“Những vụ tấn công khủng khiếp và đáng sợ được tiến hành ngày hôm qua chống lại đất nước chúng ta còn hơn cả hành động khủng bố. Đó là hành động của chiến tranh. Điều đó buộc chúng ta phải đoàn kết lại với một quyết tâm sắt đá. Tự do và dân chủ đang bị thách thức.”
Khi Tổng thống Mỹ phát biểu những lời này vào sáng 12 tháng 09 năm 2001, khói vẫn còn đang cuồn cuộn trên những đống đổ nát ở Trung tâm Thương mại thế giới (WTC), và cơn chấn động chỉ mới bắt đầu. Mọi hình ảnh của những người đang mất tích, mỗi câu chuyện về mất mát người thân, nỗi đau trào dâng như một dòng sông mùa lũ. Từng mẩu thông tin nhỏ nhất về những kẻ khủng bố đều được người ta bình luận. Và trong những giây phút im lặng hiếm hoi, khi các chương trình ti vi bị tắt đi, tâm trí chúng ta lại tràn ngập những câu hỏi về thế giới mới đáng kinh hãi này, đấu tranh để tưởng tượng còn điều gì tồi tệ hơn sẽ xảy ra và cảm thấy run sợ.
Thờ ơ với thế giới trong nhiều năm trôi qua, nỗi khiếp đảm đối với chủ nghĩa khủng bố giờ đây đang lan tràn trên toàn nước Mỹ và các nước phương Tây, là điều có thể hiểu được.
Những gì xảy ra hôm 11 tháng 09 năm 2001 - đối với phần lớn chúng ta- gây ngạc nhiên và không thể hiểu nổi giống như sự xuất hiện của mặt trăng thứ hai trên bầu trời đêm. Bin Laden như thế nào? Tại sao? Hầu như chúng ta chẳng biết gì cả. Điều này là hoàn toàn xa lạ với người Mỹ. Điều duy nhất chúng ta biết là mối hiểm họa đó lớn như chính tòa tháp đã đổ sập xuống. Các nhà nghiên cứ về nguy cơ thường dùng các dấu hiệu để nhận biết và mô tả một sự kiện nguy hiểm nào đó sẽ xảy ra trong tương lai – nhưng vụ 11 tháng 09 thì lại chẳng có dấu hiệu gì.
Vụ khủng bố cũng tạo ra sự khác biệt rất lớn bằng những gì chúng ta quan sát từ các chương trình ti vi rõ ràng và ngay lập tức. Rất nhiều người còn có thể quan sát thấy các thảm họa một cách trực tiếp, nó xảy ra ngay trước mắt họ. Thật sự là một cơn chấn động. Những gì đang xảy ra quả là ngoài sức tưởng tượng và đáng sợ đến nỗi, chúng ta chưa kịp hiểu điều gì thì hình ảnh đám cháy đã in đậm, khó phai mờ trong tâm trí chúng ta.
Đối với Cái Bụng, những kí ức này sẽ còn mãi như là một minh chứng sống động. Chỉ cần đề cập tới từ khủng bố là chúng ta sẽ liên tưởng ngay tới hình ảnh của vụ máy bay đâm vào tòa tháp đôi WTC. Cái Bụng sử dụng Quy luật Điển hình, sẽ đưa ra ngay một kết luận: Điều này rất có thể sẽ xảy ra lần nữa.
Và tất nhiên sau đó là những cảm giác: đau đớn, giận dữ và sợ hãi. Ngay cả đối với những người không hề mất mát gì từ vụ 11 tháng 09, thì cảm xúc của họ từ nay và về sau vẫn là một sự căng thẳng, sợ hãi giống như tất cả đã từng trải qua. Đối với ai quá nhạy cảm với những thay đổi dù là nhỏ nhất (có thể chỉ là nghe kể lại), thì những cảm xúc này chính là tiếng thét kinh hãi trước sự báo động về cuộc tấn công trên không.
Trước đó là nguy cơ về bệnh than. Một tuần trước cuộc không kích, năm lá thưa từ Trenton, New Jersey, dấu bưu điện cho thấy chúng được bỏ ở một thùng thư ngay bên ngoài trường Đại học Princeton – đã được gửi vào hệ thống bưu điện của Mỹ. bốn lá gửi tới các hãng truyền thông có trụ sở tại New York là ABC, NBA, CBS và tờ New York Post – trong khi lá còn lại gửi tới Boca Raton, Florida - trụ sở của tờ National Inquirer. Trong mỗi gói bưu phẩm đó đều chứa một gói bột màu nâu có vi khuẩn bacillus anthracis, loại vi khuẩn gây bệnh than chết người. 3 tuần sau, hai lá thư nữa được gửi tới hai Thượng nghị sĩ của đảng Dân chủ. Tất cả có 22 người bị nhiễm bệnh, và 11 người ở trong tình trạng rất nguy kịch. 5 người đã chết. Những lá thư ghi rõ “Mỹ chết chóc, Israel chết chóc. Thánh Alla vĩ đại.”
Chủ nghĩa khủng bố dường như là nỗi ám ảnh toàn cầu. Giống như người đi săn thời tiền sử không thấy con hổ đang từ từ xuất hiện trên những đám cỏ rậm rạp trong rừng, chúng ta chẳng hề nhìn thấy, nghe thấy hay biết gì về khủng bố.
Một cuộc điều tra của Gallup vào giữa tháng 10 cho thấy, 40% người Mỹ nói rằng “rất có thể” sẽ xảy ra khủng bố “trong vài tuần tiếp theo”; 45% cho rằng “có thể xảy ra”. Chỉ 10% nghĩ rằng “không dễ xảy ra” và 3% cho rằng “không thể xảy ra”.
Trong bản điều tra, Gallup còn đặt câu hỏi: “Bạn có lo lắng rằng bạn hay các thành viên trong gia đình sẽ trở thành nạn nhân của khủng bố hay không?” Vào tháng 10 có tới 1/3 người Mỹ trả lời “rất lo lắng”, khoảng 35% trả lời “lo lắng”.
Đó là những kết quả đáng chú ý. Một trong những thành kiến tâm lý mà chúng ta sỡ hữu được gọi là thành kiến lạc quan hay phản ứng thái quá - xu hướng nhìn thấy chúng ta ở phía tích cực hơn phần còn lại của thế giới. Thiên kiến này cũng xuất hiện trong nhận thức về khủng bố, nhưng là theo chiều hướng ngược lại. Hãy hỏi một phụ nữ trẻ khi đi dạo một mình trong công viên vào ban đêm, cô ấy sẽ đưa ra một câu trả lời, nhưng hỏi cô ấy nguy hiểm thế nào cho cô ấy khi cô đi dạo trong công viên vào ban đêm thì cô ấy sẽ cho một câu trả lời khác. Vì thế, khi Gallup tiến hành cuộc điều tra về nguy cơ “của bạn và gia đình bạn”, kết quả tất nhiên rất đáng chú ý do thiên kiến này. Hơn 1/2 dân số Mỹ cảm thấy bọn khủng bố có thể tấn công và giết chết họ cùng gia đình họ. Nếu mục đích của bọn khủng bố là làm cho người ta hoảng sợ, thì chúng đã thành công rồi.
Dù sao, con người có khả năng thích nghi. Tháng 11 đi qua mà không hề có thêm cuộc tấn công nào xảy ra trên đất Mỹ. Và Tháng 12 cũng vậy. Đến mùa xuân nỗi sợ giảm dần. Trong cuộc điều tra vào tháng Tư năm 2002, chỉ khoảng hơn 1/3 dân số Mỹ nói rằng họ lo sợ bọn khủng bố tấn công họ và gia đình. Trong khi cuộc điều tra tháng Ba cho biết, khoảng 52% nói rằng vài tuần nữa cuộc tấn công khủng bố “rất” hoặc “có thể xảy ra” - một sự suy giảm rõ rệt khi so với con số 85% trong cuộc điều tra cách đó năm tháng với cùng câu hỏi.
Trong thuật ngữ tâm lý học, sự suy giảm này cũng dễ hiểu như khi nó tăng lên cao. Tám tháng sau vụ tấn công, nỗi sợ hãi không chỉ giảm đi mà chúng ta còn biết nhiều hơn về Osama Bin Laden và khủng bố không còn là một câu chuyện gây hoang mang nữa. Những kí ức vẫn còn đây để thúc đẩy Quy luật Điển hình và những ý nghĩ về khủng bố vẫn gợi lên những đám mây đen, vì thế Cái Bụng vẫn cảm thấy rằng nguy cơ còn cao. Nhưng chắc chắn nó không còn là mùa thu khủng khiếp nữa.
Sau đó, kết quả các cuộc thăm dò dư luận rất đáng ngạc nhiên. Sự suy giảm biến mất.
Ngày kỉ niệm năm năm vụ 11 tháng 09 vào tháng 09 năm 2006, chẳng có một cuộc tấn nào nữa trên đất Mỹ. Năm năm trước cũng không có một ai dự đoán điều này sẽ xảy ra. Và khi Gallup điều tra liệu người Mỹ có nghĩ rằng hành động khủng bố sẽ xảy ra tại Mỹ “vài tuần tới’ không, thì 9% trả lời là “rất có thể” và 41% trả lời là “có thể", 50% so với 52% nói rằng khó có thể xảy ra giống như cuộc điều tra hơn 4 năm trước đây, vào tháng 3 năm 2002.
Câu hỏi của Gallup về mối nguy hiểm cá nhân thậm chí còn tiết lộ nhiều điều hơn. Vào tháng 8 năm 2006, 44% người Mỹ nói rằng họ rất lo ngại mình và gia đình có thể trở thành nạn nhân của bọn khủng bố. Con số này tăng so với 33% trong cuộc điều tra vào mùa xuân năm 2002.
Những con số thống kê cứ lên xuống thất thường từ giữa năm 2002 và năm 2006, nhưng xu hướng cơ bản là đáng tin cậy: Lo ngại về khủng bố không giảm theo thời gian và những cuộc công kích dữ dội không trở thành hiện thực. Nhưng có quá nhiều người nghĩ rằng đó là một khả năng có thật - đến nỗi mọi người có thể bị bọn khủng bố giết chết.
Gần 3.000 người đã chết trong vụ tấn công hôm 11 tháng 09 năm 2001. Vào thời gian đó, dân số của Hoa Kỳ là 281 triệu. Vì thế, xác suất cho bất kì người Mỹ nào bị chết do khủng bố là 0.000106%, tương đương với tỉ lệ 1/93000 (cứ 93.000 người thì có 1 người bị chết). So sánh con số này với tỉ lệ 1/48548 nguy cơ hằng năm cho một người đi bộ có thể bị xe tải hay một xe hơi đâm, hay là tỉ lệ 1/87976 nguy cơ bị chết đuối.
Tất nhiên, chẳng ai ngờ rằng, 11 tháng 09 năm 2001 sẽ trở thành một ngày tồi tệ khủng khiếp như vậy. Giả định rằng mỗi tháng có một cuộc tấn công lớn như vậy trong suốt một năm và gây ra số người chết như vụ 11 tháng 09 thì tổng số người chết sẽ là 36.000 người/năm. Thậm chí, điều này là vô cùng khủng khiếp thì nó cũng không phải nguy cơ lớn nhất gây chết người đối với một người Mỹ bình thường. Khả năng bị giết trong những cuộc tàn sát như vậy chỉ là 0.0127%. Tỉ lệ này có nghĩa là 1/7750 (tức là cứ 7750 người thì có 1 người). Hãy so sánh con số này với con số người chết vì tai nạn giao thông là 1/6498.
Lợi dụng những vụ gây chấn động dư luận do các thế lực thù địch ở bên ngoài gây ra để phục vụ cho các mục đích chính trị không phải là điều mới mẻ. Và điều này cũng không mới đối với New York. Ngày 16 tháng 9 năm 1920, một nhóm bạo động đã chở những thùng chứa khoảng 45kg thuốc nổ và 500 bao chứa đạn tới Phố Wall, bom đã nổ và 38 người chết. Hơn 400 người bị thương. Gần chín thập kỉ sau ngày khủng khiếp đó, cuộc tấn công đáng sợ nhất trên thế giới, trừ vụ 11 tháng 09, là vụ đánh bom chuyến bay 182 của hãng hàng không Ấn Độ vào năm 1985, làm chết 329 người.
Theo số liệu khủng bố của RAND-MIPT (cơ quan chuyên thống kê số liệu về các vụ khủng bố trên thế giới) có khoảng 10.119 các cuộc khủng bố trên toàn thế giới từ 1968 đến tháng Tư năm 2007. Những cuộc khủng bố này đã lấy đi sinh mạng của 14.790 người, trung bình mỗi năm có 379 người chết. Rõ ràng, những gì mà thế giới phải chứng kiến trong buổi sáng tháng 9 đó là hoàn toàn khác với những gì đã diễn ra trước đó. Khủng bố thật ghớm ghiếc, và mỗi cái chết lại gợi lên một thảm kịch và một tội ác. Nhưng 379 người chết hằng năm là một con số vô cùng bé nhỏ. Chỉ tính riêng ở Mỹ năm 2005 đã có 497 người vô tình bị chết ngạt trên giường; 396 người khác bị điện giật chết, 515 người bị chết đuối trong hồ bơi; và 347 người bị cảnh sát bắn chết. 16.503 người Mỹ bị bọn tội phạm khác nhau giết chết.
Con số 379 người chết cường điệu hóa tổng số người bị thiệt mạng là người Mỹ, người gốc Anh và những nước phương Tây khác, bởi vì phần lớn những người chết do các cuộc khủng bố khác đều xảy ra ở những vùng xa, hoang vu như Kasmir. Ở Bắc Mỹ, từ năm 1968 đến năm 2007, các cuộc khủng bố bao gồm cả vụ 11 tháng 09 đã làm 3.765 người chết. Con số này cao hơn một chút so với số người Mỹ bị chết do tai nạn xe máy của riêng năm 2003. Còn tại các nước phương Tây ở châu Âu, tổng số người chết trong các cuộc khủng bố quốc tế từ năm 1968 đến tháng Tư năm 2007 là 1.233 người. Con số này chiếm 6% số người chết do bị nhiễm độc khí Radon phát tiết trong tự nhiên tại châu Âu - hiện tượng mà rất ít người chú ý tới.
Năm 2005, K.T Bogen và E.D. Jones của Phòng thí nghiệm Quốc Gia Lawrence Livermore đã được chính phủ Mỹ yêu cầu tiến hành một cuộc phân tích các số liệu của RAND-MIPT. Các nhà nghiên cứu này đã đưa ra kết luận rằng, muốn hiểu mục đích của nguy cơ khủng bố, nên phân chia thế giới làm hai; Irael và những nơi khác. Tại Israel, khủng bố là một mối nguy hiểm thật sự. Xác suất để bị khủng bố trong cuộc đời của một người (khoảng 70 năm) là rất lớn, dao động từ 1/100 đến 1/1.000, tỉ lệ rất cao biểu hiện tất cả mọi người có thể phải chứng kiến cảnh người chết do khủng bố. Nhưng ngoài Israel ra thì nguy cơ bị chết hay bị thương do khủng bố sẽ chỉ vào khoảng từ 1/10.000 đến 1/1.000.000.
So sánh con số này với nguy cơ của dân chúng Mỹ thì chúng ta sẽ thấy rõ, tại Mỹ tỉ lệ bị chết do sét đánh là 1/79.746 người; do độc của cây hay động vật là 1/39.873; bị chết đuối trong phòng tắm là 1/11.289; tự tử là 1/119; tai nạn ôtô là 1/84. Bogen và Jones cho rằng, nếu nguy cơ do khủng bố có thể ảnh hướng tới an toàn và sức khỏe của cộng đồng, nhưng nó nằm trong khoảng mà các nhà chức trách gọi là "de minimis"; quá nhỏ để lo lắng.
Hành động tội ác ngày 11 tháng 09 khiến tâm trí chúng ta đi chệch ra khỏi xu hướng quan trọng. Từ thập niên 1960 đến đầu 1990, số vụ khủng bố trên toàn thế giới tăng dần. Đỉnh điểm của các vụ khủng bố là vào thời gian 1991 – theo số liệu của RAND-MIPT là 450 vụ và vào năm 2000 chỉ còn 100 vụ.
Vào năm 2000 xu hướng này đảo chiều. Năm 2004, số vụ khủng bố lên tới 400 vụ/năm. Nhưng Andrew Mack, Giám đốc Trung tâm An ninh Con người của trường Đại học British Columbia, cơ quan chuyên thu thập thông tin và tìm ra đầu mối về các vụ khủng bố quốc tế, ghi nhận rằng, nếu bạn đặt Trung Đông ra khỏi thế giới, xu hướng này gần như bằng không. Nếu Nam Á cũng bị loại ra, sự suy giảm về các vụ khủng bố quốc tế mới bắt đầu sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc còn mạnh mẽ hơn. Mack kết luận: “Điều đó cho thấy rằng các vụ khủng bố có sự suy giảm trên tất cả các khu vực trên thế giới trừ Trung Đông và Nam Á từ những năm 1990.”
Tất nhiên, các vụ tấn công không phải chỉ biểu hiện nguy cơ khủng bố. Nhưng chúng ta phải nhìn vào những thực tế. Trong những nước phương Tây, Vương quốc Anh phải đấu tranh nhiều nhất với khủng bố kể từ sau vụ 11/09 nhưng ở Anh chỉ có năm âm mưu được phát hiện trong ba năm sau vụ đánh bom tự sát ngày 07 tháng 07 năm 2005. Vào tháng 11 năm 2006, lãnh đạo cơ quan MI5 – cơ quan tình báo Anh tuyên bố rằng, cơ quan này biết thông tin của hơn 30 âm mưu khủng bố. Nếu chúng ta cho rằng, tất cả các âm mưu này chính là những cuộc tấn công sẽ xảy ra – và những cơ quan an ninh gần như bị vô hiệu hóa - một giả định gần như chắc chắn – chúng vẫn sẽ không khiến cho khủng bố trở thành mối nguy hiểm và ngày càng tăng đối với một nước Anh tương đối an toàn.
