wendelboe cũng chỉ là một người vệ tinh?
Patricia nhoẻn cười.
- Ý hay đấy. Petter Johannes Wendelboe chắc chắn là người đủ mạnh để tạo thành một hành tinh riêng, độc lập với Magdalon Schelderup. Nhưng dù sao đi nữa, ông ta đã chọn ở lại quỹ đạo của mình hết năm này đến năm khác. Và ông ta đều có mặt trong mọi bữa tiệc Chủ nhật. Bởi vậy, câu hỏi vì sao sẽ rất thú vị. Anh có gợi ý gì không?
Lúc này tôi đã thấy choáng váng nên nhanh chóng lắc đầu.
- Các bữa tối Chủ nhật như thế thường không phải là chủ đề hấp dẫn vì chúng rất tẻ nhạt. Tuy vậy, có sáu lý do người ta có thể chọn tham dự. Ví dụ, một là vì sự phản ứng tiêu cực của chủ nhân bữa tiệc như thay đổi di chúc hoặc tước quyền thừa kế. Hoặc vì một động cơ tích cực như sẽ gặp người khác cũng đến tham dự, thường vì yêu quý họ và hy vọng sẽ cùng sống cùng chết với nhau. Hoặc tới đó chỉ để ăn, uống và chuyện phiếm. Tuy nhiên, hình như không có lý do gì thích hợp với Wendelboe, vì thế còn khả năng thứ sáu…
Tôi nhìn Patricia dò hỏi, và cô đắc thắng đáp lại:
- Ông ta đến để lắng nghe. Wendelboe tới đó hết lần này đến lần khác, hy vọng chính Schelderup hoặc có thể một người trong số các khách mời khác tiết lộ chuyện gì đó rất quan trọng. Nói như Herlofsen, tôi tin chắc 99% rằng chuyện mà Wendelboe hy vọng nghe được là những việc đã xảy ra trong chiến tranh. Bởi vì tôi rất quan tâm tới ba cái chết bí ẩn từ hồi đó. Tôi có một số giả thuyết về những mối quan hệ hợp lý nhưng tất thảy còn quá sơ sài nên ngày mai chúng ta sẽ trở lại vấn đề này. Trong khi chờ đợi, tôi muốn anh xác nhận lại với ông bà Wendelboe, có thể với cả Hans Herlofsen, xem các vụ sát hại hai thành viên trong nhóm chính xác xảy ra khi nào, các tình huống xung quanh và thời điểm Magdalon Schelderup gia nhập nhóm.
Tôi hứa sẽ làm việc đó.
- Còn sự việc bất ngờ xảy ra trong Ngày Giải phóng đã sáng tỏ chút nào hơn chưa?
Patricia lắc đầu.
- Chuyện đó cũng rất thú vị. Tôi sẽ ngạc nhiên nếu anh không chú ý tới một chi tiết rất nổi bật. Nhưng chúng ta cũng để việc này đến ngày mai đi. Mặc dù tôi không hy vọng nhiều lắm vào những điều ông ta có thể hoặc muốn kể với chúng ta về Magdalon Schelderup, anh nên cố nói chuyện với bộ trưởng ngoại giao nước ta, Jonas Lykke, càng sớm càng tốt.
Tôi sốt sắng gật đầu. Chính khách huyền thoại của Đảng Bảo thủ, Jonas Lykke, là cựu thủ tướng Na Uy và là sức mạnh lèo lái vĩ đại đứng sau chính phủ liên minh Bảo thủ hồi đó. Ông đóng vai trò quyết định trong Kháng chiến cũng như tại các phiên tòa xử tội phản quốc sau chiến tranh, và trở thành chính khách từ hồi đó. Rõ ràng ông là người tôi nên hỏi chuyện về cuộc sống của Magdalon Schelderup trong chiến tranh và sau này khi là một chính khách. Tôi phải thừa nhận rằng ý tưởng nói chuyện với Jonas Lykke rất hấp dẫn với bất cứ ai theo dõi quá trình thăng tiến của ông qua nhiều năm trên tivi, radio và báo chí.
Tôi đánh bạo nói rằng trong các vụ án hình sự, dường như người vệ tinh hoạt động theo cách tương tự người ruồi. Patricia gật đầu, rồi lắc.
