Trời đất vẫn tối đen tối thẳm. Sương mù và khí núi càng buốt. Gió thổi như gào như rít làm vang âm thêm những tiếng suối tiếng thác mịt mùng. Rừng núi trập trùng ở chung quanh càng như những cánh tay của những thân hình khổng lồ ôm khít lấy cảnh vật và đè xuống dưới chân nó.
Ngọn đèn độc nhất của nhà phe mì (1)càng sáng.
⚝ ✽ ⚝
[1] Nhà thuốc, bệnh xá.
Ngọn đèn của nhà phe mì càng sáng vì ông già phe mì đã dậy. Người ta đã nghe thấy tiếng ho đổ cơn đổ trận và cả tiếng thở, tiếng nói lầm thầm của ông cụ. Đã mười năm rồi, ông cụ vẫn là người dậy sớm nhất đề lao này. Canh gà tinh mơ nào đề lao cũng thấy ông cụ dậy như thế. Cũng đúng mười năm rồi, trong khi các ngọn đèn ở trại khổ sai, trại án thường, trại tạm giam và cả ở vọng gác chính nữa, ngọn thì lù mù, nhòe lụn đi vì khói, vì bấc thối, vì sắp cạn dầu, vì bụi mưa, vì hơi sương, và, có ngọn tắt ngấm, thì ngọn đèn của nhà phe mì đến lúc đó lại sáng hẳn lên. Vì vậy người tù ốm nặng nào lên nằm trên đây khi về trại đều chuyện với anh em nhà pha về ngọn đèn và ông già nọ. Họ bảo đêm khuya về sáng nằm ở nhà phe mì thật như ở âm ty địa ngục. Vậy mà lúc ông già phe mì dậy, ngọn đèn được vặn to, bóng đèn lau lại, rồi họ được nghe tiếng ông cụ ho, được nghe ông cụ vừa thở vừa lầm thầm nói một mình, thì họ liền thấy thật là họ sống lại. Nhưng cũng chính thật ông già phe mì đã vuốt mắt cho nhiều người hấp hối, đã nghe họ kể lể giối giăng nhiều chuyện, nhiều việc vào lúc ông cụ dậy và ngọn đèn kia vặn sáng lên...
Ông già phe mì cũng là nhà pha. Ông cụ án khổ sai chung thân. Hai con trai ông cụ, người lớn bị án chém, người con thứ mới mười bảy tuổi bị hai mươi năm. Anh bé này phát vãng lên đây chưa được năm năm thì bị sốt rét phát nóng phát điên chết. Còn ông cụ ở đã được hai mươi năm. Tỉnh Hà Giang xây đề lao này được bao nhiêu năm, ông cụ ở bấy nhiêu năm. Cũng như có nhà phe mì từ bao lâu thì ông cụ ở bấy lâu. Ông cụ chịu khó lắm, nhất là hiền lành, như người cổ xưa ấy. Bởi vậy ông cụ đi làm sở nào thì từ người nhà các quan đến chú lính bác bếp thầy cai ngài đội đều vừa ý. Tuy ông cụ ở mới được năm năm, quản đề lao cũng cho ông cụ tháo xiềng. Rồi từ ngày đề lao có nhà phe mì, ông cụ được cắt giữ ngay chân loong toong, không phải làm cỏ vê nữa. Ngày ngày ông cụ xách cái thùng ngăn ra nhà thương lấy thuốc, hay quản đề lao có sai phái đi phố đi chợ việc gì, ông cụ đều đi một mình. Không riêng những người nhà pha quý mến ông cụ mà cả những người ngoài phố, những người nhà lính Thổ lính Mèo đối với cụ cũng như thế. Ông cụ có môn thuốc dấu bó xương và môn châm cứu bệnh nhức đầu buốt óc. Một hiệu Quảng Đông bán thuốc bắc to nhất tỉnh có người con trai con một đi ngựa chơi núi ngã gẫy chân, phải đưa con về tận Hà Nội chữa điện cũng không khỏi, đã tưởng con phải chịu cố tật, vậy mà nhờ ông cụ chỉ có nắm thuốc lá với con gà giò mà lành như trước.
Ông già phe mì năm nay sáu mươi nhăm tuổi rồi. Nghe phong thanh trên tòa Thượng thẩm định đến năm ông cụ bảy mươi mới giảm án cho. Tuy người chủ hiệu thuốc kia đã nói với nhiều cửa cho ông cụ, nhưng vợ chồng lão Tây quan hai giám binh về hưu chủ đồn điền Bắc Giang bị cha con ông cụ đâm chết thằng con, cứ nhất định viết giấy bảo các quan tòa không được giảm án. Đã thế cả các quan sứ, quan tuần ở tỉnh ông cụ cũng không bằng lòng ân giảm cho ông cụ.
... Hôm nay có một người không ở nhà phe mì nhưng cũng ngong ngóng ông già phe mì dậy. Rồi khi ngọn đèn ở đây vặn lên, chiếu một vùng ánh sáng nhập nhòe đùng đục qua những khe cửa quét hắc ín và những bực thềm gây gây mùi thuốc vàng mùi nước kê din, người này cũng rộn rực lên vì mừng rỡ. Đó là mẹ La ở trại đàn bà xế cửa nhà phe mì. Trại đàn bà cũng chật chội, số người cũng ngang với người ốm của nhà phe mì. Tất cả mười hai nhà pha. Bốn người Thổ, một người Mèo và bảy người Kinh. Có ba người án nặng. Một chị Thổ bị hai mươi năm, tội bỏ thuốc độc cho lão chồng già nghiện làm xã đoàn, y đã mua chị về làm vợ năm chị mới mười ba tuổi. Một người đã có tuổi, ở vùng biển Nam Định, đi cấy cho nhà thờ xứ, dám ăn cắp cả tiền Đức Bà và cũng bỏ thuốc độc làm chết một thầy già, cũng bị hai mươi năm. Chị tù thứ ba chuyên mò cua bắt ốc người như dở dở hâm hấp, đã nhiều lần chửa hoang. Chuyến cuối cùng, chị đẻ con được ba tháng bỏ con xuống ao, chị bị mười năm. Còn mẹ La chống cái án tòa Hải Phòng xử năm năm lên tòa Thượng thẩm Hà Nội bị tăng lên mười năm.
Mẹ La nằm ở cuối trại. Mé tường chỗ mẹ nằm cũng quét hắc ín; các gầm các xó sàn cũng quanh năm gây gây tanh tanh mùi thuốc kê din, mùi thuốc vàng và mùi đầu tóc, mùi quần áo, đồ đạc, thức ăn mặn muội lưu cữu. Qua khe tấm cửa gỗ bắt đinh bù loong, mẹ La đã đón nhìn được ánh đèn, và nghe thấy tiếng ho, tiếng thở, tiếng lầm thầm của ông già phe mì. Khi mẹ thức dậy, cái đen tối ở trên đầu mẹ, ở chung quanh mẹ thăm thẳm như chết, lạnh cũng như chết. Ngọn đèn của trại tắt từ lâu. Sương mù và khí núi rỉ vào làm trại hun hút như một hang sâu, một nhà mồ. Cùng lúc mẹ La ló đầu ra, nhìn ánh đèn nhà phe mì thấy tâm trí rạng sáng tỉnh táo hẳn lên, thì những mùi gây tanh cũng như thoảng đi. Nhưng hé thở ra ngoài chiếc chăn chiếc chiếu chằng đụp, mẹ La lại càng buốt càng lọng cả đầu óc, tuy mẹ có đỡ ngột ngạt.
Lần này mẹ La thà rằng bị rét buốt còn hơn là chịu cái bưng bít ngột ngạt. Nhất là mẹ lại được trông thấy ánh đèn bên nhà phe mì, được nghe thấy tiếng ông cụ trong cái phút giờ thăm thẳm của ngục tù đêm tối sương gió này nó đã làm mẹ mê thiếp đi. Bữa chiều nay, đi làm cỏ vê về, mẹ La lại bỏ cơm. Mẹ uống hết gáo nước lá ổi của mẹ lại còn uống cả bơ nước lã xin của chị em nữa. Càng uống mẹ càng thấy khát. Và càng khát lại càng thèm. Mẹ La chỉ nghĩ chỉ thèm nếu được bát nước chè tươi đặc, nóng sút lưỡi, hay bát nước lá vối ủ nấu với hương nhu, hay bát nước gạo rang có mấy nhát gừng, là mẹ có thể cất ngay cơn sốt. Như thế mẹ có phải đổi quần đổi áo hay thức gì quý giá nhất của mẹ, hoặc mẹ phải tăng án hàng năm mẹ cũng vui lòng. Không hiểu lúc quản đề lao vào điểm tù rồi khóa cửa, chị em nào đã vực mẹ ngồi dậy điểm rồi đỡ mẹ nằm xuống, đắp chăn chiếu cho mẹ. Hình như còn có người dìu mẹ đến cái bô ở góc trại cho mẹ đái nữa.
Chính trong khi mẹ La như không còn hay biết cả mình và chung quanh làm những gì ấy, mẹ lại thấy rất rõ bao nhiêu chuyện, bao nhiêu việc, bao nhiêu người và cứ toàn những chuyện, những việc, những người làm mẹ mê thiếp hơn. Lúc mẹ thấy cái người bị án chém một mình ở xà lim dưới lô cốt sau trại đàn bà. Anh ta đeo mỗi manh áo trắng rách, chân đã bị cùm lại còn xiềng, tay bị xích, thỉnh thoảng lại nhô cái đầu trọc, má gồ, mắt hõm, lờ ngờ cúi nhìn xuống mặt mẹ như muốn tìm kiếm hay hỏi nói với mẹ điều gì. Lúc thì cái sống lưng của người tù nhà bếp ngã hẳn vào người mẹ, nằm rục xuống cạnh mẹ. Cái sống lưng ấy da bọc xương, đen cóc cáy, một cái ung ở bên cổ ri rỉ chảy nước xuống, vậy mà vẫn vừa lê xiềng vừa trệch trẹo gánh đôi thùng tôn đầy nước. Lúc thì những cánh tay gầy rạc của những tù cỏ vê đập đá, kéo sắt gỗ, cuốc đường, níu lấy vai mẹ mà nhoài người ra đẩy những chuyến xe lên dốc núi đồn Cao để xây pháo đài và để xe nước cho các quan coi trên ấy tắm giặt. Những cánh tay ấy phải níu lấy vai mẹ vì luôn luôn có những roi song bịt đồng của lính coi quật cùng cục vào đầu vào trán, vào lưng họ, nhưng họ không được giơ tay đỡ hay cúi người tránh, mà chỉ được phép nhăn nét mặt, siết hàm răng và trằn troài thân thể để chịu đựng.
Rồi lại người chết.
Vẫn là những người nhà pha. Họ đưa đi nhà xác, chân thòi ra ngoài chiếu, thỉnh thoảng lại như sắp bật nhỏm lên ở cái xe bò chạy lộc cộc trên đường đá. Cả người nhà pha làm bò và người nhà pha đẩy xe đều phải chạy nhưng vẫn cứ nói đùa, cười hô hố với nhau, xiềng khua loẻng xoẻng ở chân. Người chết thì chết thảm, chết thương như thế. Còn người sống... Đây, người sống. Có một người còn trẻ quá. Con đầu lòng của mẹ La nếu trời để chứng sống thì cũng bằng trạc anh ta. Mẹ La gặp anh ta ở đề lao Tuyên Quang chuyến mẹ đi phát vãng lên đây. Anh ta lê xiềng ở bàn giấy quản đề lao đi ra, cắp cái rổ đựng xôi chuối, kẹo lạc, tôm rang và xâu bánh chưng. Đi với anh ta có một người nữa cũng lê xiềng, cùng gương mặt với anh ta, nhưng trông dại dại thế nào ấy. Người này cao hơn anh ta hẳn một cái đầu, ôm một bọc quần áo theo sau. Cả hai người đều bị quản đề lao dảy đạp ngã dúi ngã dụi vào nhau nhưng cứ cố ngoái lại gọi nói dặn dò một người đàn bà đứng tuổi, váy áo rách mướp, bà ta cũng bị lính loong toong xua đuổi, cũng vừa đi vừa cố ngoái lại, vừa lấy vạt áo thấm thấm nước mắt. Rõ ràng mẹ La lại nghe thấy người con trai cao lớn lềnh nghềnh, gương mặt dại nguếch ấy vừa đi vừa khóc thút thít, làm cái anh tầm thước đẫy đà và nét mặt rắn rỏi cứ phải nắm tay lôi đi xềnh xệch, và, khi người đàn bà đứng tuổi chưa ra khỏi cái cổng sắt thứ hai của đề lao, thì người con trai già mặt đã nhồm nhoàm giở xôi, bóc chuối, bốc tôm rang ăn.
