Rõ ràng là chúng ta có thể bị chết theo rất nhiều cách khủng khiếp khác nhau. Hãy thử lập ra một danh sách. Hãy thử bắt đầu với những tiêu chuẩn, mức độ như những tai nạn tại nhà và những căn bệnh chết người. Sau đó, hãy chuyển sang những “hình thức” khác biệt hơn, chẳng hạn như bị xe buýt đâm, xe lửa bị trật bánh hay bị trúng đạn lạc của những kẻ nát rượu say mèm. Đây là cách nhìn theo khía cạnh tâm lý tiêu cực, nhưng chúng ta cũng có thể thực hiện việc lập danh sách theo một cách “dí dỏm” hơn. Chúng ta có thể bị đâm sầm vào một cái cây trong khi trượt tuyết, bị chết ngạt trong một buổi vui chơi tập thể chật ních người, hay bị ngã xuống một lỗ cống. Những mảnh vụn từ một chiếc máy bay đang bị rơi có thể giết chết chúng ta. Những cái vỏ chuối cũng vậy. Danh sách sẽ rất khác đi phụ thuộc vào sự tưởng tượng của tác giả và sức chịu đựng cảm giác tiêu cực. Nhưng tôi có thể chắc chắn rằng gần cuối của tất cả các bản danh sách này sẽ đều có mục: “Bị thiên thạch đâm phải.”
Tất cả mọi người đều biết rằng những tảng đá chết chóc có thể rơi xuống từ trên trời nhưng bên ngoài lĩnh vực không gian và khoa học, người ta vẫn sử dụng mối đe dọa bị chết vì thiên thạch như một kiểu nói phóng đại, có tính chất tu từ để bác bỏ những mối lo lắng về những nguy cơ có thật, bởi nguy cơ đó quá nhỏ, không đáng để lo lắng. Chính tôi cũng đã một hai lần sử dụng cách nói này. Tuy nhiên, có lẽ tôi sẽ không làm như vậy nữa, bởi, trong một dịp cuối năm 2004, tôi đã tham dự một cuộc hội thảo gồm những nhà thiên văn học và địa lý học hàng đầu thế giới thảo luận về những tác động của thiên thạch.
Địa điểm diễn ra hội thảo là Tenerife, một hòn đảo nằm trong quần đảo Canary của Tây Ban Nha ngoài khơi bờ biển Bắc Phi thuộc Đại Tây Dương. Dù cố ý hay không, thì đó cũng là một sự sắp xếp lý tưởng. Sau cùng, hội thảo không chỉ đơn giản nói về những tảng đá trong không gian. Nó còn đề cập tới nhận thức về một nguy cơ tiềm tàng thảm khốc nhưng lại rất khó có thể xảy ra. Và quần đảo Canary cũng là nơi người ta có thể nhắc đến hai mối nguy hiểm khác cũng tiềm tàng thảm khốc nhưng rất khó xảy ra.
Trước hết, đó là hoạt động của núi lửa. Cả quần đảo này đều được hình thành do hoạt động của núi lửa và Tenerife bị khống chế bởi “một người khổng lồ” có tên Teide, ngọn núi lửa lớn thứ ba trên thế giới. Teide vẫn đang ngủ yên, nó mới chỉ phun trào ba lần trong vòng 300 năm trở lại đây.
Chương cuối cùng đã nói tới một vết nứt ở La Palma. Một nhóm các nhà khoa học tin rằng nó sẽ khiến một phần lớn hòn đảo chìm xuống đáy Đại Tây Dương và vài giờ sau, những người dân ở bờ biển phía Đông của Bắc Mỹ và Nam Mỹ sẽ trở thành những vai phụ trong một bộ phim thảm họa lớn nhất từ trước đến nay. Các nhà khoa học khác không đồng tình với điều này. Họ cho rằng sẽ chỉ có một phần nhỏ của La Palma bị nhấn chìm và khi chìm xuống nó sẽ vỡ vụn ra, do đó những đợt sóng được tạo ra thậm chí sẽ chẳng đáng chú ý như những đoạn video tại nhà. Tuy nhiên, họ cũng nhất trí rằng khả năng xảy ra lở đất là có thể, và rằng trên cơ sở địa chất học thì điều này dường như sẽ sớm xảy ra, tức là sẽ khoảng 10 nghìn năm sau kể từ bây giờ hay kể từ sáng ngày mai.
Giờ thì ai đó có thể nghĩ rằng những người dân sống trên quần đảo Canary sẽ cảm thấy có điều gì đó bất an giống như bất cứ sáng nào thức dậy, họ cũng có thể phải gánh chịu một trận đại hồng thủy. Nhưng những người đó dường như đã lầm. Bao quanh các sườn núi Teide là những thị trấn rộng rãi, dễ chịu với những người dân hạnh phúc với những giấc ngủ ngon lành. Và tương tự như vậy, không hề có thông tin cho thấy hoang mang lan rộng trong 85.000 dân tại La Palma. Sự thật là quần đảo thanh bình và tươi đẹp Canary sẽ phải làm một điều gì đó trước sự bàng quan của cư dân ở đây khi đối mặt với một trận chiến sống còn. Quy luật Điển hình cũng hoạt động. Tuy nhiên, lần cuối cùng núi lửa Teide phun trào là năm 1909, và không ai nhìn thấy một mảng lớn của hòn đảo có người ở đã biến mất như thế nào.
Nhưng đó không phải là tất cả. Bọn khủng bố chưa bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân ở một thành phố lớn, nhưng chỉ suy nghĩ về khả năng đó thôi cũng khiến hầu hết chúng ta phải rùng mình, và các chính phủ trên toàn thế giới đang làm việc tích cực để những điều tồi tệ chưa xảy ra sẽ không bao giờ xảy ra.
Những nhà phân tích về các mối nguy hiểm gọi đó là những sự kiện có khả năng xảy ra nhỏ nhưng hậu quả vô cùng to lớn. Tại sao mọi người lại sợ những sự kiện này chứ không phải là những nguy cơ khác? Việc phân tích tác động của các thiên thạch, một sự kiện tiêu biểu cho nhóm sự kiện khả năng xảy ra nhỏ nhưng hậu quả vô cùng lớn, là một cách lý tưởng để tìm ra câu trả lời.
Trái đất liên tục phải gánh chịu những trận oanh tạc của các mảnh vụn từ vũ trụ. Hầu hết các mảnh vụn đó đều không nhỉnh hơn kích thước một hạt bụi. Nhưng bởi các hạt bụi đó xâm nhập bầu khí quyển trái đất với vận tốc lên tới 72km/s, chúng sẽ tập hợp lực vào khối lượng của mình. Thậm chí khi hạt bụi nhỏ nhất biến mất trong một tia sáng lóe lên, chúng ta cũng có thể gọi là những ngôi sao băng.
Nguy cơ từ những quả pháo sáng vũ trụ này đối với con người là bằng không. Nhưng những mảnh vụn trút xuống trái đất có kích cỡ rất khác nhau. Có những mảnh chỉ bằng hạt gạo, rồi bằng viên đá cuội, hay những viên đá bay. Tất cả chúng bay vào bầu khí quyển với vận tốc kinh hoàng do đó bất cứ sự to lên về kích cỡ các mảnh vụn, dù là khiêm tốn nhất cũng đồng nghĩa với sự gia tăng khủng khiếp về năng lượng giải phóng khi nó bị đốt cháy.
Một viên đá có đường kính 1/3m sẽ phát nổ với lực nổ bằng 2 tấn dynamite khi nó trúng vào bầu khí quyển. Mỗi năm, trái đất phải chịu khoảng 1000 vụ nổ với kích cỡ như thế này. Với viên đá có đường kính 1m, kích cỡ đá thường được dùng để xây dựng vườn hoa, công viên khi nổ sẽ tạo ra lực 100 tấn dynamite. Những vụ nổ như thế này xảy ra trung bình 40 lần mỗi năm.
Với kích thước đường kính 3m, một viên đá sẽ va chạm với một lực 2.000 tấn dynamite. Sức nổ đó bằng 2/3 lực nổ đã hủy diệt thành phố Halifax vào năm 1917 khi một con tàu chở đầy đạn phát nổ tại cảng. Những đòn trời giáng này đánh vào trái đất hai lần mỗi năm.
Và cứ như vậy cho đến khi kích thước các viên đá tăng lên, tới 30m đường kính, khi đó người ta sẽ gọi đó là một tảng thiên thạch. Một tảng thiên thạch ở kích cỡ này khi phát nổ trong bầu khí quyển sẽ giống như 2 triệu tấn dynamite, đủ để san bằng mọi thứ trên mặt đất trong phạm vi 10 cây số. Khi đường kính lên tới 100m, những thiên thạch sẽ tích lũy lực nổ tương đương với 80 triệu tấn dynamite. Loài người chúng ta đã từng nếm trải một vụ nổ với sức công phá loại này. Ngày 30-6-1908, một tảng thiên thạch ước chừng có đường kính 60m đã phát nổ ở độ cao 8km phía trên Tunguska, một vùng xa xôi tại Siberia, san phẳng khoảng 2000km2 rừng.
Những tảng thiên thạch lớn hơn sẽ gây ra những thảm họa thực sự. Ở kích thước 1km đường kính, một thiên thạch có thể xới tung và tạo ra một cái hố rộng 15km, đốt cháy một quả cầu lửa lớn gấp 25 lần mặt trời, làm rung chuyển vùng xung quanh với một trận động đất 7,8 độ ricte, và có thể bốc lên một lượng bụi vào khí quyển đủ để tạo thành một “mùa đông hạt nhân”. Nền văn minh của chúng ta có thể, hoặc không thể sống sót sau một vụ va chạm như vậy, nhưng ít nhất thì các loài sinh vật vẫn còn sống sót. Chuyện may mắn này sẽ không thể có với một thiên thạch lớn hơn. Một thiên thạch đường kính 10km sẽ khiến loài người và hầu hết các sinh vật sống trên mặt đất được ghi vào danh sách các loài “đã từng tồn tại”. Đây là điều đã xảy ra đối với loài khủng long.
May thay, không có nhiều những thiên thạch khổng lồ như vậy lượn lờ trong không gian. Trong một tài liệu chuẩn bị cho Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, nhà thiên văn học Clark Chapman tính toán rằng nguy cơ loài người phải chứng kiến ngày tận thế với vụ va chạm của một thiên thạch khổng lồ trong thế kỉ tới là một phần một triệu. Tuy nhiên, những thiên thạch càng nhỏ thì chúng ta càng thường xuyên phải đương đầu với nó, có nghĩa là thiên thạch càng nhỏ thì khả năng nó va trúng trái đất càng tăng. Nguy cơ trái đất bị tấn công bởi một thiên thạch 300m là 1/50.000 một năm. Tỉ lệ này trong một thế kỉ sẽ trở thành 1/500. Nếu một thiên thạch như vậy lao xuống đại dương, nó sẽ tạo nên một cơn sóng thần kinh hoàng. Còn nếu “hạ cánh” xuống mặt đất, nó sẽ hủy diệt một vùng bằng với kích thước của một quốc gia nhỏ. Với một thiên thạch đường kính 100m, tỉ lệ sẽ là 1/10.000 trong một năm và 1/100 trong 100 năm. Thiên thạch đường kính 30m có xác suất nguy cơ là 1/250 một năm và 1/2,5 trong một thế kỉ.
Vạch ra một cách ứng phó hợp lý đối với những nguy cơ xác suất xảy ra thấp nhưng hậu quả cực cao kiểu như vậy không phải là một việc làm dễ dàng. Chúng ta thường lờ đi những mối nguy hiểm có xác suất 1/1.000.000 bởi nguy cơ đó là quá nhỏ, trong khi cuộc sống của chúng ta lại quá ngắn. Thậm chí những nguy cơ 1/10.000 hay 1/1.000 cũng thường bị gạt đi. Do đó, khi nhìn vào khả năng xảy ra một vụ tấn công của thiên thạch, mối nguy hiểm dường như là rất thấp. Nhưng nó không phải là con số không. Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu như nó ập đến? Không phải là có một người sẽ chết, cũng chẳng phải 1.000, hay 10.000 người. Đó có thể là hàng triệu, thậm chí, hàng tỉ người. Vậy thì mức độ mất mát như thế nào mới đáng để chúng ta bỏ thời gian tìm cách đối phó với một mối nguy hiểm gần như chắc chắn sẽ không xảy ra trong vòng đời của chúng ta, hay có thể là con chúng ta, và cả cháu chúng ta?
Nguyên nhân đã đưa ra một câu trả lời lạnh lùng đặc trưng: nó phụ thuộc vào cái giá phải trả. Nếu chỉ phải tốn kém không nhiều để có thể tự bảo vệ chống lại một nguy cơ có xác suất xảy ra rất nhỏ nhưng hậu quả vô cùng lớn, thì khoản tốn kém đó là chấp nhận được. Nhưng nếu cái giá bỏ ra là quá nhiều, chúng ta sẽ có thể cho rằng tốt hơn là chúng ta nên bỏ tiền vào những ưu tiên khác, ví dụ như hạn chế những mối nguy cơ khác, và tận dụng các cơ hội của chúng ta.
Nhìn chung, đó là thái độ của các chính phủ trong việc giải quyết, đối phó với những mối nguy ít khả năng xảy ra nhưng hậu quả vô cùng lớn. Khả năng xảy ra rủi ro, những hậu quả của nó, và chi phí, tất cả đều được lên bàn và cân nhắc trong mối tương quan lẫn nhau. Đó sẽ là những vấn đề gây nhiều tranh cãi. Các chuyên gia sẽ không ngừng nhấn mạnh vai trò, tác động của ba yếu tố này và chúng ta phải tính toán những điều đó như thế nào. Nhưng sẽ không ai nghi ngờ rằng cả ba yếu tố này đều cần phải được xem xét nếu chúng ta muốn có một cách hợp lý để giải quyết những mối nguy hiểm này.