- Có và không. Cả hai rõ ràng có thể cho ta động cơ giết người, nhưng có sự khác biệt đáng kể. Người vệ tinh thường to lớn và cứng cỏi hơn người ruồi. Họ di chuyển nhanh hơn. Và có thể cực kỳ lạnh lẽo ở ngoài kia, trong những khối cầu cao nhất, nhất là ở phía xa của các hành tinh lớn. Đó chính là nơi chúng ta tìm thấy chính mình, cao tít trong những khối cầu ở phía xa lạnh lẽo, tại lâu đài Schelderup, giữa cuộc tranh chấp thừa kế liên quan đến khối tài sản của Magdalon Schelderup. Kẻ đứng sau vụ án mạng trước đây của chúng ta là một người rất mạnh mẽ, nhưng tôi phải cảnh báo anh rằng người hoặc những người đứng sau vụ này có thể còn mưu mô và nguy hiểm hơn.
Chúng tôi bị ngắt quãng vì cô hầu bước vào dọn bàn và bày món tráng miệng. Mặc dù món kem được chuẩn bị rất bắt mắt và ngon lành, cả Patricia và tôi chẳng còn quan tâm đến đồ ăn. Patricia thực sự tăng tốc và chạy đua ngay khi cánh cửa khép lại đằng sau cô hầu.
- Chắc anh đã phản ứng với vài điểm giống nhau nổi bật. Điều khiến tôi ngạc nhiên đầu tiên là buổi đọc di chúc bởi cùng một luật sư. Hầu như không thể là trùng hợp, mà rõ là không thể. Từ lời Sandra Schelderup và chính Magdalon nói ra, lời giải thích đã đủ rõ ràng. Magdalon Schelderup đã chăm chú theo dõi vụ án mới nhất của anh trên phương tiện truyền thông, chắc vì đó là một trò chơi ly kỳ, hợp với bản tính ông ta. Rồi sau đó ông ta quyết định viết một di chúc ngắn gọn, chọn một hình thức tương tự và cùng một hãng luật. Cho đến nay mọi sự đều ổn…
Tôi gật đầu, cho đến lúc này chẳng còn gì khiến tôi ngạc nhiên nữa.
- Mặc dù bây giờ chúng ta quan tâm nhất đến bản di chúc thứ hai của ông ta, nhưng bản di chúc đầu tiên cũng thú vị. Tại sao Magdalon Schelderup bỗng nhiên quyết định viết di chúc vào tháng Tám năm ngoái? Nếu như quyết định đó do vụ Olesen gợi cảm hứng, ông ta khó lòng đợi đến bốn tháng sau khi vụ đó được phá và đóng lại. Có thể mối liên quan ở đây là ông ta đã mua đàn chó vào khoảng cùng thời gian đó mà không hề có bất kỳ lời cảnh báo nào. Cũng có khả năng một chuyện gì đó thú vị đã xảy ra vào mùa hè năm ngoái. Tôi đề nghị anh liên hệ với bác sĩ của Schelderup vào ngày mai và hỏi ông ấy có biết gì hơn không. Lúc đó chúng ta sẽ có giải đáp cho câu hỏi quan trọng khác khiến tôi chú ý…
Cô ngừng trong giây lát nhưng tiếp tục với nụ cười ranh mãnh lúc tôi sốt ruột vẫy tay giục cô nói tiếp.
- Đó là phương pháp giết người đã chọn. Dọn món lạc cho người bị dị ứng tất nhiên có lợi thế của nó; ví dụ, chính anh là người chẳng may bị yêu cầu nếm đồ ăn. Dùng nó chắc chắn ít nguy hiểm so với thạch tín hoặc bất kỳ chất độc chết người nào khác. Trừ khi sức khỏe của Schelderup cho thấy một lượng nhỏ bột lạc chắc chắn cũng khiến ông ta tử vong. Vậy trong vụ này, còn ai khác ngoài chính ông ta biết điều này? Sẽ rất thú vị nếu biết được…
Tôi đồng ý với giả thuyết này và hứa ngày hôm sau sẽ liên hệ với bác sĩ của Schelderup.
- Còn về động cơ, hoàn toàn dễ hiểu rằng Sandra Schelderup muốn đổ nghi ngờ lên đầu cậu con chồng và nhân tình của ông ta. Hơn nữa, không thể không nghĩ đến giả thuyết hai người đó thông đồng với nhau. Tuy nhiên, tôi nghĩ đây là ngõ cụt dẫn chúng ta vào một hướng hoàn toàn sai lầm. Tôi nói theo nghĩa đen hoàn toàn.