Bức tranh còn sáng sủa hơn tại Mỹ, khi các cơ quan an ninh và mật thám làm việc rất tích cực cũng chẳng tìm thấy điều gì đáng nghi ngờ. Vào tháng 03 năm 2005, hãng ABC đưa tin rằng, hãng này đã tiếp cận với một tài liệu bí mật dầy 32 trang của FBI cho rằng, hoạt động của mạng lưới Osama Bin Laden không hề bị phát hiện. Có thể bởi vì nó chẳng có hoạt động nào cả. Hãng ABC còn cho biết thêm “ý định tấn công nước Mỹ là không cần bàn cãi” của bọn khủng bố. “Tuy nhiên, khả năng tiến hành điều đó của chúng không mấy rõ ràng, đặc biệt là những cuộc tấn công “hoành tráng”. Chúng ta tin rằng, khả năng của Al-Qaeda có thể tổ chức những cuộc tấn công trên đất nước Mỹ phụ thuộc vào khả năng của tổ chức này thâm nhập và duy trì hoạt động của nó tại Mỹ... Những thống kê từ tháng 03 cho thấy Al-Qaeda tiến hành tuyển dụng và huấn luyện các cuộc tấn công tại Mỹ, nhưng vẫn còn chưa rõ liệu họ có thành công trong việc đặt gián điệp trên đất Mỹ hay không?... Cho đến hôm nay, chưa có cơ quan nào của Mỹ có thể đưa ra bằng chứng về một tổ chức hay mạng lưới khủng bố nào đang hoạt động bí mật.”
Chúng ta tin tưởng rằng sự kiện kiểu 11 tháng 09 không thể xảy ra là rất quan trọng. Tất cả chúng ta đều hiểu một quy luật cũ của các vụ không tặc - giữ bình tĩnh và hợp tác- đã không còn tác dụng, và nếu thiếu một nhóm nhỏ những tên khủng bố có trang bị vũ khí nhẹ thì khó có thể ra lệnh cho những phi công bình thường nhất. Các chuyên gia thậm chí còn nghi ngờ khả năng của bọn khủng bố có thể thực hiện những cuộc tấn công kiểu này bằng bất cứ phương tiện nào. Trưởng nhóm nghiên cứu khủng bố Brian Micheal Jenkins, trong cuốn sách Inconquerable Nation cho rằng: “Trong khi khả năng một cuộc tấn công khác có tầm cỡ như vụ 11 tháng 09 không hề bị loại bỏ hoàn toàn, các nhà phân tích khủng bố thống nhất rằng, những cuộc tấn công như vậy trên đất Mỹ là rất khó xảy ra.”
Các số liệu chứng tỏ rằng, nguyên nhân chính làm nhiều người chết do khủng bố là không hợp lý. Người ta đã không thể dự đoán được nguy cơ của sự kiện 11/09 cho tới khi nó xảy ra và gần như không thể nếu nó lại xảy ra một lần nữa. Vấn đề ở chỗ, nếu bọn khủng bố có trong tay vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDS – Weapons of Mass Destruction), chúng có thể sử dụng để tạo nên sự hủy diệt khủng khiếp. Điều mới mẻ này khiến cho chủ nghĩa khủng bố là một nguy cơ vượt xa những nguy cơ khác. Micheal Ignaieff, Giáo sư Đại học Harvard và hiện là Phó Chủ tịch Đảng Tự do Canada nói: “Khủng bố, tự nó như là một cuộc chiến tranh, đang tự chuyển mình từ một cuộc chiến tranh thông thường thành một cuộc Thánh chiến.”
Nếu chỉ nhìn vào Israel, điều này là đúng. Khủng bố quốc tế hiện đại chủ yếu phát triển từ cuối những năm 1960. Trong suốt thời gian đó, Israel phải hứng chịu nhiều nhất. Với những tên khủng bố tồi tệ nhất thế giới - sẵn sàng buộc cả đống thuốc nổ vào những em bé – Israel chính là đối tượng nhắm tới, bị ghét bỏ. Mong muốn lớn nhất của chúng là quét sạch dân tộc nhỏ bé này ra khỏi bản đồ thế giới. Những tên khủng bố thường được hưởng sự bảo trợ của các nước Trung Đông vì cùng chung ước mơ hủy diệt “dân tộc Do Thái” nhưng không dám tấn công trực diện. Tuy vậy, Israel vẫn chưa bao giờ phải chịu đựng một cuộc tấn công của những tên khủng bố được trang bị vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDS). Điều này rõ ràng cho thấy rằng, việc sử dụng loại vũ khí đó không dễ dàng như vài người trong chúng ta vẫn nghĩ.
Về lý thuyết, những tên khủng bố có thể sử dụng virus, vũ khí hạt nhân hay những loại vũ khí tương tự có thể kiếm được trên thị trường chợ đen nhưng điều này thường chỉ xảy ra trên những bộ phim như James Bond(1) và các bài báo lá cải chuyên cung cấp các loại tin đồn và suy đoán. Chúng cũng có thể giành được những loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và rất mong muốn Israel hay Mỹ phải hứng chịu, nhưng bất kì một nhà lãnh đạo nào phát động một hành động như vậy đều phải cân nhắc rằng nếu, vai trò của ông ta trong cuộc tấn công bị lộ ra ngoài thì đất nước của ông ta sẽ nhanh chóng bị biến thành tro bụi. Đây là một điểm khác biệt lớn: Osama Bin Laden và những kẻ theo sau hắn có thể tử vì đạo nhưng Kim Jung In và những người lãnh đạo độc tài khác thì không. Các quốc gia này cũng phải cân nhắc rằng, họ có thể kiểm soát thời gian và bằng cách nào những tên khủng bố sử dụng những loại vũ khí mà họ cung cấp. Và họ lo ngại rằng “kẻ đại diện cho bọn khủng bố có thể không đáng tin cậy, có thể sử dụng các vũ khí đó để chống lại người bảo trợ cho chúng,” ghi nhận báo cáo năm 1999 tại Hội Nghị Gilmore - một hội nghị tư vấn quốc hội được đặt theo tên Chủ tịch của hội nghị, ông Jim Gillmore, cựu thị trưởng Virginia, một người theo đảng Cộng hòa. Những suy xét này đã khiến các nước đó trong hàng thập kỉ không cung cấp những vũ khí hạt nhân, hóa học hay sinh học cho bọn khủng bố. Chẳng có lý do gì nghi ngờ những lập luận này trong tương lai lại không tiếp tục thuyết phục.
Điều này tùy bạn phán xét. Các cơ quan truyền thông lại khiến người ta nghĩ rằng, các loại vũ khí hủy diệt có thể được sản xuất một cách dễ dàng với công thức tìm được trên Internet và một vài cái ống thí nghiệm. Thật may mắn, ủy ban Gilmore cho biết: “Những kẻ khủng bố gặp rất nhiều khó khăn khi muốn phát triển một thế hệ vũ khí hủy diệt hàng loạt và sát thương. Báo cáo này không cho rằng bọn khủng bố không thể sản xuất hay phổ biến các tác nhân sinh học, hóa học có khả năng gây sát thương hay thậm chí là giết chết một số lượng người nhất định... hay có thể khởi động một cuộc tàn sát lên tới cả trăm người. Điều cần nhấn mạnh là tạo ra một loại vũ khí với khả năng giết hàng chục ngàn người, đòi hỏi việc đào tạo chuyên nghiệp tại đại học trong một môi trường khoa học và kĩ thuật cao, với một nguồn tài chính dồi dào, cùng với những thiết bị hiện đại, khả năng tiến hành những thử nghiệm ở yêu cầu kĩ thuật cao để đảm bảo tính hiệu quả của vũ khí cũng như khả năng triển khai của các phương tiện chuyên chở các loại vũ khí này.” Yêu cầu của tiến trình này quá cao đến nỗi chúng "dường như, vào thời điểm hiện tại, nằm ngoài khả năng của không chỉ đa số các tổ chức khủng bố, mà còn nằm ngoài khả năng của rất nhiều nước trên thế giới.” Một bản báo cáo của Thư viện Quốc hội Mỹ công bố năm 2005 cũng cho thấy điều tương tự "các vũ khí hủy diệt khó sản xuất và sở hữu hơn nhiều những gì báo chí vẫn hay nói và ngày nay nó vẫn nằm ngoài khả năng của hầu hết các nhóm khủng bố."
Điều quan trọng cần nhớ rằng, dù sự hùng mạnh của Osama Bin Laden, chủ yếu dựa vào các cơ sở tại Afganistan, nhưng hắn đã thất bại. Hiệu trưởng Viện nghiên cứu Radcliffe của trường Đại học Harvard và một nhóm các nhà nghiên cứu hàng đầu về khủng bố, Louis Richardson đã viết: “Trong khi có vài lo ngại rằng các thành viên của Al-Qaeda thể hiện sự quyết tâm có được vũ khí hóa học, thì lại không có bằng chứng nào cho thấy chúng đạt được điều đó cả.” Không phải lúc nào tham vọng cũng song hành với khả năng.
Bin Laden không phải là người đầu tiên hiểu được điều này. Quá tập trung vào thế giới Hồi giáo cực đoan chúng ta đã quên mất một giáo phái cuồng tín đầu tiên đã đạt được và sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt trong khủng bố thuộc một giáo phái của Nhật Bản mang tên Aum Shirikyo. Aum do Shoko Asahara cầm đầu theo đuổi ý tưởng khởi động những cuộc tấn công khủng bố sát hại nhiều người với hi vọng sẽ thổi bùng lên một cuộc thánh chiến. Nguồn lực của Aum tương đối mạnh. Ở thời điểm đỉnh cao, giáo phái này có tới 60.000 thành viên. Ngoài Nhật Bản, giáo phái này còn có văn phòng tại Úc, Đức, Nga và thậm chí cả New York. Với nguồn lực là nhiều triệu đô la tiền mặt và tổng số tài sản có thể lên tới 1 tỉ đô la, Aum sở hữu những thành viên rất giỏi. Các thành viên thường đến từ các trường đại học hàng đầu của Nhật Bản và các sinh viên xuất sắc trong các ngành sinh học, hóa học, vật lý, cơ khí khiến tổ chức này có những thiết bị và máy móc tốt nhất. Một nhà khoa học của Aum sau này thừa nhận rằng, nguyên nhân chính khiến ông tham gia vào giáo phái, đơn giản vì các phòng thí nghiệm của Aum tuyệt vời hơn nhiều so với những phòng thí nghiệm tại trường đại học của ông. Có những thời điểm, Aum có tới 20 nhà khoa học hàng đầu nghiên cứu về vũ khí sinh học, và khoảng 80 loại vũ khí hóa học khác. Aum cũng tìm kiếm vũ khí hạt nhân, tổ chức này đã mua một trang trại rộng 500.000 héc-ta ở một vùng hẻo lánh của Úc với kế hoạch khai thác uranium và chở về Nhật Bản - “nơi các nhà khoa học sẽ sử dụng công nghệ làm giàu urani bằng laze để biến nó thành nguyên liệu phục vụ cho chế tạo vũ khí hạt nhân.” (Theo Ủy ban Gilmore). Tại Nga, Aum cố gắng mua số lượng lớn vũ khí “vì Nga nổi tiếng là thị trường cung cấp những loại vũ khí hiện đại như xe tăng, máy bay chiến đấu, tên lửa đất đối đất và thậm chí là cả vũ khí hạt nhân.”
Không có một cơ hội nào bị bỏ qua. Khi bệnh Ebola bùng phát tại Trung Phi vào tháng 10 năm 1992, Shoke Asahara đã dẫn đầu một đoàn 40 thành viên của giáo phái tới khu vực này dưới danh nghĩa cứu trợ nhân đạo. Các quan chức tin rằng, Aum đã cố gắng thu thập các mẫu chủng virus để có thể sản xuất hàng loạt tại Nhật Bản. Nhưng họ đã thất bại.
Đó không phải là thất bại duy nhất của Aum. Vụ tấn công sinh học nổi tiếng đầu tiên của nhóm liên quan tới việc phun chất botulinum - một chất cực độc gây ra ngộ độc thức ăn - từ ba chiếc xe tải vào các địa điểm được chọn là các cơ sở hải quân Mỹ, một sân bay, Tòa nhà quốc hội Nhật Bản và hoàng cung. Không ai bị nhiễm độc. Thậm chí cũng không ai biết là mình bị tấn công - sự việc chỉ được phát hiện sau đó 3 năm. Một vụ tấn công bằng botulinum nữa cũng thất bại vào tháng 6 năm 1993. Cùng năm đó, vụ tấn công bằng virus bệnh than đầu tiên bị thất bại. Tổng cộng giáo phái Aum đã tiến hành 9 vụ tấn công bất thành với hai loại vũ khí hóa học đáng sợ nhất nhằm mục đích khủng bố. Họ chẳng giết được ai cả. Điều này chứng tỏ, thậm chí cả Aum với nguồn lực phong phú, không thể nào vượt qua được rất nhiều rào cản thực tế để tàng trữ những dạng bệnh dịch chết người và phổ biến chúng một cách rộng rãi. Vì thế, giáo phái này đã chuyển sự chú ý sang các loại vũ khí hóa học và các tác nhân gây ảnh hưởng tới não. Bằng cách này, Aum đã đạt được một số thành công nhất định, sản xuất được số lượng lớn các loại khí mù tạt, xyanua có chứa natri, VX và sarin – hai chất sau là những loại khí tác động tới não bộ cực độc. Khi cảnh sát lục soát những cơ sở của Aum vào năm 1995, giáo phái này có đủ số lượng sarin để giết khoảng 4,2 triệu người.
Vậy mà điều kinh khủng cũng đã không xảy ra. Cuối cùng, một giáo phái âm mưu giết hàng triệu người và đã vượt qua mọi trở ngại để nắm giữ được vũ khí trong tay. Nhưng lại một lần nữa, Aum thất bại khi muốn gây ra một vụ hủy diệt hàng loạt.
Vào ngày 27 tháng 6 năm 1994, một số thành viên Aum lái chiếc xe tải thùng tới một khu dân cư tại Matsumoto, Nhật Bản. Bên trong xe, bọn khủng bố đã kích hoạt hệ thống máy tính điều khiển làm nóng sarin dạng lỏng thành hơi và thổi nó vào không khí bằng quạt gió. Điều kiện gió thật lý tưởng, những đám mây chết chóc hướng về những ô cửa đang mở trong không khí buổi tối ấm áp. Hậu quả là bảy người đã chết và 140 người bị ngộ độc nặng.
Vào ngày 20 tháng 03 năm 1995, Aum lại thử cách khác. Năm thành viên ăn vận như những doanh nhân và mang ô bước vào năm tuyến tàu lửa khác nhau của hệ thống tàu điện ngầm rất đông đúc tại thủ đô Tokyo. Họ mang tất cả 11 túi nhựa chứa đầy sarin. Những kẻ khủng bố dùng ô chọc thủng những chiếc túi được đặt trên sàn tàu và tháo chạy ra khỏi tàu. ba trong số 11 túi không bị thủng, 8 chiếc khác làm tràn ra ngoài khoảng 4,5kg chất sarin. Khi chất lỏng này bị phát tán ra ngoài, nó sẽ bốc hơi: 12 người đã chết, 5 người khác bị ngộ độc nặng nề nhưng cuối cùng đã được cứu sống, 37 người khác bị thương nặng, trong khi 984 người nữa bị những biểu hiện nhẹ hơn.
Các quan chức Nhật Bản lập tức truy tìm và bố ráp các cơ sở của Aum trên khắp cả nước và rất ngạc nhiên trước những gì họ phát hiện ra. Bên cạnh quy mô của những hoạt động chết người, những nỗ lực của nhóm này để sở hữu những phương tiện giết người, những vụ tấn công khủng bố, cảnh sát chẳng biết gì hơn. Thật khó hình dung một kịch bản tồi tệ hơn: một giáo phái cuồng tín với một tham vọng chất chứa khởi động sự giết chóc tốn kém, một mạng lưới quốc tế, các phòng thí nghiệm và các thiết bị hiện đại, những nhà khoa học được đào tạo tại những trường đại học hàng đầu, và hàng chục năm trời gần như tự do theo đuổi các hoạt động của nó. Nhưng tổng số người chết trong 17 cuộc tấn công của Aum với các loại vũ khí hóa học và sinh học ít hơn nhiều so với 168 người đã chết tại thành phố Oklahoma khi Timothy McVeigh phát nổ một quả bom được làm từ thuốc phân bón và dầu chạy xe máy.
Ủy ban Gilmore đưa ra kết luận: “Các kinh nghiệm của Aum cho thấy – khác với sự tin tưởng của đa số - những tổ chức khủng bố đơn lẻ không có một quốc gia hỗ trợ sẽ vấp phải những rào cản công nghệ rất lớn trong việc tiếp cận và gieo rắc những vũ khí sinh học và hóa học hiệu quả.” Yếu tố cơ bản dẫn tới sự thất bại này, theo Ủy ban, là môi trường bên trong của các tổ chức thường được thống trị bằng những niềm tin tôn giáo mù quáng. “Các nhà khoa học của Aum, bị cô lập về mặt xã hội và thể chất, bị một người lãnh đạo cuồng tín, xa lánh hiện thực và không thể đưa ra những phán xét chính xác.”
Đối với những kẻ khủng bố "ôm mộng" về một cuộc Thánh chiến, điều đó thật đáng thất vọng. Al-Qaeda và những kẻ khủng bố Hồi giáo khác còn không có nhiều lợi thế như Aum. Chúng không hề có tiền, cơ sở vật chất hay các thiết bị, khả năng di chuyển tự do. Quan trọng nhất là, chúng không có những nhà khoa học dù Al-Qaeda đã cố gắng tuyển dụng thêm những nhà khoa học được đào tạo nhưng thất bại, đó chính là lý do vì sao chúng không bao giờ có thể thể hiện dù chỉ là một phần khả năng công nghệ mà Aum đã từng có. Một yếu tố mà chúng chia sẻ với giáo phái Nhật Bản này là không khí căng thẳng trong giáo phái đã khiến những nỗ lực của Aum thất bại.
