Nguy Cơ Risk - Khoa Học Và Chính Trị Về Nỗi Sợ Hãi

Lượt đọc: 256 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TỘI PHẠM VÀ NHỮNG NGỘ NHẬN

“Những con yêu râu xanh đang theo dõi con cái chúng ta từ trong bóng tối”. Đó là lời cảnh báo của Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Alberto Gonzales. “Chúng nằm chờ đợi, nghiên cứu, lập kế hoạch giăng bẫy và tấn công những đứa trẻ vô tội”.

Đó là bài phát biểu vào tháng 02 năm 2007 trước các học viên của Chương trình Huấn luyện An toàn Trẻ em do Trung tâm Quốc gia về Trẻ em Mất tích và Bị lạm dụng tổ chức. Vị bộ trưởng cũng nói rằng: “Chúng ta có trách nhiệm về mặt thực thi pháp luật cũng như với tư cách là những người lớn trước hết phải tìm ra những con yêu râu xanh. Đưa chúng đến với công lý trước khi chúng túm được con mồi - đó chính là con cái chúng ta. Tại buổi huấn luyện này, các bạn sẽ biết cách làm thế nào để truy đuổi chúng, ngăn chặn cuộc săn đuổi tàn ác của chúng. Chúng ta sẽ cùng nhau làm cho chúng phải cảm thấy chính mình đang bị săn đuổi. Vì tất cả chúng ta đều mong muốn và hành động để bảo vệ trẻ em thoát khỏi những cặp mắt mờ ám, những cuộc rình mò tinh vi và sự nhẫn tâm khủng khiếp mà chúng gây ra”. Trong nền văn hóa phương Tây hiện đại không nhân vật nào đáng bị sỉ vả hơn một gã đàn ông - một kẻ săn lùng, lạm dụng tình dục và thậm chí còn giết hại những đứa trẻ. Trong các tờ báo lá cải, hắn ta được gọi là “con quỷ”, “kẻ suy đồi” hay một “yêu râu xanh”. Một dòng tít trên tờ Lancashire Evening Post còn dùng “Con dã thú đã bị nhốt lại”. Tờ báo lá cải của Anh Daily Star còn cảnh báo “Những kẻ suy đồi đang hoành hành ở các trường học”. Nỗi khiếp sợ đang lan tràn và quá sâu sắc đến nỗi thậm chí những tờ báo nghiêm túc của Mỹ vốn thường thận trọng không dùng những từ ngữ định kiến cũng đã phải gọi những kẻ xâm phạm tình dục là “những con yêu râu xanh”. Các chính khách đã tỏ ra có sự chuyển biến khi hứa hẹn sẽ coi việc trừ khử những con yêu đang lẩn khuất này là trọng tâm trong chiến dịch tranh cử của mình. Hắn còn tồi tệ hơn những kẻ buôn bán ma tuý, kẻ sát nhân hay thậm chí là những kẻ khủng bố. Hắn hiện thân cho quĩ dữ, những thứ chỉ có trong ác mộng. Vào tháng 01 năm 2007, Anderson Cooper, người dẫn nổi tiếng của chương trình Anderson Cooper 360 trên CNN đã nhấn mạnh và dùng công thức thường thấy trong báo chí để giới thiệu một chương trình đặc biệt kéo dài hàng giờ của mình. “Mọi bậc phụ huynh đều có một nỗi sợ hãi là con cái mình bị bắt cóc. Tất nhiên không đứa trẻ nào có thể miễn dịch với chuyện này”. Tâm điểm trong chương trình của Cooper là câu chuyện về Ben Ownby và Shawn Hornbeck, hai cậu bé ở Missouri. Lúc mới 11 tuổi Hornbeck đã bị bắt cóc khi đang ngồi trên xe đạp. Bốn năm sau, cậu bé Ownby 13 tuổi cũng bị bắt ở bến xe buýt. Nhờ sự khéo léo, cảnh sát đã tìm ra Ownbby ngay sau đó. Cả hai cậu bé đều bị Michael Devlin bắt cóc, một người đàn ông tưởng là bình thường khiến chúng ta “phải kinh sợ nhớ rằng những đồng nghiệp và người hàng xóm mà mình nghĩ là đã biết rõ cũng có thể là một con quỷ”, theo lời của Cooper. CNN không phải là một kênh truyền hình rẻ tiền và với nhan đề “Bị bắt cóc: Trẻ em mất tích và được tìm thấy”, chương trình này đã khá dè dặt khi thể hiện một vấn đề vốn gây nhiều kinh hãi. Còn có các cuộc phỏng vấn cha mẹ của Hornbeck, một nhân viên cũ của Devlin và một nhà tâm lý giải thích tại sao đứa trẻ bị bắt cóc lại không chạy thoát ngay lúc đầu. Họ cũng bàn xem làm sao các “nghệ sĩ” pháp y “đoán tuổi” từ các bức ảnh của bọn trẻ. Nhưng chủ yếu là những câu chuyện đáng thương về những đứa trẻ bị mất tích và những ông bố bà mẹ đau khổ. “Lúc bốn giờ xe buýt tới và chúng tôi còn nghe thấy”. “Thế mà nó không bao giờ còn được đi lại ở đó nữa”, một bà mẹ bị mất con gái 20 năm trước đây. Một bà mẹ khác nhớ lại “Chúng tôi đang ở nhà thì thằng bé muốn đạp xe đi chơi loanh quanh. Lúc đó khoảng 2h30. Tôi đứng ở cửa nhìn nó đạp xe xuống phố. Và đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy nó”.

Cooper nhận xét “Đây là những chuyện có thể làm các bậc phụ huynh phải lo lắng bật dậy lúc nửa đêm. Đã đến lúc dạy cho con bạn cách kháng cự khi gặp phải một kẻ bắt cóc. Những lời khuyên từ một chuyên gia có thể giúp cứu sống một đứa trẻ”.

Theo lời khuyên của “chuyên gia bảo vệ gia đình Bob Stuber”, cần nói với trẻ em rằng khi có người đi ô tô bám theo thì chúng nên chạy theo hướng ngược lại để kéo dài thời gian trong khi gã kia phải quay đầu xe. Anh cũng khuyên với trẻ em rằng nếu có người cố túm lấy chúng từ trên xe đạp (đúng như một “kịch bản thường thấy”) thì chúng nên cố bám chặt lấy xe đạp để bọn bắt cóc thấy cồng kềnh và không dễ đút gọn vào trong xe.

Cooper hỏi “Đối với các bậc phụ huynh, thật là ác mộng khi nghĩ rằng con mình đang bị ném vào một chiếc thùng xe. Nhưng nếu chuyện đó xảy ra thì chúng có thể làm được gì?”

Stuber đáp “Các bạn biết đấy, có rất nhiều cách hành động trong thùng xe. Bạn có thể quẫy đạp và la hét. Nhưng sẽ không có ai nghe thấy và nhìn thấy bạn. Nhưng một thứ có tác dụng ở đây. Hãy giật đứt dây phanh hoặc đèn sau. Giờ bạn có thể dạy một đứa trẻ ba bốn tuổi làm việc này thế nào. Bạn giật thật mạnh làm chúng đứt ra. Rồi cảnh sát sẽ chú ý đến, thật ra có đến 50% khả năng cảnh sát sẽ để ý đến chiếc xe, không phải vì có bạn ở trong đó mà vì nó bị mất phanh hoặc đèn sau. Và họ sẽ có thể nghe thấy và tới cứu bạn”.

Cooper cám ơn vị khách mời và kết thúc buổi phỏng vấn với nhận định rằng “tất cả chúng ta đều mong cho con cái không bao giờ phải dùng đến những lời khuyên này, nhưng có chuẩn bị trước vẫn hơn”.

Và như thế, một tiếng đồng hồ kinh hoàng đối với các bậc phụ huynh đã kết thúc. Nhưng không hề có một lời nào nhắc đến khả năng xảy ra chuyện đó.

Tất nhiên Cooper đã đúng khi nói ngay lúc bắt đầu chương trình rằng “không đứa trẻ nào được miễn dịch” nhưng nói rằng một điều gì đó có thể xảy ra cũng gần như vô nghĩa. Quan trọng là điều đó có khả năng xảy ra đến mức nào. Về điểm này, chắc chắn Trực giác sẽ có ấn tượng mạnh: Sau khi xem xong loạt ví dụ đáng sợ đó, Trực giác sẽ dùng Quy luật Điển hình để kết luận rằng có nhiều khả năng xảy ra loại tội ác này. Hơn nữa, những tội ác này lại được ẩn dấu khiến ai xem chương trình cũng sẽ thấy vô cùng khiếp sợ và thương tâm, điều này cũng sẽ khiến Trực giác dùng Quy luật Tốt-Xấu đi đến kết luận rằng khả năng xảy ra kiểu tấn công thế này là rất cao.

Cũng có thể, thậm chí là có khả năng vì ấn tượng cảm xúc quá mạnh mẽ đến nỗi chỉ còn những suy nghĩ: Thật kinh khủng! Tôi phải bảo vệ các con mình. Còn Lý trí thì sẽ chẳng có lý do gì để can thiệp và thay đổi kết luận của Trực giác vì nó chẳng có thông tin gì để đánh giá đúng về nguy cơ.

Hay đúng hơn là gần như không có thông tin. Những chương trình truyền hình kiểu này vẫn thường thế, chỉ có một vài con số xuất hiện trên màn hình một cách chớp nhoáng trước khi chuyển sang mục quảng cáo. Cooper cũng chẳng nói gì đến chúng nên những con số này rất dễ bị bỏ qua. Tuy nhiên có những người vô tình đọc được rằng “trong số ước tính 115 trẻ em bị “bắt cóc điển hình” mỗi năm, 40% bị sát hại, 60% được tìm lại, 4% không tìm thấy”.

Tại sao những con số này khi cộng lại lớn hơn 100% thì không ai giải thích, cũng như thuật ngữ khó hiểu “bắt cóc điển hình”. Tuy nhiên nếu chúng có được giải thích thì khán giả cũng chẳng rút ra thêm điều gì. Còn quá ít những con số giúp chúng ta hiểu được những khả năng có thể. Và dù có những số liệu thì chúng lại gặp phải những câu chuyện sinh động và kinh sợ về những đứa trẻ bị bắt cóc và giết chết. Ném những mảnh số liệu đó vào cơn bão cảm xúc thì chúng sẽ bị thổi bay đi như những hạt cát.

Vậy thì số liệu thực sự là thế nào? Trong những năm 1980, một trong những làn sóng đầu tiên gây kinh hoàng về nạn bắt cóc trẻ em đã tràn qua nước Mỹ dù không hề có những số liệu chính xác. Các quan chức, các nhà hoạt động và các phóng viên liên tục nói rằng mỗi năm có khoảng 50.000 đến 75.000 trẻ em phải rời xa vòng tay cha mẹ nhưng không ai biết họ lấy những số liệu này từ đâu. Giống như việc người ta nói rằng 50.000 con yêu râu xanh đang rình mò trên mạng Internet, dường như đó là sự phán đoán của ai đó và được nhắc đi nhắc lại như một điều có thật cho đến khi không còn ai biết nguyên gốc ở đâu nữa. Cuối cùng, do lo ngại ngày một gia tăng đối với sự bình an của trẻ em, Quốc hội đã yêu cầu một cơ quan liên bang tiến hành một nghiên cứu liên quan và báo cáo về con số trẻ em bị mất tích. Báo cáo đầu tiên như vậy, được viết tắt là NISMART (Nghiên cứu quốc gia về các trường hợp trẻ em bị mất tích, bắt cóc, bỏ nhà và lang thang), đã đưa tin về các trường hợp xảy ra trong năm 1988. Báo cáo thứ hai nghiên cứu về năm 1999.

Báo cáo thứ hai cho biết ước tính 797.500 người dưới 18 tuổi bị mất tích vì nhiều lý do khác nhau. Nghiên cứu đã chia nhỏ các con số và cho thấy nhóm chiếm tỉ lệ lớn nhất là bỏ nhà đi. Một nhóm chiếm tỉ lệ lớn nữa liên quan đến hơn 200.000 trường hợp “bắt cóc trong gia đình” - thường là một người bố hoặc mẹ đã li dị đã cố giữ con mình lâu hơn quyết định của toà. Cũng có 58.200 vụ “bắt cóc ngoài gia đình”. Có vẻ như bị người lạ mang đi nhưng không phải. Thực ra có rất nhiều kiểu bắt cóc khác nhau, trong đó có cả trường hợp một cô bé 17 tuổi bị người yêu cũ nhốt trong một chiếc xe.

Để có con số tương ứng với các kiểu tấn công từ trong bóng tối của yêu râu xanh khiến các bậc cha mẹ hoảng sợ, NISMART đã tạo ra một nhóm được gọi là “bắt cóc điển hình”: Một người lạ hoặc ít quen biết bắt hoặc nhốt một đứa trẻ qua đêm, đưa chúng đi xa 50 dặm và giam giữ chúng để lấy tiền chuộc hoặc để bắt giữ hay giết chúng. NISMART ước tính mỗi năm có tổng cộng khoảng 115 vụ bắt cóc điển hình. Nếu chỉ gồm trẻ bị bắt cóc dưới 14 tuổi giống như Ben Ownby và Shawn Hornbeck thì con số tương đương là 90.

Để nhìn nhận đúng về các con số này, hãy nhớ rằng ở Mỹ có khoảng 70 triệu trẻ em. Chỉ với 115 trường hợp trẻ dưới 18 tuổi bị người lạ bắt cóc thì nguy cơ đối với bất kì đứa trẻ nào ở Mỹ là khoảng 0.00016%, hay 1/608.696 trẻ. Đối với trẻ 14 tuổi trở xuống, con số này chỉ khác một chút. Có khoảng 59 triệu trẻ ở độ tuổi này nên tỉ lệ rủi ro là 0.00015%, hay là 1/655.555 trẻ.

Để dễ đối chiếu, hãy xem xét tình hình ở bể bơi. Năm 2003, có tổng số 285 trẻ dưới 14 tuổi bị chết đuối ở bể bơi cho nên nguy cơ trẻ bị chết đuối ở đây là 1/245.614 trẻ, cao gấp 2,5 lần nguy cơ bị người lạ mặt bắt cóc. Cũng trong năm 2003 có 2.408 trẻ dưới 14 tuổi bị chết do tai nạn xe cộ, tức xác suất là 1/29.070. Như vậy, một đứa trẻ sẽ có nguy cơ bị chết do tai nạn còn cao hơn 26 lần so với bị người lạ bắt cóc.