Liên quan tới những thiên thạch, chi phí để đối phó cũng tỉ lệ thuận với các kích cỡ khác nhau và tác động hủy diệt của chúng. Bước đầu tiên để giảm nhẹ nguy cơ là phát hiện ra thiên thạch và tính toán xem liệu nó có va chạm với trái đất hay không. Nếu nguy cơ là đáng báo động, chúng ta sẽ thảo luận xem liệu nó có đáng để đặt ra một kế hoạch xem liệu chỉ cần đánh cùi chỏ hay phải sử dụng vũ khí hạt nhân để vô hiệu hóa mối nguy hiểm này. Nhưng để phát hiện ra các thiên thạch là điều không hề đơn giản bởi chúng không phát ra mà chỉ phản chiếu ánh sáng. Tảng đá càng nhỏ thì việc phát hiện ra chúng càng khó và càng đòi hỏi nhiều chi phí. Ngược lại, thiên thạch càng lớn thì càng dễ phát hiện, chi phí cũng rẻ hơn.
Điều này dẫn tới hai kết luận hiển nhiên: Trước hết, các thiên thạch ở đầu nhỏ của chuỗi các kích cỡ khác nhau có thể bị bỏ qua. Thứ hai, chắc chắn chúng ta nên đầu tư để phát hiện ra những thiên thạch ở đầu ngược lại của chuỗi kích cỡ. Và trong thực tế, điều đó đã được thực hiện. Bắt đầu từ đầu những năm 1990, các nhà thiên văn học đã thành lập một tổ chức quốc tế có tên gọi Spaceguard (Tổ chức Canh gác Không gian), tập trung những nỗ lực tập thể nhằm phát hiện và phân loại danh sách các thiên thạch. Phần nhiều công việc này là những hoạt động tình nguyện, tuy nhiên các trường đại học và các viện nghiên cứu chỉ có những đóng góp khiêm tốn, chủ yếu là dành thời gian quan sát kính thiên văn. Cuối những năm 1990, NASA đã cung cấp cho Spaceguard khoản ngân sách 4 triệu USD/năm từ khoản ngân sách hàng năm 10 tỉ USD của tổ chức này. Kết quả là, các nhà thiên văn học tin rằng tới năm 2008, Spaceguard sẽ phát hiện được 90% số thiên thạch có đường kính lớn hơn 1km. Kết quả này đã tiến rất gần tới việc loại trừ nguy cơ từ tất cả các thiên thạch có kích cỡ đủ lớn để quét sạch tất cả các động vật có vú trên trái đất, tuy nhiên, với những thiên thạch nhỏ hơn thì những kết quả này lại chẳng có ý nghĩa gì cả. Chẳng hạn như những thiên thạch có khả năng phá huỷ cả đất nước Ấn Độ. Có phải là chúng ta không nên chi thêm tiền để phát hiện ra chúng? Các nhà thiên văn học nghĩ vậy. Do đó họ đã đề nghị NASA và Cơ quan Vũ trụ châu Âu (European Space Agency) cung cấp khoản ngân sách từ 30 tới 40 triệu USD một năm trong vòng 10 năm. Khoản kinh phí ấy sẽ cho phép họ phát hiện và ghi lại 90% các thiên thạch 140m trở lên. Vẫn còn một nguy cơ có xác suất nhỏ để một thiên thạch lớn có thể vượt qua lưới kiểm soát này nhưng như vậy cũng là đủ để mang lại cho hành tinh chúng ta một sự bảo đảm khá chắc chắn chống lại những vụ va chạm từ vũ trụ, một sự bảo đảm không hề tồi khi phải bỏ ra một khoản phí tổn trong một lần là 300 tới 400 triệu USD. Chi phí này rẻ hơn đáng kể so với lượng ngân sách ban đầu để xây dựng một Đại sứ quán mới của Mỹ tại Baghdad và cũng không đắt hơn nhiều lắm so với khoản tiền 195 triệu USD mà các quan chức ngoại giao nước ngoài chưa thanh toán tiền vé đỗ xe.
Nhưng bất chấp những nỗ lực trong suốt nhiều năm, các nhà thiên văn học vẫn không thể gom đủ số tiền để hoàn thành công việc của mình. Clark Chapman, một trong những nhà khoa học đã nản chí cũng có mặt tại hội nghị ở Tenerife. Đã gần 25 năm kể từ khi mối nguy hiểm này được chính thức thừa nhận, khoa học không còn nghi ngờ, nhận thức của công chúng đã tăng lên, các chính phủ đã được cảnh báo. Tuy nhiên những tiến bộ vẫn còn rất khiêm tốn. Và Clark Chapman muốn biết tại sao lại như vậy.
Để giúp trả lời câu hỏi này, những nhà tổ chức hội thảo đã mời Paul Slovic tới Tenerife. Bắt đầu sự nghiệp từ đầu những năm 1960, Slovic là một trong những cánh chim đầu đàn trong lĩnh vực nghiên cứu về nhận thức các mối nguy hiểm. Lĩnh vực nghiên cứu này thực sự được bắt đầu vào những năm 1970 như một kết quả của những cuộc xung đột ngày càng tăng giữa những ý kiến chuyên môn của các chuyên gia và ý kiến của những người không có chuyên môn. Trong một số trường hợp, các chuyên gia khăng khăng rằng các mối nguy hiểm từ thuốc lá, dây đai an toàn, lái xe khi say rượu… thực ra có tác hại lớn hơn so với nhận thức của công chúng về nó. Nhưng trong nhiều trường hợp hơn, công chúng lại tỏ ra quá lo sợ bởi những thứ mà hầu hết các chuyên gia đều khẳng định rằng nó không nguy hiểm tới mức như vậy, năng lượng hạt nhân là một ví dụ tiêu biểu. Slovic, Giáo sư tâm lý học tại trường Đại học Oregon chính là người đồng sáng lập ra Decision Research, một tổ chức nghiên cứu tư nhân được thành lập để tìm hiểu xem tại sao người ta lại có những cách phản ứng với các mối nguy hiểm như trong thực tế.
Trong các nghiên cứu được bắt đầu từ cuối những năm 1970, Slovic và các đồng nghiệp của mình đã yêu cầu những người bình thường thử dự đoán tỉ lệ nguy cơ rủi ro của các hoạt động và công nghệ cụ thể nào đó, và thử xếp hạng chúng theo mức độ nguy hiểm mà họ nhận thức đồng thời cung cấp thêm các chi tiết về cảm giác của họ. Liệu bạn có thấy hoạt động này, hay công nghệ này là có lợi ích? Bạn có hào hứng tình nguyện tham gia? Nó có nguy hiểm cho các thế hệ sau? Hiểu biết về nó còn quá ít?... Đồng thời, họ cũng phỏng vấn các chuyên gia, những nhà phân tích về các mối nguy hiểm theo quan điểm của họ.
Không có gì lạ khi các chuyên gia và những người bình thường bất đồng với nhau về mức độ nghiêm trọng của rất nhiều vấn đề. Các chuyên gia có xu hướng suy nghĩ, điều này chỉ đơn giản phản ánh sự thật rằng họ biết họ đang nói về cái gì, và những người bình thường thì không biết điều đó. Nhưng khi Slovic đưa ra những tài liệu của mình để phân tích bằng số liệu thì một điều rõ ràng rằng còn rất nhiều điều cần phải giải thích hơn là chỉ đơn thuần như vậy.
Các chuyên gia dựa trên định nghĩa kinh điển về nguy hiểm thường được những người làm nghề thiết kế sử dụng cũng như những người phải lo lắng về những điều có thể sai sót: Nguy cơ tương ứng với khả năng nhân lên của hậu quả. “Hậu quả” trong trường hợp này được hiểu là số người thiệt mạng. Sẽ không ngạc nhiên khi ước đoán của các chuyên gia về những rủi ro bị chi phối mạnh mẽ bởi một hoạt động hay công nghệ phù hợp chặt chẽ với xếp hạng của họ về tính nguy cơ của từng vấn đề.
Khi những người bình thường đánh giá về tính nguy hiểm của các mối nguy cơ, chúng ta thu được những kết quả không đồng nhất. Nói chung, họ biết những vấn đề nào có thể lấy đi nhiều nhất hay ít nhất số mạng sống của con người. Tuy nhiên, ngoài điều đó ra, những nhận định của họ rất khác nhau, từ mức chưa chính xác tới mức sai nghiêm trọng. Không phải họ không có những bằng chứng cho thấy linh cảm của họ có thể không hoàn toàn chính xác. Khi Slovic yêu cầu mọi người đánh giá tỉ lệ rằng có bao nhiêu phần trăm khả năng một câu trả lời nào đó là sai, họ thường tỏ ra coi thường những nguy cơ rất có khả năng xảy ra. Một phần tư trong số họ thực sự đặt tỉ lệ xảy ra sai sót trong câu trả lời là 1/100 mặc dù thực ra, cứ một câu trong tám câu trả lời được tự tin là sẽ đúng, thì lại sai. Đó là một bằng chứng quan trọng nữa cho thấy tại sao chúng ta nên cảnh giác với trực giác. Nhưng đồng thời cũng có những ví dụ khác cho thấy không cần thiết phải như vậy.
Tuy vậy, hầu hết những kết quả rõ ràng đều chẳng liên quan gì tới xếp hạng về tính nguy hiểm. Đôi khi, dự đoán của những người bình thường về số người thiệt mạng của mỗi mục nguy cơ phù hợp chặt chẽ với mức độ nguy hiểm mà họ cảm nhận được về mục nguy cơ đó, điều này cũng giống với các dự đoán của những chuyên gia. Tuy nhiên, đôi khi, chỉ có rất ít, hoặc không có mối liên hệ nào giữa “nguy cơ” và “những tai họa hàng năm”. Một ví dụ sâu sắc nhất là sức mạnh hạt nhân. Những người bình thường, cũng giống các chuyên gia khi họ phán đoán chính xác rằng hạt nhân sẽ gây ra ít rủi ro nhất trong số các mục nguy cơ được đưa ra để thực hiện điều tra. Nhưng các chuyên gia xếp năng lực hạt nhân đứng thứ 20 trong danh sách 30 mục nguy cơ nguy hiểm nhất trong khi hầu hết những người bình thường cho rằng nguy cơ đó đáng được đứng đầu tiên. Những nghiên cứu sau này có 90 mục nhưng năng lực hạt nhân lại một lần nữa được coi là số một. Rõ ràng là người ta đang làm một điều gì đó chứ không phải là nhân lên khả năng và đếm số người thiệt mạng để tìm ra được một đánh giá về nguy hiểm.
Những phân tích của Slovic đã chỉ ra rằng nếu một hoạt động hay một công nghệ đã được xem là có một số đặc trưng nào đó, người ta sẽ tăng lên ước đoán của mình về tính nguy hiểm bất chấp liệu lĩnh vực đó có được tin rằng sẽ giết chết rất nhiều người hay không. Còn nếu lĩnh vực đó có những đặc trưng khác, người ta sẽ hạ thấp những dự đoán của mình. Do đó có thể nói việc năng lượng hạt nhân không có một chỉ số về số người thiệt mạng cao chẳng có tác động gì. Nó có tất cả các đặc trưng để có thể nhấn nút báo nhận thức nguy hiểm của chúng ta, và đặt nó lên đầu danh sách về các mối nguy hiểm:
Thảm họa tiềm tàng: Nếu những mối nguy hiểm có thể xảy ra với một số lượng lớn chỉ trong một sự kiện đơn lẻ, thay vì số lượng nhỏ phân tán theo thời gian, khi ấy nhận thức của chúng ta về mối nguy hiểm sẽ tăng.
Sự hiểu biết: Những nguy cơ lạ lùng, chưa từng được biết tới sẽ khiến chúng ta lo lắng nhiều hơn.
Nhận thức: Nếu chúng ta tin rằng cơ chế hoạt động hay diễn biến của một hoạt động hoặc công nghệ nào đó chưa được nhận thức một cách đầy đủ, trực giác của chúng ta về mối nguy hiểm sẽ tăng lên.
Kiểm soát cá nhân: Khi chúng ta có cảm giác rằng những mối nguy hiểm tiềm tàng đó có thể gây hại vượt xa sự kiểm soát của chúng ta - giống như một hành khách trên một chuyến bay, chúng ta sẽ lo lắng nhiều hơn so với khi chúng ta có thể cảm nhận được trong sự kiểm soát - như khi lái xe ô tô.
Tính tự giác: Nếu bạn không tự nguyện dấn thân vào nguy hiểm, cảm giác đó sẽ thêm phần đáng sợ.
Những đứa trẻ: Sẽ có nhiều nguy cơ hơn nếu có sự có mặt của những đứa trẻ.
Những thế hệ tương lai: Nếu những mối nguy hiểm đe dọa các thế hệ tương lai, chúng ta sẽ càng thêm lo lắng.
Xác định nạn nhân: Những nạn nhân có thể nhận dạng được, hơn là những số liệu thống kê trừu tượng làm cảm giác về mối nguy hiểm tăng thêm.
Sự kinh hãi: Nếu hiệu ứng của mối nguy cơ tạo ra sự kinh hãi, nhận thức về nguy hiểm cũng sẽ được đẩy cao.
Sự tin tưởng: Nếu những trực giác tham gia vào nhận thức là không đáng tin cậy, chúng ta sẽ có cảm giác bất an hơn.
Sự tham gia của truyền thông: Càng có tác động của giới truyền thông, chúng ta càng lo lắng về mối nguy hiểm đó.
Tiền lệ tai nạn: Những sự kiện tồi tệ trong quá khứ sẽ đẩy cao mức độ cảm nhận nguy hiểm.
Tính cân bằng: Nếu lợi ích là đối với một số người, còn tai họa lại dành cho những người khác, chúng ta sẽ xếp những mối nguy hiểm như vậy có thứ hạng cao hơn.
