Nguy Cơ Risk - Khoa Học Và Chính Trị Về Nỗi Sợ Hãi

Lượt đọc: 247 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THỜI ĐỒ ĐÁ GẶP KỶ NGUYÊN THÔNG TIN

Website của một tổ chức phi chính phủ về những trẻ em trong trắng đang gặp nguy hiểm (Innocents in Danger) có trụ sở tại Thụy Sỹ cho biết: “Những số liệu gần đây cho thấy bất kể lúc nào cũng đều có khoảng 50.000 kẻ lạm dụng tình dục trẻ em đang lởn vởn trên Internet.” Tuyên bố này không trích nguồn, nhưng được xuất hiện dưới cái tít: “Những con số kinh hoàng.”

Thực sự đây là một con số kinh hoàng. Đó cũng là một con số dễ lây lan. Người dân ở Anh, Canada, Mỹ, và nhiều nơi khác nữa, đều đã bị ám ảnh bởi nó. Giống như một dạng lây lan virus cúm mới, thông tin này đã “lây” từ các bài báo tới các bản tin ti vi, website, blog, và tới vô số kể những cuộc nói chuyện của những bậc cha mẹ đang hoang mang. Con số khô khan này thậm chí còn ảnh hưởng tới Alberto Gonzales, cựu Chưởng lý của nước Mỹ.

Thật không may, sự thật đơn giản rằng một con số đã phóng đại, thậm chí lên tới mức cao nhất của sự quan liêu không có nghĩa là con số đó chính xác. Vậy con số trong trường hợp này thì sao? Liệu nó có đáng tin hay không?

Có một lý do hiển nhiên chắc chắn sẽ khiến chúng ta nghi ngờ độ tin cậy của số liệu này. Đó chỉ là một số liệu ước chừng, làm tròn, thậm chí là làm tròn rất lớn. Nó không phải là 47.000 hay 53.500 mà lại là 50.000. Và con số 50.000 là một con số làm tròn hoàn hảo để người ta có thể khuấy động không khí khi đưa ra một dự đoán điên rồ.

Và người ta đã dùng cách thức nào để đưa ra dự đoán điên rồ về con số những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em trên mạng? Chỉ riêng việc xác định con số chính xác những người sử dụng Internet đã rất phức tạp. Giờ lại xác định những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em online??? Đó là với điều kiện tất cả những tên này đều có thể được nhận dạng và đăng kí với những người có chức trách theo dõi, nhưng tất nhiên là những kẻ này không làm như vậy. Và dĩ nhiên rằng, chúng chẳng bao giờ sẽ khai rằng mình là những kẻ có âm mưu lạm dụng tình dục khi những người điều tra gọi điện tới và hỏi chúng về những thói quen online bệnh hoạn.

Một nguyên nhân khác chúng ta cần tính đến là sự thay đổi của con số không được kiểm chứng này, khi nó được kể từ người này qua người khác. Theo tờ The Independent (Độc lập) của Anh, một bài báo đã trích dẫn là có “nhiều nhất là” 50.000 kẻ lạm dụng tình dục online. Một số nguồn khác lại nói chính xác là có 50.000, trong khi một số ít thì cho rằng “ít nhất là” 50.000.

Đó còn là sự khác nhau trong quan điểm về những kẻ lạm dụng là gì. Trong một số câu chuyện, những kẻ lạm dụng chỉ thuần túy online và người đọc sẽ tự hiểu rằng chúng đang làm một điều gì đó không phải là việc xem của các tin tức mới nhất hay trả hóa đơn tiền nước. Một số khác lại nói, những kẻ lạm dụng đang online để “tìm kiếm trẻ em”. Trong hầu hết những câu chuyện, tất cả 50.000 kẻ lạm dụng đều được cho là “có một mục đích trong đầu: tìm thấy một đứa trẻ nào đó, làm quen, và cuối cùng là gặp đứa trẻ đó.” Người ta có thể tìm thấy những thông tin kì lạ về khả năng đọc được ý nghĩ của người khác trên website của Spectorsoft, công ty chuyên bán cho các bậc cha mẹ đang trong cơn hoảng sợ một phần mềm cho phép họ giám sát các hoạt động của con mình qua mạng với giá chỉ 99,95 USD.

Bây giờ, chúng ta sẽ bàn tới khu vực được cho là 50.000 kẻ xấu xa này hoạt động. Theo một số quan điểm, 50.000 kẻ đó có mặt rải khắp trên toàn thế giới, hay toàn bộ mạng Internet. Nhưng một blogger ở Mỹ đã thu hẹp đáng kể phạm vi này: “Bất cứ khi nào, trên MySpace.com(1) cũng như các mạng xã hội khác, đều có 50.000 kẻ lạm dụng đang lùng sục những đứa trẻ.” Tạp chí Dallas Child trích dẫn câu chuyện của cặp cha mẹ đã được trao tặng danh hiệu “Cặp cha mẹ của California năm 2001.” Họ đã phát biểu: “Internet là một công cụ tuyệt vời, nhưng nó cũng là một công cụ tội ác nguy hiểm, đặc biệt là những mạng xã hội như MySpace.com. Tại bất cứ thời điểm nào, trên đó cũng có 50.000 kẻ lạm dụng tình dục trẻ em.”

Tất cả những điều này sẽ khiến sự hoài nghi bên trong mỗi chúng ta rung lên tín hiệu cảnh báo. Nhưng có một câu hỏi cuối cùng, một câu hỏi quan trọng cần được trả lời trước khi chúng ta có thể bác bỏ con số này một cách dứt khoát, không thương tiếc: Vậy, nguồn gốc của nó là từ đâu?

Hầu hết các bài viết, tài liệu trích dẫn số liệu này đều không ghi nguồn. Tác giả chỉ đơn thuần sử dụng câu ở thể bị động để “lấp liếm” kẽ hở này. (“Theo số liệu đã được thống kê…”) Một cách khác để đạt được hiệu quả tương tự, đã được sử dụng quá thường xuyên trên báo chí hiện nay, đó là trích lời của một nhân viên hay quan chức nào đó, phát biểu với ý coi con số này là sự thật. Vì thế, con số sẽ có luôn được sự đáng tin cậy nhờ người phát ngôn ra nó kể cả khi người đọc không hề biết về nguồn gốc của nó. Sau khi một bài báo trên tờ Ottawa Citizen nhắc lại con số này qua lời trích dẫn của Ian Wilms, Chủ tịch Hiệp hội Cảnh sát Canada, tôi đã gọi điện cho Wilms và hỏi ông ấy lấy con số đó từ đâu. Ông ta trả lời rằng biết nó qua cuộc nói chuyện với cảnh sát Anh. Và chỉ có vậy, ông ta không thể biết gì chính xác hơn.

May thay, có một số phiên bản về câu chuyện “50.000 kẻ lạm dụng tình dục trẻ em”, bao gồm cả bài báo trên tờ The Independent đã nêu ra một nguồn cụ thể. Tất cả những phiên bản có nguồn này đều nói, đó là số liệu được cung cấp từ Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI). Vì thế, tôi đã gọi cho FBI. Nhưng họ đã trả lời: “Không, con số đó không phải là của chúng tôi, chúng tôi không hề biết là nó tới từ đâu.” Và nữ cảnh sát trả lời điện thoại của tôi cũng cho biết, FBI không hề có bản thống kê về số lượng những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em trên mạng Internet, vì không thể thống kê được con số đó.

Tuy nhiên, thái độ hoài nghi hiếm khi đủ mạnh để gạt bỏ một con số không đáng tin cậy nhưng lại hữu ích. Tháng 04 năm 2006, Chưởng lý của Mỹ, Alberto Gonzales đã có một bài phát biểu trước Ủy ban Trung ương về vấn đề trẻ em bị mất tích và lạm dụng, ông cho rằng: “Chúng ta chắc chắn sẽ ngạc nhiên khi biết được rằng những kẻ lạm dụng nhiều như thế nào… Trong bất cứ thời điểm nào, trên mạng Internet cũng có 50.000 kẻ lạm dụng lởn vởn tìm cách hãm hại trẻ em.” Và theo lời Gonzales, nguồn thông tin này là từ “chương trình truyền hình Dateline.”

Viên Chưởng lý đáng lẽ ra nên nghe chương trình phát thanh của Đài Quốc gia (NPR) nhiều hơn. Khi phóng viên của NPR yêu cầu Dateline giải thích xem họ đã có được con số trên từ đâu. Họ đã được trả lời rằng trong chương trình truyền hình Chris Hansen, khi một chuyên gia được hỏi rằng liệu con số “bằng phẳng” này có chính xác hay không. Vị chuyên gia đã trả lời, theo như Hansen nhớ lại, rằng: “Tôi đã nghe về điều đó, nhưng nó còn phụ thuộc vào bạn định nghĩa như thế nào là một kẻ lạm dụng tình dục trẻ em, đây thực sự là một sự thống kê rất khó.” Dateline đã coi đây là lời khẳng định lại rằng con số này là chính xác và đã nhắc lại nó như một sự thật không phải bàn cãi trên ba chương trình truyền hình khác nhau sau đó.

Chuyên gia được nói đến trong chương truyền hình trên là đại diện của FBI, Ken Lanning. Khi phóng viên NPR hỏi Lanning về con số đáng nghi ngờ này, Lanning đã trả lời: “Tôi không biết nó tới từ đâu. Tôi không thể chắc chắn về nó, nhưng tôi cũng không thể bác bỏ nó. Tuy nhiên, tôi cảm thấy đó là một con số khá hợp lý.” Lanning cũng lưu ý tới một sự trùng hợp có thể gây hoài nghi: con số 50.000 đã xuất hiện như một con số chủ yếu tượng trưng cho ít nhất là hai thảm họa kinh hoàng gần đây. Trong đầu những năm 1980, nó được cho là con số trẻ em bị bắt cóc mỗi năm. Rồi tới cuối thập kỉ 80 này, nó lại được cho là con số những vụ án mạng thảm khốc. Những tuyên bố này, vào thời điểm đó đều được tin là đúng, và được phổ biến rộng rãi, nhưng sau này đã được phát hiện ra là chẳng hơn gì những dự đoán mang tính kích động, và đã bị coi như “sự thật” qua nhiều lần kể lại từ người nọ tới người kia.

Và bây giờ, rất có thể, theo như Lanning nghĩ, thì con số 50.000 là rất gần với sự thật. Nhưng nó cũng có thể chỉ là một con số tượng trưng. Có thể có tới năm triệu kẻ lạm dụng tình dục trên mạng Internet vào bất cứ thời điểm nào, nhưng cũng có thể là 500, hay chỉ là năm. Không có ai thực sự biết được về điều này. Và, theo một cách đúng đắn nhất, thì con số này là một dự đoán được đưa ra bởi một ai đó không rõ danh tính.

Tôi đã bỏ thời gian để mổ xẻ con số này, bởi chúng ta sẽ thấy ở phần sau của cuốn sách này, những số liệu không đáng tin cậy đã trở nên quá phổ biến trong những bài diễn văn hay các thông điệp trước công chúng. Ảnh hưởng của những con số như vậy lại không chỉ giới hạn trong những người cả tin, dễ bị lừa. Trong thực tế, các nhà tâm lý học đã khám phá ra rằng thậm chí cả những người đa nghi bướng bỉnh nhất cũng sẽ thấy rất khó, hoặc không thể ngăn không cho những con số ma quái này xâm nhập vào bộ não của mình và ảnh hưởng tới những nhận định của họ.

Như thường lệ, vấn đề nằm ở sự phân chia giữa Cái Đầu và Cái Bụng. Chính Cái Đầu đã cười khẩy vào con số vớ vẩn đó. Nhưng Cái Bụng thì không chắc chắn như vậy.

Để làm rõ vấn đề này, tôi sẽ hỏi một câu hỏi mà ban đầu dường như chẳng có liên quan gì: Liệu khi qua đời, Gandhi lớn hơn, hay chưa đầy 9 tuổi? Tất nhiên đó là một câu hỏi ngớ ngẩn. Câu trả lời là hiển nhiên, quá rõ ràng. Và nó cũng chẳng liên quan gì tới điều chúng ta đang phân tích. Hoàn toàn không liên quan chút nào. Và xin hãy quên những gì tôi đã hỏi đi.

Giờ thì hãy chuyển qua một câu hỏi khác: Khi qua đời, Gandhi bao nhiêu tuổi? Bây giờ, nếu bạn thực sự biết Gandhi bao nhiêu tuổi khi qua đời thì bạn sẽ được bỏ qua, không phải thực hiện bài kiểm tra này. Hãy thưởng thức một chén trà, và sau đó thì quay lại đọc tiếp vài đoạn xuống dòng nữa. Câu hỏi này chỉ dành cho những người không chắc chắn và phải đoán.

Tôi ước gì có thể làm cho bạn đọc sửng sốt và kinh ngạc khi viết ra chính xác những gì bạn đang suy đoán. Nhưng tôi không thể làm như vậy. Tuy nhiên, tôi có thể nói, với một sự quả quyết, rằng câu trả lời của bạn cho câu hỏi thứ hai sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi con số 9.

