Nguy Cơ Risk - Khoa Học Và Chính Trị Về Nỗi Sợ Hãi

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGÀNH HÓA CHẤT ĐÁNG SỢ

Một báo cáo của tổ chức Hòa bình Xanh (Greenpeace(1)) bắt đầu bằng câu “Cơ thể của chúng ta đã trở thành chỗ chứa của hàng chục loại hóa chất độc hại”. “Người ta cho rằng mỗi người trên hành tinh này hiện đang bị nhiễm độc và cơ thể của chúng ta có thể chứa đến 200 loại hóa chất tổng hợp”.

Một dòng tít trên trang web của Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF(2)) cảnh báo rằng “Các hóa chất độc hại đang xâm nhập cơ thể chúng ta”. Khi tổ chức này tiến hành phân tích máu của 13 gia đình ở châu Âu, họ phát hiện ra 72 loại hóa chất nhân tạo, còn khi xét nghiệm ở Anh thì họ thấy tất cả mọi người đều có chất DDT và PCBs, hai hóa chất nguy hiểm đã bị cấm sử dụng cách đây nhiều năm”. Trong một bài viết trên trang web cùng với hình ảnh một bịch máu bị đánh dấu “đã nhiễm độc”, WWF cho biết “Các hóa chất độc hại được tìm thấy trong mô của gần như tất cả mọi người trên trái đất này, việc phơi nhiễm chúng có liên quan đến nhiều căn bệnh ung thư và một loạt vấn đề về sinh sản trong đó có dị tật bẩm sinh”.

Một số người nhìn thấy có một mối liên hệ giữa sự ô nhiễm này với tình hình sức khỏe con người. Trong một bộ phim tài liệu của Tập đoàn Truyền thông Canada (CBC) năm 2006, nhà báo Wendy Mesley đã kể việc cô đã sốc ra sao khi phát hiện ra mình bị ung thư vú, rằng mỗi em bé được sinh sẽ có 50% nguy cơ bị ung thư vào một lúc nào đó trong đời. “Tôi bắt đầu đi tìm hiểu xem cái gì gây ra điều này”. Cô viết rằng, việc hút thuốc và phơi nắng rõ ràng chính là một phần gây ra ung thư cũng như sự già hóa dân số. Nhưng những nhân tố đó không giải thích được tại sao “trong 30 năm qua, căn bệnh ung thư ở trẻ em lại gia tăng hơn 25%”. Mesley đã đi thử máu và phát hiện máu mình bị nhiễm 44 hóa chất và các kim loại, kể cả PCBs. Cô nói “Người tôi đầy các chất carcinogens (chất sinh ung thư) và rõ ràng đây đang là điều phổ biến”. Cô cũng đã phỏng vấn Sam Epstein, một nhà khoa học ở trường Đại học Illinois. Epstein tuyên bố ung thư là một “bệnh dịch”.

Những thông điệp thế này đã được phản ánh trong các cuộc thăm dò dư luận do Paul Slovic và các đồng nghiệp của mình tiến hành ở Mỹ, Canada và Pháp. Kết quả ở cả ba nước đều gần như nhau: 3/4 số người được hỏi nói rằng họ đã “hết sức cố gắng tránh tiếp xúc các hóa chất và các sản phẩm có hóa chất thường gặp hàng ngày”; số người tương đương nói rằng “nếu thấy dù chỉ một lượng nhỏ các chất gây ung thư trong nước máy thì tôi sẽ ngừng uống ngay”; 7/10 số người tin rằng “nếu một người bị phơi nhiễm một hóa chất có thể gây ung thư thì có thể người đó sẽ có lúc bị ung thư” và 6/10 số người đồng ý rằng “việc giảm nguy cơ từ các hóa chất việc là việc không bao giờ thừa”.

Chúng ta không ưa gì các hóa chất. Thậm chí chúng ta còn không thích từ này. Trong các cuộc thăm dò dư luận ở Mỹ, Slovic đã hỏi mọi người khi nghe từ hóa chất họ nghĩ ngay đến điều gì. Kết quả toàn là những hình ảnh tiêu cực, “cái chết”, “độc”, “nguy hiểm”. Trong các cuộc khảo sát ở Canada, nhà dịch tễ học Daniel Krewski ở Đại học Ottawa, đã hỏi mọi người nghĩ gì khi nghe từ nguy cơ và câu trả lời phổ biến là “hóa chất”.

Nước là một hóa chất, cũng như sữa mẹ. Nhưng giờ đây chúng ta không còn quan niệm như vậy nữa. Hóa chất chỉ được tạo ra trong phòng thí nghiệm và được sản xuất trong các nhà máy công nghiệp lớn. Và chúng vốn nguy hiểm nên cần phải tránh tiếp xúc. Chính sự định nghĩa lại về “hóa chất” với những dấu ấn văn hóa đã đưa những sản phẩm hữu cơ từ một thị trường nhỏ lẻ thành một ngành công nghiệp trị giá hàng tỉ đô la và tại sao từ tự nhiên lại trở thành một từ được các nhà tiếp thị doanh nghiệp ưa thích bất kể họ đang bán cái gì. Một đoạn quảng cáo xuất hiện trên các tạp chí Mỹ năm 2006 viết rằng “Bất kì loại thuốc lá nào cũng có chứa các chất phụ gia chiết xuất từ một danh mục 409 hóa chất thường được sử dụng trong các thuốc lá”. “Sức sống thiên nhiên Mỹ chính là thương hiệu duy nhất đặc trưng cho cả hai loại thuốc lá 100% sợi hữu cơ cũng như loại thuốc lá 100% sợi tự nhiên không chất phụ gia”.

Điều này còn khá mới mẻ. Trước thập niên 1960, “hóa chất” còn được coi là một món quà do khoa học mang lại. Nó mang ý nghĩa của sự tiến bộ và thịnh vượng, một hình ảnh mà tập đoàn DuPont muốn tận dụng năm 1935 với một câu slogan mới “Những điều tốt đẹp cho cuộc sống tốt đẹp hơn... nhờ có ngành hóa chất”. Các sản phẩm mới đã đến với thị trường mà không hoặc rất ít được thử nghiệm, chúng được sử dụng đại trà mà ít người suy nghĩ về chuyện an toàn. Đó là thời kì mà trẻ em khi đứng dưới một chiếc máy bay đang phun hóa chất cho cây trồng chỉ được mẹ chúng rửa mặt bằng một chiếc khăn mặt chưa đủ sạch mà không biết.

Thời kì đó đã chấm dứt vào năm 1962, khi Rachel Carson, một nhà sinh học hàng hải làm việc cho Dịch vụ thủy sản và động vật hoang dã đã xuất bản một cuốn sách có tên Silent Spring (Mùa xuân lặng lẽ). Carson viết “Lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả mọi người đều đang phải tiếp xúc với các hóa chất nguy hiểm ngay từ khi thụ thai cho đến khi chết đi”. Mối quan tâm chính của Carson trong cuốn sách này là sự nguy hại gây ra cho thế giới tự nhiên khi tùy tiện sử dụng các hóa chất tổng hợp, nhất là DDT, một loại thuốc trừ sâu sẽ tiêu diệt hết chim muông và nguy cơ bắt đầu một giai đoạn với những mùa xuân thầm lặng không còn tiếng chim hót. Nhưng cuốn sách sẽ chẳng có gì để nói nếu chỉ dừng lại ở đó. Carson còn lập luận thêm rằng món hầm hóa chất đang làm tê liệt thế giới này cũng sẽ gây hại cho chính con người. Trong một chương có nhan đề “Cứ một trong bốn”, Carson lưu ý rằng việc phổ biến các hóa chất tổng hợp bắt đầu từ cuối thế kỉ 19 luôn song hành với sự gia tăng căn bệnh ung thư. Ở Mỹ, ung thư “chiếm 15% số người chết năm 1958 so với chỉ có 4% năm 1900”. Nguy cơ bị mắc ung thư vào một lúc nào đó trong đời có thể là với một tỉ lệ đáng ngại 1/4 và tình hình đối với trẻ em thậm chí còn đáng lo hơn nữa. Một phần tư thế kỉ trước, bệnh ung thư của trẻ em còn được coi là những ca vô cùng hãn hữu trong y học. Giờ đây ngày càng có nhiều người Mỹ chết vì ung thư hơn bất kì căn bệnh nào khác. 12% số trẻ em tử vong ở độ tuổi 1-14 là do căn bệnh ung thư.

Thật khó mà cường điệu tác động của cuốn Silent Spring. Cuốn sách đã có ảnh hưởng đến cả một thế hệ những nhà lãnh đạo và những công dân có trách nhiệm, trong đó có thẩm phán Tòa án Tối cao William O. Douglas và Tổng thống John F. Kennedy. Ngành công nghiệp hóa chất đã tung ra một chiến dịch tấn công tệ hại nhằm vào Carson – coi như một “người phụ nữ quá khích” - nhưng điều đó chỉ làm cho cuốn sách được chú ý nhiều hơn. Người ta còn lập ra các ủy ban điều tra về những tuyên bố cáo buộc của Carson và các nhóm dân sự được thành lập để gây sức ép nhằm đưa ra lệnh cấm sử dụng DDT và các hóa chất khác. Đó là khởi đầu của một phong trào môi trường thời hiện đại. Năm 1970, Ngày Trái đất(3) đầu tiên đã được tổ chức. Năm 1972, DDT đã bị cấm ở Mỹ. Năm 1982, DuPon đã bỏ câu “nhờ có ngành hóa chất” trong slogan của mình. Đến những năm cuối thế kỉ trước, Silent Spring đã thường xuyên xuất hiện trong danh mục các cuốn sách có ảnh hưởng nhất mọi thời đại và tạp chí Time đã xếp Carson vào là một trong “100 vĩ nhân của thế kỉ 20”.

Carson đã không sống được để thấy những lời nói của mình đã làm thay đổi thế giới thế nào. Bà đã chết năm 1964 bởi căn bệnh ung thư vú.

Bệnh ung thư chính là mấu chốt giải thích tại sao cuốn Silent Spring đã tạo nên một cơn chấn động như thế. Đó không chỉ là một căn bệnh như Carson đã cảnh báo. Chính từ “ung thư” cũng nghĩa là “không sạch sẽ” như một người từng sống sót đã viết trong cuốn hồi kí năm 1956. “Nó giống như một con quái vật đang vươn những chiếc tua tham lam vào linh hồn cũng như thể xác những người đang sống. Nó tiêu hủy ý chí người ta sau khi gặm hết phần xác thịt”. Ung thư là một hình ảnh đặc biệt trong môi trường văn hóa hiện đại. Nó không chỉ là một căn bệnh mà còn là một tên sát nhân đang trườn ra và chúng ta sợ nó hơn hết thảy mọi thứ. Các cuộc khảo sát của Paul Slovic chỉ ra rằng ung thư là căn bệnh lớn duy nhất mà trên thực tế luôn bị công chúng nói quá lên về số người người chết. Nó cũng được xuất hiện trên báo chí nhiều nhất bất kể số người chết thế nào.

Song dù có mặt khá nhiều trong môi trường văn hóa của chúng ta, ung thư không phải lúc nào cũng là điều gây ác mộng. Trong cuốn Fear: A Cultural History (Sự sợ hãi: Một nền lịch sử mang tính văn hóa), Joanna Bourke viết “Năm 1896, American Journal of Psychology (Chuyên san Tâm lý học Mỹ) cho biết khi được hỏi họ sợ nhất căn bệnh nào, chỉ có 5% số người trả lời đó là ung thư trong khi từ 1/4 đến 1/3 số người quan tâm đến các chứng bệnh có đặc tính khó chịu như thủy đậu, bệnh cứng hàm (một dạng bệnh do uốn ván), lao phổi và chứng sợ nước (bệnh dại). Trong tất cả các nỗi kinh sợ, việc bị dập nát trong một tai nạn tầu hỏa hay một cơn động đất, bị chết đuối, thiêu sống, bị sét đánh hay bị bệnh bạch cầu, bị phong hay viêm phổi, tất cả đều được xếp trên ung thư”.

