Người vệ tinh

Lượt đọc: 1206 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGÀY THỨ TƯ
theo vết chàng kỵ sĩ cô đơn i

Thứ Ba, ngày 13 tháng Năm 1969 là một ngày làm việc nữa bắt đầu từ sớm. 7 giờ 37 phút, chuông điện thoại reo lúc tôi vừa đặt tách cà phê xuống bàn. Khi tôi trả lời: “Leonard, tôi có thể giúp gì cậu đây?”, vài giây sau tiếng thở nặng nề là tiếng một phụ nữ vọng vào tai tôi.

- Thanh tra Kristiansen phải không? Xin anh có thể đến đây ngay được không? Có thêm một vụ giết người nữa.

Giọng nói run rẩy, tuy cố kiềm chế nhưng rõ ràng. Ngay lập tức, tôi nhận ra một trong những giọng nói tôi đã nghe tại Lâu đài Schelderup. Song phải vài giây sau tôi mới nhận ra giọng của Ingrid, vợ cũ của Magdalon Schelderup. Bà ta nói nhanh và cung cấp tin tức rõ ràng.

- Tôi đang ở Skøyen, trong căn hộ của con trai tôi. Sáng nay tôi đến thăm nó, nhưng có người đã đến trước tôi. Leonard đang nằm trên sàn, bị một viên đạn bắn vào đầu và chắc đã bị giết chết. Nếu anh tới, anh sẽ có thể tự thấy!

Cách chọn từ khá kỳ quặc nhưng giọng nói vẫn rất mạch lạc với một phụ nữ vừa tìm thấy đứa con trai duy nhất của mình bị giết. Tôi lờ mờ nhớ lại lời của Patricia về những người vệ tinh cứng cáp và mạnh mẽ liên lụy trong vụ này. Tôi lẩm bẩm chia buồn và yêu cầu bà ta ở lại đó, khóa cửa cho đến khi tôi tới. Bà ta hứa làm theo và nói thêm đã quá muộn để cứu mạng con trai bà hoặc bắt được hung thủ.

Thế là ngày thứ Ba, ngày 13 tháng Năm 1969 lại trở thành một trong số ít ngày bữa sáng của tôi để lại trên bàn bếp mà chưa kịp động tới. Chưa đầy ba mươi giây sau khi đặt ống nghe xuống, tôi đã đóng sập cửa sau lưng.

Chuyến xe tới Skøyen dường như dài khác thường. Tôi còn nhớ trải nghiệm tuyệt vời khi chứng kiến Leonard Schelderup vượt qua đích với vẻ uy nghi hiếm có, mái tóc dài vàng hoe của cậu mềm rũ, giành huy chương vàng trong cuộc đua tranh chức vô địch Na Uy tại Bislett hồi năm ngoái. Tôi cũng nhớ rất rõ bộ mặt khiếp đảm của cậu tại buổi đọc di chúc và giọng nói hoảng hốt trên điện thoại đêm qua. Giờ đây Leonard Schelderup đã chết, từ một nghi phạm biến thành nạn nhân của vụ giết người, sự thương cảm của tôi dâng trào.

Một mình trên xe, tôi nguyền rủa bản thân vài lần vì đêm qua đã không đến gặp cậu. Lần thứ hai trong ba ngày một Schelderup gọi điện cho tôi và lần thứ hai, cậu ta đã chết trước khi tôi nói hết mọi chuyện. Lời biện hộ duy nhất của tôi là tôi đã gợi ý cử cảnh sát gác bên ngoài và cậu từ chối. Lần này chỉ vài giờ sau khi tôi đã cử một cảnh sát tới đó. Nhưng thực tế của vấn đề thật tàn bạo: Leonard Schelderup gọi điện cho tôi tối qua, nói rằng cậu bị đe dọa và sáng nay cậu đã bị bắn chết.

Cuộc điều tra dường như phức tạp hơn bao giờ. Tôi chưa bao giờ tin Leonard Schelderup giết cha mình, nhưng chưa đầy một ngày trước, cậu là người duy nhất trong mười vị khách mời nổi lên như một nghi phạm đương nhiên, ngoài Synnøve Jensen. Còn bây giờ, cậu đã trở thành một nạn nhân của vụ giết người, dường như sự bí ẩn càng sâu sắc thêm, bất chấp nó rơi vào người nào trong số các nghi phạm. Ngoài Synnøve Jensen, tôi không thể chọn ra bất cứ ai trong số chín người còn lại có thể là kẻ sát nhân kép hơn những người kia.

Người đầu tiên tôi gặp tại hiện trường tội ác là viên cảnh sát đến gác. Nhìn thấy tôi trên vỉa hè bên ngoài, anh ta lập tức tiến tới. Đó là một cảnh sát giỏi, thực tế, nên báo cáo rõ ràng rằng tối qua anh ta lái xe tới đây đứng gác từ 10 giờ đêm tới 3 giờ sáng, nhìn rõ cả hai phía tòa nhà. Vào thời điểm đó không hề có dấu hiệu hoạt động gì trong các căn hộ. Không có người đi, đến từ căn hộ nào, cho đến khi một phụ nữ đứng tuổi - là mẹ của người chết - bấm chuông vào khoảng 7 giờ 20 phút. Đèn trong căn hộ bên cạnh bật lúc 7 giờ 10 phút, nhưng lúc đó vẫn không có dấu hiệu hoạt động gì trong căn hộ của Leonard Schelderup.

Bởi vậy, chỉ có một kết luận rõ ràng duy nhất là nếu Leonard Schelderup bị giết trong đêm, thủ phạm ắt đã gây án xong và rời khỏi tòa nhà trước khoảng thời gian từ 10 giờ tới 3 giờ sáng.

Ingrid Schelderup nhẫn nại đứng bên cửa sổ trong căn hộ của con trai, trong lúc tôi nói chuyện với viên cảnh sát. Bà đợi mở khóa cửa cho đến lúc tôi bấm chuông, dù chỉ trong giây lát.

Thứ đầu tiên tôi trông thấy khi bước vào căn hộ là bộ mặt căng thẳng của Ingrid Schelderup. Thứ hai là bàn tay phải xanh xao, run rẩy của bà chỉ xuống sàn. Thứ ba là khẩu súng lục ổ quay ở trên sàn, nơi bà ta chỉ. Thoáng nhìn tôi đã khẳng định đây là khẩu súng lục ổ quay Nagant cũ, cỡ nòng 7,5 ly do Thụy Điển sản xuất.

Vậy là một trong những bí ẩn nhỏ đã được giải mã. Khẩu súng lục ổ quay biến mất khỏi giá súng của Magdalon Schelderup đã được tìm thấy. Nhưng còn một bí ẩn nữa sâu sắc hơn. Ai đã lấy nó khỏi bộ sưu tập súng của Magdalon Schelderup ở Gulleråsen một hoặc hai ngày trước, có lẽ với ý định nhằm vào nhà con trai thứ của ông ta?

Không nhìn thấy Leonard Schelderup trong hành lang. Cậu nằm trên sàn phòng khách, cạnh cái ghế bành đối diện với tivi. Thi thể cậu nguyên vẹn, sạch sẽ, ngoài vết đạn trên trán đang tuôn máu. Chỉ nhìn qua cũng đủ khẳng định mọi hy vọng sống đã hết từ lâu. Máu chảy từ vết thương đã bắt đầu đông lại. Tôi nhanh chóng phỏng đoán thời điểm Leonard Schelderup tử vong vào những giờ sớm nhất của buổi sáng hoặc có lẽ là lúc muộn nhất của buổi tối hôm trước.

Tôi thận trọng hết mức có thể khi hỏi Ingrid Schelderup một câu cần bà ta trả lời ngay tại đây và ngay lúc này: bà ta đã phát hiện cái xác và khẩu súng ở đúng chỗ bây giờ? Bà lau nước mắt trước khi trả lời, nhưng chỉ gật đầu một cái dứt khoát. Bà không động đến khẩu súng và chỉ thận trọng sờ vào cổ và cổ tay con trai để cảm nhận còn sống không thôi. Bà kể khi tới nơi, cửa trước không khóa. Lúc thấy thế, bà đờ người vì sợ. Rồi bà mở cửa, nhìn thấy khẩu súng mà không nghe thấy âm thanh nào của sự sống trong căn hộ và ngay lập tức hiểu rằng Leonard đã bị giết trong đêm.

Nhìn khắp lượt căn hộ, thật dễ rút ra một số kết luận. Leonard Schelderup rõ ràng bị bắn, có lẽ bằng khẩu súng lục ổ quay mà kẻ nào đó đã lấy trộm khỏi nhà cha cậu và trâng tráo để lại trên sàn sau khi giết người. Căn cứ vào nỗi lo sợ của Leonard Schelderup đêm trước, không thể tưởng tượng cậu không khóa cửa trước khi đi nằm. Chắc cậu bị giết hại bởi một vị khách có chìa khóa, hoặc là người cậu đã cho vào nhà. Nhưng từ hiện trường gây án có thể suy ra thêm chút ít. Dù danh sách những thủ phạm tiềm năng giới hạn trong chín thực khách còn lại tại bữa tối ở Lâu đài Schelderup khi cha cậu bị giết hai ngày trước, không thể loại trừ bất cứ người nào.

Tôi nhìn Ingrid Schelderup không nói gì. Bà cũng im lặng nhìn lại tôi. Cái nhìn của bà không chỉ buồn bã mà còn hoảng hốt. Tôi hiểu cảm nghĩ của chúng tôi giống hệt nhau. Đó là, hầu như cách Leonard Schelderup bị bắn rất giống với các thành viên trong nhóm Kháng chiến của người cha quá cố, nhưng là hai mươi tám năm sau.

II

Một chi tiết trong căn hộ của Leonard Schelderup khiến tôi chú ý. Hai chiếc ghế bành để hai bên bàn bếp không bị dịch chuyển nhiều lắm, mặc dù lúc còn sống Leonard ngồi trên ghế của mình. Bàn bếp dọn cho hai người. Các tách cà phê đã dọn càng củng cố cảm tưởng đêm trước Leonard đã ngồi ở đây với một vị khách. Lúc cậu gọi cho tôi khoảng 10 giờ, vị khách đó chưa tới, hoặc cậu quyết định không kể với tôi. Không rút ra nhiều lắm từ việc đó. Một trong hai tách đã dùng, nhưng tách và đĩa ở bên kia bàn chưa đụng tới. Tôi gần như tin rằng vị khách của Leonard Schelderup ngồi bên phía đó.

Tuy nhiên, phát hiện đáng kể nhất là trong phòng ngủ. Có vẻ như Leonard Schelderup đã đi nằm, chỉ thức dậy lần nữa và mặc quần áo trước khi bị bắn trong phòng khách vào lúc nửa đêm. Cũng có thể trên giường cậu có hoạt động đáng kể vào ngày hôm trước. Gối và chăn lộn xộn, khăn trải bị kéo một nửa khỏi đệm. Có thể sáng hôm qua Leonard Schelderup dậy mà không dọn giường, nhưng mẹ cậu một mực nói rằng cậu là một chàng trai rất ngăn nắp và sạch sẽ, luôn dọn giường ngay khi thức dậy. Có thể nhận ra dấu vết của cuộc giao hoan trên các tấm khăn trải giường. Bằng chứng chủ yếu là trong hai mươi tư giờ qua, có người không chỉ ở trong căn hộ mà còn trên giường, nằm lên gối. Đội pháp y tìm thấy hai sợi tóc vàng hoe và quăn, chắc chắn rụng từ đầu Leonard Schelderup, nhưng cũng có ba sợi tóc dài hơn, đen hơn rõ ràng không phải của cậu.

Lúc đứng đó nhìn ba sợi tóc đen, tôi thấy dường như lúc này vụ việc đã nhảy vọt thẳng tới một đáp án hợp lý. Tôi cảm thấy thông cảm đến đau nhói cho cô Synnøve Jensen tóc đen, những chứng cứ chồng chất chống lại cô.

Ingrid Schelderup giữ tư thế đĩnh đạc và tự chủ trong suốt cuộc trò chuyện của chúng tôi và cuộc khám xét căn hộ. Nhưng sau đó, tấn thảm kịch dường như đánh gục bà. Ngồi lẻ loi trên sofa, bà bỗng nhiên kiệt sức và sụp xuống thành một đống thổn thức. Tôi cố dỗ dành bà ngồi ngay ngắn lại. Lẽ tất nhiên chẳng dễ gì an ủi một người phụ nữ tìm thấy đứa con trai duy nhất của mình bị bắn chết. Rốt cuộc, viên cảnh sát đề nghị lái xe đưa bà về nhà và ở lại cho đến lúc bà đã uống thuốc an thần.

Lúc 8 rưỡi, tôi đang ngồi một mình trong căn hộ của Leonard Schelderup, với chủ nhân đã chết nằm câm lặng vĩnh viễn và lạnh giá trên sàn phòng khách. Mắt tôi nhìn xoáy vào cậu trong lúc tôi dùng điện thoại nhà cậu gọi đến đồn cảnh sát chính, họ đã hứa cử thêm vài chuyên gia pháp y đến kiểm tra nạn nhân và căn hộ. Lúc này, thân xác cậu đã được giải thoát khỏi sự căng thẳng trong mấy ngày qua. Nhưng mặt cậu vẫn căng thẳng và hoảng sợ ngay cả trong lúc chết.

Tôi ngồi đó nhìn người đã mất. Dường như xung quanh chẳng còn gì, mọi tình huống lúc này đều chĩa vào Synnøve Jensen. Dẫu vì lý do gì khiến cô giết người tình khác và đồng phạm của mình, nếu Leonard Schelderup có là gì đi nữa, thì vẫn rất khó hiểu. Nhưng những sợi tóc trên gối là bằng chứng tố cáo mạnh mẽ.

III

Tôi không cần đi xa để thẩm vấn nhân chứng thứ nhất. Hàng xóm của Leonard Schelderup rõ ràng là điểm xuất phát và may thay, bà ta ở nhà.