Tôi biết điều này bởi đó là câu hỏi mà tôi đã lấy từ một nghiên cứu của hai nhà tâm lý học người Đức Fritz Strack và Thomas Mussweiler. Họ đã hỏi những người tham gia hai phiên bản câu hỏi về Gandhi. Một phiên bản chính là những gì tôi đã hỏi bạn đọc ở phần trên. Phiên bản còn lại hỏi rằng liệu Gandhi già hơn hay trẻ hơn 140 tuổi khi qua đời? Strack và Mussweiler đã phát hiện ra rằng khi câu hỏi thứ nhất nhắc tới con số 9, những dự đoán trung bình trả lời câu hỏi thứ hai đi theo câu hỏi này là 50. Còn trong phiên bản thứ hai, người ta thường đoán độ tuổi là 67. Vì thế những người nghe thấy con số thấp hơn trước khi đoán thì sẽ đoán ra một số thấp hơn, còn những người nghe được con số cao hơn thì sẽ đoán ra một số cao hơn.

Từ một nghiên cứu khác, các nhà tâm lý học đã phân tích được rất nhiều biến đổi khác nhau. Trong phiên bản thứ nhất, đầu tiên những người tham gia được yêu cầu nói ra một con số trong số điện thoại của họ. Sau đó họ được yêu cầu đoán về năm mà người Attila và người Phổ bị thất bại ở châu Âu. Trong thí nghiệm khác, những người tham gia được yêu cầu xoay tròn một bánh xe may rủi để chọn ra một con số ngẫu nhiên bất kỳ. Sau đó, họ được yêu cầu cho biết số các quốc gia châu Phi là thành viên của Liên Hợp Quốc. Trong tất cả các trường hợp, kết quả đều như nhau: Con số người ta nghe trước đó đã gây ảnh hưởng lên dự đoán bất chấp một sự thật hiển nhiên là con số đó rõ ràng không hề liên quan. Trong một số nghiên cứu khác, những nhà khoa học thậm chí còn nói với những người tham gia rằng con số chẳng hề liên quan gì đâu, và nhấn mạnh với họ rằng đừng để nó ảnh hưởng tới những dự đoán của họ. Tuy nhiên, nó vẫn ảnh hưởng.

Hiện tượng xảy ra ở đây là Cái Bụng đang sử dụng cái mà các nhà tâm lý học gọi là phương pháp giải quyết vấn đề bằng kinh nghiệm có điểm tựa và điều chỉnh hay cái mà chúng ta gọi là Quy luật Thả neo. Khi chúng ta chưa chắc chắn về một câu trả lời đúng, và chúng ta phải đưa ra một dự đoán, Cái Bụng sẽ chộp lấy một con số gần nhất - đó là con số mà chúng ta nghe thấy ở thời điểm gần nhất trước đó. Sau đó, theo như hai nhà tâm lý học Nicholas Epley và Thomas Gilovich, Cái Đầu sẽ điều chỉnh, nhưng “sự điều chỉnh có xu hướng trở nên không đủ hiệu quả, khiến cho ước đoán cuối cùng của con người sẽ nghiêng theo giá trị của “cái mỏ neo” ban đầu”.

Trong cuộc trắc nghiệm về Gandhi, Cái Đầu và Cái Bụng thoạt tiên nghe thấy con số 9. Khi câu hỏi về tuổi của Gandhi khi qua đời được đưa ra sau đó, người ta không biết được câu trả lời. Do đó, Cái Bụng đã bám theo cái neo gần nhất - chính là con số 9 - và chuyển nó tới Cái Đầu. Trong khi đó, Cái Đầu có thể cố nhớ lại về hình ảnh của Gandhi, một người đàn ông gầy, già và còng. Do đó, Cái Đầu điều chỉnh con số 9 tăng lên tới một con số nào đó cho phù hợp với những gì Cái Đầu biết. Trong trường hợp này, đó hóa ra lại là số 50, một con số cách xa con số 9.

Nhưng con số đó vẫn còn thấp hơn nhiều so với con số dự đoán trung bình của những người đã được “ném cho cái mỏ neo” là con số 140. Nói theo cách khác, những gì xảy ra ở đây không phải là sự kiểm soát nhận thức. Nó giống với những ảnh hưởng mang tính nhận thức hơn. Và Cái Đầu không hề nhận biết được về những gì đang xảy ra. Khi nhà tâm lý học hỏi người tham gia trắc nghiệm rằng liệu con số đầu tiên họ nghe được có ảnh hưởng tới dự đoán của họ hay không, câu trả lời luôn luôn là không.

Quy luật Thả neo

có cách vận dụng rất phong phú. Việc bán lẻ hàng hóa là một ví dụ hiển nhiên. Một cửa hàng hoa quả muốn bán gấp một lượng lớn sốt cà chua có thể trưng lên một tấm biển nổi bật với dòng chữ: “Tối đa 12 hộp cho mỗi khách hàng” hay “Hãy mua 18 hộp để lên tủ đựng đồ ăn”. Thông điệp trên tấm bảng như thế nào không quan trọng. Cái quan trọng là con số. Khi một người khách quyết định xem mình sẽ mua bao nhiêu hộp súp thì Cái Bụng sẽ sử dụng Quy luật Thả neo: Nó sẽ bắt đầu từ các con số 18 hay 12 và điều chỉnh giảm dần, và sẽ ấn định ở một con số cao hơn nếu như đáng lẽ không có tấm biển kia. Khi các nhà tâm lý học Brian Wansink, Robert Kent và Stephen Hoch tiến hành một số thay đổi trong kịch bản này áp dụng tại các siêu thị thực sự, họ đã thu được những kết quả đáng ngạc nhiên. Nếu không có tấm biển có con số mua hàng là 12 thì gần như một nửa số người đi siêu thị chỉ mua 1 hoặc 2 hộp súp. Với con số 12, hầu hết khách hàng mua từ 4 tới 10 hộp, trong khi chẳng có ai chỉ mua 1 hay 2 hộp cả.

Hãy thử tưởng tượng bạn là một luật sư và thân chủ của bạn sắp bị tuyên án vị thẩm phán có thể kết án bao nhiêu năm tù tùy ý. Quy luật Thả neo sẽ có thể mở ra một cách để gây ảnh hưởng tới phán quyết. Trong một nghiên cứu vào năm 2006, Strack và Mussweiler đã mời một nhóm các thẩm phán có kinh nghiệm người Đức và đưa cho họ tài liệu phác thảo về một vụ án, trong đó một người đàn ông bị buộc tội cưỡng hiếp. Tài liệu đã phát thảo tất cả các chi tiết thực sự của vụ án, bao gồm cả các bằng chứng phục vụ cho việc kết án. Sau khi đọc tài liệu này, các thẩm phán được yêu cầu thử tưởng tượng rằng trong khi phiên tòa đang được tiến hành, họ nhận được một cuộc gọi điện từ một nhà báo hỏi rằng liệu bản án có thể nhiều hơn hay ít hơn 3 năm không. Tất nhiên, các thẩm phán sẽ lịch sự từ chối trả lời và quay lại phòng xử án. Và bây giờ… các ngài sẽ ra mức án cho vụ án này là bao nhiêu năm? Câu trả lời trung bình của nhóm các thẩm phán đó là 33 tháng tù giam. Còn trong một cuộc trắc nghiệm một nhóm thẩm phán khác hoàn toàn không liên quan gì tới nhóm thẩm phán vừa rồi, cũng một ngữ cảnh vụ án như vậy, chỉ khác ở chỗ con số được đề cập trong cuộc gọi tưởng tượng của nhà báo là 1 năm, chứ không phải 3 năm. Và trong trường hợp thứ hai này, án tù trung bình được đưa ra là 25 tháng.

Quy luật Thả neo cũng có thể được sử dụng để làm chệch hướng các cuộc điều tra xã hội học nhằm phục vụ mục đích của ai đó. Giả sử bạn là người đứng đầu một nhóm hoạt động về môi trường và bạn muốn có một sự ủng hộ rộng rãi về mặt tài chính của công chúng để làm sạch một cái hồ. Bạn sẽ thực hiện được điều đó bằng cách tiến hành một cuộc điều tra thăm dò bằng một câu hỏi rằng liệu những người dân quanh đó có sẵn lòng đóng góp một số tiền - hãy nói cụ thể là 200 USD - để làm sạch cái hồ hay không. Người ta nói “có” hay “không” không thành vấn đề. Bạn chỉ cần hỏi câu hỏi này cái chính là để khiến con số 200 USD thâm nhập vào tâm trí của họ. Và nhờ có Quy luật Thả neo, bạn có thể chắc chắn rằng Cái Bụng của những người dân sẽ bắt đầu ở mức đóng góp 200 USD trở xuống và dừng lại ở một mức tiền chắc chắn vẫn sẽ cao hơn so với con số nếu như Cái Bụng của họ không biết tới số tiền 200 USD kia. Trong một nghiên cứu thực hiện theo chính phương pháp này, các nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Jack Knetsch đã phát hiện ra rằng mức dự đoán trung bình về số tiền người dân sẵn lòng bỏ ra để làm sạch cái hồ là 36 USD. Nhưng trong cuộc thử nghiệm thứ hai, con số 200 USD được thay bằng 25 USD, và số tiền trung bình của những người được hỏi lập tức giảm xuống chỉ còn 14 USD. Do đó, có thể kết luận một con số “neo” cao sẽ tạo ra một con số trả lời cao hơn khoảng 150% so với một con số “neo” thấp.

Cho tới bây giờ, giá trị của Quy luật Thả neo với những chiêu makerting trở thành một điều hiển nhiên. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang muốn bán một phần mềm giúp kiểm soát việc sử dụng máy vi tính. Thị trường chính của bạn sẽ là những ông chủ đang muốn ngăn không cho nhân viên của mình lướt web trong giờ làm việc. Nhưng bạn lại vừa nghe được một câu chuyện hoàn toàn mới về những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em vẫn thường dụ dỗ trẻ em trên các chat room và nhận ra đây là nỗi lo lắng, ám ảnh của các bậc cha mẹ. Bạn lập tức tìm trên Google và tìm thấy một con số kinh hoàng nhất lớn nhất mà bạn có thể thấy: 50.000 kẻ lạm dụng tình dục trẻ em đang online tại bất cứ thời điểm nào. Và bạn lưu giữ nó vào trong đầu óc kinh doanh của mình. Một cách tự nhiên, bạn không hề băn khoăn về mức độ chính xác của con số đó. Đó không phải là việc của bạn. Mà điều quan trọng rằng, bạn đang bán các phần mềm.

Và có lẽ bạn sẽ bán được rất nhiều sản phẩm nhờ vào những nỗ lực quyết tâm của rất nhiều người khác. Sau tất cả, bạn không phải là người duy nhất cố gắng cảnh báo với các bậc cha mẹ. Đó còn là các nhà hoạt động bảo vệ trẻ em, các Tổ chức phi chính phủ, các cơ quan cảnh sát, các chính trị gia, và các nhà báo. Tất cả họ đều đang tuyên truyền cho một con số đáng sợ, và những người khác thì lại thích con số đó, bởi vì, giống như bạn, con số đáng sợ đó sẽ giúp họ đạt được mục đích của mình và họ không hề băn khoăn xem liệu con số đó được kết luận từ đâu, hay chỉ giống như một thanh kẹo cao su và một ảo tưởng đen tối.

Tuy nhiên, vẫn sẽ có những bậc cha mẹ thông minh có thể nghi ngờ. Dù cho họ có nghe được con số này từ bạn hay từ những tổ chức, những nhóm lợi ích khác đi nữa, thì họ vẫn không mua phần mềm của bạn.

Nhưng điều sáng sủa đó - sáng sủa trong nhận thức của bạn - rằng sẽ có những người nghi ngờ, lại chẳng đem lại tác dụng gì. Sau cùng thì những hành động mờ ám trên mạng là có thật. Và ngay cả những bậc cha mẹ đa nghi nhất, những người nghi ngờ và bác bỏ con số 50.000 cũng sẽ có những cách nghĩ của riêng mình. Vậy đâu là con số chính xác? Có bao nhiêu kẻ lạm dụng tình dục trẻ em đang online trên Internet? Và gần như ngay lập tức, họ sẽ có một câu trả lời hợp lý. Đó là phần việc của Cái Bụng. Và cơ sở phán đoán của Cái Bụng chính là Quy luật Thả neo: bắt đầu với con số nghe thấy gần lúc đó nhất, và điều chỉnh giảm xuống.

Giảm xuống tới mức bao nhiêu? Hãy tin rằng họ sẽ cắt giảm con số đó xuống thấp đột ngột và dừng ở 10.000. Nhưng nếu như con số 50.000 là vớ vẩn, thì một con số bắt nguồn bằng cách điều chỉnh tùy tiện con số vớ vẩn đó xuống cũng vớ vẩn không kém. Có nghĩa là con số 10.000 hoàn toàn vô nghĩa và đáng bị gạt bỏ.