Nhưng điều này đã thay đổi kể từ sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Vào năm 1957, ung thư là một nỗi kinh hoàng đến mức Bourke đã trích lời một bác sĩ chuyên khoa ung thư rằng căn bệnh này đã trở thành “một con ác quỷ” và nỗi sợ hãi căn bệnh ung thư – hay như ông gọi là “hội chứng sợ ung thư” – đã trở thành một đại dịch đúng nghĩa. Ông viết “Có lẽ bây giờ hội chứng sợ ung thư còn gây nhiều khổ sở hơn chính căn bệnh ung thư”. Trong cuốn Silent Spring, Carson nói với mọi người rằng nỗi ám ảnh mới này không chỉ có trong những cơn ác mộng mà ở tất cả những gì xung quanh họ, trong không khí họ hít vào, trong đất dưới chân họ, trong thức ăn họ ăn vào, thậm chí cả trong máu của họ. Không có gì lạ là mọi người đã chú ý đến điều này.

Các con số mà Carson đưa ra cho thấy nỗi sợ căn bệnh ung thư đang tăng nhanh chỉ vì căn bệnh này đang tăng nhanh. Nhưng những con số này không thật chính xác.

Khi tuyên bố rằng ung thư “chiếm 15% số người chết năm 1958 so với 4% năm 1900”, Carson đã mắc một sai lầm cơ bản khi nhận định quá giản đơn rằng căn bệnh này có tỉ trọng lớn hơn trong tổng số các dạng bệnh tật là do tỉ lệ mắc bệnh này ngày một tăng lên. Nhưng theo số liệu của Cục Điều tra Dân số Mỹ thì ung thư là căn bệnh gây chết người đứng thứ 7 trong giai đoạn 1900-1904. Căn bệnh số 1 vẫn là lao phổi. Số 4 là tiêu chảy và viêm ruột. Số 10 là sốt thương hàn và số 11 là bệnh bạch cầu. Sốt Scarlet (sốt phát ban), ho gà và sởi không xếp ở các vị trí đầu bảng nhưng lại gây con số tử vong đáng kể. Khi Carson viết sách vào cuối những năm 1950 thì các loại vắc-xin, thuốc kháng sinh và vệ sinh dịch tễ đã làm giảm đáng kể hoặc thậm chí là xóa bỏ tất cả những nguy cơ gây chết người này. (Năm 1958, bệnh lao phổi đã giảm từ vị trí số 1 xuống vị trí thứ 15, viêm ruột đứng vị trí thứ 19. Tử vong do bạch cầu, sốt phát ban và các bệnh còn lại gần như đã không còn). Khi số tử vong do các bệnh này giảm mạnh thì tỉ trọng số người chết vì ung thư sẽ tăng lên cho dù tỉ lệ người chết vì căn bệnh này chẳng thay đổi chút nào.

Điều tương tự cũng thể hiện trong một câu mà Carson nghĩ là quan trọng nên đã in nghiêng: “Ngày càng có nhiều trẻ em đang trong độ tuổi đi học bị ung thư hơn hẳn mọi căn bệnh khác”. Đến năm 1962, những căn bệnh gây tử vong trẻ em truyền thống đã bị đẩy lùi. Ngày càng có nhiều trẻ em chết vì ung thư hơn mọi các căn bệnh khác không phải vì số trẻ chết vì ung thư nhiều mà vì số trẻ chết bởi các căn bệnh kia không nhiều.

Còn tiêu đề một chương sách của Carson về bệnh ung thư – “Cứ một trong bốn” bắt nguồn từ một báo cáo năm 1955 của Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) dự đoán rằng tỉ lệ người mắc ung thư khi đó là 1 trong 5 người sẽ có thể tăng lên là 1 trong 4 người. Nhưng vì tuổi tác là nguy cơ chính gây ra ung thư cho nên việc ngày càng có nhiều người sống lâu cũng tức là ngày càng có nhiều người bị ung thư, chủ yếu là khi họ đã già, tức là “nguy cơ vào một lúc nào đó trong đời” phải cao. Tuy nhiên, ACS cũng lưu ý rằng đây chưa phải là toàn bộ sự thật. Số liệu về ung thư khi đó còn khá sơ sài nhưng trong hai thập kỉ trước đó rõ ràng số ca ung thư ở phụ nữ đã tăng gấp đôi và ở nam giới đã tăng gấp 6 lần, đây cũng chủ yếu là do một loại ung thư. Theo báo cáo này thì ung thư phổi là “dạng ung thư duy nhất thể hiện rõ rệt xu hướng này”.

Ung thư phổi bắt đầu tăng vọt trong những năm 1920, 20 năm sau khi những người đàn ông ở Mỹ và phương Tây bắt đầu có thói quen hút thuốc. Cho đến những năm 1920-1930 thì phụ nữ cũng bắt đầu hút thuốc ngày một nhiều và 20 năm sau đó số phụ nữ bị ung thư cũng tăng. Khi số người bỏ thuốc (mà trước tiên cũng lại là nam giới) bắt đầu giảm trong những năm 1960-1970 thì số người bị ung thư 20 năm sau đó cũng giảm. Việc hút thuốc chủ yếu liên quan đến ung thư phổi nhưng cũng là tác nhân gia tăng các căn bệnh ung thư khác như ung thư thanh quản, tuyến tụy, thận, cổ tử cung, bàng quang, vòm họng và thực quản.

Nhưng trong cuốn Silent Spring, Carson không hề nói gì về việc hút thuốc. Thực ra bà chỉ nhắc đến thuốc lá khi nói về các loại thuốc trừ sâu có chứa thạch tín (và cũng được in nghiêng để nhấn mạnh) được phun trên các cánh đồng thuốc lá: “Lượng thạch tín trong thuốc lá sản xuất tại Mỹ đã tăng hơn 300% trong khoảng từ năm 1932 đến 1952”. Carson cũng hùa theo một giả thuyết đang phổ biến khi đó. Hút thuốc lá không gây chết người. Thuốc lá là tự nhiên và an toàn. Chỉ có những hóa chất được cho vào thuốc lá mới gây chết người. Giả thuyết này được Wilhelm Hueper của thuộc Hiệp hội Ung thư Quốc gia đưa ra, người có nhiều ảnh hưởng lên quan điểm của Carson và được nhắc đến nhiều lần trong cuốn sách.

Khi đó thì giả thuyết này không phải là không có lý. Nghiên cứu về sự liên hệ giữa việc hút thuốc và bệnh ung thư vẫn còn khá mới và người ta chưa biết nhiều về hóa chất tổng hợp cũng như sức khỏe con người. Và dù căn bệnh ung thư không gia tăng nhiều như Carson nêu ra nhưng nó là có thật và khả năng nguyên nhân chính là những hóa chất mới kì diệu này thật sự đáng sợ.

Một nghiên cứu của nhà khoa học tên là John Higginson – người sau này đã thành lập ra một cơ quan nghiên cứu về ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – đã bổ sung thêm những lý do để lo lắng khi so sánh các khối ung thư giữa người châu Phi với người Mỹ gốc Phi. Higginson nhận thấy nhóm thứ hai có nhiều nguy cơ bị ung thư hơn. Tính di truyền này không nằm trong những nhân tố chính gây ra ung thư. Dựa trên nghiên cứu này cũng như các nghiên cứu khác, Higginson ước đoán khoảng 2/3 số người mắc ung thư là do những nguyên nhân mà theo ông có là liên quan đến môi trường. Tuy nhiên, ông không nói về môi trường theo nghĩa trong cuốn sách Silent Spring. Đối với ông, môi trường tức là những gì không liên quan đến di truyền, trong đó có cả việc hút thuốc. Ông nói trong một bài phỏng vấn của tạp chí Science (Khoa học) năm 1979 “Môi trường là tất cả những gì xung quanh tác động lên con người”. “Không khí bạn hít thở, môi trường mà bạn đang sống trong đó, tập quán canh tác và các tập tục trong cộng đồng, những áp lực xã hội, những hóa chất mà bạn tiếp xúc, thức ăn…”. Với sự tiến bộ của khoa học, giả thuyết của Higginson đã được chứng minh là đúng và các chuyên gia ung thư thường xuyên nói về các nguyên nhân liên quan đến môi trường, nhưng điều này chỉ gây thêm sự hiểu nhầm. Ông nói “Sau này có rất nhiều sự nhầm lẫn kì cục vì mọi người không xem lại khái niệm ban đầu mà cứ coi từ “môi trường” là hóa chất”.

Quan niệm sai lầm này còn phổ biến trong các nhà hoạt động vì môi trường. Năm 2002, Bob Hunter – người đồng sáng lập ra tổ chức Hòa bình Xanh - nói “Ung thư được xác định là một căn bệnh do môi trường – nghĩa là nó phát ra từ các tế bào trong người chúng ta khi hấp thụ các hóa chất độc hại từ không khí, nguồn nước và thức ăn”. (Khi đó ông cũng đang phải chống chọi với căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt và có thể chết 3 năm sau đó).

Higginson đã liệt kê ra nhiều lý do khiến cho giả thuyết của ông bị hiểu sai. Một trong số đó là sự bàng quan vô tư trước sự an toàn của con người của ngành công nghiệp hóa chất giai đoạn trước khi có cuốn Silent Spring, nên rất dễ nghĩ rằng đó chính là tội phạm gây ra căn bệnh ung thư. Và “cuốn sách của Rachel Carson như một bước ngoặt giúp chúng ta chợt nhận ra số lượng lớn các loại hóa chất mới, các chất gây ô nhiễm, các loại thuốc trừ sâu, các chất xơ và nhiều thứ khác trong môi trường”. Ông cũng nói rằng các nhà môi trường “thích nhìn nhận cực đoan bởi lo sợ căn bệnh ung thư”. Nếu họ có thể làm cho mọi người tin rằng ung thư là do ô nhiễm thì mọi người sẽ tích cực làm sạch nguồn nước, không khí hay bất kể thứ gì. Giờ thì chỉ cần làm sạch mọi thứ và ngăn chặn Love Canals(4), nhưng tôi không cho là cần phải ngụy biện mới có thể làm việc này. Biến căn bệnh ung thư thành một tấm bia đỡ cho các vấn đề môi trường có thể cản trở những hành động đúng đắn thiết thực, như đã từng xảy ra với thuốc lá”.

Higginson cũng thận trọng không lên án các nhà môi trường đã cố tình không thành thật. Đây đúng hơn là sự nhiệt tình thái quá. Ông nói “Mọi người thường thích chứng minh rằng ung thư là do ô nhiễm môi trường nói chung. Sẽ dễ hơn khi nói “hãy chấn chỉnh lại mọi thứ để không còn bị phơi nhiễm thì chúng ta sẽ không bị ung thư nữa”. Một quan niệm quá tốt đẹp đến mức có thể lái mọi thực tế theo hướng ngược lại. “Mọi thực tế” đó bao gồm cả nhận định rằng “giữa các thành phố bị ô nhiễm và các thành phố sạch đẹp thì các dạng ung thư cũng không khác nhau nhiều”. “Bạn không thể hiểu tại sao Geneva, một thành phố không hề có các nhà máy nào lại có nhiều người mắc ung thư hơn thành phố Birmingham ở một thung lũng miền trung rất ô nhiễm của nước Anh”.