Halldis Merete Abrahamsen, theo lời bà khai, là góa phụ bảy mươi chín tuổi của một dược sĩ thành đạt. Bà sống sung túc, đầu óc và các giác quan của bà vẫn tỉnh táo và hoạt động tốt. Tôi hoàn toàn tin điều đó. Nhưng dù sao thì đời sống xã hội và phạm vi hiểu biết của bà đã co hẹp phần nào từ khi chồng bà qua đời và các con bà dọn ra ngoài. Các bức chân dung, sách vở và đồ đạc là tất cả với một người đàn bà có thời gian rộng rãi ở nhà, với những suy nghĩ ngày càng trôi dạt, trở lại thời xa hơn.

Đây là một tình trạng buồn cho Halldis Merete Abrahamsen, nhưng rất tốt cho cuộc điều tra, vì thay vào đó, dường như bà phát triển mối quan tâm sắc sảo với những người hàng xóm. Một cặp kính phóng đại nhỏ để trên bậu cửa sổ trong bếp xác nhận nghi ngờ của tôi về mặt này. Cậu Leonard Schelderup trẻ trung có vị trí đặc biệt trong những người hàng xóm. Chắc chắn vì cậu sống trong căn hộ kế bên, nhưng có lẽ còn hơn thế vì tên tuổi của cậu và tài sản của gia đình cậu. Bà Abrahamsen chứng tỏ có trí nhớ rất tốt khi bà đọc một hơi cây phả hệ của cậu hàng xóm và những ước tính mới nhất về giá trị tài sản của gia đình cậu.

“Một người vẫn đọc báo chí và quan tâm đến những người xung quanh mình,” bà giải thích như vậy.

Trước hết, bà góa thể hiện sự choáng váng vì tin “cái chết thê thảm của cậu thanh niên điển trai”, sau đó bắt đầu kể mọi thứ về cậu. Leonard là một người hàng xóm rất ý tứ, không bao giờ làm phiền bà về mọi mặt. Buổi sáng, cậu đi làm từ sớm và thường về nhà lúc đêm khuya, vì những buổi tập luyện. Ngoài người mẹ, thỉnh thoảng cậu có khách song rất hiếm, tất cả các vị khách đều ra về sớm, không hề làm ồn vì tiếng nhạc hoặc có thái độ huyên náo khác.

Rồi bà hạ giọng một cách thận trọng, giãi bày với tôi rằng mùa thu năm nay có một người đàn ông bí ẩn đến thăm cậu ta vài lần vào buổi tối. Theo như bà nhớ, đó là một người đàn ông trẻ, tóc đen, nhưng bà không biết chắc tuổi tác vì người đó để râu, đội mũ và mặc áo khoác mùa đông, cổ áo lật cao.

- Hình như người ấy cố hết sức để không ai nhận ra. Thế chẳng khá kỳ cục sao? - Bà nói khẽ. Điều duy nhất bà có thể nói chắc người khách ấy là đàn ông, và cao hơn tầm trung bình.

Tôi chăm chú ghi lại mọi thông tin về người lạ này. Rõ ràng miêu tả của bà ta không khớp với bất cứ thực khách nào trong bữa tối cuối cùng của Magdalon Schelderup, trừ khi là Fredrik đeo râu giả. Mặt khác, dường như kẻ giết hại Leonard Schelderup không dính líu gì đến vụ giết cha cậu hôm trước. Leonard Schelderup có vẻ sống một cuộc đời yên tĩnh, là biệt lệ với gia đình và tài sản của họ.

Tôi dấn tới và hỏi bà có biết về một vị khách nữ nào không.

Bà Abrahamsen ngả người về phía tôi và càng hạ thấp giọng hơn nữa. Hóa ra Leonard Schelderup đã sống ở đó “hơn bốn năm bảy tháng”, nhưng bà ta nhớ chưa từng trông thấy người phụ nữ nào tới đây ngoài mẹ cậu. “Nhưng vào đêm cuối cùng, - bà ta thì thào, mắt sáng lên, - đêm cuối cùng trong tất cả các đêm, tôi nghĩ cậu ấy có một người khách là nữ! Nó không phải là sự trùng khớp sao?”

Tôi đồng ý với bà và ghi nhanh vào sổ.

Không may là khi người phụ nữ bí ẩn kia tới, bà Halldis Merete Abrahamsen đang trong buồng tắm. Bởi vậy bà chỉ nghe thấy tiếng gót giày gõ lách cách lúc người đó tới vào 8 giờ kém 15, tiếp theo là cánh cửa đóng lại đằng sau. Người đó rời đi lúc 10 giờ kém 25 phút, lúc trời bắt đầu tối. Nhưng bà đã kịp liếc thấy cái áo khoác lông chồn, chiếc mũ màu đỏ và đôi giày cao gót. Vị khách đi nhanh xuống lối đi, không hề ngoảnh lại và biến khỏi tầm nhìn. Hiển nhiên là một người phụ nữ có “vị trí xã hội nổi bật”, nhưng chẳng may bà Abrahamsen không thể miêu tả chi tiết về tuổi tác, màu tóc hoặc diện mạo của vị khách. Nhưng bà gạt phăng gợi ý của tôi có thể là bà Ingrid Schelderup tạt vào thăm con trai. Bà nhận ra tiếng bước chân của người mẹ quá rõ. Tiếng chân người này nhẹ hơn và trước kia bà chưa nghe thấy bao giờ.

Phần đầu câu chuyện chỉ làm tôi thêm nghi ngờ Synnøve Jensen, tới mức tôi suýt muốn lái xe thẳng tới bắt giữ cô. Nhưng sau đó, tôi lưỡng lự khi nghe đến chi tiết vị khách đó mặc áo khoác lông chồn. Tôi không thể hình dung Synnøve Jensen sở hữu một chiếc áo như thế và tin chắc không thấy dấu vết của bất cứ thứ gì giống thế trong căn nhà xoàng xĩnh của cô. Chi tiết này như một trận mưa đá lạnh buốt khi tôi nhận ra Leonard Schelderup gọi điện cho tôi sau khi người phụ nữ kia rời đi. Thật khó tưởng tượng ra bất cứ thứ gì khác hơn là cậu vẫn còn sống.

Khi tôi hỏi sau đó có cuộc thăm hỏi nào không, bà Abrahamsen thoái thác và xin lỗi. Bà không ngờ một sự kiện đầy kịch tính trong đêm hôm đó, nên đi nằm vào khoảng 10 giờ; bà ngủ ngon vì không chịu được rét. Bà tỉnh giấc lúc nửa đêm và ngỡ là nghe thấy tiếng bước chân vội vã trên cầu thang bên ngoài, nhưng sau đó lại ngủ thiếp đi nên không nghe thấy gì nữa. Chuông cửa không reo, vì nếu có bà đã nghe thấy. Khi tôi hỏi liệu tiếng chân bà nghe thấy sau này trong đêm đó có giống lúc trước, có lẽ lần này chỉ không có tiếng gót giày, bà ngượng ngùng nói rằng bà không biết. Lúc ấy vì nửa thức nửa ngủ và không dám nói gì hơn là tiếng bước chân bà nghe thấy vào khoảng nửa đêm rất hấp tấp.

Chi tiết này kết hợp chắc chắn với giả thuyết của tôi, rằng chính là Synnøve Jensen, nếu không phải hai lần thì chắc là lần thứ hai, chính cô bắn Leonard Schelderup vào giờ sớm nhất. Có thể cô quá thất vọng vì cậu hèn nhát muốn thú nhận là cha của con cô và chính vì thế họ đã cùng giết cha cậu.

Tôi phải thừa nhận giả thuyết đó không hề dễ dàng. Nó rít, réo trong tai tôi. Nhưng còn đỡ đinh tai nhức óc hơn mọi giả thuyết khác tôi có thể nghĩ ra, nên rốt cuộc tôi vào xe và lái đến Sørum.

IV

Synnøve Jensen ngồi bên bàn bếp và khóc một lúc lâu. Nước mắt cô rỏ xuống bàn tay tôi khi tôi đặt tay lên vai cô. Hoặc cô là một diễn viên đại tài có thể khóc bất cứ khi nào cần, hoặc cô đang thể hiện nỗi đau buồn của mình lúc nghe tin về cái chết của Leonard Schelderup. Cô chưa bao giờ có dịp hiểu cậu kỹ càng, nhưng nghĩ cho cùng, Leonard là anh trai đứa con chưa ra đời của cô, cậu luôn tỏ ra là người hòa nhã và tử tế, nên cô không có lời nào chống lại cậu. Chắc chắn cậu có cuộc sống không thoải mái nhất, bị kẹp giữa cha mẹ đã ly hôn và mối quan hệ với người mẹ kế. Một vụ giết người nữa chỉ hai ngày sau vụ đầu tiên và còn gây sốc mạnh hơn. Thế nên Synnøve Jensen cứ khóc mãi.

Sau mọi chuyện này mà hỏi Leonard Schelderup có phải là người tình của cô không và có phải cô bắn chết cậu không thật khá vô nghĩa. Vì thế tôi nói tôi phải yêu cầu tất cả giải trình mọi hành động của họ vào đêm qua. Synnøve Jensen lau nước mắt và lẩm bẩm rằng cô ở nhà một mình suốt đêm và đi ngủ sớm. Cô chưa bao giờ được mời tới nhà Leonard Schelderup và chắc chắn là chưa bao giờ đến đó. Có lần cô nghe cha cậu gọi điện từ văn phòng cho cậu, nhưng cô không nhớ ông ta nói gì với Leonard Schelderup trên điện thoại. Cô không hề biết cậu sống ở chỗ nào tại Skøyen hoặc đi chuyến xe buýt nào tới đó. Không một tình tiết nào là không chắc nhưng mặt khác, không có ai xác minh.

Tủ áo của Synnøve Jensen ở cạnh cửa và không mất nhiều thời gian để nhìn kỹ vì nó rất ít ỏi. Thực ra nó chứa một đôi giày mà chỉ thiện chí mới có thể gọi là cao gót, nhưng chẳng có gì giống với áo khoác lông chồn, dù nhìn qua mắt của một bà già. Tôi sửng sốt thấy sự hào phóng của Magdalon Schelderup với cô nhân tình thể hiện trong di chúc dường như không liên quan tới sự hào phóng ông biểu lộ với cô khi ông còn sống. Tôi không thể tin nổi mọi thứ ông từng tặng cô treo hết ở đây lúc này.

Tôi lái xe rời Sørum với ý nghĩ Synnøve Jensen sẽ kết thúc trong địa ngục nếu tìm thấy dấu vân tay của cô ở bất cứ nơi nào trong căn hộ của Leonard Schelderup. Còn nếu không, tôi hầu như tin lời cô nói cô chưa bao giờ tới đó. Nếu thế, tôi không biết người phụ nữ tóc đen đến tối hôm trước có thể là ai.

V

Về tới đồn cảnh sát, tôi được biết vẫn chưa có kết quả phân tích dấu tay. Vì thế trong thời gian chờ đợi, tôi gọi điện cho Hans Herlofsen và Magdalena Schelderup. Cả hai bình tĩnh và có vẻ kinh ngạc nghe tin Leonard Schelderup chết. Cả hai đều dứt khoát phủ nhận đã gọi điện hoặc gặp cậu ta hôm trước. Cả hai còn hăng hái hơn khi nói không hề biết ai có thể giết cậu ta. Magdalena Schelderup nói bà ta ở nhà một mình, nhưng không có gì xác nhận điều này. Hans Herlofsen có bằng chứng ngoại phạm đến 10 giờ: ông ở văn phòng tại trung tâm thành phố, họp với ba nhân viên khác về tương lai của các công ty. Nhưng sau đó ông cũng ở nhà một mình, theo lời ông.

Tôi nói chuyện với Sandra và Maria Irene Schelderup ngay khi có thể và câu trả lời của họ rất giống nhau. Tuy nhiên, không như những người khác, hai người phụ nữ ở Lâu đài Schelderup có bằng chứng ngoại phạm đáng tin cậy. Khoảng thời gian người phụ nữ bí ẩn mặc áo lông chồn đến thăm Leonard Schelderup, Sandra Schelderup đang gọi điện cho tôi, viên cảnh sát ở bên ngoài Lâu đài Schelderup có thể xác nhận cả hai mẹ con đều ở nhà. Suốt buổi tối, họ xuất hiện trong khung cửa sổ nhiều lần và không ai ra khỏi nhà. Đàn chó im lặng cả đêm.

Tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm và tự khen mình vẫn bố trí một cảnh sát gác Lâu đài Schelderup qua đêm. Ý nghĩ hãi hùng rằng cô Maria Irene trẻ măng có thể dính líu đến các vụ giết người đã lu mờ, mặc dù bằng chứng ngoại phạm đêm qua không có nghĩa là cô hoặc mẹ cô có thể được loại trừ dính líu đến vụ sát hại Magdalon Schelderup.

Sandra Schelderup có vẻ yên lòng vì có bằng chứng ngoại phạm. Nhờ chi tiết này, tôi để bà ta quyết định xem có cần một cảnh sát gác Lâu đài Schelderup hay không. Bà nghĩ một lát rồi trả lời họ đã có đàn chó, và thực ra không thể nấp vào bất cứ nơi nào trong vườn, nên có lẽ ngày hôm sau cảnh sát có thể rời đi, trừ khi có dấu hiệu nguy hiểm.

Tôi nhấc máy gọi ông bà Wendelboe lúc chợt nhớ tới những vấn đề Patricia nêu ra, tôi nên hỏi về thời Kháng chiến. Tôi cũng cần liên hệ với Fredrik Schelderup, báo cho anh ta biết về cái chết của cậu em và đến thăm anh ta. Rốt cuộc, tôi gọi cho cả hai người ngắn gọn chỉ để thu xếp cuộc thăm viếng vào vài giờ sắp tới.

VI

Người ta không thể làm gì ngoài việc thán phục tâm lý vững vàng của Fredrik Schelderup, hoặc vô cùng sửng sốt vì thái độ dửng dưng của anh ta. Tôi nghiêng về vế sau hơn. Dù thế nào đi nữa, rõ ràng anh ta quá ư ung dung lúc uể oải ngồi đối diện với tôi trên chiếc sofa nhung thoải mái trong ngôi nhà rộng rãi ở Bygdøy. Anh ta hòa nhã nhận lời chia buồn của tôi về việc mất đi người em trai, nhưng tuyệt đối không hề tỏ vẻ thương tiếc.