Phải! Những người sống và những người chết mẹ La lại gặp, lại thấy rành rành kia toàn là những nhà pha. Những nhà pha đã hơn năm nay cứ thay thế nhau đi đứng hiển hiện trước mặt mẹ, rúc quấn trong tâm trí mẹ, hết đêm ấy sang đêm khác, hết trận mẹ La sốt ấy đến trận sốt khác. Cả khi mẹ La không ốm không sốt, mẹ gội đầu chải chấy, khâu vá cho mình hay quét sân dọn đường làm cỏ vê cũng thế.
Bởi vậy, những đêm ốm sốt hay trằn trọc, khi mẹ La tinh tỉnh người, biết rằng không thể nào còn chợp mắt được nữa, thì mẹ lại đón chờ ông già phe mì trở dậy với cái ánh đèn vặn to. Và đêm nay, khi phải chờ đợi như thế, mẹ La lại phải đếm từng tiếng, chờ từng hồi một tiếng kiểng và tiếng mõ cầm canh. Vọng gác ở cổng chính nổi đầu tiên một tiếng cốc. Vọng gác thứ hai tiếp liền hai tiếng keèng kèe eèng... Vọng gác thứ ba trên xà lim điểm luôn ba tiếng côộc, côộc côộc... Vọng gác thứ tư trông xuống vườn rau đánh theo bốn tiếng côồng... cồôôồng. Rồi cổng chính lại nổi mõ với một tiếng ngắn báo hiệu đã nhận đủ lượt canh. Cứ như thế, như thế, lửa trong ruột trong gan trong tâm trong trí mẹ La lại cuộn lên, và lại như có những ma những quái theo tiếng trống, tiếng mõ của thầy phù thủy động hiệu, từ những âm ty địa ngục tiến ra rồi biến đi ở chung quanh mẹ La vậy.
- "Hay lại sắp có án tử và chuyện gì đây nên trong người ta mới như thế này?" - Mẹ La tự nhủ. Mẹ lại thấy như cả nóc trại sắp đu đưa với cái xà sắt chuyển ken két. Theo như lời các người ở lâu nhất đề lao này nói, cứ mỗi lần tòa sắp xử án chém hay có vụ án nào oan ức, thì bỗng dưng đêm hôm đó nhiều người chẳng phải máu mủ ruột thịt với các hồn kia cũng đâm mê đâm sốt, trằn trọc không sao chợp mắt được, rồi thấy cái xà sắt và nóc trại đu chuyển, kêu nghiến như thế.
Nhưng gà đã gáy, và rồi mẹ La cũng được nghe thấy tiếng ông già phe mì, được nhìn thấy ánh đèn. Những tiếng ho, tiếng lầm thầm của ông cụ đã như là những tiếng lay gọi làm hồi hẳn lại một người đương mê thiếp, tưởng mình sắp chết. Còn cái ánh đèn vặn to, từ khe cửa quét hắc ín rọi sang cái khoảng đen tối như hang như vực, thì như là hào quang ở tòa sen bảo tháp của tiên của Phật soi tỏa lên. Mẹ La không những chỉ hé đầu ra khỏi chăn chiếu để nhìn, để nghe, để thở, mẹ còn kéo chăn chiếu xuống hẳn mé dưới ngực cho hơi lạnh làm nhẹ bớt đi cái nung nấu trong tim trong phổi. Tuy một bên người mẹ gần như tê bại, mẹ cũng cố lết, cố nhích để được nằm thẳng mà duỗi hẳn hai bắp đùi, mà giao hai cánh tay ấp lấy bụng.
Mẹ La càng thấy khát, càng thèm cái bát nước chè tươi đặc nóng sút lưỡi, hay bát nước vối ủ nấu với hương nhu, đặc biệt là bát nước gạo rang có mấy nhát gừng. Bây giờ mẹ La còn thấy đói, thấy thèm cơm nữa: cơm ăn với tí muối riềng thôi nhưng là bát cơm còn hơi, cơm gạo máy của đề lao cũng được. Được miếng cơm nóng như thế, trong lúc này, mẹ La phải ăn cho bằng đủ ba lưng bát. Dù mồm miệng có nhạt bã ra, mẹ cũng cố mà nuốt. Thuốc nào bổ bằng cơm. Cứ ăn được ba lưng cơm là con người ta sống, con người ta khỏe lên, con người ta... Mồ hôi trán mẹ La vã ra xâm xấp. Cái mùi dầu bạc hà và mùi rượu chổi mẹ xoa bóp ban chiều dần thấy dễ chịu, thoang thoảng, chứ không làm mẹ gai gai nôn nao nữa. Hơi thở mẹ vẫn khò khè nhưng đều đều. Ngực cũng bớt tức, bớt nặng. Thế rồi, trong khi cái ánh đèn càng nhấp nháy như hoa như bướm ở trên mặt mẹ, và tiếng thở tiếng nói của ông già phe mì ù ù đi như tiếng người chuyện trò xay thóc ở xa xa, thì mẹ La dần dần chợp mắt. Tiếng mõ một nổi hiệu canh ở cổng chính, tiếng kẻng hai, tiếng mõ ba, tiếng kẻng bốn ở các vọng gác chung quanh, và tiếng mõ báo đủ lượt canh đã lặng bặt. Gió lạnh sương mù trùm ngợp thêm cả khu đề lao thỉnh thoảng lạo xạo, leẻng xeẻng tiếng xiềng xích và rền lên những tiếng rên tiếng thở.
Mẹ La lại mê thiếp.
*
Mẹ La đã mê thiếp. Mẹ lại về với nhà với cửa với các con của mẹ. Đây rồi, có tiếng như của bê của nghé gọi mẹ La:
- U ơi! U ơi ời! U ơi! U ơi ời ời i i i...
Tiếp theo những tiếng gọi này, từ ngoài xa, thằng con lớn của mẹ liền cất lên cái giọng kiểu hát tuồng hát chèo của nó:
- U ơi! Cõng em vẹo ẹo ẹo ẹoo cả xương sườn rồi u ơi ời i ì i ì...
Thằng La xốc xốc con bé em nhong nhong trên lưng chạy vào chỗ mẹ:
- Hôm nay thì mẹ thương coooong đói, mẹ không chỉ cho coo...oong những một trinh mua khoaioai ì ì ì ăn với hai em, mà mẹ còn cho những hai xuuù ù.. một mình ăn cả một bát phở ơ ơ ơ!...
"Cha mẹ cái thằng này, nó có ma xó chắc?! Chưa đến kỳ tiền túi mẹ vẫn lép kẹp, sao nó lại biết có tiền, dạo ăn những hai xu phở?!" - Mẹ La giơ tay đón đứa con bé, nghĩ bụng.
Thằng La nghiêng nghiêng người để tụt cái em đánh thịch xuống lòng mẹ, rồi vặn vẹo người làm gân cốt kêu răng rắc, vừa nhăn nhó xuệch xoạc mặt mũi:
- Chỉ có việc đi chơi cả ngày với em, sướng quá cậu cu Chú con nhà mợ Tú cháu cụ cố Đức Sinh đấy!...
Miệng nó nói, tay nó làm thế nào đã thọc đúng vào cái gói tiền trong bị của mẹ. Mẹ La tru tréo lên. Đúng mẹ có tiền. Tiền mẹ vay công non của chủ lán than đương bắt cu li bốc vội than ở các sà lan đi hàng vội. Và thằng La đã ngửi thấy nào mùi cá hồng, mùi mắm tôm đặc, mùi hành cất trong bị với mẻ gạo mẹ đong chịu đem về cho các con thổi nấu ăn cả ngày mai, ngày kia. "Đúng nó là giống đô hít đây!". Mẹ La lại lẩm thẩm nói với mình. Vừa lúc cả cái Lê cũng đi chơi về, đầu tóc, mặt mũi quần áo như ma chôn ma vùi. Con Lê cũng vồ ngay lấy bị của mẹ. Như mọi lần, gói tiền ấy lại chỉ là những khoản mẹ La dặn đi dặn lại: "Nào phải mua rau... Nào phải xuống dưới chợ huyện mua mỡ... Nào phải mua ngay dầu tây nước mắm... Nào nước mắm ngon chỉ cái gái bé được ăn... Nào tóp mỡ phải để dành mà xào rau ăn bữa ngày kia... Nào lúc bón cơm cho cái gái bé thì phải nhặt hết những tóp mỡ ngon để làm mồi cho nó ăn!... Nhất là không được đứa nào ăn vèn cơm nguội hay tóp mỡ của em đấy. Cả bắp bung cả cháo cua mua buổi trưa để dỗ em, cũng không được đứa nào ăn của em, kẻo con bé nó hờn rồi lại đánh nó!...
Nghĩa là thằng La vẫn không được mẹ cho một xu nào. Khi nhận từng đồng tiền của mẹ vừa đếm vào tay vừa căn dặn, nó lại dề cái miệng mà "Vâng ạạạạ! Con nhớ rồi ạạạạ!... Con xin mua đủ ạạạạ! Xin làm đúng ạạạạ!". Cuối cùng thằng nọ lại hỏi mẹ:
- Thế con được mẹ thương, con chỉ được mẹ cho những là việc cõng em đi chơi cả ngày,... là việc giữ những hai hào đi chợ,... là việc đi xuống chợ huyện mua mỡ,... việc đun bếp, việc để dành tóp mỡ dính thịt cho em ăn,... việc buổi trưa mua bắp bung, mua cháo cua dỗ em,... rồi cả việc có thèm thì vắt dãi đi chứ không được ăn vèn của em,... chứ còn việc... việc... thì mẹ lại quê...ên... ên à?!
Mẹ La lại tru tréo lên, đến lúc đó mẹ mới giở gói quà ra:
- Đây.. đây... đây.. hốc đi! Hốc đi!... Cho em ăn với.
Thằng La xắt cho em nửa cái bánh chưng rán, phần của nó to hơn một tí. Con bé mãi mới chịu cầm phần bánh, vừa nun nún vú mẹ vừa len lét nhìn anh, miệng cứ sắp mếu. Thằng La liền quắc mắt, giơ tay lên đầu em, dứ dứ cốc:
- Chỉ được cái ăn là tinh lắm, là khôn lắm!
Thằng La cho thêm em bé một miếng bánh bằng cái móng tay rồi đem ù bị gạo mắm xuống bếp. Mẹ La phải vội quài tay gọi cái gái Lê:
- Con bớt lại cho bu tí bánh để bu đấm mồm đấm miệng thêm cho em nào.
Con chị này bẹo ra cũng đúng một tí bánh như của thằng La để cho thêm em bé. Mẹ La cầm lấy chấm chấm vào miệng cái bé đương bú, làm mỡ và nhân đỗ nhoèn ra cả má nó.
- Đấm mồm đấm miệng, hay ăn chóng lớn sởn sơ. Đấm mồm đấm miệng, hay ăn chóng lớn sởn sơ.
Mẹ La nói đoạn, nặn nặn thêm bầu vú cho con bú:
- Thôi đây cái "thèm" của con gái bé mẹ đây! Mẹ đền con gái bé mẹ cả cái "thèm" này vậy. Mẹ yêu con gái bé mẹ nhá! Mẹ là mẹ ghét cái thằng giặc thằng cướp kia lắm. Nó cõng con gái bé mẹ đi bêu nắng bêu gió cả ngày, giờ mới cho con gái bé mẹ về, được miếng bú đây. Kìa! Kìa! Thì đây cả hai cái "thèm". Bao giờ cũng phải những hai cái cơ. - Mẹ La đặt vội cái bàn tay nhỏ xíu quều quào vào bên vú lép kẹp chỉ còn những da dính với ngực - Nao ôi! Mẹ chỉ quý chỉ thương con gái bé mẹ thôi! Mẹ không dám mắng mỏ con gái bé mẹ đâu! Con gái bé mẹ nó cũng thương cũng quý mẹ lắm. Chỉ có con gái bé mẹ là nó còn biết thương mẹ. Sau này mẹ chỉ ở với con gái bé mẹ thôi! Còn cái thằng giặc, thằng cướp kia, mẹ mặc nó muốn đi đâu với cái thằng bố sâu men trùng rượu, bất nhân bạc ác của nó thì đi.