Tuy nhiên, các bậc cha mẹ sẽ không suy nghĩ như vậy. Với họ, họ sẽ cảm thấy con số 10.000 là có thể tin được (nhưng nếu được hỏi là vì sao thì họ sẽ không lý giải được). Thậm chí cả những hãng kinh doanh được hưởng lợi và những tờ báo lá cải cũng không hề giúp gì cho họ trong trường hợp này, bởi trong nhận thức của họ, con số này không hề tới từ những người tiếp thị hay các nhà báo. Nó tới từ trong chính tư duy của họ. Đó là con số mà chính họ cảm thấy là hợp lý. Và với một cặp cha mẹ bất kỳ, ý nghĩ về 10.000 kẻ lạm dụng tình dục đang săn tìm trẻ em trên mạng Internet thực sự là một nỗi khiếp sợ.

Và xin chúc mừng! Công ty phần mềm của bạn đã có một khách hàng mới!

Quy luật Thả neo, với tất cả những ảnh hưởng của mình, chỉ là một phần nhỏ của những đột phá khoa học ở quy mô rộng lớn hơn nhiều, bao trùm nhiều lĩnh vực. Một lẽ thường trong khoa học, có rất nhiều nhân tố cũng như nguồn gốc dẫn tới bước đột phá này. Nhưng có hai con người nổi bật trong thành công ấy, đó là hai nhà tâm lý học: Daniel Kahneman và Amos Tversky.

Bốn thập kỉ trước, Kahneman và Tversky đã cộng tác trong một nghiên cứu phân tích cơ chế hình thành những phán quyết trong tư duy của con người khi họ không chắc về thực tế. Điều này nghe có vẻ như chỉ là một nghiên cứu khiêm tốn, quẩn quanh trong hoạt động khoa học, nhưng thực sự, đó lại là một trong những khía cạnh cơ bản nhất để tìm hiểu về cơ chế suy nghĩ và hành động của con người. Với giới học thuật hàn lâm, nghiên cứu này định hình các câu trả lời cho những câu hỏi cốt lõi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, luật pháp, sức khỏe và các chính sách đối với công chúng. Với tất cả những người khác, đó là những “chất liệu” của cuộc sống hàng ngày: Chúng ta đảm nhận những công việc, nghề nghiệp nào? Chúng ta cưới ai? Chúng ta sống ở đâu? Liệu chúng ta có con không, và chúng ta có bao nhiêu đứa con? Quan trọng là phải xác định được chúng ta sẽ nhận thức và đối phó lại với một danh sách dài dường như bất tận những mối hiểm nguy như thế nào, từ việc bị chèn bẹp dí như cái bánh mỳ trên tàu cho tới những vụ tấn công khủng bố. Tất cả đều có thể giết chết chúng ta.

Khi Kahneman và Tversky bắt đầu nghiên cứu của mình, mô hình nổi trội lúc đó về cách con người đưa ra các quyết định là Homo Economicus (Người đàn ông kinh tế) là hợp lý nhất. Anh ta sẽ phân tích các bằng chứng. Dựa trên những gì anh ta hiểu về chúng, anh ta sẽ tính toán cái gì là tốt nhất đối với lợi ích của anh ta, và anh ta sẽ hành động tương ứng như vậy. Mô hình Homo Economicus đã chi phối lĩnh vực kinh tế cũng như có ảnh hưởng lớn trong chính sách với công chúng một phần là bởi nó gợi ý rằng những hành vi có ảnh hưởng của con người thực sự khá đơn giản. Ví dụ, để chống lại tội phạm, các chính trị gia chỉ cần nâng cao khung hình phạt. Khi cái giá phải trả cho tội ác là quá cao so với những lợi ích (hay lợi nhuận) kiếm được khi phạm tội, những kẻ có dã tâm phạm tội sẽ tính toán rằng việc gây án không còn đem lại lợi ích cho chúng nữa, và chúng sẽ từ bỏ những ý định này.

H.L. Mencken cho rằng Homo economicus “là giải pháp cho mọi vấn đề, giải pháp đó thật đơn giản, nhanh gọn, và… sai.” Không giống như Homo economicus, Homo sapiens không hoàn toàn hợp lý. Bằng chứng cho điều đó không nằm trong sự thật rằng loài người chúng ta thường mắc những sai lầm. Mô hình Homo economicus cho phép điều này. Vấn đề là ở chỗ, trong những trường hợp chắc chắn, người ta lại luôn luôn mắc sai lầm. Chúng ta trở nên sai lầm một cách có hệ thống. Năm 1957, Herbert Simon, một nhà tâm lý học - kinh tế học - chính trị học xuất sắc, người sau này đã đoạt giải Nobel, đã đặt ra thuật ngữ sự hợp lý (có lý trí) có giới hạn. Nói cách khác, chúng ta có thể có lý trí, có thể quyết định hợp lý, nhưng chỉ trong những giới hạn nào đó.

Kahneman và Tversky đã tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phải tìm ra những giới hạn đó. Năm 1974, sau khi cùng nhau thực hiện một nghiên cứu họ đã công bố tài liệu khoa học với cái tên nghe có vẻ rất mơ hồ, khó hiểu: “Sự đánh giá trong trường hợp không chắc chắn: Phương pháp giải quyết bằng đánh giá kinh nghiệm và những thành kiến.” Họ cho đăng lên tờ Science (Khoa học), đúng hơn là dưới dạng một bài báo chuyên ngành bởi họ cho rằng một số điểm trong này có thể hấp dẫn với những người không phải là các nhà tâm lý học. Tài liệu ngắn này đã thu hút sự chú ý của các nhà triết học và kinh tế học, một cuộc tranh luận xôn xao đã bắt đầu. Cuộc tranh luận này đã kéo dài trong vài chục năm nhưng sau cùng thì Kahneman và Tversky đã thắng thế.

Ngày nay, ý tưởng về “lý trí có giới hạn” đã được thừa nhận một cách rộng rãi và những giá trị nội dung của nó đã và đang hỗ trợ rất nhiều cho các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội. Thậm chí, các nhà kinh tế học cũng ngày càng có xu hướng công nhận rằng Homo sapien không phải là Homo economicus, và một lĩnh vực đột phá mới mang tên: “Kinh tế học ứng xử” (behavioural economics) đã ra đời nhằm mang những kết quả của tâm lý học vào kinh tế.

Amos Tversky qua đời vào năm 1996. Và năm 2002, Daniel Kahneman đã có được sự đánh giá xứng đáng dành cho những đóng góp của mình: Ông được trao tặng giải Nobel về kinh tế và có lẽ là người duy nhất có được giải thưởng này mà chưa từng tham gia bất cứ một lớp học về kinh tế nào.

Điểm đáng ngạc nhiên là, bài báo trên tờ Science (Khoa học) đó đã tạo ra một làn sóng trong tất cả các lĩnh vực lại có vẻ ngoài khiêm tốn. Kahneman và Tversky không hề nói gì về tính hợp lý. Họ cũng không hề gọi Homo economicus là chuyện hoang đường. Tất cả những gì họ đã làm chỉ là trình bày một nghiên cứu mang tính cơ sở, mở ra một số điều về phương pháp giải quyết vấn đề bằng đánh giá kinh nghiệm - quy luật về dấu hiệu - công cụ mà Cái Bụng đã sử dụng để đưa ra các đánh giá chẳng hạn như việc đoán tuổi của Gandhi khi qua đời hay việc đánh giá xem lái xe đi làm liệu có an toàn. Ngày nay, chính những suy nghĩ của Kahneman được thể hiện trong đó lại là một nguyên nhân khiến cho bài báo có sức ảnh hưởng lớn như vậy. Không có việc tạo ra lý thuyết một cách xuất sắc, phi thường, mà chỉ có tính đúng đắn không thể nghi ngờ mới có thể giúp lý thuyết đó đứng vững trước vô số những thách thức, từ năm này qua năm khác.

Cũng giống như bản thân tài liệu này, ba quy luật về dấu hiệu được nói tới trong đó cũng đơn giản và rõ ràng tới mức đáng ngưỡng mộ. Chúng ta đã thảo luận và phân tích về quy luật đầu tiên trong số đó - Quy luật Thả neo. Quy luật thứ hai là điều mà các nhà tâm lý học gọi là phương pháp giải quyết vấn đề bằng cách đánh giá kinh nghiệm thông qua tính đại diện, còn tôi sẽ gọi là Quy luật Điểm đặc trưng. Và cuối cùng, cũng là một phương pháp giải quyết vấn đề qua đánh giá kinh nghiệm có giá trị, đó là Quy luật Điển hình chính là quy luật quan trọng nhất trong số ba quy luật định hình nên những nhận thức của chúng ta về các mối nguy hiểm, và phản ứng của chúng ta trước những nguy cơ đó.

QUY LUẬT ĐIỂM ĐẶC TRƯNG

Linda năm nay 31 tuổi, độc thân, là người thẳng thắn và rất thông minh. Cô là một nhà triết học. Khi còn là sinh viên, cô đặc biệt quan tâm tới các vấn đề về phân biệt đối xử hay công bằng xã hội, cô cũng từng tham gia và các cuộc biểu tình chống (vũ khí) hạt nhân.

Vậy thì Linda hiện giờ sẽ như thế nào?

Là một cô giáo trong một trường tiểu học?

Làm việc trong một hiệu sách và tham gia các lớp tập yoga?

Hăng hái tham gia các phong trào đòi bình đẳng giới?

Hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội?

Là một thành viên của nhóm Những cử tri nữ?

Là một nhân viên thu ngân tại ngân hàng?

Là một người bán bảo hiểm?

Là một nhân viên thu ngân và hăng hái tham gia các phong trào đòi bình đẳng giới?

Bây giờ hãy sắp xếp những đoạn miêu tả trên theo thứ tự khả năng xảy ra từ lớn nhất tới nhỏ nhất.

Đây là một trong những bài trắc nghiệm tâm lý nổi tiếng nhất. Bốn mươi năm trước, khi Kahneman và Tversky viết về lý lịch trích ngang của Linda, họ có ý định sẽ khiến nó trở nên thật khớp với trí tưởng tượng của mọi người về một nhà hoạt động tích cực cho chủ nghĩa bình quyền (một hình ảnh có lẽ sẽ khá nổi bật vào thời điểm đó). Một số lời miêu tả trong danh sách dường như tới mức hoàn hảo: Một thành viên của nhóm Những cử tri nữ? Vâng, quá phù hợp. Vì thế, nó hoàn toàn giống với sự thực và chắc chắn được xếp ở vị trí gần đầu danh sách. Hăng hái tham gia các phong trào đòi bình đẳng giới? Hoàn toàn chính xác. Điều này cũng chắc chắn được xếp một thứ hạng cao trong danh sách. Nhưng còn một nhân viên bán bảo hiểm? Một nhân viên thu ngân tại ngân hàng? Không có chi tiết nào trong bản lý lịch trích ngang của Linda gợi mở về những điểm này, do đó, những người tham gia bài trắc nghiệm sẽ xếp chúng ở dưới cuối bản danh sách.

Những điều này khá đơn giản, nhưng còn chi tiết miêu tả cuối cùng, rằng Linda là một nhân viên thu ngân nhưng lại hăng hái tham gia các phong trào đòi bình đẳng giới? Hầu hết những người tham gia trả lời đều cảm thấy rằng điều này ít nhất cũng giống với Linda hơn là một nhân viên bán bảo hiểm hay nhân viên thu ngân tại ngân hàng. Khi Kahneman và Tversky thực hiện bài test này với các sinh viên chưa tốt nghiệp, 89% trong số họ đã cho rằng “Linda là một nhân viên thu ngân hăng hái tham gia các phong trào đòi bình đẳng giới” giống với Linda hơn so với chi tiết Linda chỉ là “một nhân viên thu ngân trong ngân hàng.”

Nhưng nếu bạn dừng lại và suy nghĩ về điều này, bạn sẽ thấy nhưng suy diễn đó chẳng có ý nghĩa gì. Tại sao lại có thể nói việc Linda là một nhân viên thu ngân hăng hái tham gia các phong trào đòi bình đẳng giới giống với Linda hơn so với chi tiết Linda chỉ là một nhân viên thu ngân trong ngân hàng? Và nếu như sự thật thực sự là Linda là một nhân viên thu ngân đồng thời cũng là người theo chủ nghĩa bình quyền, thì hai đoạn mô tả này phải ít nhất là ngang nhau, xét về mức độ giống với sự thực. Vậy còn điều gì nữa? Luôn luôn xảy ra khả năng rằng Linda là một nhân viên thu ngân nhưng lại không phải là một người theo chủ nghĩa bình quyền. Vì thế, mệnh đề Linda chỉ đơn thuần là một người thu ngân trong ngân hàng sẽ phải có sức thuyết phục hơn so với Linda là người thu ngân và hoạt động vì sự bình đẳng của phụ nữ. Đó là một logic đơn giản, nhưng lại có rất ít người nhìn ra điều đó.

Vì thế, Kahneman và Tversky thay đổi bài trắc nghiệm và thử lại lần nữa. Họ vẫn cho sinh viên đọc bản lý lịch đó của Linda. Nhưng sau đó, họ chỉ hỏi rằng giữa hai giả thiết: (a): Linda là một nhân viên thu ngân ở ngân hàng và (b): một nhân viên thu ngân và là người tích cực tham gia phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, giả thiết nào có nhiều phần trăm khả năng là sự thực hơn?