Kinh nghiệm của Aum cho thấy, những cuộc tấn công khủng bố hủy diệt sử dụng các vũ khí hóa học, sinh học là hoàn toàn có thể, nhưng chúng cũng nhận ra rằng, có rất nhiều khó khăn. Đó là nguyên nhân bọn khủng bố thường thích dùng bom và súng đạn – hay trong những vụ khủng bố tồi tệ nhất trong lịch sử, đó là những chiếc hộp đựng bom và những chiếc vé máy bay.
Tất nhiên, con số này sẽ thay đổi nếu các vũ khí đó là hạt nhân. Ủy ban Gilmore cho biết rằng: “Có lẽ, cách duy nhất để bọn chúng có thể gây ra một vụ khủng bố có tính chất hủy diệt thực sự chính là sử dụng vũ khí hạt nhân.” Một vụ tấn công bằng hạt nhân sẽ là một nỗi khủng khiếp không thể nào tưởng tượng được và hậu quả khủng khiếp của nó chắc hẳn sẽ khơi gợi những cảm xúc mạnh mẽ đủ để người ta suy nghĩ tới bất kì khả năng nào có thể xảy ra. Đó là một sai lầm. Xác suất chính là yếu tố quan trọng được xem xét khi đối mặt với nguy cơ, những nguy cơ – đặc biệt là nguy cơ thảm khốc. Cuối cùng, đối với con người, nguy cơ khủng khiếp nhất không phải là khủng bố hạt nhân mà là sự va chạm với một thiên thạch hay một ngôi sao chổi với diện tích gần bằng trái đất. Nếu chúng ta xem xét khả năng gây hủy diệt của một sự kiện như vậy và bỏ qua việc tính toán xác suất xảy ra của nó, thì có lẽ chúng ta sẽ bỏ ra hàng tỉ tỉ đô la đầu tư vào việc xây dựng hệ thống phòng thủ toàn cầu rộng lớn và không thể xâm nhập. Nhưng có rất nhiều người – bao gồm cả những du hành vũ trụ, những người mong muốn chúng ta bỏ ra một chút ít tiền để khám phá ra các thiên thạch đó - sẽ nói rằng sự đầu tư đó là ngu ngốc, bởi vì khả năng xảy ra của một vụ va chạm như vậy là cực kì nhỏ và số tiền đó có thể làm được nhiều việc tốt cho trái đất. Chúng ta không nên lờ những nguy cơ đi – từ chối bỏ ra chút tiền để phát hiện, làm chệch hướng những thiên thạch và tính toán khả năng va chạm đó là không đúng đắn - nhưng chúng ta cũng không nên phát rồ lên vì điều đó. Hãy giữ thái độ bình tĩnh đó đối với khủng bố hạt nhân.
Tỉ lệ xác suất một thành phố Mỹ bị ném bom nguyên tử là bao nhiêu? Khi mà không có số liệu, tất cả những gì chúng ta có thể làm là quan sát sự phức tạp về xây dựng, sự khan hiếm vũ khí hạt nhân và đưa ra phán xét đúng đắn.
Ủy ban Gilmore đã làm thế. Ủy ban này bắt đầu nhận thấy rằng, sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết không phải là do vũ khí hạt nhân của Chính quyền Xô viết bất ngờ xuất hiện trên thị trường chợ đen, dù người ta luôn lo ngại điều này suốt những năm 1990. Đặc biệt báo cáo còn cho biết: “Những loại vũ khí hạt nhân có thể mang trong vali” của Nga đã tuồn ra ngoài mà không bị ngăn chặn, trong bất kì một sự vụ nào, các vũ khí này đều cần một chế độ bảo trì để có thể hoạt động tốt. Việc buôn lậu và sở hữu một trái bom không hề đơn giản vì các thiết bị bảo vệ cho một vũ khí hạt nhân thông thường cần có tem chống nước bảo vệ và những biện pháp an ninh khác được thiết kế nhằm ngăn chặn chính xác tình huống xấu có thể xảy ra.
Tùy bạn suy nghĩ, nhưng việc này không thể xảy ra trong một gara thông thường tại vùng ngoại ô nào đâu. Theo Ủy ban Gilmore: “Xây dựng cơ sở cất giữ và bảo quản một thiết bị vũ khí hạt nhân có khả năng hủy diệt hàng loạt cần rất nhiều công sức và phải vượt qua rất nhiều thử thách đối với bọn khủng bố, ngay cả với các quốc gia trên thế giới với một nguồn lực lớn cũng như các chương trình xây dựng rất lớn.” Vào những năm 1980 Saddam Hussein đổ biết bao nhiêu tiền kiếm từ dầu mỏ vào việc nghiên cứu vũ khí hạt nhân nhưng đã không thể nào chế tạo nổi, dù chỉ là một vũ khí trước khi chiến tranh vùng vịnh xảy ra, và điều đó làm tiêu tan tham vọng của ông ta.
Điều đó có thể xảy ra hay không? George Tennet, cựu Giám đốc cơ quan tình báo Mỹ CIA đã viết trong Hồi kí của ông: “Chúng ta cần biết rằng, sở hữu vũ khí hạt nhân không nằm quá khả năng của một nhóm khủng bố. Việc đó sẽ làm cho Al-Qaeda trở nên hùng mạnh và là cơ hội tốt để mối đe dọa từ Bin Laden phá hủy nền kinh tế của chúng ta và mang chết chóc đến từng ngôi nhà trên đất nước Mỹ trở thành hiện thực.” Cựu Tổng Thư kí Liên Hợp Quốc Kofi Anna đã nói: “Nếu một cuộc tấn công hạt nhân của bọn khủng bố xảy ra, nó sẽ không chỉ gieo rắc cái chết ở khắp mọi nơi mà còn kéo lùi nền kinh tế thế giới và đẩy hàng chục triệu người vào sự đói nghèo dai dẳng.”
Theo tính toán thì một cuộc khủng bố bằng hạt nhân thành công ở khu vực trung tâm thành phố có thể giết chết khoảng 100.000 người. Với tổng số người chết là 100.000 người thì xác suất đối với một người Mỹ bị chết trong một cuộc tấn công như vậy là 0.033% hay là 1/3.000 (cứ 3.000 người có một người bị chết). Tổng số 100.000 người chết không nhiều hơn là mấy so với số người Mỹ chết vì tiểu đường mỗi năm – 75.000 người – và gần xấp xỉ con số người Mỹ bị chết vì tai nạn giao thông hằng năm. Vì thế, nếu xét về số thương vong thì một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân khó có thể trở thành một cuộc thánh chiến đẫm máu được.
Tuy nhiên, người ta thường hay suy luận rằng, một cuộc tấn công như thế còn có thể gây ra sự hoảng sợ cực độ và thậm chí là dẫn tới sự sụp đổ của một trật tự xã hội. Sự suy luận này dựa trên thói quen thiếu tin tưởng lâu dài. Hàng thập kỉ người ta nghiên cứu về cách con người xử sự trong những tình huống khẩn cấp cho thấy rằng, sự hoảng loạn là khá hiếm. “Ngay cả khi con người đối mặt với những gì được coi là tình huống xấu nhất, họ vẫn cố gắng tìm sự giúp đỡ và bảo vệ cho bản thân và cho bạn bè mình, thậm chí với cả những người hoàn toàn xa lạ.” Lee Clarke, một nhà xã hội học tại trường Đại học Rutger đã viết như vậy. Ngay cả khi con người bị kẹt trong đám đổ nát đang bốc cháy của một chiếc máy bay gặp nạn thì họ cũng luôn nhìn nhận nhu cầu của người khác hơn là gào thét và cố gắng tìm sự an toàn cho riêng bản thân. Chúng ta cần thiết phải học được điều này từ vụ 11 tháng 09 năm 2001, khi mà những người Mỹ đã phản ứng lại cuộc khủng bố bằng sự tự trọng, tình yêu thương, sự hợp tác và lòng khoan dung, hào hiệp.
Một cuộc tấn công khủng bố bằng hạt nhân có thể gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế nhưng tuyên bố của George Tennet rằng nó sẽ “hủy diệt” nền kinh tế Mỹ là cường điệu. Một lần nữa, theo những bằng chứng từ sự kiện 11 tháng 09, cuộc không kích tất nhiên không phải là cuộc tấn công bằng hạt nhân, nhưng chúng đã thực sự hủy hoại hai tòa nhà được coi là trung tâm tài chính quan trọng của chủ nghĩa tư bản Mỹ, đánh vào thành phố quan trọng nhất nước Mỹ, làm ngành Hàng không Mỹ lao đao, và khiến ngành thương mại cũng như xã hội Mỹ "rùng mình kinh hãi". Như dự đoán, thị trường chứng khoán thế giới đã chao đảo, nhưng nó cũng chỉ mất 40 ngày để chỉ số công nghiệp Dow Jones trở lại điểm số của phiên đóng cửa ngày 10 tháng 09 năm 2001. William Dobson đã viết trong tạp chí Foreign Policy nhân kỉ niệm 5 năm vụ khủng bố 11 tháng 09: “Điều đáng ghi nhận là thế giới thay đổi rất ít” sau sự kiện đó. Giá trị xuất khẩu của Mỹ tiếp tục tăng đều đặn, và trong khi giá trị thương mại toàn cầu giảm nhẹ trong năm 2001 từ 8 ngàn tỉ đô la xuống còn 7,8 ngàn tỉ - nó là một năm tồi tệ trước khi vụ khủng bố xảy ra - “dường như là cuộc đua đã trở lại và thương mại toàn cầu tăng 12 ngàn tỉ đô la vào năm 2005.” Nền kinh tế Mỹ không bị tàn phá, thay vào đó, nước Mỹ lại bước vào thời kì phát triển mới, thậm chí thành phố New York còn cho thấy nó sẽ bước vào một thời kì hoàng kim.
Một sự kiện nữa chứng tỏ sức mạnh nội tại của xã hội Mỹ là trận bão Katrina hồi tháng 8 năm 2005 xảy ra tại New Orleans. Hơn 1.500 người chết, trong khi những người khác đều phải đi sơ tán. Nếu so sánh trận bão với một cuộc tấn công hạt nhân thì sẽ không chính xác lắm song những gì chúng ta chứng kiến ở đây là một thành phố lớn của Mỹ đột nhiên bị tàn phá và bị bỏ hoang. Kinh nghiệm này quả là tồi tệ và thiệt hại về vật chất lên tới 80 tỉ đô la là quá lớn. Nhưng nước Mỹ không hề bị suy yếu đi. Nền kinh tế đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và sự thiệt hại của một trong những thành phố lớn nhất của Mỹ đã không thể ảnh hưởng tới sức mạnh quân sự, chính trị và văn hóa của Mỹ.
Vì thế, chúng ta hãy xem xét lại tất cả. Đầu tiên, vụ 11 tháng 09 là một tai họa khủng khiếp do chủ nghĩa khủng bố gây ra. Thứ hai, bao gồm cả số người chết trong vụ 11 tháng 09, chủ nghĩa khủng bố đã đặt một nguy cơ rất nhỏ vào cuộc sống của bất kì một công dân Mỹ hay phương Tây nào. Thứ ba, ngay cả khi nếu có một loạt các cuộc khủng bố nhằm vào Mỹ, mỗi vụ tương đương với vụ 11 tháng 09, nguy cơ đối với người Mỹ cũng vẫn nhỏ hơn những nguy cơ khác mà mọi người thường bỏ qua. Thứ tư, ngoài khu vực Trung Đông và Nam Á, tỉ lệ những vụ khủng bố quốc tế giảm trong vòng một thập kỉ rưỡi vừa qua. Thứ năm, rất khó để cho bọn khủng bố trên thế giới sở hữu những vũ khí sinh học, hóa học và đặc biệt là vũ khí hạt nhân, ngay cả khi nếu chúng có thể vượt qua được rất nhiều rào cản và nếu một vụ tấn công thành công cũng sẽ làm tổn hại rất ít – chứ không giống như những gì chúng ta hay tưởng tượng về một vụ khủng bố khủng khiếp chỉ có trong những cơ ác mộng. Thứ sáu, ngay cả nếu bọn khủng bố có thực hiện thành công một vụ tấn công với số người chết lớn hơn nhiều lần so với vụ 11 tháng 09, nguy cơ đối với một người Mỹ vẫn nhỏ và nước Mỹ vẫn là một đất nước hùng mạnh và giàu có nhất trong lịch sử loài người.
Cuối cùng, điều thứ bảy, gần nửa người Mỹ đang lo lắng rằng họ hoặc gia đình họ có thể bị bọn khủng bố giết chết – sự lo lắng ngày càng cao qua các cuộc khảo sát, dù không hề có cuộc tấn công khủng bố nào sau vụ 11 tháng 09 năm 2001.
Mọi người lo lắng sau vụ 11 tháng 09 là rất có lý. Tâm lý học có thể giải thích điều này. Ở một mức độ nào đó, chuyện tương tự cũng xảy ra với vụ đánh bom tại Oklahoma năm 1995. Sau một thời gian, điều đáng nói ở đây là sự lo lắng giảm dần và những điều kinh khủng đã không trở thành hiện thực. Nhưng các nhà tâm lý học không thể giải thích tại sao sự suy giảm lo ngại lại dừng lại, hay tại sao mà nó lại tăng lên khi mà nước Mỹ tiếp tục không bị khủng bố tấn công sau mỗi năm.
Để hiểu được điều này, chúng ta phải quay trở lại ngày 12 tháng 09 năm 2001, và tuyên bố của Tổng thống Mỹ George W. Bush rằng, đó “còn hơn cả những hành động khủng bố. Đó chính là hành động chiến tranh… Tự do và dân chủ đang bị thử thách.” Thủ tướng Anh Tony Blair sau đó 4 ngày cũng có bài thuyết trình về vụ việc này khi ông cảnh báo: “Chúng ta biết rằng, chúng sẽ, nếu có thể, đi xa hơn và sử dụng vũ khí sinh học hay hóa học, thậm chí là cả vũ khí hạt nhân gây hủy diệt hàng loạt.” Những phát biểu này như tái hiện lại sự tàn phá của cuộc tấn công 11 tháng 09. Thay vì đó là kết quả của 19 kẻ cuồng tín được trang bị vũ khí hiện đại, tối tân và nhờ may mắn, bọn khủng bố đã thể hiện một bằng chứng rõ ràng về sức mạnh, khả năng công phá mạnh mẽ. Thay vì nhìn nhận sự việc như là một biến thái khủng khiếp của chủ nghĩa khủng bố, người ra lại thấy đó là một sự Bình Thường mới – tiên đoán những vụ khủng bố tương tự sẽ xảy ra - và dấu hiệu cho thấy những điều tồi tệ nhất sẽ tới.
Giới truyền thông chộp ngay lấy những phát biểu này và “mọi thứ đã thay đổi” trở thành câu cửa miệng của mọi người. Chúng ta đã bước vào “thời kì của khủng bố”. Một số kẻ bảo thủ còn dự đoán một cuộc “chiến tranh thế giới thứ ba” hay bốn, cho những ai tin rằng Chiến tranh Lạnh là cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Tổng thống Mỹ đã thể hiện sự ủng hộ quan điểm này bằng việc nhắc tới vụ khủng bố hành khách trên chuyến bay 93 như là “cuộc tấn công đầu tiên của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ ba”. Một cụm từ hay được dùng nữa đó là “cuộc chiến sinh tồn”, điều này liên hệ với việc sự sống còn của nước Mỹ đang trong tình trạng nguy hiểm. Những người khác còn đi xa hơn. Tổng thống Bush tuyên bố vào tháng 10 năm 2001 rằng “Cuộc xung đột này là cuộc chiến cứu cả thế giới văn minh”. Sự kết thúc đầy logic của bài hùng biện còn liên hệ tới cả Irwin Cotler, Bộ trưởng Tư pháp, Đảng viên đảng Tự do Canada và là một nhà hoạt động nhân quyền xuất sắc, người luôn gán Chủ nghĩa khủng bố là “mối đe dọa hiện hữu đối với nhân loại.”
Sự kiện 11 tháng 09 và những gì xảy ra sau đó có thể trở thành nổi tiếng bằng nhiều cách, nhưng việc Tổng thống Mỹ lựa chọn cách gọi “chiến tranh vào chủ nghĩa khủng bố” – để chỉ một xung đột toàn cầu giữa các lực lượng đầy sức mạnh mà chỉ có thể kết thúc trong chiến thắng hay hủy diệt – khiến cả bộ máy chính quyền của ông bị mắc kẹt trong đó. Thông điệp Liên bang được phát biểu vào tháng 01 năm 2002, ông tuyên bố: “Thế giới văn minh đang đối mặt với những mối hiểm nguy không thể lường trước được.” Trong bản Kế hoạch chiến lược quốc gia công bố năm 2002, ông cảnh báo: “Trừ khi chúng ta có những hành động ngăn chặn, nếu không một làn sóng khủng bố mới, có tiềm năng sở hữu những loại vũ khí có sức hủy diệt mạnh nhất thế giới, sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng cả tương lai của nước Mỹ. Đó là một thử thách khó khăn nhất mà đất nước chúng ta đã từng đối mặt… Ngày nay, bọn khủng bố có thể tấn công bất kì nơi đâu, vào thời gian nào và với bất cứ loại phương tiện gì.”
Năm 2005 trong bài phát biểu toàn liên bang, Tổng thống một lần nữa lại nói về cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố như là chủ nghĩa mới nhất trong danh sách những chủ nghĩa mà nước Mỹ phải đấu tranh chống lại và rằng: “Một lần nữa, đất nước và những người bạn của chúng ta lại phải đứng giữa một thế giới hòa bình và một thế giới của xung đột với những cảnh báo không ngừng.”
Năm 2006, Trưởng cơ quan An ninh Quốc gia Micheal Chertoff có bài diễn văn kỉ niệm 5 năm sự kiện 11 tháng 09 rằng, nước Mỹ đã nổi lên “từ cuộc Chiến tranh Lạnh và cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai” chỉ để "đối mặt với một thử thách mới mà mỗi giây phút trôi qua lại nguy hiểm hơn rất nhiều những thử thách mà chúng ta đã phải đối mặt trong những thập niên trước.”
Năm 2007, trang web của Nhà Trắng gọi cuộc tấn công khủng bố 11 tháng 09 “hành động của chiến tranh chống lại nước Mỹ, chống lại những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới và chống lại mọi nguyên tắc tự do và giá trị con người.”