Số liệu khác nhau tuỳ từng nước nhưng dù ở đâu thì khả năng một đứa trẻ bị người lạ chộp được là rất nhỏ. Ở Anh, một báo cáo của Bộ Nội vụ cho biết “Có 59 trường hợp những kẻ lạ mặt đã bắt cóc được một hoặc nhiều đứa trẻ dẫn đến tổng cộng 68 nạn nhân”. Với 11,4 triệu trẻ dưới 16 tuổi, điều này tương đương với tỉ lệ rủi ro là 1/167.647. (Hãy lưu ý cách xác định và tính toán các con số khác nhau giữa Anh và Mỹ cho nên không thể so sánh trực tiếp và không thể bỏ qua sự khác biệt này).

Ở Canada, Marlene Dalley thuộc Dịch vụ cứu trợ trẻ em mất tích quốc gia đã cẩn thận tìm kiếm những dữ liệu của cảnh sát trong hai năm 2000 và 2001 và nhận ra tổng số vụ trẻ em bị “người lạ” (kể cả hàng xóm và bạn bè của bố) bắt cóc là 5. Nếu chỉ tính những kẻ thực sự lạ mặt thì chính xác trong cả hai năm mới có một vụ. Ở Canada có khoảng 2,9 triệu trẻ bằng hoặc dưới 14 tuổi cho nên nguy cơ hàng năm đối với các trẻ em này là 1/5,8 triệu.

Về phần kết của những câu chuyện kinh khủng đó, các con số thoáng hiện lên trên CNN thực ra cũng gần chính xác. Theo các con số đã được làm tròn (cho nên cộng vào mới hơn 100%) của NISMART, 57% trẻ bị người lạ bắt cóc theo kịch bản điển hình đã được sống sót trở về trong khi 40% bị sát hại và 4% không được tìm thấy. Một chi tiết quan trọng không được nhắc đến trong chương trình đó là 9/10 vụ bắt cóc đã được giải quyết gọn trong vòng 24 giờ.

Có con bị kẻ lạ mặt bắt cóc rồi trả lại đã đáng sợ rồi nhưng ác mộng kinh khủng nhất là con mình bị bắt đi và sát hại. Theo NISMART, mỗi năm kịch bản ác mộng đó xảy ra đối với khoảng 50 trẻ ở Mỹ. Tức là 50/70 triệu trẻ em dưới 18 tuổi. Do đó nguy cơ trẻ em bị người lạ bắt cóc và giết chết hoặc không được thả về mỗi năm là 0.00007% hay 1/1,4 triệu trẻ.

Các nhà quản lý nguy cơ dùng một thuật ngữ gọi là de minimis (thiểu số) để mô tả một nguy cơ quá nhỏ nên có thể coi như là 0. Nguy cơ thế nào được coi là nhỏ thì còn tuỳ, nhưng 1/1.000.000 thì chắc chắn là thiểu số.

Những con số này thể hiện điều gì. Thứ nhất là đa số trẻ không bị bắt cóc. Thứ hai là đa số trẻ bị bắt cóc không phải do người lạ. Thứ ba là đa số trẻ bị người lạ bắt cóc thường không rơi vào cảnh ngộ như trong kịch bản điển hình mà các bậc cha mẹ phải hốt hoảng. Thứ tư là số vụ bắt cóc điển hình là quá nhỏ nên khả năng xảy ra với một đứa trẻ gần như là nhỏ đến mức không có gì để nói. Và cuối cùng, nếu có chuyện một đứa trẻ quá không may (đến mức khó tin) bị một con yêu râu xanh bắt đi thì vẫn có nhiều khả năng sống sót và trở về nhà trong vòng không đến một ngày.

Đây là điều mà Anderson Cooper không nói. Thực tế nó còn khác hẳn với những điều anh ta nói. Những dữ kiện chính không hề được nhắc đến, nhưng chương trình này cứ giới thiệu về các vụ bắt cóc hết vụ này đến vụ khác trong những hoàn cảnh đáng sợ nhất. Và trong hầu hết các vụ thì đứa trẻ đã bị bắt giữ hàng tháng hoặc hàng năm và có khi còn mất tích luôn.

Vấn đề ở đây không phải là ở Anderson Cooper mà đó là cách đưa tin của báo chí về các vụ bắt cóc trẻ em. Một đứa trẻ không bị bắt cóc thì không phải là tin tức. Và các vụ cha mẹ bắt cóc con mình thường bị bỏ qua trừ khi có một tình tiết khác thường nào đó như bạo hành chẳng hạn. Nhưng chuyện yêu râu xanh bắt cóc trẻ em luôn là một câu chuyện hấp dẫn. Uwe Kolbig, một người Đức 42 tuổi có tiền sử lạm dụng tình dục trẻ em, đã được đưa tin trên toàn thế giới khi hắn ta bắt cóc, cưỡng dâm và sát hại một cậu bé 9 tuổi vào tháng 02 năm 2007. Một dòng tít ở Úc viết “Con quỷ và miếng mồi”. Vụ việc này gây xúc động mạnh nhờ một đoạn băng từ camera bảo vệ ở một bến xe điện ngầm ở Leipzig chiếu cảnh Kolbig đang cười đùa với cậu bé. Ảnh chụp lại một cảnh trong đoạn phim được đăng kèm trên tất cả các bài báo và cảnh Kolbig cười nhăn nhở đã xuất hiện trên các chương trình truyền hình quốc gia ở Mỹ, Canada, Ailen, Anh và châu Âu.

Không cần phải có kiến thức tường tận về tâm lý học mới có thể hiểu được tác động của câu chuyện về Kolbig đối với người xem. Họ cảm thấy sợ hãi và tức giận, những cảm xúc khiến Trực giác đi đến kết luận rằng đây là một nguy cơ thực sự nghiêm trọng. Tất nhiên đúng ra chỉ là một tội ác đơn lẻ ở Đức chẳng liên quan nhiều đến sự an toàn của những đứa trẻ ở các nước khác và các châu lục khác hay kể cả ở Đức, nhưng kết luận đúng đắn này có thể sẽ bị đánh bật bởi hàng loạt cảm xúc tạo ra từ những hình ảnh đáng sợ đó.

Vậy thì có thể hiểu được các vụ người lạ bắt cóc đã tạo ra một trong những điều điên cuồng nhất của báo chí. Khi Holly Wells và Jessica Chapman biến mất vào tháng 08 năm 2002, báo chí Anh chẳng nói về điều gì khác cho đến khi Ian Huntley, kẻ sát hại các cô bé này, bị bắt ba tuần sau đó. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, mười tờ báo quốc gia đã đăng 598 bài về vụ này. Thậm chí đã có một chấn động lớn hơn sau khi xuất hiện vụ bắt cóc cô bé Elizabeth Smart con một gia đình trung lưu ở Utah vào tháng 06 năm 2002. Liền trong nhiều tuần và nhiều tháng, các chương trình truyền hình như Larry King(1) Live trên CNN đều nói về vụ việc này từ mọi góc cạnh. Quá lo ngại về tình hình các vụ bắt cóc, báo chí đã ưu ái quá nhiều cho những bài báo dù chỉ nghe hơi giống trường hợp của Smart nên không tránh khỏi dẫn đến những vụ việc đó xuất hiện ngày càng nhiều - một mối giàng buộc dư luận thường thấy. Trên Fox News, Bill O’Reilly(2) cũng tuyên bố năm 2002 là “một mùa hè kinh sợ đối với mọi trẻ em ở Mỹ”. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew, các vụ bắt cóc đã vượt lên cuộc chiến tranh Iraq sắp xảy ra để trở thành câu chuyện được theo dõi nhiều thứ tư của năm 2002, và trong 5 người Mỹ thì có 4 người nói họ theo dõi “rất sát sao” (49%) hoặc “khá sát sao” (30%) những vụ việc này. Tháng 05 năm 2007, sự biến mất của cô bé ba tuổi người Anh Madeleine McCann khi đang cùng bố mẹ đi nghỉ ở Bồ Đào Nha khiến cho báo chí không chỉ ở Anh mà toàn bộ thế giới phương Tây đăng tải rầm rộ, ảnh cô bé còn xuất hiện trên bìa tạp chí People (Con người) ra ngày 28 tháng 05.

Tất nhiên truyền thông giải trí không chỉ giới hạn ở những vụ việc có thật mà sự cởi mở đó đã cho phép sách vở, truyền hình, phim ảnh lấy những vụ bắt cóc khác thường làm trung tâm của các câu chuyện đủ loại thượng vàng hạ cám. Cuốn tiểu thuyết ăn khách nhất The Lovely Bones (Bộ xương đáng yêu) bắt đầu với việc một cô bé kể cho người đọc rằng mình bị giết vào ngày 06 tháng 12 năm 1973, “trước khi trẻ con đủ loại dân tộc, giới tính bắt đầu xuất hiện trên các hộp sữa thì mọi người vẫn tin rằng những điều như thế không thể xảy ra”.

Tất cả các chính khách, các tờ báo, bản tin tối, tiểu thuyết, phim ảnh.. đều biến những vụ rất hiếm gặp thành những vụ điển hình trong khi điều thực sự điển hình lại không hề được nhắc đến. Tất cả các loại tội phạm đều như vậy.

Thật kinh ngạc, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tội phạm chiếm một tỉ lệ lớn và ngày càng lớn hơn trong các câu chuyện mà truyền hình hầu hết các cuộc khảo sát đều cho thấy tội phạm chiếm từ 10 đến 30% nội dung trên các báo, tỉ lệ thấp nhất ở các tờ báo chất lượng và cao nhất ở các tờ báo lá cải. Tin tức trên truyền hình quốc gia ngày càng có xu hướng đưa nhiều tin tức về tội phạm hơn còn truyền hình địa phương thì lại càng nhiều hơn nữa. Một cuộc khảo sát các bản tin truyền hình địa phương ở Mỹ cho thấy cứ 5 tin thì có 1 tin liên quan đến tội phạm khiến đây trở thành chủ đề được ưa chuộng nhất.

Một phát hiện xuyên suốt nữa của cuộc nghiên cứu đó là báo chí tập trung khá nhiều vào các hành động cá nhân đơn lẻ mà không nói nhiều về bối cảnh và các vấn đề xung quanh đó. Các phóng viên kể về một bà già bé nhỏ bị gí súng buộc phải đi cướp nhưng lại không nói cho chúng ta biết có bao nhiêu bà già như vậy, liệu con số này nhiều hơn hay ít hơn trước đây, ai khiến họ phải làm vậy và tại sao, hay có những chính sách gì để bảo vệ những bà già này. Vì vậy chúng ta phải thận trọng với những từ ngữ của mình. Báo chí thực ra lại ít chú ý đến “tội phạm”. Chính “tội phạm” là điều mà họ chưa nói hết.

Điều này gây ra nhiều hậu quả mà một trong những hậu quả đó là sự thiên lệch đối với những tin không hay còn sâu sắc hơn. Tội phạm gia tăng nghĩa là ngày càng có nhiều vụ phạm tội hơn. Rất dễ phản ánh điều đó: Chỉ cần đưa thêm nhiều tin về những người bị tấn công và sát hại. Tội phạm giảm đi nghĩa là ngày càng có ít vụ phạm tội, một xu hướng không thể hiện qua các vụ phạm tội đơn lẻ vì một vụ phạm tội chưa xảy ra thì không có gì để nói. Và chỉ vì báo chí quá tập trung vào các vụ phạm tội mà lờ đi tình hình tội phạm, việc tội phạm gia tăng sẽ luôn gây chú ý hơn việc tội phảm giảm đi.

Để xem xét sự thiên lệch này sâu sắc thế nào, hãy tưởng tượng một cơ quan chính phủ đưa ra một báo cáo về tình trạng bạo lực giữa những người thân trong nhà cho thấy bạo lực gia đình đã tăng vọt gần 2/3 so với 10 năm trước và đang ở mức cao kỉ lục. Và giờ hãy cố tưởng tượng báo chí hoàn toàn lờ đi báo cáo này. Không một tin tức nào. Không bài bình luận nào. Không bài viết chủ điểm nào nghiên cứu về xu thế đáng lo ngại này. Thế nhưng vào tháng 12 năm 2006, Cục Thống kê Tư pháp Mỹ đã đưa ra báo cáo cho thấy các vụ bạo lực gia đình ở Mỹ thập kỉ qua đã suy giảm gần 2/3 và giờ đang ở mức thấp kỉ lục. Tin vui bất ngờ này gần như không hề được đăng tải.

Một ví dụ ấn tượng hơn là ở Toronto tháng 12 năm 2005. Một ngày sau Giáng sinh, khi mọi người nườm nượp đi mua hàng giảm giá, các băng nhóm kình địch vô tình chạm trán nhau. Súng giật đạn bay và một cô bé xinh đẹp 15 tuổi tên là Jane Creba đã bị bắn chết. Vụ sát hại lẽ ra phải là một cơn chấn động dù trong hoàn cảnh nào, nhưng các vụ sát hại liên quan đến các băng nhóm đã gia tăng trong nhiều tháng và nước này đang trong kì bầu cử liên bang. Điều không thể tránh khỏi và không có gì khó hiểu là vấn đề súng ống, băng nhóm và sát hại đã thắng thế trong các cuộc tranh luận công khai. Các chính khách đập bàn diễn giả và các vị phụ trách chuyên mục phẫn nộ. Nhưng thực ra các vụ bắn giết băng nhóm này đã lên đến đỉnh điểm ngay từ trước đó và khi kết thúc đợt bầu cử tình trạng bắn giết đã giảm xuống, vấn đề này lặng lẽ và nhanh chóng biến mất. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực vẫn tiếp tục suy giảm. Đến cuối năm 2006, số vụ hạ sát bằng súng đã giảm 46%. Nhưng điều này gần như không được báo chí nhắc đến nữa. Tất nhiên là cũng có một vài câu chuyện nhưng chúng chỉ nhắc đến sự suy giảm các vụ chết chóc và đôi khi ẩn sâu trong các tin tức về các vấn đề an ninh khác, như thể đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên về mặt số liệu mà chỉ các nhà nghiên cứu chính sách mới quan tâm. Và như thế bạo lực dấy lên đã gây ra một loạt những câu chuyện xúc động và cuộc tranh luận sôi nổi trên toàn quốc đã nhạt dần và biến mất mà hầu như không ai nhận ra.

Hình ảnh méo mó về tội phạm của báo chí còn thể hiện cả ở những loại tội phạm khác. Giết người luôn là thể loại được ưa chuộng. Một số nghiên cứu còn cho thấy nó chiếm đến gần một nửa số tin tức về tội phạm được đưa trên một số báo chí. Nghiên cứu về các bản tin địa phương của Trung tâm Báo chí và Quan hệ Công chúng đã chỉ ra 29% tin bài về tội phạm nói về các vụ giết người, tiếp đó là các vụ “bắn bị thương” đứng ở vị trí thứ hai cách biệt với 7%. Kết quả này có thể thấy trong nhiều nghiên cứu ở nhiều nước trong nhiều năm qua. Thậm chí nước Anh trong kỉ nguyên 1950 - khi tỉ lệ giết người nhỏ đến mức không nhìn thấy - thì “giết người vẫn là loại tội phạm phổ biến nhất được đăng tải” như nhà tội phạm học Robert Reiner đã viết.