Lần này thì logic suy luận đã rõ. Kahneman và Tversky đinh ninh rằng các sinh viên sẽ nhận ra và định hướng đúng trực giác của mình. Nhưng hai ông đã nhầm. Hầu như lại đúng tỉ lệ phần trăm sinh viên đó - 85% - cho rằng mệnh đề (b) có nhiều khả năng xảy ra hơn mệnh đề (a).

Kahneman và Tversky cũng đưa cả hai phiên bản của “vấn đề Linda” (như họ đã gọi như vậy) ra trước các chuyên gia đã được đào tạo về logic và tính toán. Khi các chuyên gia trả lời câu hỏi ban đầu, với một danh sách dài lộn xộn, và họ cũng đã sai lầm giống như các sinh viên chưa tốt nghiệp trước đây. Nhưng khi họ được đưa cho phiên bản 2 của bài trắc nghiệm thì cứ như thể có ai đó đã huých khuỷu tay vào cạnh sườn họ vậy. Cái Đầu đã can thiệp nhằm sửa sai cho Cái Bụng và tỉ lệ sai lầm lập tức giảm xuống. Khi nhà khoa học Stephen Jay Gould thực hiện bài trắc nghiệm này, ông đã nhận ra logic của Cái Đầu đã nói cho ông đâu là câu trả lời đúng. Nhưng điều đó không thay đổi được cái gọi là trực giác - Cái Bụng - cứ khăng khăng rằng đáp án còn lại mới là đúng. Ông kể lại: “Tôi biết câu trả lời đúng. Nhưng dường như có một người lùn ở trong đầu tôi cứ liên tục nhảy lên nhảy xuống và quát vào mặt tôi rằng: “Cô ta không thể là một người thu ngân được, đọc lại cái đoạn đó đi’.”

Những gì đang xảy ra thật đơn giản và mạnh mẽ. Công cụ mà Cái Bụng sử dụng để đưa ra các phán quyết là Quy luật Điểm đặc trưng. Một ngày mùa hè đặc trưng sẽ là nóng và đầy ánh nắng, vì vậy liệu có phải rất có thể một ngày mùa hè cụ thể cũng sẽ nóng và đầy nắng? Rất có thể. Đó là một ví dụ đơn giản dựa trên một ý niệm cơ bản về cái gọi là “điển hình” Nhưng chúng ta có thể hình thành những hình ảnh rất phức tạp về tính đặc trưng, ví dụ như một người hoạt động vì quyền bình đẳng của phụ nữ “điển hình” hay một nhân viên thu ngân “điển hình”. Trong mọi trường hợp, chúng ta thực hiện những hình thức đánh giá này, nhưng chúng ta chắc chắn là không để ý rằng mình luôn luôn làm như vậy. Điều này đã khiến cho Quy luật Điểm đặc trưng trở thành một công cụ hiệu quả để đơn giản hóa những hoàn cảnh phức tạp và đưa ra những quyết định có thể tin được trong phút chốc.

Hoặc ít nhất, nó luôn luôn là như vậy. Vấn đề Linda đã cho thấy một trường hợp mà Quy luật Điểm đặc trưng có thể trở nên sai lầm. Khi có một điều gì đó “đặc trưng” dính vào, trực giác của chúng ta sẽ được khởi động. Nó chỉ có cảm giác điều đó là đúng. Và, luôn luôn gắn với trực giác, chúng ta có xu hướng hành động dựa trên trực giác kể cả khi nó chỉ lướt thoáng qua những logic hay chứng cứ. Đó không phải chỉ là những người bình thường, tình cờ bị mắc bẫy trong trường hợp này. Khi Kahneman và Tversky yêu cầu một nhóm bác sĩ đánh giá những khả năng trong một tình huống về y học, Quy luật Điểm đặc trưng đã can thiệp, và hầu hết các bác sĩ đều lựa chọn theo trực giác, mà bỏ qua logic.

Một vấn đề khác là Quy luật Điểm đặc trưng hoàn toàn phụ thuộc vào kiến thức của chúng ta về cái gì là “điểm đặc trưng”. Có một niềm tin về điểm đặc trưng, không may lại rất phổ biến ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, liên quan tới những người đàn ông da đen: Một người đàn ông da đen “đặc trưng” là một kẻ phạm tội, và những kẻ phạm tội “đặc trưng” là những người đàn ông da đen. Một số người tin vào điều đó một cách hoàn toàn có ý thức. Những người khác, có ý thức bác bỏ thành kiến kiểu rập khuôn này nhưng cũng tin vào nó một cách vô thức, thậm chí trong số đó bao gồm cả chính những người da đen. Hãy thử tưởng tượng rằng một người tin vào điều này (có ý thức hay vô thức) đang đi bộ trên vỉa hè nào đó tại thành phố. Một người đàn ông da đen tới gần. Ngay lập tức, Cái Bụng của người này sẽ sử dụng Quy luật Điển hình để kết luận rằng người đàn ông da đen này rất có thể là một tên tội phạm. Nếu Cái Đầu không can thiệp, người đó sẽ lập tức cảm thấy lo lắng và tính tới chuyện bỏ chạy. Nhưng thậm chí cả khi Cái Đầu đã ngăn chặn những suy nghĩ vớ vẩn này thì cảm giác lo lắng dai dẳng vẫn còn ám ảnh. Điều này có thể tạo ra những cử chỉ thể hiện sự không thoải mái với những người đàn ông da đen thường xuyên giáp mặt trên phố.

Có một đặc điểm khác của Quy luật Điển hình ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới cách chúng ta đánh giá các mối nguy hiểm. Vào năm 1982, Kahneman và Tversky đã bay tới Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ để tham dự Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về hoạt động dự báo. Đây không phải là một hội nghị bình thường. Tất cả những người tham dự đều là những chuyên gia, từ các trường đại học, các chính phủ quốc gia, và các tổ chức xã hội. Công việc của những chuyên gia này là đánh giá các xu hướng hiện tại và phân tích về tương lai. Nếu ai đó mong muốn có thể đánh giá về khả năng xảy ra của các xu hướng một cách logic thì hội nghị này chính là nơi phù hợp nhất để họ thực hiện được điều đó.

Các nhà tâm lý học đã đưa ra một phiên bản tương tự như “Câu chuyện Linda” trước hai nhóm, với tổng số 115 chuyên gia. Nhóm thứ nhất được yêu cầu đánh giá khả năng liệu có phải đã xảy ra “sự đóng băng hoàn toàn trong quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Liên Xô thời kì năm 1983 trước đây”. Nhóm thứ hai được hỏi liệu có phải đã diễn ra “một cuộc xâm lược của Liên Xô nhằm vào Ba Lan và sự đóng băng hoàn toàn trong quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Ba Lan trong khoảng năm 1983” hay không?

Theo một cách suy luận logic, mệnh đề thứ nhất phải có nhiều khả năng là sự thật hơn mệnh đề thứ hai. Tuy nhiên, tỉ lệ kết quả của các chuyên gia lại nói lên điều hoàn toàn ngược lại. Cả hai giả thiết đều được cho rằng không chắc xảy ra. Tuy nhiên giả thiết về sự đóng băng quan hệ sau cuộc xâm lược được đánh giá có thể xảy ra nhiều gấp ba lần so với giả thiết về sự đóng băng quan hệ. Cuộc xâm lược của Liên Xô đối với Ba Lan được coi là hành động “điển hình” của Liên Xô. Điều này cũng được cho là phù hợp tương tự như trường hợp “nhà hoạt động tích cực vì quyền bình đẳng của phụ nữ” phù hợp với lý lịch của Linda. Và sự “phù hợp” đó đã ảnh hưởng nặng nề tới đánh giá của các chuyên gia về toàn bộ giả thiết này.

Rất nhiều nghiên cứu khác cũng cho những kết quả tương tự. Kahneman và Tversky đã chia 245 sinh viên tại trường Đại học British Columbia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất được yêu cầu đánh giá khả năng đã có “một trận lụt quy mô lớn xảy ra ở khu vực Bắc Mỹ vào năm 1983 khiến hơn 1.000 người chết đuối.” Nhóm thứ hai được hỏi về “Một trận động đất tại California vào năm 1983, đã gây ra nạn lụt làm cho hơn 1.000 người chết đuối.” Lại một lần nữa, giả thiết thứ hai đáng ra phải có ít khả năng xảy ra hơn so với giả thiết thứ nhất, nhưng những người tham gia trắc nghiệm lại cho thấy câu trả lời rằng giả thiết thứ hai có nhiều khả năng xảy ra gấp ba lần so với giả thiết thứ nhất. Chẳng có điều gì nói lên rằng “California” giống với “động đất” cả.

Theo như Kahneman và Tversky viết lại sau này, Quy luật Điểm đặc trưng “về mặt cơ bản nghiêng theo những nhận định sẽ tạo ra những câu chuyện hợp lý hay những giả thuyết tốt. Sự liên tưởng về “nhân viên thu ngân hoạt động vì phong trào bình quyền” là một giả thuyết tốt hơn về Linda so với giả thuyết “nhân viên thu ngân” và mệnh đề về “một cuộc xâm lược của những người Nga vào Ba Lan, sau đó là cuộc khủng hoảng trong quan hệ ngoại giao” cũng tạo nên một câu tường thuật tốt hơn so với “khủng hoảng ngoại giao.” Cái Bụng của chúng ta rất dễ bị lừa bởi một câu chuyện tốt như vậy.

Để thấy được vấn đề này, hãy mở bất kì một tờ báo nào. Những trang báo đều đầy rẫy những câu chuyện của các chuyên gia về những gì sẽ xảy đến trong tương lai. Những câu chuyện đó đều có một kịch bản đáng sợ. Brill’s Content, một tạp chí đã chấm dứt hoạt động, có một chuyên mục chuyên lần theo dấu vết về sự chính xác của những dự đoán đơn giản, chỉ xảy ra một lần (kiểu như: “Liệu Thượng nghị sĩ Smith có giành được vị trí ứng cử viên của đảng Dân chủ hay không?”) được đưa ra bởi những học giả, chuyên gia nổi tiếng của Mỹ như George Will và Sam Donaldson. Tạp chí này đã so sánh những kết quả dự đoán của họ với lời tiên đoán của một “thầy bói” có tên “Chippy” - một con tinh tinh bốn tuổi, “đưa ra tiên đoán” bằng cách chọn giữa các tờ giấy có tranh và chữ số. Và Chippy đã làm tốt công việc của mình. Trong khi các học giả bình thường chỉ đạt tỉ lệ dự đoán đúng vào khoảng 50% - cũng giống như việc tung đồng xu, có mặt trái, mặt phải thì Chippy đạt được con số ấn tượng: 58%.

Tất nhiên, các học giả không giới hạn “khả năng tương lai học” (futurology) của mình trong những dự đoán đơn giản. Họ thường đưa ra những viễn cảnh, kịch bản phức tạp phân tích xem Thượng nghị sĩ Smith sẽ trở thành ứng cử viên của đảng Dân chủ như thế nào cũng như vẽ nên tương lai của cuộc bầu cử Tổng thống sau đó. Hoặc họ tưởng tượng ra khu vực xảy ra bất ổn tại Li-băng có thể tạo ra một chuỗi các hành động phản ứng và rồi dẫn tới một cuộc chiến tranh giữa các dòng Hồi giáo Sunni và Shia trên toàn bộ khu vực Trung Đông. Hay việc Trung Quốc sẽ từ chối định giá lại đồng Nhân Dân tệ có thể tạo ra một hiệu ứng domino cho tới khi giá nhà tại Mỹ sụt giảm và nền kinh tế toàn cầu chuyển sang giai đoạn suy thoái. Một cách logic, để những dự đoán này trở thành sự thực thì mỗi mắt xích trong dây chuyền sự kiện này đều phải xảy ra. Và so sánh giữa những dự đoán ảm đạm về tương lai đó của các chuyên gia với những dự đoán đơn giản về những điều chỉ xảy ra một lần thì tỉ lệ những dự đoán đó xảy ra có lẽ còn thấp hơn cả tỉ lệ cơ hội Chippy trở thành… Tổng thống.

Tuy nhiên Cái Bụng lại không xử lý những thông tin này một cách logic. Được định hướng bởi Quy luật Điểm đặc trưng, Cái Bụng lại đóng đinh suy nghĩ vào những chi tiết có vẻ hợp lý và sử dụng chúng để đánh giá về khả năng toàn bộ một giả thiết nào đó có thể trở thành sự thật. Kết quả là, theo như Kahneman và Tversky đã viết: “Một viễn cảnh được chi tiết hóa sẽ bao gồm những sự kiện là biểu hiện của thấy một nguyên nhân nào đó và những sự kiện đại diện tiêu biểu có thể có nhiều khả năng xuất hiện hơn là một tập hợp của những sự kiện này.” Thêm vào những chi tiết là sự cường điệu hóa những dự đoán, vẽ nên những viễn cảnh phức tạp. Suy luận logic nói rằng bạn càng đi theo chiều hướng này, thì những dự đoán của bạn càng có ít khả năng là chính xác. Nhưng với hầu hết mọi người, Cái Bụng có sức thuyết phục hơn nhiều so với những suy luận logic thuần túy.