Nhưng chính quyền Bush nhắc đi nhắc lại đề tài này không ngớt. Hàng chục triệu người Mỹ cuối cùng đã tin tưởng rất mạnh mẽ rằng, chủ nghĩa khủng bố là một mối nguy hiểm ghê gớm với cá nhân họ. Đó là những mà Cái Bụng nói với họ. Cái Đầu có thể đã bị can thiệp, nhưng nó đã không làm điều đó. Vì sao? Chính quyền nói Cái Bụng đã đúng. Cả nước Mỹ, thậm chí cả nền văn minh này đang ở trong tình trạng nguy hiểm.
Tổng thống không bao giờ nói rằng, nghiêm trọng như khủng bố nhưng nó không đặt một nguy cơ vào bất kì ai cụ thể. Ông ấy không bao giờ nói: “Hãy bình tĩnh”. Ông ấy cũng không nói rằng: “ Bạn rất có thể bị chết vì sét đánh”. Đã vậy, các chính trị gia khác, cả đảng Dân chủ và Cộng hòa đều làm giống Tổng thống. Tháng 06 năm 2007, Thị trưởng New York Micheal Bloomberg phát biểu trên tờ New York Times: “Có rất nhiều mối nguy hiểm rình rập khắp nơi trên thế giới.” Ông ta cũng đã nhắc tới một vài nguy cơ khác, trong đó có cả những cơn đau tim và những vụ sét đánh. “Bạn không thể ngồi đây và lo lắng về mọi thứ. Hãy tận hưởng cuộc sống!” Cảm giác này thật tuyệt nhưng Bloomberg cơ bản là đã lờ đi khả năng gây chết người của các cơn đột quỵ - một nguy cơ đáng kể đối với hầu hết mọi người khi đem nó ra so sánh với các vụ tấn công khủng bố. Chỉ có John Mc Cain là hướng người Mỹ tới sự không thể: “Hãy đi vào thang máy chết tiệt đi. Hãy bay với những máy bay chết tiệt đi! Hãy tính toán rủi ro gặp phải khủng bố! Xác suất của những việc này cũng giống như bạn bị quét ra biển khi có một con sóng thủy triều vậy. Rất nhỏ.” Không may, Mc Cain chỉ đưa ra cảnh báo này trong một cuốn sách năm 2004. Những tuyên bố ra công chúng, trước và sau, đều giống với những gì mà chính giới Mỹ đang tin tưởng rằng: Chúng ta đang ở trong cuộc chiến với một kẻ thù nguy hiểm.
Nước Mỹ thực sự đã phát động một cuộc chiến tranh trong vòng một năm rưỡi sau vụ 11 tháng 09 nhưng kẻ thù trong cuộc chiến tranh này không phải là Bin Laden mà là Saddam Hussein. Không có bằng chứng nào chứng tỏ nhân vật độc tài người Iraq này có dính líu gì tới vụ 11 tháng 09, nhưng rõ ràng là những nhân vật chủ chốt trong chính quyền Mỹ đang tìm kiếm cơ hội để phế bỏ nhân vật độc tài người Iraq khi họ bước vào Nhà Trắng tháng 01 năm 2001. Và điều đó được tính toán rất cẩn thận – không chỉ bởi Richard Clarke, Trưởng cơ quan chống khủng bố của Nhà Trắng – rằng chính quyền thực hiện những nỗ lực để trói chặt Hussein có liên quan tới vụ 11/09. Chìa khóa để hoàn thành cả hai mục tiêu này là mối đe dọa của bọn khủng bố đang nắm giữ vũ khí giết người hàng loạt.
Câu chuyện đã được làm rõ vào thời gian mà Tổng thống truyền đi Thông điệp Liên bang đầu tiên trong thời gian đương nhiệm của mình, vào ngày 29 tháng 01 năm 2002. “Khi chúng ta có mặt tại đây đêm nay, đất nước của chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh. Kinh tế của chúng ta đang suy thoái, và thế giới văn minh đối mặt với những hiểm nguy không lường trước được. Iraq tiếp tục tỏ ra đối đầu với Mỹ và ủng hộ cho khủng bố. Chính quyền tại Iraq đã âm mưu phát triển bệnh than và các loại khí độc và vũ khí hạt nhân từ hàng thập kỉ trước. Bush cũng chỉ rõ Iraq và Bắc Triều Tiên: “Những nước như vậy, và các nước đồng minh khủng bố, tạo thành một trục ma quỷ, đã chế tạo nhiều loại vũ khí đe dọa hòa bình thế giới. Bằng cách tìm kiếm các loại vũ khí hủy diệt, những thể chế này làm gia tăng sự hiểm nguy. Chúng có thể cung cấp những trợ giúp cho bọn khủng bố, tạo điều kiện để chúng thể hiện sự tức giận. Chúng có thể tấn công các đồng minh của chúng ta hoặc gửi những thư nặc danh cho nước Mỹ. Trong bất cứ trường hợp nào, cái giá của sự thờ ơ chính là một thảm họa.”
Chủ đề tương tự cũng xuất hiện trên một tài liệu bí mật gây tai tiếng có tên là “Downing Street Memo” được soạn thảo vào tháng 7 năm 2002, bị tiết lộ ra ngoài sau cuộc chiến. Trong tài liệu này, người đứng đầu cơ quan tình báo Anh MI6, tường thuật lại cuộc trao đổi của ông tại Washington: “Có một sự thay đổi về nhận thức. Hành động quân sự giờ đây được coi là không thể tránh khỏi. Bush muốn loại bỏ Saddam, thông qua một hành động quân sự, được hợp lý hóa là có mối liên hệ với khủng bố và WMD. Các tin tức tình báo và số liệu đã được kết hợp với nhau để phục vụ cho chính sách này.”
Vào thời gian Thông điệp Liên bang tiếp theo được phát đi trên truyền hình Mỹ vào tháng 01 năm 2003, chính quyền Bush đã chuẩn bị sẵn sàng để tấn công Iraq. Giọng điệu của Tổng thống Bush mạnh mẽ, cứng rắn chẳng khác nào cuốn tiểu thuyết của Tom Clancy: “Saddam Hussein đã bảo trợ và ủng hộ chủ nghĩa khủng bố, bao gồm cả các thành viên thuộc mạng lưới Al-Qaeda. Một cách bí mật và không hề để lại dấu vết gì, ông ta đã cung cấp một trong những vũ khí bí mật của mình cho bọn khủng bố, và giúp chúng phát triển vũ khí. Trước vụ 11 tháng 09, rất nhiều người trên thế giới tin rằng, Saddam cần được ngăn chặn. Nhưng các hóa chất, các virus gây chết người và mạng lưới khủng bố bí mật không phải dễ dàng chặn đứng. Hãy tưởng tượng 19 tên không tặc với các lại vũ khí khác nhau và các kế hoạch khác nhau – lần này được Saddam trang bị vũ khí. Điều này có thể mang một lọ thủy tinh nhỏ, một hộp đựng bánh, một cái sọt trượt vào đất nước này để mang lại một ngày khủng khiếp mà chúng ta chưa bao giờ chứng kiến... Chúng ta sẽ làm mọi việc trong khả năng của mình để chắc rằng ngày đó sẽ không tới.”
Đối với Cái Bụng, kịch bản này được phát đi từ Nhà Trắng thật đáng sợ dưới hai góc độ. Một, đó là sự phức tạp của câu chuyện. Saddam Hussein có thể phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt; ông ta có thể cung cấp vũ khí đó cho bọn khủng bố và chúng có thể sử dụng vũ khí để tấn công nước Mỹ. Như chúng ta đã nhìn nhận từ trước, mọi cái “có thể” dẫn tới hàng loạt những sự kiện này cần phải xảy ra trước đã thì tai họa khủng khiếp cuối cùng mới thành hiện thực. Chính vì lý do đó mà kịch bản càng phức tạp thì càng ít khả năng xảy ra. Nhưng đó ko phải là những gì mà Cái Bụng nghĩ. Nếu một trong những chuỗi dữ kiện trên tấn công chúng ta – như một trận động đất tại California – nó sẽ khởi động Quy luật Điển hình và Cái Bụng sẽ kết luận rằng, cái kịch bản tổng thế này có thể xảy ra mà chẳng dựa trên suy luận logic. Yếu tố “điển hình” trong câu chuyện do chính quyền Mỹ dựng lên đã rõ ràng. “Liệu ai có thể nghi ngờ rằng, nếu Bin Laden và Al-Qaeda sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, chúng sẽ không sử dụng trong vụ tấn công 11/09 thay vì không tặc những chiếc máy bay?” Richard Lessner – Giám đốc Hiệp hội Bảo thủ Hoa Kỳ2 đã viết như vậy trên Weekly Magazine, một tạp chí của phái bảo thủ. Đúng vậy, Cái Bụng suy nghĩ đúng như thế. Và vì thế kịch bản đó hiện thực hơn bao giờ hết.
Tất nhiên có một khả năng khác là Cái Bụng sẽ thậm chí là chẳng bao giờ xem xét xung quanh xác suất của kịch bản này. Những lời cảnh báo của chính quyền thật đáng sợ, ngôn ngữ sống động – “Chúng ta không hề muốn những khẩu súng bốc khói trở thành một đám mây hình nấm(2) – và thứ cảm xúc mà những lời cảnh báo này khơi gợi lên đủ để lấn át mọi sự suy xét của trực giác theo phía đối lập. Như Lesser nói: “Tôi tự thân lo ngại cho những đống đổ nát ở một thành phố nào đó của Mỹ hơn là họng súng nhằm vào Saddam.” Tới địa ngục với những xác suất đó.
Trong Thông điệp Liên bang năm 2005 Bush, nói: “Vài người nói rằng chúng ta không cần phải hành động khi nguy cơ chưa rõ ràng. Nhưng khi có bọn khủng bố và những kẻ độc tài thông báo sự hiện diện của chúng, liệu chúng ta có được cảnh báo trước sự tấn công của chúng không? Nếu những nguy cơ đó được cho phép bất thình lình xuất hiện, với mọi hành động, mọi ngôn từ và mọi lời buộc tội đều trở nên quá muộn.”
Chủ đề này – chúng ta phải hành động ngay bây giờ nếu có bất kì một khả năng nào để điều này xảy ra trong tương lai - được nhắc đi nhắc lại trong các tuyên bố của Nhà Trắng dẫn tới cuộc chiến tranh Iraq. The One percent Doctrine (học thuyết 1%) là một cuốn sách của Ron Suskin - một nhà báo tại Washington có quan hệ mật thiết với chính giới tại thủ đô, đã phác họa cả Phó Tổng thống Dick Cheney. Ngay sau vụ 11 tháng 09, Suskind viết: "Cheney chỉ đạo rằng, nếu có thậm chí là 1% khả năng khủng bố có vũ khí hủy diệt và khả năng sự cố đó xảy ra dù là rất nhỏ - thì Mỹ cũng phải hành động ngay tức khắc như thể là nó chắc chắn sẽ xảy ra. Hậu quả là Cheney đã đưa ra biện pháp phòng ngừa."
Điều này đi ngược lại với những điểm cơ bản của khoa học chính trị về nguy cơ. Cánh hữu, nguyên tắc phòng ngừa cần được tôn trọng. Nó giữ vị trí quan trọng trong luật của Liên hợp châu Âu. Các nhà hoạt động môi trường cũng luôn nói về việc này. Nhưng cánh tả, trên thực tế, chính quyền Bush luôn đối đầu với những nỗ lực của Liên hợp châu Âu khi áp dụng những nguyên tắc phòng ngừa trong các quy định về sức khỏe và môi trường. Vào tháng 5 nam 2005, ngay sau khi Mỹ tấn công Iraq theo nguyên tắc thà nhầm lẫn còn hơn bỏ sót/ngăn chặn còn hơn là để nó xảy ra, John Graham, quan chức cao cấp của Nhà Trắng chịu trách nhiệm xem xét các quy định, bộ luật, phát biểu trên tờ New York Times rằng, chính quyền Bush coi nguyên tắc phòng ngừa “là một khái niệm tưởng tượng, giống như con kì lân.” Cùng thời gian đó, các phái hữu đặc biệt là phái hữu tại châu Âu - chế giễu khi George W. Bush lập luận bảo vệ việc tấn công Iraq dựa trên cơ sở ngăn chặn rằng: “Nếu chúng ta đợi các nguy cơ biến thành hiện thực, chúng ta sẽ phải đợi rất lâu.” Phái hữu yêu cầu những bằng chứng mạnh mẽ hơn về việc Saddam Hussein có vũ khí hạt nhân, vũ khí hủy diệt, có liên hệ với Al-Qaeda, đòi Mỹ sử dụng các biện pháp ít quyết liệt hơn lập luận rằng, nguy cơ của việc không tấn công cần được xem xét kĩ lưỡng với nguy cơ được tạo ra bởi một cuộc tấn công – chính xác như những lập luận mà chính quyền Bush và những người theo phái bảo thủ đưa ra khi các nhà môi trường hay những nước ở châu Âu đưa ra nguyên tắc phòng ngừa, khi đề cập tới việc chấm các chất hóa học, hay hành động ngăn chặn tình trạng thay đổi khí hậu. Làm thế nào mà những người được lựa chọn luôn bận rộn với việc “đề phòng”, nhưng lại không bao giờ thực hiện rõ ràng, dẫn tới kết quả tất yếu là cuộc chiến Iraq.
Lời kêu gọi của chính quyền Bush đã có hiệu quả. Sự ủng hộ đã lên tới 75% nhiều ngày trước khi xe tăng lăn bánh. Saddam Hussein đã bị coi là có liên kết với vụ 11 tháng 09 một cách thành công trong tâm trí của dân chúng đến nỗi cuộc điều tra của tờ New York Times tiến hành vào tháng 9 năm 2006 – mãi sau khi chính quyền chính thức buộc tội Hussein không liên quan gì tới vụ tấn công. 1/3 người Mỹ vẫn nghĩ rằng, nhà độc tài người Iraq có “liên quan cá nhân” với khủng bố. Mối liên hệ giữa khủng bố và "vũ khí hủy diệt” còn mạnh mẽ hơn nhiều. Theo một cuộc điều tra của Hart-Teeter năm 2004, yêu cầu những người tham gia điều tra kể tên hai loại khủng bố làm họ lo ngại nhất, 48% chọn khủng bố sinh học, 37% chọn vũ khí hóa học và 23% chọn vũ khí hạt nhân. Chỉ có 13% chọn không tặc là một trong hai dạng khủng bố đáng sợ nhất. Một kết quả khảo sát của Gallup năm 2006 cho thấy, hầu hết một nửa người Mỹ nói rằng, trong năm năm tới, bọn khủng bố có khả năng sẽ “đặt bom nguyên tử hoặc bom sinh học”.
Khi mối liên hệ giữa Iraq với “một cuộc chiến tranh chống khủng bố” rộng lớn hơn được hoàn thành vào tháng 04 năm 2002, 35% người Mỹ nói họ lo ngại bản thân hoặc gia đình mình trở thành nạn nhân của khủng bố. Con số đó tăng lên 48% vào tháng 2 năm 2003 theo một nghiên cứu của Gallup. Tổng thống Bush nói cho rằng, Iraq trở thành: “Mặt trận trung tâm trong Cuộc chiến chống khủng bố”. Khi chiến thắng trên mặt trận này đến thật nhanh chóng, nỗi sợ hãi khủng bố tại Mỹ giảm xuống. Vào tháng 7 năm 2003, tỉ lệ này giảm xuống còn 30%. Nhưng khi tình hình tại Iraq dần chuyển từ sự ung dung sang nỗi thất vọng - và những hình ảnh tàn phá đổ nát, cảnh giết chóc nơi chiến trường lại một lần nữa tràn ngập trên các bản tin tối - nỗi lo sợ khủng bố lại trở lại, nâng tỉ lệ lên 45% vào tháng 8 năm 2006.
Năm 1993, Tổng thống Franklin Rooservelt luôn thích thú khi nói với người Mỹ về mối hiểm nguy lớn nhất chính là “sợ chính mình”. 70 năm sau, George W. Bush thì lại thích làm ngược lại: Nhà Trắng đã nhận được sự ủng hộ mà nó cần để tấn công Iraq bằng truyền thông, khiến nỗi sợ hãi khủng bố trong dân chúng và chính giới cũng như kết nối thành công sự hãi hùng đó với Iraq.
Iraq chỉ là một mục tiêu mà chính quyền Mỹ đã đạt được thông qua chiến dịch vận động đó. Mãi đến khi vụ 11/09 xảy ra, bản thân Tổng thống Bush đã mất đa số phiếu ủng hộ - và một tỉ lệ ủng hộ thấp. Cuối cùng, ông ta lại trở thành một người hùng. Bất kì Tổng thống nào sẽ nhận thấy sự ủng hộ của ông ấy tăng lên khi mà một cuộc chiến tranh thế giới lâu dài, Tổng thống được biến thành người kháng cự lại Churchill. Và với hình ảnh này, thay vì mờ nhạt đi, nó trở nên bất diệt. “Đất nước đang ở trong chiến tranh” Tổng thống thật sự đã muốn nói như vậy và điều nhắc nhở rõ ràng nhất của điều này chính là những thông báo đều đặn của những cảnh báo khủng bố mới. Có lẽ cũng không ngạc nhiên, một bảng phân tích thống kê của Robb Willer - một sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Cornell đã thấy một “mối quan hệ bền vững, tích cực” giữa những cảnh báo khủng bố và tỉ lệ ủng hộ Tổng thống. Một bản nghiên cứu vào năm 2004 của chín nhà tâm lý học cũng cho thấy tín hiệu nhắc nhở về sự chết chóc hay sự kiện 11 tháng 09 làm tăng sự ủng hộ của cử tri cho Tổng thống.