... Khí lạnh và bóng tối vẫn hun hút ở trước mặt mẹ La. Trong khi ấy cái ánh đèn nhấp nhánh nhoi nhói của ông già phe mì thỉnh thoảng lại ngời lên, tia rộng ra. Mẹ La thấy rõ mẹ lại còn được vỗ vỗ cái lưng cái đít bé nhỏ gầy tóp nhưng ấm áp của đứa con gái bé, lại còn được thơm thơm từ cái bàn tay lấm láp đến cái đầu chốc, cái má dày cộp mũi dãi của con...
Nhưng lại còn lạ lùng quá nữa kìa! Đúng cái lão sâu men trùng rượu lại về nhà kia kìa! Đúng cái thằng chồng vũ phu chi nhân đã bao nhiêu trận cầm cả cái ống xương cẳng bò mà thụi vào lưng vào ngực mẹ, hay cầm cả cái bát ô tô canh mà ghè vào đầu vào vai mẹ. Đúng cái thằng chồng báo nợ báo hại cho mẹ, cứ mỗi khi nó lần không ra, sờ không thấy công ăn việc làm gì nữa thì lại mò về, và làm mẹ khốn khổ khốn nạn thêm vì lại chửa lại đẻ. Phải! Cái thằng chồng ấy nó lại đương ngồi với chai hươu (2)rượu ở ngay giữa cửa giữa nhà mẹ La đây này.
⚝ ✽ ⚝
[2] Chai một phần tư lít nhãn con hươu.
Đúng lão La, lão La đã về nhà và lại đương uống rượu. Đầu tóc lão vẫn cợp lên, lão mặc chiếc quần đùi rách, chiếc áo cánh mất cả hai ống tay; xương sống, xương sườn đầu gối cổ tay lão trơ hết ra, lão còn gầy yếu thảm hại, tiều tụy hơn cả mẹ nữa. Nhưng cứ trông điệu bộ và cái vẻ mặt mũi lão ăn uống thì tưởng như lão sung sướng không ai trên đời này bằng được. Vẫn những mê chiếu rách, bao tải lão trải ghép vào nhau ở thềm đất, lão ngồi chĩnh chện ở một góc, mâm rượu là cái mẹt thủng mà cái Lê vẫn lấy bày chơi đồ hàng hay lót cho em bé nó ngồi đái ra cũng được. Một đĩa độ ba chục con cào cào châu chấu rang với lá chanh mua lại đâu của trẻ con hàng xóm mất một xu. Bánh đa thì chỉ có một nửa, mua một trinh. Bốn quả ổi ương quả to nhất chỉ nhỉnh hơn đầu chân cái cũng bày ra đĩa hẳn hoi. Chai hươu rượu lão để ở giữa đĩa cào cào châu chấu rang và đĩa ổi. Chiếc chén sành đặt trên cái đĩa mẻ ở cạnh gối lão.
Sau tợp rượu, mãi hắn mới và mẩu bánh đa với nửa con châu chấu dính mấy sợi lá chanh cắn để dành ở lòng bát nhai côm cốp. Râu ria hắn nhấp nháy cả lên, hắn vuốt vuốt xoa xoa đầu gối bắp đùi mình, mặt mày ngây dại khoan khoái vô cùng. Và trên đầu gối lão, vẫn lại cái gái cõn. Còn trước mặt lão, bên kia mâm rượu, cũng ở một góc chiếu, vẫn lại cái gái nhỡ.
Nghĩa là cả hai đứa con gái của mẹ lại là bạn rượu của cái thằng bố sâu men trùng rượu ấy và trong nhà lại nhộn cả lên:
- Con chó êu chầy nhé (con có yêu thầy nhé).
- Ừ ừ... ề ề ề chầy cũng chó êu con (thầy cũng có yêu con).
- Con chó êu cả bu nữa.
- Ừ ừ.. ề ề ề chầy cũng chó êu bu.
- Thầy tao, bu tao, anh La cũng của tao.
- Thầy của tao, bu của tao, anh La cũng của tao.
- Này! Này! Không được trêu em bé này! Không được trêu con gái rượu của bố này!
- Giời ơi là giời!
- Giời ơi là giời! - Tiếng kêu thầm của mẹ La vừa rít lên, cả trời đất liền tối sập và như bị một tiếng sét xé toang ra. Một luồng gió lốc đen như mực và như có hùm beo rống rít bỗng xoáy đến, cuốn đi tất cả những xóm ngõ, cây cối, nhà cửa đương hiển hiện ở chung quanh mẹ. Cả lão La, cả hai đứa con đương líu ríu như chim như gà trên đầu gối, bên nách bố và ở trước mặt mẹ. Cả cái mâm bằng mẹt thủng bày nào đĩa ổi, đĩa cào cào châu chấu rang, nửa chiếc bánh đa, một chai hươu rượu, chiếc chén sành... tất cả lại biến đi.
Lão La chết rồi! Mẹ La đoạn tang lão từ năm ngoái. Thế là mẹ đi tù đã hơn ba năm. Nếu mẹ La không đi tù... Nếu lão La còn sống... Nếu vợ chồng vẫn có công ăn việc làm tử tế, bảo ban nhau làm ăn. Nếu lão vẫn giữ cái chân nấu bếp dưới tàu Giang Môn, còn mẹ vẫn mạnh chân khỏe tay đội than ngày nào cũng kiếm được năm sáu hào. Nếu đứa con gái đầu lòng chị thằng La đã đỡ chân đỡ tay cho mẹ được khối công khối việc kia không chê bố mẹ nghèo bỏ đi... Như thế thì ngày mai là ngày giỗ ông bố đẻ lão, cả nhà đoàn tụ vui vẻ lắm đây!... Lão La lại về nhà. Lão lại đích thân đi mượn và cả mẹ La cũng phải đi mượn cho lão cái khăn xếp, cái áo chùng vải thâm, cái quần trắng dài đã cũ đã rách cũng của mấy người hàng xóm thân nhất. Lão còn lẹp kẹp đi cả guốc nữa. Lão đi chằng guốc của cái gái đầu lòng hay guốc của cô Gái đen, cô Xim nhà hàng xóm. Nhà làm hẳn ba mâm cơm cúng! Chính tay lão La giết gà, thổi xôi, làm các món ăn. Chính tay lão bày biện và bưng các mâm lên, đặt trên bàn thờ, bày ra giường chờ khách.
Rồi tự lão khấn vái! Tự lão mời mọc khách khứa! Hàng năm chỉ có mấy ngày cúng giỗ, lão La mới lại được đàng hoàng, hân hoan, đúng mực như thế.
*
... Côốc... keèng keèng... cộộc cộộc cộộc... cồồng cồồng cồồng... Cốc! Tiếng mõ tiếng kiểng ở bốn vọng gác và cả tiếng mõ dồn, nhận lần cuối cùng đủ hồi canh gác cũng đánh xong. Khu đề lao vẫn im lìm lạnh hoang lạnh chết. Tiếng xiềng ở trại án nặng, ở xà lim lạch xạch, xủng xoẻng nhiều hơn. Những tiếng như bước chân rình mò và hơi thở lởn vởn của hồn ma bóng quỷ vẫn ẩn hiện đâu đây. Đầu óc mẹ La nặng trĩu, nóng như hơ lửa. Mẹ đạp tụt cái chăn xuống dưới chân rồi nằm thẳng dẵng. Trong người mẹ càng cồn cào như có nhựa xương rồng, nhựa ngái tan ra. Mình mẩy, chân tay, xương tủy mẹ La như bị dằn, bị cặp, bị xẻo, mỏi nhức, buốt chói vô cùng.
Mẹ La lại sốt nặng rồi! Nhưng mẹ sốt vì cái ma ngã nước Hà Giang hay là vì gì nữa? Phải, chính mẹ còn sốt vì gì nữa nên mẹ mới cứ vừa mê vừa tỉnh thế này! Nên mẹ mới vừa thấy bao nhiêu cảnh khiếp sợ, vừa lại được gặp các con, gặp chồng, rõ ràng như mẹ đương ở nhà. Nhất là mẹ được gặp chồng, được gặp lão La! Lão La, bố thằng La, bố chúng nó, người chồng con sống có con chết có với mẹ ấy, tự tử chết đã hơn ba năm rồi. Lão đã trốn nhà đi uống rượu. Lão đem cái nồi đồng của mẹ La mượn bên hàng xóm đến hàng thịt chó ăn uống rồi gạt cho người ta. Đương lúc ấy cảnh nhà cơ cực quá chừng. Lão không có việc làm đã ăn báo vợ hàng nửa tháng, mà vợ thì bị tê cũng phải nghỉ nhà, may nhờ bà con xóm lán đỡ vực kẻ cấp đấu gạo, người cho vay dăm bảy hào, chứ không các con lớn con bé của mẹ đến nhịn đói hết. Thằng La đương đi học phải bỏ. Sáng, nó nấu nước luộc khoai bán ở đầu đường ngoài xóm. Trưa, nó về thổi nấu cho cả nhà ăn uống, gánh nước giặt giũ, tắm rửa cho các em. Tối đến nó cất bánh khúc, bánh chưng đi rong phố bán cho tới mười một mười hai giờ khi tàu thủy Nam Định, Hòn Gai về. Tội nghiệp! Thằng bé mới mười hai tuổi đầu mà vai so cổ rụt, những hôm giở giời lại ho sù sụ, khò khử quá cụ già.
Ấy thế mà lão La vẫn cứ say mèm, hát tuồng làm trò cùng đường. Không hiểu lão lại ăn uống thế nào để nhà hàng tính toán lấy ngon cái nồi đồng mới mua của bà con, họ thương cảnh nhà mẹ lắm mới cho mượn về luộc khoai để thằng La đi bán. Chao ôi! Rượu vào thì còn nghĩ gì nữa?! Còn biết gì nữa?! Nhất lại là lâu ngày nhịn thèm nhịn nhạt, quá chén mềm môi! Nhưng rượu vào đã mất hết cả trí khôn, sao lão ta vẫn biết chiều chuộng vợ? Lão La say rượu vẫn thường như thế đấy! Càng về sau khổ sở cùng túng, càng phải chạy vạy bòn nhặt từng đồng để uống rượu, lão La lại càng chăm chút các con, lại càng chiều ý vợ... Chính cái tối hôm ấy, lão La vẫn cố lần về được đến nhà, lão ngã dúi ngã dụi mà vẫn chống tay vào cái chân thọt ì ạch bước lên thềm vào nhà. Cái bị rách to giấu nồi mang đi vẫn nhớ mang về đeo ở bên vai. Trong bị còn để dành đủ cả nào dồi, nào bánh đa, nào thịt luộc, nào chả và bốn năm miếng gan to cho riêng cái gái út ăn khỏi cam. Nhưng mà... mẹ La đã phang cho lão một cái đòn kê gỗ nghiến vào bên ống chân lành định bước vào nhà. Mẹ nghe đánh bộp một tiếng. Có lẽ đúng giữa gióng xương bánh chè. Lão La cũng chỉ "ối" lên một tiếng rồi ằng ặc, ưng ức ngã lăn ra đất. Lão ngã lăn ra đất lúc lâu đoạn tự nhổm dậy. Lão nhổm nhổm dậy mà chẳng chửi, chẳng hét, chẳng hung chẳng dữ tí nào hết, chỉ ngơ ngác nhìn rồi lại nằm xuống giơ cái ống chân lành bị phang lên vừa vuốt vuốt máu, đắp đắp, day day, day day đắp đắp, thút thít rền rĩ:
- U nó ơi! Tôi ăn tôi sống, tôi còn sống. Vợ chồng mà,
giời ơi!...
Lão La tự tử chết rồi! Lão La cũng bồ côi bồ cút như mẹ. Lão La cũng đã rất mực chịu thương chịu khó. Từ thằng quýt tàu lão đã ngoi ngóp lên được chân nấu bếp. Lão chí thú dành dụm được bạc trăm, định lên bờ đóng một cái xe bán phở để cùng vợ con quấn túm làm ăn với nhau cho mát mặt. Nhưng, tiền thì bọn côn đồ chân tay mật thám đội xếp thộp ngực cướp hết, việc thì mất!