Kahneman và Tversky đã nhận ra rằng điều này cũng có tác động tới dự đoán của các chuyên gia: “Nó góp phần đáng kể vào sự xuất hiện của các giả thiết, kịch bản và sự viển vông, hão huyền của các giả thiết ấy… Một nhà phân tích chính trị có thể phát triển các giả thuyết dự đoán bằng các thêm vào các nguyên nhân có vẻ hợp lý và những kết quả, hậu quả tiêu biểu. Theo như Pooh-Bah giải thích trong cuốn Mikado (Thiên hoàng), sự thêm vào này tạo ra “những chi tiết làm căn cứ vững thêm theo hướng mang tới những cảm giác như đó là thật, là phù hợp một cách hoàn toàn tự nhiên cho những câu chuyện trần trụi chẳng có tính thuyết phục chút nào.”

Liệu điều này có ý nghĩa quan trọng không? Trong hầu hết các trường hợp là không. Rất nhiều những dự đoán của các học giả có thể sẽ không chính xác giống như những bài viết về bói toán ở trang mục khác của tờ báo nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Mặc dù vậy, đôi khi, những ý kiến của những nhà lãnh đạo về tương lai, thì lại rất quan trọng - như đã từng xảy ra trong những tháng trước cuộc xâm lược Iraq năm 2003. Và trong những thời điểm đó, nhược điểm của Cái Bụng khi tham gia tác động vào một câu chuyện được kể ra rất hay có thể gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

QUY LUẬT ĐIỂN HÌNH

Khi một bánh xe Rulet bắt đầu quay, và quả bóng rơi xuống, kết quả sẽ là hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong bất cứ vòng quay nào, quả bóng có thể rơi vào bất cứ con số nào, đen, hay đỏ. Nhưng tỉ lệ sẽ không bao giờ thay đổi.

Những lớp địa chất kiến tạo không phải là những bánh xe Rulet, và những trận động đất cũng không phải là những sự kiện ngẫu nhiên. Sức nóng được tạo ra từ lõi trái đất không ngừng tỏa lên các tầng địa chất phía trên bề mặt. Các tầng này cọ xát với nhau, sự chuyển động của các tầng bị chặn lại bởi lực ma sát khiến cho sức ép từ bên dưới dần tăng lên cho tới khi các lớp lắc mạnh, rung lên và chòng chành, lảo đảo như trong những giây phút mà chúng ta phải trải nghiệm và gọi nó là một trận động đất. Khi sức ép được giải tỏa, sự va chạm ngừng lại và một chu kì khác giống như vậy lại bắt đầu.

Với những người không may có giường ngủ đặt ngay phía trên những lớp địa chất nơi những tầng địa chất kiến tạo gặp nhau. Sự thực đơn giản này là thông điệp cho biết những nguy hiểm mà họ phải đối mặt. Quan trọng nhất, đó là những mối nguy hiểm rất khác nhau. Không giống như vòng quay của bánh xe Rulet, khả năng xảy ra một trận động đất không phải lúc nào cũng như vậy. Khả năng đó sẽ ngay lập tức ở mức thấp nhất ở thời điểm ngay sau khi một trận động đất vừa xảy ra. Khả năng đó tăng dần theo thời gian và sức nén được tạo ra. Và trong khi các nhà khoa học chưa thể có những dự đoán chính xác thời điểm khi nào một trận động đất sẽ xảy ra, thì dù sao họ cũng có khả năng ghi nhận những dấu hiệu cho thấy mối hiểm nguy đang tăng dần.

Nếu như biết được về điều này thì đáng lẽ chúng ta cũng sẽ rõ hơn về các loại hình bán bảo hiểm động đất. Bởi nguy cơ động đất sẽ ở mức thấp nhất khi vừa xảy ra một trận động đất, thì đáng lẽ việc bán bảo hiểm cũng sẽ ở mức thấp nhất. Thời gian trôi qua, theo logic, việc bán bảo hiểm cũng tăng lên theo. Và khi các nhà khoa học bắt đầu cảnh báo về một trận động đất lớn, cũng là lúc thích hợp để bảo hiểm động đất bùng nổ. Tuy nhiên, trong thực tế, việc kinh doanh bảo hiểm động đất lại đi theo diễn biến hoàn toàn ngược lại. Nó ở mức cao nhất ngay lập tức sau một trận động đất, và giảm dần đều khi thời gian trôi qua. Hiện giờ, chúng ta bắt đầu nhận thức được về điều này. Việc phải trải qua một trận động đất là cách khủng khiếp để nhắc bạn rõ rằng, đúng, căn nhà của bạn có thể bị san phẳng. Nhưng điều lạ là người ta có thể để cho khoản bảo hiểm của mình bị lỡ khi thời gian dần trôi qua. Và điều kì quái nữa là mọi người lại không đổ xô đi mua bảo hiểm khi các nhà khoa học đưa ra những lời cảnh báo.

Ít nhất, có thể nói, điều này không liên quan tới Cái Đầu. Còn với cái bụng, rõ ràng nó đã tạo ra một cảm giác hoàn hảo. Một trong những quy luật đơn giản nhất về dấu hiệu của Cái Bụng là rất dễ để gợi nhớ lại những ví dụ về một điều gì đó, người ta càng dễ bị gợi nhớ về nó thì nó sẽ càng phải trở nên phổ biến. Đó là “khám phá giá trị có sẵn”, hay là cái mà tôi gọi là Quy luật Điển hình.

Kahneman và Tversky đã mô tả ảnh hưởng của Quy luật Điển hình theo một cách đặc biệt nhẹ nhàng. Trước tiên, họ yêu cầu một nhóm sinh viên liệt kê càng nhiều càng tốt những từ mà họ có thể nghĩ ra để phù hợp với dạng: n . Các sinh viên có 60 giây để làm điều này. Số lượng từ trung bình mà các sinh viên này nghĩ ra được là 2,9 từ. Sau đó, một nhóm sinh viên khác cũng được yêu cầu làm tương tự như vậy, cũng trong giới hạn thời gian như vậy, nghĩ ra những từ phù hợp với dạng: _ ing. Lần này, số từ trung bình là 6,4 từ.

Xem xét cẩn thận, chúng ta có thể nhận ra rõ ràng có một điều gì đó kì lạ ở đây. Dạng từ đầu tiên cũng chỉ giống như dạng thứ hai, chỉ có chữ “i” và chữ “g” thì bị bỏ đi. Điều này có nghĩa rằng bất cứ từ nào thỏa mãn dạng thứ hai cũng chắc chắn phải phù hợp với dạng thứ nhất. Vì thế, dạng từ thứ nhất thực sự phổ biển hơn. Tuy nhiên dạng thứ hai lại dễ nghĩ ra hơn.

Được thông tin này hỗ trợ, Kahneman và Tversky đã yêu cầu một nhóm sinh viên khác nghĩ về bốn trang của một cuốn tiểu thuyết. Họ nói với các sinh viên rằng trong bốn trang đó có khoảng 2.000 từ; “Các bạn cho rằng có thể tìm thấy bao nhiêu từ có dạng ing trong bốn trang đó?” Dự đoán trung bình là 13,4 từ. Sau đó họ hỏi một nhóm sinh viên khác cũng với một câu hỏi tương tự dành cho từ có dạng n. Và kết quả trung bình là 4,7 từ.

Thí nghiệm này đã được tiến hành lặp đi lặp lại dưới nhiều dạng nhưng kết luận vẫn luôn luôn là như vậy: Người ta càng dễ để nghĩ về những ví dụ cho một điều gì đó thì họ càng có xu hướng nhìn nhận điều gì đó cũng giống như vậy.

Hãy để ý rằng không phải chính những ví dụ đã ảnh hưởng tới những nhận thức trực giác của Cái Bụng. Thậm chí cũng không phải là con số những ví dụ được gợi nhớ lại. Mà đó là mức độ dễ dàng khi các ví dụ đó đến với trí óc của chúng ta. Trong một nghiên cứu của mình, nhà tâm lý học Alexander Rothman và Norbert Schwarz đã yêu cầu những người tham gia thí nghiệm liệt kê 3 hoặc 8 hành vi mà cá nhân họ tham gia có thể tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Thật lạ lùng, những người nghĩ về 3 hành vi nguy cơ đã cho rằng mình có nguy cơ bị mắc bệnh tim cao hơn những người nghĩ về 8 hành vi. Một cách logic, kết quả đáng ra phải đi theo hướng khác, danh sách liệt kê càng dài thì nguy cơ phải càng lớn. Vậy cái gì đã tác động ở đây? Lời giải thích nằm ở sự thật, sự thật mà Rothman và Schwarz đã biết từ cuộc thử nghiệm trước đó, rằng hầu hết mọi người đều dễ dàng nghĩ về 3 yếu tố tăng nguy cơ bệnh tim, nhưng rất khó để nghĩ ra 8. Và, chính sự dễ dàng của việc gợi nhớ lại, chứ không phải sự rõ ràng của những gì được gợi nhớ, đã định hướng trực giác.

Nghiên cứu của Rothman và Schwarz cũng cho biết sự tương tác giữa Cái Đầu và Cái Bụng có thể trở nên phức tạp và tinh vi tới mức độ nào. Các nhà nghiên cứu lại tiếp tục chia những người tham gia thí nghiệm làm hai nhóm: những người có tiền sử bệnh tim và những người không. Với những người không có tiền sử bệnh tim, kết quả đã được phác họa ở trên. Nhưng những người có tiền sử bệnh này thì lại cho thấy những kết quả hoàn toàn ngược lại. Những người phải vật lộn để nghĩ ra 8 hành vi thúc đẩy nguy cơ bệnh tim lại cho rằng họ có nguy cơ bị mắc bệnh tim cao hơn những người chỉ nghĩ ra 3 ví dụ. Tại sao lại có những kết quả khác nhau như vậy? Những người không có tiền sử bệnh tim không có lý do đặc biệt, cụ thể nào để lo lắng, và không có căn cứ nào để đưa ra phán đoán của mình về nguy cơ bệnh tim, vì thế họ có những phán đoán thông thường hơn và có xu hướng đi theo dự đoán mà Cái Bụng đã nghĩ ra trên cơ sở Quy luật Điển hình. Nhưng những người có tiền sử tim lại có những lý do đầy sức thuyết phục để suy nghĩ kĩ về điều này. Và khi họ thực hiện thí nghiệm, Cái Đầu đã bảo họ rằng Cái Bụng sai rồi! Nguy cơ sẽ cao hơn nếu bạn tham gia vào ba hành vi như vậy. Một nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi những nhà khoa học khác, lần này, một số phụ nữ tham gia trả lời một bài trắc nghiệm về những vụ cưỡng bức tình dục, kết quả thu được cũng như vậy: Những người chưa từng nghĩ về nguy cơ này, về mặt cá nhân, hoàn toàn dựa theo dự đoán của Cái Bụng, trên cơ sở Quy luật Điển hình, trong khi đó, những người có trực giác đúng đắn đã đưa ra một kết luận hợp logic hơn nhiều.

Cũng giống như quy luật về dấu hiệu đối với những nhóm thợ săn lang thang trên những vùng đồng cỏ của châu Phi, Quy luật Điển hình cũng có tác động rất tốt. Đó là bởi não bộ đã chọn lọc những kí ức có mức độ ưu tiên thấp: thời gian trôi qua, và nếu một kí ức không được dùng đến, nó dường như sẽ mờ dần. Vì thế nếu bạn phải vắt óc để nhớ ra rằng đã từng có ai đó phát ốm sau khi uống nước từ cái ao tù đó thì đó là khi hành động đó đã xảy ra từ lâu và một sự tình cờ tương tự không được lặp lại kể từ lần đó. Điều đó dẫn đến kết luận rằng: “Nước ở trong ao là an toàn, uống được” trở nên hợp lý, chấp nhận được. Nhưng nếu bạn ngay lập tức nhớ lại về một ví dụ (trường hợp) đã có ai đó uống nước ở đây, sau đó mặt họ trở nên xám ngoét, và việc này có vẻ như mới xảy ra gần đây thì bạn nên tìm ai đó khác để uống nước ở cái ao đó chứ không nên uống làm gì. Đó là cách mà Cái Bụng của bạn sử dụng những trải nghiệm và kí ức.