Các đặc vụ, gián điệp chính trị hiểu rõ điều đó. Ngay cả sau cuộc chiến Iraq rất lâu, Bush vẫn nhận được sự ủng hộ cao nhất của quần chúng vào cuộc chiến chống khủng bố. Điều đó cũng đúng với các Đảng viên đảng Cộng hoà. Khi nguy hiểm đang hiện diện, người Mỹ muốn một nhân vật cứng rắn chịu trách nhiệm và vì thế, đảng Cộng hòa đã làm việc hết sức để đảm bảo mọi người Mỹ cảm nhận được sự đe dọa đó. Vào năm 2002, trong cuộc bầu cử quốc hội, ngay cả một Đảng viên Cộng hòa bình thường cũng tiếp tục chủ đề khủng bố, chiến tranh, nguy hiểm, an ninh trong khi đảng Dân chủ tập trung vào những yếu kém kinh tế và các vấn đề quốc nội. Đảng Dân chủ đã thua.
Đảng Cộng hòa theo đuổi chủ đề này vào năm 2004 và năm 2006. Nếu có bất kì một sự thay đổi nào, thì chỉ là làm cho thông điệp đó mơ hồ hơn và đáng sợ hơn mà thôi. Vào chiến dịch tranh cử năm 2006, Phó Tổng thống Dick Cheney nhắc đi nhắc lại lời cảnh báo “một sự huỷ diệt tại Mỹ”. Một quảng cáo trên truyền hình của đảng Cộng hòa sử dụng hình ảnh chủ đạo là những con sói đói khát tụ tập trong rừng sâu. Một đoạn quảng bá khác thì sử dụng tiếng tích tắc của đồng hồ kéo dài cùng giọng nói từ một lãnh tụ của Al-Qaeda: “Chúng ta đã mua được bom” và vụ 11/09 thì “chẳng là gì so với những gì sắp xảy ra tới đây” - tiếp sau đó là cận cảnh của một vụ nổ bom hạt nhân. Một quảng cáo ủng hộ đảng Cộng hòa có tên “Tiến bộ cho nước Mỹ” đưa hình ảnh của những đám đông hô vang khẩu hiệu “Mỹ chết chóc!!!” và lời bình của đoạn băng này vang lên: “Những người này muốn giết chết chúng ta.” Mục tiêu của chiến dịch này là thu thập phiếu bầu nhưng kĩ thuật cơ bản thì lại không khác gì các tập đoàn muốn bán những sản phẩm báo động hay các loại thuốc chống cholesterol: Làm mọi người hoảng sợ, rồi sau đó cung cấp dịch vụ bảo vệ họ.
Những người thuộc đảng Dân chủ trở nên bối rối. Cứ cho mối nguy cơ không quá nghiêm trọng như vậy, và đảng Cộng hòa không làm gì cả và vì thế không khởi động một chương trình bảo vệ đất nước đúng lúc, thích hợp để ngăn chặn nguy cơ chết người. Cứ cho là khủng bố là nguy hiểm và bầu cử sẽ quyết định chủ đề tranh luận của đối thủ (Đảng Cộng hoà). Chỉ còn một lựa chọn: Kêu gào về mối nguy hiểm của khủng bố và buộc tội đảng Cộng hòa không làm gì để bảo vệ người Mỹ.
Mối nguy hiểm do khủng bố mang tới đã không mang lại chiến thắng trong các cuộc bầu cử năm 2006 cho đảng Cộng hòa như nó đã từng diễn ra trong hai vòng bầu cử trước. Nguyên nhân một phần đáng kể nhất là phản ứng chậm chạp của chính phủ đối với cơn bão Katrina. Tình hình lộn xộn tại Iraq - chiến trường trung tâm của cuộc chiến chống khủng bố - không được giải quyết dứt điểm – cũng khiến sự nghi ngờ khả năng giải quyết các vấn đề an ninh của Đảng Cộng hoà. Nhưng một điểm mấu chốt nữa là, việc vận động tranh cử dựa trên nỗi sợ hãi sau khi nó đã kiểm soát cả Nhà Trắng lẫn Quốc Hội trong thời gian quá lâu là rất khó. Nếu người Mỹ đang ở trong sự nguy hiểm tồi tệ như vậy, thì điều đó có nghĩa là đảng Cộng hòa đã thất bại trong việc truyền tải thông điệp về an ninh? Câu hỏi ngượng ngùng này giải thích chủ đề tranh cử gây ngượng ngùng không kém vào các cuộc bầu cử năm 2006 của đảng Cộng hòa mang tên “An toàn hơn nhưng vẫn không an toàn”. Thật là một tình huống tế nhị và họ đã sẩy chân.
Một số Đảng viên Cộng hòa khác có thể quay trở lại buộc tội phía đối lập. Các Đảng viên Dân chủ “không hiểu bản chất đầy đủ và phạm vi của chiến tranh khủng bố chống lại chúng ta,” Rudy Giuliani tuyên bố vào tháng 04 năm 2007. Là Thị trưởng được ca ngợi của thành phố New York vào thời điểm khi xảy ra vụ 11 tháng 09, Giuliani có dáng dấp của một lãnh đạo cứng rắn, người có khả năng xóa tan một cơn bão. Vì thế, khi tìm kiếm cơ hội ứng cử vào đảng Cộng hòa cho cuộc bầu cử năm 2008, ông đã cố thuyết phục người Mỹ rằng, họ thực sự đang ở trung tâm của một cơn bão. Cuộc chiến chống khủng bố chính là “cuộc xung đột trong thời đại của chúng ta”, Giuliani tuyên bố, trong khi cảnh báo rằng bất kì một Đảng viên Dân chủ nào bước vào Nhà Trắng năm 2008, thì nước Mỹ sẽ chịu “thêm nhiều mất mát”. Các Đảng viên đảng Dân chủ đã rất tức giận. Thượng nghĩ sĩ Hillary Clinton nói: “Chính quyền hiện tại đã chẳng làm được gì nhiều để bảo vệ các hải cảng, các tuyến đường và các thành phố của chúng ta. Chúng đã cô lập chúng ta trên thế giới và khiến Al-Qaeda tập hợp nhau lại.” Giuliani đã đáp trả lại trong một cuộc phỏng vấn trên Đài Phát thanh: “Họ dường như không biết rằng bọn khủng bố quốc tế là những nhóm thực sự nguy hiểm, muốn tới đây và giết chúng ta.”
Và vì thế, hơn một nửa thập kỉ sau khi bốn chiếc máy bay bị không tặc, thông điệp cơ bản - thậm chí là một vài dòng tương tự nhau - lặp đi lặp lại trong chính giới Mỹ. Một phía nói, bọn khủng bố muốn giết chúng ta. Một tiếng nói khác đáp lại, đúng thế, và nguy cơ về việc này rất cao, nhưng đừng bỏ phiếu cho họ bởi vì họ không đủ sức bảo vệ bạn. Với tất cả những lời buộc tội và lập luận trên các diễn đàn chính trị như thế này, thể chế chính trị cơ bản ủng hộ quan điểm cho rằng, khủng bố là mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với mỗi người Mỹ.
Dĩ nhiên, không phải chỉ các chính trị gia mới là những người mắc sai lầm. Các cơ quan chính phủ luôn hiểu rằng, cách hiệu quả nhất để bảo vệ họ là đổ lỗi cho sự tăng lên của những mối hiểm nguy. Rất ít người chỉ trích cơ quan chính phủ đưa ra lời cảnh báo cao khi mà nguy cơ đó có thể không xảy ra. Nguy cơ càng nhạy cảm về mặt chính trị bao nhiêu thì điều đó càng thực tế bấy nhiêu, và tại Mỹ, không có điều gì nhạy cảm đối với nền chính trị nói chung bằng Chủ nghĩa khủng bố. Điều này giải thích những tuyên bố như của Porter Goss – Giám đốc CIA: “Chỉ là vấn đề thời gian trước khi Al-Qaeda hay một vài nhóm nào khác sẽ thử dùng vũ khí sinh học, hóa học, hay hạt nhân nhằm vào chúng ta.” Điều này thật là đáng sợ nhưng cũng vô nghĩa lý. Tất cả những thứ tồi tệ có thể xảy ra. Đó không phải là một thông tin có thật, đó là một khoản bảo hiểm. Trong trường hợp điều này xảy ra, người ta có thể có bằng chứng rằng, CIA đã rất nhanh nhạy, và nếu nó chẳng bao giờ xảy ra thì nó sẽ chìm vào quên lãng. Khả năng một người Mỹ bình thường phán xét về tuyên bố của Goss là CIA đã có những lý do chắc chắn để tin rằng, điều khủng khiếp sẽ xảy ra này chỉ là tình cờ.
Giám đốc FBI, ngài Robert Mueler còn cẩn trọng hơn với một phát biểu ngớ ngẩn. Khi ông ta bị điều trần trước một uỷ ban quốc hội vào tháng 02 năm 2005, Mueller đã không hề nhấn mạnh sự vắng mặt của các cuộc tấn công khủng bố, việc không tìm thấy hoạt động của các nhóm khủng bố hay Al-Qaeda trong nước Mỹ, hay đưa ra gợi ý rằng có lẽ Al-Qaeda chỉ đơn giản là không có đủ sức mạnh để tấn công nước Mỹ. Thay vào đó, ông ta lo lắng: “Tôi cảm thấy rất lo ngại về những gì mà chúng ta không nhìn thấy được.” Là một chuyên gia nghiên cứu khoa học chính trị, John Mueller chua chát nhận xét trong cuốn sách của ông có tên là Overblown (Quá mức): “Đối với một giám đốc cơ quan an ninh quan liêu, không hề có bằng chứng rõ ràng chính là bằng chứng của sự tồn tại.”
Các cơ quan chính phủ khác cũng có những lý do thích hợp để thổi phồng chủ nghĩa khủng bố. Một số cơ quan làm vậy để bảo toàn ngân sách của mình. Nhận thấy sứ mệnh của mình không còn được chú ý trong những ưu tiên của chính quyền, một cơ quan dược phẩm của Chính phủ đã tổ chức một cuộc triển lãm giải thích bằng cách nào lợi nhuận từ buôn bán thuốc trái phép hỗ trợ cho bọn khủng bố, trong khi Cơ quan Quản lý Dược phẩm Quốc gia tiêu tốn hàng triệu đô la vào một chiến dịch vận động ước tính chi phí tốn gấp hơn 10 lần chi phí chống khủng bố.
Timothy Lynch của Viện Cato(3) tại thủ đô Washington nói: “Sau 11 tháng 09 các cơ quan chuyên vận động hành lang và những chính trị gia nhanh chóng nhận ra rằng, cách tốt nhất để đảm bảo sự thông qua một dự luật như dự luật tiêu dùng là gói những ý tưởng này với một biện pháp “an ninh quốc gia” ngay cả khi việc chi tiêu này chẳng liên quan gì tới quốc phòng cả.” Lynch chỉ ra một vài ví dụ rất thú vị chứng minh cho luận điểm trên của mình: 250.000 đô la trang bị máy điều hòa cho hệ thống xe tải chở rác ở Newark, New Jersey; 557.000 đô la cho các thiết bị truyền thông tại thành phố North Pole, Alaska; 900.000 đô la cho các chuyến phà hoạt động ngoài vùng Martha’s Vineyard – nơi mà chính Giám đốc cảng đó thừa nhận: “Tôi không biết chúng tôi sắp làm gì, nhưng bạn đừng từ chối số tiền tài trợ đó.” Ở khắp các thành phố và các bến cảng của nước Mỹ, các quan chức nhìn thấy tiền của liên bang chảy xuống và bị thuyết phục rằng, một cuộc tấn công khủng bố là một khả năng thật sự và họ sẽ trở nên vô trách nhiệm nếu không nhận khoản tiền đó.
Các thiết bị an ninh luôn là một mối quan tâm và một ngành kinh doanh lớn, nhưng sau 11 tháng 09 nó trở thành ngành kinh doanh của tương lai. Theo một tổ chức tình báo tại Washington, số các công ty đã vận động hành lang các quan chức Bộ Nội vụ (Homeland Security) từ khoảng 15 công ty năm 2001 lên tới 861 năm 2004. Các công ty sản xuất thiết bị cho cảnh sát chẳng hứng thú khi thấy tình hình tội phạm không tăng, vì nếu vậy, họ sẽ chẳng có lý do để tăng cường hoạt động kinh doanh. Và với một phát ngôn viên trong đội ngũ của John Ashcroft - Chưởng lý đầu tiên của chính quyền Bush, người sau khi rời nhiệm sở, thành lập một công ty vận động hành lang chuyên về các vấn đề đối nội và những công ty này không mấy khó khăn biến quan điểm của họ được nhiều người biết đến.
Những uỷ viên công tố đầy tham vọng khác cũng khám phá ra rằng, nói về chủ nghĩa khủng bố là một cách tuyệt vời để gây chú ý. Luật sư Rosynn Mauskopf phát biểu vào tháng 06 năm 2007 trong một cuộc họp báo tại sân bay John Kennedy của New York rằng: “Một trong những kịch bản khiến người ta phải rùng mình nhất là hoàn toàn có thể tưởng tượng được. Thảm họa ấy không thể khủng khiếp hơn.” Những lời phát biểu này đặc biệt mạnh mẽ ở tại một thành phố đã trải qua vụ 11 tháng 09. Bốn người đàn ông bị buộc tội về việc làm nổ tung các thùng chứa nhiên liệu của máy bay tại sân bay, điều mà người ta tin rằng sẽ phá huỷ cả sân bay John Kennedy, và rõ ràng là, làm suy yếu nền kinh tế Mỹ. Họ không có tiền hay thuốc nổ và liên hệ với nhóm, tổ chức nào. Họ cũng không có kế hoạch, chỉ là một vài phác thảo mơ hồ của một kế hoạch được xây dựng trên sự ngu dốt và hão huyền. Người phát ngôn của công ty cung cấp hệ thống nhiên liệu cho sân bay John Kennedy phát biểu trên tờ Time ngay sau khi lời buộc tội được đưa ra: “Họ thật ngu ngốc! Làm nổ một thùng nhiên liệu là cực kì khó ông nói, và thậm chí là nếu điều này được thực hiện và vụ nổ cũng không thể lan sang các thùng nhiên liệu khác thông qua các ống dẫn như những kẻ chủ mưu kết luận. Vì vậy, ngay cả khi mọi việc diễn ra đúng kế hoạch như họ hình dung, thì nó cũng chỉ là một vụ việc khiêm tốn. Mặc dù, sự miêu tả của Mauskopt về vụ tấn công này như “một sự tổn hại, sự chết chóc và sự phá hoại không đo đếm được” đã được loan tin trên toàn thế giới.
Các tổ chức phi chính phủ cũng cảm thấy chủ nghĩa khủng bố có thể được sử dụng để mở rộng ảnh hưởng của họ. Tổ chức Greenpace (Hòa bình xanh) và các tổ chức chống sử dụng năng lượng hạt nhân khác biến chủ nghĩa khủng bố thành một chủ đề trung tâm, cảnh báo rằng bọn khủng bố có thể tấn công vào các cơ sở hạt nhân và việc xây dựng những nhà máy mới sẽ làm tăng nguy cơ nguyên liệu hạt nhân bị sử dụng vào những mục đích bất chính. Viện Quan sát Thế giới(4) cũng tiến hành một chiến dịch tương tự nhằm chống lại sự công nghiệp hóa nông nghiệp bằng lập luận rằng, sản xuất thực phẩm tập trung có thể giúp bọn khủng bố thâm nhập và gieo rắc những vụ chết chóc hàng loạt. (“Nguy cơ khủng bố sinh học trong thị trấn của bạn” là một trong những thông cáo báo chí nhắc tới điều này). Viện trợ nước ngoài cho châu Phi, biến đổi khí hậu, cái gì cũng kết nối với chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là một cuộc khủng hoảng ghê ghớm che lấp hết các mối quan tâm khác.
Và rồi xuất hiện một “ngành công nghiệp chủ nghĩa khủng bố” như John Mueller đã gọi nó. Sau 11 tháng 09, trách nhiệm của các chuyên gia chống khủng bố và các nhà phân tích lên cao và rất hợp thời với những lời tuyên đoán. Brian Micheal Jenkins một trong những chuyên gia chống khủng bố toàn cầu đầu tiên đã viết: “Một vài trong số rất nhiều cuốn sách viết về khủng bố từ vụ 11 tháng 09 là những lời công kích kịch liệt của những cuộc bút chiến ầm ĩ và sự kinh doanh nỗi sợ hãi”.
Richard Clarke, quan chức hàng đầu chống khủng bố thời Bill Clinton và G. W. Bush, đã dành nhiều thời gian của mình sau khi rời Nhà Trắng để viết lên những câu chuyện khủng khiếp về sự dã man của khủng bố. Vài chuyện còn rùng rợn hơn cả tiểu thuyết của Tom Clancy(5), trong khi một số khác lại chứa đựng những phân tích thực tế hơn. Thật khó để kể một câu chuyện có thật từ một chuyện không có thật. Tháng 1 năm 2005, Clarke có bài xã luận trên tạp chí The Atlantic Monthly, trong đó vẽ ra “làn sóng thứ hai” do Al-Qaeda thực hiện sẽ bắt đầu vào năm 2005, khởi động cho một chuỗi các sự kiện gây ra cái chết cho hàng ngàn người, những người Mỹ theo đạo Hồi sẽ bị đưa đến các nhà tù, đảo chính ở Arập Saudi, nền kinh tế thế giới trì trệ và Mỹ phải ban bố tình trạng khẩn cấp.
Kịch bản này – như các kịch bản tương tự khác - được vẽ ra để thoả mãn nhu cầu của công chúng, nhưng có rất nhiều kịch bản được đưa vào trong các tài liệu của chính phủ. Cú sốc 11 tháng 09 đã khiến các quan chức sẵn sàng tưởng tượng ra những điều không tưởng, một khuynh hướng được ủng hộ khi mà Ủy ban phụ trách vụ 11 tháng 09 kết luận rằng, thất bại lớn nhất của chính phủ đối với các cuộc tấn công này là “thiếu óc tưởng tượng”. Từ các nhà học giả đến các tác giả chuyên viết chuyện trinh thám, “những nhà dự báo tương lai" (futurists), đến các nhà biên kịch tại Hollywood đã được mời tới Washington và được hỏi về cách mà mọi việc trở nên tồi tệ như thế nào. Những bài tập này dường như không đem lại những kịch bản khủng bố điển hình như “có bom trong hòm thư: hai người đã chết”. Trong trí tưởng tượng, chủ nghĩa khủng bố luôn có kết cục thê thảm.