Những lợi ích: Nếu những lợi ích của hoạt động hay công nghệ nào đó là không rõ ràng, nó sẽ được cho là có nhiều nguy cơ hơn.
Tính thuận nghịch: Nếu những tác động của một điều gì đó khi đã là tiêu cực không thể đảo ngược thì nguy cơ sẽ tăng lên.
Nguy hiểm cá nhân: Nếu nó làm hại cho tôi, nó sẽ nguy hiểm hơn.
Nguồn gốc: Những mối hiểm nguy do con người gây ra sẽ có tính đe dọa lớn hơn những hiểm nguy do thiên nhiên mang lại.
Thời gian: Những hiểm nguy càng cận kề càng đáng lo sợ, ngược lại, những đe dọa trong tương lai có xu hướng bị xem thường hơn.
Rất nhiều mục trong danh sách của Slovic giống như những nhận thức phổ biến. Tất nhiên, một điều gì đó có thể gây nguy hại cho trẻ em sẽ nhấn nút cảnh báo của chúng ta. Tất nhiên, một điều gì đó chỉ gây nguy hại cho những người đã lựa chọn dính dáng vào đó sẽ không khiến chúng ta phải cảnh giác. Và một người không cần thiết phải từng nghe nói về Quy luật Điển hình mới có thể biết được rằng một mối nguy cơ thu hút được nhiều sự chú ý của giới truyền thông sẽ khiến chúng ta lo lắng nhiều hơn những mối nguy cơ âm thầm.
Nhưng với các nhà tâm lý học, có một mục trong danh sách: sự hiểu biết về nguy cơ là điều có thể đoán trước được, và đặc biệt quan trọng. Trong mọi thời khắc, chúng ta luôn luôn bị tấn công bởi dữ liệu đầu vào là những cảm giác. Một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của bộ não là nhanh chóng phân loại những dữ liệu đầu vào đó thành hai dạng: những vật liệu thông tin quan trọng cần phải có được sự chú ý của nhận thức có ý thức, và tất cả những thứ khác còn lại. Vậy thì phẩm chất nào mới được gọi là quan trọng? Trong hầu hết trường hợp, đó là một cái gì đó mới. Mới lạ, chưa từng được biết tới - sự ngạc nhiên - điều này sẽ đánh động sự chú ý của bạn hơn bất cứ điều gì khác. Khi lái xe trên cùng một con đường mà bạn đã lái xe đi làm mỗi ngày trong suốt 12 năm qua và bạn sẽ hầu như rất ít sử dụng nhận thức có ý thức, và có lẽ bạn sẽ không thể nhớ được rằng bạn đã nhìn thấy cái gì khi lùi xe vào chỗ gửi. Điều đó sẽ xảy ra nếu như việc lái xe luôn luôn là như vậy. Nhưng nếu, trên đường đến nơi làm việc, bạn tình cờ nhìn thấy một người đàn ông trần như nhộng, bụng phệ đang tập thể dục nhịp điệu ở bãi cỏ trước nhà, nhận thức có ý thức của bạn sẽ được khuấy động, đánh thức khỏi giấc ngủ của nó và bạn sẽ tới văn phòng với một chút kí ức đặc sắc trong đầu.
Đây là một cơ chế tâm lý, người ta có thể gọi một cách nôm na là sự huấn luyện. Đó là quá trình gây ra một tác nhân kích thích mà chúng ta trải nghiệm lặp đi lặp lại, quá trình trải nghiệm ấy không có những hệ quả tích cực cũng chẳng có hậu quả tiêu cực để rồi nó mờ dần khỏi sự chú ý của chúng ta. Bất kì ai xức nước hoa cũng đều trải qua sự huấn luyện này. Khi bạn mua một loại hương mới và sử dụng mùi hương này, bạn sẽ cảm nhận được mùi của nó trong suốt cả ngày. Ngày tiếp theo cũng như vậy. Nhưng nếu bạn vẫn xức loại nước hoa này đều đặn, liên tục, dần dần bạn sẽ càng ngày càng ít để ý tới mùi hương của nó. Cuối cùng, có thể bạn sẽ chỉ ngửi thấy mùi của nó lúc xịt lên người, và sau đó bạn rất chú ý tới mùi hương quen thuộc này. Nếu bạn đã từng thắc mắc rằng làm thế nào mà anh chàng ở phòng làm việc bên cạnh lại có thể chịu được cái mùi nước hoa sực nức của anh ta suốt cả ngày, thì khi hiểu ra được điều này, thắc mắc của bạn đã được giải đáp.
Sự huấn luyện đặc biệt quan trọng khi chúng ta đương đầu với nguy hiểm bởi các nguy cơ có ở khắp mọi nơi. Thậm chí cả khi tắm dưới vòi hoa sen vào buổi sáng bạn cũng có thể bị trượt ngã và gãy cổ. Khi ăn một quả trứng chần qua nước sôi, rất có thể bạn sẽ bị ngộ độc. Lái xe đi làm, bạn có thể bị đâm, bị đè nát hoặc bị cháy như một ngọn đuốc sống. Đi bộ đi làm, các tia gây ung thư phát ra từ mặt trời sẽ chiếu xuống bạn, hay xe buýt có thể cán phải bạn, hoặc bạn đột nhiên bị đau tim hay bị... thiên thạch rơi trúng đầu. Tất nhiên, nguy cơ để bất cứ điều gì trong những thứ kinh khủng trên xảy ra là rất nhỏ, dĩ nhiên là ngoại trừ việc bị nhiễm bức xạ từ mặt trời. Và sẽ thật là phí chất xám để lúc nào cũng phải nghĩ về chúng. Chúng ta cần bấm một “nút tắt”. Và “nút tắt” đó chính là sự huấn luyện.
Để thực hiện thí nghiệm quan sát nổi tiếng của mình về những con tinh tinh, chuyên gia nghiên cứu động vật linh trưởng Jane Goodal đã phải ngồi rất yên lặng giữa chúng và lặng lẽ quan sát chúng đi lo những công việc hàng ngày, hết giờ này qua giờ khác. Jane có thể làm như vậy chủ yếu là vì những con tinh tinh đã phớt lờ sự có mặt của cô. Để bọn tinh tinh có thể có thái độ như thế, Goodal đã phải liên tục xuất hiện rồi lại ngồi xuống, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, cho tới khi hệ thống cảnh báo và tính tò mò của những con tinh tinh đối với sự xuất hiện của cô mờ dần đi, và chúng không còn chú ý tới cô nữa. Chúng ta cũng có thể quan sát thấy một quá trình như vậy đối với các loài khác. Khi tôi viết những dòng này, con sóc đen trên cửa sổ vẫn vô tư nhai mấy đồ ăn dành cho chim mà chẳng hề thèm để ý tới “một con động vật” to đùng đang ngồi trên cái ghế chỉ cách chỗ nó đúng 1m. Những con chim chia sẻ mấy hạt thức ăn cho con sóc này cũng có thái độ thờ ơ như vậy khi tôi đang ở sân sau nhà mình trong khi để có thể nhìn thấy chúng trong rừng, có lẽ tôi phải cầm ống nhòm. Đối với con người, chỉ cần đơn giản nhớ lại bạn đã ghì chặt lấy vô-lăng như thế nào khi lần đầu tiên lái xe, và sau đó nghĩ về lần cuối cùng sự buồn tẻ khi ngồi trước vô-lăng đã khiến bạn gần như ngủ gật. Nếu bạn đã từng được hỏi về cảm giác nguy hiểm như thế nào khi lần đầu tiên lái xe, câu trả lời của bạn sẽ khác đi ít nhiều bởi tác động của sự huấn luyện này.
Nói chung, sự huấn luyện làm việc khá thông minh. Vấn đề đối với nó, cũng như với tất cả những gì thuộc về vô thức, nó không thể cân nhắc tới khoa học và những con số. Nếu bạn đã từng đốt thuốc liên tục mỗi giờ, ngày nào cũng vậy, trong nhiều năm mà không phải chịu tác hại nào, điếu thuốc trong tay bạn sẽ không còn có cảm giác đe dọa nữa. Kể cả khi ý thức của bạn hiểu được những lời cảnh báo của bác sĩ thì nó cũng không thể kiểm soát được những cảm giác của bạn. Quá trình huấn luyện tương tự cũng có thể giải thích tại sao một ai đó có thể bị thuyết phục rằng việc lái xe khi sau rượu chẳng mấy nguy hiểm, hoặc không thắt dây an toàn, hay đi xe máy mà không có mũ bảo hiểm. Và nếu bạn sống thanh bình bao năm nay trong một thị trấn dễ chịu ở Tây Ban Nha, bạn sẽ chẳng thể suy nghĩ, lo lắng nhiều tới sự thật rằng thị trấn của bạn được xây dựng trên những sườn ngọn núi lửa lớn thứ ba trên thế giới vẫn đang âm thầm hoạt động.
Với tất cả tính hợp lý rõ ràng, tuy vậy, giá trị của danh sách các nhân tố nguy hiểm của Slovic vẫn có những hạn chế. Vấn đề cũng giống như chính những gì đã ám ảnh các nhóm trọng tâm. Người ta biết rằng họ thích gì, họ sợ gì… Nhưng cái gì là nguồn của những cảm giác, đánh giá đó? Theo một cách đặc trưng, đó chính là vô thức - Cái Bụng. Đánh giá có thể hoàn toàn tới từ Cái Bụng, hoặc nó có thể đã được điều chỉnh bởi ý thức - Cái Đầu. Nhưng trong trường hợp khác, câu trả lời cho câu hỏi tại sao người ta lại cảm thấy họ đang nói dối, ít nhất là một phần bên trong Cái Bụng. Cái Bụng là một chiếc hộp đen, Cái Đầu không thể săm soi vào trong. Và khi một nhà nghiên cứu hỏi một ai đó nói cho ông ta biết tại sao cô lại cảm thấy như những gì cô đã cảm nhận về một mối nguy cơ nào đó, thì không phải cô đang nói chuyện với Cái Bụng mà đó là Cái Đầu.
Bây giờ, nếu Cái Đầu chỉ đơn giản trả lời câu hỏi của nhà nghiên cứu bằng một câu ngắn gọn: “Tôi không biết” thì đó là một chuyện. Nhưng Cái Đầu lại thích hợp lý hóa theo kiểu bắt buộc. Nếu nó không có câu trả lời thì nó sẽ làm ra một câu trả lời.
Có rất nhiều dẫn chứng về sự hợp lý hóa này nhưng ví dụ đáng nhớ nhất, và chắc chắn cũng là ví dụ kì quái nhất là một chuỗi những thí nghiệm đối với các bệnh nhân bị chứng thần kinh phân liệt do nhà nghiên cứu thần kinh Michael Gazzaniga thực hiện. Thông thường, bán cầu não trái và bán cầu não phải được kết nối với nhau và chúng giao tiếp theo cả hai chiều nhưng có một liệu pháp điều trị bệnh động kinh là tách rời mối liên lạc này. Những bệnh nhân thần kinh phân liệt vẫn hoạt động tốt tới mức đáng ngạc nhiên nhưng các nhà khoa học đã nhận ra rằng đó là bởi hai bán cầu não quản lý những loại thông tin khác nhau, mỗi bên bán cầu não có thể tiếp nhận, nhận thức những điều mà bên bán cầu còn lại không thể nhận biết. Chúng ta có thể dần kết luận về điều này thông qua các thí nghiệm bằng cách chỉ sử dụng một mắt để thực hiện theo một văn bản viết hướng dẫn. Trong một phiên bản của nghiên cứu này, Gazzaniga đã sử dụng cách này để hướng dẫn bán cầu phải của một bệnh nhân bị thần kinh phân liệt thực hiện hành động đứng dậy và bước đi. Người đó đã đứng dậy và bước đi được thật. Sau đó Gazzaniga dùng lời nói hỏi người đó là tại sao anh ta lại bước đi. Bán cầu não trái chịu trách nhiệm về những câu hỏi về “nguyên nhân” kiểu như vậy và mặc dù nó không hề nhận thức được câu trả lời thực sự là gì, thì người đàn ông vẫn lập tức trả lời rằng ông ta đứng lên để đi tìm một chai soda. Những thay đổi trong cách thực hiện thí nghiệm này cũng vẫn luôn đem lại cũng một kết quả: Bán cầu não trái rất nhanh chóng và tài tình bịa ra những lời giải thích chứ không chịu thừa nhận rằng nó chẳng hề nhận biết được điều gì đang xảy ra. Và người ta tin vào từng chữ trong một câu trả lời như vậy.
Khi một người phụ nữ nói cho một nhà nghiên cứu biết cảm giác của bà về mức độ nguy hiểm của sức mạnh hạt nhân, những gì được nói ra có thể là một sự phản ánh đáng tin cậy về cảm giác của người đó. Nhưng khi các nhà nghiên cứu hỏi người phụ nữ này tại sao bà lại có cảm giác như vậy, câu trả lời của bà có lẽ sẽ có phần không chính xác, hay thậm chí là sai hoàn toàn. Đó không phải là sự lừa lọc. Ở một mức độ nào đó, câu trả lời đó rất giống với một lời bịa đặt - một sự hợp lý hóa cố tình, có ý thức của một đánh giá vô thức. Do đó, rất có thể những gì thực sự tác động tới những cảm giác của con người về năng lực hạt nhân chính là những nét đặc điểm được nói tới trong danh sách liệt kê của Slovic. Hoặc có thể câu trả lời đó chỉ là do Cái Đầu đã hợp lý hóa đánh giá của Cái Bụng. Cũng có thể cả hai khả năng đều có phần tác động của mình. Sự thật là chúng ta không biết… đâu là sự thật.