Các vụ bạo lực không gay cấn bằng giết người lại không được chú ý nhiều như thế. Nhất là những tội phạm liên quan đến trộm cắp tài sản. Đây là một mô hình thể hiện rõ trong việc đưa tin. Tội ác càng ghê gớm thì báo chí càng quan tâm, vấn đề được đưa tin nếu có một chính khách muốn đẩy lên thành sự kiện. Tương tự như thế, sự dính líu đến hoàng gia hay những người nổi tiếng – dù là nạn nhân hay thủ phạm - đều thu hút các nhà báo. Nhưng nói chung các vụ phạm tội không có bạo lực đều phải nhường chỗ có những vụ có bạo lực, các vụ ít đổ máu phải nhường chỗ cho các vụ đổ máu nhiều hơn. Do đó đối với báo chí, giết người là số một.

Dường như đây là cách đưa tin về tội phạm rất phù hợp vì tội ác càng nghiêm trọng thì nó càng dễ được đưa tin và mọi người càng muốn nghe. Điều này không có gì phải bàn cãi nữa. Và sẽ không có vấn đề gì nếu báo chí cân bằng những câu chuyện về tội phạm với việc phân tích kĩ lưỡng về tình hình phạm tội để mang đến một bức tranh toàn cảnh rộng hơn, nhưng họ không làm thế. Vì vậy báo chí kể hết câu chuyện bạo tàn này đến câu chuyện khác, một con yêu bắt cóc và sát hại một cậu bé, một nhân viên bất mãn giết chết năm người. Tất cả cuối cùng sẽ tạo ra một hình ảnh về tình trạng tội phạm xa rời thực tế.

Ở Mỹ năm 2005, FBI đã tổng hợp được 1.390.695 vụ bạo lực. Cùng năm đó, FBI cũng tính được tổng cộng có 10.166.159 vụ phạm tội liên quan đến trộm cắp tài sản. Như vậy số vụ trộm còn nhiều hơn số vụ bạo lực đến hơn bảy lần. Nói cách khác, số vụ tội phạm bạo lực chỉ chiếm 12% tổng số tội phạm.

Hãy coi tội phạm nói chung như một chiếc kim tự tháp Ai Cập. Phần lớn nhất của kim tự tháp gồm những vụ không có bạo lực và chỉ một phần nhỏ trên đỉnh là tội phạm bạo lực. Trong đó có 417.122 vụ cướp - chiếm 3,6% tổng số tội phạm, 93.934 vụ hiếp dâm - chiếm 0.8% và 16.692 vụ bạo lực - chỉ chiếm có 0,14% các vụ vi phạm được biết đến ở Mỹ. Trong chiếc kim tự tháp tội phạm, giết người chỉ là cái đỉnh nhỏ trên cùng.

Nhưng hình ảnh về tội phạm của báo chí sẽ là chiếc kim tự tháp lộn ngược lại. Những loại tội phạm hiện phổ biến nhất lại bị bỏ qua trong khi loại hiếm gặp nhất được chú ý nhiều nhất. Các cuộc thăm dò của Viện Gallup(3) thường cho thấy 20% người Mỹ nói họ “thường” hoặc “đôi khi” lo lắng về chuyện bị giết mặc dù thực tế chỉ có 0.0056% người Mỹ bị giết chết mỗi năm. Trung bình thì một người Mỹ có khả năng bị chết do tai nạn xe cộ nhiều hơn gấp ba lần thế. Và hãy nhớ rằng ở phương Tây, Mỹ hiện là nước có tỉ lệ người bị sát hại cao nhất.

Thói quen đưa tin thường xuyên về các vụ hiếm gặp và ít khi xảy ra thường xuyên còn biểu hiện trong chính tội phạm giết người. Báo chí không đưa tin tất cả các vụ giết người, ngay cả ở một nước có 294 vụ sát hại trong năm 2004-2005 như nước Úc, cũng như dành sự quan tâm như nhau đối với những vụ mà họ đưa tin. Jill Leovy, một phóng viên hình sự của tờ Los Angeles Time cũng từng nói với chương trình Bản tin của NPR “Báo chí đưa tin về các vụ giết người theo một logic trái ngược mà bản chất của việc đưa tin là nói về những chuyện kiểu như “người cắn chó” (chứ không phải “chó cắn người” – ND). Và cuối cùng bạn sẽ chỉ đưa ra những vụ giết người rất hiếm hoi về mặt con số. Đưa tin về những trường hợp rất ít xảy ra và không đại diện cho những điều thực sự diễn ra ở Los Angeles”. Có nghĩa là trên thực tế, nếu một thanh niên trẻ da mầu gốc Latin giết hại một thanh niên trẻ da mầu gốc Latin khác - một kịch bản thường thấy ở Los Angeles – thì có lẽ là báo chí sẽ đưa tin rất ít hoặc không đưa gì hết. Nhưng nếu một thanh niên trẻ da đen hoặc gốc Latin nghèo giết một phụ nữ da trắng giàu có thì nhiều khả năng là câu chuyện đó sẽ được đăng trên trang nhất.

Sự phản ánh sai lệch về các nạn nhân cũng rất phổ biến. Robert Reiner cho biết “Theo các số liệu tội phạm chính thức và các cuộc khảo sát liên quan, các nạn nhân thường gặp nhất của nạn bạo lực là những thanh niên da đen nghèo. “Tuy nhiên họ lại rất hay xuất hiện trên các bản tin như những kẻ phạm tội”. Báo chí tập trung quá nhiều vào các vụ việc mà nạn nhân là trẻ em, phụ nữ và người già, một xu hướng đặc biệt không đúng đối với trường hợp người già vì đến nay họ vẫn ít khả năng trở thành nạn nhân của tội ác nhất. Các cuộc khảo sát của Cơ quan thống kê Canada đã cho thấy những người Canada từ 15 đến 24 tuổi có khả năng trở thành nạn nhân của mọi loại tội phạm nhiều hơn những người trên 65 tuổi gấp 20 lần. Thậm chí những người từ 55 đến 64 tuổi cũng có nhiều nguy cơ gấp 5 lần những các bậc cao niên đến bốn lần. Ở Mỹ, theo Cục Thống kê Tư pháp, những người từ 55 đến 64 tuổi có nhiều nguy cơ gấp 5 lần những người cao tuổi hơn; còn những người từ 16 đến 19 tuổi thì có khả năng bị bạo lực nhiều hơn gấp 22 lần. Cần phải xem xét những con số này mới có thể hiểu rõ về các hiểm họa nhưng tôi chưa từng thấy bất kì con số nào như vậy trong các bản tin.

Giới truyền thông đã đảo ngược thực tế về tình trạng phạm tội, truyền thông giải trí cũng vậy và còn nhào trộn thêm cho ra tiền. Reiner còn viết “Ở hầu hết các nước, khoảng 20% các bộ phim là về tội phạm và khoảng một nửa tổng số phim là về các tội ác dã man”. Ngoài những vụ trộm cắp nữ trang liều lĩnh của những tay chảo chớp thì tội phạm cướp phá tài sản rất hiếm khi có mặt trong thế giới hư cấu. Giết người luôn luôn là chất men quan trọng nhất trong trí tưởng tượng của các nhà văn hư cấu. Các tác giả của Prime Time: How TV Portrays American Culture (Giờ Vàng: Truyền hình phản ánh ra sao về Văn hóa Mỹ) đã tiến hành phân tích nội dung các chương trình truyền hình ở Mỹ trong những năm 1950 và thấy cứ trong 100 nhân vật thì có 7 tên giết người, khiến cho tỉ lệ giết người cao hơn thực tế lúc đó đến 1.400 lần. Và đó cũng không phải là những vụ giết người tầm thường chán ngắt như trong thực tế (thường là một thanh niên nghèo chửi mắng một thanh niên nghèo khác mà không hề “chủ định phạm tội”). Truyền hình giờ vàng là một cuộc tranh đua nặng tính sinh tồn để tạo ra các kịch bản giàu tính tiểu thuyết về những con người bị lạm dụng và huỷ hoại mà mỗi vụ chém giết lại khác thường, thẳng tuột và thoát li khỏi thực tế. Một thập kỉ trước, thật là vớ vẩn khi tưởng tượng về một bộ phim nói về kẻ sát nhân giết những kẻ sát nhân khác, nhưng mạch lô gíc tàn nhẫn của các vụ giết hại trên truyền hình khiến đây là điều không tránh khỏi sẽ phải đến. Đó là bộ phim có tên Dexter được công chiếu lần đầu năm 2006.

Bình thường chúng ta nói về tin tức và giải trí như hai bộ phận khác nhau tạo nên báo chí. Nhưng nói về tội phạm, còn có một loại thứ ba liên quan đến tội ác thực sự trong đó các vụ là có thật nhưng lại không mang đặc tính của dạng báo chí có chất lượng. Một vài tội ác thực sự chẳng khác gì một thứ tiêu khiển cho khán giả như Cops(4) (Mật thám), một chương trình truyền hình kéo dài xuất hiện lần đầu ở Mỹ và tạo ra nhiều phiên bản ở các nước khác. Trên danh nghĩa, nó xuất hiện nhằm mang tới hình ảnh đáng sợ về những thanh niên cởi trần – luôn là cởi trần mà không ai hiểu tại sao - bị săn lùng, hạ gục và còng tay lại. Nó chẳng khác mấy so với những trò chơi đấu sĩ được đưa lên ti vi một cách nhẹ nhàng hơn.

Một loạt tội ác thực sự khác còn nghiêm trọng hơn. Ở các hiệu sách đó là tiểu sử những tên giết người hàng loạt hoặc những tên xã hội đen do một tay viết xoàng Mickey Spillanes viết. Trên ti vi, nó có thể là được trình chiếu qua truyền hình cáp, các chương trình như The O’Reilly Factor, Nancy Grace, and America’s Most Wanted. Lý do tạo nên thể loại này được tóm gọn trong nhan đề ba cuốn sách của John Walsh, tác giả chương trình America’s Most Wanted đó là Tears of Rage (Nước mắt giận dữ), No Mercy (Không dung thứ) và Public Enemies (Kẻ thù công khai). Giống như Nancy Grace, Walsh cũng là nạn nhân của một tội ác khủng khiếp, đó là vụ bắt cóc và sát hại Adam, đứa con trai sáu tuổi của ông năm 1981. Sau cái chết của con trai, Walse trở thành một nhà hoạt động xã hội và thúc đẩy quan điểm rằng nạn bắt cóc trẻ đang lan tràn như một bệnh dịch đã trở nên rất phổ biến trong những năm 1980. Ông cũng nói trước Quốc hội rằng “50.000 trẻ em biến mất mỗi năm và bị những kẻ lạ mặt bắt đi vì những ý đồ xấu”. “Đất nước này đầy những đứa trẻ bị tổn thương, bị chặt đầu, cưỡng đoạt và bóp cổ”. Walsh đã có công trong việc thông qua một số đạo luật liên bang lớn trong những năm 1982 và 1984. Năm 2006, nhân 25 ngày mất tích đứa con trai của Walsh, Tổng thống Bush đã kí Đạo luật Bảo vệ Trẻ em Adam Walsh dẫn đến sự ra đời một cơ quan khai báo quốc gia về các vụ xâm phạm tình dục. Trong một thế giới đầy những “tội ác thực sự”, gần như mọi tội lỗi là bắt cóc, cưỡng đoạt hay sát hại và tất cả các tên tội phạm đều là những con dã thú bệnh hoạn và mọi trẻ em đều đang gặp nguy hiểm. Các câu chuyện đáng buồn và sợ hoặc không bao giờ được nhắc đến.

Báo chí không ngừng phản ánh sai sự thật về tội ác nên không có gì lạ khi mọi người có những ý nghĩ lạ lùng về vấn đề này. Nhà tội phạm học ở trường Đại học Oxford Julian Roberts đã xem xét nhiều nghiên cứu về nhận thức của công chúng và nhận thấy ở nhiều nước, hầu hết mọi người đều nghĩ “tội phạm bạo lực chiếm gần một nửa số tội phạm mà cảnh sát biết đến”. Ông nhận thấy nghiên cứu ở Ohio đã chỉ ra cứ 5 người thì chỉ có 1 người có thể ước đoán gần chính xác tỉ lệ tội phạm bạo lực và “1/3 số người trả lời ước đoán tỉ lệ này nhiều hơn ít nhất là 6 lần so với tỉ lệ thực”.

Một phát hiện trùng khớp nữa đó là sự bi quan. Tình hình tội phạm đang ngày một tệ hại. Vẫn thường như vậy. Roberts viết “Cứ khi nào các cuộc thăm dò hỏi về sự thay đổi tỉ lệ tội phạm, hầu hết mọi người đều trả lời rằng tỉ lệ tội phạm đang gia tăng nhanh chóng”.

Tác giả của các cuộc khảo sát về tội phạm thường có vẻ sửng sốt khi viết về điều này. Cuộc Khảo sát về Tội phạm ở Anh (BSC) năm 2005-2006 cho thấy “Mặc dù số vụ phạm tội được dự đoán là suy giảm trong những năm gần đây, vẫn có 63% người nghĩ là tội phạm trên cả nước nói chung gia tăng”. Đây là điều hoàn toàn trái ngược với thực tế: Từ năm 1995 đến 2005, BSC đã ước tính được tình hình tội phạm đã suy giảm 44%.

Ở Nước Mỹ trong những năm 1990, tình hình phạm tội còn giảm mạnh trông thấy. Sự suy giảm đáng kể và không ngờ khiến báo chí cũng phải chú ý. Thế nhưng sau 7 năm liên tục giảm bớt tội phạm, một cuộc thăm dò năm 2000 của Viện Gallup cho thấy 47% người Mỹ vẫn nói rằng “tội phạm đang gia tăng”.

Khi các nhà nghiên cứu hỏi liệu tội phạm ở Mỹ đang tăng hay giảm, họ thường nhận được một câu trả lời. Còn khi hỏi tội phạm ở vùng này đang tăng hay giảm thì họ sẽ nhận được một câu trả lời rất khác. Ở cuộc khảo sát của Anh nói trên với 63% người nghĩ là tội phạm trên cả nước nói chung đã gia tăng, nhiều người nói ở vùng họ sống đang giảm. Cuộc khảo sát về tội phạm thường niên của Viện Gallup qua nhiều năm cũng cho thấy sự khác biệt tương tự, tình hình tội phạm ở địa phương sáng sủa hơn tình hình cả nước. Năm 2000, trong khi 47% người nói rằng tội phạm ở Mỹ đang tăng thì chỉ có 26% có nhận định tương tự về nơi mình đang sống. Một phần sự khác biệt này là do khi đánh giá về tình hình ở địa phương, họ có nhiều căn cứ hơn. Họ có những điều mà chính mình hoặc người thân trải qua và những điều được nghe khi trò chuyện. Nhưng khi đánh giá về tình hình cả nước, họ phải dựa vào báo chí mà báo chí thì nói rằng giết người và đánh đập đang tràn lan.