Patricia cười vang, tiếng cười của cô trẻ trung khiến người khác bối rối mà không thể lý giải được vì sao. Rồi cô nghiêm túc trở lại và bắt đầu tóm tắt tình hình, may mắn là những kết luận sơ bộ của cô rất giống của tôi.
- Tóm lại, bản di chúc cuối cùng cho thấy cả hai người con trai, cô thư ký, giám đốc và người vợ cũ, tất cả đều có động cơ rõ ràng. Nhưng bản di chúc trước đó có thể là bản cuối cùng mà mọi người đều biết, thừa nhận cô con gái và mẹ cô ta có động cơ mạnh hơn. Những người còn lại quanh bàn ăn, ông bà Wendelboe và em gái của người chết, tất thảy đều có lý do mong ông ta chết và chẳng dính líu gì đến tiền nong. Bởi vậy đã đến lúc chúng ta chắc chắn không lo thiếu nghi phạm hoặc động cơ.
Tôi đồng ý với cô và hỏi cô nghĩ gì về bức thư. Ngay lập tức, cô thay đổi sắc mặt.
- Tôi không thích nó chút nào. Tôi thấy cảnh báo về những cái chết thêm nữa đề cập trong bức thư thực sự đáng lo ngại, nhất là thư đó gửi trước cái chết của Magdalon Schelderup. Cho đến nay bức thư là một trong những yếu tố gây hoang mang nhiều nhất trong vụ này và có thể là một manh mối cốt yếu. Nhưng tạm thời không thể nói nó có thể dẫn tới đâu. Có vẻ như chính kẻ sát nhân viết bức thư đó. Nếu đúng là vậy thứ duy nhất chúng ta có thể luận ra là vì lý do bí ẩn nào đó, hắn ta hoặc ả ta muốn cho cảnh sát một số gợi ý, nhưng tài năng chỉ ở mức trung bình nên không thể biến nó thành thơ. Và theo những gì chúng ta biết cho đến hiện nay về cơ bản không loại trừ bất cứ vị khách nào.
Sau khi cô hầu dọn bát đựng món tráng miệng, bất chợt Patricia hỏi tôi còn liên hệ với những người liên quan trong vụ trước đây của chúng tôi không. Tôi lắc đầu và nhìn cô, bối rối.
- Không liên lạc với bất cứ ai ư? - Cô mỉm cười, ý tứ.
Tôi đáp “không” và hỏi tại sao cô lại băn khoăn về điều đó. Chắc hẳn Patricia giật mình vì câu hỏi của tôi, và đột ngột trả lời rằng đó là một việc cần thiết, tôi không cần phải suy nghĩ và nên tập trung vào vụ mới này. Cô bổ sung thật nhanh:
- Trong vụ này tôi cũng thật lòng khuyên anh nên cảnh giác với mọi người trong tòa nhà vào lúc xảy ra vụ giết người, và giám sát họ cho đến khi phá xong vụ án. Có thể một vài người trong bọn đã nói dối trong lời khai đầu tiên hơn là trong lần cuối cùng. Nhưng đó chính là bản chất, sẽ có thêm nhiều người không kể với anh những chi tiết có tầm quan trọng quyết định cho cuộc điều tra. Thực ra, tôi ngờ rằng tất cả mười người đó đều mắc tội giấu giếm những bí mật then chốt.
Tôi sốt sắng gật đầu.
- Thế nên cô chắc chắn là chúng ta có khả năng phá vụ án này?
Patricia mỉm cười.
- Tất nhiên rồi. Trong các vụ án mạng bao giờ cũng chỉ có một sự thật duy nhất. Nó luôn luôn lộ ra khi ta có kỹ năng thu thập thông tin chính xác và giải thích nó đúng đắn. Cả hai chúng ta phải làm việc đó. Tiếp tục đào bới thông tin mà chúng ta còn chưa có và cho tôi thời gian suy nghĩ kỹ càng thứ chúng ta đã biết, chúng ta sẽ chọc thủng phòng tuyến sớm thôi. Hiện nay chúng ta đã có thêm nhiều thông tin thú vị hơn cùng thời điểm trong cuộc điều tra lần trước. Nếu cứ tiếp tục đà này tôi hy vọng chúng ta sẽ đạt mục tiêu trong vòng một tuần lễ.