Đó là thời điểm năm 1979. Kể từ đó, “mọi thực tế” đã phát triển liên tục và giờ đây các nhà nghiên cứu ung thư hàng đầu đều thống nhất rằng một lượng nhỏ các hóa chất tổng hợp trong môi trường – những thứ có thể xuất hiện trong máu của bất kì ai – không phải là nguyên nhân chính gây ung thư. Hiệp hội Ung thư Mỹ trong cuốn Cancer Facts and Figures, 2006 (Ung thư – Con số và sự kiện năm 2006) đã cho biết “Người ta thấy rằng việc tiếp xúc với các chất ô nhiễm trong môi trường lao động, môi trường sống và các môi trường khác chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong số những người chết vì ung thư”. Trong đó, việc tiếp xúc trong môi trường làm việc – chẳng hạn như những công nhân làm trong các lò nấu nhôm, các thợ mỏ từng phải đào amiăng trong những điều kiện không an toàn – chiếm tỉ lệ lớn nhất, liên quan đến khoảng 4% các ca ung thư. ACS cũng ước đoán chỉ có 2% các bệnh ung thư là do tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm môi trường “nhân tạo và sản sinh trong tự nhiên” – một nhóm khá rộng gồm khí phóng xạ sản sinh trong tự nhiên (do sự phân giải của chất radi gây ra) cho tới khí thải công nghiệp và khói bụi ô tô.

Điều quan trọng cần hiểu là không phải mọi hóa chất gây ung thư trong môi trường đều là do con người tạo ra. Hoàn toàn không phải. Chẳng hạn như rất nhiều sản phẩm thực vật tự tạo ra các chất này như một cơ chế tự vệ trước côn trùng hoặc những kẻ xâm nhập khác vì vậy mà thực phẩm của chúng ta đã có sẵn các chất tự nhiên gây ung thư. Chúng có mặt trong cà phê, cà rốt, cần tây, lạc, và rất, rất nhiều sản phẩm khác. Bruce Ames, một nhà nghiên cứu ung thư hàng đầu của trường Đại học California ở Berkeley, ước tính “trong số những loại thuốc diệt trừ sâu bọ mà con người ăn phải thì có 99,99% là tự nhiên” và một nửa các hóa chất được thử nghiệm – tổng hợp (nhân tạo) hoặc tự nhiên – đều gây ra ung thư với tỉ lệ cao trong các cuộc thí nghiệm trên động vật. Vì vậy rất có thể là các hóa chất tổng hợp chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong 2% số căn bệnh ung thư được cho là do ô nhiễm môi trường, Ames còn tin rằng tỉ lệ chính xác chưa đến 1%.

Các tổ chức y tế lớn đều đồng ý là sự có mặt của các hóa chất tổng hợp trong môi trường không phải là một nhân tố lớn gây ra hiểm họa. Điều vô cùng quan trọng đó là lối sống. Hút thuốc, uống rượu, ăn uống, chứng béo phì và tập luyện: mặc dù rất khác nhau nhưng hầu hết mọi người đều dự đoán là chúng gây ra khoảng 65% các căn bệnh ung thư. Ngay từ đầu những năm 1930, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tỉ lệ ung thư ở các nước giàu cao hơn ở các nước nghèo, một sự khác biệt đến nay vẫn còn tồn tại nhờ sự khác biệt lối sống. Trong Báo cáo ung thư toàn cầu, WHO cho rằng “Gánh nặng do căn bệnh ung thư nói chung là cao nhất ở các nước no đủ, chủ yếu là do có nhiều khối u liên quan đến việc hút thuốc và sống theo kiểu phương Tây”. Rõ ràng là có một nghịch lý ở đây. Những người sống trong xã hội giàu có như chúng ta thật là may mắn song chính sự giàu có đó lại dẫn đến một lối sống mà bằng nhiều cách khác nhau đã làm gia tăng căn bệnh ung thư.

Những điều này không thể thuyết phục được cả một đội quân các nhà môi trường, các nhà hoạt động xã hội và các công dân quan tâm đang vận động chống lại các hóa chất mà họ tin là một (thậm chí là duy nhất) nguyên nhân chính gây nên ung thư. Câu hỏi thú vị ở đây là tại sao. Khi có một sự đồng thuận rộng rãi như vậy về mặt khoa học thì tại sao mọi người lại cứ tin vào những điều ngược lại? Có nhiều câu trả lời, nhưng câu trả lời sâu sắc nhất đã được John Higgingson gợi ra trong bài phỏng vấn năm 1979 “Tôi cho là nhiều người có một niềm tin mạnh mẽ trong tiềm thức rằng ô nhiễm sẽ gây ra ung thư”.

Các cuộc khảo sát của Paul Slovic đã hé mở điều này. Đa số những người Mỹ, Canada và Pháp đều nói rằng họ tránh tiếp xúc với hóa chất càng nhiều càng tốt, nếu thấy có dù chỉ một lượng nhỏ các chất gây ung thư trong nước máy thì họ sẽ ngừng uống ngay và tin rằng nếu một người bị phơi nhiễm một hóa chất gây ung thư thì “rất có thể người đó sẽ có lúc bị ung thư”. Đối với những người này rõ ràng việc có các hóa chất gây ung thư trong người là một nguy cơ lớn.

Nhưng điều này lại không giống với cách nhìn của các nhà độc tố học. Từ hồi thế kỉ 16, Paracelsus đã viết “Tất cả các chất đều độc, chẳng có chất gì là không độc”. “Độc dược hay thuốc chữa bệnh chỉ khác nhau ở liều lượng”. Đó là nguyên tắc đầu tiên trong ngành độc tố học. Uống đủ một lượng nước cho đến khi lượng natri và kali trong cơ thể không còn cân bằng sẽ dẫn đến tai biến, hôn mê và thậm chí là tử vong. Tiêu thụ một lượng rất nhỏ các chất gây chết người thì vẫn chưa có hại gì – giống như hàng nghìn tỉ nguyên tử phóng xạ đang có trong người chúng ta sau khi ăn những loại rau cỏ và uống nước hấp thu các chất uran tự nhiên có trong đất. Điều quan trọng không phải là trong người chúng ta có một chất gì đó hay không mà có bao nhiêu. Lois Swirsky Gold, nhà khoa học cấp cao ở Phòng thí nghiệm quốc gia Berkeley thuộc Bộ Năng lượng Mỹ và là giám đốc của Dự án Nồng độ các chất gây ung thư ở Đại học California ở Berkeley, đã nói “Điều quan trọng mọi người cần biết là trước tiên hãy phải xem mình đã bị nhiễm ở mức độ thế nào”.

Cách nhìn này đã làm thay đổi mọi thứ. Khi khảo sát trên các nhà độc tố học ở Mỹ, Anh và Canada, Paul Slovic nhận thấy đa số nói họ không cố gắng tránh tiếp xúc với các hóa chất hàng ngày, họ không bận tâm đến sự có mặt của các chất gây ô nhiễm và họ không đồng ý với việc phơi nhiễm chất gây ung thư có thể dẫn đến mắc ung thư. Số lượng các hóa chất tổng hợp xuất hiện trong mẫu máu gần như luôn là vô cùng nhỏ. Chúng được đo bằng phần tỉ và có khi là phần nghìn tỉ. Đối với các nhà độc tố học thì nó quá nhỏ đến mức không cần phải lo lắng.

Nhưng điều đó không có ý nghĩa trong tiềm thức. Con người có bản năng luôn lùi lại để tránh bị nhiễm các chất độc bất kể liều lượng ra sao. Paul Slovic gọi đó là “độc tố học cảm tính”. Điều này đã có từ thời tổ tiên xa xưa của chúng ta. Mỗi khi uống nước, họ đều phải xem nó có an toàn không. Mỗi khi hái một thứ quả từ một bụi cây hay cắt một miếng thịt, họ đều phải xem xét liệu mình có thể ăn được những thứ đang cầm trên tay hay không. Mỗi khi có ai đó bị sốt, họ đều phải nghĩ xem làm thế nào để chăm sóc người đó mà không để mình cũng mắc bệnh theo và khi người đó chết, họ phải chôn cất cẩn thận xác người xấu số cùng với mọi vật dụng liên quan. Chúng ta đã phải đối phó với những thứ nguy hiểm từ rất lâu rồi.

Hãy xem xét một trong những chất độc hại đáng sợ nhất mà tổ tiên của chúng ta gặp phải, đó là chất thải của con người. Toàn bộ vòng tuần hoàn của dịch tả chẳng hạn đều liên quan đến chất thải: Một người uống nước có vi khuẩn sẽ bị đi ngoài nhiều khiến cho dịch bệnh này lây lan ra mọi nguồn nước liên quan. Và như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, việc tránh tiếp xúc với chất thải, hay những thứ có dính dáng đến chất thải là điều tối cần cho sự tồn tại của con người. Không thể có ngoại lệ nào ở đây. Việc tiếp xúc dù với lượng nhỏ thế nào cũng sẽ gây nguy hiểm và cần tránh: Những người thực hiện theo nguyên tắc này thường sống lâu hơn những người không thực hiện theo, và điều đó đã trở thành một bản năng ăn sâu trong con người.

Chúng ta có thể hiểu đúng về nguyên tắc trong ngành độc tố học “độc là ở liều lượng”. Nhưng Trực giác thì không hiểu như vậy vì điều này không nằm trong tiềm thức và có thể dẫn đến một số kết luận khó hiểu. Trong cuốn The Varieties of Scientific Experience (Những sai số trong khoa học), nhà thiên văn học quá cố Carl Sagan đã kể về câu chuyện trái đất sẽ đi qua cái đuôi sao chổi Halley năm 1910 “ở Nhật Bản, Nga và nhiều vùng ở miền Nam và Trung Tây nước Mỹ, một sự hoảng loạn đã bao trùm”. Một nhà thiên văn đã phát hiện ra trong cái đuôi sao chổi có nhiều chất trong đó có xyanua. Đây là một chất độc chết người. Vì vậy mọi người cho rằng khi trái đất đi qua sao chổi này thì mọi người sẽ bị nhiễm độc. Sagan nhớ lại “Các nhà thiên văn đã phải trấn an mọi người”. Họ nói rằng vẫn chưa rõ liệu trái đất có chạm cái đuôi đó không và dù có như vậy thì mức độ xyanua vẫn rất thấp nên gần như là không ảnh hưởng gì. Nhưng không ai tin các nhà thiên văn... Hàng trăm nghìn người mặc quần áo ngủ trèo lên các mái nhà ở Constantinople(5). Giáo hoàng đã ra một tuyên bố lên án việc tích trữ các bình ôxy ở Rome. Và trên thế giới nhiều người đã tự tử”.

Tổ tiên của chúng ta chỉ có thể phân tích thế giới này bằng các giác quan của mình và bằng cả “độc tố học cảm tính” (intuitive toxicology) đối với những người không có những công cụ đó. Nhưng khoa học đã khám phá những điều có ở đuôi sao chổi và cũng phát hiện ra sự ô nhiễm trong đất, nước và không khí với những lượng nhỏ hơn cảm giác có thể thấy được. Thực tế là ngày nay chúng ta có đủ trình độ công nghệ để phân tích thành phần nước uống đến mức một phần tỉ - tương đương với một hạt đường trong một cái bể bơi thi đấu Olympic – thậm chí một số phân tích còn có thể đạt mức một phần nghìn tỉ. Trực giác không biết những con số đó thì có ý nghĩa gì. Chúng chỉ có thể nằm ở khả năng giỏi tính toán của một Cái Đầu cho nên để hiểu được chúng ta phải dùng hình ảnh một hạt đường trong một cái bể bơi.