Vấn đề quan trọng là liệu hình ảnh đáng sợ và quá mức về tội phạm mà rất nhiều người đang ưu ái đối với báo chí có biến thành nỗi sợ hãi trước tội phạm. Các nhà xã hội học đã đấu tranh với vấn đề này trong nhiều thập kỉ. Trước hết, họ chứng minh có một mối tương quan khi bạn càng đọc và xem nhiều thì bạn càng sợ hãi. Thường xuyên tiếp nhận những hình ảnh bạo lực sống động sẽ khiến cho Trực giác – cùng với Quy luật Điển hình - đưa ra kết luận nguy cơ là rất cao. Và các câu chuyện tội phạm thấm đẫm những cảm xúc kinh sợ mạnh mẽ cùng với Quy luật Tốt-Xấu sẽ củng cố Trực giác rằng đây đúng là một mối đe dọa nghiêm trọng.

Việc mọi người đọc và xem nhiều hơn sẽ sợ hãi hơn không thể chứng tỏ việc đọc và xem đó gây ra nỗi sợ hãi, mà chỉ có thể là khi sợ hãi con người ta sẽ lại đọc và xem nhiều hơn nữa. Cho đến nay không ai thực sự có thể gỡ rối mớ bòng bong này và chỉ ra cái nào gây ra cái nào. Hầu hết các chuyên gia đều đi đến một kết luận khôn ngoan nước đôi rằng: càng đọc và xem nhiều hơn, bạn sẽ càng sợ hãi hơn và càng sợ hãi thì bạn lại càng đọc và xem nhiều hơn nữa. Theo lời của nhà xã hội học Aaron Doyle ở trường Đại học Carleton thì “Chúng bổ sung cho nhau”.

Chúng ta đang sống trong một môi trường mà báo chí luôn đầy những chuyện bắt cóc, cưỡng đoạt và sát hại, những chuyện dã man hại người vô tội, những chuyện mất mát và nỗi đau dai dẳng. Lý trí có thể biết rằng những chuyện này, một phần là hư cấu, một phần là không thực tế, chỉ một số ít liên quan trực tiếp đến chúng ta nên không cho chúng ta biết nhiều về những nguy cơ đối với bản thân và gia đình. Nhưng Trực giác không hề nghĩ thế khi xem ti vi.

Từ khi Cain giết chết Abel(5) thì con người đã có lý do để kể cho nhau nghe những câu chuyện khác nữa về tội ác. Daniel Gilbert, một nhà tâm lý học ở trường Đại học Harvard đã viết cho tờ Los Angeles Time “Chúng ta là những động vật chuyên nghĩ về người khác. Hiểu người khác quan tâm đến những gì, biết gì và cần gì, đang làm gì và định làm gì là điều quan trọng đối với sự sống còn của giống loài cho nên trong não của chúng ta đã dần hình thành một nỗi ám ảnh về tất cả những gì thuộc về con người. Chúng ta nghĩ về mọi người và những ý định của họ, nói về họ, tìm kiếm và nhớ đến họ”. Không phải ngẫu nhiên mà một trong những tạp chí nổi tiếng nhất trên thế giới lại có tên là People (Con người).

Cũng không phải ngẫu nhiên mà những câu chuyện bất tận của tờ tạp chí này về thế giới những người nổi tiếng lại đan xen với những câu chuyện về tội phạm. Những người nổi tiếng và các vụ giết người đi cùng nhau không phải vì các ngôi sao điện ảnh rất dễ đi giết người hoặc dễ bị giết mà vì việc chúng ta quan tâm đến những chuyện tầm phào của người nổi tiếng và những tội ác đẫm máu đều biểu lộ Trực giác của con người là quan sát mọi người và nghĩ xem tại sao họ lại làm những việc như thế. Tội ác đặc biệt hấp dẫn chúng ta vì nhìn từ khía cạnh sinh tồn thì chúng vô cùng quan trọng. Cuộc sống du mục theo một nhóm nhỏ 30 người trên các đồng bằng châu Phi, tổ tiên của chúng ta đã phải hợp tác với nhau để sống sót. Hợp tác đòi hỏi phải có nguyên tắc cho nên để tồn tại chúng ta rất cần hiểu làm thế nào và tại sao mọi người lại phá bỏ những nguyên tắc đó. Cũng rất cần nắm rõ thông điệp rằng những người phá vỡ nguyên tắc phải được phát hiện ra và chịu trách nhiệm cho sự vi phạm của mình. Chính điều này dẫn các câu chuyện tội phạm thường xuyên đi đến cái kết làm vui lòng khán giả.

Trực giác bàn tán về tội ác rất mạnh mẽ. Cũng trong bài phỏng vấn mà phóng viên hình sự của tờ Los Angeles Time Jill Leovy phàn nàn về việc các vụ giết người khác thường được đăng tải quá nhiều, cô đã mô tả việc mình đã tham gia một dự án của một cơ quan giám sát tình hình các vụ sát hại trong thành phố. “Năm đó có khoảng 70 vụ sát hại, chỉ riêng sát hại” Khi đó, Scott Peterson - một thanh niên da trắng đẹp trai giàu có ở California - đã bị xét xử vì tội giết Laci, người vợ đang mang thai của mình. Vụ xét xử Peterson, được theo dõi sát sao tràn lan trên các chương trình tin tức và đối thoại trên truyền hình. Nhiều cuốn sách viết về câu chuyện này cùng với hàng loạt bài báo và tạp chí. Đúng là một kiểu đăng tải say sưa về một vụ vô cùng hiếm thấy mà Leovy rất ghét. Cô nhớ lại “Mỗi buổi sáng ở đó, chúng tôi chỉ ngồi uống cà phê và nói về những chi tiết mới trong vụ Peterson. Rồi lại tiếp tục chuyển sang hàng chục vụ giết người khác. Thật kinh dị”.

Khách quan mà nói sự quan tâm của chúng ta đối với các vụ phạm tội là ở chỗ hầu hết những câu chuyện đó rõ ràng là không quan trọng và chẳng liên quan nhiều đến những người theo dõi chúng. Khi Madeleine McCann biến mất ở Bồ Đào Nha đã có rất nhiều bài bình luận cố rút ra ý nghĩa từ bi kịch này nhưng trên thực tế bi kịch này gần như chẳng nói lên điều gì về việc nuôi dạy con cái, về sự an toàn hay bất kì cái gì liên quan đến hàng chục triệu người ở toàn thế giới phương Tây đã theo dõi câu chuyện này. Nó chỉ là một câu chuyện gây sốc. Hết tháng này qua tháng khác, mọi người theo dõi khiến việc trình chiếu câu chuyện trở nên quen thuộc giống như những nhân vật trong các bộ phim truyền hình nhiều tập.

Cũng như mọi mất mát, các câu chuyện án mạng rất cần có cảm xúc nhưng những cảm xúc mà chúng gây nên thường mạnh hơn và có đặc điểm khác. Đó là vì chúng không chỉ gợi nên lòng trắc ẩn mà cả nỗi tức giận. Nếu một cậu bé ở một thành phố nước Đức ngã trước một chiếc xe điện và chết thì đó sẽ là một bi kịch cho bất kì ai. Các tờ báo ở thành phố này sẽ đưa tin ngắn về cái chết và, chỉ có gia đình là đau khổ mà thôi. Nhưng nếu cũng cậu bé đó lại đi trên xe điện và gặp một tên yêu râu xanh rồi bị cưỡng bức và sát hại thì đó không chỉ là một bi kịch. Mà là một sự phẫn nộ và có thể trở thành tin tức truyền đi khắp thế giới.

Chính sự phẫn nộ đã phân biệt rõ những cảm xúc của chúng ta trước tội ác. Ý muốn cháy bỏng rằng bất cứ kẻ nào làm tổn thương người khác đều phải bị trừng trị và trật tự phải được lập lại đã được ghi nhớ, ăn sâu vào mỗi người. Kẻ phạm tội còn gây nguy hiểm trong tương lai nữa hay không không quan trọng. Hắn ta phải bị trừng trị và cán cân công lý trở lại cân bằng. Nó không phải là chuyện an toàn hay không mà là công lý.

Công lý và an toàn là hai vấn đề khác nhau. Hãy xem đoạn băng chiếu cảnh tên yêu râu xanh người Đức đang nhử cậu bé đến chỗ chết, hoàn toàn có thể nói rằng tên tội phạm này phải bị bắt giữ và trừng trị nghiêm khắc mặc dù cũng phải thừa nhận rằng vụ việc này chẳng nói gì nhiều cho chúng ta biết về sự bình an của mỗi đứa trẻ ở Đức hay bất kì nơi nào khác. Nhưng Trực giác không sáng suốt như vậy. Trực giác chỉ biết là nó đang trải qua những cảm xúc tiêu cực với những đau xót, phẫn nộ và khi gặp Quy luật Tốt-Xấu, nó kết luận rằng có nhiều nguy cơ bị những kiểu tấn công thế này hay mối đe dọa này thật đáng sợ. Dù thế nào thì Trực giác cũng sẽ rung hồi chuông báo động. Từ đó, sợi dây ngăn cách giữa công lý và sự an toàn không còn nữa; những cảm giác về công lý đã chi phối những nhận định về an toàn.

Hiệu ứng này đã được hai nhà nghiên cứu ở Đại học bang Ohio Joseph Arvai and Robyn Wilson thể hiện trong một thí nghiệm tương đối. Những người tham gia được cho biết họ sẽ chịu trách nhiệm quản lý một công viên trong bang cùng với một khoản ngân sách 100.000 đô la dự phòng cho những vấn đề phát sinh. Giờ họ được biết là đã có một vấn đề xảy ra. Nhớ rằng bất cứ khoản tiền nào chi dùng cho vấn đề này cũng sẽ làm mất bớt khoản tiền dành cho các hoạt động phát sinh sau này, vậy thì phải chi bao nhiêu từ ngân sách đó?

Một nhóm được biết rằng họ đang gặp vấn đề do đàn hươu quá nhiều. Hươu ăn quá nhiều nên đang huỷ hoại môi trường thực vật ở đây. Tệ hơn, chúng lại là một mối đe dọa trên các con đường đi lại trong công viên, gây ra các vụ va chạm làm hỏng xe cộ của khách tham quan và đôi khi gây ra thương tích cho những người ngồi trong xe. Nếu tính theo thang 10 điểm thì có thể dự đoán nguy cơ mà hươu gây ra cho con người là 4 điểm, cho tài sản xe cộ là 5 điểm và cho môi trường là 4. Vậy thì họ nên chi ra bao nhiêu trong số tiền 100.000 đôla để giải quyết vấn đề này? Vấn đề của nhóm thứ hai là tội phạm, cụ thể là tội trộm xe, tội cố ý phá hoại tài sản cây cối và tội móc túi đôi khi cũng gây ra những thương tích nhỏ cho các nạn nhân. Trong trường hợp này, nguy cơ đối với con người được đánh giá ở mức 3, đối với tài sản xe cộ là 4 và đối với môi trường là 4. Cuối cùng, nhóm thứ ba được thông tin về cả hai vấn đề - quá nhiều hươu và tội phạm. Họ cũng được biết những đánh giá về các nguy cơ nói trên, qua đó cho thấy vấn đề tội phạm ít nghiêm trọng hơn vấn đề hươu một chút.

Các nhà nghiên cứu dự đoán - và khẳng định bằng cách đặt các câu hỏi trong quá trình thí nghiệm - rằng việc có quá nhiều hươu không gây quá nhiều cảm xúc cho con người nhưng tội phạm thì lại khác. Tội cố ý phá hoại và cướp giật có thể không giống như cưỡng đoạt hay sát hại nhưng chúng cũng tạo nên những cung bậc cảm xúc. Điều đó có nghĩa là có hai dạng thông tin trong thí nghiệm này, đó là cảm xúc và con số.

Những người tham gia trả lời riêng rẽ nhau và kết quả được tính trung bình. Nhóm phải đối phó với vấn đề hươu nói rằng họ sẽ chi 41.828đô la. Nhóm phải đối phó với vấn đề tội phạm nói họ sẽ chi 43.469đô la. Cả hai nhóm đều không có gì để so sánh giữa các nhận định nên họ đều chọn một số tiền phù hợp mà vẫn để lại phần nhiều hơn cho sau này.

Điều ngạc nhiên là ở nhóm phải đối phó với cả hai vấn đề. Họ nói họ sẽ chi 30.380 đô la cho vấn đề hươu và 43.567 đô la cho vấn đề tội phạm. Các con số cho thấy vấn đề hươu nghiêm trọng hơn vấn đề tội phạm một chút nhưng họ lại chi nhiều tiền hơn cho vấn đề tội phạm. Như vậy là Trực giác đã thắng.

Tuy nhiên, trong phần thí nghiệm này, các con số trong cả hai vấn đề đều không khác nhau như thế. Nếu các con số do vấn đề tội phạm rất nhỏ còn các con số do vấn đề hươu lại rất lớn thì sao? Liệu điều này có đủ để vượt qua ảnh hưởng của khía cạnh cảm xúc liên quan đến tội phạm? Arvai và Wilson tiến hành thí nghiệm một lần nữa với những người khác nhưng lần này việc đánh giá bằng các con số đối với vấn đề hươu là 9,10 và 10. Còn tội phạm chỉ được đánh giá ở mức 3,4 và 4. Thông điệp mà các con số này đưa ra là hoàn toàn đúng: đàn hươu quá đông mới thực sự là một vấn đề trầm trọng còn tội phạm có gây khó chịu nhưng không nghiêm trọng đến thế.

Một lần nữa, các nhóm đánh giá riêng từng vấn đề đã quyết định chi tiền gần như nhau. Nhưng nhóm phải xử lý cả hai vấn đề đã làm khác đi so với nhóm của lần thí nghiệm trước một chút. Về cơ bản họ đã chi các số tiền bằng nhau cho cả vấn đề hươu và tội phạm. Thật là một kết quả bất ngờ. Vấn đề hươu thường gây nhiều rắc rối hơn vấn đề tội phạm 2,5 đến 3 lần song mọi người vẫn chi ra ngân sách bằng nhau cho cả hai vấn đề.