Tôi để mình yên lòng vì câu nói này nhưng cũng đã có khá nhiều bất ngờ để suy nghĩ. Bởi vậy tôi vội vàng cảm ơn Patricia vì bữa ăn và ra về, thỏa thuận sơ sơ sẽ gặp lại cô vào bữa tối hôm sau.
XI
Lúc về đến nhà, tôi lập tức gọi điện tới đồn cảnh sát chính để báo tôi cần nói chuyện với Jonas Lykke càng sớm càng tốt, liên quan tới cuộc điều tra án mạng hiện hành. Sếp của tôi đồng ý rằng việc này có vẻ sáng suốt và không hề lưỡng lự, ông hứa gọi cho Bộ Ngoại giao về thỉnh cầu của tôi.
8 giờ 45 phút, tôi định nghỉ ngơi bằng việc xem phim Thiên thần Xanh, một bộ phim cổ điển của Đức chiếu vào thứ Hai. Ngay cả lúc ngắm Marlene Dietrich trên tivi, ý nghĩ của tôi vẫn quay cuồng quanh những sự việc nảy sinh và vụ án mạng bí ẩn tại Gulleråsen ở Oslo. Điện thoại reo lần thứ nhất vào lúc 9 giờ 55 phút tối hôm đó. Ở đầu dây bên kia là một giọng nữ thân thiện, nhưng vô cùng lo lắng. Đó là Sandra Schelderup. Bà ta kể rằng một khẩu súng lục ổ quay trong bộ sưu tập súng của chồng bà đã biến mất. Khẩu súng ông ta giữ bên mình trong phòng ngủ và phòng làm việc nhiều tuần vừa qua vẫn ở chỗ ông để lại lần cuối, trong ngăn kéo bàn làm việc khóa kỹ. Nhưng một khẩu khác, cũ hơn, khẩu súng lục ổ quay hiện giờ đã biến khỏi giá để súng trong hành lang. Bà không biết nó đã nạp đạn chưa hoặc đạn có bị lấy cắp không. Không thể nói khẩu súng lục ổ quay mất vào hôm nay, hôm qua hay hôm kia. Nhưng rõ ràng là nó không còn ở đó. Nhiều năm nay, trên giá súng trưng bày hai khẩu súng trường, hai khẩu súng ngắn và hai khẩu súng lục ổ quay. Hiện giờ khẩu súng lục ổ quay cũ hơn đã mất. Theo danh mục, đó là một khẩu Nagant cỡ nòng 7,5 ly do Thụy Điển sản xuất.
Tôi hỏi bà những ai biết về khẩu súng. Bà ta ngập ngừng, nói rõ rằng bà và con gái không biết nó ở đâu, sau đó nói thêm bằng giọng khẽ khàng rằng những người biết rõ ngôi nhà như họ là hai cậu con chồng và cô thư ký. Bà cố kìm cơn giận đúng lúc và bổ sung rằng đương nhiên bất cứ vị khách nào cũng có thể biết về khẩu súng lục ổ quay và mang nó đi. Giá súng vẫn khóa như cũ, nhưng ổ khóa không phải loại tân tiến lắm và chiếc chìa khóa của tủ ly bên cạnh có thể mở được nó.
Tôi có thể nhận thấy rõ ràng Sandra Schelderup có vẻ mệt mỏi và hoảng sợ. Tôi cảm ơn bà đã gọi điện và yêu cầu bà liên hệ với tôi ngay lập tức nếu bà phát hiện ra bất cứ điều gì nữa quan trọng. Bà ta hứa sẽ làm thế và một lần nữa xác nhận bà rất mừng vì tôi là người chỉ huy cuộc điều tra.
XII
Khoảng 10 giờ 15, lúc tôi sắp ký báo cáo đầu tiên gửi sĩ quan chỉ huy, thì chuông điện thoại lại reo. Lần này là tiếng Leonard Schelderup ở đầu dây bên kia, có vẻ hoang mang hơn tôi nghe thấy hôm trước.
- Tôi rất xin lỗi vì gọi anh muộn thế này. Nhưng tôi vừa nhận được điện thoại từ một người không rõ danh tính, khuyên tôi thú nhận đã sát hại cha tôi. Tất nhiên tôi trả lời là mình vô tội, nhưng người gọi dập máy ngay lập tức. Đó là một trải nghiệm vô cùng khó chịu!