Danh sách của Slovic đã và vẫn đang rất có ảnh hưởng trong những mối quan tâm ngày càng tăng đối với việc nhận thức các mối nguy hiểm bởi nó đã cung cấp một danh sách liệt kê để đối chiếu rất hữu ích cho phép các nhà phân tích có thể nhanh chóng và dễ dàng dựng lên một “bản lý lịch trích ngang” cho bất cứ mối nguy hiểm nào. Đó là do con người? Đó là sự vô tình? Sự đơn giản, dễ hiểu của nó cũng tạo nên sức lôi cuốn đối với cả giới truyền thông. Các bài báo và tạp chí về những mối nguy cơ vẫn trích dẫn lại các mục trong danh sách này như thể chúng giải thích tất cả mọi điều chúng ta cần biết về lý do tại sao con người lại phải ứng với một số mối nguy hiểm, còn với những mối nguy hiểm khác thì lại không. Nhưng chính bản thân Slovic lại thừa nhận rằng bản danh sách của mình có những hạn chế: “Đó là giữa những năm 1970 khi đó chúng tôi đang thực hiện những nghiên cứu đầu tiên, chúng tôi đã không có được sự đánh giá đúng về hệ thống tư duy vô thức của con người. Những cách tiếp cận của chúng tôi đã khiến chúng tôi cho rằng con người phân tích các mối nguy hiểm một cách rất chín chắn và thận trọng.”
Sau cùng, Slovic và các đồng nghiệp của ông đã tìm ra cách thoát ra khỏi hạn chế này, đó là hai manh mối đã bị che lấp trong những dữ liệu của họ. Manh mối đầu tiền nằm trong từ sự kinh hãi. Slovic đã phát hiện ra rằng chính sự kinh hãi - nỗi lo sợ những điều xưa cũ - liên quan rất chặt chẽ tới một số mục khác trong danh sách, bao gồm sự thảm khốc, vô ý, và thiên lệch. Không giống như một số mục khác, chúng tích tụ những nội dung mang tính cảm xúc. Và Slovic nhận ra rằng nhóm những đặc trưng này (mà ông gọi là “nhân tố kinh hãi”) chính là yếu tố dự đoán chuẩn xác nhất phản ứng của con người trước một hoạt động hay công nghệ nào đó. Đó là một manh mối tuyệt vời cho thấy có những điều gì đó đang diễn ra bên trong những bộ não con người chứ không chỉ là những phân tích lạnh lùng và hợp lý.
Manh mối thứ hai nằm trong một điều mà nhìn bên ngoài có vẻ như chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên vô nghĩa. Hóa ra những phân loại, sắp xếp, đặt tỉ lệ của mọi người đối với những mối nguy hiểm và lợi ích của 90 hoạt động và công nghệ trong danh sách có liên quan tới nhau. Nếu một người cho rằng nguy cơ gây ra bởi cái gì đó là cao, họ sẽ đánh giá lợi ích là thấp. Điều ngược lại cũng đúng. Nếu họ nghĩ là điều đó có nhiều lợi ích thì nguy cơ từ nó cũng được hạ thấp. Theo thuật ngữ chuyên môn, đó gọi là “mối tương quan đảo ngược”. Mối tương quan ấy chẳng có giá trị gì ở đây, bởi không có nguyên nhân logic nào cho thấy một điều gì đó (như một loại thuốc thần kinh mới chẳng hạn) lại không thể vừa có nguy cơ cao, lại cũng đem lại nhiều tác dụng. Một điều cũng là sự thật, rằng một điều gì đó có thể chẳng có mấy nguy cơ, nhưng cũng không có lợi ích gì, như việc nằm dài trên giường xem đá bóng vào chiều Chủ nhật vậy. Vậy thì tại sao trên trái đất này, người ta lại cứ đặt các mối nguy cơ và lợi ích ở những cực đối lập của một mối tương quan nhìn nhận? Đó là một điều lạ, những dường như không mấy quan trọng. Trong tài liệu đầu tiên của mình về nghiên cứu các mối nguy hiểm, Slovic chỉ dành một hai câu để nhắc tới phát hiện này.
Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, mô hình nhận thức theo hai hướng - Cái Bụng và Cái Đầu cùng hoạt động đồng thời đã phát triển nhanh chóng. Có ảnh hưởng chính trong sự phát triển này là nghiên cứu của Robert Zajonc, nhà tâm lý học của trường Stanford, người đã khám phá về cái mà các nhà tâm lý học gọi là tác động, ảnh hưởng, còn chúng ta thì đơn giản coi đó là cảm giác hay cảm xúc. Zajonc khẳng định chúng ta đã tự lừa dối mình khi nghĩ rằng chúng ta đánh giá các bằng chứng và đưa ra các quyết định trên cơ sở tính toán một cách hợp lý. Trong tài liệu của mình năm 1980, ông đã viết: “Chúng ta mua chiếc ô tô mà chúng ta “thích”, chọn những công việc và những ngôi nhà mà chúng ta cảm thấy “hấp dẫn” và sau đó bào chữa cho những sự lựa chọn này bằng rất nhiều lý do khác nhau.”
Với mô hình mới này, Slovic đã nhận ra được những hạn chế trong nghiên cứu trước đây của mình. Làm việc với Ali Alhakami, Tiến sĩ trường Đại học Oregon, Slovic còn bắt đầu nhận ra rằng những mối liên kết được nhận biết giữa nguy cơ và lợi ích mà ông khám phá ra trước kia có thể có ý nghĩa hơn nhiều chứ không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu người ta phản ánh một cách vô thức và theo cảm tính khi nhắc tới những hoạt động hay công nghệ có nhiều nguy cơ? Họ nghe “sức mạnh hạt nhân” và… kêu “Eo ơi”! Họ có một phản ứng tức thời và vô thức. Cảm giác tiêu cực này thực sự đã xảy ra trước bất cứ dòng suy nghĩ có ý thức nào. Và bởi vì nó đến trước, nên nó sẽ định hình những suy nghĩ theo sau đó, bao gồm cả những câu trả lời cho những câu hỏi của các nhà nghiên cứu về nguy cơ của sức mạnh hạt nhân.
Điều này có thể giải thích tại sao người ta lại xem nguy cơ và lợi ích như thể chúng là những đối cực của một mối tương quan nhìn nhận. Năng lượng hạt nhân có mức độ nguy hiểm như thế nào? Năng lực hạt nhân là một Điều Xấu. Nguy cơ cũng là điều xấu. Vì thế năng lực hạt nhân chắc chắn phải đầy nguy hiểm. Và năng lực hạt nhân có lợi ích như thế nào? Năng lực hạt nhân là xấu, vì thế chắc chắn nó chẳng có lợi ích gì nhiều lắm. Khi Cái Bụng phản ứng tích cực với một hoạt động hay công nghệ nào đó (việc bơi lội, hay thuốc kháng sinh chẳng hạn) nó sẽ tác động vào quan điểm theo cách khác: Thuốc kháng sinh là một Điều Tốt, vì thế chắc chắn nó phải có ít nguy cơ và nhiều lợi ích.
Để kiểm tra giả thuyết này, Slovic và Alhakami, cùng với các đồng nghiệp Melissa Finucane và Stephen Johnson đã tiến hành một thí nghiệm đơn giản. Các sinh viên tại trường Đại học Tây Australia được chia thành hai nhóm. Nhóm đầu tiên được đưa ra nhiều nguy cơ tiềm tàng khác nhau trên màn hình máy vi tính: các nhà máy hóa chất, điện thoại di động, di chuyển bằng máy bay. Họ được yêu cầu chấm điểm mức độ nguy hiểm bằng thang điểm từ 1 tới 7. Sau đó đánh giá lợi ích của từng thứ. Nhóm thứ hai cũng được yêu cầu làm như vậy, nhưng họ chỉ được cho vài giây để đưa ra quyết định của mình.
Một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng sức ép thời gian đã giảm khả năng can thiệp và điều chỉnh của Cái Đầu đối với đánh giá của Cái Bụng. Nếu giả thuyết của Slovic là đúng thì tác động của mối tương quan ngược giữa nguy hiểm và lợi ích ở nhóm thứ hai sẽ mạnh hơn so với nhóm thứ nhất. Và kết quả đã cho thấy sự thực đúng là như vậy.
Trong một thí nghiệm thứ hai, Slovic và Alhakami đã yêu cầu các sinh viên của trường Đại học Oregon đánh giá mức độ nguy hiểm và lợi ích của một công nghệ (lại những phép thử khác sử dụng các thuật ngữ sức mạnh hạt nhân, khí gas và chất bảo quản thực phẩm). Sau đó, họ được yêu cầu đọc một vài đoạn văn nói về những lợi ích của các công nghệ này. Cuối cùng, họ lại được yêu cầu đánh giá một lần nữa mức độ nguy hiểm và lợi ích. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những thông tin tích cực mà các sinh viên tham gia thí nghiệm đọc được đã khiến tỉ lệ đánh giá về lợi ích tăng lên khoảng 50%. Đồng thời hầu hết những người tăng tỉ lệ lợi ích cũng hạ thấp mức độ nguy hiểm mặc dù họ chẳng hề được đọc một từ nào nói về sự nguy hiểm. Những thí nghiệm sau đó, tới lượt chỉ những nguy cơ được đem ra thảo luận, tác động vẫn tương tự như vậy, nhưng theo chiều ngược lại: Những người tăng mức độ dự đoán về những nguy cơ của công nghệ sau khi được tiếp cận những thông tin về nguy cơ cũng đồng thời hạ thấp đánh giá của họ về những lợi ích của công nghệ đó.
Những cái tên khác nhau đã được đặt ra để gọi tên những gì đang diễn ra ở đây. Slovic gọi đó là “tác động để khám phá”. Tôi thì thích nghĩ về nó như là một Quy luật Tốt-Xấu. Khi đối mặt với một điều gì đó, Cái Bụng có thể lập tức cảm thấy một cảm giác “thô” nào đó rằng đó là điều Tốt, hay Xấu. Cảm giác này sau đó sẽ định hướng những đánh giá theo sau: “Liệu điều này có thể giết chết tôi? Tôi có cảm giác đó là một điều tốt. Những điều tốt thì sẽ không giết chết tôi. Vì thế, không, đừng lo lắng về nó.”
Quy luật Tốt-Xấu có thể giúp giải quyết rất nhiều điều khó hiểu. Chẳng hạn như, trong những nghiên cứu ban đầu của Slovic, ông nhận ra rằng người ta xưa nay vẫn thường đánh giá quá thấp nguy cơ giết người của tất cả các loại bệnh tật, chỉ trừ có một: Nguy hiểm từ bệnh ung thư lại được đánh giá quá cao. Một trong những nguyên nhân có thể là do Quy luật Điển hình. Giới truyền thông tập trung sự chú ý vào ung thư lớn hơn nhiều so với bệnh tiểu đường hay hen suyễn. Do đó người ta có thể dễ dàng nhớ lại các trường hợp chết vì ung thư thậm chí cả khi họ chẳng hề có trải nghiệm cá nhân đối với căn bệnh này. Nhưng hãy thử xem xét xem bạn cảm thấy như thế nào khi đọc được các từ tiểu đường hay hen suyễn? Nếu không phải là bạn hay một ai đó mà bạn quan tâm mắc phải những căn bệnh này thì nhiều khả năng những từ đó sẽ không làm lóe lên bất cứ một xúc cảm nào. Nhưng còn từ ung thư thì sao? Nó giống như một cái bóng lướt nhanh qua tâm thức. Cái bóng đó chính là tác động, như Slovic gọi là “một lời thì thầm của cảm xúc.” Chúng ta dùng từ ung thư như một phép ẩn dụ trong ngôn ngữ thông thường, để chỉ một cái gì đó đen tối và bí hiểm, ăn dần ăn mòn cho tới cạn kiệt một cái gì đó, hoàn toàn bởi từ đó đã khuấy động cảm giác của chúng ta. Và những cảm giác như vậy sẽ định hình những suy nghĩ có ý thức của chúng ta về căn bệnh.
Quy luật Tốt-Xấu còn giúp giải thích mối liên hệ khó hiểu của chúng ta với các tia phóng xạ. Chúng ta sợ các loại vũ khí hạt nhân, thế là đủ, nhưng cả năng lực hạt nhân và chất thải hạt nhân cũng mang thêm nỗi sợ hãi đến cho chúng ta. Hầu hết các chuyên gia đều khẳng định rằng năng lực hạt nhân và chất thải hạt nhân không thực sự nguy hiểm như những lo sợ của công chúng, nhưng suy nghĩ của mọi người vẫn không bị lay chuyển. Mặt khác, chúng ta lại chi ra một lượng tiền đáng kể để “ngâm mình” trong những tia phóng xạ mặt trời trên một bãi biển nhiệt đới nào đó, và có rất ít người lo lắng, dù chỉ là ở mức ít nhất, về khả năng mình sẽ bị nhiễm phóng xạ khi bác sĩ nói họ cần phải chụp X quang. Trong thực tế, những cuộc điều tra thăm dò của Slovic đã khẳng định rằng hầu hết những người bình thường đều đã đánh giá quá thấp những nguy hiểm (ở mức độ thấp nhất) của tia X.
Tại sao chúng ta lại không sợ phơi nắng? Sự huấn luyện có thể đóng một vai trò nào đó, nhưng tác động của Quy luật Tốt-Xấu thì không phải bàn cãi. Hãy tưởng tượng một bức ảnh bạn đang nằm dài trên một bãi biển ở Mexico. Bạn cảm thấy thế nào? Rất tốt. Và nếu đó là một Điều Tốt, thì những cảm giác của chúng ta sẽ mách bảo chúng ta rằng, nó không thể có nhiều nguy hiểm được. Điều tương tự cũng đúng đối với những tia X. Đó là một công nghệ y học giúp cứu lại những mạng sống. Nó là một Điều Tốt, và cảm giác đó sẽ tẩy sạch bất cứ lo lắng nào những nguy cơ nó có thể đem lại.