Kết quả này là một ví dụ kinh điển về cuộc đối thoại giữa Lý trí Trực giác và đưa đến một câu trả lời không có ý nghĩa nhiều lắm. Bắt đầu với cụm từ “quá nhiều hươu”. Mọi người nghe và chẳng cảm thấy gì. Trực giác thì nhún vai và nói với Lý trí “Tuỳ cậu”. Lý trí nhìn các con số, suy nghĩ và đưa ra một kết luận hợp lý. Nhưng rồi mọi người nghe “tội phạm”, “giật túi” và “phá hoại”. Họ thường nhìn thấy bọn thanh niên bất trị tìm cách đập phá những chiếc xe trong bãi đỗ hay đẩy các bà già xuống đất. Họ cảm thấy có điều gì đó không thoải mái lắm. Lần này Trực giác không nhún vai nữa. Với Quy luật Tốt-Xấu, Trực giác kết luận rằng có nguy cơ cao. Trực giác nói hãy quên đi chú hươu Bamb(6) để tập trung giải quyết vấn đề này. Nhưng Lý trí xen vào. Các con số nói về đàn hươu còn nghiêm trọng hơn, vì vậy Lý trí lấy kết luận của Trực giác và điều chỉnh lại. Nhưng cũng như mọi lần, sự điều chỉnh này cũng không đủ để đưa ra kết luận phù hợp với những gì lý lẽ mách bảo.

Tội phạm liên quan trong thí nghiệm này khá nhỏ cũng như những cảm xúc mà chúng gây nên. Cảm xúc mạnh dần lên cùng với mỗi nấc thang tội ác. Một thanh niên bị mất chiếc đài, bị đấm một quả, bị đánh đến chết. Ở mỗi tầng nấc, cảm xúc lại dâng lên như những đám mây đen.

Báo chí thường bị lên án là chuyên đăng tải những chuyện “người cắn chó” và luôn tìm những điều khác thường kinh dị và tất nhiên là cũng chẳng sai. Con người luôn hào hứng khi thấy những điều khác thường và các nhà báo cũng là con người. Cảm xúc và doanh thu lại đóng một vai trò quan trọng. Nhưng thang bậc cảm xúc là nhân tố quan trọng hơn trong bức chân dung méo mó của báo chí về tội phạm. Trong các bản tin tối gần đây, tôi thấy trong một đoạn băng lấy từ một chiếc camera bảo vệ cảnh một bà già 101 tuổi bị đấm và lấy mất chiếc ví. Tôi cảm thấy khó chịu và căm phẫn như những người khác, nhưng không biết đoạn băng này có phải là một việc làm có tính toán để khiến khán giả thấy căm phẫn như vậy hay không. Thật ra, người biên tập tin cũng cảm thấy căm phẫn như những người khác và điều này khiến họ nghĩ rằng đây là chuyện quan trọng. Nếu nạn nhân là một thanh niên thì cả phóng viên và khán giả đều không phản ứng dữ dội như vậy, điều này giải thích tại sao các vụ thanh niên bị cướp ít khi được đưa tin còn các vụ tấn công những người sống trên trăm tuổi lại trở thành tin tức.

Chúng ta dễ bị tác động trước nạn tội phạm bạo lực nhiều hơn tội phạm trộm cướp. Chúng ta cảm thấy bị tác động trước một vụ sát hại nhiều hơn là một cú đấm vào mũi, trước vụ sát hại một cô bé nhiều hơn vụ sát hại một thanh niên. Và phải nói thật, chúng ta thấy thương cảm đối với những người có liên quan trực tiếp đến mình hơn là những nhóm dân tộc, đẳng cấp xã hội xa xôi khác. Hình ảnh về tội phạm của báo chí có thể trái với thực tế nhưng nó phản ánh rất đúng cảm xúc của chúng ta.

Vậy thì đó chính là điệu tango. Báo chí ảnh hưởng đến suy nghĩ và cảm xúc của con người. Suy nghĩ và cảm xúc của con người lại ảnh hưởng đến báo chí. Nhưng khi đó thì chính trị nhảy vào.

Dù bây giờ khó mà tưởng tượng nổi song tội phạm không phải lúc nào cũng là trung tâm của nền chính trị dân chủ cấp cao, kể cả ở Mỹ. Năm 1964, Barry Goldwater của đảng Cộng hòa là ứng cử viên đầu tiên lấy vấn đề tội phạm và sự trừng phạt làm một phần chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống của mình. Năm 1968, Richard Nixon coi đây là trung tâm của cuộc đua thành công vào Nhà Trắng của mình và vấn đề tội phạm trong các chiến dịch tranh cử các cấp dần dần nổi lên trong các thập kỉ sau đó.

Năm 1988, vấn đề tội phạm đóng vai trò trung tâm giúp George H.W. Bush được bầu làm Tổng thống. Thật ra, có một vụ phạm tội đã góp phần vào đó: Năm 1986, Willie Horton, một tội phạm ở bang Massachusetts đang phải lĩnh án nhưng được bảo lãnh tại ngoại một thời gian đã đột nhập vào một gia đình, trói người chồng lại và cưỡng hiếp người vợ. Thống đốc bang Massachusetts, Michael Dukakis, đã ủng hộ việc bãi bỏ thời gian tại ngoại cho những phạm nhân nhưng cũng không có gì thay đổi khi ông ta trở thành ứng viên đảng Dân chủ vào năm 1988. Roger Ailes, người phụ trách Quan hệ Công chúng của đảng Cộng hòa (giờ là Chủ tịch của Fox News) đã thiết kế một chương trình quảng cáo với hình ảnh một chiếc cửa xoay đi vào một nhà tù ở Massachusetts cho thấy vụ Horton là một vụ tiêu biểu. Một chi tiết quan trọng ở đây là Horton là một người da đen. Đoạn quảng cáo còn chiếu tấm ảnh lưu hồ sơ cảnh sát của Horton. Hắn cũng bị lên án như một kẻ phát xít, và chiến dịch của Bush tuyên bố không liên quan đến chuyện này nhưng tác hại đã thấy rõ và một tội ác đơn lẻ nếu khéo tận dụng có thể góp phần quan trọng quyết định người sẽ nắm giữ vị trí quan trọng nhất thế giới này.

Phần lớn câu chuyện đã không được biết đến. Ít người biết rằng không phải chỉ người của đảng Cộng hòa là người đầu tiên nhận thấy ý nghĩa chính trị của vụ Willie Horton và lấy đó để chống lại Dukakis. Đối thủ của Dukakis trong cuộc đua giành sự đề cử của đảng Dân chủ, một thượng nghị sĩ có tên là Al Gore. Không đảng phái hay hệ tư tưởng nào được độc quyền sử dụng tội phạm làm vũ khí chính trị.

Thời khắc quan trọng nhất khi Bill Clinton nỗ lực vận động để trở thành Tổng thống là khi ông quyết định ngừng chiến dịch vận động và trở về bang Arkansas nơi ông đang là thống đốc để có thể tự mình chủ trì việc hành hình một người đàn ông thiểu năng trí tuệ đến mức sau khi ăn cái gọi là bữa ăn cuối cùng của mình, ông ta đã bảo cai ngục để lại một miếng bánh hồ đào “để ăn sau”. Sau cuộc hành hình, Clinton nhận thấy “Tôi có thể làm thế mà không ai có thể nói là tôi nương tay cho tội phạm”. Ông ta đã đúng và khi làm Tổng thống, ông ta đã tỏ ra cứng rắn, phê chuẩn hàng loạt đạo luật nghiêm khắc và quyết định gia tăng đáng kể lượng tù nhân đến mức Mỹ đã vượt Nga trở thành nước có tỉ lệ tù nhân cao nhất thế giới. Dù vậy có thể ông ta cũng sẽ phải hối tiếc về điều này. Hai tuần sau khi mãn nhiệm, ông đã nói với một phóng viên của tạp chí Rolling Stone rằng “Mức án bắt buộc tối thiểu là “rất sai lầm” và “chúng ta thực sự cần xem xét lại toàn bộ chính sách giam giữ của mình”.

Kĩ xảo chính trong việc chính trị hóa vấn đề tội phạm chỉ hơi khác một chút so với những kĩ xảo mà các công ty bảo vệ thường dùng để bán chuông báo động gia đình hay các công ty dược phẩm bán thuốc giảm cholesterol: Đó là gây nên sự sợ hãi hoặc phóng đại những nỗi lo sợ hiện có trong công chúng rồi đề xuất ra tay bảo vệ họ khỏi nỗi sợ hãi đó. Đương nhiên là các chính sách phòng trừ tội phạm phải được điều chỉnh cho phù hợp với những cảm xúc cần có. Sự can thiệp vào cuộc sống của trẻ vị thành niên ngỗ ngược và các gia đình có thể là một phương pháp hạn chế tội phạm sau này – khi những đứa trẻ này trở thành thiếu niên - nhưng chúng sẽ chẳng mang lại kết quả hay thoả mãn mong muốn được điều chỉnh lại. Tốt nhất là quay lại với những chuẩn mực cũ: tăng thêm lực lượng cảnh sát và đưa ra các án phạt tù cứng rắn hơn.

Có lẽ không có gì phải ngạc nhiên khi nhà kinh tế học Steven Levitt ở Đại học Chicago nhận thấy các sĩ quan cảnh sát Mỹ thường được tuyển mộ quá nhiều trong những năm có chiến dịch tranh chức thị trưởng hay thống đốc. Và các mức án phạt tù nặng hơn trở thành một chiếc bản lề trong nền chính trị Mỹ trong những năm 1980 và 1990 đến nỗi số lượng tù nhân đã tăng vọt từ 400.000 trong năm 1980 lên 2.1 triệu năm 2000.

Và gia vị cuối cùng trong nền chính trị tội phạm của Mỹ chính là những kẻ xâm phạm tình dục, một loại tội phạm đặc biệt mà như Alberto Gonzales nói – “nằm im chờ đợi, nghiên cứu, lập kế hoạch giăng bẫy và tấn công những đứa trẻ vô tội”. Dũng cảm lên án những con quỷ đàng rình mò trong bóng tối, các chính khách hứa hẹn sẽ can thiệp và bảo vệ những gì tốt đẹp và thuần khiết – “để bảo vệ con cái chúng ta” như họ vẫn luôn nói. Kiểu marketing chính trị này đã được khái quát một cách nhã nhặn trong một đoạn quảng cáo trên mạng dành cho thượng nghị sĩ bang New York Caesar Trunzo: Các tờ báo thi nhau đưa tít kiểu như “Thẩm phán nói rằng: Bị buộc tội biến các cô gái thành nô lệ tình dục của mình, Kẻ bệnh hoạn không thể dừng lại” rồi lại đến các dòng chữ in đậm “Ai đang bảo vệ con cái chúng ta?”. Như chúng ta đã biết, phần lớn các vụ bắt có đều là do bố mẹ và những người thân quen khác chứ không phải ai xa lạ và điều này cũng đúng với mọi dạng xâm phạm tình dục. Một cuộc điều tra quy mô của Bộ Tư pháp về thời gian lĩnh án của những kẻ xâm phạm tình dục đã cho thấy trong những tên này “88% là có quan hệ trước đó với các nạn nhân”. Con số ở các nước khác cũng tương tự. Nhưng các chính khách chỉ tập trung vào 12% còn lại chứ không phải là 88% này vì để giành được phiếu bầu của các bậc cha mẹ cần phải có một mối đe dọa nào đó để bảo vệ.

Các cuộc họp báo nơi mà các chính khách bị bao quanh bởi các vị phụ huynh đang đau khổ là đặc điểm thường thấy trong marketing chính trị. Các điều luật lấy tên những đứa trẻ bị chết trong những hoàn cảnh vô cùng đáng sợ và cũng vô cùng hiếm thấy - một điều mà nếu ở thời kì khác có thể được coi là không có gì hay ho để mà nói – đã trở thành thông lệ. Một trong những vụ gần đây nhất tràn qua nước Mỹ đó là “Luật Jessica”, lấy theo tên của Jessica Lunsford, một cô bé 9 tuổi bị bắt cóc và sát hại năm 2005 bởi tên tội nhân xâm phạm tình dục John Couey và được đưa thành tin tức trên cả nước. “Luật Jessica” đầu tiên được thông qua ở Florida năm 2005 nhưng lúc đó đây là điều luật hà khắc nhất ở nước này. Quy định phạt tù bắt buộc tối thiểu 25 năm nếu lần đầu xâm phạm tình dục đã tạo ra một chuẩn mực mới và nhanh chóng phổ biến. Tư duy đằng sau điều luật này là bất cứ kẻ xâm phạm tình dục nào - một thuật ngữ chỉ mọi thứ từ một tên yêu râu xanh hung tợn cho đến một đứa trẻ 18 tuổi quan hệ với cô bạn gái 15 tuổi của mình - đều là những sinh vật không thể cứu vớt được và sẽ không tránh khỏi leo thang đến tội ác cưỡng dâm và giết người nếu không bị tống giam. Niềm tin này phổ biến nhưng không đúng. Nhiều nghiên cứu, trong đó có cả những nghiên cứu của Bộ Tư pháp Mỹ, cho thấy những kẻ xâm phạm tình dục thực ra lại ít có khả năng tái phạm sau khi được thả hơn những loại tội phạm khác. John Couey không phải là điển hình cho những kẻ xâm phạm tình dục.

Các con số cũng là một phần quan trọng trong lối hùng biện chính trị. Chúng ta đã thấy con số “50.000 con yêu râu xanh trên mạng Internet”. Hay cứ 5 trẻ em thì có 1 trẻ em bị gạ gẫm. Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Judd Gregg, Chủ tịch của một tiểu ban trong Quốc hội, từng nói “Nếu bạn có con cái đang sử dụng Internet thì rất có thể là con bạn đã bị gạ gẫm tham gia một hoạt động có dính dáng đến tình dục. Đây là một thông tin rất đáng lo ngại đối với các bậc phụ huynh”. Nhưng hãy xem còn điều gì bị bỏ qua ở đây: Ai đang gạ gẫm bọn trẻ? Và thế nào là “gạ gẫm”? Những người luôn miệng nói về những con số này lại bỏ qua thông tin quan trọng này khiến mọi người chỉ có thể giải đáp bằng những hình ảnh đáng sợ về bọn trẻ khi đang chat chit với những kẻ trung niên bệnh hoạn.