Đặt ra các tình huống “nếu” cho phép các quan chức chỉ ra được sự dễ tổn thương và xem xét các phản ứng, khiến nó trở thành một bài tập hữu ích. Nhưng nó không dừng lại ở đó. Brian Micheal Jenkins viết “Những kịch bản này luôn được chuyển thành những nguy cơ thật sự. Những gì bắt đầu như là sự có thể giả tưởng lại biến thành thành một kịch bản hoàn toàn có thể xảy ra, sau đó ko hiểu sao lại trở thành điều không thể tránh được, và, cuối cùng là sắp xảy ra tới nơi rồi.” Đối với các nhà tâm lý học, đây được gọi là sự kì vọng. Giống như tất cả mọi người, phần vô thức trong họ cũng hoạt động bình thường và sử dụng Quy luật Điển hình để phân tích khả năng có thể của những kịch bản cụ thể - sử dụng sự hợp lý của một vài yếu tố trong kịch bản đó để phán xét các tổng thể của cả kịch bản. Daniel Kahneman và Amos Tversky đã từng viết hơn 30 năm trước: “Hiệu ứng này góp phần vào việc thông qua những kịch bản không có thực mà chúng thường mang lại.” Daniel Kahneman và Amos Tversky cho biết thêm: “Một phân tích chính trị có thể cải thiện bằng cách thêm vào những nguyên nhân hợp lý và những kết quả điển hình vào các kịch bản.”
Các chuyên gia an ninh Peter Zimmerman và Jeffrey Lewis mở đầu một bài báo: “Tám năm (trước vụ 11 tháng 09), những nhà tài trợ cho Osama Bin Laden gặp Sala Abdel Al-Mobruk, một quan chức quân sự và là một cựu bộ trưởng chính phủ, trao đổi với nhau để bán vũ khí - (uranium) cho bọn khủng bố với giá 1,5 triệu đô la.
“Ông ta đã đề nghị tặng một xylanh. Các đại diện của phía Al-Qaeda đồng ý với vụ mua bán này, bởi vì sau cùng thì, như là một trong số chúng nói: “Thật dễ dàng để giết nhiều người hơn với chất uranium”. Xylanh sẽ phát huy tác dụng. Nhưng nếu tổ chức này có được nguồn uranium đã làm giàu rồi, và nếu đội quân của Bin Laden có thể sử dụng được những thiết bị này để triển khai, và sau đó vận chuyển và phát tán một quả bom nguyên tử, lịch sử sẽ khác. Vụ 11 tháng 09 sẽ được nhớ tới như là một ngày hàng trăm ngàn người thiệt mạng.”
Có rất nhiều mắt xích trong sự việc này. Đầu tiên, kịch bản thành công nếu quan chức người Sudan kia có uranium làm giàu (bằng cách nào đó). Anh ta có thể không có bởi vì thật không dễ để cho ai đó xem uranium đã được làm giàu. Sau đó Al-Qaeda có thể phải vận chuyển số lượng uranium đó đến một cơ sở và bắt đầu thiết kế một quả bom trước khi di chuyển nó tới gần mục tiêu và phát tán. Quả bom có thể nổ mà cũng có thể không nổ. Và chúng phải hoàn thiện cả quy trình này không chút sai sót. Nếu mỗi bước này thất bại – và trong nhiều trường hợp, rủi ro bao giờ cũng cao hơn thành công - điều đó sẽ khiến cho kết quả cuối cùng rất khó thành hiện thực.
Thật không may, đó không phải là cách mà Cái Bụng phản ứng lại với câu chuyện của Zimmerman và Lewis. Nếu Bin Laden có bom hạt nhân, liệu hắn ta có thử ném bom thành phố New York không? Vâng, có chứ. Điều này quá hợp lý. Cái Bụng sẽ sử dụng cảm nhận này để phán xét khả năng hiện thực hóa của cả tổng thể kịch bản và kết quả nhất định là có lý - bằng trực giác rằng nguy cơ tồi tệ này có thể xảy ra hơn là những lập luận logic.
Riêng lý do này thôi, chúng ta nên nghi ngờ về câu chuyện khủng bố được nhắc tới thường xuyên. Người ta luôn cảm thấy rõ ràng là chúng sắp xảy ra. Nhưng chúng ta nên đặt câu hỏi cho những chuyên gia và những học giả uyên thâm. Một trong những chất liệu làm nên kịch bản của chủ nghĩa khủng bố chính là quy mô, những phản ứng dữ dội chống lại Hồi giáo theo sau một cuộc tấn công. Nhưng thực tế, chẳng có một hành động bạo lực nào chống lại người Hồi giáo tại Mỹ sau vụ 11 tháng 09, tình hình tương tự có tại Úc sau vụ đánh bom ở một quán bar tại Bali Indonesia hay tại Anh sau vụ đặt bom tàu điện ngầm ở London, hoặc ở Madrid tại Tây Ban Nha.
Các phương tiện truyền thông thi nhau kể thêm nhiều câu chuyện về khủng bố. Sau vụ 11/09 và vụ tấn công bằng bệnh than, chủ nghĩa khủng bố là đề tài duy nhất trong nhiều tháng, như thể là chẳng có gì xảy ra trên hành tinh này. Mặc dù, thủ phạm chính được xác định ngay lập tức và cũng chẳng có âm mưu tấn công nào sau đó. Tất nhiên, có cuộc chiến tại Afganisstan, nhưng sự chuẩn bị rất chậm và cũng chẳng phải ghê ghớm cho lắm khi tự thân cuộc xung đột tại đây dẫn tới kết cục chiến tranh. Rất ít các binh sĩ Mỹ trên chiến trường và cuộc chiến cũng qua rất nhanh. Vì thế trong một-không-khí-lúc-nào-cũng-chỉ-nói-tới-khủng-bố, làm thế nào mà các phương tiện truyền thông có thể lấp đầy các khoảng trống và thời gian? Họ quay sang suy luận. Brian Micheal Jenkins nói: “Trong một đất nước có nền công nghiệp, sự nhạy cảm là không có giới hạn.” Và rằng điều này có nghĩa là sự phỏng đoán của các phương tiện truyền thông về khả năng các cuộc tấn công khủng bố chỉ là sự tưởng tượng của các phóng viên mà thôi. Một nguồn thông tin phong phú phục vụ cho tưởng tượng của các nhà báo chính là những câu chuyện hãi hùng về virus gây các bệnh dịch nguy hiểm. Trong khi đó, chính quyền Bush lại khuyến khích họ bằng những cảnh báo mạnh mẽ về vũ khí giết người hàng loạt, và cả những suy đoán rất nghiêm trọng của việc tiêm chủng rộng rãi chống lại một loại bệnh dịch chết người đã bị khống chế từ lâu, đậu mùa.
Sự thật là đậu mùa trở thành vấn đề lớn khi có các cuộc tấn công khủng bố liên quan tới loại dao đa năng là một hiện tượng sẽ khiến các sử gia đau đầu. Loại virus này được tuyên bố trên toàn cầu là đã được loại bỏ trong năm 1980 và ngày nay nó chỉ còn tồn tại trong các cơ sở thí nghiệm an toàn của chính phủ Mỹ và Nga. Trường hợp mắc đậu mùa cuối cùng tại Mỹ được tìm thấy vào năm 1949, và thậm chí sau đó đậu màu còn trở thành một di tích của thời xa xưa. Nhưng khi các bản tin và các chương trình ti vi giờ đây lại tràn ngập những câu chuyện mô tả loại virus như là một đại dịch gần như không thể chặn đứng.
Đối mặt với những câu chuyện đáng sợ gần như bất tận và lờ đi những số liệu, người Mỹ trở nên sợ hãi đậu mùa. Các cuộc khảo sát của trường Sức khoẻ công cộng thuộc Đại học Havard được tiến hành vào tháng 11 năm 2001 cho biết rằng, khoảng hơn 1/2 người Mỹ lo lắng bọn khủng bố sẽ phát tán virus này ra bên ngoài. Khi được hỏi liệu “bạn hay người trong gia đình bạn” có thể nhiễm đậu mùa - 1/10 người Mỹ nói rằng rất có thể họ sẽ mắc căn bệnh được tuyên bố là đã bị loại bỏ trên thế giới hơn 2 thập kỉ trước. Không phải là người Mỹ cũng biết căn bệnh này đã bị loại bỏ: 3 trong số 10 người tin rằng, vẫn có những ca bệnh tại Mỹ trong vòng 5 năm vừa qua, trong khi 63% tin rằng vẫn tồn tại căn bệnh này ở đâu đó trên toàn thế giới trong suốt thời gian qua.
Sự cường điệu hóa và sự vắng mặt gần như hoàn toàn của một thái độ hoài nghi trên các phương tiện truyền thông khi xử lý các vấn đề liên quan tới đậu mùa giống như việc đưa tin về vụ 11 tháng 09. Chính quyền Bush đã quyết định bố trí những cuộc tấn công như là một cuộc chạm trán của những người khổng lồ mà kết quả cuối cùng sẽ quyết định số phận của toàn thế giới, là không thể chấp nhận được và lại được giới truyền thông lặp đi lặp lại.
Đi cùng với sự sắp đặt và sử dụng ngôn từ như thế, các phương tiện truyền thông chấp nhận cả những số liệu của chính phủ. Giờ đây, người ta biết rõ trước cuộc tấn công Iraq,n giới truyền thông bị mắc lừa một cách đáng xấu hổ về những vấn đề chính yếu như lời buộc tội Saddam có liên quan tới việc cung cấp vũ khí huỷ diệt hàng loạt cho khủng bố và có liên hệ với Al-Qaeda. Nhưng rất nhiều nhà bình luận đều tuyên bố rằng, sự xấu hổ này trở nên quá hiển nhiên và một năm sau lại được Nhà Trắng sử dụng lại một cách hiệu quả. Gary Kamiya viết trong Slate rằng: “Về rất nhiều phương diện, truyền thông rõ ràng là đã đồng ý với quan điểm của Chính phủ.”
Vào tháng 01 năm 2003, cảnh sát đã lục soát một căn hộ tại London - nơi ở của chín người Algeria. Một quan chức cảnh sát đã bị giết trong cuộc bố ráp này. Họ tuyên bố đó là một phòng thí nghiệm tạm thời cho việc sản xuất ricin - một chất cực độc - khiến cả thế giới xôn xao. Thủ tướng Anh Tony Blair, sau đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Colin Powell thậm chí còn chỉ rõ rằng, sự phát hiện này đã bổ sung thêm bằng chứng củng cố cho lập luận cuộc chiến chống Saddam tại Iraq. Nhưng hơn hai năm sau, lời buộc tội chống lại bốn người Algeri bị gỡ bỏ và thêm bốn người nữa được trắng án, chỉ có người đã bắn viên cảnh sát là bị luận tội. Vụ khởi tố thất bại, bởi vì cảnh sát chẳng hề có bằng chứng về ricin hay một phòng thí nghiệm làm ra nó - chỉ có vài công thức làm ricin được lấy từ trên Internet xuống. Khám phá này đã thay đổi mạnh mẽ bản chất của vấn đề và mức độ của mối nguy hiểm. Nó làm dấy lên câu hỏi về việc các chính phủ đã thao túng các vụ án để phục vụ cho các mục đích chính trị. Dù vậy, sự thật về vụ bố ráp đã gây được rất ít chú ý so với những tin tức ban đầu gây hiểu lầm nghiêm trọng.
Đôi khi các nhà báo không chỉ chấp nhận những tuyên bố của quan chức mà còn thổi phồng chúng lên. Vào tháng 11 năm 2006, tin nổi bật gây hoang mang xuất hiện trên CNN.com: “Giám đốc cơ quan tình báo Anh lo ngại khủng bố hạt nhân”. Một bài báo trên New York cũng có một câu chuyện tương tự nhưng cụ thể và đáng báo động hơn Bà Eliza Manningham-Buller, giám đốc MI5 cho biết, có khoảng 30 các âm mưu của bọn khủng bố có thể sử dụng các tác nhân hóa học, sinh học, các nhiên liệu phóng xạ và thậm chí là cả công nghệ hạt nhân.” Một cơ quan truyền thông của Canada trên kênh ti vi của mình đưa tin này như sau: “Một cảnh báo tàn khốc của người đứng đầu ít khi xuất hiện từ cơ quan tình báo Anh MI5. Giám đốc cơ quan tình báo Anh nói cơ quan này biết những âm mưu của bọn khủng bố chống lại Anh, không chỉ là một hai, mà là 30 âm mưu. Một vài trong số đó liên quan tới các loại vũ khí hóa học và hạt nhân”
Chẳng có tuyên bố nào trên đây gần với sự thật cả. Trong một bài phát biểu trước công chúng, bà Eliza Manningham-Buller đã phác họa ra tình hình an ninh của Anh. Bà đưa ra con số chính xác về các vụ âm mưu và sau đó nói rằng, đó là bản chất của khủng bố: “Ngày nay, chúng ta nhìn thấy việc sử dụng các vũ khí phát nổ tự chế, hiểm họa ngày mai có thể là việc sử dụng các tác nhân hóa học và vi khuẩn học, nguyên liệu phóng xạ hay thậm chí là cả công nghệ hạt nhân.” Ẩn ý trong câu nói này là, hiện tại, MI5 chỉ có những bằng chứng bọn khủng bố sử dụng các “vũ khí phát nổ tự chế”. Phần còn lại là sự phỏng đoán. Nhưng các phương tiện thông tin đại chúng lấy một tuyên bố trống rỗng biến nó thành một mối nguy hiểm sắp xảy ra.
Những lập luận phản bác trên các phương tiện truyền thông về khủng bố gần như thất bại hoàn toàn. Xem xét những nguyên nhân cơ bản như tại sao lại không có các trận tấn công của Al-Qaeda vào Mỹ trong thời gian sau 11 tháng 09. Ít nhất, có ba phương án trả lời. Một, các biện pháp an ninh được thắt chặt và luật lệ được tăng cường đã cản trở Al-Qaeda. Hai, Al-Qaeda không lựa chọn những lý do như Bin Laden để tấn công Mỹ. Ba, Al-Qaeda muốn nhưng thiếu thực lực để có thể xâm nhập sâu vào trong nước Mỹ. Câu trả lời đầu tiên luôn được nhắc tới trên các phương tiện truyền thông. Câu trả lời số hai ít hơn nhiều. Và câu trả lời số ba hầu như chẳng bao giờ được đề cập tới, dù là với xác suất nhỏ nhất. Roger Cohen – phóng viên của International Herald Tribune(6) đã viết trên New York Times: “Nước Mỹ đã thoát khỏi vụ tấn công đó trong sáu năm bởi vì nước Mỹ khó mà tấn công được, không phải bởi vì giờ đây rất khó để tấn công nước Mỹ. Trong suy nghĩ của Cohen đơn giản chỉ là Không Có Cửa Thứ Ba.
Rõ ràng là chính phủ đã nhận được sự nghi ngờ chỉ trích từ phía báo giới nhưng thời gian trôi qua, những người nghi ngờ này nhận ra rằng, thật hợp lý để mối lo về khủng bố ngày càng lớn và tăng cao. Cuối cùng, Tổng thống là một người của Đảng Cộng hoà, và Quốc hội thì, vào cuối năm 2006 vẫn là đảng Cộng hòa chiếm đa số. Đảng viên đảng Cộng hòa đã tiến hành cuộc chiến tranh tại Iraq mà họ tuyên bố rằng, đó chính là chìa khóa để đánh bại chủ nghĩa khủng bố. Vì thế, nếu chủ nghĩa khủng bố là một mối đe dọa ngày càng tăng, thì đó là lỗi của Đảng Cộng hoà. Maureen Dowd - một biên tập viên phụ trách một chuyên mục chính trên tờ New York Times vào tháng 07 năm 2007 đã nói: “Chúng ta ngày càng nhạy cảm với bọn khủng bố hơn bao giờ hết.” Cuối cùng thông điệp của Tổng thống là “chết hay sống sót”, “chúng ta có thể là những người cuối cùng chết.”
Đồng nghiệp của Dowd tại New York Times, Frank Rich, cảnh báo vào tháng 02 năm 2007 rằng, tình huống trở nên nghiêm trọng đến nỗi các chuyên gia bắt đầu đưa ra những cá cược tuyệt vọng với công chúng: hãy kêu gọi sự chú ý của Nhà Trắng. Rich viết: “Micheal Scheuer, giám đốc cũ của CIA phụ trách nghiên cứu về Bin Laden, nói với Keith Olbemann tuần trước rằng, quân Taliban và Al-Qaeda đang tập hợp nhau lại tại Afganistan và Pakistan, "chuẩn bị phát tán vũ khí hạt nhân bên trong nước Mỹ”. Micheal Scheuer là tác giả của nhiều cuốn sách gây xôn xao dư luận và là một nhà bình luận sắc sảo đã tham gia chương trình truyền hình đó. Tuyên bố của ông là một lời bình luận thành công được đặt ở cuối của buổi phỏng vấn, “Chúng ta đang đối xử với kẻ thù Hồi giáo của chúng ta nhẹ hơn nhiều so với việc chúng ta cần phải,” Scheuer đã nói: “Chúng ta nghĩ rằng sẽ bắt được chúng, từng người một. Những người này sắp sửa phát tán loại vũ khí hạt nhân bên trong nước Mỹ, và chúng ta lại chẳng có gì để chống lại việc đó. Sẽ là một tình huống độc nhất vô nhị cho một siêu cường, và chúng ta chẳng thể trách móc ai ngoài trách chính bản thân mình.” Người dẫn chương trình cảm ơn Scheuer và kết thúc bài phỏng vấn ở đó. Scheuer không đưa ra một bằng chứng nào để ủng hộ cho lời nhận xét ngắn gọn của ông, và Rich lại lấy lời bình luận đó như là một bằng chứng đáng tin cậy của một thảm họa khủng khiếp - chẳng chút sự thật nào ngoài việc Scheuer đã từng làm việc cho CIA để củng cố cho lập luận của mình. Trớ trêu ở chỗ, vào năm 2002 và 2003, khi chính quyền đang giải quyết vụ Saddam Hussein có vũ khí huỷ diệt hàng loạt khiến Mỹ vô cùng lo lắng - với các bằng chứng do CIA cung cấp – Frank Rich đã kiểm chứng bằng chứng này, thấy rằng nó rất là ngây ngô, và lên án kịch liệt những gì anh cảm thấy là một "nỗ lực tàn nhẫn" dọa nạt công chúng để ủng hộ cho việc đưa quân vào Iraq. Nhưng vào năm 2007, chính giới đã thay đổi, và vì thế tiêu chuẩn của Rich về những vấn đề này cũng thay đổi, đó là những bằng chứng đáng tin cậy.