Ở thái cực còn lại là vũ khí hạt nhân. Chúng là những thứ Rất Tồi Tệ, đó là một kết luận quá logic khi chúng được thiết kế để hủy diệt tất cả những thành phố chỉ sau một ánh chớp. Nhưng Slovic còn phát hiện ra những cảm giác về vũ khí hạt nhân và chất thải hạt nhân cũng hầu hết là tiêu cực. Và khi ông cùng một số đồng nghiệp phân tích xem những người dân Nevada đã cảm thấy như thế nào về đề xuất xây dựng một bãi rác thải hạt nhân tại bang này, nhóm các nhà khoa học nhận ra rằng người dân đã đánh giá mối nguy hiểm từ bãi chứa chất thải hạt nhân ít nhất cũng không hề kém so với việc xây dựng một nhà máy hạt nhân, hay thậm chí là một khu thử vũ khí hạt nhân. Thậm chí cả một nhà hoạt động chống hạt nhân tích cực nhất cũng không có sự so sánh ngang bằng như vậy. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì, nếu như những đánh giá của người dân không phải là kết quả của một cảm giác cực kì tiêu cực với tất cả những gì có dính dáng tới “hạt nhân”.
Tất nhiên, Quy luật Điển hình cũng đóng một vai trò nhất định trong nỗi lo sợ của công chúng đối với năng lực hạt nhân khi chúng ta hình dung ra hình ảnh của thảm họa Chernobyl như là một thời khắc khi năng lực hạt nhân được nhắc tới. Nhưng những nỗi lo sợ phổ biến còn xảy ra trước những hình ảnh đó từ rất lâu, gợi ý cho thấy có một cơ chế nhận thức vô thức khác hoạt động. Điều này tình cờ cho thấy một hạn chế cơ bản trong nhận thức của chúng ta về cách thức hoạt động của trực giác. Bằng những thí nghiệm được dàn dựng cẩn thận, các nhà tâm lý học đã có thể nhận ra các cơ chế như Quy luật Điển hình và Quy luật Tốt-Xấu. Chúng ta có thể nhìn vào các trường hợp trong thế giới thực tế và phỏng đoán rằng cơ chế này hay cơ chế kia là có liên quan tác động tới trường hợp đó. Nhưng điều chúng ta không thể làm, hay ít nhất là chưa thể làm, là phân biệt một cách chính xác xem những cơ chế nào đang làm gì. Chúng ta chỉ có thể nói rằng những trực giác của con người về năng lực hạt nhân có thể được tạo ra bởi Quy luật Điển hình hay Quy luật Tốt-Xấu, hoặc cả hai quy luật này.
Chúng ta không quen với việc nghĩ rằng những cảm giác của chúng ta là nguồn gốc của những quyết định có ý thức nhưng các nghiên cứu đã khẳng định đó là điều không phải nghi ngờ. Chẳng hạn như những nghiên cứu về bảo hiểm đã cho thấy rằng người ta sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để bảo hiểm cho một chiếc ô tô khi họ cảm thấy chiếc đó hấp dẫn hơn chiếc khác kể cả khi giá trị tiền giữa hai chiếc xe là như nhau. Một nghiên cứu năm 1993 thậm chí còn cho kết quả rằng người ta sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho bảo hiểm máy bay chống “các hành động khủng bố” hơn là có thể bị chết bởi “tất cả các nguy cơ có thể” khác còn lại. Điều này thật ngớ ngẩn nếu suy luận một cách logic, nhưng cụm từ “các hành động khủng bố” có ấn tượng đặc biệt với những cảm giác tiêu cực, trong khi cụm từ “tất cả các nguy cơ có thể” rất nhạt nhòa và trống rỗng. Nó chẳng gây tác động gì tới Cái Bụng.
Amos Tversky và nhà tâm lý học Eric Johnson cũng chỉ ra rằng ảnh hưởng của những cảm giác tiêu cực có thể mở rộng vượt ra ngoài những điều tạo ra cảm giác. Họ đã yêu cầu các sinh viên Đại học Stanford đọc một trong ba phiên bản của một câu chuyện về một cái chết bi thảm (nguyên nhân gây ra cái chết là bệnh bạch cầu, hoặc lửa cháy, hoặc bị một tên sát nhân giết hại) nhưng trong đó không có thông tin nào về mức độ phổ biến của những bi kịch như vậy. Sau đó họ đưa cho các sinh viên một bản danh sách các mối nguy hiểm, bao gồm nguy hiểm được nhắc tới trong câu chuyện và 12 nguy cơ khác, và yêu cầu các sinh viên đánh giá về mức độ thường xuyên xảy ra của các mối nguy hiểm đó (mức độ thường xuyên giết người). Đúng như họ mong đợi, những người đọc câu chuyện về cái chết do bệnh bạch cầu đã đánh giá tính sát nhân của căn bệnh này cao hơn nhóm sinh viên không được đọc câu chuyện. Kết quả cũng tương tự với các nhóm đọc các câu chuyện về chết cháy hay bị giết hại. Điều ngạc nhiên nhất là việc đọc các câu chuyện đã dẫn tới sự tăng lên trong đánh giá tất cả các mối nguy cơ chứ không chỉ riêng nguy cơ được nhắc tới trong câu chuyện. Câu chuyện về chết cháy làm tăng mức nhận thức nguy hiểm lên 14%. Bi kịch về bệnh bạch cầu đẩy mức tăng dự đoán lên 73%. Con số này đối với trường hợp câu chuyện bị giết chết bởi một tên tội phạm lên tới 144%. Trong khi đó, một câu chuyện với những “thông tin tốt” sẽ có tác động hoàn toàn ngược lại, làm hạ thấp nhận thức về nguy hiểm.
Tôi vẫn nhắc tới những vụ án mạng, chủ nghĩa khủng bố, và bệnh ung thư như những tác nhân tạo ra những chấn động tâm lý không thể nhầm lẫn. Nhưng các nhà khoa học đã cho thấy những phản ứng mang tính xúc cảm còn có thể tinh vi, khó phát hiện hơn thế rất nhiều. Robert Zajonc cùng các nhà tâm lý học Piotr Winkielman và Norbert Schwarz đã tiến hành một chuỗi các thí nghiệm, những kí tự chữ viết Trung Quốc được chiếu lướt qua trên màn hình. Ngay sau khi nhìn thấy một kí tự chữ viết, những đối tượng kiểm tra, các sinh viên Đại học Michigan được yêu cầu sắp xếp các hình ảnh từ một đến sáu với mức sáu là rất thích, và mức một là không thích chút nào (bất cứ ai biết một chút gì về tiếng Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản đều bị loại khỏi nghiên cứu này để các hình ảnh không có chút ý nghĩa về mặt chữ nghĩa nào đối với những người nhìn thấy chúng).
Điều những sinh viên này không được nói cho biết là ngay trước khi kí tự đó xuất hiện, một hình ảnh khác lóe lên. Đó có thể là một cái mặt đang cười, cũng có thể là một cái mặt nhăn nhó hay một hình đa giác chẳng có ý nghĩa gì. Những hình ảnh này chỉ xuất hiện trong một phần nhỏ nhất của một giây, khoảng thời gian không đủ để được ghi nhận vào nhận thức có ý thức và không sinh viên nào nhận ra là họ đang nhìn thấy chúng. Nhưng thậm chí kể cả những khoảnh khắc lóe lên rất ngắn này, với những hình ảnh tốt hay xấu cũng vẫn có tác động sâu sắc tới đánh giá của các sinh viên. Kết quả là các kí tự được chiếu lên ngay sau bộ mặt cười được thích hơn những kí tự không được theo sau những hình ảnh tích cực như vậy. Bộ mặt nhăn nhó cũng có tác động tương tự theo chiều hướng ngược lại.
Rõ ràng là cảm xúc có một ảnh hướng rất lớn nhưng không hề có một sinh viên nào cảm thấy họ có bất cứ một cảm xúc nào. Zajonc và các nhà khoa học khác tin rằng điều này có thế xảy ra bởi hệ thống não bộ “đặt những nhãn hiệu cảm xúc” lên các sự vật, hiện tượng (ví dụ như: năng lượng hạt nhân: Xấu!) nhưng hành động đó lại bị chôn sâu vào trong tâm thức vô thức. Do đó bộ óc của bạn có thể cảm thấy một điều gì đó là tốt hay xấu mặc dù về mặt cảm giác có ý thức, bạn không bao giờ cảm nhận được điều tốt, xấu này. (Khi các sinh viên được hỏi là họ dựa trên cái gì để đưa ra đánh giá, sắp xếp như vậy, một cách ngẫu nhiên, họ đều nói tới tính thẩm mỹ của kí tự, hoặc nói rằng kí tự đó gợi cho họ nhớ về một điều gì, hay đơn giản khẳng định rằng, chỉ là họ “thấy thích” nó. Nhận thức có ý thức rất ghét phải thừa nhận rằng đơn giản là nó không biết là tại sao.)
Sau khi đã cùng các sinh viên tiến hành thí nghiệm như trên, Zajonc và các đồng nghiệp của ông lặp lại bài thí nghiệm này. Tuy nhiên, lần này những hình ảnh của các khuôn mặt được xoay vòng. Nếu một kí tự đã được hiện ra theo sau một bộ mặt cười ở vòng thí nghiệm đầu tiên, thì lần này nó đi sau bộ mặt nhăn nhó và ngược lại. Kết quả thật đáng ngạc nhiên. Không giống như ở lần thí nghiệm trước, những bộ mặt lóe lên đã có rất ít tác động. Các sinh viên kiên định với những đánh giá ở lần thí nghiệm trước đó của họ. Một kí tự được xem là dễ nhìn trong lần thí nghiệm trước bởi nó hiện ra ngay sau một bộ mặt cười (mà người đưa ra nhận xét không hề biết điều này), ở lần thí nghiệm thứ hai này cũng được đánh giá là dễ nhìn thậm chí kể cả khi nó bị một bộ mặt nhăn nhó chen vào đằng trước. Do đó, có thể nói các nhãn hiệu mang tính xúc cảm đã dính chặt vào đó, kể cả khi chúng ta không hề biết tới sự tồn tại của chúng.
Trong các thí nghiệm trước đây, kể từ khi được chứng thực bằng số lượng lớn các nghiên cứu, Zajonic cũng chỉ ra rằng cảm giác tích cực đối với một điều gì đó có thể được tạo ra chỉ đơn giản bằng cách lặp đi lặp lại hành động “quảng cáo” về nó, càng được “quảng cáo” nhiều, những cảm giác tích cực càng được củng cố. Hiệu ứng này hiện được gọi tên bằng cụm từ “gần quá hóa thích”. Các công ty, tập đoàn từ lâu đã nắm bắt được điều này, kể cả khi họ mới chỉ cảm nhận được bằng trực giác. Mục tiêu của nhiều quảng cáo đơn giản chỉ là chiếu cho người ta xem tên và logo của hãng để tăng dần tính thân thuộc, và kết quả là những cảm giác tích cực dành cho công ty cũng tăng theo.
Hiệu ứng phơi nhiễm đơn thuần này có những liên hệ đáng kể tới những cảm giác của chúng ta về các nguy cơ. Hãy thử xem xét trường hợp thuốc lá nhai. Hầu hết mọi người ngày nay chưa từng nhìn thấy ai nhai thuốc lá, nhưng nếu một ai đó sống trong môi trường nơi điều đó là phổ biến sẽ có một cảm giác tích cực được hình thành và lẩn khuất sâu trong não. Cảm giác đó sẽ định hướng những suy nghĩ của người này về thuốc lá nhai - bao gồm cả những suy nghĩ về tính nguy hại của nó. Cái Bụng sẽ cảm nhận rằng thuốc lá nhai là Tốt. Mà những thứ Tốt thì sẽ không gây ung thư. Vậy thì thuốc lá nhai có nhiều khả năng khiến bạn bị mắc bệnh ung thư không? Không nhiều. Cái Bụng kết luận như vậy. Có thể thấy quá trình này tương tự như quá trình huấn luyện. Tuy nhiên nó không đòi hỏi phải có đến mức độ phơi nhiễm giống như sự huấn luyện xảy ra. Cũng nên biết rằng đó không phải là cảm giác ấm áp mà ai đó có thể cảm thấy khi nhìn thấy một hộp thuốc lá vì nó gợi lại kí ức về người ông đáng kính đã từng sử dụng thứ thuốc này. Đúng như cái tên của mình, sự phơi nhiễm đơn thuần không có điều kiện gì hơn ngoài một sự phơi nhiễm đơn thuần để tạo ra một cảm giác tích cực nhỏ nhất. Người ông đáng kính không hề cần thiết phải xuất hiện ở đây.
Rất nhiều những nghiên cứu về tác động được tiến hành trong các phòng thí nghiệm nhưng khi các nhà tâm lý học Mark Frank và Thomas Gilovich tìm ra bằng chứng qua các thí nghiệm cho thấy rằng người ta có những phản ứng vô thức rất tiêu cực với những bộ đồng phục màu đen, chúng sẽ phá tan sự bền vững cố kết trong thế giới thực. Frank và Thomas phát hiện ra tất cả năm đội bóng có trang phục thi đấu màu đen tại Giải Vô địch Bóng đá Quốc gia đều phải chịu số quả phạt đền trong một mùa giải nhiều hơn mức trung bình trừ một mùa giải trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến 1986. Tại giải Vô địch Hockey Quốc gia, cả ba đội mặc đồ đen trong cùng một khoảng thời gian cũng đều bị phạt nhiều hơn số phút bị phạt trung bình trong tất cả mọi mùa giải. Điều thực sự đáng tò mò ở đây là những đội này cũng bị phạt nặng như vậy khi họ mặc các bộ trang phục thi đấu không phải là màu đen truyền thống của mình. Đây là điều bạn có thể mong đợi câu trả lời giải thích từ những nghiên cứu về tâm trạng và đánh giá. Bộ đồng phục màu đen ấn định một nhãn hiệu cảm xúc tiêu cực lên đội bóng, và cái nhãn đó vẫn dính chặt kể cả khi họ không mặc đồ đen. Gilovich và Frank còn tìm ra một thử nghiệm thực tế gần như hoàn hảo cho lý thuyết của mình trong mùa giải 1979 - 1980 của Pittsburgh Penguins. Trong 44 trận đầu tiên của mùa giải, đội mặc áo màu xanh. Trong thời gian đó, trung bình một trận họ chịu 8 phút phạt. Nhưng trong 35 trận còn lại của mùa giải, đội chuyển sang mặc đồng phục thi đấu mới màu đen. Vẫn là huấn luyện viên và những cầu thủ ấy, những người đã tham gia trong nửa đầu của mùa giải. Nhưng thời gian bị phạt của đội đã tăng 50%, lên 12 phút trong một trận.