Con số này được lấy từ một cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu trường Đại học New Hampshire và người ta thấy nó thực ra là không đáng sợ bằng những con số hiện có. Thứ nhất, con số này đang giảm đi. Khi tiến hành khảo sát năm 2000, nó là 1 trong 5. Nhưng khi tiến hành khảo sát lại năm 2006 thì nó đã giảm xuống còn chưa đến 1 trong 7. Điều quan trọng hơn nữa là cuộc khảo sát thực hiện với độ tuổi từ 10 đến 17 này lại cho thấy 81% các vụ gạ gẫm liên quan đến trẻ từ 14 tuổi trở lên. Thực ra, “không có trẻ mười tuổi nào và chỉ có 3% trẻ 11 tuổi bị gạ gẫm”. Có thể biết độ tuổi thực của những kẻ gạ gẫm, nhưng khái niệm mà các nhà nghiên cứu sử dụng bao gồm những cách thức giao tiếp có nội dung liên quan đến tình dục, chẳng hạn như một câu nói tục tĩu từ một người lớn hay những lời lẽ bậy bạ từ một người bạn cùng tuổi. 14% các vụ gạ gẫm là từ “những người quen ngoài đời, chủ yếu là bạn bè”. Những đứa trẻ bị gạ gẫm cũng được yêu cầu đánh giá về cảm giác của mình sau sự việc đó và 2/3 nói rằng chẳng có gì đáng lo.

Các nhà nghiên cứu đã thử phân tách các vụ việc nghiêm trọng hơn bằng cách thêm một loại “gạ gẫm kích động” bao gồm ít nhất là một lời đề nghị gặp gỡ, nói chuyện điện thoại hoặc gửi thư. Chỉ có 4% trẻ nói rằng chúng đã gặp chuyện này và hãy nhớ rằng cả những đứa trẻ ở tuổi teen chứ không chỉ là những kẻ đầu hói mới đứng đằng sau những vụ này. Về chuyện nhử mồi giăng bẫy - điều gây ác mộng đối với các bậc cha mẹ - hai cuộc khảo sát cũng cho thấy chỉ có tổng cộng hai vụ trong đó bọn trẻ đã gặp gỡ người gạ gẫm mình trên mạng và bị xâm phạm tình dục. Đó là hai vụ trong số 3.001 cuộc phỏng vấn. Rõ ràng là những cuộc khảo sát này cho thấy an toàn trên mạng là một vấn đề nghiêm trọng nhưng gần như là không đáng sợ như khi nghe một chính khách nói “1/5” số trẻ đã bị “gạ gẫm”.

Trước một mối đe doạ, các chính khách cũng phải tìm ra những cách mới để đối phó. Chỉ trong một tháng của năm 2006, các nhà lập pháp của bang Louisiana đã thông qua 14 điều luật nhằm vào những kẻ xâm phạm tình dục (một kết quả mà một thượng nghị sĩ của bang đã giải thích trên cơ sở “mỗi lần bạn bật ti vi lên thì có một đứa trẻ nào đó đang bị bắt cóc, cưỡng dâm và bị sát hại”). Nhưng sau khi cho kẻ phạm tội lần đầu tự động lĩnh án tối thiểu 25 năm, sau khi thông qua những điều luật cho phép những kẻ phạm tội đã từng chịu án bị giam giữ vô thời hạn nếu bị coi là còn nguy hiểm; sau khi ra lệnh cho những tội phạm được phóng thích phải khai báo và cung cấp tên tuổi, địa chỉ, chỗ làm việc lên mạng; sau khi ngăn chặn những kẻ tội phạm này không được làm một số loại công việc nhất định; sau khi ngăn cấm chúng sống trong phạm vi 300m gần các trường học, công viên và nhiều nơi khác vẫn thường được cho là vắng vẻ ngoài thành phố; sau khi bắt những kẻ tội phạm sau khi được phóng thích phải đeo thiết bị theo dõi vệ tinh đến suốt đời, và đằng sau tất cả những chuyện này là gì? Đó là một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Cơn phẫn nộ mới nhất lại là đối với những biện pháp xử lý tình trạng gạ gẫm trên mạng nhưng những cơ hội này không tồn tại lâu và bất cứ ai muốn leo lên vị trí cao hơn cần phải đưa ra nhiều hơn thế. Trong cuộc đua giành chức thống đốc bang Georgia năm 2006, một ứng cử viên là phó thống đốc đã kêu gọi bài trừ việc gạ gẫm trên mạng. Việc này khiến cho đối thủ của ông này, vị thống đốc bang, lâm vào tình thế khó xử. Ông ta không thể không ủng hộ đề xuất này. Vì vậy ngày hôm sau vị thống đốc đã phải tuyên bố nếu tái cử ông ta sẽ cho phép bồi thẩm đoàn ra án tử hình đối với những kẻ gạ gẫm trẻ em.

Việc chính trị hóa tội phạm và thái độ “cứng rắn” song hành với nó ở Mỹ phát triển hơn các nơi khác nhưng nhà xã hội học người Anh David Garland và một số người khác đã chỉ ra rằng vấn đề này đang phổ biến ở nhiều nơi trong thế giới phương Tây. Nhiều chính sách tội phạm mới của Mỹ - các điều luật “ba nhát”, án phạt tối thiểu, các biệt khám, các cơ quan theo dõi tội phạm – đã được áp dụng hoặc được thảo luận ở nhiều nơi từ Úc cho đến Hà Lan. Trong cuộc bầu cử Tổng thống ở Pháp năm 2007, ứng cử viên đảng Xã hội đã cố gắng hạ bệ lời kêu gọi cứng rắn về luật pháp và an ninh trật tự của Nicolas Sarkozy bằng việc hứa hẹn sẽ xây dựng những trại cải tạo cho những thanh niên ngang tàng bất trị. Ở Canada, những ngôn từ và chính sách cứng rắn với tội phạm kiểu châu Mỹ và – “không khoan nhượng”, “xét xử đúng tội”, “thời gian chín muồi cho những tội phạm lọc lõi” – đang xuất hiện ngày một nhiều trên báo chí và các cương lĩnh chính trị mặc dù chương trình cải cách chính quyền của đảng Bảo thủ đương nhiệm cũng chẳng khác gì những tờ tuyên truyền vận động ở Mỹ trong những năm 1990. Trong cuộc bầu cử năm 2005 ở Anh, lãnh đạo đảng Bảo thủ Michael Howard đã đẩy sự sợ hãi tội phạm lên đến mức Hiệp hội Cảnh sát trưởng lần đầu tiên trong lịch sử đã lên án ông này vì tội đánh lạc hướng dư luận về mức độ phạm tội. Chính phủ do Công đảng cầm quyền của Tony Blair cũng bắt chước Mỹ thành lập một cơ quan theo dõi các vụ xâm phạm tình dục và năm 2007 cũng thử đưa ra những thông tin liên quan cho công chúng; thậm chí họ còn dự định đặt tên là “Luật Sara” để tưởng nhớ cô bé bị sát hại.

Tuy nhiên, các chính khách không phải là người duy nhất trong việc marketing tội phạm. Như mọi người đều biết, cảm giác bất an chính là điều cần thiết cho triển vọng của ngành an ninh. Cảnh sát cũng biết cảm xúc nào có thể quyết định đến ngân sách dành cho mình.

Một báo cáo năm 2006 của Diễn đàn nghiên cứu cán bộ cảnh sát (PERF) có nhan đề “Cơn bão sắp đến” đã đưa ra kết luận “Tội phạm bạo lực đang gia tăng với tốc độ đáng báo động”. PERF tự coi mình là một cơ quan tham mưu ở Washington, D.C. nhưng với một hội đồng gồm toàn những cảnh sát trưởng tại các thành phố lớn, nó chính là một nhóm vận động hành lang cho các quan chức này ở thủ đô. “Năm 2005 có thêm 30.607 vụ tội phạm so với năm 2004. Đây là lần gia tăng hàng năm lớn nhất trong 14 năm”. Điều này nghe có vẻ đáng sợ nhưng sự thật là mức gia tăng năm 2004 theo chính các số liệu của PERF chỉ là 2,3% so với năm trước đó. Lý do mà đây là “lần gia tăng hàng năm lớn nhất trong 14 năm” chỉ là vì tình hình tội phạm bạo lực đang suy giảm hoặc đứng im trong 14 năm. Báo cáo này còn viết tiếp “Nếu không được kiềm chế, tội phạm bạo lực sẽ có thể một lần nữa đạt đỉnh cao như hồi đầu những năm 1990 mà cao nhất là năm 1991 làm 24.500 người chết và hàng nghìn người khác bị thương”. Do vậy, một sự gia tăng nho nhỏ sau một giai đoạn giảm dần dài nhất thời tức là chắc chắn chúng ta phải hành động ngay nếu không sẽ có 10.000 người chết. Và theo các cảnh sát trưởng, một trong những lý do chính khiến tội phạm tăng vọt đó là không đủ ngân sách dành cho cơ quan cảnh sát cho nền cần tăng thêm ngân sách cho họ. Nhân đây nói thêm báo cáo này được tài trợ bởi Motorola – nhà sản xuất radio và nhiều thiết bị khác mà các cơ quan cảnh sát vẫn mua sắm khi được cấp kinh phí.

Cảnh sát Mỹ chắc chắn không phải là người duy nhất lợi dụng vấn đề tội phạm. Julian Fantino, cảnh sát trưởng của Toronto từ năm 2000 đến năm 2005 và hiện là uỷ viên hội đồng cảnh sát tỉnh Ontario nổi tiếng về khả năng dùng chiếc dùi cui khoa trương để củng cố lời kêu gọi gia tăng án phạt và làm cho các án phạt tù hà khắc hơn. “Hệ thống tư pháp hình sự đã bị phá bỏ. Nó không có hiệu lực. Các nạn nhân đã chứng minh điều đó”. Với tư cách là cảnh sát trưởng của Toronto, đó chính là một câu thần chú mà Fantino đã nhắc đi nhắc lại mỗi khi có cơ hội. Khi những người chỉ trích phản ứng rằng không phải tội phạm đang nằm ngoài tầm kiểm soát, rằng thực ra nó đang giảm bớt, Fantino vẫn ngoan cố. Ông ta nói “Đối với những người cho rằng tội phạm đang giảm bớt thì có thể là nó giảm về mặt con số nhưng tội phạm bạo lực thì đang tăng lên và sẽ còn tăng trong nhiều năm”. Thật ra tội phạm bạo lực đã giảm đi trong nhiều năm nhưng điều đó không có lợi cho một cảnh sát trưởng đang muốn thay đổi luật lệ.

Các cơ quan tổ chức cũng là một nơi thích thổi phồng nữa. Dù là nằm trong hay ngoài chính phủ thì các cơ quan này thường tỏ ra quan tâm ngay khi thấy những vấn đề cụ thể của họ được nêu ra, dù đó là một cam kết thực sự nhằm thúc đẩy một sự nghiệp nào đó hay chỉ là nỗ lực vận động thêm tài trợ. Chẳng hạn, Bộ Tư pháp Mỹ thường lấy những số liệu về các vụ gạ gẫm trẻ em trên mạng đã nói ở trên. Hay Trung tâm Quốc gia về Trẻ em thất lạc và bị bóc lột (một nhóm phi lợi nhuận tư nhân do John Walsh - người dẫn chương trình America’s Most Wanted - đồng sáng lập và được thành lập theo một đạo luật của Quốc hội Mỹ). Nhưng các cơ quan này không nói rằng các nghiên cứu thường không giống như những gì mọi người vẫn nghĩ, đó là cứ 5 trẻ em lên mạng thì có 1 em bị những tên yêu râu xanh để ý. Trong một thông cáo báo chí tháng 02 năm 2007, UNICEF, cơ quan bảo trợ trẻ em của Liên hợp quốc còn đi xa hơn một bước “Cứ 5 trẻ em tán gẫu trên mạng thì có một trẻ em bị một tên yêu râu xanh tiếp cận qua Internet”.

Đối với những người cai ngục thì việc tội phạm gia tăng và luật pháp cứng rắn hơn (hay ít nhất là theo cách hiểu của mọi người, điều này cũng đủ khiến cho luật pháp có hiệu lực hơn) chính là sự bảo đảm nghề nghiệp cho họ. Ở California, Hiệp hội cai ngục chính là một bộ máy chính trị thần kỳ. Trong những năm 1980, tổ chức này đã tài trợ phần lớn ngân sách thành lập các tổ chức về quyền của các nạn nhân để làm nhân tố chính thúc đẩy các án phạt nặng hơn. Nó cũng hỗ trợ cho việc thông qua luật “3 lần” hà khắc trong cuộc bỏ phiếu của bang năm 1994 cũng như cho việc phản đối thắt chặt đạo luật này chỉ một thập kỉ sau đó. Các nhà tù ở California đã tăng gấp đôi khả năng bảo vệ tối đa mặc cho tốc độ xây dựng chóng mặt nhiều nhà tù mới ở bang này. Đối với các nhân viên cai ngục, việc quá đông tù nhân tức là phải làm ngoài giờ và ở bang này, làm ngoài giờ thường được tính 37 đô la mỗi giờ. Theo Daniel Macallair của Trung tâm Tư pháp Hình sự và Vị thành niên ở San Francisco, một tổ chức phi chính phủ tự do theo dõi hoạt động của hội này, “Việc các nhân viên cai ngục ở California kiếm được hơn 100.000 đô la một năm kể cả tiền làm ngoài giờ không còn là chuyện lạ”.

Các nhân viên cai ngục ở California cũng khá hào phóng đối với các chính khách mà một trong những người được hưởng lợi chính là Gray Davis, thống đốc bang California của đảng Dân chủ. Năm 2002, Davis đã đối phó với một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng bằng cách cắt giảm chi tiêu cho giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực khác. Đồng thời, ông này cũng đồng ý với một thoả thuận mới cho phép các nhân viên cai ngục tăng 37,7% thu nhập và tăng thêm ngày nghỉ. Vị thống đốc này đã quả quyết phủ nhận rằng mình đã bị tác động phần nào khi nhận được 3 triệu đô la mà Hiệp hội cai ngục trên vận động đóng góp cho mình.

Khác biệt duy nhất trong số những người marketing nỗi sợ hãi đó là các chuyên gia tư vấn an ninh. Họ không mở các chiến dịch như các chính khách, không vận động hành lang như các quan chức cảnh sát hay quảng cáo như các công ty an ninh mà thay vào đó họ lại nói cho các phóng viên vốn tự coi mình là các chuyên gia vô tư mặc dù họ chẳng hề vô tư.

Bob Stuber, một “chuyên gia bảo vệ gia đình” đã được phỏng vấn trong chương trình của Anderson Cooper, một cựu sĩ quan cảnh sát ở California với công việc chính là trình bày về cái mà trang web của ông ta gọi là “chương trình Giải cứu an toàn - một chương trình truyền hình trực tiếp đa phương tiện hỗ trợ trẻ em và cha mẹ chúng có những quyết định nhanh nhạy, tự cứu được mình khi bất ngờ phải đối mặt với những hiểm họa không lường trước được”. Một đĩa hình có tên Giải cứu an toàn: 50 cách ngăn ngừa nạn bắt cóc – cũng được rao bán với giá 25 đô la cộng với 4,99 đô la chi phí vận chuyển.