Tôi đồng tình và hỏi ngay cậu có nhận ra tiếng ai không. Sự căng thẳng trong giọng Leonard tăng rõ rệt khi cậu đáp lại.
- Không. Giọng nói đã bị bóp méo và hơn nữa chỉ nói vài từ. Nhưng dù sao vẫn có vẻ quen quen, như thể trước kia tôi đã nghe thấy, nhưng tôi không dám nói chắc là ở đâu và khi nào. Như thế chỉ làm mọi việc tệ hơn mà thôi.
Tôi cố làm Leonard Schelderup dịu lại, nói chắc chỉ là người nào đó đã đọc vụ này trên báo muốn chơi khăm, nhưng không ăn thua. Leonard cho rằng chắc chắn không phải thế, vì số điện thoại của cậu không đăng ký trong danh bạ, chỉ những người trong gia đình và bạn bè thân cận mới biết.
Tôi phải công nhận ý kiến của cậu là đúng và lập tức gợi ý cử một cảnh sát đến gác ngoài cửa nhà cậu. Ban đầu Leonard nhận lời, nhưng sau đó đột ngột đổi ý và đề nghị không cử người đứng gác trước sáng sớm mai. Cậu nhắc lại câu này tới hai lần. Cậu hứa suy nghĩ thêm về giọng nói trên điện thoại và sẽ gọi ngay cho tôi nếu có bất kỳ phỏng đoán nào.
Leonard Schelderup có vẻ bình tĩnh hơn một chút khi chúng tôi kết thúc cuộc điện đàm vào khoảng 11 giờ. “Cảm ơn anh đã dành thời gian nói chuyện với tôi tối nay và hy vọng chúng ta sẽ lại nói chuyện vào sáng mai!” là những lời cuối cùng của Leonard trước khi gác máy.
Tôi không kịp hỏi về quan hệ của cậu với Synnøve Jensen, thư ký của cha cậu. Song với tâm trạng rối bời của Leonard Schelderup lúc này, tốt hơn hết là để câu hỏi đó đến ngày mai và thảo luận vào ban ngày.
Sau khi đặt ống nghe, tôi ngồi thêm mười phút nữa ngẫm nghĩ, lại thêm một bí ẩn nho nhỏ nữa trong điều bí ẩn lớn hơn của vụ sát hại Magdalon Schelderup. Mặc dù ngày hôm nay có rất nhiều thông tin mới, nhưng câu trả lời vẫn chưa tới gần hơn lúc tôi đi nằm vào 11 giờ 15 phút.
Các sự kiện xảy ra trong ngày đã khiến tôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi nằm đó, thao thức đến quá nửa đêm, tâm trí xáo động vì những điều đã nghe và thầm mong điện thoại lại reo lần nữa. Cuối cùng tôi ngủ thiếp đi, và chỉ thức giấc vì một cơn ác mộng kỳ quái. Tôi ngỡ Leonard Schelderup gọi tôi lần nữa và van nài tôi cử một cảnh sát canh gác càng sớm càng tốt.
Lúc 2 giờ 15, tôi vồ lấy điện thoại, thấy bứt rứt và quay số đồn cảnh sát, hỏi có cử một cảnh sát gác bên ngoài căn hộ của Leonard Schelderup ở Skøyen không. Tôi biết lực lượng rất mỏng và hạn chế bố trí cảnh sát gác qua đêm, ngoại trừ các trường hợp nguy cấp sắp xảy ra. Nhưng tôi bỗng có cảm giác rằng đây đúng là một tình huống bất thường và nguy hiểm. Có hai cảnh sát trực phòng khi khẩn cấp và họ hứa một trong hai người sẽ đến Skøyen vào lúc 3 giờ. Tôi nằm trằn trọc thêm mười phút, tự trách mình đã quá thận trọng khi đề nghị một cảnh sát ra đi lúc nửa đêm, lẽ ra không nên làm thế. Đồng hồ báo thức lấp lánh sáng chỉ 3 giờ 15 phút, lúc cơn buồn ngủ chế ngự bộ não mệt rã của tôi. Sau đó tôi ngủ thiếp đi đến sáng, một giấc ngủ nặng nề, không hay biết tấn thảm kịch đã xảy ra trong màn đêm mịt mùng.