Lão La đã ăn ở với mẹ hơn hai mươi năm mà mẹ vừa được gặp lại ấy chết rồi! Lão La tự tử rồi. Còn mẹ thành một con giết chồng! Ba đứa con còn sống ấy, vừa đây mẹ La cũng được gặp lại cả, ba đứa ấy là con một con mẹ giết chồng!
*
- "Ông ơi! Ông đã sống khôn chết thiêng cho con được gặp lại chồng con, các con con, thì xin ông cũng biết cho con. Ông ơi! Các con ơi! Trên đời này còn ai khổ nhục hơn tôi không?..."
Mẹ La lại kéo cái chiếu rách và tấm chăn đụp lên trùm đầu mà nức nở. Nước mắt mẹ đầm đìa lạnh xuống cả cổ cả gáy. Trong bóng tối chăn chiếu bưng bít, những vòng ánh sáng nhập nhòe như chính từ những giọt nước mắt của mẹ La ánh lên. Cứ mỗi chỗ những giọt nước mắt dồn vào, lại có như là những hột thủy tinh xoay xoay tụ lại mở ra cùng bao nhiêu hình ảnh. Tức thì lũ con nhớn con bé của mẹ La lại quây quần ríu rít chung quanh mẹ. Đứa dưới nách; đứa trong lòng; đứa nhay vú; đứa bới tóc, tuốt trứng, bứt tóc sâu; đứa đấm, đứa bóp, đứa nặn đầu cho mẹ. Có cả ông cụ bố chồng nữa. Ông cụ trán hói, tóc bạc búi củ hành, ngồi trên giường bình khung trải chiếu đậu mé trái bàn thờ, pha chè uống. Ông cụ chuyên chè cho cả mẹ La. Ông cụ nhìn mẹ La, đôi mắt sáng quắc nhưng không có vẻ gì giận ghét cả. Hình như lúc mẹ La cúi cúi mặt uống xong chén nước, ông cụ lại nghĩ ngợi. Ông cụ như muốn nói một câu gì với con dâu. Ông cụ như cũng rân rấn nước mắt kia kìa.
Ông cụ đẻ lão La. Ông cụ bố chồng của mẹ La. Ngày mai là ngày giỗ ông cụ đây!
Trán mẹ La càng nóng. Đỉnh đầu, hai thái dương nhức tê nhức chói càng nặng như có đá đeo. Mồ hôi vã ra hết cả lưng cả yếm. Mẹ càng rét. Mẹ quặp chặt hai bàn tay vào đùi, cắn răng lại mà run. Những tiếng như tiếng sóng tiếng gió cùng đập ù ù bên tai mẹ. Một vùng ánh sáng rất lạ bỗng rực lên. Vùng ánh sáng không như của ngọn đèn dầu tây vặn to chiếu nhập nhòe ở bên nhà phe mì, mà lại bập bùng, rừng rực, nổ lách tách, có những luồng những ngọn xanh biếc, đỏ chói, có những bụi như vàng diệp tỏa ra, cuốn lên. Ánh sáng của các lò điện, lò nung, quả gang, hầm máy, nhà kho, ánh sáng của các khu Xi măng, Cốt phát, Sáu Kho, bến tàu Quảng Đông, bến tàu Tây Điếc. Còn tiếng sóng tiếng gió thì từ những cửa sông Cấm, sông Bạch Đằng, những cửa biển Đồ Sơn, Hòn Gai, Cửa Ông. Ở những nơi những chốn này, mẹ La đã đội than, xe gạch, đẩy goòng, nhiều lúc ăn ngủ ngay đây, con cái cũng đến đây mà ríu rít chung quanh mẹ.
*
... Tiếng gà đã gáy rộn ở bên nhà giám binh. Tiếng người ho, tiếng người nói, tiếng xiềng, thấy nhúc nhắc nhiều hơn ở trại to và bên nhà phe mì. Chợt, cả mõ ở cổng chính và kẻng ở hai lô cốt đằng sau đề lao cùng đánh lên một hồi dài đoạn dứt bằng ba tiếng rất đanh rất gọn. Thế là tất cả trại giam ồn lên như ri như ong. Những tiếng gọi hỏi nhau, kêu rên, chửi bới, giũ chiếu, gấp chăn, lê xiềng, động cùm, ho khạc, ỉa đái, sắp xếp ống bơ gáo dừa báng nước, ca vọng cổ, chèo đò, lên đồng, ngâm Kiều, hát trống quân, cò lả. Mùi hôi thối càng nồng nặc, - cái mùi đặc biệt giông giống nhau của các lán mộ phu, nhà thương làm phúc, hay cầu chợ bỏ hoang chứa ăn mày. Con người sau một đêm thiếp đi quên được cái đói, cái rét, cái lam lũ, đòn vọt, xiềng xích, nay lại phải thức dậy, sống cái phút giờ lúc nhúc, ngao ngán, kinh hoàng khi những cánh cửa sắt sắp mở, cai ngục vào lùa họ đi làm các công việc khổ sai mà bên ngoài vẫn còn tối đất.
Cửa nhà phe mì cũng mở với cửa trại to. Nhưng người ta thấy ông già phe mì và cái đèn nhấp nhoáng của ông cụ đi lên nhà giấy. Rồi từ nhà giấy có tiếng chùm chìa khóa của quản đề lao đi ra cùng với ánh đèn của ông già phe mì. Bóng người tù loong toong co ro cập rập và chiếc đèn bão đỏ lòm đung đưa đi theo.
- Lại có người chết!
- Nhà phe mì lại có người chết!
- Hôm kia đã một người chết rồi!
- Từ đầu tháng đến giờ chưa được hai mươi ngày, cả bốn người án nặng lên nằm chỉ có sốt rét mà chết cả bốn rồi!
Những tiếng nói báo tin cho nhau, lào thào lào thào truyền từ cửa trại to vào trại nhỏ vào các xà lim. Ở trại đàn bà, mấy người đầu tóc hãy còn sã sượi chạy ngay ra ghé mắt nhìn qua khe cửa, chuyện với nhau cứ ồn ồn:
- Mẹ La ơi! Hôm nay có đi làm cỏ vê được không đấy?
- Mẹ La ơi ời... vẫn sốt hay sao thế này?!
Mụ cai trại và một người tù nữa đến lay gọi mẹ La. Mẹ La chỉ ừ à. Mụ cai trại luồn tay vào chăn, sờ trán mẹ La, quay ra nói:
- Người nóng như hòn than ấy! Khai ma lách cho nhà
nó thôi.
Có tiếng cười hô hố của chị tù án hai mươi năm tội ăn cắp tiền Đức Bà và bỏ thuốc độc giết người nhà thày.
- Hay nghỉ cỏ vê thì cũng lên phe mì mà nằm vậy. Nhà mẹ La nó lại vừa mua gừng mua tỏi quà cho ông già phe mì đấy!
Người nọ cười, vấn vấn tóc lồm cồm bò đến chỗ mẹ La:
- Nào có dậy hút thuốc lào cho đây hút xái với nào. Chỉ hút xái của nhà mày "ông" cũng lại đến nghiện mất thôi!
Ở góc trại đằng kia mấy người nữa cũng đã trỗi dậy, một người rền rĩ:
- Hôm nay lại sương muối! Lại buốt cóng cả chân tay. Có ai còn đóm thông cho xin mấy thanh nào. Đốt lên tí cho nó sáng trại, chứ tội gì mà sờ sẫm với nhau như ở âm ty địa ngục thế này! Khốn khổ khốn nạn thật! Đến cả phao dầu cũng bị ăn bớt ăn xén.
Người bạn vừa hỏi mẹ La hút thuốc, liền vội bật diêm châm vào thanh đóm thông chẻ mỏng châm tiếp vào hai thanh to. Y cầm lửa đến chỗ mẹ La, nạp một mồi thuốc to, lăm lăm cái điếu:
- Nói thế chứ "ông" cũng có thuốc ngon đây. Cũng thuốc Tiên Lãng, Kiến An tỉnh mẹ mày. Nào dậy hút đi. Chê cả thuốc nữa thì alê được đi chơi với ông sáu tấm ngay.
Lửa của ba thanh đóm gỗ thông làm sáng rực hẳn góc trại. Mùi khói hăng hắc ngai ngái sực lên. Mẹ La ngồi dậy. Mẹ ngơ ngác nhìn. Ở mặt tường quét hắc ín sau lưng mẹ, ánh lửa bị gió lò qua khe cửa thổi càng bập bùng lấp loáng. Bóng mẹ La và đùm chăn chiếu quần áo càng nổi rõ, như có một đĩa to đèn dầu chẩu hay một bó que nhựa trám to thắp ở mé trên đầu mẹ La rọi lửa và tạt khói xuống. Thấy mẹ La run run ôm lấy cái bị, mặt mày xanh xám phờ phạc, ngực vai cứ rần rật, người bạn tù lại giục, giọng ân cần tươi tỉnh:
- Hút đi chứ! Có súc miệng, gáo của "ông" còn nước đấy!
Cả người bạn tù nghiện thuốc lào với mẹ La nọ và đám tù đàn bà đều ngạc nhiên. Mẹ La súc miệng xong lại nằm xuống chứ không hút thuốc và cũng không vấn lại tóc. Cái chỗ mẹ La vẫn ngồi say thuốc lào lầm thầm không hiểu nói những gì hay chuyện trò với ai, mọi người thường xúm đến xin nhau trầu vỏ, vừa chải tóc, vấn khăn và kháo các thứ chuyện ở góc trại kia, bỗng tẻ lặng hẳn đi. Mấy người thường đến tụ bạ nọ đều chưng hửng. Người bạn tù cầm điếu đóm ngẩn mặt ra, ngượng nghịu kéo kéo cho gọn những chăn chiếu, sờ rờ đầu mẹ La, giọng xỉu hẳn:
- Đúng, nhà mẹ này ốm to mất rồi!
Không có bạn hút với mình, người nọ vẫn rít hết điếu thuốc nhưng y thấy trong người làm sao ấy. Hút xong, y lại sờ rờ người mẹ La chứ chưa về chỗ mình để sắp xếp chăn chiếu.
Mẹ La phát vãng lên đây được một tháng, mẹ bắt đầu hút thuốc lào với người bạn nọ. Trước mẹ hút một mồi vê chỉ bằng mồi thuốc mẹ ăn kèm với trầu vỏ. Sau xin bọn tù đàn ông làm đường được cái điếu tẩu, nõ bằng đá khoét rất xinh, ống bằng trúc, thì mẹ La hút một mồi chặt, bỏ cái kiểu cuộn giấy làm xe. Rồi từ nửa năm nay, mẹ nhờ bọn tù lâu năm bên trại to làm cho cái điếu cày, mẹ cất cẩn thận ở đầu chỗ nằm, hút cả khi ăn cơm trưa xong, khi ngủ dậy đi làm, và cả trước khi đi ngủ. Cũng từ nửa năm nay, mẹ La sáng nào cũng dậy sớm nhất. Mẹ rón rén nhấc cái điếu dưới gầm sàn lên, sờ sẫm tụt xuống góc tường ở xó cửa trông sang phe mì mà ngồi hút thuốc. Mẹ rít khe khẽ. Mẹ say. Tay mẹ cũng bắt chuồn chuồn. Mẹ xoa xoa, vuốt vuốt, vỗ vỗ vào đùi, vào vai mình. Mẹ lặng người đi, bần thần lúc lâu rồi lại vê một mồi nữa. Lần này mẹ lại như không say, tay không bắt chuồn chuồn, không xoa xoa vuốt vuốt vỗ vỗ, miệng cũng không lầm thầm. Mẹ cứ ngồi nhìn trân trân sang bên phe mì hay nhìn lên cái lỗ cửa chấn song ở đầu tường trước mặt.
Những lúc mẹ La hút thuốc xong, tay làm như thế, miệng nói như thế, rồi ngồi lặng đi như thế, người bạn của mẹ La bảo rằng: "Mẹ La nó nhớ nhà, nhớ con quá, nó đánh đồng thiếp. Chính lão La đã về, nhập hồn vào vợ lão ta đấy!"...