Quy luật Điển hình đặc biệt hữu ích để bạn có thể học được một điều gì đó từ những trải nghiệm tồi tệ nhất. Một con rắn cuộn tròn và phun phì phì từ từ trườn đến chỗ chân bạn. Một chiếc xe tải đi ngược chiều đột nhiên trượt bánh lao sang bên lề đường, sượt qua làn xe của bạn. Một người đàn ông gí dao vào cổ bạn và bảo bạn đứng im, không được chống cự. Trong mỗi trường hợp, hạch hạnh nhân, một bộ phận của não có hình dáng giống quả hạnh, sẽ khởi động quá trình giải phóng các hormone, trong đó có adrenaline và cortisol. Đồng tử mắt bạn sẽ mở rộng ra, tim bạn đập dồn dập, các bắp cơ căng ra. Đây là phản ứng nổi tiếng bay-hay-chạy. Nó có xu hướng tạo ra một phản ứng tức thời để ứng phó với mối nguy cấp nhưng cũng bao gồm một yếu tố có khả năng kéo dài tác động: Những hormone hạch hạnh nhân tiết ra sẽ tạm thời tăng chức năng của bộ nhớ do đó trải nghiệm hãi hùng này sẽ được mã hóa một cách rõ ràng, sâu sắc, và được ghi nhớ. Kí ức không mấy tốt đẹp này sẽ kéo dài, và có sức thuyết phục mạnh mẽ. Một thời gian dài sau khi bình tâm trở lại, thậm chí trong nhiều trường hợp, có thể tới nhiều năm, chúng vẫn có thể được gợi lại dễ dàng tới mức đáng sợ. Và chỉ riêng sự thực này sẽ khiến Cái Bụng “nhấn nút báo động” rằng những trải nghiệm của chúng ta là một cảm giác chẳng mấy dễ chịu về một mối đe dọa nào đó.

Thậm chí cả trong những trường hợp ít khẩn cấp hơn nhiều so với những trường hợp gây ra phản ứng bay-hay-nhảy nêu trên, thì hạch hạnh nhân vẫn đóng một vai trò then chốt. Các nhà khoa học về thần kinh nhận thấy hạch hạnh nhân của những người đang ngồi trong một phòng thí nghiệm yên tĩnh và an toàn tại một trường đại học cũng vẫn sẽ lập tức phản ứng khi những hình ảnh đáng sợ hay có tính đe dọa được chiếu lên. Mức độ của hành động phản ứng sau đó sẽ tương ứng với mức độ gợi nhớ lại của con người. Theo nhà tâm lý học Daniel Schacter kể lại trong cuốn sách The Seven Sins of Memory (Bảy lỗi của kí ức), những người được cho xem một chuỗi các hình ảnh sắp xếp từ hình ảnh ban đầu bình thường: một người mẹ dắt tay đứa con đi tới trường, cho tới hình ảnh khủng khiếp: đứa trẻ bị một chiếc ô tô đâm phải, họ sẽ dễ dàng nhớ hình ảnh đáng sợ đó hơn so với những người khác.

Tuy nhiên, một hình ảnh không cần thiết phải đáng sợ như chiếc ô tô đâm vào đứa trẻ cũng có thể có được hiệu ứng này. Một bộ mặt đầy hoảng sợ, kinh hãi cũng có thể được ghi nhớ dễ dàng. Nhà thần kinh học Paul Whelan thậm chí còn phát hiện ra rằng nếu hình ảnh về một khuôn mặt kinh hãi được vụt đưa ra trong phút chốc, tới mức người ta không có ý thức rằng khuôn mặt đó là kinh hãi, thì họ vẫn sẽ cảm nhận được rằng đó là một khuôn mặt đờ đẫn, điều này vẫn sẽ kích thích hạch hạnh nhân. Nó vẫn có thể làm kí ức này trở nên sống động, kéo dài, và có thể được gợi lại.

Chắc chắn nỗi sợ hãi là cách hiệu quả nhất để khắc sâu một kí ức, tuy nhiên, vẫn còn có những con đường khác. Bất cứ nội dung về tâm lý nào cũng có thể tạo ra một “mảnh giấy ghi lại kí ức”. Những từ ngữ cụ thể như quả táo, ô tô, khẩu súng sẽ dễ được ghi nhớ hơn những thứ trừu tượng như các con số. Những bộ mặt người đặc biệt có xu hướng dễ được khắc sâu vào tâm trí của chúng ta, ít nhất là khi nó đang bộc lộ một nét tâm trạng nào đó. Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng những hình ảnh như vậy sẽ khuấy động hạch hạnh nhân cũng giống như các hình ảnh gây sợ hãi vậy. Và tất cả các hiệu ứng này tích lũy dần dần. Do đó, một hình ảnh nổi bật, gây ấn tượng, một hình ảnh đầy biểu cảm, đặc biệt là một cái gì đó mô tả một khuôn mặt người thẫn thờ, mất trí hay quẫn trí. Những hình ảnh này hầu như chắc chắn sẽ xuyên qua tất cả sự quay cuồng của các cảm giác mà trong từng khoảnh khắc, chiếm lấy toàn bộ sự tập trung của chúng ta và xới sâu vào kí ức. Một bé gái bị ngã ôm chặt lấy đầu gối, lăn lộn đau đớn và khóc nức nở, đứa bé đó có thể chỉ hoàn toàn là một người xa lạ nhưng tôi sẽ nhớ hình ảnh này, ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó, chứ không phải là những cuộc nói chuyện nhàm chán về các loại thuế má tại bữa tối hôm đó, với một người đàn ông mà tôi gần như đã quên luôn tên ông ta ngay khi tôi nghe thấy.

Tính chất khác thường hay mới lạ cũng sẽ giúp một điều gì đó thâm nhập vào kí ức của chúng ta. Các nhà tâm lý học đã phát hiện ra rằng người ta có thể luôn luôn đưa ra những giải thích chi tiết về những gì đã xảy ra trong công việc của họ ngày hôm qua. Nhưng một tuần sau đó, hầu hết những chi tiết này đã biến mất và những gì đã xảy ra được sắp xếp như những sự việc trong một ngày làm việc rất bình thường. Nói cách khác, đó là sự ước chừng của con người. Vấn đề ở đây là cái mà Daniel Schacter gọi là “sự can thiệp” (sự nhiễu). Những gì mà bạn đã làm vào ngày thứ Hai là tương tự như những gì bạn đã làm ngày thứ Ba cũng như những ngày làm việc khác. Và vì vậy, khi bạn cố gắng nhớ lại xem bạn đã làm gì vào thứ Hai tuần trước, những trải nghiệm từ những ngày làm việc khác sẽ can thiệp vào. Nhưng nếu thứ Hai là ngày làm việc cuối cùng của bạn trước khi được nghỉ lễ, một tuần sau, bạn sẽ có thể nhớ về nó tốt hơn nhiều bởi vì nó đã trở nên bất bình thường hơn nhiều so với những ngày làm việc khác.

Sự tập trung và sự tái diễn cũng là những yếu tố thúc đẩy việc ghi nhớ. Nếu bạn nhìn thấy một cái gì đó - bất cứ thứ gì - và không suy nghĩ tới nó lần thứ hai, nó sẽ rất có khả năng được mã hóa vào kí ức của bạn và tan biến khỏi ý thức của bạn như thể chưa bao giờ xảy ra. Nhưng nếu bạn dừng lại và suy nghĩ về nó, bạn sẽ khiến kí ức về nó mạnh thêm lên một chút, và được kéo dài thêm một chút. Thực hiện điều này thêm nhiều lần nữa, kí ức sẽ tiếp tục mạnh lên. Các sinh viên thường xuyên làm như vậy khi họ trong kì thi. Tuy nhiên, quá trình này còn có thể có những cách rất khác so với cách thông thường: một cuộc nói chuyện rất bình thường dưới làn nước mát cũng sẽ có tác dụng tương tự, gợi nhớ kí ức quay trở về với ý thức.

Việc ghi nhớ những trải nghiệm về nguy hiểm hiển nhiên có giá trị mang tính sống còn đối với con người chúng ta. Nhưng ngoài điều đó ra, khả năng này còn có giá trị lớn hơn, với tổ tiên chúng ta, và cả chúng ta cũng vậy. Đó là khả năng học và nhớ từ những trải nghiệm của người khác. Sau tất cả, sẽ chỉ có một mình bạn. Nhưng khi bạn ngồi bên một đống lửa sau ngày dài đi hái lượm, xung quanh bạn sẽ có 20-30 người nữa. Nếu bạn có thể học được những kinh nghiệm của họ, bạn sẽ nhân lên gấp 20-30 lần lượng thông tin, mà dựa trên đó, bạn có thể đưa ra những phán đoán, tri thức của mình.

Việc chia sẻ kinh nghiệm có nghĩa là kể các câu chuyện. Nó cũng có nghĩa là hình tượng hóa các sự kiện mà những người đang ngồi cạnh bạn kể lại cho bạn, tưởng tượng ra hình ảnh thành viên khờ khạo nhất của bộ lạc đang lội qua một chỗ nước nông của khúc sông; tưởng tượng anh ta đang mò mẫm, chọc chọc vào một khúc gỗ đang nổi dập dềnh bằng cái gậy tìm đường đi của mình; hãy tưởng tượng rằng khúc gỗ đó đột nhiên hóa ra là một con cá sấu; hãy tưởng tượng ra vệt bong bóng nước sủi lên như là những dấu vết cuối cùng của người đàn ông khờ khạo đó. Bằng việc tưởng tượng ra những hình ảnh đó và chuyển nó vào bộ nhớ, Cái Bụng có thể sử dụng những hình ảnh này để đưa ra những quyết định hành động về sau như thể đó đã là những kinh nghiệm cá nhân. Liệu có mối nguy hiểm bị cá sấu tấn công ở rìa nước? Có. Bạn có thể nhớ lại về điều này như một sự tình cờ. Khả năng những thanh gỗ mục trôi nổi thực ra không phải là thanh gỗ mục? Có thể lắm chứ, và sự tình cờ này sẽ dễ dàng được gợi nhớ lại. Bạn có thể sẽ không nhận thức một cách có ý thức về những phân tích này, nhưng bạn sẽ ý thức được về kết luận: Bạn sẽ có một cảm giác, một nhận thức, một linh cảm rằng bạn không nên tiến thêm một bước nào nữa. Cái Bụng đã học được bài học từ kinh nghiệm bi thảm của một người khác.

Nhưng không phải tất cả những cảnh tượng được tưởng tượng ra đều có tác động như nhau. Một sự kiện được kể bởi một người thực sự đã trải qua nó sẽ cung cấp những kinh nghiệm có giá trị và mang tính thực tiễn. Nhưng một cảnh tượng được “vẽ ra, sáng tác nên” bởi một người kể chuyện thì lại là một điều hoàn toàn khác. Đó là những điều hư cấu. Và đáng lẽ ra, Cái Bụng phải có cách phản ứng tương ứng với những sự hư cấu này, nhưng nó lại không làm như vậy.

Một trong những thí nghiệm đầu tiên kiểm chứng sức mạnh tác động của sự tưởng tượng đối với khả năng trực giác đã được tiến hành trong chiến dịch bầu cử Tổng thống Mỹ vào năm 1976. Một nhóm được yêu cầu tưởng tượng rằng Gerald Ford sẽ chiến thắng trong cuộc bầu cử và giành được chiếc ghế Tổng thống. Sau đó họ được hỏi liệu Ford có thể chiến thắng trong cuộc bầu cử này không. Nhóm còn lại cũng được hỏi câu hỏi tương tự đối với Jimmy Carter. Vậy thì ai có nhiều khả năng giành chiến thắng hơn? Hầu hết những người ở trong nhóm được yêu cầu tưởng tượng rằng Ford sẽ thắng thì đều trả lời rằng đó là Ford. Trong khi những người ở nhóm còn lại thì trả lời là Carter. Những thí nghiệm sau này cũng cho những kết quả tương tự. Liệu bạn có khả năng bị bắt không? Bạn có cơ may trúng xổ số không? Những người đã tưởng tượng về những điều này đều có cảm giác những sự kiện ấy có nhiều khả năng xảy ra hơn so với những người không tưởng tượng.

Trong một phiên bản phức tạp hơn của nghiên cứu này, các nhà tâm lý học Steven Sherman, Robert Cialdini, Donna Schwartzman, và Kim Reynolds đã nói với 120 sinh viên trường Đại học Bang Arizona rằng một căn bệnh mới đang lây lan trong trường. Các sinh viên được chia thành bốn nhóm. Nhóm đầu tiên được yêu cầu đọc một đoạn mô tả các triệu chứng của căn bệnh mới này: suy giảm thể lực, đau nhức cơ, đau đầu. Nhóm thứ hai cũng được yêu cầu đọc về các triệu chứng, nhưng lần này các triệu chứng khó tưởng tượng hơn: một cảm giác mất phương hướng mơ hồ, hệ thống thần kinh gặp sự cố, và viêm gan. Nhóm thứ ba được cung cấp bản liệt kê những triệu chứng dễ tưởng tượng và được yêu cầu tưởng tượng thật chi tiết rằng họ đã nhiễm bệnh và đang trải qua những triệu chứng của bệnh này. Nhóm thứ tư nhận được những triệu chứng khó tưởng tượng và cũng được yêu cầu tưởng tượng rằng họ đã bị nhiễm bệnh. Sau cùng, tất cả các nhóm được yêu cầu trả lời một câu hỏi đơn giản: “Liệu có bao nhiêu phần trăm khả năng bạn sẽ nhiễm phải” căn bệnh này trong tương lai?