Những hóa chất tổng hợp nằm trong cơ thể đang gây lo lắng cho mọi người thường chỉ là những lượng rất nhỏ gần như không thể mô tả. Chúng chỉ là những lượng nhỏ, giống như lượng kim loại nặng phóng xạ mà chúng ta vô tư tiêu thụ trong suốt cuộc đời mà không biết đến sự tồn tại thầm lặng của chúng. Đúng là nhiều loại hóa chất có thể gây ung thư hay các tác hại kinh khủng khác nhưng căn cứ khoa học của những kết luận này lại không nằm ở số lượng nhỏ thế này. Thậm chí còn cho thấy điều ngược lại.

Bước thí nghiệm đầu tiên về tác hại của chất gây ung thư là trên những chú chuột với lượng hóa chất có thể giết chết chúng. Điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu biết về một lượng cao hơn cái gọi là “Liều lượng tối đa cho phép” (MTD). Từ đó họ đã giảm bớt liều lượng hóa chất này và tiêm vào một số con. Nếu chúng vẫn sống thì họ sẽ biết mức MTD là bao nhiêu. Bước tiếp theo, họ tiêm vào 50 con chuột với mức MTD này và 50 con chuột khác với một mức chỉ bằng 1/10 hoặc 1/2 và thêm một nhóm thứ ba gồm 50 con chuột khác may mắn không bị tiêm gì cả. Cuộc sống bình thường của đám chuột này được theo dõi liên tục hàng ngày trong khoảng 2 năm. Rồi các nhà khoa học mổ xẻ chúng ra để tìm các khối ung thư hay các biến chứng khác. Cùng với dự án này, người ta cũng tiến hành một quy trình tương tự với các nhóm chuột khác, ít nhất là trên các giống chuột khác.

Các xét nghiệm đã cho thấy nhiều con có ung thư. Gần 1/3 số con vật gặm nhấm này có những khối u dù chẳng được tiêm cái gì vào. Vì vậy để xác định một hóa chất có gây ung thư hay không thì những con chuột được tiêm chất này phải có tỉ lệ ung thư cao hơn. Và thường là như thế. Lois Swirsky Gold nói rằng “Một nửa được xét nghiệm là chất gây ung thư với liều cao”. Nhưng sự liên quan của phát hiện này với việc nhiễm một lượng độc chất vẫn chưa rõ ràng vì các số lượng ở đây rất khác nhau. “Với các dư chất thuốc trừ sâu, lượng tìm thấy trong người còn thấp hơn 100.000 hoặc 1.000.000 lần so với lượng tiêm vào các chú chuột trong các thí nghiệm này”. Còn một câu hỏi đặt ra là các giống chuột có phản ứng trước một loại hóa chất giống như con người hay không. Chẳng hạn, các cuộc thí nghiệm cho thấy xăng dầu có thể gây ung thư cho chuột đực nhưng khi nghiên cứu kĩ hơn về lượng xăng dầu có thể gây ung thư, các nhà khoa học nhận ra rằng nguyên nhân chính lại là sự kết hợp giữa một hóa chất có trong xăng dầu với một loại protein tìm thấy trong thận của những chú chuột này - một loại protein không hề có trong cơ thể người. Thật không may, những phân tích cụ thể nhằm xác định chính xác làm sao một hóa chất có thể gây ung thư cho các con vật thí nghiệm vẫn chưa được thực hiện với hầu hết các hóa chất được cho là có thể gây ung thư, cho nên có một loạt hóa chất được coi là gây ra ung thư ở các loại chuột, nhưng không rõ bao nhiêu hóa chất ở đây có thể thực sự gây ra ung thư ở người.

Một công cụ thứ hai mà các nhà khoa học sử dụng để xác định liệu một hóa chất có phải là chất gây ung thư hay không đó là nghiên cứu xem trong số đông dân cư những người tiếp xúc với hóa chất đó có thể bị ung thư nhiều hơn hay không. Đây là một lĩnh vực dịch tễ học đã có nhiều đóng góp cho nền y học trong hơn một thế kỉ rưỡi qua. Thật không may là khi ngành dịch tễ học tìm ra sự liên hệ giữa hai thứ thì thường là không phải cái này gây ra cái kia. Chẳng hạn, tội phạm và những hình xăm có liên hệ mật thiết với nhau nhưng hình xăm không thể gây ra tội phạm. Vì vậy nếu các nhà dịch tễ học chỉ ra rằng những người công nhân đóng tàu làm việc với amiăng sẽ có tỉ lệ mắc ung thư cao thì đó chỉ là một ví dụ cho thấy rõ chất này có thể gây ung thư chứ không phải là căn cứ. Cần phải nghiên cứu nhiều thêm nữa. Bruce Ames nói “Dịch tễ học là một ngành vô cùng khó. Đó là việc nghiên cứu về con người và có hàng triệu điều khó hiểu quanh đó”. Các nghiên cứu liên tục ra đời nói rằng cái này liên hệ với cái kia, rằng chỉ biết là có một mối tương quan... cho nên đã dẫn đến một sự lạm dụng. “Bạn có thể dễ dàng thổi phồng lên. Tờ báo địa phương của chúng ta cứ vài tuần lại đưa ra một câu chuyện đáng sợ. Họ thích những câu chuyện đó, nhưng tôi thì không tin bất cứ chuyện gì”. Ames lấy ví dụ về một cuộc tranh cãi ở quận Contra Costa ở California. “Có nhiều nhà máy lọc dầu ở đây và cũng ngày càng có nhiều người bị ung thư ở đây. À, vậy là những nhà máy này gây ra ung thư. Nhưng ai sống gần các nhà máy lọc dầu? Những người nghèo. Và ai hút thuốc nhiều hơn? Cũng là những người nghèo. Vậy khi coi hút thuốc chính là nguyên nhân thì không còn hiểm họa nào trong khu vực này nữa”.

Hạn chế của những thí nghiệm trên động vật, của ngành dịch tễ học và các dạng chứng cứ khác đã đưa các cơ quan quản lý đến các hệ thống phân loại các chất gây ung thư. Cách dùng từ thì khác nhau nhưng họ thường dán nhãn là chất gây ung thư “tiềm ẩn”, “có khả năng” hay “đã được biết”. Những mức độ này cho thấy độ chắc chắn dựa trên các dạng chứng cứ được thu thập. Các nhà khoa học hiện nay ít chú trọng đến bất kì một chứng cứ cụ thể nào và việc thí nghiệm với liều cao trên những con vật càng không được coi trọng. Chúng vẫn được coi là những chứng cứ có giá trị nhưng không có sức nặng như những người ngoại đạo vẫn nghĩ.

Ngoài Trực giác ghét sự lây nhiễm vốn có từ xa xưa, chính môi trường văn hóa cũng dẫn người ta đến nhận thức rằng tiếp xúc với một lượng hóa chất tổng hợp sẽ gây nguy hiểm. Các nhà tiếp thị doanh nghiệp rất thích coi các sản phẩm của mình là “từ thiên nhiên” vì họ hiểu rằng thiên nhiên đồng nghĩa với tốt cho sức khỏe, giàu dinh dưỡng - và an toàn. Bruce Ames nói “Họ có ấn tượng rằng nếu là tự nhiên thì nó không thể độc hại và điều này hơi ngây thơ một chút”. “Một hôm ở Berkeley, tôi thấy người ta bán một túi than củi và nói “không có phụ gia, hoàn toàn tự nhiên”. Nhưng đó cũng chính là một chất gây ung thư!”.

Trong cuộc khảo sát năm 2004 của Daniel Krewski, “các sản phẩm tự nhiên lành mạnh” vẫn được coi là an toàn nhất trong 30 loại được nêu ra – thậm chí còn an toàn hơn tia X và nước máy. Thuốc kê đơn được coi là nguy hiểm hơn, còn thuốc trừ sâu được coi là nguy hiểm hơn cả tội phạm đường phố và các nhà máy điện hạt nhân. Không khó đoán ra cách tư duy đằng sau chuyện này hay xem Trực giác đã ảnh hưởng đến nó ra sao. Tự nhiên và lành mạnh là những điều tuyệt vời vậy thì các sản phẩm này phải an toàn. Thuốc kê đơn cứu sống con người cho nên dù không được coi là an toàn như “các sản phẩm tự nhiên lành mạnh” vì mọi người đều biết là chúng có thể có tác dụng phụ song chúng vẫn tốt và do đó nó tương đối an toàn. Nhưng “thuốc trừ sâu” là “nhân tạo” và “hóa chất” cho nên rất nguy hiểm. Điều nực cười ở đây lại là một vài loại “sản phẩm tự nhiên lành mạnh” mà hàng triệu người đang ngấu nghiến ăn vào đã được xét nghiệm chi tiết xem chúng có tác dụng thật không mà các yêu cầu quy định về độ an toàn của chúng lại thấp hơn các quy định đối với thuốc uống và thuốc trừ sâu.

Nhiều công ty và cả toàn bộ ngành công nghiệp thực phẩm hữu cơ đã tích cực quảng bá ý tưởng rằng hóa chất rất nguy hiểm. “Những gì chưa biết về clo sẽ gây hại cho bạn”. Lời cảnh báo từ trang web của một công ty ở Florida kinh doanh các hệ thống lọc nước cho rằng việc loại bỏ các phụ phẩm trong quá trình xử lý clo có thể tăng nguy cơ bị ung thư ở một mức độ nhỏ. Thỉnh thoảng các chính khách cũng thích thổi phồng các nguy cơ của việc nhiễm độc hóa chất. Nghị sĩ Henry Waxman từng tuyên bố “Thạch tín là một thủ phạm giết người. Một điều mà tất cả chúng ta dường như đều đồng ý đó là không thể để thạch tín có trong nước uống của mình”. Thạch tín thường phổ biến trong môi trường tự nhiên và thường tìm thấy một lượng nhỏ trong nước uống. Nhưng vào mùa xuân năm 2001, Waxman chợt thấy không thể bỏ qua điều này sau khi chính quyền Bush tạm ngừng các quy định hiện hành về mức độ thạch tín cho phép có trong nước và yêu cầu nghiên cứu kĩ thêm. Đây là một cuộc tranh cãi về việc bao nhiêu thạch tín trong nước thì là an toàn, chứ không phải là liệu có nên để trong nước có dù chỉ một lượng nhỏ thạch tín hay không. Nhưng vị nghị sĩ trên và phe của ông ta ở đảng Dân chủ đã tận dụng cơ hội này để lên án rằng chính quyền Bush muốn-để-chất-độc-trong-nước-uống.

Báo chí khi theo đuổi câu chuyện căng thẳng này cũng góp phần làm nỗi sợ hóa chất lan rộng ra. Robert Lichter và Stanley đã đi tìm lại các bài viết về ung thư trên báo chí Mỹ từ năm 1972 đến 1992 và phát hiện ra thuốc lá chỉ là loại nguyên nhân dẫn đến ung thư được nhắc đến nhiều thứ hai. Thứ ba là các chất phụ gia thực phẩm. Thứ 6 là ô nhiễm, thứ 7 là phóng xạ, thứ 9 là thuốc trừ sâu và thứ 12 là thành phần dinh dưỡng. Hóa chất tự nhiên đứng thứ 16. Chết dí ở cuối danh sách 25 loại nguyên nhân này chính là nhân tố quan trọng nhất (song chỉ được nhắc đến trong 9 bài báo), đó là tuổi già. Lichter và Rothman cũng nhận thấy trong các bài viết nêu ý kiến về việc liệu nước Mỹ có đang trải qua một dịch bệnh ung thư hay không, 85% bài nói rằng có.