... Đã thấy tiếng nói chuyện ồn ào, tiếng bước chân, tiếng vỏ lưỡi lê rầm rập. Lính coi cỏ vê bên trại khố xanh đã sang đầy đường và cổng đề lao. Tiếng xiềng càng inh ỏi. Chỗ này xủng xoẻng, chỗ kia xủng xoẻng, từ trại lớn dồn ra sân, nhà vệ sinh, bờ giếng, nhà bếp, nhà giấy. Có những tiếng kéo lê sền sệt, xào xạo của những người đi không được. Có tiếng xiềng đôi kin kít choang choang của những người khổ sai chung thân đã đi quen và phải đi vội, đi nhanh. Có tiếng xiềng lúc chập lúc giằng của người tù thọt, và tiếng rùng rùng của người tù bị chứng phong, cứ mỗi bước lại đứng lại, tay chân, mặt mũi co giật nhăn nhúm như múa như cười như mếu. Tất cả những tiếng xủng xoẻng ấy dội vào các bờ tường đá và lúc nhúc ở khắp sân đá dăm lạnh buốt. Đóng lấy ống chân của những người tù khổ sai, các chuỗi xiềng như là những rắn rết bằng sắt đương quằn quại, đương mổ, đương vằng vào nhau trong một bể xương bể thịt người mờ mịt sương gió.
Từng đám, từng đám tù đến xếp thành hàng lố nhố trước cổng sắt trong. Quanh đấy, kẻ đứng, người ngồi, nón áo tơi, ống bơ, gáo, bát đũa, mo cau, bị lác lủng lẳng trước ngực, bên sườn, sau lưng. Cái đèn bão đỏ lòm của người tù loong toong cầm đã giơ cao lên với quyển sổ cỏ vê. Viên quản đề lao trán mốc, mũi đỏ, chột mắt trái, lăm lăm cái gậy song đầu bịt đồng ở một tay, còn một tay nắm một chùm chìa khóa có những chìa to như búa như kìm. Bọn tù vừa khỏe mạnh vừa sạch sẽ vừa thạo việc - phần đông là những kẻ nhà có của - những tù anh chị, du côn và những người nhà của ông nọ bà kia thì làm ở sở quan tư kiêm chánh sứ và quan ba đốc tờ, đứng hàng đầu kề ngay bên cổng.
- Min tằn huýt! (3)
Tiếng hô cộc lốc của viên đội khố xanh vừa dứt, một người lính đeo lon bếp chạy ra, hai chân cộp nhau, vỏ lưỡi lê đập phạch vào đùi:
- Pêdăng xếp! (4)
⚝ ✽ ⚝
[3] Nghìn ba mươi tám.
[4] Thưa chỉ huy có tôi đây.
Viên quản đề lao chưa giao tù, y cất cái giọng khàn khàn rè rè còn ngái ngủ và nồng mùi thuốc phiện:
- Sở quan tư hôm nay lấy thêm bốn nhà pha nữa để dọn chuồng ngựa và làm phụ thợ nề xây lại hầm rượu.
Viên đội khố xanh hớt hải:
- Thế còn nhà pha làm thêm vườn rau và chăn dê bên quan giám.
- Cũng cắt thêm bốn thằng - Y quay lại quát với người tù loong toong - Bớt bốn thằng làm đá ở Sở lục lộ. Ba mươi sáu thằng còn lại, tám thằng xe đá, một xe hai thằng thôi cũng được. Vẫn phải đủ đá cho sở xây pháo đài đấy!
- Bẩm... bẩm cụ... bọn xe đá như thế chỉ còn bảy nhà pha thôi ạ. Cái thằng tối hôm qua cụ lập bên (5)xong, cụ cho lên nằm phe mì là thằng chết, cụ vừa lên xem đấy ạ.
----
[5] Lập bên: điểm danh.
Người tù loong toong hốt hoảng nói với tên quản đề lao. Tên quản đề lao khịt khịt cái mũi đỏ, giọng è è:
- Xe đá chết thì có thằng khác!... Lấy thằng Thái Bình ở nhà thương sang.
- Bẩm... bẩm cụ... cụ cho thằng chết sáng nay sang nhà xác ạ.
- Hố hố hố! - Tên quản đề lao cười hẳn lên, sằng sặc - Còn một thằng và ba con mẹ nữa là bốn, chúng nó ăn cơm nhà nước để chơi à? Bốn đứa mà không khiêng được cái thằng chết đi chôn. Alê, cái thằng gà dớ này, ma cà rồng nó hút vía mày đi hay sao mà mày lại dấm dẩn thế hở? Hố hố hố!
- Tên quản đề lao chợt nháy con mắt còn lại. Ngay đó, người tù loong toong liền rụt đầu lại, rít lên một tiếng khẽ. Chiếc roi song bịt đồng đã vụt vào mặt y. Đầu roi rứt cả một miếng da trán y ra. Trong khi y giơ cánh tay áo xấp xấp chỗ trán giàn máu vừa xuýt xoa, thì cả tên quản đề lao, tên đội khố xanh và tên cai già cũng nghiện oặt đều cười như nắc nẻ. Vẫn là để tỏ sự trọng dụng của mình đối với chân tay đày tớ, tên quản đề lao co cẳng đá đánh bét vào đít người tù loong toong:
- Alê, gọi sở quan ba đốc tờ và sở quan tuần đi, cái thằng gà dớ này!
Sương vẫn mờ mịt. Khói của ngọn đèn bão đỏ lòm, ngun ngút, quấn quýt thêm ở vòm cổng sắt. Cả lính tráng lẫn nhà pha đều mù mù xám xám chẳng còn rõ mặt ai với ai, cùng ngoi ngóp lúc nhúc trong những tiếng xiềng, tiếng vỏ lưỡi lê, tiếng súng đạn va đập vào nhau hỗn độn. Hơn hai mươi sở đã ra đi. Còn ba sở nữa thì đến sở nhà thương và các bọn làm chỉ tồn (6). Trại đàn bà chỉ còn hai người. Mụ cai trại lẹp xẹp đôi dép sắp xếp nào làn, nào liễn, nào hộp, để theo ngài đội sang sở khâu của quan giám (Thật ra y chuyên việc giữ con cho cô giám binh người ta, còn những đồ dùng thì để lúc về y đựng các thức ăn xà xẻo được). Người bạn mẹ La vẫn líu ríu thu xếp chỗ nằm cho mẹ La. Người này đi làm cùng chỗ với mụ cai trại, chuyên việc quét tước bếp núc, cống rãnh, giặt giũ cho cô giám và giặt giũ, nấu nướng cho cả mụ cai trại nữa.
⚝ ✽ ⚝
[6] Chỉ tồn: công việc linh tinh.
Hai người nọ khép cửa trại láo xáo đi được một quãng thì mẹ La nhổm ngay dậy. Mẹ vấn vấn tóc, mắt xanh lên nhìn như có một quang cảnh gì ghê rợn trước đây vẫn lấp ló bây giờ mới sập đến. Mồ hôi mẹ toát ra. Mẹ quờ quờ chăn chiếu và bị quần áo dúi vào góc tường rồi vớ lấy cái nón, cái gáo dừa, cái ống bơ, đẩy cửa đâm bổ ra sân. Thấy có tiếng người kêu hu hú như bị bóp cổ, và trông ra thì mẹ La lếch thếch chạy theo cái ông già bị tê thấp đương vừa lết xiềng, vừa "dạ dạ", bọn tù làm chỉ tồn gọi giật mẹ La lại. Một người nhặt cái gáo dừa của mẹ đánh rơi lăn lốc đưa với cho mẹ:
- Sở nhà thương đi sau! Hôm nay sở nhà thương đi sau cơ mà! Còn người chết trên phe mì kia bỏ lại cho ai chôn đấy?
Cùng trong đám chỉ tồn ở bọn xe đá có tiếng sụt sịt:
- Cùng người Phù Cừ, Hương Yên với tôi đấy! Không biết tôi xin với cụ quản cho đi chôn có được không? Có gì tôi còn biết chỗ, tôi kiếm hòn đá hay tấm ván tôi đánh dấu rồi tin về quê về quán cho.
*
Có lệnh tất cả xe bò phải chở đá để xây pháo đài đồn Cao. Người tù chết chỉ được bó chiếu khiêng đưa đi nhà xác. Bọn cỏ vê nhà thương lấy một tấm ván cũ, đặt xác lên, chằng với cái thừng to bằng cổ tay. Ông già bị tê thấp và chị tù dở người đi sau; mẹ La và một người tù đàn bà cũng thấp bé như mẹ đi trước. Tấm ván luồn vào hai dây thép khiêng bằng hai đòn ống. Bọn mẹ La phải đi đường vòng để tránh các sở và đường phố. Mặc dầu phải khiêng xác, bọn mẹ La vẫn phải đến nhà thương đúng giờ, vì bao nhiêu công việc thường lệ đã ùn lên từ tối hôm qua, chỉ chờ nhà pha làm cỏ vê đến. Quét tước thu dọn nhà xí, buồng đẻ và buồng làm thuốc cho các người bị ung nhọt, sâu quảng... Đổ bô, đổ ống nhổ của buồng những người bệnh truyền nhiễm, những kẻ liệt. Rồi đào rãnh, ngả cây, vỡ rậm, làm đường, làm vườn hoa, vườn rau. Ngoài ra, mẹ La còn phải hầu hạ nhà bà đỡ và bà phemiêxếp.
Cả bốn người khiêng xác đều vừa đi vừa thở tưởng đến đứt ruột. Tấm ván và cái xác bó chiếu cứ ghì cổ họ xuống hai cái đòn ống kêu kin kít, xiết vào dây thép, và như có răng cưa ngoạm lấy bả vai họ. Những bước lết đi bị xiềng giằng giật lại của người tù tê thấp càng khiến người lính gác sốt ruột. Mẹ La tuy không bị đóng xiềng nhưng cũng phải cố từng bước. Sống lưng mẹ càng buốt càng chói như có dùi xiên vào xương vào tủy. Đầu và thái dương nhức thon thót. Trong người mẹ ngai ngái, rũ rượi, mẹ chỉ rình nôn và khuỵu xuống. Mồ hôi càng vã ra nhưng mẹ La vẫn thấy gai gai rét. Vừa phải cố bước, mẹ La còn phải cố dằn xuống cái nôn nao đáng sợ vô cùng ở trong người, cái nôn nao của cơn sốt rét đêm qua chưa biết chừng chỉ đến trưa tầm cỏ vê về lại vật lại mẹ, mà lần này thì mẹ khó gượng dậy được!
Mẹ La lại còn đói nữa. Nhưng mẹ vẫn thèm nước hơn. Công việc đầu tiên của mẹ khi khiêng người tù chết vào nhà xác xong, mẹ phải rửa ngay tay chân mặt mũi rồi đặt ấm nước chè tươi hay niêu cháo nấu thật loãng mà húp. Hự... mẹ La suýt nhào vì một bước hẫng. Không thể trở vai, mẹ càng nghiến răng lại và rướn hết sức lên dưới cái đòn ống. Quãng quãng mẹ lại phải chống tay xuống đầu gối. Đầu gối mẹ không những chỉ chực khuỵu mà còn như có thể gãy đôi ra. Những khi mẹ La chống tay, vừa gò người lại, mà vẫn phải rướn vai cho khỏi nánh bên đòn khiêng của bạn, mẹ La càng thấy ruột gan bị gò lại, gần đứt, và trong ngực sắp bẹp, đến tắc thở mất.
Người lính đi coi đã sít răng, càu nhàu trong miệng. Tuy không hiểu tiếng trên này, mẹ La cũng biết người lính Mèo nọ đã bực giận lắm. Thỉnh thoảng mẹ La lại nói to lên, giọng rất tự nhiên, cứ vui vẻ nhẹ nhàng như không:
- Sắp đến rồi! Ta rảo bước, rảo bước nữa nào. Cùng đổi vai đi, đổi vai cho nhẹ nào.
- Thôi! Đã trông thấy cây sấu kia rồi!
- Này này lên cái dốc này rồi, cái dốc nữa thôi.
- Đổi vai, lại đổi vai nữa nào! Cổng nhà thương ngay đầu dốc kia kìa.