Theo đúng như dự đoán, những sinh viên được đưa cho những triệu chứng dễ tưởng tượng và cũng đã thử tưởng tượng mình bị nhiễm bệnh đánh giá khả năng này cao nhất. Mức cao thứ hai là hai nhóm không thực hiện bài tập tưởng tượng. Mức thấp nhất là từ nhóm những sinh viên nhận được những triệu chứng khó tưởng tượng, và thực hiện bài tập tưởng tượng. Điều này đã chứng minh một điểm quan trọng liên quan đến sự tưởng tượng: Nó không chỉ đơn thuần là hành động tưởng tượng được phát triển từ đánh giá của Cái Bụng về một điều gì đó có nhiều khả năng xảy ra hay không, điều đó dễ tưởng tượng như thế nào. Nếu hành động tưởng tượng được thực hiện dễ dàng, đánh giá của Cái Bụng về khả năng xảy ra sẽ tăng lên. Nhưng nếu khó tưởng tượng ra, nó sẽ đem lại cảm giác rằng điều đó khó xảy ra nếu chỉ dựa trên một nguyên nhân đó.

Có thể có một chút bất ngờ khi nghĩ rằng hành động tưởng tượng lại tác động tới những suy nghĩ của chúng ta mạnh tới mức như vậy. Nhưng trong rất nhiều hoàn cảnh, từ những liệu pháp tâm lý cho tới những môn thể thao đỉnh cao, sự tưởng tượng được sử dụng như một công cụ hữu ích có thể đem lại hiệu quả giống như một loại thuốc an thần công hiệu.

Sự tưởng tượng có tác dụng rất mạnh. Khi một đoạn quảng cáo của một công ty xổ số hay sòng bạc nào đó, gợi lên sự tưởng tượng rằng chúng ta sẽ chiến thắng, khẩu hiệu của một công ty xổ số là: “Đơn giản là hãy tưởng tượng”, thì nó sẽ tác động tới chúng ta nhiều hơn là đơn giản chỉ dẫn chúng ta tới một giấc mơ giữa ban ngày. Nó sẽ khiến chúng ta phải làm gì đó để nâng cao trực giác của mình về cơ may trúng được món hời, và điều này rất dễ để thuyết phục chúng ta đánh bạc. Sẽ không có chuyện “chỉ đơn giản là” tưởng tượng.

Đó không phải là trường hợp tiềm năng duy nhất mà Cái Bụng có thể sử dụng Quy luật Điển hình. Ngoài ra, còn là vấn đề về độ đáng tin cậy của kí ức.

Hầu hết mọi người nghĩ rằng kí ức giống như một chiếc camera ghi lại những hình ảnh và giữ chúng để có thể gợi nhớ lại trong tương lai. Chắc chắn rằng sẽ có lúc chiếc camera này bỏ lỡ một khoảnh khắc nào đó. Và đôi khi rất khó để tìm thấy một bức ảnh cũ. Nếu không thì kí ức đã giống như một chiếc hộp chứa đầy các bức ảnh phản ánh một cách trực tiếp và đáng tin cậy về sự thực.

Thật không may, thậm chí “những bức ảnh” này cũng không mấy gần với sự thật. Kí ức sẽ được mô tả chính xác hơn nếu ta gọi đó là một quy trình xử lý. Những kí ức sẽ mờ dần đi, tan biến hẳn, hoặc bị biến đổi, đôi khi là biến đổi một cách đột ngột. Thậm chí cả những kí ức mạnh nhất, được hình thành khi sự tập trung của chúng ta đạt tới mức cao độ và xúc cảm bị dồn nén cũng có thể bị thay đổi. Một mô hình thí nghiệm phổ biến mà các nhà nghiên cứu về kí ức tiến hành liên quan tới những sự kiện lớn, tiêu biểu như vụ khủng bố 11-9. Trong những ngày ngay sau vụ tấn công kinh hoàng này, các sinh viên, được yêu cầu viết lại xem họ biết gì về tin tức của vụ khủng bố này, khi đó họ đã ở đâu, đang làm gì, nguồn tin đó tới từ đâu… Nhiều năm sau, những sinh viên này lại được hỏi lại những câu hỏi trên và kết quả giữa hai lần được đem ra so sánh. Các câu trả lời đó không khớp nhau. Thường thì sự khác nhau là khá nhỏ, nhưng đôi khi toàn bộ hoàn cảnh và những người có dính líu lại khác nhau. Khi các sinh viên được đưa cho xem lại những đoạn trả lời trước đây của họ, và được nói rằng những kí ức về chuyện đó của họ đã thay đổi, họ thường khẳng định khăng khăng rằng kí ức hiện tại của họ mới là chính xác, còn những gì trước đây là không chính xác - lại một ví dụ nữa về xu hướng của chúng ta, nghiêng theo những gì mà vô thức nói với chúng ta, kể cả khi chẳng có lý do gì lý giải được tại sao chúng ta lại làm như vậy.

Trí óc thậm chí còn có thể bịa ra những kí ức. Trong một số dịp nào đó, Ronald Reagan đã nhớ lại những trải nghiệm của mình trong chiến tranh và chuyển thành những tác phẩm điện ảnh của Hollywood. Đây dường như là những lỗi thuộc về tính trung thực. Kí ức của Reagan đơn giản là đã nhận lấy những hình ảnh từ những kí ức cá nhân và chuyển chúng thành bộ phim đó. Người ta đã phát hiện ra lỗi này bởi, với tư cách là Tổng thống, những bình luận, phát biểu của ông được xem xét, mổ xẻ cực kì tỉ mỉ. Nhưng loại lỗi này trong thực tế còn phổ biến hơn nhiều so với những trường hợp chúng ta phát hiện ra. Trong một loạt các thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã đặt ra các ngữ cảnh như bị lạc đường trong khu mua sắm, ở lại qua đêm tại một bệnh viện với một bên tai bị nhiễm trùng. Sau đó họ yêu cầu những người tình nguyện tưởng tượng về sự kiện đó trong vài ngày, hoặc viết ra theo tưởng tượng sự việc diễn biến như thế nào. Vài ngày sau, các nhà khoa học phỏng vấn họ và thu được kết quả rằng từ 20 đến 40% người trong số họ đã tượng tượng rằng các ngữ cảnh này thực sự xảy ra.

Một vấn đề nữa, mang tính cơ bản hơn đối với Quy luật Điển hình, đó là nó nghiêng theo thành kiến và xu hướng, bởi cách làm việc của trí nhớ. Gần đây, những sự kiện mang tính xúc cảm, sâu sắc, sinh động hay mới lạ dường như có nhiều khả năng đi vào kí ức của chúng ta hơn những sự kiện khác. Trong hầu hết các trường hợp, điều đó là tốt, bởi chúng ta thực sự cần phải ghi nhớ những sự kiện loại này.

Nhưng những thành kiến trong trí nhớ của chúng ta sẽ được phản ánh qua những nhận định của Cái Bụng trên cơ sở sử dụng Quy luật Điển hình - điều giải thích nghịch lý người ta mua bảo hiểm động đất khi khả năng xảy ra động đất là thấp nhất, và lại không tham gia bảo hiểm khi nguy cơ rủi ro tăng lên. Nếu một trận động đất vừa mới làm rung chuyển thành phố nơi tôi ở, kí ức đó sẽ tươi mới, sâu sắc và đầy hoảng sợ. Cái Bụng sẽ la lên: Cẩn thận đấy! Mua bảo hiểm đi. Nhưng nếu tôi đã sống ở nơi này vài chục năm rồi mà chưa hề có một trận động đất nào, Cái Bụng sẽ chỉ nhún vai khinh thường. Không chỉ có vậy, những cảnh báo được đưa ra bởi các nhà khoa học sẽ kích động Cái Bụng bởi nó chẳng biết chút gì về khoa học. Nó chỉ biết những gì mà Quy luật Điển hình cho nó biết, mà Quy luật Điển hình thì nói rằng đừng lo lắng về những trận động đất nếu bạn phải vắt óc mới có thể tưởng tượng về một trận động đất xảy ra.

Nhà nghiên cứu Robert Kates đã viết vào năm 1962: “Những người phải gánh chịu những trận lũ đồng bằng dường như rất có thể phải trở thành “tù nhân” của chính những trải nghiệm của họ” khi than phiền rằng người ta vẫn xây dựng những tòa nhà cao tầng bất chấp đã được cảnh báo về những trận lũ chắc chắn có thể ập tới. Chúng ta đã được chứng kiến động lực này hoạt động sau trận sóng thần khủng khiếp quét qua Ấn Độ Dương vào ngày 26 tháng 12 năm 2004. Về sau chúng ta biết được rằng các chuyên gia trước đó đã than phiền về tình trạng thiếu một hệ thống cảnh báo sóng thần. Họ tranh cãi rằng hệ thống đó không hề tốn chi phí lớn, trong khi một cơn sóng thần có thể bất thình lình ập đến bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, đó là một chủ đề tranh cãi khá hàn lâm và không mấy ai hào hứng với nó. Rất nhiều người thậm chí còn chưa từng nghe thấy từ sóng thần cho tới ngày 230.000 người đã thiệt mạng vì nó. Và khi điều đó xảy ra, trên toàn thế giới, người ta bắt đầu nói về những trận sóng thần. Tại sao lại không có một hệ thống cảnh báo trước đặt tại đó? Liệu nó có thể xảy ra ở đây hay không? Liệu hệ thống cảnh báo của chúng ta đã đủ tốt hay chưa? Những câu hỏi này đã trở thành một chủ đề nóng trong khoảng một đến hai tháng. Nhưng thời gian trôi qua, và không còn những trận động đất nữa. Những kí ức mờ nhạt dần và mối quan tâm, quan ngại cũng vậy, ít nhất là cho tới bây giờ. Một nhóm các nhà khoa học đã cảnh báo rằng có một trận sóng thần đang được hình thành ngoài khơi quần đảo Canary ở bờ biển châu Phi và một ngày nào đó, phần lớn hòn đảo sẽ bị nhấn chìm xuống đại dương, gây ra một trận động đất khủng khiếp càn quét Đại Tây Dương và tàn phá tất cả các vùng bờ biển từ Brazil đến Canada. Các nhà khoa học khác lại nghi ngờ những cảnh báo này. Nhưng chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng, nếu điều này xảy ra, thì sự quan tâm dành cho chủ đề hàn lâm này sẽ ngay lập tức nổi lên trở lại.

Kinh nghiệm, trải nghiệm là một điều có giá trị, và Cái Bụng đã đúng khi dựa các trực giác vào đó, nhưng chỉ kinh nghiệm và trực giác thôi không đủ. Benjamin Franklin đã viết: “Kinh nghiệm là một ngôi trường đáng quý, nhưng những kẻ khờ dại thì sẽ chẳng học ở đâu khác ngoài nơi đó.”

Franklin đã viết những câu này từ giữa thế kỉ 18. Trên cơ sở nhận thức của loài người ở đầu thế kỉ 21, khoảng thời gian là rất dài, nhưng những thuật ngữ mang tính cách mạng thì vẫn còn nguyên giá trị như mới được phát hiện ra sáng nay. Bộ óc của Franklin đặc biệt uyên bác, nhưng, về mặt cơ bản, nó vẫn chẳng khác gì so với bộ não của các bạn, hay của tôi, và của cả những con người đã lần đầu tiên biết gieo những hạt giống xuống đất 12.000 năm trước. Bộ não ấy cũng giống như bộ não của những người đã vẽ nguệch ngoạc những nét đầu tiên lên bức tường của một cái hang 40.000 năm trước.

Như chúng ta đã thấy, trái đất này, nơi con người cư trú, đã thay đổi rất ít trong phần lớn thời gian qua. Và sau đó, thì nó lại thay đổi tới mức hầu như vượt xa mọi sự tưởng tượng. Thành phố đầu tiên được hình thành chỉ mới cách đây 4.600 năm, và nó không bao giờ vượt quá dân số 65.000 người. Nhưng ngày nay, một nửa nhân loại sống tại các thành phố, và hơn 80% trong số đó sống tại các nước phát triển.

Yếu tố thậm chí có ảnh hưởng còn sâu rộng hơn sự thay đổi của môi trường vật lý là sự thay đổi trong cách giao tiếp, cách kết nối của chúng ta. Những nét chữ thô sơ đầu tiên, được diễn tả bằng những kí tự cào trên đất sét mềm đã xuất hiện 5.000 năm trước. Gutenberg đã phát minh ra kĩ thuật in hiện đại cách đây 550 năm, và đó cũng là thời kì Benjamin Franklin đưa ra những nhận xét dí dỏm của mình về những hạn chế của kinh nghiệm.

Bức ảnh đầu tiên được chụp 180 năm trước. Truyền thanh ra đời cách đây một thế kỉ, sau đó 30 năm là sự xuất hiện của những chiếc ti vi. Và mới chỉ cách đây 48 năm, thông điệp từ vệ tinh đầu tiên mới được phát đi – đó là lời chúc mừng Giáng sinh của Tổng thống Mỹ Eisenhower.