Tôi tự nhủ ngôi nhà của Fredrik Schelderup rất hợp với tính cách của anh ta: nhà cửa, đồ đạc đều thuộc loại chất lượng cao, nhưng chủ nhân rất ít chăm sóc chúng. Căn phòng bụi bặm và bừa bộn. Điểm nổi bật nhất là đủ loại cốc uống vang và ly cao dùng uống champagne phủ kín mọi bề mặt, điểm nổi bật thứ hai là tủ rượu to hơn tủ lạnh.

Trong vòng hai mươi tư giờ qua, Fredrik Schelderup đã mất người em trai khác mẹ và hiểu rõ khoản thừa kế của mình sẽ tăng lên nhiều triệu. Nhưng dường như chẳng có gì gây ấn tượng mạnh cho anh ta. Song người đàn ông này không hẳn thiếu sự nhạy cảm về mặt xã hội. Fredrik nhanh chóng nhận ra vẻ ngạc nhiên của tôi vì sự thiếu quan tâm của mình và bắt chuyện ngay, không cần giục.

- Xin anh tha lỗi vì tôi không thể hiện sự tiếc thương rõ ràng. Đó là việc xảy ra khi ta lớn lên trong Lâu đài Schelderup và có nhiều tiền hơn đáng được hưởng. Leonard có một người mẹ mà tôi không quan tâm cũng chẳng chú ý tới, và tôi có một người mẹ mà cậu ta không quan tâm cũng chẳng chú ý tới. Thứ duy nhất chúng tôi cùng có là một người cha chẳng để ý gì đến cả hai chúng tôi, nhưng cả hai luôn quan tâm đến ông. Chúng tôi không chỉ sinh ra cùng cha khác mẹ, chúng tôi còn thừa hưởng các gien khác nhau từ ông. Chúng tôi cùng có những vấn đề như nhau, nhưng cách giải quyết lại khác hẳn nhau. Leonard chọn cách đáp ứng những kỳ vọng của cha bằng những thành công trong nhiều lĩnh vực hơn là cha tôi mong đợi. Lựa chọn của tôi là chẳng có bất cứ hoài bão gì dù có được động viên hơn nữa.

Tôi yêu cầu Fredrik nói kỹ hơn, và anh ta làm ngay.

- Nhưng tôi quá may mắn về khoản tiền được thừa kế, có lẽ chẳng phải vì gien. Việc duy nhất mẹ tôi làm để bảo đảm một cuộc sống thoải mái là lừa được cha tôi cưới bà. Tôi không phải nhấc một ngón tay cũng có một cuộc sống nhàn hạ. Bởi vậy tôi chẳng bao giờ phải làm gì. Anh thấy đấy, tôi không ngu ngốc, chỉ lười biếng và gặp may. Tôi chỉ mong lá gan của tôi khỏe mạnh lâu hơn của mẹ tôi. Vì cái này này, - anh ta nói và đưa cốc vang lên miệng. Tôi ngờ rằng nó không phải là cốc đầu tiên và cũng chẳng phải là cốc cuối cùng trong ngày.

Câu hỏi quan trọng nhất trong cuộc điều tra của tôi là Fredrik Schelderup có đến thăm Leonard tại nhà cậu ta vào bất cứ lúc nào trong vài tuần qua không. Câu trả lời của anh ta rõ ràng là không. Anh ta tới đó lần cuối ít ra cũng một năm trước. Trong những năm gần đây, hai anh em liên hệ với nhau rất thưa thớt. Nói chung, Leonard là người chỉ giao tiếp vì những lý do thực tế, và một cú điện thoại ngắn là đủ.

Tôi lợi dụng cơ hội này hỏi luôn hôm trước họ có liên hệ qua điện thoại không, nhưng một lần nữa anh ta lắc đầu.

Câu hỏi tiếp theo là Fredrik Schelderup có biết người nào có thể đến thăm em trai không. Anh ta lập tức trả lời không nốt. Ngoài gia đình, Fredrik và cậu em hoạt động trong các giới hoàn toàn khác biệt và không có bạn bè chung.

- Nếu có người nào trong gia đình biết về bạn bè của Leonard thì chỉ có mẹ của cậu ấy. Nhưng tôi cũng không lạ nếu bà ấy không biết gì nhiều. Lẽ đương nhiên là bà ấy tôn thờ con trai. Nhưng tôi luôn có cảm tưởng rằng cậu ta lúc nào cũng giữ khoảng cách với mọi người, kể cả với bà mẹ.

Tôi nhìn Fredrik, dò hỏi. Anh ta nói tiếp, không hề lưỡng lự.

- Việc trưởng thành trong hoàn cảnh như của Leonard và tôi có thể tạo ra những phản ứng rất khác nhau. Trong trường hợp của Leonard, điều hiển nhiên quan trọng là cậu có thể đi con đường riêng của mình, ngay cả khi chịu ảnh hưởng của mẹ cậu. Ước mơ lớn nhất của người mẹ là dù thế nào cũng được trở lại Lâu đài Schelderup. Nếu Leonard được gọi về ở đấy lần nữa, tôi nghĩ cậu ấy sẽ cố lập một kỷ lục mới của quốc gia để được ra đi.

Fredrik Schelderup uống cạn cốc vang và rót thêm ít nữa. Anh ta đang say chuyện, có lẽ vì trong tâm trạng có phần trầm ngâm.

- Ở trên mặt trăng có lẽ còn thú vị hơn ở những bữa tối Chủ nhật của cha tôi. Chắc với Leonard là không chịu nổi. Tôi luôn ngạc nhiên mỗi khi cậu ấy xuất hiện. Khi còn sống, cha tôi có tác động gần như thôi miên đến tất cả chúng tôi, và Leonard không bao giờ đối đầu với ông vì cậu ấy không thích gây mâu thuẫn. Tất cả những triệu krone mà chúng tôi bám lấy để thừa hưởng ắt phải quan trọng kể cả với Leonard, nhưng chắc chắn với mẹ cậu ấy có ý nghĩa hơn cả.

Fredrik Schelderup ngồi ngẫm nghĩ giữa hai cốc vang. Anh ta châm một điếu thuốc, nhưng nó không làm cho tâm trạng phấn chấn. Cuối cùng, Fredrik nói bằng giọng gần như buồn bã.

- Tôi chưa bao giờ tin Leonard từng sống hạnh phúc, và cũng không tin cậu ấy làm việc vui vẻ. Bất kể cậu ấy giành được huy chương vàng hay nhận học bổng làm tiến sĩ. Dù sao thì trong những tháng gần đây hình như cậu ấy nhẹ lòng hơn. Một kết cục bi thảm cho một cuộc đời ngắn ngủi và chắc chắn là đầy thử thách.

Trông Fredrik buồn rười rượi khi nói câu này. Rốt cuộc, dường như tình hình nghiêm trọng cũng ảnh hưởng đến anh ta. Tuy vậy, khi tôi hỏi lý do khiến tâm trạng của em trai anh ta nhẹ nhõm hơn trong những tháng gần đây có phải là một người phụ nữ, Fredrik lắc đầu phản đối.

- Tôi đã học được kinh nghiệm là chẳng bao giờ có tiêu chuẩn tuyệt đối khi đến với phụ nữ. Nhưng nhiều năm nay, tôi chưa bao giờ thấy Leonard có người phụ nữ nào ngoài ngôi nhà của gia đình, và hiện nay không lý gì lại tin có một người phụ nữ trong đời cậu ấy. Dù sao thì tôi cũng đủ vấn đề với cuộc sống riêng tư của mình rồi, chẳng lo cho đời của cậu em nữa.

Câu đùa nho nhỏ làm anh ta vui lên và quả quyết đặt cốc xuống bàn.

- À mà nói về cuộc sống cá nhân, tôi đang đợi một vị khách sắp đến, cô ấy có thể thực sự là người đáng để giữ chặt đến cùng. Chúng tôi sẽ ăn mừng khoản tài sản thừa kế và bàn chuyện dùng một ít để đến các bãi biển êm dịu ở Brazil, ngay khi cuộc điều tra kết thúc. Vì thế nếu hôm nay anh không còn câu hỏi nào nữa thì…

Tôi không có và đang thèm ra ngoài hít thở không khí trong lành. Tôi bắt đầu nhận ra rằng đằng sau hình ảnh một tay chơi Fredrik Schelderup, có thể ẩn giấu một câu chuyện buồn hơn và một người quan sát sắc sảo hơn con người ban đầu. Tôi không tin anh ta hơn về mặt này, và tuy tôi ngờ một kẻ sát nhân sẽ hành xử như thế, tôi vẫn cảm thấy khó chịu khi ngồi cùng bàn với một người có em trai vừa mất chưa được nhiều giờ, lại ăn mừng của thừa kế với rượu vang, đàn bà và ca hát.

Giọng nói hoảng hốt của Leonard Schelderup từ đêm hôm trước cứ dai dẳng trong đầu tôi như một ám ảnh xấu. Hình ảnh tấm thân đã chết và bộ mặt méo mó của cậu cũng vậy. Vì thế tôi hỏi nhanh một câu cuối cùng là Fredrik có nhận thấy sức khỏe của cha mình trong vài năm vừa qua có gì biến đổi không. Anh ta đáp không, nhưng cũng không được biết cho đến khi rất cần thiết. Người cha không bao giờ thích chia sẻ tình trạng ốm yếu của mình và xuất thân từ trường phái cổ, ông luôn giữ kín những thứ như lo lắng, bí mật với gia đình chừng nào có thể. Theo câu trả lời này, tôi cho rằng hôm nay không thể thu được gì hơn dù nói chuyện thêm với Fredrik Schelderup.

VII

Ai có thể kể cho tôi nghe về cuộc sống của Leonard Schelderup bây giờ, rằng cha cậu đã chết, mẹ cậu đang ngủ còn anh trai cậu chẳng biết gì, chứng tỏ là một câu hỏi hay.

Người đứng đầu học viện ở Đại học Oslo không giúp được nhiều. “Cậu Schelderup trẻ trung” có nhiều phẩm chất rất tốt và gây ấn tượng tốt, nhưng cậu ấy mới ở đó sáu tháng nên chưa quen biết nhiều đồng nghiệp lớn tuổi. Vì chỉ bị giám sát khi đi du lịch nước ngoài trong kỳ nghỉ, nên cậu Schelderup hầu như làm việc một mình. Thầy hiệu trưởng cho rằng Leonard Schelderup rất dễ thương, có phần hơi bẽn lẽn. Tôi đồng ý với kết luận này, mặc dù nó chỉ giúp được chút ít. Kết thúc cuộc nói chuyện, thầy hiệu trưởng nói chắc chắn họ đã mất một tài năng lớn, và không may như thế có nghĩa là nhiều việc của trường đại học như học bổng tiến sĩ sẽ phải thông báo lần nữa.

Câu lạc bộ điền kinh là nơi tôi gọi cú điện tiếp theo, nhưng ở đây cũng không biết nhiều hơn. Chủ tịch câu lạc bộ tỏ ý đau buồn vì cái chết của Leonard Schelderup là một tổn thất lớn lao cho toàn đội bởi sắp đến cuộc thi chạy tiếp sức hằng năm Holmenkollen. Ông cho tôi số điện thoại của huấn luyện viên cho Leonard Schelderup đã nhiều năm nay.

Ngoài mẹ của người đã khuất, huấn luyện viên là người đầu tiên có vẻ thực sự nhớ tiếc cậu. Ông nói bằng giọng trìu mến rằng Leonard Schelderup không chỉ là một trong những tài năng lớn nhất ông từng gặp, mà còn là một trong những con người cao thượng nhất. Có sự trái ngược lớn lao giữa ý chí sắt đá, bản năng cạnh tranh trên đường đua với bản tính dịu dàng, chu đáo của cậu. Theo trí nhớ của huấn luyện viên, Leonard Schelderup chưa bao giờ từ chối khi câu lạc bộ yêu cầu cậu làm một việc gì đó. Trong vài năm gần đây, họ hiểu rằng tốt hơn hết là không yêu cầu nếu chưa báo trước. Họ thấy việc đó khiến Leonard khó chịu và họ sợ làm cậu mất tập trung khi thi đấu.

Huấn luyện viên đã gặp mẹ của Leonard Schelderup nhiều lần, cũng đã gặp mẹ kế và em gái của cậu vài lần, nhưng chỉ biết cha cậu qua các phương tiện truyền thông. Leonard sinh hoạt câu lạc bộ từ năm mười bốn tuổi, nhưng chỉ có mẹ lái xe đưa đón cậu trong những năm đầu tiên. Sau đó, khi mười sáu tuổi, Leonard bắt đầu phóng xe đạp rồi sau này khi tròn mười tám, cậu lái ô tô. Nhưng lúc nào cũng chỉ có một mình, theo như ông nhớ. Không chỉ trong câu lạc bộ mà nói chung, chưa ai thấy cậu từng có bạn gái. Nếu tôi muốn, họ sẽ cung cấp cho tôi tên và số điện thoại của một số đồng đội của Leonard, nhưng không chắc có người nào từng đến chơi nhà cậu.

Một trong những thành viên trẻ nhất của đội chạy tiếp sức đã gọi Leonard Schelderup là “chàng kỵ sĩ cô đơn”, hiển nhiên là lấy cảm hứng từ những cuốn sách viết về miền Tây hoang dã. Biệt hiệu đó được gắn như một biểu hiện trìu mến của sự kính trọng. Leonard là người luôn kín đáo, nhưng vẫn được biết đến vì xuất thân và sự giàu sang của gia đình. Huấn luyện viên nói thêm, trái ngược với con trai, cha cậu ấy bị bàn tán và tranh cãi rộng rãi.

Tôi hiểu ý ông ta. Tuy chưa lần nào đích thân xuất hiện ở đó, Magdalon Schelderup đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của con trai, kể cả trong giới điền kinh. Nhưng với họ, Leonard chỉ là “chàng kỵ sĩ cô đơn”, và rõ ràng không người nào thử khám phá những gì ẩn giấu sau tấm mặt nạ của người hùng trong lòng họ.

Mặt khác, huấn luyện viên đồng ý rằng trong những tháng gần đây, Leonard Schelderup đã có bước nhảy vọt. Ông cho rằng có lẽ một phần là do hiệu suất của cậu được tăng cường và một phần quyết định tới vị trí công việc của cậu. Tôi cảm ơn huấn luyện viên vì mọi thông tin của ông và hỏi tôi có thể gọi lại nếu cần không. Ông buồn bã đáp rằng tất nhiên tôi có thể gọi, nhưng chưa chắc ông giúp được gì thêm.