Cùng với những câu nói này, mẹ La cũng thấy vui vui. Mẹ thấy cái con mẹ bé nhỏ và đương ốm yếu như mình thế mà lại thành ra đứng đầu đòn, không những chỉ đôn đốc mà còn bao che được cả bọn và làm cả cai cả lính cũng phải theo mình. Mẹ La lại nghĩ đến những ngày làm than với những bạn cùng người Hải Phòng mẹ đun goòng hay cầm càng xe bò ngoài Sáu Kho và ở các bến tàu Quảng Đông Hòn Gai. Những chuyến xe nặng lên dốc hay bị cặm, mẹ đều dôta nào trước. Rồi khi mẹ vừa dôta nào xong, một người trong bọn lại cất lên mấy câu hát vùng Thủy Nguyên, Thủy Đường, Thủy Tú nghe thật êm ái thanh thú, kéo thêm bao nhiêu người bám vào cùng đẩy. Tiếp theo những ý nghĩ này, mẹ La thấy tâm trí càng nhẹ nhàng, khấp khởi. Biết đâu buổi nay mẹ nằm ở nhà khai ốm sẽ còn sốt thêm. Nếu gặp hôm quản đề lao dễ dãi, mẹ chỉ phải mấy ngọn roi song cốc vào đầu, rồi khi lĩnh thuốc ở phe mì xong - một bát thuốc ký ninh nước đắng như mật công phải uống một hơi đánh ực - mẹ phải ra ngay ngoài sân mà nhặt cỏ. Không thế thì lại ăn hàng chục roi và một thôi một hồi cái đá đít, rồi vẫn cứ phải dậy đi khiêng nước, đi làm đất. Đến bữa cơm, đã không được ăn cơm lại có khi bị cùm nữa. "Còn gượng còn cố được thì cứ đi làm". Như vậy có thể chốc nữa mẹ sẽ cất hẳn cơn, sẽ lại khỏe. Đúng như sự chiêm nghiệm của mấy người đã lên đây lâu, vừa ít ốm vừa khỏe nhất(!).
Hôm nay phần việc quét dọn của mẹ La chậm lại đến bảy giờ. Nhưng vẫn chỉ đến chín giờ là buồng nào buồng ấy sạch sẽ tinh tươm. Chỗ ở của bà đỡ và thày phemiêxếp cũng đâu vào đấy. Nhà cửa bàn ghế sạch soi sạch bóng; nước sôi chứa phích pha chè, nước sôi lọc vào chai cho các cô các cậu uống; cả nước cho hai bà và các cô các cậu tắm cũng đầy đủ. Mẹ La chỉ còn chờ bà đỡ xuống nhà thay quần áo, mẹ đi giặt giũ cho bà cho cả nhà là xong việc buổi sáng.
Mùi nước lá sả ở cái thùng tôn to sôi sục, phào phào ra làm mẹ La bớt hẳn cái nặng cái buốt trong đầu và hai thái dương. Buổi nay, bà đỡ tắm gội xong còn thừa nhiều nước thì thôi, nếu còn ít quá mẹ sẽ chế thêm hai chậu, đun sôi rồi lại đem ra suối gội vụng cái đầu và lau láy mình mẩy. Mẹ La kiếm thêm một cành cây khô nữa chất vào bếp. Mẹ vừa ngồi canh nồi cháo đỗ xanh vừa sưởi. Mẹ càng thấy trong người dễ chịu, khi mẹ múc hẳn một gáo nước lá sả ra, mẹ gục mặt xông một lúc rồi uống thêm bát nữa, nhấm nháp với cục đường phèn vẫn để dành.
Nếu không còn đau còn chói trong xương và ở suốt sống lưng, thì lúc này đây mẹ La lại thấy hồi hẳn sức rồi. Khỏe mạnh! Phải, mẹ La mà khỏe mạnh thì mẹ không quản ngại việc gì, không sợ cái gì cả! Việc gì mẹ cũng làm được hết, cái gì mẹ cũng cố được hết. Chao ôi! Làm người, sống mà không chịu thương chịu khó sao gọi làm người được?! Và làm người mà không chịu thương chịu khó thì sao nên người? Nhất là ở vào cái cảnh như cảnh của mẹ.
Mẹ La ngây mặt ra.
Chỗ mẹ La đương ngồi ở cuối dãy đằng sau nhà bếp. Trước mặt mẹ là vườn. Cái vườn của tù cỏ vê nhà thương vỡ rậm để trồng rau cho bà đỡ và nhà thày phemiêxếp. Những luống rau cải làn, xà lách, súp lơ, cần tây, cà chua là phần mẹ La trông nom. Cạnh vườn có bãi lau. Rồi đây cả bãi lau cũng vỡ rậm để làm sân phơi quần áo và trồng các cây lưu niên như na, vải thiều, đào, mận. Sau bãi đến bờ suối, cây cối như rừng. Bên kia suối thì thật là rừng và toàn núi đá. Rừng núi cứ như thành như lũy ở chung quanh mẹ, chất ngất ở trên đầu mẹ, bạt ngàn lớp lớp ở trước mặt mẹ, càng ngày mẹ La càng thấy xanh rì rì, lạnh ngăn ngắt, lởm chởm, dằng dặc, sâu hút. Nhưng mở ra trên những thành lũy ấy là trời cao. Trời cao giờ đây cũng xanh nhưng xanh như lụa như tơ. Trời đã xanh như thế lại có những tầng mây trắng không thứ gì trắng bằng, cũng chất ngất, bao la, xa hút, mà không làm ghê sợ gớm khiếp gì cả. Bỗng một đàn chim không biết là chim gì hiện ra, bay mềm bay mại qua đỉnh núi trước mặt khu nhà thương, về cái phía xa cũng ở trước mặt mẹ La mà mây ở đây, trời ở đây lại còn trắng còn xanh hơn, trắng lóa, trắng ngời, xanh biếc xanh tan ra với nắng.
Mẹ La lại thấy những tiếng lộng tiếng khơi rào rào đến. Rồi sóng, toàn sóng bạc đầu, đánh cao hơn cả nóc nhà, có vô vàn chim cá cuốn theo. Cũng toàn những chim vàng cá bạc như bay như múa. Chính giữa những lớp sóng gió chim cá ấy, có bóng dáng và hơi hướng một ông cụ rất bao dung, rất thân thiết đi đến với mẹ. Ông cụ này không như ông cụ bố chồng của mẹ, mẹ phải cố đoán ra, tưởng ra, nghĩ ra, hay như ông già phe mì người mẹ mới quen biết. Ông cụ này đã hằng ngày ăn ở, làm việc, chuyện trò bên cạnh mẹ; từng nét mặt, vẻ người, dáng dấp, lời ăn tiếng nói, cử chỉ của ông cụ vẫn cứ như in ở trước mặt mẹ, không thể lẫn với ông cụ nào khác được.
Đây này, người ông cụ lưng hơi gù nhưng không vì thế kém phần cao lớn vậm vạp. Hai bả vai ông cụ vừa rộng vừa dày cứ như bờ tường bờ đê che đỡ cho mẹ La, khi ông cụ đứng ngồi ở đằng trước mẹ. Tóc ông cụ bạc hết trông như tơ như cước xõa. Lông mày ông cụ rậm cũng bạc phơ, nhiều sợi dài rủ xuống cả mắt. Đôi mắt ông cụ không sáng như kiểu mắt các ông Kim Cương hay Phật Văn Thù, mà sáng cái vẻ của các cụ già nhà quê quắc thước, từng trải, suy nghĩ. Râu ông cụ lại càng đẹp. Cũng lại là thứ râu của các ông cụ già cày cuốc, ngắn, xồm xồm, bạc như cước như tơ...
Đúng ông cụ Ước lại đến với mẹ La!
Ông cụ Ước cùng ở cái xóm Cấm, cạnh nhà mẹ La, chuyên bán nước chè tươi và diêm thuốc lào cho thợ thuyền, chân sào, phu xe ba gác, phu khuân vác ở bờ sông Lấp. Ông cụ cũng tứ cố vô thân, đến ngụ cư ở làng Cấm, người rất mực tốt bụng tốt dạ và khái tính. Mẹ La vẫn gọi ông cụ bằng ông và xưng con một cách kính mến, quý trọng, thân yêu như với bố chồng hay với anh ruột, em ruột của bố đẻ mình. Đúng ông cụ Ước! Thoáng giây, cái bếp bắc ba hòn đá xù xì, đun toàn bằng cành cây củi gộc, lù lù một cái thùng tôn to như thùng nấu thợ giặt, cái bếp nhà thương ấy biến đi. Thay vào đó là cái bếp đầu rau. Ba hòn đất khum khum múp múp, đẹp đẽ, chắc chắn, thân mật. Củi chẻ, rắc trấu mùn cưa chung quanh. Bếp đun một ấm đất nấu nước mưa để hãm chè tươi. Trước cái bếp thân thuộc ấy, mọi khi vẫn có đủ cả cụ Ước và những người hàng xóm thường nhật dậy sớm cứ xuống sưởi lửa uống nước và nghe ông cụ nói chuyện, kể chuyện, mẹ La lại thấy ông cụ.
Thật mà mẹ La lại được ông cụ Ước mời uống thứ nước đúng là chè vườn Thủy Nguyên rồi lại còn được nghe câu chuyện Người vàng lấp sóng biển Đông mà mẹ đã thuộc lòng ấy nữa. Chao ôi! Vợ chồng ông lão ở cửa sông Dầng ngoài biển Đông sóng gió kia. Vợ chồng ông lão không có con cái gì cả, cũng chỉ bán quán sống lần hồi, nhưng hễ thấy ai đói rách, hoạn nạn, cơ nhỡ thì đều nhường cơm sẻ áo, cưu mang giúp đỡ, và chỉ mong sao sống đến ngày trông thấy lấp được cửa con sông dữ, đắp đê bao ruộng, để không còn những tai ương đau xót dân lành cày cấy no ấm yên vui.
Thì đúng giữa một đêm trời lại chuyển phong ba bão táp, vợ chồng ông lão lại phải giúp đỡ cứu chữa một người khách qua đò. Người này là một cô gái hiền hậu xinh đẹp, nhỡ độ đường, lâm bệnh nặng. Và cô gái hiền hậu, xinh đẹp, lâm bệnh nặng này đã... hóa thành vàng cùng với tất cả quang gánh của mình và giường chiếu dưới túp lều của vợ chồng ông lão nhường cho.
- "Ước mong chí nguyện của con người đã chuyển đến cả trời, Phật. Ước mong chí nguyện của con người đã làm tiên phải xuống với mình, chịu ơn của mình, hóa thành vàng đền đáp cho mình làm việc nghĩa".
Phải! Ông cụ Ước bảo thế. Ông cụ Ước kể chuyện Người vàng lấp sóng biển Đông cho mẹ La nghe đã bảo mẹ La thế.
Bàn tay to, nóng ấm của cụ Ước bỗng đặt lên vai mẹ La lay lay, rồi cầm lấy bàn tay gầy guộc, cóc cáy của mẹ mà ấp ấp nắm nắm. Mẹ La ngước mắt lên. Đôi mắt của cụ Ước và cả gương mặt, cả bộ râu tóc bạc phơ của ông cụ liền chan hòa ánh sáng, có một thứ hơi như hương như hoa tỏa rực ra. Mẹ La choàng người. Mẹ chợt thấy ngay sau đó như có một bàn tay đen lạnh ghê sợ lay lay vai mẹ, nắm lấy bàn tay của mẹ, và một cặp mắt, một gương mặt và bộ râu tóc cũng đen lạnh ghê sợ, cúi nhìn vào mặt mẹ và rít tiếng:
- A! Con mẹ này giỏi! Mày cũng lại muốn trốn tù à? Mày lại định trốn tù à?
Không như mọi lần, bắt chợt thấy cảnh rừng núi vắng lặng thăm thẳm xa xôi với mỗi một mình và cái ý định liều mạng phải trốn tù, thì mẹ La lại nghe thấy cái thứ tiếng quái ác của một giống gì ma quái kia cười gằn lên, và mẹ lại nhói cả người vì hoảng hốt, khủng khiếp. Lần này, trong người mẹ La cũng nhói lên nhưng với một cảm giác khác hẳn, và, có một câu đáp lại cũng khác hẳn? - "Ừ! Ta định trốn đấy. Chúng mày muốn làm gì ta thì làm". - Đáp lại xong câu nói ấy, mẹ thấy nóng bừng cả người, nhẹ lâng cả tâm trí. Và ông cụ Ước, với đôi mắt quăng quắc, với bộ râu tóc lồng lộng trong một vòng hào quang, và đôi bắp vai như có thể chống đỡ được cả phong ba bão táp, núi sập thành băng, lại hiện vụt ngay từ trên trời cao xuống, đứng trấn ở bên người mẹ La.