Điều này có những tác động có thể biết trước lên công luận. Tháng 11 năm 2007, Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ (AICR) đã công bố các kết quả nghiên cứu trong đó những người Mỹ đã được hỏi về những nguyên nhân gây ung thư. Theo Viện này, thật đáng buồn là chỉ có 49% số người coi chế độ ăn uống ít rau quả là một nguyên nhân gây ung thư, 46% cũng nhìn nhận tương tự đối với chứng béo phì, 37% đối với rượu và 36% đối với chế độ ăn nhiều thịt đỏ. Nhưng có đến 71% người nói rằng dư lượng thuốc trừ sâu có trong thức ăn đã gây ra ung thư. Một phát ngôn viên của AICR đã nói “Nỗi lo của mọi người chẳng gắn gì với những thông tin khoa học”.

Lichter và Rothman lập luận rằng hình ảnh về ung thư trên báo chí là do quan tâm quá ít đến các nghiên cứu về ung thư trong khi lại quan tâm quá nhiều đối với các nhà môi trường học. Như John Higginson đã nêu ra 30 năm trước đây, các nhà hoạt động chống ô nhiễm hóa chất thường thích ý tưởng hóa chất tổng hợp gây ra ung thư. Nếu DDT chỉ đe dọa các loài chim thì Rachel Carson đã không gây ra cơn chấn động như với Silent Spring. Chính sự liên hệ giữa ô nhiễm và sức khoẻ con người khiến môi trường trở thành một vấn đề quan tâm cá nhân và việc gắn hóa chất tổng hợp với sức khoẻ cũng dễ dàng hơn vì hóa chất có ở khắp nơi và Trực giác bảo chúng ta rằng chúng nguy hiểm dù chỉ với một lượng nhỏ. Thêm từ “ung thư” có tính nhạy cảm là bạn đã có một cách hiệu quả để thu hút sự ủng hộ đối với các hoạt động môi trường.

Dù mục tiêu cuối cùng của họ có đáng hoan nghênh đến thế nào thì nhiều chuyên gia vẫn không hài lòng với những gì các nhà bảo vệ môi trường nói với công luận về hóa chất và sức khỏe. Năm 2005, Alan Boobis, một nhà độc tố học ở khoa Y trường Imperial ở London đã nói rằng “Đây là sự phao tin vô trách nhiệm và quá khích”. Boobis và các nhà khoa học hàng đầu khác của Anh đều tức giận khi nhiều tổ chức bảo vệ môi trường, đặc biệt là WWF đã lên án quá nhiều về sự tồn tại của “hóa chất độc hại” trong máu, thức ăn và thậm chí cả nhau thai. Ông đã nói với tờ The Guardian (Người bảo vệ) rằng “Hầu hết các hóa chất đều chỉ thấy có với một tỉ lệ phần tỉ. Không có căn cứ cho thấy những lượng nhỏ đó gây tổn hại cho sức khoẻ con người”. David Coggon, một chuyên gia nghiên cứu về các nguyên nhân nghề nghiệp và môi trường gây nên ung thư và các căn bệnh khác ở Đại học Southampton đã nói với BBC “Thông điệp mà họ đưa ra thật sai lầm và có chủ ý”. Richard Sharpe, một chuyên gia về rối loạn nội tiết tại bộ môn Sức khoẻ Sinh sản Con người của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Edinburgh bổ sung “Nói chung tôi nghĩ là mọi người không nên lo lắng. Hầu hết các hóa chất sẽ không gây hại nếu ở mức độ nhỏ”. “Bạn cần nhìn nhận khách quan về vấn đề này”.

Các chiến dịch giống như của WWF thường thấy ở nhiều nước. Một nhan đề thông cáo báo chí năm 2007 của cơ quan Bảo vệ Môi trường Canada đã viết “Các chất gây ô nhiễm đã đi vào máu các chính khách liên bang” và tuyên bố xét nghiệm cho thấy hàng chục “chất gây ô nhiễm độc hại” đã được tìm thấy trong máu và nước tiểu của nhiều chính khách hàng đầu ở Canada. Báo chí liền đăng tải rầm rộ, chủ yếu tập trung nhiều vào tính chất đáng sợ của các hóa chất và rất ít chú ý đến số lượng liên quan. Đây lại là một thành công nữa của chiến dịch mà cơ quan trên gọi là “Đất nước nhiễm độc” với một câu khẩu hiệu “Ô nhiễm. Ngay trong người bạn”. Có rất nhiều thông tin trên trang web của chiến dịch này nói về sự thừa thãi các hóa chất tổng hợp trong cơ thể chúng ta mà không hề đả động gì đến việc có mặt những lượng nhỏ hóa chất “nguy hiểm” thực ra lại không gây nguy hiểm. Chỉ trong phần danh mục thuật ngữ chuyên môn, khi định nghĩa về “độc tính”, trang web này mới hé lộ rằng mặc dù có thể gây nguy hiểm song “số lượng và mức độ tiếp xúc đủ để gây ra những tác động còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố”.

Những lỗi cố ý bỏ qua đó rất phổ biến. Trang web của Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên, một cơ quan hàng đầu của Mỹ, nói “Nhiều loại thuốc trừ sâu được chứng minh qua thí nghiệm trên động vật là có gây ra ung thư vẫn đang được sử dụng”. Tất nhiên là không ai quan tâm đến một nửa số hóa chất tự nhiên mà qua các thí nghiệm trên động vật cho thấy chúng có thể gây ra ung thư. Tương tự, Nhóm Công tác về Môi trường (EWG), một cơ quan nằm ở Thủ đô Washington D.C, cũng nói trên trang web của mình rằng “giới khoa học ngày càng thống nhất rằng những lượng nhỏ thuốc trừ sâu và hóa chất có thể ảnh hưởng bất lợi đối với con người, nhất là trong những giai đoạn dễ bị ảnh hưởng như giai đoạn phát triển bào thai hay giai đoạn đang phát triển vì việc tiếp xúc có thể có những tác động lâu dài”. Đúng là các nhà khoa học thống nhất rằng hóa chất có thể gây hại và không ai định nghĩa thế nào là “lượng nhỏ”, nên xét theo nghĩa hẹp thì tuyên bố này không sai. Nhưng EWG đã lên án khá nhiều – và luôn với một giọng điệu cảnh báo - thực tế là có một lượng hóa chất như vậy tồn tại trong người chúng ta và vì vậy dễ khiến mọi người đưa ra kết luận rằng có “một sự đồng thuận ngày một lớn trong giới khoa học” rằng lượng nhỏ hóa chất này trong cơ thể chúng ta “có thể gây ảnh hưởng bất lợi cho con người”. Như thế lại không đúng.

Cũng có một bài viết trên trang web của Viện Theo dõi Toàn cầu cảnh báo các độc giả rằng “450kg thuốc trừ sâu mà các nông dân ở Mỹ sử dụng mỗi năm đang gây ô nhiễm cho gần như mọi con sông dòng suối ở nước này và cả tôm cá sống trong đó, trong đó có cả những hóa chất gây ung thư và dị tật bẩm sinh”. Điều không được đề cập đến là theo nhiều nhà khoa học thì mức độ ô nhiễm ở hầu hết mọi nơi thực ra đều còn rất thấp để có thể gây hại cho con người, vì thế mà nước Mỹ mới chưa bị gia tăng ồ ạt các ca ung thư và dị tật bẩm sinh mặc dù bị ô nhiễm nặng như vậy.

Nhưng nếu vậy thì sự tồn tại của một “dịch bệnh ung thư” thường được các nhà bảo vệ môi trường coi là một sự thật hiển nhiên đến mức không cần phải nêu lên sự tồn tại của nó. Trong một chuyên mục trên báo năm 2005, David Suzuki, nhà sinh học và bảo vệ môi trường nổi tiếng của Canada, đã coi sự ô nhiễm hóa chất là nguyên nhân gây ra “dịch bệnh ung thư làm chúng ta phải khổ sở”. Ông lấy bằng chứng từ một câu chuyện bắt một con cá bơn có các khối ung thư và thực tế là “lần đầu tiên trong năm nay, ung thư vượt qua bệnh tim trở thành thủ phạm giết người hàng đầu”. Nhưng điều này không đúng, như Suzuki muốn thừa nhận, việc ung thư trở thành tên giết người hàng đầu không phải là vì nó đang giết chết nhiều người mà có thể là ngày càng có ít người chết vì bệnh tim hơn. Và đây đúng là lời giải thích đúng đắn. Cơ quan Thống kê Canada cho biết tỉ lệ người chết vì bệnh tim và bệnh ung thư đang giảm đi nhưng “nhiều hơn ở bệnh tim”.

Liên minh Phòng chống Ung thư (CPC), một nhóm các nhà hoạt động do Sam Epstein đứng đầu đã tỏ ra nỗ lực kiên quyết hơn trong một thông cáo báo chí năm 2007 “Ung thư đang phát triển thành dịch bệnh đánh vào mọi gia đình ở Mỹ”. “Ung thư hiện ảnh hưởng đến 1,3 triệu gia đình ở Mỹ mỗi năm và làm chết 550.000 người; 44% nam giới và 39% phụ nữ trước sau cũng sẽ bị ung thư. Trong khi các căn bệnh ung thư liên quan đến thuốc lá ở nam giới đang giảm, số người lớn bị các bệnh ung thư không liên quan đến thuốc lá cũng như số trẻ bị ung thư đang tăng mạnh. Ở một chỗ khác, CPC còn tô đậm “Ung thư đang ảnh hưởng đến gần 1/2 số nam giới và hơn 1/3 số phụ nữ”.

Điều còn thiếu ở đây là ung thư về cơ bản là căn bệnh do tuổi tác, một yếu tố tác động sâu sắc đến các số liệu về ung thư. Chẳng hạn, tỉ lệ người chết vì ung thư ở Florida cao hơn ở Alaska gần 3 lần, có vẻ thật đáng kể nếu bạn không biết một điều rằng dân số ở Florida già hơn ở Alaska rất nhiều. Một báo cáo của Hiệp hội Ung thư Mỹ cho biết “Khi điều chỉnh các tỉ lệ người chết vì ung thư theo yếu tố tuổi tác thì các tỉ lệ này gần như là bằng nhau”.

Các số liệu về nguy cơ tính đến suốt đời - kiểu như “một trong hai nam giới” hay cụm từ “cứ một trong bốn” nổi tiếng của Rachel Carson – đã bỏ qua vai trò của tuổi tác và không tính đến việc tuổi thọ của chúng ta đang dần kéo dài. Để hiểu rõ điều này, hãy xem ai cũng sống đến 100 tuổi thì nguy cơ bị ung thư vào một lúc nào đó trong đời gần như là 100%. Liệu như thế thì chúng ta có thể hốt hoảng mà nói rằng “ung thư sẽ đánh vào gần như tất cả mọi người?”. Có lẽ là không. Tôi cho rằng chúng ta sẽ coi đó là một lý do để ăn mừng. Ngược lại, nếu một vài dịch bệnh mới khiến tất cả chúng ta chết khi mới 35 tuổi, nguy cơ bị ung thư sẽ giảm đi rất nhiều nhưng sẽ chẳng có ai nhảy múa trên đường phố nữa.

Trong những năm 1990, khi những nỗi lo về căn bệnh ung thư vú tăng lên thì các nhà hoạt động thường nói “một trong tám” phụ nữ ở Mỹ sẽ có lúc bị ung thư vú. Điều đó không sai xét về mặt nào đó. Nhưng họ lại không nói rằng để chắc chắn gặp nguy cơ 1/8 đó thì người phụ nữ phải sống đến 95 tuổi. Ở các lứa tuổi thấp hơn thì con số rất khác nhau: ở người 70 tuổi khả năng đó là 1/14 (tức là 7%); ở tuổi 50 là 1/50 (tức 2%); ở tuổi 40 là 1/217 (tức 0,4%); ở tuổi 30 là 1/2525 (0,03%). Russell Harris, một nhà nghiên cứu ung thư ở Đại học Nam Carolina nói với tờ U.S. News and World Report rằng “Nhấn mạnh nguy cơ cao nhất chỉ là một thủ thuật gây sợ hãi nhiều hơn là thông tin”.