Một ví dụ trong thực tế khác thể hiện Quy luật Tốt-Xấu xảy ra mỗi năm một lần. Nói chung, chẳng ai coi Giáng sinh là một kẻ giết người. Thậm chí chắc nó cũng chẳng bao giờ nằm trong danh sách về những cái chết kì lạ nhất của bạn. Tuy nhiên thực tế lại là như vậy. Mùa Giáng sinh là mùa của những cú ngã, những đám cháy, những vụ bị điện giật chết. Tại nước Anh, Tổ chức Xã hội Hoàng gia Ngăn chặn Tai nạn (RSPA) đã cảnh báo rằng các sự kiện trong ngày nghỉ thường bao gồm “khoảng 1.000 người phải vào bệnh viện sau các vụ tai nạn liên quan tới cây Noel, 1.000 người khác bị thương khi đang trang trí nhà cửa và 350 người là nạn nhân của những bóng đèn trên cây Noel”. Chính phủ Anh đã tiến hành những chiến dịch cảnh báo lưu ý mọi người rằng tất cả đều có 50% khả năng rủi ro bị chết cháy trong nhà trong những ngày nghỉ. Tại Mỹ, Thứ trưởng Bộ An ninh nội địa cũng đã phải đưa ra cảnh báo rằng những nguy cơ đám cháy do nến sẽ “tăng gấp 4 lần trong những ngày nghỉ”. Chỉ riêng các cây Giáng sinh cũng đã gây ra cháy tại 200 gia đình. Xét tổng cộng, “các đám cháy ở gia đình trong suốt kì nghỉ mùa đông đã giết chết 500 người và làm bị thương 2.000 người, ngoài ra còn gây ra thiệt hại hơn 500 triệu USD”.
Tôi đưa ra điều này không phải để gợi ý rằng chúng ta nên tẩy chay Giáng sinh. Rất nhiều những tập tục liên quan tới những ngày nghỉ đã thực sự khiến việc bé xe ra to, như các phương tiện phát ngôn của RSPA cảnh báo, một số việc đã hướng sự chú ý của chúng ta tới nguy cơ về “những vụ nổ nước sốt trong lò vi sóng”, một nguy cơ hài hước, nhưng chẳng giống trò đùa chút nào. Tuy nhiên, nếu so sánh với những mối nguy hiểm tràn ngập trên các trang báo, tạo ra mối lo lắng thực sự của công chúng trong quá khứ, chỉ cần kể ra một trong số đó: những vụ tấn công của cá mập, “mối nguy hiểm kì lạ”, những sự sùng bái ma quỷ, bệnh mụn giộp, chúng ta sẽ thấy những nguy hiểm của Giáng sinh là thực sự đáng kể. Tuy nhiên, những lời cảnh báo này, hàng năm vẫn thường bị lờ đi, hay thậm chí bị mang ra làm trò cười trên báo đài (như “những vụ nổ nước sốt trong lò vi sóng” chẳng hạn). Tại sao lại có sự trái khoáy này? Một phần của câu trả lời chắc chắn là ý nghĩa tâm llinh mạnh mẽ của dịp Giáng sinh. Giáng sinh không phải chỉ là một Điều Tốt. Nó là một điều Tuyệt Vời. Và Cái Bụng chắc chắn rằng những điều Tuyệt Vời thì không bao giờ giết hại con người.
Sự thật là Cái Bụng thường có những phản ứng tức thời mang tính cảm xúc có một mạng lưới các mối liên hệ rộng rãi nhằm định hướng những đánh giá của nó. Một điểm quan trọng trong đó là vai trò của sự công bằng trong cách chúng ta phản ứng với các mối nguy hiểm và thảm kịch.
Hãy xem xét hai ngữ cảnh sau. Trong ngữ cảnh thứ nhất, một cậu bé đang chơi trên những tảng đá trơn nhẵn lổn nhổn ở bờ biển. Gió thổi mạnh và mẹ cậu nói câu không được ra gần nước. Nhưng thoáng thấy mẹ không để ý, cậu bé lách về phía trước cho tới khi có thể chạm tay được vào những tảng đá ẩm ướt. Hào hứng với trò nghịch ngợm nho nhỏ của mình, cậu bé không nhìn thấy một con sóng lớn đang lao tới. Nó đánh bật cậu bé trở lại phía sau, và sau đó kéo cậu nhào xuống biển, nơi những dòng chảy xiết cuốn cậu xuống dưới làn nước sâu. Người mẹ nhìn thấy và vật lộn dũng cảm để đến được với con mình nhưng những con sóng đang vỡ tan khiến bà không nhìn thấy gì và đánh bật bà trở lại. Cậu bé đã chết đuối.
Bây giờ hãy tưởng tượng về một người phụ nữ sống một mình với đứa con duy nhất, một cậu bé. Trong cộng đồng, người phụ nữ được đặc biệt tôn trọng, bà có công việc, bạn bè. Bà còn trở thành một tình nguyện viên cho tổ chức bảo vệ động vật ở địa phương. Nhưng một điều mà không ai biết. Bà ta đánh con mình một cách tàn nhẫn vì bất cứ lỗi nào mà cậu bé mắc phải. Một tối, cậu bé làm vỡ một món đồ chơi. Bà mẹ tát cậu liên tục. Khi cậu bé co rúm lại vào một góc, máu và nước mắt đã chan hòa trên mặt cậu, bà mẹ lấy ra một cái ấm từ trong bếp và quay trở lại. Bà ta dùng cái ấm đập mạnh vào đầu cậu bé, sau đó quẳng cái ấm sang một bên, và bắt cậu bé lên giường đi ngủ. Đêm hôm ấy, những cục máu đã tụ lại trong não cậu bé. Và sáng hôm sau, cậu bé qua đời.
Hai mạng sống, hai câu chuyện buồn có lẽ sẽ được đăng lên trang đầu của nhiều tờ báo. Nhưng chỉ có một câu chuyện sẽ tạo ra làn sóng mạnh mẽ của những bức thư gửi tới phòng biên tập và yêu cầu tổ chức những buổi nói chuyện trên sóng phát thanh. Và tất cả chúng ta đều biết, đó là câu chuyện nào.
Các nhà triết học và các học giả có thể tranh luận về tính công bằng, nhưng với hầu hết chúng ta, tính công bằng được trải nghiệm như một sự oán hận, giận dữ vì một điều gì đó không đúng đắn và sự thỏa mãn khi có thể vạch mặt, lên án và trừng phạt điều sai trái, xấu xa đó. Đó là một xúc cảm căn bản. Người phụ nữ đã nhẫn tâm giết chết đứa con nhỏ của mình phải bị trừng trị. Mặc dù ngoài con bà ta ra, bà ta chẳng hề gây nguy hiểm tới ai khác. Đây không phải là vấn đề về sự an toàn. Bà ta phải đền tội. Các nhà tâm lý học cách mạng cho rằng điều này sẽ thôi thúc khiến cho suy nghĩ về sự trừng phạt những hành vi sai trái trở thành một nếp nhăn trên vỏ não bởi đó là một cách hiệu quả để ngăn chặn những hành vi xấu. Nhà tâm lý học gạo cội Steven Pinker đã viết: “Những người hành động theo cảm xúc để trả thù những ai vượt qua họ, thậm chí chấp nhận chính mình cũng phải trả một cái giá nào đó là những kẻ địch “đáng tin” và ít có khả năng bị lợi dụng hay bóc lột.”
Dù nguồn gốc có từ đâu, khuynh hướng đổ lỗi và trừng phạt cũng thường là thành phần cốt yếu trong những phản ứng của chúng ta trước các mối nguy cơ. Hãy tưởng tượng khí gas đã giết chết 20.000 người dân thuộc khối các nước EU trong một năm và 21.000 người khác một năm tại Mỹ. Hãy tưởng tượng rộng hơn rằng khí gas này là phụ phẩm của những quy trình công nghiệp và các nhà khoa học có thể xác định chính xác những ngành nào, hay thậm chí là những nhà máy nào đang thải ra loại khí này. Và hãy thử tưởng tượng rằng tất cả những sự thực này đều được biết tới rộng rãi nhưng không được các phương tiện truyền thông, các nhóm hoạt động vì môi trường, hay dư luận công chúng quan tâm, quan ngại đầy đủ. Rất nhiều người thậm chí chưa từng nghe về loại khí này, trong khi có những người chỉ có những khái niệm mơ hồ, ngờ ngợ về nó, nó sinh ra từ đâu, nó nguy hiểm chết người như thế nào… và không ai hào hứng tìm hiểu thêm.
Đó thực sự là một ngữ cảnh ngớ ngẩn, vô lý. Chúng ta sẽ không bao giờ nhún vai coi thường những điều như vậy. Nhưng hãy xem xét trường hợp về khí phóng xạ Radon. Đó là một loại khí kích hoạt phóng xạ có thể gây ung thư phổi nếu nó tràn vào trong nhà với mức độ tập trung cao. Điều này đã từng xảy ra trong những khu vực mà các nhà khoa học có thể phát hiện ra với độ chính xác khá cao. Theo thống kê, khí độc này đã giết chết 41.000 người mỗi năm tại Mỹ và các nước EU. Các tổ chức vì sức khỏe cộng đồng liên tục tiến hành những chiến dịch nâng cao nhận thức về nguy hiểm nhưng giới báo chí và các nhà hoạt động môi trường lại hiếm khi thể hiện sự quan tâm, và công chúng, công bằng mà nói, chỉ có những nhận thức mù mờ về Radon. Nguyên nhân cho sự thờ ơ này thật rõ ràng: Radon được sản sinh ra một cách tự nhiên từ một số loại đất và đá. Những cái chết mà nó gây ra thường nhỏ lẻ, không gây được sự chú ý và không ai phải chịu trách nhiệm. Vì thế Cái Bụng nhún vai coi thường. Trong các cuộc điều tra thăm dò của Slovic, chính những người đã rùng mình hoảng sợ khi nghĩ về những nguồn phóng xạ như chất thải hạt nhân lại đánh giá rất thấp nguy cơ từ Radon, loại khí độc mà không nghi ngờ gì nữa, đã giết hại nhiều người hơn so với chất thải hạt nhân. Thiên nhiên giết người, nhưng không thể khiển trách được thiên nhiên. Không ai đấm cho những miệng núi lửa một cú. Không ai kịch liệt lên án những dòng nham thạch. Và chính sự thiếu vắng những thái độ này là nguyên nhân khiến cho các nguy cơ từ tự nhiên có cảm giác ít đáng sợ hơn nhiều so với những nguy hiểm từ con người.
Quy luật Tốt-Xấu còn hình thành nên ngôn ngữ chỉ trích. Thế giới không nghĩ ra những lời lưu ý có tính chất thanh minh. Khi chứng kiến và trải nghiệm mọi thứ, chúng ta phải định hình theo cách này hay cách khác để tạo nên những khái niệm, nhận thức về chúng, để đem lại cho chúng những ý nghĩa. Sự định hình này được thực hiện qua ngôn ngữ.
Bức hình một miếng thịt bò xay đã được chế biến. Đây là một sự vật sống sượng nhất và nhiệm vụ đánh giá chất lượng của nó chẳng có gì là khó khăn. Dường như sẽ có một vài, nếu không thì một số cách mà ngôn ngữ miêu tả nó có thể ảnh hưởng tới đánh giá của con người. Tuy nhiên nhà tâm lý học Irwin Levin và Gary Gaeth đã thực hiện điều này chỉ trong một thí nghiệm được che giấu dưới dạng nghiên cứu thị trường. Các nhà nghiên cứu nói với một nhóm những người tham gia rằng đây là một mẫu thịt bò. Nó có 75% độ nạc. Hãy phân tích và đánh giá nó. Sau đó hãy nếm thử một vài miếng rồi đánh giá lại. Với nhóm thứ hai, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một mẫu thịt bò giống như vậy nhưng lại miêu tả rằng nó có 25% độ mỡ. Và kết quả là: Trong cuộc xem xét thứ nhất, mẫu thịt bò được miêu tả có 75% độ nạc được đánh giá cao hơn nhiều so với mẫu vật được cho là có 25% độ mỡ. Sau khi nếm thử, kiến ủng hộ cho thịt “nạc” đã sụt giảm nhưng vẫn còn thể nhận thấy rõ ràng.