- Dù có trời long đất lở, dù có chém có giết, ta cũng không chờn đâu! Bốn mươi tuổi, hai thứ tóc trên đầu rồi, có chết cũng chẳng non yểu gì. Có chết cũng chỉ là hết cái khổ, cái nhục, cái đau, cái xót thôi! Nhưng nếu trốn thoát, nếu sống thì sẽ được... Cụ Ước ơi! Con ăn ở thế nào, lòng con thế nào thì quỷ thần hai vai và cả cụ nữa chứng giám cho. Con không thể chịu mãi cái mối oan khiên này đâu!...
Mẹ La lầm thầm nói hẳn lên thành tiếng. Bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu công việc lại dồn dồn lên trong tâm trí mẹ. Mẹ sẽ về được đến Hải Phòng. Mẹ tìm đón được đủ ba đứa con. Ba đứa con của mẹ sẽ cũng lại trốn đi đến chân trời góc biển, rừng thẳm núi sâu, hay hang cùng ngõ hẻm mà mai danh ẩn tích sống thế nào cũng được. Mẹ sẽ vào mỏ Vàng Danh, mỏ Mông Dương nước độc còn hơn cả cái đất Hà Giang này, lại đội than, làm đất hay luồn rừng đi củi. Không yên thì mẹ con đưa nhau đi cao su Đất đỏ, đi Tân thế giới, hay sang cái xứ gì Tây đưa đày những quân của cụ Đề Thám ấy mà làm ăn. Có chỉ lo mẹ không thoát được mấy cái chặng Bắc Quang, Bắc Mục, Tuyên Quang, nhất là về đến Hải Phòng lại không đón được các con. Chứ mà thoát, mà được gặp, được đón đủ các con, ăn ở với chúng nó, thì chỉ nguyên cái sức chịu thương chịu khó của mẹ, mẹ sẽ tháo vát nhất định không chịu đói, nhất định không để chúng sau này lại phải những bước khốn nạn như mẹ. Đã thế mẹ lại còn thằng La. Thằng La năm nay mười bốn mười lăm tuổi rồi. Cái thằng lém lỉnh nghịch ngợm, rắn đầu cứng cổ ấy thế mà lại hay làm, biết thương mẹ thương em, việc gì cũng làm đỡ mẹ, có cái gì cũng nhường em. Nay nó đi ở làm bé con cho nhà cô Dậu, lấy lão chủ thầu Đờvanhxy. Cô Dậu mến nó, quý nó và rất thương anh em nó, may mặc đủ thứ cho cái gái con, lại còn cho nó tiền để gửi lên cho mẹ. Nhưng, thư nào nó viết cho mẹ cũng đòi mẹ cho nó đưa em lên đề lao thăm mẹ. Như thế cũng chưa ghê gớm. Nó lại còn bảo mẹ rằng nó muốn ở trên này cùng với mẹ, mẹ xem có chân làm bé con ở hiệu thuốc bắc, hiệu cao lâu hay hiệu thợ cạo thợ giặt cũng được, mẹ cứ xin cho nó, nó đưa cả em lên vừa làm nuôi em, vừa chăm lo mẹ. "Bu đừng nghĩ gì cả! Bu đừng sợ gì cả". Không thư nào nó quên nhắc mẹ điều này! Năm đồng bạc của nó gửi măngđa (7)lên mẹ hãy còn ký kho kia. Lại còn hai chuyến nữa, chuyến ba đồng nó gửi người ét sốp phơ xe Con Ngựa đưa tay cho mẹ, với nào đường phèn, sữa Con Chim, mứt hạt sen, mứt gừng và cả thuốc lào. Nó khoe, nó đã biết nấu xúp lêghim, làm bít tết, cua fá xí, bánh kem và là được cả quần áo len rồi.
⚝ ✽ ⚝
[7] Bưu phiếu chuyển tiền.
Không! Không! Mẹ con nhà mẹ mà được đoàn tụ làm ăn và không bị nhắc đến cái tai tiếng nhục nhã, thì không có gì quản ngại cả! Hay dù có khổ sở cơ cực đến thế nào chăng nữa, cũng còn hơn cái cảnh thân mẹ thì tù đày bêu riếu, các con mẹ bị xa lìa, chúng nó lớn lên không có người lo liệu cho lại sa thêm vào những cảnh ai oán... Mẹ La thấy trong người nghẹn nghẹn. Mẹ nuốt nuốt nước bọt và cũng lại nuốt nuốt nước mắt. Thằng La lại như đương cõng cái gái con chơi đâu đây. Còn cái gái Lê cũng đương thơ thẩn cõng cái gái bé con nhà cô Xim ở gần những hàng bán khế dầm, sấu dầm, bán tò he bùa tua bùa túi. Mẹ La chỉ quờ tay ra sau lưng hay ơi ời một tiếng là sẽ được tay ẵm con bé, tay ôm con lớn. Mẹ được vỗ về các con và lại được hát ru. Mẹ nằm với cả hai đứa con gái, đánh võng mà ru. Chao ôi! Mình ru con mà tưởng như mình hát. Mình hát cho các con nghe, cho cả mình nghe hay chung quanh nghe cũng được. Giọng mình chẳng thanh chẳng ngọt, chẳng nao nuốt như của những ai kia, thì mình vẫn cứ thấy nao nuốt, cứ thanh cứ ngọt với mình. Cả những câu hát nữa, hát với những con cò, con bống con bang, cái trê, cái tép, củ từ cháo kê... mà thấy như hát với những Hằng Nga; loan phượng, đào tiên. Nghĩ đến đời mình nghèo khổ càng thấm thía. Càng nghĩ như thế người nào cất tiếng lên ru hay hát mà chả nao nuốt êm ái ngọt ngào?!...
- Phen này chỉ có nhất nọ nhị kia thôi. Chẳng may có xảy ra cơ sự nào thì ta sẽ ôm lấy cả ba đứa con ta mà cùng chúng nó nhảy xuống sông hay nhảy vào đường tàu mẹ con cùng chết!...
Nắng xói vào gần hết chỗ mẹ La ngồi. Sáng sương gió giá buốt như thế, giờ lại nóng bức oi ả rồi. Khí núi bốc lên ngun ngút. Nhiều đám mây trắng vẩn vẩn mờ mờ đi. Càng phía xa trời càng thấp càng nặng xuống. Mẹ La mở gói trầu cau ra ăn. Mẹ phải dứt thêm mấy sợi thuốc lào nữa vì vẫn thấy nhạt. Mẹ càng thấy đói. Bây giờ mẹ tỉnh táo hẳn rồi. Chốc nữa, ăn cái suất cơm của nhà thầu cho tù đi làm cỏ vê về ăn, lại chỉ như voi uống thuốc gió. Nhất là mấy tháng nay không hiểu giá thầu cơm nhà pha lại hạ nữa, hay chủ thầu mới xoay xỏa thế nào, mà oản cơm bữa nào cũng nhạt nhoét, cầm bàn tay cân cân và vẫn thấy nặng nặng nhưng không phải là nặng gạo, và gạo thì hôi không ai biết được là thứ gạo gì.
Chuyến xe đá thứ tư để xây pháo đài đồn Cao đương phải vượt hết dốc. Tiếng choòng, tiếng búa,... tiếng đá lăn, đá đập, đá nghiền, đá sàng,... tiếng kéo gỗ, khiêng gỗ, lăn gỗ,... tiếng cưa xẻ đục đẽo, và tiếng quát tháo đánh chửi suốt từ các lán cỏ vê dọc đường lên đến núi và cả ở trên đỉnh núi. Nhà pha người nào người ấy cởi trần hết. Mình mẩy, chân tay lấm bê lấm bết. Mặt mày càng xanh xám, càng hốc hác, mồ hôi vuốt không kịp. Quãng đường đầu tỉnh càng bụi. Những xe cam nhông mới, sơn xám, trùm vải bạt, ình ình hết tốp này đến tốp khác chỉ thấy kìn kìn đi lên. Ngựa thồ, lừa thồ, phu gánh, mã phu và lính khố xanh, lĩnh dõng rầm rập hai bên đường. Lại có tàu bay. Tàu bay lượn đi lượn lại trên đầu mọi người, trông thấy rõ cả cờ sơn tam tài, chở gì nặng lắm, chạy công việc gì cần kíp lắm, hệ trọng lắm.
Chiến tranh bên Tây nghe đâu lại càng to. Nước Đức đánh tràn thêm ra bốn năm nước nữa. Bên này nước Nhật lại chiếm thêm nhiều tỉnh lớn của nước Tàu. Hà Giang phải xây pháo đài và mở cả trường bay là đề phòng quân Nhật tràn sang đây. Tình hình như thế, không biết ở Hải Phòng thế nào? Ba anh em thằng La chúng nó, khi xảy ra cơ sự không hay sẽ ra sao đây?
Mẹ La lại nghĩ đến những chuyện xôn xao đồn thổi cả ở ngoài phố, ngoài chợ, bến ô tô, trong đề lao, trong trại lính. Nhất là cái việc đề lao xây cao thêm một thước tường đá bên ngoài và một hàng cửa sắt bên trong! Rồi khi nào mắc xong điện bên nhà quan tư, nhà quan giám, đề lao cũng có đèn, thì cũng chăng dây thép điện ở bốn bề tường như hỏa lò Hà Nội vậy. Còn ở trại to đương lắp thêm hai dãy cùm sắt, hễ động dạng cả tù án nhẹ cũng bị cùm hết...
Mặt mẹ La thượt hẳn ra. Mẹ kêu khe khẽ "ôi giời ơi!" vừa thở hắt một tiếng như cả ruột gan đều đứt. Mẹ khòm khòm cái lưng đứng dậy. Vừa lúc có tiếng xiềng và tiếng thở ì ạch hừ hừ đi đến:
- Bá La kìa! Bà cụ nhà ông loong toong nhà thương đã về chợ đấy. Bà cụ bảo mua cả đỗ xanh cho bá. Bá xiết ngâm, bớt lại bao nhiêu, bá bảo bà cụ.
- Chết! Chết! Bà cụ về chợ rồi à?
Mẹ La toan chạy nhưng thấy người tù ốm tê thấp nọ có ý muốn nói gì với mình, liền hỏi:
- Ông có nhờ bà cụ mua gì không? Ông có làm muối riềng hay cám chè lam để cháu làm cho.
Người tù ốm lắc đầu:
- Chỗ muối riềng tôi ăn vẫn còn, còn cám chè lam thì mật mía đắt quá!
Mẹ La nhìn vẻ mặt băn khoăn của người bạn tù. Người nọ đận đà mãi mới hỏi:
- Hôm nay bá lại thổi xôi đỗ cúng đấy à?
Mẹ La tươi cười đáp ngay:
- Được! Nhà cháu thổi những hơn đấu gạo, đến tối cháu gửi sang bên trại biếu ông một bát.
- Giã ơn bá! Giã ơn bá, bá lại thổi xôi có việc... Tôi chỉ tần phiền là có bớt thì bớt cho tôi nửa bao nhang, với ba quả cau, ba lá trầu để tôi khấn ở miếu bà Chúa ngục với. Năm nay năm tuổi, tháng sau lại là tháng xung của tôi. Tôi... tôi... (người tù ốm khừ khừ mãi mới lại cất được rõ tiếng) tôi lại mệt... mệt quá... nhọc quá... nhọc cứ không thở được. Chân tôi không hiểu sao tháng trước đã nhẹ nhẹ giờ lại sưng to thế này?! Nam kỵ túc... nữ kỵ mục...
Người tù ốm lắc lắc đầu, nhìn xuống hai ống chân mọng mọng chình chĩnh như muốn nứt ra trong hai cái vòng sắt, bản to như bản thắt lưng ngoạm hẳn vào thịt mình:
- Chúng nó giết người! Quân chúng nó giết người! Chúng nó đã cướp ruộng, cướp đất của tôi, hôm ấy sao chúng nó không bắn ngay cho tôi một phát để bây giờ... tôi... tôi...