Tuy nhiên, sự già hóa dân số không thể ảnh hưởng đến các số liệu về các ca ung thư trẻ em, và khiến cho những ai coi ô nhiễm hóa chất là một mối nguy hại nghiêm trọng có thể nói rằng số trẻ em bị ung thư đang tăng vọt. Nhà báo Wendy Mesley nói trong một bộ phim tài liệu của CBC rằng chúng đang tăng “25% trong 30 năm”. Số liệu này về một mức độ nào đó là đúng nhưng nó cũng là một ví dụ kinh điển cho thấy thông tin về các nguy cơ có thể bị phản ánh sai lệch đến thế nào.

Mesley nói đúng rằng tỉ lệ ung thư của trẻ em Canada cao hơn 30 năm trước đây khoảng 25%. Nhưng cô lại không nói là sự gia tăng này chỉ diễn ra từ năm 1970 đến năm 1985 rồi dừng lại. Báo cáo tình hình kiểm soát ung thư 2004 của Cơ quan Y tế Cộng đồng Canada cho biết “Số trường hợp ung thư trẻ em vẫn khá ổn định kể từ 1985”.

Cũng không đúng nếu chỉ để ý đến sự gia tăng nguy cơ tương đối – 25% - nhưng lại không nói về quy mô thực sự của nguy cơ này. Năm 1970, cứ 100.000 trẻ em thì chỉ có hơn 13 trường hợp ung thư, rồi tỉ lệ này tăng lên mức cao nhất là 16,8 trường hợp - tức là nguy cơ trẻ em bị mắc ung thư hàng năm là 0,0168%. Tổng hợp các thông tin này lại thì sẽ phải là như sau: Năm 1970, nguy cơ trẻ bị ung thư rất nhỏ và tăng lên cho đến năm 1985 và vẫn ở mức ổn định kể từ đó. Mặc dù có tăng nhưng nguy cơ vẫn là rất nhỏ. Báo cáo trên cho biết “Ung thư trẻ em là rất hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1% số trường hợp ung thư”. Nếu thế thì không thể là một bệnh dịch được. Hơn nữa, tỉ lệ trẻ em chết vì ung thư đã giảm dần trong suốt ba thập kỉ qua. Năm 1970 có khoảng 7/100.000 trẻ chết bởi ung thư; 30 năm sau, tỉ lệ này đã giảm xuống còn 3.

Mỹ cũng có các số liệu gần tương tự. Theo một tài liệu công bố năm 1999 của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, số ca ung thư trẻ em đã tăng từ năm 1975 đến năm 1991 rồi giảm nhẹ. Năm 1975, cứ trong 100.000 trẻ em thì có khoảng 13 trẻ bị ung thư. Năm 1990, tỉ lệ này tăng lên 16. Còn tỉ lệ tử vong ở trẻ em lại giảm dần, từ 5/100.000 năm 1975 xuống 2,6/100.000 hai thập kỉ sau đó.

Các số liệu của Anh cũng cho thấy tình hình tương tự. Từ năm 1962 đến năm 1971, tỉ lệ trẻ bị ung thư vẫn giữ nguyên rồi tăng từ từ cho đến năm 1995 nhưng có vẻ như đã ổn định trở lại. Năm 1971, cứ 100.000 trẻ thì có 10,1 trường hợp ung thư. Năm 1995 tỉ lệ này là 13,6. Tỉ lệ tử vong cũng giảm dần trong giai đoạn này, từ 7,8/100.000 xuống còn 3,2/100.000. Rõ ràng hệ thống chăm sóc y tế đã góp phần cải thiện tình hình này.

Tuy nhiên, nguy cơ trẻ em bị ung thư lẽ ra có thể không còn tăng nữa song thực tế nó vẫn gia tăng. Liệu cái gì có thể gây ra sự gia tăng đó ngoài ô nhiễm hóa chất? Ở đây cũng cần nhớ rằng các con số chỉ có ý nghĩa khi đi cùng với phương pháp tính toán ra chúng. Tất cả các con số đều có điểm mạnh và điểm yếu. Các số liệu về ung thư chính là một ví dụ hoàn hảo cho chân lý phổ quát đó.

Có hai cách để đánh giá mức độ ung thư trong một cộng đồng. Cách thứ nhất là chỉ cần cộng lại số những người chết do ung thư. Hầu hết những trường hợp tử vong đó đều không thể nhầm lẫn và được theo dõi cẩn thận khiến cho các số liệu khai tử là một cách đáng tin cậy để theo dõi mức độ lan tràn của bệnh ung thư. Hay ít nhất đã từng như vậy. Khả năng chữa trị đã cải thiện đáng kể trong mấy thập kỉ gần đây và vì vậy ngày càng có nhiều nạn nhân nếu trước đây đã không thể sống sót giờ lại có thể qua khỏi. Do đó mà tỉ lệ người chết vì ung thư có thể suy giảm kể cả khi tỉ lệ người bị ung thư không giảm và vì vậy mà các số liệu về số người chết thường đánh giá thấp hơn thực tế.

Cách theo dõi tình hình ung thư thứ hai là sử dụng cái gọi là tỉ lệ số trường hợp. Tỉ lệ này chỉ dựa trên số người bị phát hiện ung thư và có vẻ như sẽ phản ánh chính xác hơn mức độ ung thư trong một cộng đồng. Nhưng nó cũng rất bấp bênh. Nếu các bác sĩ có thể phát hiện ung thư chuẩn xác hơn thì tỉ lệ số trường hợp sẽ tăng cho dù thực tế là mức độ phổ biến ung thư không gia tăng. Thậm chí là sự thay đổi cách xử lý hồ sơ giấy tờ và tập hợp số liệu của giới quan liêu hành chính cũng có thể đẩy số trường hợp lên một cách nhân tạo. Tuy nhiên, chính những chương trình kiểm tra xét nghiệm mới ảnh hưởng nhiều đến các con số. Nhiều dạng bệnh ung thư, trong đó có ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến giáp và ung thư da, được coi là những dạng ung thư chỉ để đấy. Chúng không gây ra tác hại, không tiến triển và không gây ra bất kì triệu chứng nào. Những người mắc chúng có thể sống đến hết đời mà không biết về sự tồn tại của chúng. Nhưng các chương trình kiểm tra, như xét nghiệm máu đối với ung thư tuyến tiền liệt hay chụp X-quang ngực đối với ung thư vú, có thể phát hiện được cả u lành và u ác và vì vậy khi chúng được đưa vào sử dụng hoặc được nâng cấp thì tỉ lệ số trường hợp sẽ tăng vọt. Khi đó thì không phải là nhiều người đang bị ung thư mà là ngày càng nhiều căn bệnh ung thư đang được phát hiện ra.

Vì vậy để hiểu thực sự điều gì đang diễn ra, các chuyên gia phải xem xét cả các số liệu về số người chết và số trường hợp ung thư. Nếu cả hai cùng tăng thì có lẽ là bệnh ung thư đang tăng. Chúng cũng là những chỉ số đáng tin cậy nếu cùng giảm xuống. Nhưng chúng lại thường đi theo hai hướng khác nhau – như với tình hình ung thư ở trẻ em trong những năm 1970 và 1980. Để nhìn nhận rõ khi nào điều này xảy ra, các chuyên gia phải xem xét từ mọi góc cạnh và xem xét sức nặng tương đối của nhiều nhân tố có thể đẩy các con số theo chiều hướng này hoặc chiều hướng khác. Và kể cả khi đó thì vẫn có thể có một số điều không chắc chắn, vì khoa học chỉ có thể làm được như vậy.

Và kết luận đó dường như đã trả lời cho sự gia tăng số trẻ em ung thư vào giữa những năm 1980. Viện Nghiên cứu Ung thư của Anh cho biết “Những cải thiện về hiệu quả của hệ thống chẩn đoán và theo dõi về bệnh ung thư cũng góp phần làm gia tăng tỉ lệ số ca theo dõi”. “Việc chữa trị được tập trung hóa cũng có thể khiến cho việc theo dõi và ghi lại những chẩn đoán về các bệnh nhân mới trở nên dễ dàng hơn. Sự thay đổi thực sự (nếu có) về tỉ lệ số trường hợp quan trọng vẫn chưa thấy rõ”.

Do những khác biệt về giới tính, dân cư và dân tộc nên rất khó nói khái quát về căn bệnh ung thư ở người lớn. Và quan trọng hơn, ung thư không thực sự là một mà là nhiều căn bệnh. Tuy nhiên, tình hình chung thì đã rõ.

Tỉ lệ số người chết do các dạng ung thư đã được điều chỉnh theo độ tuổi ở các nước phát triển đã giảm đi trong nhiều năm. (Một ngoại lệ quan trọng là số trường hợp ung thư liên quan đến thuốc lá trong số các nhóm người có tỉ lệ hút thuốc đang giảm đi). Tỉ lệ số trường hợp tăng lên trong những năm 1970, tăng nhanh hơn trong những năm 1980 rồi đều đều trong khoảng 10-15 năm qua. Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn chứng kiến sự gia tăng nhanh nhất - những năm 1980 – cũng là giai đoạn có nhiều chương trình kiểm tra mới được áp dụng. Các nhà nghiên cứu cũng thống nhất rằng sự gia tăng về tỉ lệ số trường hợp ung thư trong hơn ba thập kỉ qua chủ yếu là nhờ việc sàng lọc, chẩn đoán và thu thập số liệu tốt hơn.

Và dù thế nào thì sự gia tăng tỉ lệ số trường hợp nói chung là đã ngừng lại. Ở Mỹ, các con số trong mấy năm vừa qua – gồm cả tỉ lệ số trường hợp và số người chết – cũng rất đáng khích lệ. Thậm chí tổng số người chết do ung thư cũng đã giảm đi, thật lạ khi biết rằng dân số ở Mỹ đang gia tăng và đang già đi. Nói tóm lại, theo Bruce Ames, “Nếu bỏ qua những trường hợp ung thư do hút thuốc và những trường hợp ung thư khác do chúng ta đang sống lâu hơn thì bạn sẽ thấy ung thư không hề gia tăng”.

Những người ủng hộ lời khẳng định rằng hóa-chất-đang-giết- chết-chúng-ta chỉ phản ứng bằng một câu nói hài hước. Chúng tôi không biết, họ nói. Một báo cáo của tổ chức Hòa bình Xanh nói “Có một thực tế đáng lo ngại là không ai biết những hóa chất này có những tác hại gì đối với con người”. Còn WWF thì nói “Tất cả chúng ta đều không có ý định tham gia vào một cuộc thí nghiệm tuỳ tiện trên toàn cầu nên nó cần phải được ngăn chặn”.

Có rất nhiều nghiên cứu khoa học về các hóa chất trong suốt nửa thế kỉ qua. Nhưng đúng là rất nhiều loại hóa chất tổng hợp chưa được phân tích tỉ mỉ dù là riêng rẽ hay trong mối tác động chung với những hóa chất khác. Thực sự là có rất nhiều điều mà chúng ta còn chưa biết. Điều này đặc biệt đúng khi nói về cuộc tranh cãi nóng bỏng về giả thuyết rối loạn nội tiết – cho rằng một lượng hóa chất tổng hợp như bisphenol A(6) cũng có thể gây ra sự mất cân bằng hoóc-môn trong cơ thể, làm giảm lượng tinh dịch, gây ra ung thư và còn nhiều thứ khác nữa. Giả thuyết này lúc đầu (giữa những năm 1990) gây rất nhiều chú ý và nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề này trong hơn một thập kỉ qua nhưng các quan điểm vẫn trái ngược nhau và rối tung lên. Các cơ quan quản lý ở châu Âu, Mỹ và Nhật Bản đã xem xét những chứng cứ về bisphenol A và đi đến kết luận rằng không có lý do gì để ngăn cấm loại hóa chất này, nhưng các cuộc nghiên cứu vẫn tiếp tục. Chậm chạp và rắc rối: Đó chính là những gì khoa học đang thể hiện.