Sự sống và cái chết là những điều gì đó đem lại nhiều tác động cảm xúc hơn nhiều so với thịt bò mỡ hay nạc. Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi những từ ngữ mà một bác sĩ lựa chọn để đưa ra sẽ có nhiều sức ảnh hưởng hơn những lời được sử dụng trong thí nghiệm của Levin và Gaeth. Trong một thí nghiệm được tiến hành vào năm 1982, Amos Tversky và Barbara McNeil đã chứng minh điều này bằng cách yêu cầu những người tham gia tưởng tượng họ là những bệnh nhân ung thư phổi, những người phải quyết định giữa liệu pháp điều trị phóng xạ và phẫu thuật. Một nhóm “bệnh nhân” được cho biết có 68% khả năng họ sẽ sống sót sau phẫu thuật. Nhóm còn lại được thông báo rằng họ có 32% nguy cơ bị tử vong (nếu thực hiện phẫu thuật). Việc định hình quyết định trên cơ sở khả năng sống sót đã dẫn tới kết quả là 44% mọi người lựa chọn phẫu thuật chứ không chạy tia phóng xạ. Nhưng khi thông tin được chuyển thành nguy cơ tử vong, tỉ lệ này giảm xuống còn 18%. Tversky và McNeil đã lặp lại thí nghiệm này với các bác sĩ và cũng thu được những kết quả tương tự. Trong một thí nghiệm khác, Tversky và Daniel Kahneman cũng chỉ ra rằng khi người ta được thông báo rằng một đợt dịch cúm nổ ra có thể giết chết 600 người, đánh giá của mọi người về việc lựa chọn một chương trình nên được áp dụng để đối phó với nạn dịch cũng bị ảnh hưởng căn bản việc kết quả của những chương trình được kì vọng được mô tả trên cơ sở số sinh mạng được cứu sống (200) hay số người thiệt mạng (400).
Tính chất sinh động của ngôn ngữ cũng được thể hiện trong tính chỉ trích. Cass Sunstein, Giáo sư luật của trường Đại học Chicago, người thường xuyên áp dụng những thành quả của tâm lý học để giải quyết các vấn đề về luật và chính sách công, đã hỏi các sinh viên rằng họ sẽ chấp nhận trả giá như thế nào để được bảo hiểm chống lại một nguy cơ. Với một nhóm, nguy cơ được mô tả là “chết bởi bệnh ung thư”. Những sinh viên khác lại được nói rằng nguy cơ không chỉ là một cái chết do bệnh ung thư, mà cái chết đó sẽ “rất khủng khiếp và vô cùng đau đớn, khi khối ung thư ăn dần các cơ quan nội tạng của cơ thể.” Sự thay đổi đó trong ngôn ngữ mô tả đã có ảnh hưởng cơ bản tới cái giá mà các sinh viên sẵn sàng trả để được bảo hiểm, ảnh hưởng đó thậm chí còn lớn hơn cả khi chúng ta thay đổi các mức độ khả năng xảy ra rủi ro. Cảm giác đã lấn át những con số. Luôn luôn là như vậy.
Tất nhiên dạng thức sâu sắc nhất của giao tiếp là những hình ảnh, và không có gì ngạc nhiên khi có rất nhiều các bằng chứng cho thấy những bức ảnh đáng sợ như vậy không chỉ choán lấy sự chú ý của chúng ta mà còn dính chặt vào kí ức, khiến chúng trở nên đầy ảnh hưởng thông qua Quy luật Điển hình, chúng gợi nhớ các tâm trạng ảnh hưởng tới những nhận thức về nguy cơ của chúng ta thông qua Quy luật Tốt-Xấu. Nói với những người hút thuốc rằng thói quen của họ có thể khiến họ bị ung thư phổi là một chuyện, cho họ nhìn thấy những lá phổi bị ám đen, rỗ lỗ chỗ của những người hút thuốc đã chết lại là chuyện khác. Đó là lý do tại sao một vài quốc gia, trong đó có Canada và Australia đã thay thế những dòng chữ cảnh báo sức khỏe trên các vỏ bao thuốc lá bằng những hình ảnh hãi hùng về những lá phổi, trái tim và nướu răng của những người bị ung thư. Những hình ảnh đó không phải chỉ đáng sợ. Nó còn tăng nhận thức về nguy cơ.
Thậm chí những thay đổi nhẹ trong ngôn ngữ cũng có thể có những ảnh hưởng rất đáng kể. Paul Slovic và đội ngũ của mình đã cung cấp cho các chuyên gia tâm thần học trong lĩnh vực tòa án - những người đàn ông và phụ nữ được đào tạo về toán học và khoa học, chẩn đoán khác của thầy thuốc lâm sàng về một bệnh nhân tâm thần trong một tổ chức từ thiện. Dựa trên chẩn đoán này, các chuyên gia tâm thần học được hỏi ý kiến, có nên thả bệnh nhân đó không? Một nửa những đánh giá dự đoán rằng trường hợp đó tương tự với ông Jones “có 20% khả năng sẽ thực hiện những hành vi bạo lực” sau khi được thả. Trong số những chuyên gia tâm thần học đã đọc phiên bản này, 21% nói rằng họ sẽ không thả bệnh nhân.
Cách diễn đạt trong phiên bản thứ hai của chẩn đoán đã được thay đổi rất ít. Chẩn đoán này dự đoán rằng “cứ 100 bệnh nhân tương tự như trường hợp của ông Jones thì có 20 người” sẽ có hành vi bạo lực sau khi được thả. Tất nhiên, 20% và “cứ 100 người thì có 20 người” chẳng có gì khác nhau về ý nghĩa. Nhưng 41% các chuyên gia tâm thần học đọc phiên bản thứ hai này nói rằng nên tiếp tục quản thúc bệnh nhân đó. Vì thế, có thể nói những sự thay đổi bề ngoài, không có giá trị nội dung trong cách diễn đạt đã tăng tỉ lệ từ chối lên tới gần 100%. Sự biến đổi này diễn ra như thế nào? Lời giải thích nằm trong nội dung cảm xúc của cụm từ “20 phần trăm”. Nó rỗng tuếch, trừu tượng, chỉ là một con số đơn thuần. “Phần trăm” là cái gì? Tôi có thể nhìn thấy một cái “phần trăm”? Tôi có thể động chạm vào nó? Không. Nhưng “cứ 100 người thì có 20 người” lại là một cái gì đó rất thật và cụ thể. Nó giống như đang mời bạn gặp một người. Và trong trường hợp này, người đó đang thực hiện những hành vi bạo lực. Kết quả không tránh khỏi của cụm diễn đạt này là nó tạo ra những hình ảnh bạo lực “những người đàn ông phát điên, và giết chết ai đó” - như một người đã nói trong cuộc phỏng vấn sau thí nghiệm, điều này đã khiến cảm giác về nguy cơ lớn hơn và việc tiếp tục tống giam bệnh nhân đó sẽ trở nên cần thiết hơn.
Những người làm các công việc liên quan tới ý kiến công chúng chỉ quá chú tâm vào sự ảnh hưởng mà dường như coi nhẹ những thay đổi về mặt ngôn ngữ có thể có. Chẳng hạn như sự tưởng tượng cộng hưởng từ tính (MRI) ban đầu được gọi là “sự tưởng tượng cộng hưởng từ tính hạt nhân” nhưng từ “hạt nhân” đã bị bỏ đi để tránh làm mất đi hình ảnh đẹp về một công nghệ mới đầy hứa hẹn. Trong chính trị, toàn bộ ngành cố vấn đã được sinh ra để làm việc với những tín hiệu ngôn ngữ kiểu như: sự điều chỉnh của đảng Cộng hòa từ các cụm từ “cắt giảm thuế” và “thuế tài sản” sang thành “giảm nhẹ thuế” và “thuế chết” để biến hai thuật ngữ này trở thành những thành tựu nổi tiếng hơn của Đảng.
Quy luật Tốt-Xấu cũng có thể thể hiện sự phá hoại đối với những đánh giá hợp lý của chúng ta về khả năng có thể xảy ra của một điều gì đó. Trong một chuỗi những thí nghiệm do Yuval Rottenstreich và Christopher Hsee tiến hành với các sinh viên khoa kinh doanh thuộc trường Đại học Chicago, các sinh viên được yêu cầu tưởng tượng lựa chọn giữa 50 USD tiền mặt và cơ hội được hôn ngôi sao điện ảnh mà họ hâm mộ. 70% trả lời rằng họ sẽ lấy tiền. Một nhóm sinh viên khác được yêu cầu lựa chọn giữa 1% cơ hội giành được 50 USD tiền mặt và 1% cơ hội được hôn ngôi sao điện ảnh mà họ hâm mộ. Kết quả gần như ngược lại một cách chính xác: 65% chọn một nụ hôn. Yuval Rottenstreich và Christopher Hsee đã tìm thấy lời giải cho kết quả này trong Quy luật Tốt-Xấu: Tiền mặt không có yếu tố cảm xúc đi kèm, do đó 1% cơ hội giành được 50% là quá nhỏ - như nó thực sự là như vậy. Nhưng thậm chí chỉ là một nụ hôn tưởng tượng với một ngôi sao điện ảnh cũng đã khuấy động những cảm giác mà tiền bạc không thể đem lại, vì thế 1% cơ hội của một nụ hôn như vậy lại hiện ra lớn hơn.
Rottenstreich và Hsee đã thực hiện thêm nhiều biến thể của thí nghiệm này nhưng cũng dẫn tới cùng một kết luận. Sau đó họ chuyển qua các vụ điện giật. Các sinh viên được chia làm hai nhóm. Một nhóm được giao hẹn tưởng tượng rằng mình sẽ tham gia một sự việc gì đó có khả năng bị mất 20 USD. Nhóm còn lại được thông báo rằng có nguy cơ sẽ bị “một cú điện giật trong thời gian ngắn, đau nhưng không nguy hiểm.” Lại một lần nữa, nguy cơ mất tiền trở nên trung tính về cảm xúc. Nhưng cú điện giật thì thực sự đáng sợ. Các sinh viên được nói rằng họ sẽ có hai khả năng chịu nguy cơ bị điện giật, hoặc là 99% khả năng bị điện giật, hoặc là chỉ có 1%. Giờ thì bạn sẽ trả bao nhiêu để tránh khỏi nguy cơ này?
Khi có 99% khả năng sẽ bị mất 20 USD, các sinh viên sẵn sàng trả 18 USD để tránh khỏi nguy cơ mất mát gần như chắc chắn này. Khi khả năng mất tiền giảm xuống 1%, họ nói rằng sẽ chỉ trả 1 USD để tránh khỏi nguy cơ. Bất cứ nhà kinh tế nào cũng thích kết quả đó. Đó là một phản ứng chính xác và có tính toán về khả năng xảy ra, một sự hợp lý hoàn hảo. Nhưng các sinh viên được yêu cầu tưởng tượng về một cú điện giật lại làm khác đi. Đối mặt với nguy cơ 99% bị điện giật, họ nói rằng sẵn sàng trả 10 USD để chặn nguy cơ đó lại. Nhưng khi nguy cơ chỉ là 1%, học sẽ sẵn sàng trả 7 USD để bảo vệ chính mình. Rõ ràng là khả năng bị hạ gục hay không hầu như chẳng có ảnh hưởng gì. Vấn đề ở đây là nguy cơ có thể bị điện giật thật đáng sợ - và họ cảm thấy nó.
Rất nhiều những nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng thậm chí khi chúng ta tỉnh táo, bình tĩnh và suy nghĩ cẩn thận, chúng ta cũng không có khuynh hướng tự nhiên phân tích các tỉ lệ. Liệu tôi có nên mua bảo hành mở rộng cho chiếc ti vi màn ảnh rộng mới cứng? Câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất mà tôi nên thắc mắc là liệu nó có thể bị hỏng và phải đem đi sửa hay không. Nhưng những nghiên cứu đã cho thấy rằng, rất có khả năng tôi sẽ chẳng bao giờ nghĩ về điều đó. Và nếu có nghĩ thì tôi cũng sẽ không hoàn toàn có một suy nghĩ logic về điều này. Ví dụ như, sự chắc chắn đã được thể hiện để có một ảnh hưởng vượt mức lên đánh giá của chúng ta về những khả năng xảy ra: một sự thay đổi từ 100% tới 95% sẽ có trọng lượng hơn nhiều so với một sự giảm từ 60% xuống 55%, trong khi một mức nhảy từ 0% lên 5% sẽ tạo cảm giác giống như một sự tăng trưởng khổng lồ, hơn nhiều so với mức tăng từ 25% lên 30%. Sự tập trung vào tính chắc chắn này giúp giải thích khuynh hướng không thích hợp của chúng ta khi nghĩ về tính an toàn trong những thuật ngữ, phạm trù trắng - và - đen, cũng giống như an toàn hay không an toàn khi trong thực tế, tính an toàn luôn luôn là một cái bóng màu xám xịt.
Và tất cả những điều này sẽ là sự thật khi không có những nỗi sợ hãi, mối nguy hiểm, hay hi vọng xen vào. Sự bung ra của một cảm xúc mạnh khiến cho người ta có thể dễ dàng trở nên “mù khả năng” - theo như thuật ngữ của Cass Sunstein. Cảm giác này đơn giản là sẽ quét sạch những con số. Trong một cuộc điều tra, Paul Slovic đã hỏi ý kiến một số người rằng liệu họ sẽ ủng hộ hay phải đối quan điểm cho rằng một nguy cơ 1/10.000.000 sẽ bị mắc bệnh ung thư khi bị phơi nhiễm từ một nhà máy là quá nhỏ, không đáng để lo lắng. Đó là một mức độ rủi ro nhỏ tới mức khó tin, nhỏ hơn nhiều so với khả năng sẽ bị giết bởi sấm sét hay vô vàn những mối nguy hiểm khác mà chúng ta hoàn toàn lờ đi. Tuy nhiên, vẫn có một phần ba không đồng ý, nghĩa là họ sẽ lo lắng. Đó chính là sự mù khả năng. Điều trớ trêu ở đây là bản thân tình trạng mù khả năng này rất nguy hiểm. Nó có thể dễ dàng dẫn con người ta tới những phản ứng thái quá đối với những nguy hiểm và làm một điều gì đó ngu ngốc, kiểu như cấm luôn việc di chuyển bằng máy bay vì lo sợ những vụ không tặc đã khủng bố bốn chiếc máy bay.