Tuy vậy, những yếu tố này dù quan trọng, chúng chỉ nằm trên bề mặt. Ở dưới, chuyển động giống như là những tầng địa lý, rằng chúng ta sẽ thấy lực lượng thực sự thúc đẩy sự thổi phồng của truyền thông.
Mọi người sợ hãi. Nhận thức của họ nói với họ rằng cần sợ hãi, chính quyền Bush nói họ cần sợ hãi, nên sợ hãi, họ muốn biết nhiều hơn. Các nhà báo, biên tập viên, và những nhà sản xuất chia sẻ cảm giác này. Sau tất cả, họ cộng đồng lắng nghe những tuyên ngôn của Tổng thống, và xử lý nó với những nhận thức giống nhau, với sự nhất trí cao độ rằng, chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa nguy hiểm và ngày càng tăng cao.
Với niềm tin đó, thái độ thiên kiến khẳng định càng ngấm sâu. Thông tin trái chiều với những gì mọi người tin tưởng - số liệu các vụ tấn công, những con số thương vong, những bảng so sánh rủi ro, và sự thất bại của nhóm Aum(7) tại Nhật Bản, những âm mưu khủng khiếp chẳng bao giờ thành hiện thực - nhận được rất ít sự quan tâm. Nhưng họ (các nhà báo) bám chặt lấy bất kì cái gì khiến họ khẳng định thêm những gì mọi người tin là sự thật và đưa nó lên cỗ máy truyền thông.
Chắc hẳn, điều này làm vững chắc thêm quan niệm của dân chúng về chủ nghĩa khủng bố. Đối với giới truyền thông, những cuộc tấn công thực sự và những âm mưu - ở bất kì một quy mô hay mức độ phức tạp nào - chứng minh rằng, chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa chết chóc và ngày càng tăng cao. Ngay khi không có những cuộc khủng bố và những âm mưu. Ngay cả những cuộc tấn công tưởng tượng còn gợi ra điều đó. Điều không bao giờ được xem xét ở đây chính là xác suất chủ nghĩa khủng bố không phải là mối đe dọa chết người.
Các chính trị gia và công chúng mắc kẹt trong sự thiên kiến dần tạo ra một niềm tin vững chắc, củng cố nỗi sợ hãi. Các phương tiện truyền thông giải trí cũng góp phần. Chẳng có đề tài nào về mối đe dọa cho phim ảnh thích hợp hơn là chủ nghĩa khủng bố, và vì lý do này đã trở thành đề tài của tiểu thuyết, phim, và các chương trình ti vi trong hàng thế kỉ. Sau vụ ngày 11 tháng 09, với nỗi sợ hãi về chủ nghĩa khủng bố tăng cao, hình ảnh của các nhân viên chính phủ cố gắng đấu tranh mạnh mẽ để ngăn chặn một kẻ âm mưu đang giận dữ tấn công Los Angeles bằng vũ khí hạt nhân – đáng chú ý nhất trong các chương trình truyền hình trên kênh 24 - trở thành một chương trình truyền hình thu hút nhiều khán giả.
Khía cạnh đáng lo ngại nhất của những chương trình giải trí này là sự mập mờ ngày càng tăng giữa những tác phẩm hư cấu và sự thật. “Năm năm sau, 11 tháng 09 trở nên khô héo trong tâm trí người Mỹ” – là câu mở đầu cho một đoạn quảng cáo cho loạt chương trình Showtime(8) mang tên Sleeper cell: American Terror (Phòng ngủ: Nỗi kinh hoàng của người Mỹ). Người phát ngôn chính là Tổng thống Mỹ Bush đang truyền tải thông điệp kỉ niệm sự kiện ngày 11 tháng 09. Ông nói: “Ngày hôm nay chúng ta an toàn hơn, nhưng chúng ta vẫn không hoàn toàn an toàn.” Cảnh những lá cờ, những thành phố xuất hiện và tối đen. Sau đó là đến hình ảnh khói bụi mù mịt và âm thanh - một người đàn ông bắn súng, một ai đó bị tra tấn, người khác thì đang thì thầm gấp gáp. “Một vụ tấn công hạt nhân…” và cuối cùng là một hình ảnh cảnh báo hiện lên “Cuộc tấn công tiếp theo có thể ở bất kì nơi nào.”
Mọi thứ chúng ta biết về nguy cơ đều cho thấy, đống hổ lốn này độc hại cho cả Cái Đầu lẫn Cái Bụng. Đối với Cái Đầu, đây thực sự là những thông tin sai lệch. Một trung tâm ngăn ngừa bệnh dịch cảm thấy cần phải đưa ra một bảng phân tích giải thích rằng, đậu mùa không phải giống như giới truyền thông nói, là không thể khống chế, hay như nó được mô tả trên các chương trình ti vi. Đối với Cái Bụng, hình ảnh bạo lực và cảm xúc tiềm ẩn thúc đẩy những phán xét trực giác. Như chúng ta đã thấy, quan niệm của mọi người về thay đổi khí hậu được thúc đẩy một cách đáng kể khi xem The Day After Tommorrow. Nếu một bộ phim không hợp lý về một nguy cơ có thể làm thay đổi quan niệm của mọi người như vậy, thì những bộ phim hành động tiết tấu nhanh về một mối nguy hiểm đầy xúc cảm và bản năng như những bộ phim về khủng bố còn làm được nhiều hơn rất nhiều.
Những chuyện này có ý nghĩa gì với mỗi người dân Mỹ? Bắt đầu bằng một cảm giác mạnh mẽ rằng, chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa lớn vì đó chính là điều mà Cái Bụng rút ra từ những kí ức và cảm xúc sau vụ ngày 11 tháng 09. Cảm giác này được chính quyền cũng như tất cả các cơ quan trong bộ máy chính trị khẳng định nhiều lần. Nó còn được củng cố liên tục hàng ngày thông qua các cơ quan chính phủ, cảnh sát, các chuyên gia an ninh, các công ty bảo vệ, các tổ chức phi chính phủ, báo giới, các học giả uyên bác và ngành giải trí. Và xung quanh họ còn có những người khác với những kí ức và cảm xúc tương tự, cũng tiếp nhận những thông tin tương tự từ chính quyền, báo chí và cũng nhất trí rằng, mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố là rất lớn. Với một sự đồng thuận lớn như vậy thì đi theo số đông là lẽ đương nhiên, nhất là khi, chúng ta có xu hướng đi theo quan điểm của số đông khi vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn.
Tin tưởng sâu sắc vào mối đe dọa to lớn từ chủ nghĩa khủng bố, bất kì người Mỹ nào cũng sẽ có thành kiến, nắm lấy bất kì thông tin nào mà mình biết để củng cố niềm tin của mình trong khi lại lờ đi hoặc bỏ qua những thông tin không củng cố cho niềm tin đó. Từ đó, người ta sẽ chọn lọc thông tin qua một tấm màng lọc đầy thành kiến - những thông tin cũng đã được báo chí và các chủ thể khác sàng lọc theo cách tương tự. Và kết quả là một sự thật bị bẻ cong bởi thành kiến.
Vậy thì hoàn toàn có thể hiểu được sự sợ hãi chủ nghĩa khủng bố của người Mỹ thật ra đã tăng lên trong suốt bốn năm qua dù không hề có một cuộc tấn công khủng bố nào, hay gần như một nửa số người Mỹ lo lắng rằng họ và gia đình của mình có thể bị những kẻ khủng bố sát hại. Thật khó tưởng tượng có một loạt nhân tố nào mạnh hơn đang tác động lên những cái đầu vô thức. Và không nên xem thường ảnh hưởng của trực giác lên những nhận định có ý thức của chúng ta, cả khi có nhiều người phải mất cả đời để phân tích hợp lý những thông tin liên quan. Vào tháng 07 năm 2007, Giám đốc Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ(9) Michael Chertoff nói với tờ Chicago Tribune rằng, ông ta có “cảm giác rằng chúng ta đang ở trong một giai đoạn nguy hiểm”. George Tenet, cựu giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cũng dùng những câu tương tự trong cuốn hồi kí năm 2007 của mình “Tôi không biết tại sao các vụ tấn công lại không xảy ra” trong những năm sau vụ 11 tháng 09. “Nhưng tôi biết một điều nằm trong trực giác của mình: Al-Qaeda đang ở đây và chờ đợi”.
Và đó chính là điều mà những kẻ khủng bố muốn George Tenet và những người Mỹ khác phải nghĩ đến. Osama Bin Laden từng nói trong một đoạn băng vào năm 2004: “Nước Mỹ tràn đầy những nỗi sợ hãi, từ bắc đến nam, từ đông sang tây”. “Ơn Chúa!”
Brian Michael Jenkins viết: “Chủ nghĩa khủng bố là hành động bạo lực thật sự hoặc chỉ là đe dọa được tính toán nhằm tạo ra một không khí sợ hãi và chính nó lại làm cho mọi người phóng đại sức mạnh của những kẻ khủng bố và mối đe dọa mà chúng mang đến”. Bọn khủng bố không phải là kẻ thù ghê gớm. Nếu ghê gớm thì chúng đã có thể tấn công bằng những cách khác. Chính sự kém cỏi đã khiến chúng phải tàn sát những người vô tội, một cách tấn công dễ dàng với bất kì tên lính kém cỏi nào. Bản thân cuộc tàn sát đó cũng không thể gây ra những đòn chí mạng cho đối phương, nhưng nó lại gây ra nỗi sợ hãi, và nỗi sợ hãi có thể gây ra những phản ứng mà bọn khủng bố hi vọng có thể giúp chúng thúc đẩy sự nghiệp của mình.
Louise Richardson(10) cho rằng, bọn khủng bố thường có hai loại mục tiêu, một là chính trị, hai là chiến thuật và tức thời. Chúng gần như không bao giờ đạt được mục tiêu chính trị. Nhưng chúng thường cố gắng thúc đẩy các mục tiêu chiến thuật và “chính thắng lợi này đã khiến những thanh niên bất mãn tìm kiếm một cách trả thù nhanh chóng”. Những mục tiêu chiến thuật này có thể tóm tắt trong ba từ: trả thù, tiếng tăm và phản ứng.
Trả thù là mục tiêu duy nhất trong ba mục tiêu trên mà chúng có thể tự thực hiện. Đối phương làm những điều mà với chúng là không hay nên chúng đã giết chết người dân của đối phương để báo thù.
“Tiếng tăm” thường chỉ hình ảnh của bọn khủng bố trong mắt những người có khả năng sẽ ủng hộ bọn chúng. Chúng muốn được coi là một lực lượng lớn - có khả năng gây tổn thương và đánh bại đối phương. Chúng có thể làm được điều đó một phần vì đã tiến hành những vụ tấn công liều lĩnh – “tuyên truyền bằng chiến công” như những người chủ trương vô chính phủ ở thế kỉ 19 đã từng nói về chủ nghĩa khủng bố. Nhưng giờ cũng chỉ có vậy mà thôi. Những vụ tấn công này gây ra những tác hại thế nào? Bọn khủng bố mạnh đến mức nào? Liệu đối phương có bị đe dọa nghiêm trọng hay không? Bọn khủng bố không phải đi trả lời những câu hỏi này mà chính quyền và báo giới của đối phương sẽ trả lời, vì thế tiếng tăm của chúng phụ thuộc chủ yếu vào cách những người này mô tả về mối đe dọa đó.
“Phản ứng” tất nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào đối phương và kế hoạch của bọn khủng bố thường xoay quanh điều này. Mong muốn thường thấy là những cuộc tấn công khủng bố này sẽ kích động bạo lực lên quá mức cần thiết. Osama Bin Laden dường như đã đoán rằng các cuộc tấn công ngày 11 tháng 09 sẽ dẫn đến việc Mỹ phải rút lui khỏi thế giới Hồi giáo hoặc sẽ mở một cuộc xâm lược. với Bin Laden, cả hai điều này đều cần thiết. Nếu Mỹ bỏ rơi Trung Đông và các chế độ độc tài thé tục được Nhà Trắng hậu thuẫn (đây luôn là mục tiêu thù hận chính của Bin Laden) sẽ suy yếu và dễ chết. Tuy nhiên nếu Mỹ tấn công vào thế giới Hồi giáo thì điều này càng khẳng định thêm lời quả quyết của Bin Laden rằng, thế giới Hồi giáo đang bị tấn công bởi “những kẻ Do Thái và đội quân viễn chinh” và đưa những kẻ mới được tuyển mộ vào nhóm jihad(11)
Nhìn dưới góc độ này thì phản ứng của chính quyền Bush trước vụ ngày 11 tháng 09 là có thể tạm hài lòng về mặt cảm xúc nhưng hoàn toàn sai lầm. Coi những cuộc tấn công này là chiến tranh và những kẻ khủng bố trở thành chiến binh trong một tổ chức được coi như quân đội. Coi cuộc chiến – không kém gì Đại chiến Thế giới lần thứ ba – và bạn có thể hùng hồn tuyên bố với thế giới rằng Al-Qaeda mạnh đến mức có thể đánh bại được nước Mỹ. Việc khăng khăng rằng nước Mỹ không thể bị đánh bại như Bush vẫn lặp đi lặp lại trong suốt nhiệm kì Tổng thống của mình không thể xóa tan được mà chỉ củng cố vững chắc thêm hàm ý đó mà thôi.
Đây là món quà tuyệt vời nhất mà Osama Bin Laden từng nhận được. Trước khi được Bush trao tặng, hắn chỉ là một kẻ ngoài vòng pháp luật luôn phải dẫn bè lũ của mình di chuyển từ hết nước này đến nước khác trước khi tìm được nơi trú chân tại các vùng xa mạc ở Afghanistan. Hắn ta đã từng long trọng “tuyên chiến” với nước Mỹ và bị lờ đi. Hắn ta cho đánh bom các đại sứ quán Mỹ ở Tây Phi rồi tấn công một chiếc tàu của Mỹ trên bờ biển Ả Rập và có nổi lên một chút nhưng vẫn chưa có được tiếng tăm cần thiết để trở thành tiếng nói đại diện cho những người Hồi giáo cuồng tín muốn lật đổ các chính phủ và thiết lập nên một vương quốc Hồi giáo mới. Hắn đã làm được điều đó khi Bush tuyên bố coi hắn là một mối đe dọa hiện hữu đối với nước Mỹ. Richardson viết: “Địa vị được nâng lên thành kẻ thù chung số một chính là điều mà các nhóm khủng bố mong muốn”. Osama Bin Laden hiểu rõ điều này và say sưa với địa vị kẻ thù lớn của nước Mỹ. Hắn hả hê nói trong một đoạn băng năm 2004: “Chúng ta rất dễ gây kích động và làm họ mắc bẫy”. “Tất cả những gì chúng ta phải làm là cử hai chiến binh cảm tử (mujahedeen) đưa ra một mảnh vải trên đó có ghi rằng Al-Qaeda đang chuẩn bị nhanh chóng tập hợp các tướng lĩnh ở đó.”
Việc coi vụ tấn công là một cuộc chiến toàn cầu cũng giúp cho Bin Laden gây ra được hiệu ứng mà hắn mong muốn. Cuộc tấn công Afghanistan được sự ủng hộ trên toàn thế giới và nếu chính quyền Bush dừng lại ở đó thì chắc hẳn Bin Laden sẽ rất thất vọng. Nhưng một cuộc công kích khiêm tốn ở một nơi khuất nẻo như Afghanistan thì không thể giống như một cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ ba. Và vì vậy mà phải tiếp tục đánh sang Iraq, một cuộc tấn công có vẻ sẽ khẳng định thêm hình ảnh một quốc gia viễn chinh mà những người Hồi giáo thường mô tả về nước Mỹ.
Richardson kết luận: “Bằng cách tuyên chiến chống khủng bố, không phải là phủ nhận mà chúng ta lại thừa nhận những mục tiêu của chúng [Al-Qaeda], và chính vì vậy mà cuộc chiến chống khủng bố không bao giờ giành được thắng lợi”.
Brian Michael Jenkins viết: “Sợ hãi là mối nguy lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt”. Nhiều người đang thổi phồng nỗi sợ khủng bố sẽ đồng ý với điều này và hiểu rằng, nỗi sợ hãi có thể gặm mòn chúng ta và khiến chúng ta đối phó lại một cách tiêu cực. Nhưng họ lại lấy nỗi sợ hãi và những phản ứng hoảng loạn, như là chúng ta không thể kiểm soát được phản ứng của mình. Giả định này ẩn sau câu nói của Tướng Richard Myers, cựu lãnh đạo cơ quan phối hợp tham mưu trưởng, rằng một cuộc tấn công khủng bố làm chết 10.000 người sẽ “chẳng liên quan gì đến lối sống của chúng ta”. Tại sao? Số người Mỹ chết mỗi năm vì tai nạn xe cộ còn cao hơn gấp bốn lần nhưng chẳng ai lo lắng coi tai nạn xe cộ là một mối đe dọa đối với lối sống Mỹ. Không phải những kẻ khủng bố mà chính là nỗi sợ hãi sẽ huỷ diệt nước Mỹ.