Tốt, nhiều người sẽ nói. Khi chưa biết rõ thêm thì điều khôn ngoan nhất có thể làm là cứ thận trọng hết sức bằng việc cấm hoặc hạn chế các hóa chất có nghi ngờ. Dù sao thì “giết nhầm còn hơn bỏ sót”.

Thái độ này đã được nâng niu trong nhiều quy định và luật lệ như một nguyên tắc dự phòng. Có nhiều cách hiểu về nguyên tắc này nhưng một trong những nguyên tắc có ảnh hưởng nhất là Nguyên tắc số 15 trong Tuyên ngôn Rio về Môi trường và Phát triển: “Khi có nguy cơ bị huỷ hại nghiêm trọng hoặc không thể tránh khỏi, việc thiếu căn cứ khoa học đầy đủ không thể được coi là một lý do để tạm ngừng các biện pháp hiệu quả ngăn chặn sự suy thoái môi trường”. Cũng như nhiều văn bản quốc tế khác, Tuyên bố này cũng đầy những điều khó hiểu. Thế nào là tác hại “nghiêm trọng”? Thế nào là “các biện pháp hiệu quả”? Và dù rõ ràng là chúng ta không cần “căn cứ khoa học đầy đủ”, vậy thì chúng ta cần phải có bao nhiêu chứng cứ trước khi có thể hành động? Và đây chỉ là một trong hơn 20 định nghĩa về nguyên tắc dự phòng đang tràn ngập trong các luật lệ và quy định. Nhiều định nghĩa rất khác nhau và một số còn trái ngược nhau ở một số điểm. Do đó, ngày càng có nhiều cách hiểu khác nhau về mặt học thuật liên quan đến nghĩa chính xác của từ “dự phòng” và cách thức triển khai nó. Các chính khách và các nhà hoạt động thích nói về nguyên tắc dự phòng như một biện pháp đơn giản và khôn ngoan bằng cách thận trọng. Nhưng đâu có đơn giản như thế.

Và cũng chẳng khôn ngoan chút nào. Như Giáo sư luật Cass Sunstein đã từng chỉ ra trong cuốn Laws of Fear (Các Quy luật về Sự sợ hãi), nguyên tắc dự phòng chỉ nhằm mang lại cảm giác thoải mái hơn là một nguyên tắc thực sự có thể hướng dẫn hành động đối phó với các nguy cơ. Nguy cơ có ở khắp nơi cho nên chúng ta thường gặp nguy cơ hiện hữu và nguy cơ chưa hiện hữu: trong tình huống này, nguyên tắc dự phòng cũng không có tác dụng gì.

Hãy xem xét trường hợp chất clo. Dùng chất này để xử lý nước sẽ tạo ra các phụ phẩm mà các thí nghiệm trên động vật cho thấy, với liều cao chúng có thể gây ra ung thư và làm gia tăng nguy cơ ung thư đối với những người uống nước đó. Thậm chí còn có một số bằng chứng về dịch tễ học chỉ ra cho chúng ta rằng nguy cơ này còn lớn hơn giả thuyết. Vì vậy nguyên tắc dự phòng sẽ khuyên chúng ta ngừng cho clo vào nước uống. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta làm thế? Daniel Krewski cho biết “Nếu không cho clo vào nước, như đã từng làm ở Nam Phi, bạn sẽ gặp phải một đợt dịch làm 2.000 người mắc bệnh tả”. Và dịch tả không phải là nguy cơ duy nhất. Còn có nhiều căn bệnh lây lan qua nguồn nước nữa như thương hàn, một căn bệnh gây chết người rất phổ biến chỉ được ngăn chặn ở các nước phát triển khi clo được đưa vào nước sinh hoạt vào đầu thế kỉ 20. Vì vậy có thể đoán là nguyên tắc dự phòng sẽ bảo chúng ta phải dùng nước có clo. Sunstein viết “Vì hiểm họa có từ khắp nơi nên nguyên tắc dự phòng hạn chế cả hành động và không hành động, và cả những điều nửa nọ nửa kia”. Nó làm “ngưng trệ tất cả và ngăn cản những bước đi cần thiết”.

Vậy chúng ta có nên ngăn cấm hay hạn chế các hóa chất tổng hợp cho đến khi hiểu hết về mọi tác dụng phụ của chúng? Câu hỏi tưởng chừng đơn giản này thực ra còn phức tạp hơn nhiều. Nếu cấm thuốc trừ sâu thì năng suất nông nghiệp sẽ bị suy giảm. Rau quả sẽ đắt lên và mọi người sẽ tiêu thụ chúng ít đi. Nhưng theo các nhà nghiên cứu ung thư thì ăn đủ lượng rau quả có thể làm giảm nguy cơ bị ung thư, một điều mà đến bây giờ mọi người vẫn không làm. Vì vậy việc cấm dùng thuốc trừ sâu để hạn chế bị nhiễm các chất gây ung thư lại có thể khiến cho nhiều người bị ung thư hơn.

Cũng cần biết rằng các nhà khoa học chí ít cũng không biết nhiều về các hóa chất tự nhiên bằng các hóa chất nhân tạo. Vì không có cơ sở để nhận định ngược lại với những điều chúng ta vẫn hiểu do thói quen văn hóa - rằng tự nhiên thì an toàn còn nhân tạo thì nguy hiểm – chúng ta cũng nên lo lắng nhiều (hay có khi còn nhiều hơn) về hóa chất tự nhiên vì các chất này còn đông đảo hơn so với các anh em nhân tạo cùng loại của mình. Một báo cáo năm 1996 của Viện Khoa học Mỹ cho biết “Số lượng các loại hóa chất tự nhiên có trong dây chuyền thức ăn hoặc được tạo ra trong quá trình nuôi trồng, thu hoạch, bảo quản và sơ chế, là rất nhiều, có lẽ là hơn một triệu loại hóa chất khác nhau”. Bất kì ai đang thưởng thức một bữa ăn ngon toàn những sản phẩm tự nhiên được trồng bằng phương pháp hữu cơ chính là đang đưa vào người hàng ngàn loại hóa chất chưa rõ là có những tác động gì đối với cơ thể hay chúng có tương tác thế nào với các hóa chất khác. Và hãy nhớ rằng trong số các loại hóa chất tự nhiên đã được xét nghiệm, một nửa đã gây ra ung thư cho những con vật trong phòng thí nghiệm. Nếu chúng ta phải áp dụng nghiêm ngặt phương pháp cấm-cho-đến-khi-được-chứng minh-là an toàn thì sẽ chẳng còn thứ gì để ăn nữa.

Cả hai bên - những nhà bảo vệ môi trường và ngành hóa chất - đều muốn bỏ qua tình thế khó xử thế này và đưa ra vấn đề một cách đơn giản hơn. Trong một bài báo nhan đề “Bài học lịch sử”, WWF đã nói với các độc giả rằng khi “được nhà hóa học Paul Muller người Thuỵ Sỹ phát hiện ra năm 1939, thuốc trừ sâu DDT đã được coi như một phép mầu. Nó có thể giết chết hàng loạt côn trùng gây hại nhưng lại vô hại đối với các động vật bậc cao. Năng suất mùa màng tăng lên và nó còn được dùng để khống chế bệnh sốt rét nhờ việc dọn sạch đàn muỗi. Muller đã được trao giải Nobel vào năm 1944. Tuy nhiên, đến năm 1962, nhà khoa học Rachel Carson nhận thấy các loại chim sâu và côn trùng đã bị chết ở những nơi phun DDT. Trong cuốn sách Silent Spring, bà đã đưa ra những cảnh báo gay gắt về thuốc trừ sâu và sự diệt chủng có thể xảy ra đối với hệ sinh thái trên trái đất này nếu “cơn mưa hóa chất” không được ngăn chặn lại. Đây không còn là một tình thế khó xử nữa. Một mặt, DDT được dùng để tăng năng suất mùa màng và khống chế dịch sốt, một điều quá tốt mà không khó khăn gì. Mặt khác, nó lại đe dọa gây ra “sự huỷ diệt”. Không khó nhận ra đâu là câu trả lời đúng.

Thật không may, câu chuyện của WWF hơi có sai sót một chút (khi nói rằng DDT được phát hiện vào năm 1939 trong khi chất này được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1874 và được công bố về giá trị diệt trừ sâu bọ vào năm 1935). Chẳng hạn, nó không đề cập đến việc sử dụng đại trà DDT lần đầu tiên là vào tháng 10 năm 1943 khi bệnh sốt Rickettsia(7) lây lan qua các loài chấy rận đã bùng ra ở vùng Naples mới được giải phóng. Các phương thuốc cổ truyền đều không phát huy tác dụng cho nên 1,3 triệu người đã được xịt lên người loại thuốc trừ sâu này. Ngay lập tức, dịch bệnh bị đẩy lùi - lần đầu tiên trong lịch sử dịch bệnh này được dập tắt vào mùa đông. Đến giai đoạn cuối chiến tranh, DDT đã được dùng phổ biến để ngăn chặn dịch bệnh này trong các tù nhân mệt mỏi, những người tị nạn và những người sống trong trại tập trung. Nghiêm túc mà nói thì vô khối người sống sót khỏi vụ Holocaust(8) là nhờ có một loại thuốc trừ sâu mà ngày nay đang bị lên án.

Đối với dịch sốt rét, DDT không chỉ là “khống chế” mà “DDT còn là sản phẩm chính trong những nỗ lực toàn cầu do WHO bảo trợ nhằm xóa bỏ dịch bệnh này trong những năm 1950-1960” (theo một báo cáo năm 2005 của tổ chức này). “Chiến dịch này đã làm giảm đáng kể sự lây lan dịch sốt rét ở nhiều nơi trên thế giới và có lẽ là vũ khí chống lại căn bệnh này ở châu Âu và Bắc Mỹ”. Có nhiều dự đoán về số người được cứu sống nhờ DDT nhưng chắc chắn là hàng triệu và có khi là hàng chục triệu.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, các nhà phản môi trường đã xây dựng một bộ môn thần thoại học tinh vi về loại hóa chất này: DDT thực sự là vô hại và hoàn toàn hiệu quả, DDT đã tự mình đẩy lùi dịch sốt rét ở châu Âu và Bắc Mỹ và nó cũng có thể làm điều tương tự ở châu Phi nếu như những tên đế quốc sinh thái (eco-imperialists) cho người dân châu Phi sử dụng để bảo vệ con cái mình. Nói chung môn thần thoại học này đã xem thường một cách quá đáng những tác hại đã thể hiện rõ của DDT đối với những loài động vật khác, đặc biệt là chim muông và nó cũng bỏ qua nhiều chứng cứ bắt đầu xuất hiện ngay từ năm 1951 cho thấy các loại muỗi đã nhanh chóng phát triển kháng thể chống loại thuốc này. Thực ra, việc phun vô tội vạ DDT lên các cánh đồng trong những năm 1950 đã góp phần làm tăng sự kháng thuốc ở muỗi và vì vậy, việc cấm sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp thực ra cũng giúp cho nó giữ nguyên được giá trị như một công cụ phòng chống sốt rét.