Đặt ống nghe xuống, tôi ngồi lặng lẽ trong văn phòng chốc lát, đắm chìm trong suy nghĩ. Ở mức độ đáng báo động, nhìn bề ngoài Leonard Schelderup không phải là người thiếu cá tính, song chắc chắn là người thiếu hẳn cuộc sống riêng tư. Với những người có quan hệ, không người nào cảm thấy cậu ác tâm, song đồng thời không ai - kể cả anh trai cậu - tiếc nhớ. Thực tế là Leonard Schelderup đã lủi thủi đi trên con đường cô đơn, xuyên qua các cư dân Oslo, từ căn hộ của cậu tới phòng làm việc, tới đường đua thể thao, chỉ bị tạm thời ngắt quãng vì những buổi họp mặt không ai mong muốn của gia đình. Dẫu cho cậu không sẵn lòng đi theo con đường cha cậu muốn, cuộc đời ngắn ngủi của cậu đã chịu ảnh hưởng của cha sâu sắc. Tôi nghĩ đến khái niệm người vệ tinh của Patricia, và thấy nó phù hợp khủng khiếp.

Xem ra không có mâu thuẫn nào bên ngoài gia đình để có người muốn Leonard Schelderup chết. Lúc này vị khách nữ hôm qua cũng như người đàn ông đến thăm cậu vài lần trong mấy tháng qua càng thêm bí ẩn và thú vị.

VIII

Ngôi nhà của ông bà Wendelboe ở Ski có vẻ đúng như tôi nghĩ. Rõ ràng nó nhỏ hơn Lâu đài Schelderup, nhưng vẫn lớn hơn mọi ngôi nhà khác trên phố và phần lớn các ngôi nhà ở Oslo. Chỉ có một chiếc ô tô đỗ bên ngoài nhà, nhưng có thể cũng là chiếc xe lớn nhất và đắt tiền nhất phố. Ngay lập tức tôi nhận ra chiếc Volvo trắng nhiều chỗ đã đỗ bên ngoài Lâu đài Schelderup. Xe mới được đánh bóng và bãi cỏ quanh nhà vừa được cắt tỉa gọn gàng.

Ngay tức khắc, tôi cảm thấy ở đây thoải mái hơn tại Lâu đài Schelderup. Petter Johannes Wendelboe tự ra mở cửa và dẫn tôi vào phòng khách. Mời tôi ngồi vào chiếc ghế thoải mái bên bàn ăn xong, ông nói sẽ đi tìm vợ. Tôi nói chỉ vài câu hỏi về thời chiến, và chúng tôi không cần phiền đến bà. Ông ta gật đầu và ngồi luôn xuống ghế đối diện.

- Anh chu đáo quá. Sự kiện bi thảm ấy đã khơi lại nhiều kỷ niệm cũ vẫn khiến cho nhà tôi rất khó chịu đựng, - ông nói với tôi.

Tôi liếc nhanh khắp phòng. Nó ấm cúng hơn phòng khách ở Lâu đài Schelderup nhiều. Một phần vì căn phòng này nhỏ hơn. Chỉ có tám cái ghế quanh bàn ăn. Tuy vậy sự khác biệt chính là ở những bức ảnh cả gia đình treo trên tường. Thực ra, ông Wendelboe không cười trong tấm ảnh nào, nhưng trong các ảnh chụp với con gái và các cháu gái đang ăn kem, nom ông đúng là một người ông như mọi người khác. Cảm giác nghiêm nghị luôn ở đó. Bức ảnh lớn nhất trên tường là bức đen-trắng chụp vợ chồng ông hồi trẻ cùng Ole Kristian Wiig. Bà Wendelboe một tay ôm chồng, tay kia ôm em trai, nhưng bà ngả hẳn về phía cậu em.

Ông dõi theo cái nhìn chăm chú của tôi và hắng giọng.

- Vợ tôi là người phụ nữ nhân hậu và đặc biệt thân thiết với cậu em. Sự kiện đó là một tổn thất lớn và ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời bà ấy.

Tôi nghĩ tổn thất này cũng tác động to lớn đến cuộc sống của Wendelboe, nhưng có lẽ ông thà chết còn hơn thừa nhận điều đó.

Những câu hỏi đầu tiên của tôi về các sự kiện gần đây được ông trả lời nhanh chóng. Ông đã nghe tin về cái chết của Leonard Schelderup qua radio. Nó khiến cho tình hình càng bi thảm hơn và là một cú đòn nữa với vợ ông. Cả ông Wendelboe lẫn vợ ông đều khẳng định không biết rõ Leonard Schelderup, nhưng họ thường xuyên gặp cậu từ khi cậu còn bé trong thời chiến tranh.

- Chúng tôi nói chuyện về việc đó nhiều lần. Cậu ta rõ ràng là một thanh niên rất tài năng nhưng hoàn toàn trái ngược với cha mình, - ông nhận xét.

- Nghe gần như một lời khen ngợi, - tôi đánh bạo nói.

Wendelboe mím chặt môi.

- Ờ, đúng và không. Họ khác biệt nhau vô cùng. Magdalon là một người mạnh mẽ nổi bật và thành công, nhưng cũng là người tàn nhẫn khác thường. Suốt một thời gian dài, chúng tôi nghĩ con trai ông ta có vẻ tử tế hơn nhiều nhưng lại cũng yếu đuối hơn.

Tôi gật đầu khích lệ ông nói tiếp. Ông ngập ngừng nhưng rồi tiếp tục.

- Tình cờ, vợ tôi và tôi ngồi trên khán đài khi Leonard giành huy chương vàng trong cuộc thi Vô địch Na Uy năm ngoái. Cháu ngoại lớn nhất của chúng tôi cũng tham gia, nhưng còn lâu mới thành công. Lúc đó chúng tôi đã bình luận rằng cuối cùng thì chắc hẳn Leonard đã thừa hưởng ý chí của cha mình. Vợ tôi gợi ý chúng tôi nên đợi Leonard ở bên ngoài lối vào sau lễ trao giải, để có thể chúc mừng cậu ấy. Bây giờ tôi rất mừng là chúng tôi đã làm việc đó, vì cậu ấy quá ư cảm kích.

Wendelboe không phải là người lắm lời, nhưng thật dễ tin lúc ông nói chuyện này. Tôi chợt hiểu ý của Leonard Schelderup khi nói đằng sau vẻ ngoài, ông Wendelboe ấm áp tình người hơn cha cậu.

Tuy vậy, Wendelboe cũng không giúp được nhiều. Cả ông ta và vợ đều chưa từng đến thăm nhà Leonard Schelderup. Tối hôm trước cả hai đều ở nhà. Ông Wendelboe đã gợi ý mời một cặp đến ăn tối, nhưng vợ ông không đồng ý, ông ta nói thêm, giọng châm biếm. Tất nhiên tôi thấy việc này có thể tin được, nhưng đồng thời cũng ghi lại rằng trên thực tế, ông bà Wendelboe không có bằng chứng ngoại phạm.

Tôi thấy dường như mắt Wendelboe lóe sáng ngay khi tôi đề nghị nói chuyện về thời chiến. Những câu trả lời của ông ta chính xác và tương đối điềm nhiên khi chúng tôi nói về nhóm Kháng chiến. Ông ta nhớ về những người trong nhóm đã chết khá khớp với các tài liệu lưu trữ đã viết. Hans Petter Nilsen được tìm thấy chết tại nhà ngày 12 tháng 5, còn Bjørn Varden ngày mồng 5 tháng Chín 1941. Ông giải thích trí nhớ tuyệt vời của mình rằng cái chết của bạn bè thời chiến không phải là thứ dễ có thể quên. Ngoài ra, sau này vợ chồng ông còn nói về chuyện đó nhiều lần. Nilsen sống một mình, không có anh chị em ruột hay cha mẹ còn sống. Người vợ trẻ của Varden tên là Mona, theo như họ biết thì vẫn sống tại địa chỉ cũ, ở 32B phố Grønne.

Tôi ghi lại thông tin này và chuyển ngay sang hỏi về thời điểm Magdalon Schelderup gia nhập nhóm. Theo ông Wendelboe, chuyện đó diễn ra khá bất ngờ vào mùa hè năm 1941: nói khác đi là vào giữa hai vụ giết người. Ban đầu, Wendelboe khá nghi ngờ và giả vờ không quen biết khi Schelderup liên hệ với mình. Họ đã học cùng để thi vào đại học và hai gia đình rất biết nhau, nhưng họ không phải là bạn thân. Sự việc em trai và em gái của Schelderup đều là Đảng viên NS chắc chắn không làm cho anh ta được tin cậy. Tuy nhiên, Schelderup là một người năng động, loại người họ đang cần, và Wendelboe tuy hơi miễn cưỡng song đã được Ole Kristian Wiig thuyết phục liên hệ lại với Schelderup, anh ta rõ là ngạc nhiên và nhanh chóng chứng tỏ mình đáng được tin cậy.

Chúng tôi ngồi nhìn nhau một lát. Wendelboe do dự khi tôi hỏi Schelderup đã chứng tỏ mình đáng được tin cậy bằng cách nào.

Tôi vội nói thêm rằng lẽ tất nhiên vụ này đã quá thời gian truy tố và tôi không cần bất cứ cái tên nào, nhưng phải biết được chuyện đã xảy ra. Nó có thể có ý nghĩa sống còn đối với cuộc điều tra án mạng và có thể mang lại ánh sáng mới cho các vụ cũ thời chiến tranh.

Wendelboe khẽ gật đầu cho câu trước và chậm hơn cho câu sau. Ông ngả người trên ghế và nói tiếp bằng giọng khẽ khàng:

- Đây là một cuộc thanh trừng. Một Đảng viên NS nhiều quyền lực và có quá nhiều quan hệ với quân Đức, nên chúng tôi nghĩ có thể là mối đe dọa cho chúng tôi và những người khác ở phe chính nghĩa. Hắn đã tự ý bắt giữ nhiều người, sau này một số người đã mất mạng hoặc tàn lụi sức khỏe trong các trại tù của Đức. Hắn không vợ, không con. Tôi không tiếc trận đánh ấy chỉ vẻn vẹn có một ngày, chỉ tiếc chúng tôi đã không trừ khử hắn từ trước. Chúng tôi đã bàn bạc việc đó từ trước khi Magdalon vào nhóm. Tôi để ý xem anh ta có phản đối không; hơn nữa, đây là người anh ta cùng học và có quan hệ làm ăn. Song chính Magdalon là người đề xướng chiến dịch, là người đầu tiên gợi ý vào lúc nào đó trong tháng Mười hai năm 1941. Tôi còn nhớ vụ đó bàn ở đây, dưới cái vỏ là bữa tiệc tối Giáng sinh.

- Còn chiến dịch thì sao?

Wendelboe lại ngập ngừng giây lát, rồi sau đó nói tiếp.

- Nó diễn ra vào mùa xuân, gần lễ Phục sinh năm 1942. Hắn bị bắn khi ra ngoài trượt tuyết. Tôi đã hứa không bao giờ tiết lộ ai dính dáng đến các trận đánh này.

- Nhưng có thể rất quan trọng, ý tôi là vai trò của Schelderup và vụ giết người của ông ta. Tôi muốn biết liệu Schelderup có dính líu trực tiếp không, và chỉ cần ông gật hoặc lắc đầu.

Wendelboe ngẫm nghĩ giây lát, rồi gật đầu cộc lốc.

- Ole Kristian Wiig?

Ông ta lại gật đầu.

- Hans Herlofsen?

Ông ta lắc đầu.

- Còn chính ông?

Ông gật đầu. Trong khoảnh khắc đó, tôi tin câu chuyện của ông và cảm thấy không cần nài ép ông hơn nữa. Chắc chắn đây không phải lúc. Thay vào đó, tôi nhanh chóng đổi đề tài và ném ra một trong những lá bài chủ mà Patricia đã trao cho tôi.

- Có lẽ mọi người đến các bữa tối Chủ nhật này vì người thì bị ép, người thì đang yêu thương một ai đó cũng đến dự tiệc, hay người muốn ăn, người muốn uống rượu, hoặc có người muốn lắng nghe người khác trò chuyện. Không ai có thể ép buộc ông tới đó nếu ông không muốn; ông là một người chồng chung thủy, ông không cần tới đó để ăn uống, và khi ở đó ông chẳng bao giờ hé môi. Vậy thì ông đến đó vì một lý do khác…

Wendelboe nhìn tôi, cái nhìn của ông càng cảnh giác hơn. Tôi cũng nghĩ bắt gặp một thoáng kính trọng.

- Ông tới đó để lắng nghe. Ông hy vọng nghe được gì về thời chiến tranh phải không?

Tôi sửng sốt thấy chiến lược của tôi có hiệu quả. Ông ta gật đầu lần nữa.

- Bí mật của những người bạn bị giết trong năm 1941 vẫn chưa được giải thích và giải quyết. Ngoài ra, còn một sự việc nữa thúc giục tôi tới đó, là sự kiện xảy ra trong Ngày Giải phóng.

Tôi đề nghị Wendelboe kể thêm về vụ án mạng được khẳng định song chưa hề được chứng minh kia. Một thoáng u ám lan khắp mặt ông trước khi ông trả lời.

- Arild Bratberg là người thiện ý dù yếu đuối. Lẽ ra chúng tôi không bao giờ nên nhận cậu ấy. Tôi chưa bao giờ tha thứ cho mình vì sai lầm chúng tôi đã phạm phải. Một thảm kịch như thế không dễ lường trước, nhưng sự liên quan dường như đủ rõ ràng. Rốt cuộc, cậu ta bị bắt gặp với khẩu súng bốc khói trong tay và bản giải trình hoàn toàn điên rồ về việc xảy ra. Thế nên, xét cho cùng, tôi có thể sống với nó.

- Nhưng bà nhà…

Ông ta gật đầu và khẽ thở dài. Cái nhìn đăm chiêu của ông bỗng rời khỏi tôi và chuyển lên bức tường.