Không chỉ Quy luật Tốt-Xấu mới có thể loại khỏi nhận thức của chúng ta những sự chênh lệch đó. Đó còn là những cái giá. “Nó sẽ đáng giá nếu mạng sống của một ai đó được an toàn” - đây là điều chúng ta vẫn thường nghe về những chương trình mới hay những sự điều chỉnh, quy tắc được đặt ra để giảm thiểu một nguy cơ nào đó. Nó có thể thật mà cũng có thể không. Chẳng hạn một chương trình có chi phí 100 triệu USD và cứu được một mạng người thì gần như chắc chắn là không đáng vì có rất nhiều cách khác để sử dụng 100 triệu USD mà chắc chắn cứu được nhiều hơn một sinh mạng.
Bản thân dạng thức phân tích lợi ích chi phí này cũng là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp tới mức đáng sợ. Một trong rất nhiều thành quả quan trọng nó đã tạo ra là những thứ khác nhau tương đương như nhau, “giàu mạnh, thịnh vượng hơn có nghĩa là khỏe mạnh hơn”. Con người và các quốc gia càng có nhiều tiền thì họ càng có xu hướng được khỏe mạnh và an toàn hơn. Những người tham gia cứu trợ các thảm họa luôn nhìn thấy điều này mỗi khi có một trận động đất lớn. Nhiều người không bị giết bởi động đất, họ bị chết bởi các tòa nhà cao tầng đổ sụp trong những trận động đất và vì thế các tòa nhà càng mỏng manh, thiếu chắc chắn thì con người càng có nhiều khả năng bị chết. Đó là lý do tại sao những trận động đất có cường độ như nhau có thể giết chết hàng tá người ở California nhưng sẽ giết chết hàng trăm nghìn người ở Iran, Pakistan hay Ấn Độ. Sự chênh lệch này thậm chí còn có thể xảy ra trong cùng một thành phố. Khi một trận động đất quy mô lớn làm rung chuyển thành phố Kobe, Nhật Bản vào năm 1995 và giết chết 6.200 người, những nạn nhân không phải được phân bố rải khắp trên toàn thành phố và khu vực. Số lượng người thiệt mạng trong các khu dân nghèo hoàn toàn lấn át.
Những quy định của chính phủ có thể giảm thiểu nguy hiểm và cứu sống những sinh mạng. Những tòa nhà tại California bền chắc tới từng phần kết cấu bởi những tiêu chuẩn xây dựng bắt buộc. Nhưng những quy định còn có thể áp đặt những cái giá lên hoạt động kinh tế. Và vì lẽ rằng giàu mạnh hơn có nghĩa là khỏe mạnh hơn, các chi phí kinh tế, nếu quá lớn, có thể đặt nhiều sinh mạng vào tình trạng nguy hiểm hơn là giữ an toàn cho họ. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng dự đoán mức chi phí điều tiết là bao nhiêu thì có thể sẽ “cướp đi mạng sống” của một con người nhưng những kết quả vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, có một ý kiến được chấp nhận rộng rãi là các quy định có thể đánh vào chi phí kinh tế, và chi phí kinh tế có thể làm giảm sức khỏe và tính an toàn. Chúng ta phải tính toán tới điều này nếu muốn hợp lý hóa nhận thức về các mối nguy hiểm.
Tất nhiên là hiếm khi chúng ta làm được như vậy. Theo như nhà khoa học chính trị Howard Margolis đã miêu tả trong Dealing With Risk (Giải quyết nguy cơ), công chúng thường yêu cầu những hành động đối với một nguy cơ nào đó mà không cân nhắc, dù chỉ là một sự đắn đo ở mức độ ít nhất tới các chi phí cho hành động đó. Tuy nhiên, khi các tình huống buộc chúng ta phải đối mặt với các chi phí như vậy, có thể chúng ta sẽ vội vàng thay đổi những suy nghĩ của mình. Margolis đã dẫn ra trường hợp chất amiăng tại các trường công ở New York, vụ việc đã gây ra một cuộc khủng hoảng vào năm 1993 khi năm học mới phải hoãn lại vài tuần vì công việc đánh giá mức độ nguy hiểm đã kéo dài sang tới tháng 09. Các bậc cha mẹ đã rất kiên quyết ủng hộ công việc này. Các chuyên gia nói rằng nguy hiểm thực sự của amiăng đối với lũ trẻ là rất nhỏ, đặc biệt khi so sánh với vô số các vấn đề mà những đứa trẻ nghèo ở New York phải đối mặt, và chi phí lại vô cùng lớn. Nhưng những lý do này chẳng có tác dụng gì. Cũng giống như căn bệnh ung thư mà nó có thể gây ra, amiăng mang danh một kẻ giết người. Nó đã kích hoạt Quy luật Tốt-Xấu và một lần nữa, tất cả những thứ khác đều là chuyện vặt vãnh. Một bậc phụ huynh đã quát lên trong cuộc họp: “Đừng bảo chúng tôi phải bình tĩnh! Sức khỏe của con cái chúng tôi đang bị đe dọa.”
Nhưng khi các trường học chậm mở cửa vào tháng 09, các bậc cha mẹ lại phải đối phó với một cuộc khủng hoảng khác. Ai sẽ chăm sóc những đứa trẻ? Với những bậc phụ huynh có hoàn cảnh khó khăn, đó thực sự là một gánh nặng nghiêm trọng. Margolis đã viết: “Trong vòng ba tuần, sắc thái tâm lý chủ đạo đã hầu như biến đổi ngược lại.”
Những trải nghiệm như vậy, cùng với nghiên cứu về vai trò của cảm xúc trong đánh giá đã giúp Slovic và các nhà khoa học khác đưa ra một số kết luận. Một trong số đó là các chuyên gia đã sai khi nghĩ rằng họ có thể xóa bỏ những sợ hãi liên quan tới một mối nguy hiểm đơn giản chỉ bằng cách “chỉ rõ sự thật”. Nếu một kĩ sư nói với mọi người rằng đừng nên lo lắng nguy cơ lò phản ứng (hạt nhân) bị nóng chảy, làm phun trào những đám mây phóng xạ trên diện rộng, nhiễm vào người những đứa trẻ của họ và khiến chúng có khả năng bị ung thư… Vô ích, họ sẽ không hề bị tác động bởi những tỉ lệ. Chỉ có nhận thức logic - Cái Đầu - là quan tâm tới những tỉ lệ. Nhưng, như chúng ta đã biết, hầu hết mọi người không quen để cho Cái Đầu cố gắng can thiệp và điều chỉnh cho đúng những đánh giá của Cái Bụng. Xu hướng tự nhiên của chúng ta là đi theo những đánh giá trực giác.
Một điểm quan trọng khác liên quan tới Quy luật Tốt-Xấu cũng là vấn đề của Quy luật Điển hình: Chúng ta có thể bị tấn công bởi những ngữ cảnh đáng sợ. Hãy thử phân tích câu chuyện mà chính quyền Bush đã công bố nhằm tạo điều kiện cho cuộc xâm lược Iraq. Saddam Hussein có thể đang tìm cách có được những nguyên liệu để chế tạo các loại vũ khí hạt nhân. Có thể Saddam đã bắt đầu một chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân. Có thể chương trình đó đã chế tạo thành công các loại vũ khí hạt nhân, cũng có thể Saddam đã cung cấp những vũ khí đó cho bọn khủng bố. Có thể các phần tử khủng bố được vũ trang bằng vũ khí hạt nhân đang tìm cách sử dụng chúng tại một thành phố nào đó của nước Mỹ, và có thể chúng sẽ thành công. Tất cả những điều này đều là “có thể”. Nhưng một đánh giá sáng suốt về ngữ cảnh này có thể phân tích tỉ lệ mỗi sự kiện trên xảy ra trên cơ sở nhận thức rằng, chỉ cần một trong chuỗi sự kiện đó không phải là hiện thực, thì thảm họa cuối cùng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên đó không phải là cách thức Cái Bụng sẽ phân tích trên cơ sở Quy luật Tốt-Xấu. Nó sẽ bắt đầu từ đầu còn lại của chuỗi sự kiện. Một thành phố của nước Mỹ sẽ bị biến thành một đống vụn nát vì phóng xạ, hàng trăm nghìn người sẽ chết, thêm hàng trăm nghìn người nữa bị thiêu cháy hay bị thương. Khi ấy, Cái Bụng sẽ phản ứng. Đó thật là một điều kinh khủng. Cảm giác đó sẽ không chỉ định hình câu hỏi của bạn rằng liệu điều này có xảy ra hay không mà còn chi phối luôn câu hỏi đó, đặc biệt nếu như ngữ cảnh được miêu tả bằng một thứ ngôn ngữ ấn tượng - thứ ngôn ngữ mà Nhà Trắng nhắc đi nhắc lại: “Chúng ta không muốn thay vì những nòng súng bốc khói lại là một đám mây hình nấm.”
Cũng giống như những phần tử khủng bố được vũ trang bởi một loại vũ khí hạt nhân nào đó, một thiên thạch cũng có thể san bằng một thành phố. Nhưng những thiên thạch chỉ là những hòn đá. Chúng không bị bao bọc trong tấm áo choàng của tội ác như các phần tử khủng bố, chúng cũng không có những thành kiến xấu như bệnh ung thư, chất amiăng hay sức mạnh hạt nhân. Chúng không khuấy động bất cứ cảm xúc đặc biệt nào, do đó nó không tham gia vào Quy luật Tốt-Xấu và lấn át cảm nhận của chúng ta rằng nó khó có thể gây hại cho chúng ta. Quy luật Điển hình cũng không thể can thiệp. Ảnh hưởng thực sự lớn duy nhất của thiên thạch trong kỉ nguyên hiện đại là sự kiện Tunguska(1), xảy ra cách đây đã một thế kỉ tại một nơi rất xa xôi hẻo lánh mà chỉ có một nhóm người chứng kiến. Đã có những bản tin về “những vụ thoát chết trong gang tấc” và một sự chú ý đáng kể đã được dành cho những lời cảnh báo của các nhà thiên văn học. Nhưng trong khi điều này có thể tăng nhận thức của chúng ta thì nó lại rất khác so với những kinh nghiệm cụ thể mà những nhận thức căn bản của chúng ta được kết nối để phản ứng. Rất nhiều người cũng biết về giả thuyết rằng một thiên thạch đã quét sạch sự tồn tại của loài khủng long trên trái đất nhưng trong kí ức của chúng ta điều đó cũng chẳng sống động hơn so với sự kiện Tunguska. Vì thế, Quy luật Điển hình sẽ lái Cái Bụng tới kết luận rằng nguy cơ là nhỏ hơn (so với tính nguy hiểm thực sự của nó).
Đơn giản là chẳng có cái gì liên quan tới các thiên thạch khiến cho Cái Bụng phải bất chợt chú ý tới. Chúng ta không cảm thấy mối nguy hiểm đe dọa. Về nguyên nhân này, Paul Slovic đã nói với các nhà thiên văn học tại hội thảo Tenerife: “Sẽ thật khó để tạo ra những mối quan ngại liên quan tới các thiên thạch trừ khi đó là một mối đe dọa có thể nhận biết được, chắc chắn sắp xảy ra, và khủng khiếp.” Tất nhiên, khi có một mối đe dọa có thể nhận biết được, chắc chắn sắp xảy ra, và khủng khiếp, thì sẽ là quá muộn để làm một điều gì đó phản ứng trước mối nguy hiểm ấy.
Vậy, điều này có ý nghĩa gì? Gần như chắc chắn rằng trái đất sẽ không bị tấn công bởi một thiên thạch lớn trong thời gian cuộc đời của chúng ta và con chúng ta. Nếu chúng ta không nghe theo những lời khuyên của các nhà thiên văn học và đầu tư vào một chính sách bảo hiểm cho trái đất, chúng ta sẽ cùng nhau tiết kiệm những đồng đô la và sẽ gần như không hối hận về điều này. Nhưng, thảm họa đó vẫn có thể xảy ra. Và chi phí bảo hiểm 400 triệu USD là quá khiêm tốn trong mối tương quan với những gì chúng ta đã bỏ ra để đối phó với những nguy cơ khác. Vì nguyên nhân này, Richard Posner, người được giới trí thức biết tới bởi những phân tích kinh tế rất dứt khoát của mình, đã cho rằng các nhà thiên văn học nên được hỗ trợ về tài chính: “sự thật rằng một thảm họa rất khó có thể xảy ra không phải là một sự bào chữa cho thái độ tảng lờ đi nguy cơ xảy ra của bi kịch đó.”
Tuy nhiên, thảm họa đặc biệt khiến Posner phải viết ra những dòng đó lại không phải là đòn tấn công của thiên thạch, mà đó là cơn sóng thần ở Ấn Độ Dương vào năm 2004. Trong suốt lịch sử ghi chép được chưa từng có một sự kiện như vậy xảy ra trong khu vực, và ngày trước khi nó thực sự ập tới, các chuyên gia cũng đã cho rằng gần như chắc chắn nó sẽ không xảy ra trong thế hệ của chúng ta cũng như con chúng ta. Nhưng qua một số báo cáo các chuyên gia cũng nói rằng một hệ thống cảnh báo sóng thần nên được xây dựng trong khu vực này vì chi phí là rất vừa phải. Đề xuất đó đã bị lờ đi, và 230.000 người đã chết.
Thảm họa đó xảy ra ba tuần sau khi hội thảo về thiên thạch tại đảo Canary kết thúc. Vai giờ sau khi những con sóng quét sạch bờ biển từ Indonesia tới Thái Lan và Somalia, Slava Gusiakov, một chuyên gia nghiên cứu về sóng thần người Nga, người đã có mặt tại hội thảo đó, đã gửi một e-mail đầy cảm xúc tới các đồng nghiệp: “Chúng ta đã nhắc đi nhắc lại cụm từ khả năng xảy ra nhỏ nhưng hậu quả vô cùng lớn. Và nó đã xảy ra.