Stuber xuất hiện liên tục trên truyền hình. Anh ta xuất hiện trong chương The O’Reilly Factor, America’s Most Wanted, Today và cả trong chương trình Oprah. Và với tư cách cố vấn của ABS, anh ta đã tham gia sản xuất một seri truyền hình Primetime Live đặc biệt về nạn bắt cóc trẻ em, cưỡng đoạt và nổ súng trong trường học. Phóng viên Chris Cuomo nói khi mở đầu chương trình Primetime’s ngày 10 tháng 11 năm 2005 “Nguy cơ nổ súng ở trường học đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng ở các trường học trên toàn nước Mỹ”. Hiệu trưởng một trường trung học ở Shawnee, Oklahoma nói với phóng viên này “An ninh là một vấn đề lớn”. “Tôi muốn nói rằng đó là một trong những vấn đề chính ở trường chúng tôi và mọi ngôi trường mà tôi biết”. Ngôi trường này luôn có cảnh sát vũ trang trực chiến 24/24 và còn thường tổ chức các cuộc diễn tập thử khóa trái hết cửa. Như vậy là Primetime với sự tiếp sức của Bob Stuber đã đưa vấn đề an ninh đó ra thử thách.

Trong cảnh các học sinh ở tuổi teen đang chạy ào qua các phòng học trong một buổi diễn tập, Cuomo nói với người xem “Các nhân viên trong trường và học sinh được yêu cầu phải hành động đúng như khi có một kẻ xâm nhập mang vũ khí”. Tất cả đều diễn ra suôn sẻ và mọi người đều hài lòng. Sau đó họ lại chuẩn bị diễn tập lần hai nhưng các học sinh không được biết rằng Stuber và một người trợ lý sẽ đóng vai những tên sát nhân xông vào các phòng học. “Chúng mày chết rồi!”, Stuber quát các học sinh còn đang ngơ ngác và Cuomo thấy ngay kết quả thực tế. “Dù họ biết đây chỉ là diễn tập song cảm giác hoảng hốt đã thay thế cho những nụ cười trong lần diễn tập trước”.

Chương trình chuyển sang phần Stuber giải thích những điều bọn trẻ có thể làm để tự cứu mình khỏi những tên cuồng sát có vũ khí. Không bao giờ đi vào một căn phòng không có cửa sổ. Đổ nước xà phòng ra sàn nhà. Stuber nói với bọn trẻ “Các bạn phải làm điều mà những người khác chưa từng làm trong tình huống này”. “Các bạn phải làm lại lần nữa”. Thế là bọn trẻ lại diễn tập một lần nữa theo đúng những lời khuyên của Stuber và mọi người cảm thấy những đứa trẻ ở Mỹ đang được an toàn hơn trước.

Có thực sự như vậy không? Trong năm học 1997-98, 34 học sinh ở Mỹ đã bị sát hại. Đến năm học 2004-05, năm gần đây nhất có số liệu thì số vụ sát hại đã là 22 vụ. Mỗi vụ lại là một bi kịch nhưng cần nhìn nhận đúng về những vụ sát hại này. Một mặt, đa số những thanh thiếu niên bị sát hại là ở bên ngoài trường học. Trong năm học 1997-98, cứ mỗi em bị sát hại ở trường thì có 35 em bị sát hại ở các nơi khác. Sáu năm sau, tỉ lệ này là 1/75. Cũng cần tính đến số lượng học sinh khá đông trong các trường học ở Mỹ. Trong năm học 1997-98 có khoảng 52 triệu học sinh và với một số lượng lớn như vậy thì khó tránh khỏi có một vài vụ việc nguy hiểm hiếm thấy xảy ra ở đâu đó. Điều cơ bản là một học sinh Mỹ bình thường có 0.00006% nguy cơ bị sát hại ở trường học trong năm học 1997-98, tức là 1/1.529.412. Và từ đó nguy cơ này cũng ngày một giảm bớt.

Những số liệu này lấy từ một báo cáo thường niên có tên Các chỉ số về Tội phạm và An ninh học đường được tiến hành theo yêu cầu của Quốc hội sau vụ “thảm sát Jonesboro” lần đầu tiên đưa ra vấn đề dùng súng trong trường học thành tâm điểm trên cả nước. Các chỉ số về Tội phạm và An ninh học đường cũng theo dõi cái được gọi là “tội phạm bạo lực nghiêm trọng” - tức là các tội cưỡng dâm, cướp giật và tấn công bằng vũ khí. Năm 1994, tỉ lệ tội phạm loại này ở trường học là 13 trên 1.000 học sinh. Con số này tất nhiên là không chính xác vì đó là mức trung bình trên toàn nước Mỹ trong khi có sự khác biệt rất lớn giữa các trường nghèo nàn trong thành phố với các các trường ở vùng nông thôn và ngoại ô thịnh vượng giàu có. Không quan trọng vì tỉ lệ này không tồn tại lâu. Nó đã giảm dần trong những năm 1990 và đến năm 2004 chỉ còn 4 trên 1.000 học sinh, gần 1/3 mức một thập kỉ trước đó. Năm 1993, 12% số trẻ đã trả lời các nhà khảo sát rằng trong vòng 30 ngày gần đây, chúng đã mang một loại vũ khí đến trường; một thập kỉ sau tỉ lệ này đã giảm xuống còn 6%.

Như vậy là câu chuyện bên trong các trường học ở Mỹ đã được sáng tỏ khi bản báo cáo Các chỉ số về Tội phạm và An ninh học đường được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1998 và giờ vẫn rõ ràng: Các vụ sát hại trong trường học rất hiếm khi xảy ra nên nguy cơ xảy đến với bất kì học sinh nào trên thực tế là bằng 0, và tỉ lệ các vụ bạo lực nghiêm trọng đã giảm mạnh và liên tục.

Tất nhiên đây không phải là cảm nhận của mọi người về thực tế, chủ yếu là do sự việc vào ngày 20 tháng 04 năm 1999, hai thiếu niên trang bị vũ khí nguy hiểm bước vào trường trung học Columbine ở Littleton, Colorado. Chúng đã giết chết 1 giáo viên, 12 học sinh, làm bị thương 24 người và gây choáng váng cho hàng trăm triệu người trên toàn thế giới. Vụ thảm sát Columbine này được đăng tải tràn ngập khắp nơi. Trung tâm nghiên cứu Pew cho biết gần 7 trong 10 người Mỹ nói rằng họ đã theo dõi vụ việc này “rất sát sao” khiến nó đã trở thành câu chuyện nói đến nhiều nhất của năm 1999 và nhiều thứ ba trong cả thập kỉ. Câu chuyện nói đến nhiều nhất của năm trước đó là vụ thảm sát Jonesboro.

Các nỗi kinh hoàng liền kề nhau đã tạo ra một mối giàng buộc dư luận thái quá. Báo chí lấy những vụ việc nhỏ nhặt trong trường học để đưa thành tin tức trong nước và quốc tế và thường kèm theo những lời nhận xét của các “chuyên gia an ninh” với giọng điệu như thể một cuộc nội chiến đã nổ ra bên trong mỗi ngôi trường. Các chính sách “không khoan nhượng” - buộc các học sinh phải bị lưu ban hoặc bị đuổi học nếu vi phạm những quy định chống bạo lực dù là nhỏ nhất – đã được phổ biến và thực thi nghiêm ngặt. Thuật ngữ “khóa trái cửa” lúc đầu là một từ lóng trong các nhà tù nay đã trở thành một từ chuẩn tiếng Anh khi các cuộc diễn tập trong đó các học sinh phải tưởng tượng rằng những kẻ cuồng sát đang xuất hiện trong giảng đường đã trở thành chuyện thường ngày. Tiền dành cho sách vở, bảo trì thiết bị máy móc đã phải nhường chỗ cho máy dò kim loại, camera quan sát và bảo vệ.

Đối với các vị phụ huynh thì đây đúng là một thời gian đáng sợ. Báo chí và mọi người xung quanh đều nhất loạt cho rằng tình hình rất nguy cấp và cùng với Quy luật Điển hình và Tốt-Xấu, Trực giác rõ ràng là cũng đồng ý như vậy. Lý trí sẽ phải đấu tranh để điều chỉnh lại cảm giác đó trước mọi hoàn cảnh nhưng khi báo chí không đưa ra những con số để nhìn nhận khách quan về các nguy cơ thì nó cũng chẳng có lý do gì để can thiệp vào được.

Kết quả của cuộc tranh luận một chiều trong đầu này đã thể hiện trong các cuộc thăm dò dư luận. Ngay sau vụ thảm sát Jonesboro, một cuộc thăm dò của ABC/Wall Street Journal cho thấy 71% người Mỹ cho rằng có khả năng hoặc đôi khi là rất có khả năng một vụ nổ súng trong trường học sẽ xảy ra trong địa bàn của họ. Một cuộc thăm dò của USA Today tiến hành sau vụ thảm sát Columbine cũng đưa ra kết quả gần tương tự. Một tháng sau vụ Columbine, một cuộc thăm dò của Gallup cũng cho thấy 52% các bậc phụ huynh lo ngại về sự an nguy của con mình tại trường học; năm tháng sau, con số đó cũng gần như không thay đổi với 47%.

Dù vụ thảm sát Columbine có ghê gớm thế nào thì cũng không thay đổi thực tế là hầu hết các trường và các sinh viên ở đó đều khá an toàn - một điều mà các chính khách lẽ ra phải nói rõ nhưng họ đã không làm thế. Thay vào đó lại là vô số bài diễn thuyết lên án việc nuôi dạy con cái không tốt, các bộ phim bạo lực và loại âm nhạc phản cảm gây lệch lạc cho thanh niên. Một phần đó là do một sự tính toán mà bất cứ nhà cố vấn chính trị nào cũng sẽ tận dụng từ các cuộc vấn đề đó: Vị chính khách nào nói rằng sự việc này thật bi thảm nhưng không làm thay đổi thực tế là chúng ta vẫn khá an toàn thì sẽ bị đối thủ phản bác lại bằng cách quy cho là không hiểu mức độ nghiêm trọng của tình hình hoặc tệ hơn là không hề quan tâm đến tình hình. Đó là một rủi ro chính trị lớn mà người dám đánh liều sẽ chẳng được gì. Chỉ có rất ít người dám làm. Và vì vậy các chính khách sẽ không đấu tranh để chế ngự “nỗi sợ hãi vô lý” mà Roosevelt đã cảnh báo. Họ sẽ nắm lấy và thổi phồng nó lên.

Sự giận dữ sau vụ Columbine dần chìm xuống nhưng đến mùa thu năm 2006, toàn bộ kịch bản đáng sợ này - từ bi thảm thành hoảng loạn – đã được lặp lại. Vào ngày 13 tháng 09, một cựu học sinh đi vào trường Đại học Dawson ở Montreal với một khẩu súng trường. Một học sinh bị giết hại, 19 người bị thương. Ngày 27 tháng 09, một người đàn ông 53 tuổi đi vào một trường trung học ở Colorado bắt 06 cô bé làm con tin và giết chết một học sinh. Hai ngày sau, một học sinh lớp chín ở Wisconsin đã bắn chết vị hiệu trưởng của mình. Và vào ngày 02 tháng 10, một người đàn ông 32 tuổi vào một trường tiểu học ở Pennsylvania và bắn chết 5 em nữ sinh. Một phóng viên vội vã đưa tin trên tờ The Independent của Anh “Các vụ nổ súng trong trường học ở vùng Amish khiến 5 em bị chết là vụ cuối cùng trong loạt vụ thảm sát liên tục gây choáng váng cho mọi người đã được đưa lên các tít báo ở Mỹ”.

Mối giàng buộc dư luận đã được tạo ra và một lần nữa dường như các trường học ở Mỹ lại bị bao vây. Chính quyền Bush đã phản ứng bằng cách triệu tập một hội nghị gây nhiều chú ý vào ngày 10 tháng 10 để thảo luận vấn đề an ninh học đường, đây có thể là một động thái chính trị có hiệu quả nhưng chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Các trường học trên toàn nước Mỹ đã xem xét lại các kế hoạch ứng phó khẩn cấp và chặn mọi cánh cửa lại để tổ chức các buổi diễn tập.

Ngày 04 tháng 12, báo cáo mới nhất của chính quyền về tình hình tội phạm và an ninh học đường đã được đưa ra. Cũng không khác gì các báo cáo trước đó. Trẻ em khi đang ở trong trường còn an toàn hơn nhiều so với khi ở bên ngoài. Tình trạng bạo lực thấp hơn một nửa so với một thập kỉ trước đó và tỉ lệ các vụ bạo lực nghiêm trọng giảm hơn 2/3. Một lần nữa báo cáo lại chỉ ra rằng nguy cơ học sinh bị sát hại trong trường học là rất nhỏ - nhỏ đến mức thực tế là gần bằng 0. Và cũng như các báo cáo trước đó, báo cáo này thực ra không được đưa tin.

Theo một cuộc điều tra thường niên năm 2006 của Gallup về ý kiến của người Mỹ về tình trạng tội phạm, “nỗi lo sợ cho sự an toàn về thân thể của trẻ em đang độ tuổi đến trường” được coi là mối quan tâm chính liên quan đến tội phạm. Một trong năm người Mỹ được hỏi nói họ “thường xuyên” lo lắng rằng con cái của họ có thể bị xây xát khi ở trường. Một người khác trong năm người đó nói rằng “thỉnh thoảng” họ cũng lo lắng như vậy.

Khi chúng ta cứ luôn lo lắng một cách thái quá thì cũng sẽ có những hệ quả của nó. Khóa trái mọi cánh cửa và coi bất cứ ai đi qua là một tên cuồng sát tiềm ẩn và trường học và cộng đồng không còn sự gắn kết sẽ gây ra một sự mất mát không nhìn thấy được, vì như các cuộc nghiên cứu chỉ ra, trường học phát huy hiệu quả nhất khi gắn bó chặt chẽ với cộng đồng bên ngoài. Chi tiền vào các loại thiết bị dò kim loại, bảo vệ và các chuyên gia cố vấn dạy cho bọn trẻ biết cách tránh khỏi các tay súng mà không dành cho sách vở, giáo viên và những thứ khác mà bọn trẻ cần.