- Tôi mong thời gian sẽ chữa lành các vết thương. Nhưng thay vào đó nó dường như càng tệ hơn khi các con rời khỏi nhà và bà ấy có thêm nhiều thời gian để nghiền ngẫm những ký ức khó quên. Tôi có thể làm tốt không cần đến những bữa tối của Magdalon Schelderup. Nhưng vợ tôi vẫn tiếp tục hy vọng và tôi đến đó với bà ấy, lắng nghe mọi thứ có thể cung cấp một câu trả lời. Xem ông ta có nói gì đó về cái chết của Ole Kristian, hoặc bà ta nói về những người khác.

Phải mất một lúc tôi mới hiểu ý Wendelboe.

- Ông nói bà ta là Magdalena?

Ông lại gật đầu.

- Bà ta có thể biết gì về họ?

Ông bật ho.

- Việc này nghe có vẻ lạ lùng. Ban đầu tất cả chúng tôi đều tưởng Ông hoàng Bóng tối là một người đàn ông. Nhưng nếu thực tế Ông hoàng Bóng tối là một phụ nữ, thì không thể không nghĩ rằng…

Tôi nhìn Petter Johannes Wendelboe với ánh mắt sắc sảo. Ông nhìn thẳng vào tôi không hề nao núng. Trong giây phút ấy, tôi cảm thấy đặc biệt thán phục ông, đến mức đáng sợ.

- Suốt từng ấy năm, chúng tôi đã hy vọng và tin rằng Đảng viên NS mà chúng tôi bắn chết vào mùa xuân 1942 chính là Ông hoàng Bóng tối. Sau đó không còn vụ giết người nào nữa. Magdalena Schelderup là một trong rất ít người đủ hiểu về chúng tôi để trở thành Ông hoàng Bóng tối. Hoặc bà ta có thể biết đó là ai. Dù sao đi nữa, chúng tôi vẫn lắng nghe những điều bà ta nói. Nhưng chẳng có gì mới, chí ít là trong chừng mực mà chúng tôi hoặc Hans Herlofsen ở gần đó. Mặt khác, trong bữa tối trước Magdalon đã nói một điều rất thú vị…

Ông ta dừng lại đột ngột, nhưng lại nói tiếp khi tôi nhìn ông, dò hỏi.

- Magdalon bỗng nhiên tuyên bố là trong những tháng gần đây, ông ta suy nghĩ về một số vấn đề trong quá khứ và hy vọng cuối cùng sẽ tìm ra một số lời giải. Chắc chắn với vợ tôi và tôi, lời giải thích hợp lý nhất là ám chỉ đến cuộc chiến và Ông hoàng Bóng tối.

Ông ta ngừng lại và mỉm cười khó hiểu. Rồi ông nói thêm:

- Tất nhiên là vợ chồng tôi hy vọng ông ấy nói thêm vào Chủ nhật này.

- Lúc đó ông có nhận thấy có người nào phản ứng không?

Ông ta lắc đầu.

- Câu đó hoàn toàn bất ngờ và nói ra một cách ngẫu nhiên. Chúng tôi không nhận ra bất cứ phản ứng nào từ Herlofsen hoặc bà vợ cũ của Schelderup, cả sau đó hoặc trong bữa ăn. Cả vợ tôi và tôi đều nhìn Magdalon trước, rồi nhìn em gái ông ta. Nom bà ấy cũng như những người kỳ cựu chúng tôi, lúc đầu ngạc nhiên, tiếp theo là căng thẳng. Rồi sau đó chẳng có gì nhiều để lượm lặt nữa.

- Sau này ông không hỏi Magdalon về việc ấy ư?

Ông ta lắc đầu.

- Không. Tôi hiểu có vẻ lạ lùng nhưng không thể nêu câu hỏi ngay lập tức và ngay tại chỗ với mười một người quanh bàn. Tôi biết Magdalon đủ rõ để sau này không hỏi lại. Tôi biết ông ta sẽ không trả lời và lẽ tất nhiên ông ta biết tôi sẽ không hỏi cũng vì lý do đó. Nếu Magdalon biết nhiều hơn về Ông hoàng Bóng tối và những sự việc khác trong thời chiến, ông ấy sẽ để tôi và những người khác biết vào lúc ông ấy thấy phù hợp.

- Chúng ta trở lại Ngày Giải phóng năm 1945. Nếu tôi hiểu đúng, bi kịch xảy ra trong nhà cựu thành viên NS đã bị thủ tiêu?

Wendelboe gật đầu, và một lần nữa tôi bắt gặp một thoáng thán phục trong mắt ông. Nhưng mất một lúc lâu trước khi tôi thu hết can đảm bám sát chuyện này, và lúc tôi làm thế, một lần nữa ông lại trong trạng thái đề phòng.

- Ông có nhớ hắn bị giết khi nào không?

Wendelboe gật đầu nhưng không nói gì.

- Trong một cuộc trượt tuyết vào mùa xuân năm 1942?

Ông ta lại gật, và nhún vai tán thưởng.

- Chính vì thế chúng tôi tới nhà hắn vào Ngày Giải phóng năm 1945. Chúng tôi hy vọng tìm thấy một số giấy tờ, vũ khí hoặc thứ gì đó xác nhận hắn là Ông hoàng Bóng tối và chịu trách nhiệm về cái chết của hai người bạn chúng tôi. Rốt cuộc chúng tôi có thể để vụ này dừng lại. Thay vào đó, cuộc thám hiểm kết thúc bi thảm, chúng tôi mất một người của mình, lần này là người chúng tôi ít nghĩ đến mất nhất.

- Thật dễ hiểu là những việc như thế này đã ảnh hưởng sâu sắc đến ông bà. Thử hình dung xem, sau nhiều năm, nếu bây giờ chúng tôi phát hiện ra điều gì đó liên can đến Magdalena Schelderup hoặc Magdalon Schelderup, đến bất kỳ vụ án mạng nào, ông sẽ phản ứng ra sao?

Lúc tôi ngước lên, tôi chỉ có thể ngăn mình lùi lại. Petter Johannes Wendelboe tự kiềm chế rất giỏi và vẫn ngồi trên ghế, mặt ông ngay trước mặt tôi và ông nói thì thào, khó khăn và nhỏ tiếng.

- Hiện nay chúng ta sống trong một đất nước tự do và nhà nước lập hiến, anh bạn trẻ ạ, không còn là trường hợp trong chiến tranh. Tôi sẽ gọi điện cho anh hoặc người nào đó trong ngành cảnh sát ngay lập tức. - Cái nhìn của ông bỗng trở nên soi mói và khắc nghiệt.

- Nhưng hai vụ án mạng đầu tiên đã hết thời gian truy tố, còn vụ thứ ba cũng sắp hết. Bởi vậy chúng ta hãy hình dung vì lý do này hoặc nhiều lý do chính thức khác, một vụ không thể nêu ra…

- Lúc đó tôi không biết sẽ làm gì. Nhưng chuyện đó không xảy ra.

Tôi gật đầu đồng tình. Trái ngược với con người Petter Johannes Wendelboe, trong trạng thái tâm sinh lý hiện tại của ông, không hề khơi gợi một ý tưởng hấp dẫn nào.

- Không người nào khẳng định là phải thế. Nhưng có khả năng là vợ chồng ông đã bàn bạc, đúng không? Rằng Magdalon Schelderup có thể làm gì đó, bằng cách nào đó với những người chết?

Ông ta gật đầu và vội trả lời.

- Chúng tôi không tin chuyện đó, nhưng cũng không dám loại trừ bất cứ điều gì. Các vụ đều khác thường và anh không bao giờ biết Magdalon có thể làm gì đâu.

- Magdalon là người cứng rắn đến tận cùng.

- Chúng tôi không biết cái gì có thể kết nối ông ta với những người đã chết và chúng tôi cũng không biết ai giết ông ta.

- Còn Arild Bratberg, người trong nhóm Kháng chiến không bình thường về tâm lý kia, ông có chạm mặt ông ta lần nào không?

Ông ta kiên quyết lắc đầu.

- Không bao giờ. Tôi đến phiên tòa sau chiến tranh có một ngày, và cậu ta là một hình ảnh thảm bại đến đau lòng. Nó chỉ củng cố niềm tin của tôi rằng chắc cậu ta đã giết em vợ tôi. Từ đó tôi không bao giờ gặp cậu ta và cũng không muốn gặp.

Ông nói câu này với sức thuyết phục mãnh liệt và tuyệt đối. Tôi tin ông và ông cảm nhận được điều đó. Lúc tôi cảm ơn ông đã giúp đỡ và vài phút sau đứng lên, chúng tôi bỗng thấy gần như bạn bè.

Một lần nữa, Wendelboe trở lại con người thoải mái và tự chủ bình thường khi tiễn tôi ra ngoài. Tôi thấy mến ông hơn lúc tôi đến. Nhưng tôi cũng có một ý niệm lờ mờ về một Petter Johannes Wendelboe khác. Một con người có thời quyết định cái sống và cái chết, rồi sau này bảo đảm rằng các quyết định đó đã hoàn thành. Chính trong khoảnh khắc đó tôi hiểu ý mọi người khi họ nói rằng Petter Johannes Wendelboe có lẽ là người duy nhất mà Magdalon Schelderup nể sợ. Đến cuối ngày, tôi không nghĩ Wendelboe giết Magdalon Schelderup hoặc làm bất cứ điều gì với cái chết của Leonard Schelderup. Nếu như tôi từng nghi ngờ trong một hoàn cảnh nhất định, ông ta có thể giết chết ai đó, thì lúc này tôi không còn ngờ nữa.

Chúng tôi bắt tay nhau trước cửa lớn. Cái bắt tay của ông ấm áp, nhưng tôi cũng ngạc nhiên vì sức mạnh của nó. Một lần nữa, ông nói rất cảm kích vì đã không làm phiền vợ ông và hy vọng những điều ông kể sẽ giúp ích được ít nhiều.

Lúc Wendelboe định mở khóa, tôi hiểu câu cuối cùng có thể có ý nghĩa.

- Ông có tình cờ biết tên người đàn ông mà Magdalena Schelderup đã đính hôn, người đã hủy hôn vào mùa thu năm 1940 không?

Ông dừng lại giữa chừng và đứng yên không nhúc nhích, nhìn tôi trong giây lát.

- Có. Có thời gian tôi biết rõ vị hôn phu của Magdalena Schelderup. Ông ta đã mất từ nhiều năm trước.

Tôi gật đầu, nhưng vẫn chưa hiểu mối quan hệ.

- Tôi vẫn muốn biết tên ông ta trước khi tôi đi.

Wendelboe gật đầu, và tôi ngạc nhiên thấy ông gần như khuây khỏa.

- Vị hôn phu của Magdalena Schelderup tên là Hans Petter Nilsen. Anh ta là một người tốt cực kỳ, xứng đáng với một người phụ nữ tốt hơn, - Petter Johannes Wendelboe đáp cụt ngủn.

Rồi ông mở cửa cho tôi. Bên ngoài, trên bậc thềm đằng trước, tôi nhận xét rằng có lẽ tôi nói chuyện với Mona Varden cũng bõ. Ông trả lời nhanh rằng ý tưởng hay đấy, nhưng có lẽ tôi nên cân nhắc việc nói chuyện thêm với Magdalena Schelderup trước thì hơn.

Tôi thừa nhận ý kiến này, nhưng không nhắc tới thực ra còn một người phụ nữ thứ ba mà tôi cần phải nói chuyện trước đã. Tôi rất muốn biết Patricia sẽ làm gì với mọi chuyện này.

IX

Trở lại phòng làm việc, tôi xem lại những phát hiện sơ bộ trong căn hộ của Leonard Schelderup. Bác sĩ pháp y tin chắc nguyên nhân tử vong là do một viên đạn bắn vào đầu, trong tầm rất gần và ít chắc chắn hơn về thời điểm tử vong, nhưng bác sĩ khẳng định chắc chắn 90% rằng phát súng không bắn trước 12 giờ rưỡi và 100% rằng không bắn trước nửa đêm. Chuyên gia đạn đạo học bổ sung viên đạn trong đầu Leonard Schelderup chắc chắn từ khẩu súng lục ổ quay tìm thấy nằm trên sàn hành lang.

Báo cáo về căn hộ hầu như không gây xúc động mạnh và không có gì đặc biệt. Không có dấu vân tay trên khẩu súng. Chi tiết này và vị trí khẩu súng trong một căn phòng khác nơi phát hiện xác loại trừ mọi giả thuyết nạn nhân tự tử.

Kiểm tra phòng khách và phòng ngủ cho thấy dấu vết hai bộ dấu vân tay. Một bộ đương nhiên thuộc về người đã chết, Leonard Schelderup. Bộ kia tìm thấy trên giường và sofa không thuộc về bất cứ ai trong chín nghi phạm đang tồn tại.

Thế là tôi phải tự thừa nhận rằng còn một người nữa, và giả thuyết của tôi là Synnøve Jensen đã đến thăm giường của Leonard Schelderup sụp đổ như trò chơi xếp nhà bằng giấy vậy. Không có hy vọng gì lớn chọc thủng phòng tuyến, tôi hỏi liệu có thể kiểm tra các phòng khác và bắt đầu so sánh các vân tay mới với những người đã đăng ký trong tài liệu lưu trữ của chúng tôi. Việc trước sẽ mất một ngày nữa, còn việc sau có thể lâu hơn.

Lúc đó chưa quá 3 giờ chiều. Muốn có thêm manh mối để lần theo vụ Leonard Schelderup, tôi chuyển sang những câu hỏi mà Patricia đã gợi ý về cha cậu.

Tìm ra bác sĩ của Magdalon Schelderup không đơn giản như tìm số điện thoại. Tôi gọi hai cuộc, mỗi cuộc dài hai phút trò chuyện với Sandra Schelderup. Tuy nhiên, nối đường dây với bác sĩ không hề dễ dàng. Lúc đầu, điện thoại bận tới mười phút, nhưng những rắc rối chỉ bắt đầu khi có người trả lời. Tôi mất ít nhất năm phút thuyết phục cô y tá siêu mô phạm rằng tôi đúng là một thanh tra cảnh sát. Sau đó thêm mười phút nữa thuyết phục cô ta rằng một cuộc điều tra án mạng phải được ưu tiên hơn cuộc hội ý với bệnh nhân, ngay cả khi bệnh nhân hơn bốn lăm tuổi và huyết áp cao hơn mức trung bình vài phần trăm.