Sau đó tới lượt truyền hình cáp, máy fax, máy ghi âm, e-mail, điện thoại di động, sản phẩm kĩ thuật số và vệ tinh radio. Chỉ cách đây chưa đầy 20 năm thôi, những nhà báo hiếm hoi biết được về sự tồn tại của Internet và viết về nó sẽ phải đặt từ này trong dấu ngoặc kép và giải thích cụ thể về đặc điểm của công cụ đầy bí ẩn này. Ngày nay, Internet đã gắn chặt với cuộc sống hàng ngày của hàng trăm triệu người, và đôi khi liên quan tới cuộc sống của hàng tỉ người khác nữa. Google, iPod, Wikipedia, YouTube, Facebook, MySpace... tất cả những từ này đại diện cho những kênh thông tin kết nối toàn cầu có tiềm năng vô hạn để thay đổi xã hội của chúng ta. Tuy nhiên, khi tôi viết những dòng này, thậm chí Google mới chỉ có... 10 năm tuổi.

Cuối năm 2006, khi Saddan Hussein bị hành quyết, chính phủ Iraq đã công bố đoạn video quay cảnh này. Nó được chiếu trên ti vi, và vài phút sau được tung lên mạng Internet. Cùng thời điểm đó, một đoạn video khác cũng xuất hiện. Có ai đó đã lén mang được điện thoại di động vào phòng thi hành án và ghi hình được toàn bộ cảnh treo cổ, ghi được cả những lời mắng nhiếc, chửi rủa của lính bảo vệ và các nhân chứng, những khoảnh khắc thật nhất của buổi hành quyết đã bị cắt đi trong đoạn video chính thức. Đoạn phim quay lén này đã lan từ chiếc di động này qua chiếc di động khác, rồi tới Internet, đưa những hình ảnh không bị kiểm duyệt tới những ngõ ngách sâu xa nhất, trên giường ngủ, các văn phòng, các quán cà phê tại tất cả các quốc gia trên thế giới.

Nhưng có một điều thực sự khiến chúng ta ngạc nhiên, rằng người ta chẳng có chút gì lấy làm lạ về sự tình cờ này. Trong suốt cuộc chiến tranh tại Việt Nam, những bản tin chiến sự được chuyển thành phim, cho vào trong một cái hộp, chuyển tới sân bay, được vận chuyển đi để chiếu rộng rãi vào những ngày sau khi những bản tin đó được thực hiện. Những thước phim ấy đã mang thông tin chân thực một cách đáng ngạc nhiên, không giống với bất kì hình thức nào trước đó. Nhưng khi cơn sóng thần năm 2004 tràn qua bờ biển Thái Lan, những video clip đã được đính kèm với e-mail du lịch ngay khi chúng được chuyển tới những nơi cao hơn để bảo quản, có nghĩa là nó đã thực hiện được ngay lập tức và rất dễ dàng, điều mà mạng lưới vô tuyến phức tạp 30 năm trước không thể làm được trong thời gian và chi phí hạn chế. Năm 2005, khi những người dân London mắc kẹt trong đống đổ nát của vụ đánh bom ga xe lửa do những phần tử khủng bố thực hiện camera của điện thoại di động đã ghi lại cho thế giới biết tất cả những gì họ đã nhìn thấy trong những thời khắc ấy, đó hầu như chỉ toàn là những hình ảnh, chứ không phải là những lời nói hay thông điệp. Nó chỉ đơn giản là ghi lại những trải nghiệm cá nhân của người đó và ngay lập tức được phát đi trên toàn thế giới. Chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy ba đời người, chúng ta đã đi từ một thế giới mà một bức ảnh đen trắng, mờ mờ, không rõ nét, phải tốn nhiều tiền mới chụp được có thể khiến người ta sửng sốt cho tới một thế giới mà một đoạn video màu chẳng tốn mấy chi phí để thực hiện lan khắp hành tinh mà chẳng khiến ai ngạc nhiên.

Đối với sự tiến bộ của loài người, đây là một điều đáng ngạc nhiên. Trên cơ sở hứa hẹn những gì mang lại cho mỗi cá nhân để có thể tiếp thu và phát triển, đây là một điều tuyệt diệu…

Tuy nhiên, loài người đang sống giữa thời đại tràn ngập thông tin, nhưng sâu thẳm nhất trong những bộ não ấy vẫn có niềm tin rằng một bức ảnh những đứa trẻ chính là những đứa trẻ, một mẩu kẹo mềm có hình dáng giống một cục phân chó chính là phân chó. Và giấc mơ giữa ban ngày sẽ giành được giải xổ số khiến chúng ta tin rằng chúng ta có nhiều khả năng để giành được món tiền đó trong thực tế.

Trên cơ sở Quy luật Thả neo, não bộ sẽ sử dụng con số đầu tiên thu nhận được như là một căn cứ để đưa ra ước đoán về một điều gì đó hoàn toàn không liên quan gì tới con số đó. Điều đó sẽ chẳng có lợi ích gì nếu như chúng ta bị gây nhiễu bởi những con số, cũng giống như những hạt mưa trong một cơn gió mùa.

Chúng ta có những bộ não bất chấp những logic bằng cách sử dụng Quy luật Điểm đặc trưng để kết luận rằng những dự đoán phức tạp về tương lai sẽ có nhiều khả năng trở thành sự thật hơn là những dự đoán đơn giản. Trong hoàn cảnh chúng ta luôn luôn được cảnh báo về những diễn biến đáng sợ trong tương lai, thì điều này, rõ ràng cũng chẳng có lợi ích gì.

Quan trọng hơn, chúng ta có những bộ não sử dụng Quy luật Điển hình để kết luận rằng nếu có thể dễ dàng gợi nhớ lại những ví dụ về một điều gì đó xảy ra, thì điều đó rất có thể sẽ tiếp tục xảy ra. Với những người thợ săn thời tiền sử lang thang rình mò trên những cánh rừng thưa, đó không phải là một quy luật tồi. Trong thời đại, khi mà những khách du lịch có thể gửi e-mail đính kèm video quay cảnh sóng thần tới toàn bộ hành tinh này trong một khoảng thời gian còn ngắn hơn thời gian để các mảnh vụn đổ nát kịp ráo nước, những đoạn video đó có thể khiến chúng ta phát điên. Liệu chúng ta có nên lo sợ trước những virus lạ? Lo sợ những tên khủng bố? Lo sợ những kẻ lạm dụng dụ dỗ trẻ em trên mạng Internet? Và còn thêm những thứ nào trong danh sách rất dài, và ngày càng dài thêm của những mối sợ hãi sẽ hủy hoại chúng ta? Dân số loài người trên hành tinh này đang tiến tới con số 7 tỉ người. Mỗi ngày, đều có thể có nguy cơ, một số, hoặc tất cả những mối nguy cơ này sẽ gây nên thương tích, hay cướp đi mạng sống của con người. Đôi khi, những bất ngờ vô cùng khủng khiếp xảy ra có thể giết chết rất nhiều người. Và nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức giao tiếp tức thời, tất cả chúng ta sẽ đều được biết về những thảm họa này. Vì thế, liệu chúng ta có nên lo sợ những nguy cơ rủi ro đó? Tất nhiên, Cái Bụng sẽ có gắng trả lời câu hỏi đó bằng cách sử dụng Quy luật Điển hình. Và câu trả lời sẽ rất rõ ràng: Có. Chúng thật đáng sợ, hãy sợ chúng.

Một trong những khám phá to lớn nhất về sự nhận thức các mối nguy hiểm của con người là chúng ta đã phóng đại nguy cơ bị giết bởi những thứ được nói đến trong các bản tin buổi tối, và thường coi thường những điều không được thông tin tới. Bản tin buổi tối có những thông tin gì? Những kẻ sát nhân quái gở, man rợ, khủng khiếp: những tên giết người, bọn khủng bố, hỏa hoạn hay lũ lụt. Những điều không được nói tới trong các bản tin là “những cái chết thông thường”, cướp đi sinh mạng của một người và không tạo ra những xúc cảm mạnh hay những bức ảnh những người bị chết bởi bệnh đái đường, hen suyễn, bệnh tim. Theo một cuộc điều tra thăm dò do Paul Slovic và Sarah Lichtenstein tiến hành vào cuối những năm 1970, chúng ta sẽ sửng sốt khi biết được khoảng cách giữa nhận thức và thực tại. Hầu hết mọi người đều cho rằng các vụ tai nạn và bệnh tật giết chết nhiều người như nhau, trong khi trong thực tế, bệnh tật đã cướp đi số sinh mạng của số nạn nhân nhiều gấp 17 lần so với số người bị tử nạn trong các vụ tai nạn. Người ta cũng đoán rằng số người bị chết do ô tô đâm nhiều gấp 350 lần so với số người bị chết bởi bệnh tiểu đường. Thực ra, tỉ lệ đó chỉ là 1,5 lần. Tại sao các kết quả này lại có thể chênh lệch tới mức như vậy? Chúng ta nghe được những câu chuyện bịa trên các bản tin hàng ngày, trong khi đó chỉ có gia đình và bạn bè mới biết những câu chuyện về người thân của họ bị chết bởi bệnh đái đường.

Nghiên cứu quan trọng này đã chỉ rõ nguy cơ trong việc nhận thức sai lệch các mối nguy hiểm dẫn tới việc đưa những thông tin thiên lệch trên các bản tin, nhưng thông tin và các hình ảnh còn được tiếp nhận từ nhiều nguồn hơn: báo, tạp chí, và cả các vở kịch, bộ phim trên ti vi. Tất cả rõ ràng đều được thiết kế để trở nên đầy cảm xúc, sâu sắc, và đáng nhớ. Những mối hiểm nguy là một yếu tố không thể thiếu của nhiều kịch bản. Giờ vàng trên ti vi sẽ trở thành giờ chết nếu không có các chương trình liên quan tới cảnh sát hay y học. Dựa trên những gì các nhà tâm lý học đã khám phá ra về Quy luật Điển hình, chúng ta có thể hiểu những chương trình này cũng sẽ có tác động mạnh mẽ tới quan điểm của chúng ta về các mối nguy hiểm, giống như các bản tin vậy. Thậm chí, chúng còn có tác động mạnh hơn. Sau cùng, chúng ta xem phim, kịch trên ti vi, đơn giản là vì mục đích giải trí, vì thế, chúng ta tiếp cận chúng với những rào cản đề kháng đã bị hạ thấp hơn nhiều: Cái Bụng đã xem, trong khi Cái Đầu thì ngủ.

Thật không may, hầu như chưa có nghiên cứu nào phân tích xem những điều tưởng tượng, bịa đặt ảnh hưởng tới nhận thức về nguy hiểm như thế nào. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây đã tìm thấy được những gì mà các nhà tâm lý học trông đợi. Anthony Leiserowitz về Nghiên cứu quyết định (một loại hình nghiên cứu bí mật được Paul Slovic, Sarah Lichtenstein và Baruch Fischhoff thực hiện) đã tiến hành những cuộc điều tra thăm dò dọc khắp nước Mỹ trước và sau khi The Day After Tomorrow được công chiếu. Đây là một bộ phim về thảm họa, mô tả một chuỗi những thảm kịch kì quái đột ngột ập đến do sự nóng lên toàn cầu. Tính khoa học trong The Day After Tomorrow thật mơ hồ. Những lời cảnh báo đáng sợ nhất về tác động của sự nóng lên toàn cầu không giống với những gì được mô tả trong phim. Tuy nhiên, điều này cũng không khiến cho tác động của bộ phim giảm đi. Trên khắp đất nước, ngày càng có nhiều người, những người đã xem bộ phim này, nói rằng họ rất lo ngại về tình trạng nóng lên của trái đất, và khi được hỏi rằng liệu nước Mỹ có nguy cơ phải trải qua những thảm họa tương tự với những cảnh được dựng lên trong phim (những thành phố bị ngập lụt, tình trạng thiếu thức ăn, dòng nước ấm từ Vịnh Mehico qua Đại Tây Dương đến châu Âu biến mất, một Kỉ Băng hà mới xuất hiện…) hay không? Những người đã xem bộ phim này đều cho rằng nguy cơ xảy ra thảm họa cao hơn so với những người chưa từng xem phim.

Tất nhiên, Cái Đầu luôn có thể can thiệp, phân tích bằng chứng và chi phối, gạt bỏ. Nhưng, như chúng ta đã thấy, nó không thường xuyên làm như vậy. Và kể cả thậm chí khi Cái Đầu đã can thiệp, nó cũng chỉ có thể giảm nhẹ, thay đổi hoặc chi phối phán xét của Cái Bụng chứ không thể xóa bỏ nó. Cái Đầu không thể tẩy hết trực giác của chúng ta. Nó không thể thay đổi chúng ta cảm nhận như thế nào.

Hầu hết các nhà xã hội học cho rằng các nước phương Tây bắt đầu bị ám ảnh bởi những mối nguy cơ từ những năm 1970. Đó cũng là thời điểm bùng nổ sự phát triển theo cấp số nhân của lĩnh vực truyền thông và dòng thác thông tin bắt đầu chuyển động. Tất nhiên, sự thật rằng hai sự biến đổi sâu sắc này xảy ra cùng một lúc không có nghĩa là chúng liên quan tới nhau. Nhưng chắc chắn nó là nền tảng cho sự nghi vấn và những nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.

« Lùi
Tiến »