Cũng còn có những chi phí ít thấy hơn. Vào tháng 08 năm 2006, một tháng trước khi các vụ nổ súng trong trường học trở thành tin chính và một đợt hoảng hốt lại nổ ra, Hội tâm lý học Mỹ đã thông qua một kiến nghị kêu gọi các trường học hãy điều chỉnh chính sách “không khoan nhượng” của mình vì nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp này thực ra chỉ làm gia tăng những hành vi tiêu cực và còn dẫn đến tỉ lệ bỏ học cao hơn. Tháng 03 năm 2007, Hội các quyền tự do dân sự Mỹ đã đưa ra một báo cáo mô tả về sự hiện diện của cảnh sát ở các trường công ở thành phố New York City là “ồ ạt và hung hãn”. Theo báo cáo này thì cứ mỗi buổi sáng các học sinh đều phải xếp hàng để đợi được đi qua chiếc máy dò kim loại. Một học sinh 18 tuổi nói “Em phải mất hơn 1 tiếng rưỡi đồng hồ để xếp hàng đi qua chiếc máy, vì vậy mỗi sáng em sẽ phải dời nhà sớm hơn để rồi lại phải đợi rất lâu ở lối đi vào cổng trường”. “Chiếc máy soi khiến bạn cảm thấy mình như là một con vật chứ không phải là người nữa. Thậm chí bạn còn bắt đầu nghi ngờ bản thân vì bị các nhân viên đó đối xử như với những con vật”.

Thái độ “giết nhầm còn hơn bỏ sót” bởi sự lo sợ vô lý thậm chí còn có thể dẫn đến sự xem thường một điều cần được coi trọng trên hết. Ngày 20 tháng 10 năm 2006, trong khi cả nước còn đang kinh hoàng vì các vụ nổ súng trong trường học, một em 18 tuổi bị bắn và bị thương rất nặng chỉ cách ngôi trường trung học một tòa nhà ở Asbury Park, New Jersey. Ngay từ đầu rõ ràng là vụ nổ súng này không liên quan đến ngôi trường thế nhưng các quan chức trong thành phố đã ra lệnh đóng cửa năm ngôi trường công ở đây. Một quan chức nói với tờ New York Times. “Các ngôi trường ở đây không được trang bị máy dò kim loại”. “Nếu chúng ta cứ để các trường này mở cửa bình thường thì rất có nguy cơ có thêm một vụ Columbine nữa”. Một uỷ viên hội đồng nhận ra sự thiếu sót trong kiểu tư duy này và nói “Tôi cho là bọn trẻ đến trường sẽ an toàn hơn”. Ông ta nói hoàn toàn đúng.

Dù bóng ma sợ hãi đó là những kẻ nổ súng ở trường học hay những kẻ đang rình mò trong xó tối thì vẫn không thể phủ nhận được những tác hại của nó. Trong một cuộc khảo sát năm 1993, Kidscape, một tổ chức phi chính phủ hoạt động nhằm bảo vệ trẻ em đã cho biết nỗi sợ hãi lớn nhất của các bậc cha mẹ ở Anh là con cái họ bị người lạ bắt cóc đi. Một cuộc thăm dò dư luận do công ty nghiên cứu NOP tiến hành năm 1993 cũng cho thấy 3/4 số phụ huynh ở Anh tin rằng việc con cái họ ra ngoài chơi ngày càng nguy hiểm và 2/3 nói rằng họ rất lo lắng mỗi khi con cái rời khỏi nhà. 1/3 số trẻ chưa bao giờ đi đâu một mình. Chắc chắn là đang có nhiều trẻ em không biết làm gì cả - theo một cuộc khảo sát thì gần một nửa số trẻ em ở Anh dành ít nhất là 3 giờ đồng hồ chỉ để ngồi nhìn chăm chăm vào ti vi hoặc máy vi tính. Theo lời vị giám đốc của một cơ quan bảo trợ trẻ em thì chúng đang được nuôi dạy như “những chú gà công nghiệp”.

Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán về hậu quả của việc nuôi dạy con kiểu này như nhiều chuyên gia đã được cảnh báo. Năm 2007, một nhóm 270 nhà trị liệu và tâm lý học thiếu niên từ Anh, Mỹ, Canada và Úc đã nhấn mạnh về một bức thư ngỏ gửi cho tờ báo Daily Telegraph của Anh nói rằng “hoạt động vui chơi ngoài trời thoải mái không có sự giám sát” rất cần thiết đối với sự phát triển của trẻ và nếu không có nó - một phần là do “bố mẹ quá lo lắng về sự nguy hiểm từ người lạ” sẽ sinh ra “một loạt vấn đề sức khoẻ tinh thần cho những đứa trẻ”.

Phải thừa nhận là điều này nói chung vẫn chỉ là phỏng đoán, nhưng nó còn đáng quan tâm hơn việc bị người lạ bắt cóc và những nỗi lo sợ đang phổ biến khác. Và khi các cô bé cậu bé tiếp tục được dạy rằng người lạ nào cũng là một mối đe doạ, khi nhiều thế hệ được dạy bảo rằng nguy hiểm đang rình rập khắp các ngóc ngách thì đó chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi chúng ta có thêm bằng chứng về tác động của điều này đối với những đứa trẻ khi lớn lên và đối với xã hội mà chúng tạo dựng lên.

Thật không may là nỗi sợ hãi đối với bạo lực đang gặm nhấm chúng ta hiện vẫn đang lan rộng vì chúng che đậy một điều vô cùng quan trọng đó là các nước phát triển hiện đại đã trở thành một trong không nhiều xã hội yên bình nhất trong lịch sử loài người. Tất nhiên, đây là điều khác hẳn với những gì mà mọi người vẫn nghĩ mà chẳng hiểu tại sao. Hầu hết mọi người đều biết rằng tình hình tội phạm bắt đầu tăng nhanh trong những năm 1960, gia tăng trong những năm 1970 và lên đến đỉnh điểm trong những năm 1980. Đến nửa đầu những năm 1990, tình hình tội phạm ở hầu hết các nước hoặc là giữ nguyên hoặc là giảm đi đáng kể (thậm chí là giảm mạnh như ở Canada và Mỹ) nhưng vẫn nhiều hơn trong những năm 1950. Ở Mỹ, tỉ lệ sát hại là 5,6 trên 100.000 dân cư so với năm 1955 chỉ là 4,1. Ở nước Anh và xứ Wales, tỉ lệ này năm 2005 là 1,4, gấp đôi tỉ lệ 0,63 của năm 1955.

Nhưng đây chỉ là những số liệu trong hơn 5 thập kỉ qua, chưa bằng một đời người. Sự lâu dài phải tính bằng thế kỉ chứ không phải thập kỉ và khi đó thì chúng ta mới biết là mình đang sống trong thời đại yên bình như thế nào.

Đây là một câu chuyện cũng có thể thành tin chính vào năm 1278 nếu lúc đó báo chí đã ra đời ở London: “Khi Symonet Spinelli, cô hầu Agnes và Geoffrey Bereman cùng ở trong nhà của Geoffrey thì một cuộc tranh cãi nổ ra giữa họ. Symonet dời khỏi căn nhà rồi đến cuối ngày khi trở lại nhà của Geoffrey le Gorger cùng với anh hầu Richard Russel thì lại gặp Geoffrey. Một cuộc cãi vã lại nổ ra thế rồi Richard và Symonet giết chết Geoffrey”. Nhà sử học James Buchanan Given phát hiện ra câu chuyện này khi đang tìm hiểu đống hồ sơ của các “tòa án lưu động” – các hồ sơ quá đầy đủ nên Given có thể tính toán tỉ lệ sát hại ở London năm 1278 là 15 người trên 100.000 cư dân, cao hơn gần 11 lần tỉ lệ hiện nay.

Kể từ khi Given kết thúc nghiên cứu của mình thì đã có nhiều nhà sử học khác cũng làm công việc tương tự ở Anh và các nước Tây Âu khác và kết quả luôn như nhau. Nhà tội phạm học Manuel Eisner ở trường Đại học Cambridge cho biết đến cuối thời Trung Cổ, “có khoảng 20 vụ giết người trên 100.000 dân”, tức là cao hơn tỉ lệ hiện nay ở Anh là 14 lần và cao hơn ở Mỹ gần 4 lần mặc dù giờ người Mỹ còn được hỗ trợ rất nhiều bởi rất nhiều loại súng đạn rẻ tiền mà thời Trung cổ không có.

Nếu điều này chỉ đúng với Tây Âu cuối thời Trung cổ thì nó cũng không còn thật phù hợp với ngày nay. Nhưng các nhà sử học và các nhà tội phạm học đã đào xới hàng đống tư liệu ở Tây Âu và phát hiện ra một điểm chung bất ngờ: Tỉ lệ giết người dã man ở thời Trung cổ đã giảm dần từ từ sau nhiều thập kỉ và thế kỉ và dừng lại khi bước sang đầu thế kỉ 20. Chúng dao động lên xuống cho đến thập kỉ 1960, tăng lên một chút trong những năm 1980 hoặc 1990 rồi giảm trở lại. Và vì vậy, bất chấp sự gia tăng tội phạm trong những thập kỉ gần đây, tỉ lệ các vụ sát hại hiện nay đang ở mức thấp nhất trong suốt 8 thế kỉ qua.

Chúng cũng có thể là mức thấp nhất từ xưa đến nay. Như Lawrence Keeley đã nêu trong cuốn Cuộc chiến tranh trước nền văn minh: Huyền thoại về người man rợ hiền lành, các nhà khảo cổ và nhân loại học đang tích cực tập hợp các bằng chứng cho thấy các mức độ bạo lực trong các giống người cổ đại và các bộ lạc cô lập ở thời hiện đại đã và đang cao một cách đáng sợ. Trong nhiều thập kỉ, bộ lạc Kung San ở Sa mạc Kalahari vẫn được du khách coi là hiền lành. Một cuốn sách nói về họ còn lấy nhan đề Những người vô hại. Keeley viết, nhưng khi tìm hiểu kĩ hơn, các nhà nghiên cứu nhận thấy tỉ lệ sát hại là “cao hơn ở các nước công nghiệp lớn trong những năm 1950, 1960 đến 20 đến 80 lần”. Khi một nhóm tách biệt 15 gia đình Eskimo Copper lần đầu được tiếp xúc vào đầu thế kỉ 20 “mọi đàn ông trưởng thành đều đã từng liên quan đến việc giết người”. Đến cuối thế kỉ 19, bộ lạc Yaghan gồm những người du mục sống cô lập ở mỏm cực nam của Nam Mỹ được cho là có tỉ lệ giết người cao hơn ở Mỹ đến 10 lần.

Một vài nhà nghiên cứu cho rằng cọi những kiểu giết chóc này là “sát hại” là không đúng vì một số loại bạo lực còn giống với chiến tranh hơn là tội phạm trong nước. Dễ dàng tin vào điều đó, Keeley lấy các ví dụ về Gebuýti, một bộ lạc ở New Guinea. “Theo các tính toán thì quân đội Mỹ có lẽ đã giết hại gần một nửa số dân ở miền Nam Việt Nam trong suốt 9 năm can dự ở đây, cộng với tỉ lệ sát hại trong nước thì sẽ bằng với tỉ lệ sát hại của bộ lạc Gebuýti”.

Kết hợp ví dụ này với nhiều ví dụ tương tự khác cho thấy mức độ bạo lực ở các nước phát triển hiện nay còn thấp hơn nhiều so với mức bình thường của con người. Thực ra, có thể nó còn nằm trong số thấp nhất trong toàn bộ lịch sử loài người.

Và không chỉ là tình trạng bạo lực lộn xộn đã suy giảm mà trong mấy thập kỉ gần đây kể cả chiến tranh cũng đang giảm bớt. Năm 2005, Monty Marshall thuộc Đại học George nói với tờ New York Times rằng “Giờ còn rất ít chiến tranh xuyên thế kỉ so với trước đây và nội chiến cũng ít xảy ra hơn bất kì thời điểm nào kể từ những năm 1960. Một nghiên cứu lớn của Trung tâm An ninh Con người của Đại học Columbia thuộc Anh cũng đưa ra kết luận tương tự. Báo cáo này cho rằng “Trong hơn chục năm qua, môi trường an ninh toàn cầu đã thay đổi đáng kể, theo hướng tích cực và khá bất ngờ”. “Nội chiến, sự giệt chủng và khủng hoảng quốc tế đã giảm mạnh. Không chỉ là nội chiến mà các cuộc chiến tranh quy mô quốc tế cũng như các cuộc đảo chính quân sự và số người chết trung bình trong mỗi cuộc xung đột đã giảm dần trong một thời gian dài”. Báo cáo cũng cho biết, chỉ nói riêng từ đầu những năm 1990, các cuộc xung đột vũ trang dưới nhiều hình thức khác nhau đã giảm đến 40%. Nhưng Andrew Mack, giám đốc trung tâm này lại nói với tôi rằng hầu hết mọi người đều nghĩ ngược lại. Đó là vì “bất cứ khi nào một cuộc chiến nổ ra hoặc có một nhân tố khủng bố chính trị rõ ràng hay bất cứ thứ gì khác xuất hiện thì càng đổ máu nhiều càng được đăng tải nhiều. Khi cuộc chiến lặng dần đến hồi kết thì việc đăng tải cũng sẽ mất dần. Nếu có được đăng lên thì sẽ chỉ xuất hiện trong một đoạn trên trang 16 của tờ New York Times. Và vì vậy ấn tượng song hành với con người là số lượng các cuộc chiến vẫn tăng đều đều và họ không hiểu là thực ra có nhiều cuộc chiến đang đi đến hồi kết hơn những cuộc chiến mới nổ ra.

Tội phạm đang đi xuống. Chiến tranh cũng giảm bớt. Và đó chưa phải là phần kết của những tin tức tốt lành. Steven Pinker viết “Tiêu khiển bằng những trò dã man, thoả mãn sự cuồng tín bằng sự hi sinh của con người, tiết kiệm sức người bằng cỗ máy nô lệ, lấy chinh phục làm tuyên ngôn về sứ mệnh của chính phủ, lấy diệt chủng để giành đất đai, lấy tra tấn và gây tổn thương làm hình phạt thường xuyên, lấy án tử hình để trừng phạt những vi phạm và bất đồng ý kiến, lấy ám sát làm công cụ thay thế chính trị, lấy cưỡng đoạt làm chiến lợi phẩm chiến tranh, lấy tàn sát thoả cơn tức giận, lấy sát hại là cách giải quyết xung đột chính - tất cả đang là những đặc điểm không thể phủ nhận trong suốt chiều dài lịch sử loài người”. “Nhưng ngày nay chúng ít xảy ra đến mức không còn tồn tại ở phương Tây và giảm đi rất nhiều so với trước ở các nơi khác. Chúng chỉ có thể bị che đậy khi mới xảy ra nhưng sẽ bị lên án rộng rãi khi được đưa ra ánh sáng”.

Nói ngắn gọn lại là chúng ta đang văn minh hơn. Đây đúng ra là một tin rất tốt lành. Nhưng bạn đừng mong là sẽ nghe được tin này trên CNN.

« Lùi
Tiến »