Bản thân bác sĩ lại dễ chịu đến bất ngờ khi cuối cùng, ông ta cầm máy. Ông rất thiện chí và cung cấp nhiều tin tức đến mức tôi gần như được bù lại thời gian đã mất vì máy bận và vì cô y tá mô phạm kia. Ông là bác sĩ riêng của Magdalon Schelderup nhiều năm nay, chính xác là hai mươi mốt năm. Nói chung Schelderup khỏe mạnh cả thể chất lẫn tinh thần. Và một năm trước sức khỏe của ông ta gặp vấn đề. Chính xác là vào ngày 8 tháng Bảy 1968.

Bác sĩ ghi nhớ ngày tháng này phần vì Magdalon Schelderup là bệnh nhân nổi tiếng, phần vì đây là lần đầu tiên ông có một bệnh nhân lên cơn đau tim ngay trong phòng đợi. Y tá gọi điện cho bác sĩ khi phát hiện ra Schelderup ngồi gần như chết trên ghế trong phòng đợi, mắt nhắm nghiền, lẩm bẩm những từ không ai hiểu nổi. Ông ta nhanh chóng được sơ cứu và tính mạng không còn bị đe dọa. Theo nguyện vọng riêng, Schelderup đã về nhà sau vài giờ nằm viện. Tuy nhiên, cơn đau để lộ bệnh tim nghiêm trọng, có nghĩa là Schelderup không thể sống lâu hơn hai hoặc ba năm nữa, với nguy cơ trong vòng mười hai hoặc mười sáu tháng tiếp theo sẽ lên cơn đau tim mới, nghiêm trọng hơn nhiều.

Bác sĩ chưa từng thấy bệnh nhân nào tiếp nhận một tin xấu như thế với sự bình tĩnh lạ lùng như Magdalon Schelderup. Sau đó, ông ta còn đến kiểm tra định kỳ vài lần nữa, nhưng chưa bao giờ hỏi bất cứ câu gì hoặc tiết lộ cảm thấy ra sao về bệnh tình của mình. Schelderup không cho biết đã kể với ai về bệnh tim của mình, nhưng bác sĩ có cảm tưởng ông vẫn giữ kín tin đó.

Câu hỏi cuối cùng của tôi với vị bác sĩ sốt sắng kia là ông ta có nghe thấy Magdalon Schelderup nói gì trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê sau cơn đau tim không. Bác sĩ khẽ cười vui vẻ và nhận xét rằng đó chính là câu Magdalon Schelderup hỏi sau cơn đau vài giờ. Ông chỉ có thể kể với tôi rằng có tên “Synnøve” là từ nghe rõ nhất, với bất cứ người nào trong một mớ lộn xộn những từ lắp bắp khó hiểu. Schelderup đã nhận xét với nụ cười gần như đùa cợt rằng nói chung, có lẽ không có điều gì tốt đẹp hơn là nhắc tới cô thư ký hơn là tới vợ ông, nhưng chí ít cũng không tiết lộ bí mật lớn lao nào.

Tóm lại, một lần nữa Patricia đã đúng. Mùa hè năm 1968, một sự kiện đầy kịch tính đã xảy ra trong đời Magdalon Schelderup, chứng tỏ lời giải thích đáng tin là nguồn gốc bản di chúc đầu tiên của ông ta. Tuy vậy nói cho cùng, tôi vẫn còn chưa rõ bất cứ sự kiện đáng kể nào sâu xa hơn liên quan tới cái chết của ông vào tháng Năm 1969.

Những suy nghĩ về các vụ án từ thời chiến đột ngột bị cắt ngang vì một cú đập mạnh vào cửa. Một cảnh sát thở không ra hơi bước vào phòng và xúc động trông thấy thông báo vừa nhận một cú điện thoại từ Bộ Ngoại giao. Bộ trưởng ngoại giao Jonas Lykke sáng mai sẽ lên đường công cán ở Tây Âu, nhưng sẽ dành thời gian gặp tôi vào chiều nay nếu tôi có thể tới đó ngay bây giờ.

X

Bộ trưởng ngoại giao Jonas Lykke trông bé nhỏ hơn trên tivi, nhưng hầu như đúng như tôi trông đợi.

Có thể miêu tả người cựu binh Kháng chiến và thủ tướng Chính phủ là người béo tốt với mái tóc hoa râm, nhưng ánh nhìn chăm chú của ông vẫn mãnh liệt, giọng nói vẫn sôi nổi và cái bắt tay mạnh mẽ. Ngồi sau chiếc bàn lớn trong văn phòng, Jonas Lykke toát ra vẻ bình tĩnh và thái độ đường hoàng của một bộ trưởng ngoại giao cần có.

Trước mặt ông là hai chồng giấy tờ cao. Tôi ngạc nhiên thấy cả hai có vẻ như sắp có khả năng được ủy quyền trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới hơn là các chính sách ngoại giao hiện hành.

- Tôi phải nói rằng tôi không hoàn toàn tin mình có ích cho cuộc điều tra án mạng mà anh đang phụ trách. Nhưng tất nhiên tôi sẽ làm mọi việc có thể để giúp đỡ, - lát sau ông nói bằng thổ ngữ đặc biệt của ông.

Tôi hiểu ngụ ý thời gian của bộ trưởng ngoại giao có hạn và ngay lập tức đưa ra một danh sách câu hỏi ứng tác tại chỗ.

Trả lời câu hỏi đầu tiên về các phiên tòa sau chiến tranh xử tội phản quốc, bộ trưởng ngoại giao xin lỗi là không may, ông không biết gì về chúng. Những năm cuối cùng của cuộc chiến, ông ở Thụy Điển. Ông không hay biết về các chiến dịch do các nhóm Kháng chiến tiến hành trong thời gian đó, và ông chỉ nghe về “bi kịch trong Ngày Giải phóng” sau khi sự kiện đã xảy ra. Từ những điều ông đã đọc, có gì đó rất kỳ quặc về các tình huống quanh cái chết của Ole Kristian Wiig. Nhưng về phương diện pháp lý, vụ này không có gì mới mẻ và nhanh chóng bị lu mờ vì những phiên tòa chống lại thế lực Đức Quốc xã.

Lykke ngồi trầm ngâm một lúc lâu sau khi nói câu này nhưng rồi nhanh chóng trở lại hiện tại. Ông kết thúc bằng giọng từ tốn rằng thật không may ông không giúp tôi được nhiều nhặn gì về thời chiến. Sau này ông đã gặp Magdalon Schelderup và Petter Johannes Wendelboe vài lần, nhưng không đặc biệt biết rõ người nào và chưa bao giờ thảo luận với họ về những sự việc diễn ra trong chiến tranh. Có thời, Schelderup được chú ý hơn trong Chiến tranh Lạnh và những kế hoạch đối phó với sự lan tràn của chính quyền Xô Viết. Ngay cả sau những năm 1950, hình như ông ta vẫn là người thích chống lại những viễn cảnh có thể xảy ra trong tương lai hơn là nhắc lại quá khứ.

Jonas Lykke trở nên sôi nổi trông thấy và cung cấp nhiều thông tin khi đổi sang chủ đề nhóm nghị sĩ bảo thủ sau chiến tranh. Tôi tự nhủ trên thực tế ông muốn tỏ ra mình vẫn là một chính khách kỳ cựu. Ông nhận xét với tiếng cười khẽ và khô khan rằng Magdalon Schelderup được coi là “một người thông minh khác thường, sáng suốt lạ lùng, bảo thủ hiếm có và quá ư hoài nghi, kể cả với một Đảng viên Bảo thủ của Quốc hội Akershus hay Oslo!”.

Tôi đánh bạo hỏi vì sao lúc đó sự nghiệp của Schelderup trên chính trường quốc gia lại ngắn ngủi đến thế. Cười dịu dàng, Lykke trả lời rằng thực ra, vấn đề chính là tầm nhìn sáng suốt của Magdalon Schelderup. Hiển nhiên là ông ta thích ở một vị trí quyền lực hơn và đủ thực tế để thấy rằng phải mất nhiều năm nữa, Đảng Bảo thủ mới thành lập được chính phủ. Năm 1953 khi rút khỏi chính trường, Schelderup mới năm mươi tư tuổi và quyết định tập trung vào đế chế thương mại quá ư thành công của mình.

Đã thành một thông lệ là khi Magdalon Schelderup có mặt, không được vô cớ nhắc đến chiến tranh. Nhưng vụ án từ năm 1945 thỉnh thoảng vẫn được nhắc đến khi ông ta không ở đó. Lykke nói thêm với một tiếng cười khô khan rằng các Đảng viên Đảng Bảo thủ có thói quen giải quyết các vấn đề nhạy cảm theo cách này. Tuy vậy ông không nhớ vấn đề thời chiến được nêu ra có liên quan đến việc tái đề cử Schelderup trong năm 1953 không. Hồi đó, chắc chắn Lykke không bao giờ đề cập đến việc ấy.

Tiếp tục giọng điệu vui vẻ và thẳng thắn này bộ trưởng ngoại giao nói thêm ông không tiếc khi Schelderup quyết định không ở lại trong cuộc tổng tuyển cử.

- Chúng tôi cần một liên minh cánh hữu, và Schelderup không phải là người xúc tiến việc đó. Ông ta quá bảo thủ với những người cánh tả, và quá thành thị với những người thuộc Đảng Trung tâm. Còn các Đảng viên Đảng Dân chủ Cơ đốc thì kịch liệt phản đối các cuộc ly dị của ông ấy.

Tôi hiểu ý ông và phải miễn cưỡng đồng tình với Jonas Lykke rằng những câu hỏi về vụ giết người là không thích hợp ở đây. Là một chính khách, Magdalon Schelderup được tôn trọng nhưng không được yêu quý, ngay cả trong Đảng của mình. Ông hầu như tự nguyện có những quan điểm chính trị tả khuynh, và đã bị đào thải vì những sự kiện thời chiến tranh. Tôi nghĩ rằng Jonas Lykke biết nhiều điều quan trọng hơn về chiến tranh, và nếu có thì tôi cũng không thể lấy được từ ông.

Thế nên tôi thân ái cảm ơn bộ trưởng vì đã dành thời gian cho tôi. Ông bắt tay và vui vẻ chúc tôi may mắn với “cuộc điều tra án mạng mùa xuân lẫn cuộc bầu cử mùa thu”.

Rõ ràng là chiếc ghế cuối cùng ở Oslo hoàn toàn chưa chắc chắn và có thể mang tính quyết định, theo như nội dung trong tờ giấy trên cùng ở chồng bên trái mà tôi đã liếc thấy khi rời phòng. Jonas Lykke đã quay lại tập trung vào đống giấy tờ khi tôi khép cánh cửa sau lưng mình.

XI

Những tờ báo đã vàng ố từ thời chiến tranh đang đợi trên bàn lúc tôi về đến văn phòng.

Theo các tờ báo này, chủ nhân của ngôi nhà mà Magdalon Schelderup và Ole Kristian Wiig tới thăm vào Ngày Giải phóng năm 1945 là Đảng viên NS có tên Jens Rune Meier.

Tôi nhanh chóng tìm ra vụ này trong tài liệu lưu trữ các vụ án mạng chưa giải quyết trong năm 1942, từ đó cho thấy Wendelboe rất đáng tin cậy. Jens Rune Meier bị bắn chết khi ra ngoài trượt tuyết vào đầu lễ Phục sinh năm 1942. Vụ này rõ ràng được lên kế hoạch chặt chẽ. Cảnh sát đã tìm thấy nhiều dấu vết của thủ phạm, rõ ràng rất quen với tuyến đường của hắn và nằm đợi sau những lùm cây thấp trên quãng đường vắng vẻ hơn. Có nhiều vết trượt tuyết trở lại bãi xe, và mặc dù có nhiều nguồn lực đáng kể cung cấp cho vụ này, nhưng chứng cứ tìm thấy vẫn không đủ thuyết phục.

Vào lúc chết, Jens Rune Meier chưa lấy vợ. Hắn là một luật sư ba mươi hai tuổi sống tại Kolsåc, là công dân Na Uy xuất thân từ một gia đình trung lưu tử tế, nhưng ông nội hắn là người Đức, vì thế hắn mang họ Đức. Có lẽ các lực lượng chiếm đóng và NS hy vọng vào hắn rất nhiều và nếu tin đồn là thật, thì có thể hắn đã được chấm làm bộ trưởng trong chính phủ Quisling.

Jens Rune Meier trừng trừng nhìn tôi từ bức ảnh đen-trắng trong hộ chiếu đề ngày tháng vào mùa thu 1941, và từ bài tường thuật về vụ tấn công trên tờ Fritt Folk, tờ báo của NS. Tôi ngồi đó vài phút, nhìn thẳng vào mắt hắn mà vẫn không tìm thấy câu trả lời hắn có phải là Ông hoàng Bóng tối hay không. Sau giải phóng năm 1945, không khẩu súng nào tìm thấy giống khẩu súng lục Walther cỡ nòng 9x19 ly bị mất. Tôi ngồi đó thêm lúc nữa, ngẫm nghĩ xem hôm nay nó có thể ở đâu, lúc viết một báo cáo ngắn gửi sếp. Bản báo cáo không phải là hay nhất tôi từng viết, cả về ngôn từ lẫn nội dung. Tâm trí tôi rối bời vì những điều Patricia có thể suy luận từ thông tin mới về vụ này. Cuối cùng, tôi để báo cáo sang một bên và lái xe tới gặp cô sớm hơn thỏa thuận mười lăm phút.

XII

Patricia lắng nghe trong lúc chúng tôi ăn món khai vị, tôi kể chi tiết về Leonard Schelderup được tìm thấy ra sao và những tình huống xung quanh cái chết của cậu. Vài lần, cô thốt ra tiếng “ừm ừm” phản đối. Rõ ràng là không ám chỉ món súp rau ngon lành.

Cô chỉ thực sự ổn định sau khi món chính dọn lên bàn, và rốt cuộc tôi kể về chuyến thăm Petter Johannes Wendelboe của mình. Lúc đó, cô hết sức thích thú đến nỗi vài phút sau mới động đến món thịt thăn trên đĩa. Tôi vừa mong đợi vừa hy vọng cô quan tâm hơn đến Magdalena Schelderup và vị hôn phu thời chiến của bà. Song Patricia bị cuốn hút vào trình tự cái chết của vị hôn phu và các sự kiện khác xảy ra trong nhóm.