Về mặt nào đó, đúng là chủ nghĩa khủng bố đã gây ra nỗi sợ hãi vô lý và chẳng thể làm được gì ngoài việc trước tiên là ngăn chặn các cuộc tấn công. Chủ nghĩa khủng bố rất mạnh mẽ, hung bạo, vô lý và có thể thảm khốc. Nó sẽ tác động vào mọi chiếc nút cảm tính (Cái Bụng). Chắc chắn là chúng ta sẽ thấy đây là mối đe dọa lớn hơn những gì mà phân tích lý trí rút ra. Nhưng con người không phải là nô lệ cho cái đầu vô thức của mình. Họ cũng có đủ tỉnh táo có thể chiến thắng hay ít nhất là có thể thay đổi cảm giác của mình. Nếu như sau vụ 11 tháng 09, Tổng thống Bush không ngừng khẳng định rằng đi lại bằng đường hàng không an toàn hơn đi đường bộ, kể cả khi có thêm nguy cơ khủng bố, và nhấn mạnh thêm bằng cách tự đi lên một chiếc máy bay chở khách thì điều này cũng sẽ không thuyết phục được mọi người bỏ qua sự hốt hoảng và trở lại sân bay. Nhưng ít ra cũng làm báo chí và truyền thông đưa ra những con số thống kê đầy đủ về tai nạn đường bộ. Có thể nhiều người đã chuyển từ đi hàng không sang đường bộ sẽ nhận ra là thật ngớ ngẩn khi làm vậy và lại chuyển sang hàng không. Lẽ ra nhiều sinh mạng đã có thể được cứu sống.
Để chống chủ nghĩa khủng bố, chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một chiến thuật tâm lý. Bọn khủng bố cần gây ra hoảng sợ. Trong cuộc chiến chống khủng bố, việc kiểm soát nỗi sợ hãi cũng cần được chú trọng giống như việc ngăn ngừa các cuộc tấn công và việc bắt giữ những kẻ chủ mưu. Như Brian Michael Jenkins đề cập, chúng ta phải “tấn công vào nỗi sợ hãi chứ không chỉ vào bọn khủng bố”.
Tấn công vào nỗi sợ hãi trước hết là tránh những tuyên bố có thể tô vẽ thổi phồng mối đe dọa này lớn hơn thực tế. Năm 2006, khi cảnh sát Đức ngăn chặn một âm mưu đánh bom hai đoàn tàu, David Frum, người từng chuẩn bị các bài diễn thuyết cho Bush, đã viết trong một chuyên mục trên báo với một câu mở đầu gây chú ý “Những hành khách đang lo lắng hãy chú ý: Đừng nghĩ rằng đi tàu là mình có thể thoát khỏi bọn khủng bố”. Câu này thực sự cho thấy khi đi máy bay hay tàu hoả thì nguy cơ bị khủng bố sát hại cũng đều cao. Nó không hề đúng nhưng lại chính là điều mà những kẻ khủng bố rất muốn chúng ta tin theo.
Tấn công vào nỗi sợ hãi cũng có nghĩa là nhìn nhận đúng về nguy cơ từ chủ nghĩa khủng bố bằng cách đưa ra những con số mà các chính khách và báo giới đã lờ đi. Cũng có nghĩa là thôi không nói về cái gọi là một cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ ba. Thật đáng sợ là Đức Quốc xã đã gần như vĩnh viễn chinh phục được thế giới văn minh, xóa sạch cả nhiều dân tộc và phát triển các loại vũ khí hạt nhân đầu tiên. Thậm chí, năm 1989, Liên bang Xô Viết còn có 6 triệu lính được trang bị đầy những xe tăng, máy bay, tàu chiến và rất nhiều vũ khí hạt nhân chiến lược có thể biến mọi thành phố lớn ở Mỹ và châu Âu thành tro bụi chỉ trong không đầy nửa giờ. Lúc mạnh nhất, Al-Qaeda cũng chỉ là một nhóm những kẻ cuồng tín với một vài loại vũ khí đơn sơ và một mạng lưới doanh trại ở vùng xa mạc Afghanistan. Giờ đây, họ cũng vẫn là một nhóm cuồng tín được vũ trang không khác trước – và họ chỉ nên được phản ánh đúng như thế.
Cũng cần có cách tiếp cận tương tự đối với các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt và các kịch bản tệ hại nhất, đặc biệt là với một cuộc tấn công khủng bố bằng vũ khí hạt nhân. Chắc chắn là chúng ta không nên bỏ qua những mối đe dọa có thể xảy ra, nhưng chúng ta cũng không nên quá mù quáng.
Tấm gương mẫu mực cho cách nói về chủ nghĩa khủng bố của một chính quyền dân chủ muốn “tấn công vào nỗi sợ hãi chứ không chỉ vào những kẻ khủng bố” thật lạ lại chính là của Tony Blair. Sau nhiều năm lặp lại giọng điệu kích động quá mức của chính quyền Bush về “cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố”, chính Blair cũng gặp phải một cuộc khủng hoảng vào sáng ngày 07 tháng 07 năm 2005, khi Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nước công nghiệp phát triển(12) do ông chủ trì đã bị gián đoạn bởi tin tức về vụ đánh bom liều chết tại bến xe điện ngầm và một chiếc xe buýt ở London làm chết 56 người. Blair đã tỏ ra vững vàng và cứng rắn. Ông nói: “Chỉ có thông qua hành động khủng bố, những kẻ gây nên tội ác khủng khiếp này mới thể hiện được giá trị của mình và chính vào lúc này, chúng ta cần thể hiện những giá trị của chúng ta. Chúng đang lấy việc sát hại những người vô tội để dọa nạt chúng ta, để chúng ta không dám làm những điều mình mong muốn hay vẫn làm công việc như mọi ngày mà chúng ta vẫn có quyền làm. Chúng ta không cho phép chúng làm được điều này”.
Louise Richardson nhận thấy: “Không những không lên giọng hùng hồn và cam kết với những ngôn từ tuyên chiến hay trả thù, Blair còn bình tĩnh nói về hiện trường xảy ra tội ác và công việc của lực lượng cảnh sát cũng như quyết tâm thầm lặng của nước Anh nhằm bảo vệ giá trị và lối sống của mình." Ken Livingstone - Thị trưởng London, cũng nói những điều tương tự vào đêm sau khi xảy ra các cuộc tấn công: “Chúng muốn người London quay lưng lại với nhau. Thành phố này sẽ không vì thế mà bị chia rẽ”. Ngày hôm sau, Livingstone khuyên: “Những ai lên kế hoạch cho cuộc tấn công chết người này, dù là đang ẩn náu quanh đây hay đang ở nước ngoài, hãy xem tuần sau chúng tôi sẽ an táng và tưởng niệm các nạn nhân, đồng thời sẽ vẫn có nhiều người đến sinh sống ở thành phố này và coi mình là những người London, họ làm vậy vì họ được tự do là chính mình”. Livingstone cũng tuyên bố là ông sẽ vẫn đi làm bằng xe điện ngầm như mọi khi. Và ông đã làm vậy.
Ngài Ken Macdonald, giám đốc cơ quan công tố của Anh đã tuyên bố trong một bài phát biểu vào tháng 01 năm 2007 rằng: “Những người vô tội bị sát hại vào ngày 07 tháng 07 năm 2005 không phải là những nạn nhân chiến tranh. Và những kẻ sát hại họ không phải là “những người lính" như chúng đã tự phụ tuyên bố trong những đoạn băng lố bịch. Chúng chỉ là những kẻ non nớt tự lừa dối và huyễn hoặc mình. Chúng là những tội phạm. Những kẻ tuỳ tiện. Chúng ta cần phải rất rõ ràng ở đây”. Macdonald cũng cảnh báo rằng, cách nhìn đó rất quan trọng vì bọn khủng bố muốn tự mô tả mình là người vĩ đại hơn thực tế và “kích động chúng ta từ bỏ những giá trị của mình. Chúng ta phải tự bảo vệ mình trước những tội ác tàn bạo này mà không phải từ bỏ truyền thống tự do của mình”.
Tất nhiên cách chúng ta nói về chủ nghĩa khủng bố chỉ là phản ứng bước đầu. Các chính phủ cũng phải hành động.
Từ năm 1995 đến năm 2001, chi tiêu chống khủng bố của chính quyền liên bang Mỹ đã tăng 60%. Từ năm 2001 (trước vụ 11 tháng 09) đến năm 2007, chi tiêu này tiếp tục tăng 150% lên mức 58,3 tỉ USD. Đây chỉ là những số liệu dành cho an ninh trong nước, chưa bao gồm những con số về hoạt động quân sự ở Afghanistan hay Iraq. Nếu Iraq nằm trong chuyên mục “chống chủ nghĩa khủng bố” – như Nhà Trắng vẫn khăng khăng nhấn mạnh – thì tổng chi phí chống khủng bố còn tăng cao lên nhiều. Ước tính tổng chi phí của cuộc chiến tranh Iraq có thể nằm trong khoảng 500 tỉ đến 2.000 tỉ USD.
Còn có những chi phí vô hình nữa. Chẳng hạn, việc kiểm tra an ninh được tăng cường sau vụ 11 tháng 09 đã làm chậm các thủ tục qua sân bay, cửa khẩu, bến bãi. Bất cứ chỗ nào có thể cản trở dòng lưu chuyển người, hàng hóa và dịch vụ cũng sẽ ảnh hưởng đối với nền kinh tế. Roger Congleton, một nhà kinh tế học ở Đại học George Mason đã tính toán rằng nửa tiếng chậm trễ tại các sân bay ở Mỹ cũng làm thiệt hại cho nền kinh tế 15 tỉ USD mỗi năm.
Tất nhiên là những chi phí này không chỉ giới hạn ở nước Mỹ. Các cuộc tấn công ngày 11 tháng 09 đã làm thay đổi những mối ưu tiên ở các nước phát triển. Chẳng hạn những thay đổi về tiêu chuẩn an ninh của Mỹ cũng đã trở thành những tiêu chuẩn quốc tế vì những chiếc tàu chuẩn bị cập cảng vào Mỹ nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn đó sẽ phải bị trục xuất. Trên phạm vi toàn cầu, chi phí vô hình cho những nỗ lực chống khủng bố là không thể tính toán nhưng chắc chắn là rất nhiều mặc dù chi phí trực tiếp để chống khủng bố cũng đã tăng lên mức đáng kể sau vụ 11 tháng 09. Có lẽ chi phí chống khủng bố trên toàn thế giới là rất lớn.
Điều này có đáng không? Liệu chi phí này có tương xứng với sức hút từ mối đe dọa khủng bố? Cách duy nhất để trả lời câu hỏi đó hợp lý là bằng một “cuộc phân tích lợi ích và chi phí”. Nói đơn giản tức là xem xem những lợi ích thu được từ một chính sách nào đó có cao hơn chi phí bỏ ra cho nó hay không và dành ưu tiên cho những biện pháp nào. Điều này nghe có vẻ lạnh lùng và máy móc quá, nhất là khi sinh mạng con người đang bị đe doạ. Nhưng chúng ta chỉ có một lượng tiền nhất định, cũng như có một số mối đe dọa nhất định đối với con người: Để đảm bảo việc sử dụng tiền của mang lại hiệu quả tối ưu thì việc phân tích giữa chi phí lợi ích cũng là cần thiết.
Thật không may là chi tiêu dành cho chủ nghĩa khủng bố không bao giờ phải tuân theo sự phân tích giữa chi phí lợi ích và chúng ta chỉ có thể tưởng tượng về kết quả của một cuộc phân tích như thế. Nguy cơ của chủ nghĩa khủng bố chắc chắn là có thật. Và nguy cơ mang tính huỷ diệt của chủ nghĩa khủng bố dù không cao như chúng thường được mô tả song cũng là có thật. Chúng ta chỉ có thể thận trọng giả định rằng nếu các chính phủ không làm gì để chống lại chủ nghĩa khủng bố thì nó sẽ ngày càng gia tăng và sẽ có thêm nhiều sinh mạng mất đi. Vì vậy, không cần phải hỏi xem liệu có thể điều chỉnh lại khoản chi phí khổng lồ này theo cách phân tích giữa chi phí và lợi ích hay không. Nhưng cũng thật khó mà tin rằng, cán cân chi tiêu hiện nay có thể đứng vững mãi.
Chỉ riêng trong nước Mỹ cũng có rất nhiều thứ để so sánh. Chẳng hạn như có khoảng 14% người Mỹ không được bảo hiểm y tế tức là 14 triệu người; 9% trẻ em ở Mỹ, tức là 6,5 triệu trẻ, không được bảo hiểm. Năm 2004, Viện Y học, một cơ quan thuộc Viện Khoa học Quốc gia, đã đưa ra một báo cáo cho thấy việc không được bảo hiểm y tế đã khiến “mỗi năm ở Mỹ có 18.000 người chết một cách không đáng”. Gấp 6 lần số người chết do vụ 11 tháng 09. Về chi phí tài chính, một ban trong Viện Y học đã kết luận rằng, nhiều người không có bảo hiểm y tế đã làm nước Mỹ mất đi mỗi năm từ 60 tỉ đến 130 tỉ USD.
Một so sánh khác: Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh (CDC(13)), “hàng trăm ngàn” người chết ở Mỹ mỗi năm do “chỉ có gần một nửa số người Mỹ được hưởng các dịch vụ y tế dự phòng tốt nhất”.
Chi phí mở rộng được bảo hiểm y tế và khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế dự phòng cho tất cả người dân Mỹ còn tuỳ thuộc rất nhiều vào các quy trình phức tạp liên quan. Chắc chắn là cũng rất cao, một khoản chi phải tính bằng hàng chục tỉ USD mỗi năm. Nhưng với số người được cứu sống và những chi phí có thể được hoàn lại, có thể nói rằng, cả hai chính sách này đều hiệu quả hơn cuộc chiến chống khủng bố nếu phân tích về chi phí và lợi ích. Thế nhưng, cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đều không dám làm một cuộc so sánh giữa những khoản chi phí này. Trong ngân sách chính phủ năm 2008, chi phí cho các hoạt động chống khủng bố vẫn tăng lên trong khi ngân sách dành do CDC lại bị cắt giảm, khiến cơ quan này phải bỏ đi một chương trình y tế dự phòng trị giá 100 triệu USD.
Trên phạm vi toàn cầu còn có nhiều điều có thể so sánh nữa khiến ta phải nghi ngờ tính đúng đắn trong chi tiêu chống khủng bố hiện nay. Bệnh sởi làm chết 300.000 trẻ em mỗi năm trong khi vắc-xin phòng chống bệnh này chỉ mất 16 cent một mũi. Hơn 1,6 triệu trẻ em đang bị chết vì tiêu chảy. Năm 1988, bệnh bại liệt đã làm 1.000 trẻ em bị tàn tật mỗi ngày và một chiến dịch trị giá 3 tỉ USD đã gần như loại bỏ được loại virus này vào năm 2003 nhưng khi hết tiền, dịch bệnh này lại quay trở lại 27 nước.
Năm 2004, nhà khoa học chính trị Bjorn Lomborg của Đan Mạch đã kêu gọi một loạt các chuyên gia từ khắp thế giới để trao đổi xem thảm họa nào có thể được giải quyết hiệu quả nhất trên thế giới xét về mặt chi phí. Người ta đã trao đổi về rất nhiều vấn đề và đưa ra được một danh mục thứ tự ưu tiên. Đứng đầu là việc kiềm chế đại dịch HIV/AIDS. Lomborg viết trong cuốn How to Spend $50 Billion to Make the World a Better Place (Làm thế nào dùng 50 tỉ USD để cải thiện thế giới) rằng: “Với một khoản chi 27 tỉ USD, có thể ngăn ngừa được khoảng 28 triệu trường hợp mắc bệnh vào năm 2010”. “Hiệu suất giữa lợi ích và chi phí dự đoán có thể cao hơn thế 40 lần”.
Sốt rét cũng được xếp ở thứ hạng cao trong Copenhagen Consensus(14). Căn bệnh này làm chết khoảng một triệu người mỗi năm, chủ yếu là trẻ em châu Phi và làm tiêu hao của các nền kinh tế châu Phi 12 tỉ USD mỗi năm. Jeffrey Sachs, một nhà kinh tế học nổi tiếng đồng thời là một chuyên gia về phát triển, đã ước tính bệnh sốt rét có thể khống chế được với một khoản chi phí từ 2 đến 3 tỉ USD mỗi năm. Vậy đây chính là một điển hình cho thấy, chúng ta có thể cứu sống được hàng triệu sinh mạng và tiết kiệm được hàng tỉ USD chỉ với một khoản ngân sách hàng năm tương đương với 5% số tiền mà năm 2007 Mỹ dành ra để chống khủng bố. Thế nhưng, Liên hợp quốc chỉ dành ra 220 triệu USD cho chương trình sốt rét ở châu Phi còn Ngân hàng Thế giới đã cam kết dành từ 500 triệu đến một tỉ USD trong giai đoạn 5 năm. Năm 2005, Tổng thống Bush được ca ngợi vì đã đề ra “Sáng kiến sốt rét của Tổng thống” nhưng chỉ với 240 triệu USD mỗi năm trong vòng 5 năm. Và vì vậy, mỗi năm bệnh sốt rét có thể tiếp tục giết chết một số người nhiều hơn 67 lần so với 15.000 người bị giết hại bởi chủ nghĩa khủng bố quốc tế trong bốn thập kỉ qua.
Tất cả cũng chẳng là gì. Chỉ là sản phẩm của “nỗi sợ hãi vô lý” mà Franklin Roosevelt đã cảnh báo từ năm 1933, khi trật tự kinh tế đang sắp sửa sụp đổ và trật tự chính trị có vẻ cũng sắp bị đổ theo. Chủ nghĩa phát xít và bóng đen chiến tranh đang bao trùm lên. Thời kì đó còn ảm đạm hơn thời của chúng ta bây giờ rất nhiều, nhưng Roosevelt vẫn bình tĩnh. Ông nói trong bài diễn văn nhậm chức của mình “Đất nước vĩ đại này sẽ chống chịu được như đã từng chống chịu, rồi sẽ hồi sinh và thịnh vượng” - nếu chúng ta không để cho “nỗi sợ hãi không tên, khó hiểu và vô lý” dẫn dắt suy nghĩ và hành động của mình.
Bằng lời nói và hành động của mình, Roosevelt đã trấn an nước Mỹ và đưa đất nước này ra khỏi nỗi sợ hãi tiêu cực. Ông đã để lại một đất nước mạnh hơn và tự tin hơn. Cũng bằng lời nói và hành động của mình, người kế nhiệm của Roosevelt trong Phòng Bầu dục đã làm điều ngược lại và mang đến một đất nước sự yếu hèn và sợ sệt.