Sự thật về DDT là những câu hỏi về cách đối phó với loại hóa chất này đã và đang rất phức tạp. Vậy thì nguyên tắc dự phòng cho chúng ta biết gì về loại hóa chất được lên án nhiều nhất này? Khi dịch sốt Rickettsia và sốt rét bị đẩy lùi khỏi xích đạo thì có lẽ nó sẽ bắt đầu bị cấm. Nhưng “dự phòng” có nghĩa thế nào khi căn bệnh lây truyền qua côn trùng này vẫn đang tồn tại? Theo ước tính của WHO, dịch sốt rét làm chết một triệu người mỗi năm và có liên quan đến hai triệu người chết khác. Hầu hết những người này là trẻ em và hầu hết những trẻ em này là ở châu Phi. Nếu DDT được dùng để tiêu diệt sốt rét ở châu Phi thì nó cũng có những hiểm họa nhất định. Và không dùng cũng có những hiểm hoạ. Vậy thì phải làm thế nào? Nguyên tắc dự phòng cũng chẳng giúp gì được.

Cass Sunstein hỏi “Vậy thì tại sao nhiều người lại coi nguyên tắc dự phòng là hiệu quả?” Câu trả lời rất đơn giản: Chúng ta quá coi trọng một số nguy cơ trong khi lại bỏ qua những nguy cơ khác, khiến cho sự khó xử khi phải lựa chọn giữa các nguy cơ không còn nữa. Nếu chúng ta bỏ qua dịch sốt rét, việc cấm DDT có vẻ là thận trọng. Bỏ qua những hiểm họa của hóa chất tự nhiên hay các chi phí kinh tế thì rất dễ đi cấm các loại hóa chất tổng hợp/nhân tạo. Bỏ qua nguy cơ cháy nổ thì dường như đúng là chúng ta cần hạn chế các chất chống cháy đang xâm nhập vào máu mình. Và nếu không biết gì đến thương hàn hay dịch tả thì chúng ta rất dễ kết luận rằng cần ngừng xử lý nước bằng một hóa chất tạo ra chất gây ung thư đã được biết đến. Sunstein viết “Nhiều người được coi là chống đối các nguy cơ nhưng thực ra lại không phải. Họ chỉ chống đối một số nguy cơ nhất định chứ không phải mọi nguy cơ nói chung”. Và không chỉ có những cá nhân đôi khi mù quáng. “Con người, môi trường văn hóa và dân tộc thường chọn ra một hoặc một vài nguy cơ về mặt xã hội để coi là “quan trọng” và bỏ qua những nguy cơ khác”.

Nhưng làm sao để những người này chọn ra được những nguy cơ cần lo lắng và những nguy cơ có thể bỏ qua? Bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp thường đưa ra những nhận định gây nhiều ảnh hưởng đối với chúng ta. Báo chí đưa ra (hoặc không đưa ra) những ví dụ khiến Trực giác phải dùng Quy tắc Điển hình để dự đoán khả năng một điều không hay có thể xảy ra. Kinh nghiệm và môi trường tô điểm thêm cho hiểm họa bằng những cảm xúc khi Trực giác áp dụng Quy luật Tốt-Xấu. Cơ chế dần quen khiến chúng ta xem thường nguy cơ từ những điều thân thuộc và phóng đại những điều lạ chưa biết. Nếu chúng ta kết hợp với những người có cùng cách nhìn về các nguy cơ thì có thể sẽ dẫn đến một sự phân cực tập thể khiến cho cách nhìn càng thành kiến và cực đoan hơn.

Và tất nhiên trong những nguy cơ liên quan đến hóa chất và ô nhiễm còn có cái gọi là “độc tố học cảm tính”. Chúng ta đã quá quen với việc phải tránh bị ô nhiễm dù với một lượng ít ỏi thế nào. Khi môi trường văn hóa coi hóa chất là hóa chất nhân tạo và hóa chất nhân tạo là nguy hiểm, một điều không tránh khỏi là chúng ta sẽ lo lắng thái quá về những loại ô nhiễm hóa chất chứ không phải những nguy cơ thực sự. Sự thiên lệch trong nhận định cũng thể hiện rõ ở đây. Khi có cảm giác ô nhiễm hóa chất là một mối đe dọa nghiêm trọng, chúng ta sẽ có xu hướng hiểu theo những thông tin khẳng định lại cảm giác đó trong khi bỏ qua hoặc không biết đến những gì cho thấy điều ngược lại. Đây chính là sự phức tạp rối rắm thường thấy trong nghiên cứu khoa học. Đối với những hóa chất đang gây tranh cãi, phải có đến hàng chục hoặc hàng trăm các nghiên cứu liên quan và chúng sẽ đối lập nhau. Với những người có sự thiên lệch, dù là một người phát ngôn cho tập đoàn, một nhà bảo vệ môi trường hay chỉ là một người không có gì ngoài cảm giác, luôn có những chứng cứ để củng cố sự thiên lệch đó.

Bước đầu tiên để sửa chữa sai lầm cảm tính của chúng ta là tôn trọng đúng mức các quy trình khoa học. Các nhà khoa học cũng có những thiên lệch nhưng điều quan trọng trong khoa học là khi tập hợp đủ chứng cứ, các nhà khoa học sẽ lập luận dựa trên toàn bộ các chứng cứ chứ không chỉ một vài chi tiết riêng rẽ. Và cuối cùng đa số có thể tạm quyết định theo hướng này hoặc hướng kia. Dù sao thì đó cũng không phải là một quá trình hoàn chỉnh mà thật ra nó cũng còn chậm chạp và có thể sai lầm. Nhưng nói chung là vẫn còn tốt hơn những cách khác mà con người đang áp dụng để tìm hiểu về thực tế.

Bước kế tiếp là nhìn nhận đúng đắn về nguy cơ, để thừa nhận là nguy cơ có thể không tránh khỏi. Trong các khảo sát của mình, Daniel Krewski nhận thấy một nửa dân chúng ở Canada đều cho là có thể có một thế giới không còn bất cứ nguy cơ nào. Ông nói với giọng hơi ngạc nhiên “Đa số người dân muốn chính phủ và các cơ quan quản lý khác ra tay bảo vệ khỏi mọi nguy cơ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày”. “Nhiều người làm trong ngành quản lý rủi ro chúng tôi muốn đưa ra một thông điệp cho mọi người là bạn không thể đảm bảo hoàn toàn không có một nguy cơ nào. Đó là một mục tiêu phi thực tế”. Chúng ta thường coi thứ gì đó là “không an toàn” và chúng ta muốn nó “an toàn”. Thường thì dùng lối nói ngắn gọn đó cũng không sao nhưng hãy luôn nhớ rằng nó không hoàn toàn chính xác. Trong ngành kinh doanh rủi ro chỉ có những mức độ an toàn. Thường chỉ có thể làm cho thứ gì đó an toàn hơn chứ không thể nói đến chuyện an toàn ở đây.

Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng quản lý nguy cơ là một ngành phức tạp. Gần như là phải thoả hiệp và đánh đổi – đánh đổi bệnh thương hàn lấy một số chất gây ung thư trong nước uống chẳng hạn. Và nó đòi hỏi sự cân nhắc kĩ càng về các nguy cơ và các chi phí vô hình như những điều khiến chúng ta lo lắng. Nó cũng đòi hỏi có chứng cứ. Có thể chúng ta không muốn đợi một căn cứ khoa học hoàn toàn đầy đủ như nguyên tắc dự phòng đòi hỏi nhưng chúng ta cần phải làm điều gì đó hơn là chỉ ngồi phỏng đoán.

Việc đánh giá đúng về rủi ro là một quá trình nghiên cứu chậm chạp, tỉ mỉ và thận trọng về những nguy cơ và những chi phí trong những trường hợp cụ thể. Nếu việc cấm một số loại hóa chất tổng hợp được chứng minh là có thể làm giảm về cơ bản các nguy cơ mà không mất mát gì nhiều ngoài sự lây lan của loại cây bồ công anh chẳng hạn thì có lẽ cũng có thể được. Nếu có những kĩ thuật ít tốn kém để giảm lượng clo cần thiết trong việc xử lý hiệu quả nguồn nước thì đó cũng có thể là một hướng đi mới. Phải thừa nhận đây không phải là một điều thú vị. Không có sự hào hứng hay gay cấn ở đây. Và dù luôn có nhiều câu hỏi về công lý và công bằng kèm theo - chẳng hạn như ai phải chịu rủi ro? Ai sẽ gánh chịu những chi phí để giảm bớt các nguy cơ? – song đã không còn nhiều chỗ cho hệ tư tưởng và lối hùng biện nông nổi.

Thật không may là có nhiều nhà hoạt động, nhiều chính khách và các tập đoàn gần như không quan tâm đến việc đánh giá đúng các nguy cơ như việc gây sợ hãi cho mọi người. Suy cho cùng thì họ chỉ cần vận động tài trợ, phiếu bầu và doanh thu. Và còn không may nữa là Trực giác thường ở bên những nhà báo động đó. Điều này đặc biệt đúng khi nói về các hóa chất nhờ sự kết hợp giữa độc tố học cảm tính của Trực giác và những “tai tiếng” của hóa chất trong môi trường văn hoá. Lois Swirsky Gold cho rằng “Nó gần như là một nhận thức không thể thay đổi. Tôi nghe đến nó thường xuyên. “Vâng, tôi biết là 50% hóa chất tự nhiên là có vấn đề, một nửa số hóa chất trong các dữ liệu của Dự án Nồng độ các chất gây ung thư là có vấn đề, 70% hóa chất tự tạo ra trong cà phê là các chất gây ung thư trong các thí nghiệm trên loài chuột. Vâng, tôi biết tất cả những điều đó, nhưng tôi sẽ không ăn chúng nếu không buộc phải ăn”.

Theo Bruce Ames, tất cả những điều liên quan đến các nguy cơ nhỏ lại tạo nên một cơn sốt đáng kể. “Có những điều thực sự cần lo ngại lại bị lãng bởi sự ồn ào với những lo sợ thường trực về những điều không quan trọng”. Theo hầu hết các ước tính, hơn một nửa số trường hợp ung thư ở các nước phát triển có thể ngăn ngừa được chỉ bằng cách thay đổi cách sống. Dù nguy cơ thực sự do các hóa chất tổng hợp gây ra là thế nào thì chúng cũng chỉ như một con ruồi bên cạnh con voi mà thôi.

Nhưng Swirsky Gold cũng cho rằng lối sống lại là một thông điệp không dễ gì được hưởng ứng. “Bạn nói với mọi người rằng bạn muốn thay đổi lối sống, bạn cần tập luyện nhiều hơn, bạn cần ăn nhiều rau quả hơn và tiêu thụ ít calo hơn. Họ sẽ chỉ nhìn chằm chằm vào bạn và đi vào cửa hàng McDonald’s”. Vấn đề là chỉ có một phần trong đầu nghe và hiểu được thông điệp về lối sống và sức khoẻ. Lý trí có thể hiểu được. Nhưng Trực giác không hiểu gì về những con số, nó chỉ biết rằng nằm trên ghế xem ti vi còn sướng hơn phải toát mồ hôi vì công việc hàng ngày, rằng điếu thuốc đang hút làm mình thấy dễ chịu mà chẳng gây hại gì, và Vòm cửa Vàng(9) gợi ra những kí ức vui vẻ về tuổi thơ cùng với chú hề tóc đỏ. Và Trực giác kết luận rằng chẳng có gì phải lo lắng về chúng cả. Hãy thư giãn và xem ti vi tiếp.

Và đúng là chúng ta đã làm vậy cho đến khi một câu chuyện trên bản tin cho biết đã có một hóa chất gây ung thư tìm thấy trong máu của một người bình thường nào đó. Chúng ta đã bị nhiễm độc. Trực giác giờ mới thấy là đáng sợ. Hãy ngồi dậy và chú ý thật kĩ.

« Lùi
Tiến »