- Hans Petter Nilsen bị giết ngày 12 tháng Năm và Bjørn Varden ngày 5 tháng Chín 1941. Magdalon Schelderup gia nhập nhóm Kháng chiến vào mùa hè năm 1941, và Đảng viên NS, Jens Rune Meier bị xử tử vào lễ Phục sinh 1942, sau gợi ý của Schelderup ngay trước Giáng sinh 1941… Mô hình này ấn tượng đến mức tôi không thể tin là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Tôi gật đầu và vắt óc xem mô hình này ấn tượng ở chỗ nào.

- Anh đã hỏi Wendelboe xem ông ta có nhớ ngày tháng Magdalon Schelderup gia nhập nhóm không? Vì đó là một trong hai câu hỏi then chốt tôi cần được trả lời trước khi suy nghĩ tiếp.

Tôi lắc đầu tạ lỗi. Phản ứng của Patricia tức thời đến ngạc nhiên. Cô nhấc điện thoại trên bàn, và đưa ống nghe cho tôi.

- Xin anh gọi cho Petter Johannes Wendelboe ngay bây giờ! Việc này rất quan trọng và có thể xác định rõ giả thuyết của tôi đúng hay sai. Nếu giả thuyết của tôi đúng, chúng ta sẽ tiến một bước nhảy vọt.

Tôi không chắc việc gọi cho Wendelboe vào lúc buổi tối này, nên cố lần lữa, câu giờ.

- Ngày tháng Magdalon Schelderup gia nhập nhóm sẽ khẳng định giả thuyết của cô ư?

Patricia không hề chớp mắt và trả lời ngay lập tức.

- Tôi có thể lấy bất kỳ một ngày mà Magdalon Schelderup gia nhập phong trào Kháng chiến là ngày 23, 24 hoặc 25 tháng Sáu 1941. Nhưng bất cứ thời gian nào trong vòng nửa tháng cũng khớp. Nếu Wendelboe nói Magdalon Schelderup tham gia sớm hơn, thì giả thuyết đầy lôi cuốn của tôi sẽ sụp đổ tan tành.

Tôi chẳng hiểu gì hết. Chẳng hiểu tí tẹo nào. Cả loại giả thuyết có thể xây dựng quanh trinh tự các sự kiện lẫn những ngày 23, 24 hoặc 25 tháng Sáu ấy nhảy từ đâu ra. Tôi năn nỉ nhìn Patricia nhưng cô tiếp tục nhìn tôi chằm chặp, không hề đụng đến món ăn. Lúc tôi tiếp tục nói quanh, Patricia làm một động tác bất thường nhất. Cô quay số theo trí nhớ rồi đưa nhanh ống nghe cho tôi. Tôi vừa kịp áp ống nghe vào tai đã nghe thấy một giọng nam đầy quyền thế:

- Anh vừa gọi đến nhà Wendelboe, tôi có thể giúp gì đây?

Patricia ngả người qua bàn, lắng nghe xem ông ta nói gì.

Tôi lắp bắp xin lỗi vì lại làm phiến ông, nhưng cam đoan rằng tôi chỉ hỏi một câu ngắn gọn, thẳng thắn và quan trọng về Thế chiến II, nếu ông có thể nhớ ra ngày tháng Magdalon Schelderup liên hệ với ông trong năm 1941 xin phục vụ không.

- Ngày 24 tháng Sáu.

Ngày tháng ấy réo vang trong tai tôi. Tôi phải đưa tay kia nâng ống nghe lên để nó không rơi vì sửng sốt. Qua ống điện thoại, tôi nhìn thấy Patricia đắc thắng khua hai bàn tay trên đầu, không nói, giống một cầu thủ bóng đá vừa ghi bàn.

- Ông có chắc chắn tuyệt đối không?

Tôi có thể nghe thấy hàm ý ngờ vực trong giọng mình, nhưng không hề nghi ngờ chút nào trong giọng ông ta.

- Chắc tuyệt đối. Tôi hiểu anh thấy khó tin. Nhưng 24 tháng Sáu là ngày sinh của cậu em vợ Ole Kristian của tôi, và tôi đang trên đường từ chỗ cậu ấy về nhà thì Magdalon chặn lại. Còn chuyện xảy ra sau này, chúng tôi luôn cảm thấy là một sự trùng hợp kỳ quái.

Tôi phải đồng ý với ông thôi. Tôi cảm ơn ông và đặt ống nghe xuống. Lúc này Patricia mới khoái trá ăn, nụ cười mãn nguyện nở trên môi.

- Lần này đầu bếp mua được miếng thịt thăn ngon tuyệt. Tất nhiên là gặp may thôi, - cô nhận xét sau khi ăn vài miếng.

Tôi tặng cô một cái nhìn giận dỗi và thán phục sâu sắc.

- Ít ra cô cũng đáng bị thiêu như một mụ phù thủy thời Trung cổ, Patricia ạ. Làm thế quái nào mà cô biết điều đó? Ngày 24 tháng Sáu năm 1941 có ý nghĩa quái quỷ gì, ngoài là ngày sinh của Ole Kristian Wiig?

Patricia thích thú, chậm rãi nuốt một miếng thịt to trước khi trả lời. Rồi cô cầm cuốn sách viết về những trận đánh trong Thế chiến I và II khỏi chồng sách, đặt lên bàn giữa chúng tôi.

- May mắn là chúng ta không nói về thời Trung cổ, mà về Thế chiến II. Chẳng có gì đặc biệt xảy ra trong ngày 23, 24 và 25 tháng Sáu, nhưng anh biết đấy, nó làm cho sự việc xảy ra ngày 22 tháng Sáu thêm bi thảm. Từ khóa: Chiến dịch Barbarossa.

Tôi thầm rủa mình ở trường đã ít chú ý đến môn lịch sử và sốt ruột giục cô nói tiếp.

- Đức xâm chiếm Liên Xô là cuộc tấn công quân sự lớn nhất trong lịch sử thế giới. Ba triệu lính xếp hàng hành quân dài gần một ngàn tám trăm dặm. Stalin và các tướng tá bị bất ngờ. Bộ máy quân sự Đức dường như bất khả xâm phạm. Song một số người thông minh và nhìn xa trông rộng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới đã nhận thức rất nhanh việc sắp xảy ra - quân Đức sẽ bị cắt rời thành nhiều mảnh, một thất bại to lớn sẽ bắt đầu khi đối phó với dân số đông đúc của Liên Xô và những mùa đông khắc nghiệt. Một trong những người đó là Magdalon Schelderup ở Gulleråsen, Na Uy, và khi cơ hội xuất hiện sau đó vài ngày, đã xin gia nhập vào phe mà Magdalon nghĩ là sẽ chiến thắng.

Patricia ăn vài miếng nữa, cô liếm môi trông rất mãn nguyện lúc nói tiếp.

- Cán cân lực lượng trong chiến tranh rõ ràng nghiêng về phe Đồng minh khi Mỹ buộc phải tham chiến sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu cảng vào 7 tháng Mười hai 1941. Một lần nữa, thành công về kỹ thuật quân sự cũng là một sai lầm to lớn của phe Trục. Vài ngày sau, Schelderup liên hệ với Wendelboe lần nữa, lần này đề xuất rằng ông ta và những người khác có thể trừ khử một thành viên NS mà họ nghi là Ông hoàng Bóng tối. Trình tự của cuộc chiến và các hành động của Schelderup ở Oslo thật rõ rệt.

- Nhưng Jens Rune Meier có thật là Ông hoàng Bóng tối không?

Patricia lắc đầu nhưng tận dụng thời gian ăn một miếng thịt nữa rồi mới trả lời. Sự ngon miệng của cô chắc chắn chẳng có gì sai.

- Chúng ta khó xác định điều đó. Nhưng nhiều mảnh ghép sẽ rơi đúng chỗ nếu Jens Rune Meier chết, không phải vì hắn là Ông hoàng Bóng tối mà vì hắn biết Ông hoàng Bóng tối là ai. Nhất là khi giả thuyết của tôi ai là Ông hoàng Bóng tối đúng.

Patricia nhai ngon lành trong một phút rồi ngước nhìn tôi. Tôi vẫn lúng túng vì sự thay đổi bất ngờ trong kịch bản đến mức chỉ có thể hỏi theo giả thuyết của cô, thì hồi đó ai đã giết Hans Petter Nilsen và Bjørn Varden. Câu trả lời như một cú đấm vào bụng.

- Đương nhiên là Magdalon Schelderup. Anh quên ăn kìa, - Patricia nhận xét. Lúc ấy, tôi như tỉnh khỏi cơn mê mụ.

- Lập luận thật xuất sắc. Cô đang vượt qua chính mình. Nhưng chúng ta không thể chắc chắn điều này.

Patricia tư lự gật đầu.

- Không. Nhưng chúng ta bắt đầu biết khá rõ về một Magdalon Schelderup xuất sắc, sau cái chết của ông ta. Như em gái ông ta nói, ông ta suy nghĩ như một con bạc hơn là một người bình thường. Ông ta đổi chiều nhanh hơn thay áo khoác. Nhưng nếu chiều hướng không thay đổi, ông ta sẽ nhanh chóng trở mặt. Và hiển nhiên đó chính là việc ông ta đã làm trong năm 1941. Tuy nhiên vẫn chưa rõ vì lý do gì mà ông ta giết chết hai thành viên của phong trào Kháng chiến. Có thể còn nhiều cách giải thích khác.

- Ví dụ như Magdalena Schelderup là Ông hoàng Bóng tối? - Tôi hỏi. Đây là một giả thuyết tôi thấy khó gạt bỏ, nhất là có thông tin vị hôn phu thời chiến đã bỏ bà là một trong những người bị giết. Nó gợi đến ý nghĩ bắt giữ bà ta vì hai vụ án mạng cũ và hai vụ mới sẽ thắt chặt mọi sợi dây lỏng lẻo trong vụ án đặc biệt bất thường này.

Patricia gật.

- Ví dụ là đúng. Hoặc Herlofsen. Hoặc Wendelboe. Thậm chí bà Wendelboe hoặc Ingrid, vợ hồi đó của Magdalon Schelderup. Cứ ghi chép bất cứ thứ gì anh thấy thú vị khi nói chuyện với Mona Varden và những người khác vào ngày mai. Nhưng trong khi chờ đợi, Magdalon Schelderup ở đầu danh sách nghi phạm của hai vụ giết người. Tôi sẽ nhân đôi những thứ kỳ dị lên ông ta. Rõ ràng ông ta biết còn những ai trong nhóm khi liên hệ với Wendelboe trên đường từ kỷ niệm sinh nhật của Wiig về nhà. Một lần nữa, trình tự ăn khớp rất khả nghi. Trong mùa xuân 1941, phía Đức rất lạc quan nhưng kết quả vẫn chưa rõ. Tôi có cảm giác rõ ràng rằng theo quan điểm của một con bạc, Magdalon Schelderup tham gia vào một chiến dịch bí mật cho quân Đức. Mùa thu 1941, cuộc tấn công Liên Xô vẫn có vẻ hứa hẹn bất ngờ với quân Đức. Có thể vì thế đã gợi mở Schelderup thực hiện vụ giết người nữa và kể với đầu mối liên lạc rằng mình tham gia nhóm như một đặc vụ hai mang.

Tôi đồng ý với lập luận này nhưng vẫn thấy khó chấp nhận Magdalon Schelderup chính là Ông hoàng Bóng tối. Chúng tôi thỏa thuận để mở lựa chọn, đề phòng có thêm thông tin.

- Còn sự việc bí ẩn xảy ra bất ngờ vào Ngày Giải phóng thì sao? - Tôi hỏi.

Patricia đặt dao dĩa xuống và ngả người qua bàn.

- Đó cũng là một điều thú vị ngày càng tăng. Có thể liên quan với các vụ giết người khác diễn ra trong nhà tên NS đã bị trừ khử. Có một chi tiết nổi bật mà cảnh sát hình như không để ý. Nhưng chúng ta hãy đợi đến ngày mai cùng các chuyện khác từ thời chiến. Trong khi đó, cố tìm ra không chỉ Mona Varden mà cả thành viên Kháng chiến rối loạn tâm thần Arild Bratberg, người bị cho là đã giết Ole Kristian Wiig. Nếu anh tìm ra Bratberg và nếu ông ta không quá điên để trả lời một số câu hỏi, anh hãy hỏi những câu đã hỏi Wendelboe: liệu trong những năm vừa qua, Wendelboe hoặc có ai khác mà chúng ta biết đã liên lạc với ông ta không. Có năm người quanh bàn đã ở đó trong thời chiến và tất cả đều có động cơ rõ ràng để giết người nếu họ ngờ Magdalon Schelderup là tội phạm thời chiến, dù đúng hay không. Bởi vậy hãy cố tìm ra ông Arild Bratberg này.

Tôi hứa sẽ làm việc đó.

- Còn vụ giết Leonard Schelderup thì sao?

Patricia thở một hơi thật dài.

- Thật xấu hổ khi nêu nó ra lúc này, khi chúng ta đang có một thời gian dễ chịu, nhưng đó là việc không thể tránh được. Tôi nghĩ chúng ta đang giải quyết gần xong điều bí ẩn của chuyện diễn ra trong thời chiến và vụ sát hại Magdalon Schelderup hơn là điều bí ẩn mới trong cái chết của Leonard Schelderup. Tôi có vài giả thuyết ai là người đến thăm anh ta trong đêm cuối cùng, nhưng vẫn còn thiếu thông tin để xác nhận hay bác bỏ. Miêu tả của nhân chứng là bà già hàng xóm tuy quan trọng nhưng đồng thời cũng đầy những lỗ hổng khi nói đến các con số, thời gian và giới tính nên không dựa được nhiều vào đó. Người duy nhất chúng ta biết chắc chắn đã ở đó và có chìa khóa là mẹ của nạn nhân, nhưng cũng có thể gạt bỏ ngay lập tức. Cả về mặt lý trí lẫn tình cảm, bà ta không thể giết đứa con trai duy nhất của mình, nhất là khi có thể kiếm thêm nhiều triệu krone nếu giết cậu ta từ một năm trước. Thật khó hình dung ra động cơ để giết Leonard, đặc biệt khi cả bà mẹ và cô con gái ở Lâu đài Schelderup đều có bằng chứng ngoại phạm. Còn Synnøve Jensen và Fredrik Schelderup, cả hai đều quá sung sướng với khoản tiền thừa kế, nên không thể muốn giết ai đó để mong có thêm vài triệu nữa.

- Có lẽ là Synnøve Jensen, nếu cô ta và Leonard có quan hệ tình ái và cùng mưu mô giết cha cậu ta, - tôi đánh bạo nói.

Patricia thốt ra một tiếng thở dài nặng nề.

- Nhưng rõ ràng là họ không làm, - cô nói.

- Mặc dù tôi chưa rõ lý do, nhưng có thể kẻ sát nhân là người ngoài gia đình, không liên quan gì đến cái chết của Magdalon Schelderup? Những sợi tóc và dấu vân tay cho thấy có người khác đã ở đó gần đây. Và vị khách bí ẩn chưa rõ danh tính, - tôi bổ sung.

Patricia tươi tỉnh hẳn, cô cười to, tiếng cười không hẳn đồng cảm. Sau đó, cô mỉm cười dè dặt.

- Lẽ ra tôi không nên cười, vì giết người là việc nghiêm trọng. Lẽ tất nhiên người không chỉ ở trong căn hộ mà còn ở trên giường là người ngoài. Tôi chưa biết là ai, nhưng tôi biết chuyện đã xảy ra. Hơn nữa, tôi còn biết anh có thể bắt giữ vị khách bí ẩn này nếu muốn. Tuy vậy, không ai liên quan trực tiếp đến vụ giết người. Nhưng nói chuyện với người để lại dấu vân tay và tóc trong căn hộ ngày hôm qua cũng thú vị ra phết.

Tôi đăm đăm nhìn Patricia như bị thôi miên và háo hức gật đầu. Bằng một động tác có thể coi là nhún vai, cô cầm cuốn sổ tay lên và viết một văn bản ngắn, nội dung như sau: “Cảnh sát yêu cầu người đã đến thăm nhà của Leonard Schelderup đã qua đời tại Skøyen, Oslo vào khoảng giữa 10 giờ và nửa đêm Chủ nhật 12 tháng Năm, liên hệ ngay với Đồn Cảnh sát Oslo càng sớm càng tốt. Người này không hề bị nghi ngờ liên quan tới cái chết của anh ta, nhưng phải loại bỏ khỏi vụ điều tra.”

- Hãy yêu cầu đọc to thông báo này trên radio vào ngày mai, và tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu sau đó anh không nghe tin từ người nói trên khá sớm. Người này nhất định theo dõi tin tức rất kỹ.

Tôi nhìn Patricia với thái độ hoài nghi và trầm ngâm đưa ngón tay vuốt ve câu cuối.

- Nhưng, Patricia thân mến ơi, người đến thăm nhà Leonard Schelderup hôm qua tất nhiên sẽ không liên hệ với chúng ta nếu hắn ta hoặc ả ta tham gia giết người, mặc chúng ta nghĩ gì. Điều trái ngược dễ xảy ra hơn. Người đó sẽ không liên hệ với chúng ta vì sợ bị nghi ngờ dính líu đến vụ giết người. Có thể vì sợ bị tai tiếng công khai. - Lúc nói câu sau, đầu óc tôi bắt đầu sáng ra. - Vì chúng ta đang nói về người tình nữ bí mật nào đó, đúng không?

Patricia thở dài.

- Tôi nghĩ tình hình sẽ sáng tỏ với bất cứ người nào thông minh dưới bốn mươi tuổi. Nhưng rõ ràng không phải vụ này. Người tình nữ bí mật hoặc đại loại thế chắc có diện mạo nói chung chấp nhận được. Nhưng thực ra người đó chỉ gặp vận rủi mà thôi.

Tôi không biết chắc phải làm gì với tuổi tác hoặc sự may rủi, nhưng gật đầu đồng tình và coi như chúng tôi đang nói về một người tình. Leonard Schelderup đã gặp người phụ nữ đủ thú vị này như thế nào nhỉ.

- Nhưng sao cô có thể chắc chắn rằng người này, người đã để lại bằng chứng có mặt trong căn hộ hôm qua, không giết Leonard Schelderup?

Patricia lại thở dài.

- Về mặt lý thuyết thì đây là điều có thể. Nhưng chính lý do Leonard Schelderup không muốn cảnh sát bảo vệ cho thấy rõ ràng anh ta đang mong người này tới thăm, và muốn dấn tới như dự định. Leonard không thể làm thế nếu người đó có thể có động cơ giết anh ta. Lẽ tất nhiên có thể nhầm lẫn. Nếu giả thuyết là một người ngoài không liên quan tới Lâu đài Schelderup đứng vững, không phóng đại, thật khó giải thích cách người này xoay xở để lấy khẩu súng lục ổ quay khỏi giá súng tại Lâu đài Schelderup.

Tôi biết điều đó, chỉ quên bẵng, hoặc tôi mong thế. May thay, Patricia đang mạch nói và nhanh chóng tiếp tục.

- Có thứ làm anh vui lên đây: trên thực tế, cuộc điều tra có thể khám phá ra một liên minh tội phạm. Nhưng nếu vậy, nó sẽ không kết nối với vụ giết người, và không phải thứ mà anh hoặc bất cứ ai trong đồn cảnh sát muốn theo đuổi đến cùng qua các phiên tòa trong tình huống cụ thể. Nếu chúng ta trở lại với những sự việc được quan tâm lớn hơn như vụ án mạng chẳng hạn, thứ nổi bật nhất trong vụ việc là vũ khí giết người, - cô nói thêm ngay lập tức.

Tôi cảm thấy bối rối nhưng vẫn cố phản đối yếu ớt.

- Nhưng chắc đó là bằng chứng rõ ràng nhất? Chính cô vừa nói khẩu súng lục ổ quay tìm thấy ở hiện trường gây án là vũ khí giết người và đó là thứ mà có người đã lấy từ Lâu đài Schelderup?

Patricia gật.

- Cho đến nay mọi việc đều ổn. Nhưng thế quái nào mà kẻ sát nhân lại để khẩu súng cạnh cửa ra vào? Nếu anh cho tôi một lý do đáng tin, tôi gần như hứa chắc chắn tìm ra thủ phạm trong vòng hai mươi tư giờ.

Không may là tôi không thể. Tôi đã không chú ý nhiều đến vị trí của khẩu súng, cho đến lúc Patricia nhắc tới, trong khi cố nhiên là cô đã nhận ra.

- Vụ này tuyệt nhiên không phải vì tình cảm nồng nàn. Dường như hung thủ đã lấy cắp khẩu súng từ Lâu đài Schelderup với ý định bắn Leonard Schelderup. Dĩ nhiên hắn có thể khôn ngoan mang vũ khí giết người đi, tránh để lại bất cứ manh mối nào. Hoặc có thể để vũ khí cạnh xác Leonard Schelderup, tạo ra khả năng là một vụ tự tử. Nhưng thế quái nào mà hung thủ lại mang khẩu súng ra khỏi phòng và để lại cạnh cửa ra vào? Nếu trong lúc hết sức đãng trí, hắn quên để khẩu súng lại và chỉ nhận ra lúc tới cửa trước, việc hợp lý nhất là trở lại và để nó cạnh cái xác. Tất nhiên ở đây còn vài động cơ có thể, người thừa kế này, kia muốn tăng phần được chia hoặc một kẻ báo thù đã giết Magdalon Schelderup, bây giờ bắt đầu tàn sát đến các con ông ta. Nhưng không có lựa chọn nào cho bất kỳ lý do để lại vũ khí giết người tại một nơi đặc biệt như thế. Bởi vậy tôi hoàn toàn không có manh mối nào về vụ giết Leonard Schelderup.

Đúng lúc đó, cô hầu vào phòng và Patricia im ngay.

- Xin lỗi, nhưng cô là Beate hay Benedikte? - Tôi hỏi lúc cô hầu bưng món tráng miệng tới gần. Lẽ ra tôi không nên hỏi câu đó. Cô ta nhìn Patricia ra ý nhờ trả lời hộ.

- Cô ấy nhất định là Beate rồi. Tôi có thể nói thêm, cô ấy là người duy nhất anh gặp ở đây hôm nay, vì nếu Benedikte ở đây, anh sẽ không thể nào bảo được họ tách ra đâu.

Patricia thở dài và lắc đầu bực tức, trong lúc mặt Beate tái nhợt và nom cô như muốn độn thổ hoặc thăng thiên. Lẽ tất nhiên tôi không biết làm gì hơn là hỏi có chuyện gì xảy ra với Benedikte. Cả câu này nữa, tôi cũng không nên hỏi. Ngay lập tức, Patricia biến thành một cô gái lắm lời, khá là tự mãn và khó mà chịu nổi.

- Ờ, anh có tin là lúc này cái người khờ khạo ấy đang xoay xở làm gì không? Mới đây, cô ta đã để cho anh chàng bạn trai ngốc nghếch làm cho có thai và bây giờ đang bận cho việc chuẩn bị sinh nở và những hậu quả sau đó còn kéo dài hết mùa hè. Cả Beate và tôi đều phải chịu đựng gánh nặng đó, vì Beate ngày nào cũng phải làm việc đến hết hè, còn tôi cũng bị ảnh hưởng không nhỏ!

Đôi khi, tôi thực sự không biết Patricia nói đùa hay thật. Như lúc này chẳng hạn. Tôi ngồi đó, đợi tiếng cười không bao giờ đến. Patricia trấn tĩnh lại và xin lỗi vì cơn bột phát của mình. Nhưng nom cô vẫn tức giận hơn là tự coi thường mình lúc cô nói thêm:

- Mọi thứ này rất bất tiện cho tôi trước mùa hè. Tôi không bao giờ chịu nổi bọn trẻ con, kể cả khi chỉ có một mình. Chỉ số IQ quá thể thực sự không phải là vấn đề trong gia đình ấy. Chúng ta cứ hy vọng Beate khôn hơn chị cô ấy tuy cô ta chẳng biết IQ là gì.

Mặt Beate càng tái nhợt hơn trước và cô vội vã đi ra ngay khi thu dọn xong bát đĩa.

Nhiều lần tôi tự hỏi Patricia có đáng sợ không, nhưng biết cô có thể khó chịu thực sự. Và chắc chắn đây là trường hợp đó. Nhưng trong giai đoạn then chốt của một cuộc điều tra án mạng, nêu ra chuyện này có lẽ là không khôn khéo. Thế nên tôi coi chi tiết này như một ví dụ nữa cho việc Patricia có thể coi mình là trung tâm, cô ấy trở nên dễ tổn thương biết chừng nào khi trật tự trong gia đình cô bị đe dọa. Muốn sáng tỏ tình hình nhanh hết mức có thể, tôi vội hỏi vì sao cô biết đến thuộc lòng số điện thoại của Wendelboe.

- Tôi nhớ số của tất cả những người liên quan. Nhưng anh đừng ngại, nhất định tôi sẽ để lại mọi mối liên hệ trực tiếp cho anh. Tôi luôn tìm ra cách dễ nhớ các con số và có thể lưu số trong đầu cũng là việc rất có ích.

Một lần nữa, tôi phải đồng ý với cô.

XIII

Khoảng 9 giờ, tôi trở lại đồn cảnh sát để viết cho xong báo cáo. Sau đó, tôi viết lại gợi ý của Patricia cho một bản tin của cảnh sát. Thiếu các phát hiện mới, tôi không thể nghĩ ra các biện pháp khác để giải quyết vụ Leonard Schelderup. Với tôi, ai có thể là nghi phạm giết Leonard Schelderup và làm thế nào thực hiện như dự định vẫn là điều bí ẩn. Mặc dù tôi không coi trọng vị trí của vũ khí giết người như Patricia, song tôi phải thừa nhận đây là một thứ gây hoang mang nữa trong phạm vi một bí mật lớn hơn.

Bản tin của cảnh sát mà Patricia viết được tiếp âm qua điện thoại tới phát thanh viên quốc gia, và họ hứa sẽ đọc trong bản tin buổi sáng. Tôi vẫn có phần hoài nghi liệu vị khách chưa rõ danh tính của Leonard Schelderup có tự nguyện liên hệ với chúng tôi không, nhưng thấy chẳng có lý do gì mà không thử.

Tổng đài thông báo với tôi rằng báo chí tỏ ra quan tâm tới cái chết của Leonard Schelderup hơn hẳn cái chết của cha cậu. Cả tổ thời sự lẫn tổ thể thao đều đưa tin về vụ này. Tôi viết vội một thông cáo báo chí xác nhận Leonard Schelderup được tìm thấy bị bắn chết tại nhà riêng và cảnh sát vẫn giả thuyết rằng có thể nó liên quan trực tiếp tới cái chết của người cha hai ngày trước. Tôi cũng để lại tin nhắn muốn nhận được hồ sơ điều tra dân số về Arild Bratberg và Mona Varden càng sớm càng tốt vào ngày mai.

Cuối cùng, tôi lái xe về nhà khoảng 10 giờ. Thứ Ba, 13 tháng Năm 1969 là một ngày vất vả và đòi hỏi nhiều cố gắng. Sau khi xem bài tường thuật ngắn về cái chết của Leonard Schelderup trong bản tin buổi tối, tôi đi nằm với ý nghĩ lại thêm một cuộc điều tra án mạng nữa so với lúc đầu ngày. Dù vậy đêm ấy tôi ngủ với niềm tin đang lớn lên rằng vụ này sẽ được giải quyết trong vòng vài ngày.

Vì lý do nào đó, tôi thiếp đi với hình ảnh hai cô gái cứ chập chờn trong tâm trí. Chẳng có gì ngạc nhiên, một người là Patricia Louise Borchmann, còn người kia là Maria Irene Schelderup. Tôi khó chịu vì cả hai động cơ có thể chấp nhận cho các vụ án mạng của nhà Schelderup mà Patricia nói đến đều tạo thành nguy cơ cho cuộc sống của Maria Irene.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hans olav lahlum