Mẹ La không dám nhìn kỹ hai ống chân và chuỗi xiềng nọ. Mẹ càng tươi giọng nói:
- Không việc gì đâu ông ạ! Lên trên này nhiều người cũng bị như thế chỉ kiếm lá sả về sắc lấy nước đặc uống, thông tiểu tiện là khỏi ngay.
Ngoài miệng tuy cười nhưng trong dạ mẹ La thấy như se như thắt: "Nhà ông này rồi cũng đến chết thôi! Mười lăm năm nữa thì làm sao sống nổi ở cái chốn này?!"
Mẹ La múc cho người bạn tù một bát nước lá. Mẹ đỡ ông ta ngồi xuống gốc cây chỗ mình vừa ngồi, đặt bát nước vào cái tay nhão nhớt lập cà lập cập:
- Nước nóng sút đấy. Ông uống đi cho ra mồ hôi! Nhà cháu cũng vừa uống luôn hai bát. Còn cục đường phèn ông lấy mà ngậm.
Người bạn tù ốm như muốn mếu:
- Sắc đặc lấy nước uống bá nhỉ? Bao nhiêu lá bao nhiêu nước hở bá? Uống bao nhiêu ấm hở bá?
Mấy ngón tay của người tù ốm đón cầm cục đường, mẹ La thấy cứ dại dại như của trẻ con mới có trí khôn tập cầm ấy...
*
Người tù ốm lấy lại cả bao hương của mẹ La, thắp cắm ở đầu bó chiếu người tù chết, suốt từ mười giờ đến lúc đem chôn. Trưa hôm nay, về đề lao mẹ La lại không ăn hết suất cơm và lại không ngủ. Đã không ngủ mẹ La lại càng mong chóng đến tầm cỏ vê. Ra sở nhà thương, bọn mẹ La phải bàn ngay việc chôn cất người bạn tù chết. Không có ai khám xác cả. Quan ba đốc tờ còn đi câu lơn (8)với quan tư vào châu Bắc Mê có công việc đặc biệt. Vả lại quan đốc có nhà thì cũng chỉ thầy phemiêxếp nhìn qua người chết. Nếu là xác vô thừa nhận hay xác nhà pha thì thầy nguệch ngoạc cho mấy chữ như chữ bùa vào tờ khai tử đoạn ký vào giấy cho xuất một cỗ ván để nhà pha đem xác đi chôn.
⚝ ✽ ⚝
[8] Hành quân.
Người tù chết không hiểu vì bệnh gì mà vàng như lợn nghệ, da thịt chỉ động mạnh là nước vàng vỡ ra. Đến hai giờ rưỡi chiều bọn mẹ La chọn được ván, liệm xong khiêng áo quan xuống ngay bãi tha ma dưới chân núi cách nhà xác hơn trăm thước. Mẹ La và chị tù dở người đào đất, người tù ốm xúc đất. Trước đấy cả người tù ốm cũng nhận đào, nhưng ông vừa dận bàn chân lên cái mai và bị cái xiềng giằng giằng giật giật, vòng sắt càng thít vào thịt, máu mủ tứa ra, buốt lọng từ gan bàn chân lên tận óc, ông mới chịu thôi. Mẹ La cũng đau, cũng buốt. Sống lưng mẹ lại như bị dùi đâm điện rút khi mẹ giơ cuốc lên bổ xuống đất sỏi kình kịch. Tuy vậy cả ba người không ai bảo ai đều hậm hụi, kẻ đào người xúc và chẳng ai dám khóc thành tiếng. Thật ra người nào cũng cố nuốt nước mắt. Cái hố sâu đến gần ngực mẹ La rồi mà cả ba người vẫn hì hục đào xúc. Mãi sau người tù ốm không sao bíu trèo lên được miệng hố, mẹ La và chị tù dở người phải đun đun đít cho ông lên, cả bọn mới thôi. Chị tù dở người vừa đun vừa cười hỏi:
- Không biết chết ở xa thế này hồn có còn nhớ được đường mà tìm về đến quê đến quán không nhỉ? Mà hố đào sâu thế này, mình sống còn phải mấy người mới kéo nhau lên được, vậy thì hồn đi lên thế nào nhỉ?
Người tù ốm kiếm được miếng ván bắp gỗ lim, ông không biết tên thật, không biết rõ tuổi và làng người tù chết nên chỉ đề vội mấy hàng chữ Nho cách quãng như sau vào mặt ván viết bằng hắc ín, sau đấy còn hỏi để chua thêm:
Nguyễn Văn Mỗ chi mộ Hưng Yên tỉnh - Phù Cừ huyện.
Ngày tháng người tù chết, ông lấy ngày ta niên hiệu Bảo Đại và cũng viết bằng chữ Nho. Đắp tảng đất cỏ lên giữa nấm mộ và cắm thêm ba nén nhang dưới chân tấm gỗ xong, mẹ La bâng khuâng cả người, càng thấy trong lòng mình như nung như nấu. Trở về nhà thương, mẹ ra suối gội đầu, thay quần áo ngay. Bộ quần áo bẩn mẹ vẫn giặt và phơi trong nhà củi. Giữa bó củi cành chất ở góc trong cùng đã sẵn sàng gói quần áo thổ, ống cân muối rang, và hai đấu gạo nếp cũng rang. Đôi giành và cái đòn ống cũng sẵn sàng nhưng mẹ giấu trong bụi ga, bên kia bờ suối...
Chỗ xôi mẹ La nhờ bà cụ đẻ người loong toong nhà thương thổi cũng vừa chín tới. Mùi xôi đỗ xanh thoang thoảng. Chỉ một lúc nữa sẽ dỡ xôi ra lá chuối đem về trại. Gói hoa cũng lại đủ cả huệ, hồng, bưởi, lý và ngọc lan nữa. Những hoa bưởi, hoa huệ như những nụ đeo tai và những hoa hồng, hoa lý, hoa lan thơm nức hẳn lên làm mẹ La thở thấy nghẹn nghẹn. Trầu cau để cúng và mời chị em hàng trại lần này mẹ mua còn dư nhiều hơn. Mẹ cậy cục mua được cả vỏ tía bọc mấy lần lá chuối có thể ăn hàng tuần lễ.
Về chiều lại lạnh lạnh. Trời lại muốn trở gió. Ráng mỡ gà. Mẹ La tuy không váng vất như chiều qua, nhưng trán mẹ, mặt mày mẹ cứ bừng bừng. Mẹ thấy hình như chung quanh đã bắt đầu để ý đến mẹ. Đấy là mẹ La nghĩ như thế chứ người lính coi cỏ vê vẫn bỏ mặc bọn nhà pha mà ngồi chơi với con khỉ con của ông phemiêxếp. Còn từ bà đỡ đến người loong toong nhà thương và tất cả những người đẻ, người ốm đều chỉ nghĩ đến tối nay sòng đố chữ ở phố chợ lại mở chữ gì đây. Cái chữ mà người nào cũng cố tìm ra sự báo hiệu ở trong mộng mị, trong việc đi lại mua bán, trong sự gặp gỡ, một con chim, con gà, trong những tên bông hoa, tên trẻ con hàng xóm hôm qua hay hôm kia sực nhớ ra, và ở cả tên con khỉ con đương kheèng kheẹc nhe răng dẩu mõm, cáu gắt chửi mắng cả người lính và những người lớn khác suốt từ sáng đến giờ không ngớt tròng ghẹo hành hạ nó.
Mẹ La dọn dẹp nhà bà đỡ cũng đã xong. Còn các đồ lề của mẹ thì thật là gọn gàng, kín đáo không thể nào hơn được nữa. Chợt mẹ La nhìn suốt một lượt. Mẹ nhìn gốc bàng cổ thụ, có những mấu hình thù như những con nghê, con sấu ở cổng đình chùa, và có hai mấu phẳng như mặt ghế, đây mẹ vẫn ngồi ăn trầu uống nước vào những buổi mười giờ sáng, bốn giờ chiều vãn công việc. Mẹ nhìn hòn đá nhẵn thín, to bằng tấm chiếu trước rặng duối lối ra suối, thường thường khi mẹ đi giặt qua đây vẫn ao ước các con mẹ được chơi ở chỗ này những ngày nắng nôi, và chúng nó được ăn những quả duối chín mòng kia thì phải biết là thích. Mẹ nhìn lại cái gian bếp mẹ vẫn hấm húi thổi nấu hầu hạ nhà bà đỡ và bà vợ ông phemiêxếp. Ngày hai mươi chín Tết vừa rồi, cả hai nhà kia đụng lợn. Mẹ La phải gánh hàng chục gánh nước để kỳ cọ cầu rửa, vậy mà họ chỉ cho mẹ có tí thịt vụn toàn thịt bụng và những ruột già, bã trầu. Mẹ đem nấu tất cả với su hào, bắp cải, hành, cà rốt được đến bốn bát ô tô đem về trại. Xì xụp ăn với nhau, nhiều người cứ khen nức khen nở ngon hơn cả cỗ bát.
Mẹ La nhìn cái vườn rau không những tay mẹ đã vỡ rậm mà mẹ còn phải đi lấy nứa rào, phải đi gánh sỏi rải lối đi, rồi đi chuốc các con giống rau tận Sa Pa để trồng. Chiều chiều mẹ lại đi tưới nước đái, bắt sâu, chăm hơn cả những nhà làm rau dưới Hạ Lũng, Trung Hành của Hải Phòng nhà mẹ, nên khoảnh vườn ấy ai trông cũng phải thèm, phải khen. Một hôm mẹ vừa sốt vừa khát. Mẹ đã liều ăn sống hai quả cà chua hồng to bằng cái bát, tưởng đến sinh ra những chứng gỉ chứng gì, thế mà chiều hôm ấy mẹ tỉnh hẳn người, trong ruột đương như lửa đốt, mát nhẹ hẳn đi. Và kia... con đường vào tỉnh, con đường vào đề lao. Nắng đã xế. Bóng núi rợp hẳn mặt đường. Khí núi đã bốc như hun khói. Một cái cầu xi măng bắc ngang con suối to chảy vòng sau nhà thương. Qua cầu là sang bãi lau. Bãi lau rậm rạp sâu lút. Qua bãi lau là ra đường cái; đường Hà Giang, Hà Nội... Bất giác mẹ La nhìn về phía bên kia bờ suối. Sang khỏi con suối to sau nhà thương là vào rừng, có đường mòn qua núi vào các bản trong. Qua ba bản trong thì đến rừng Ô rô, rừng Báo và núi Tai Mèo. Vượt được núi Tai Mèo là có lối tắt về Bắc Quang, về Tuyên Quang, về xuôi.
- "Thế là ta nhất định trốn! Tối hôm nay ta cúng bố chồng ta xong, ta chuyện trò với các chị em hàng trại, ngủ một đêm nữa, sáng mai ta đi làm, trưa về ăn bữa cơm cuối cùng, rồi chiều ngày mai là ta sang suối luồn rừng tắt về Bắc Quang, không còn đi lại chốn này nữa!"
Mẹ La tự hỏi. Người mẹ lạnh toát, trống ngực như muốn đứt, trán hâm hấp mồ hôi. Mẹ quay lên trông cái nhà kho hàng ngày mẹ cùng người tù ốm và hai người bạn tù đàn bà vào lĩnh chổi, bao tải, nước kê din và chăn chiếu quần áo của người ốm mà ông ký già gác kho giao hẳn chìa khóa cho mẹ, mẹ muốn xuất nhập gì chỉ cần bảo qua ông. Sau lưng nhà kho là cổng bên cũng đi ra đường cái về đề lao. Con đường trồng hai rặng long não, chỉ chốc nữa mẹ sẽ lũn cũn xách bọc đồ lề đi về, cùng với bước chân lê xiềng của người tù ốm và người bạn tù đàn bà hơn nửa năm nay đã thân thuộc nhau, có chuyện cửa, chuyện nhà gì đều đem than thở với nhau, mời nhau ăn từ miếng sắn lùi đến mớ rau láo nháo nấu với tí muối.
- "Thế bác La bỏ chúng tôi ở lại thật à?"
Câu hỏi thầm kia làm mẹ La giật mình luống cuống. Người lính đã đập đập cái roi mây vào những cây ô rô, chờ ở ngoài cổng. Người tù ốm đương dệnh dạng vừa đi, vừa thở, cắp ở nách một mớ rau má đã rửa kỹ để chốc nữa về ăn ghém. Bữa chiều nay phiên cá mặn. Mùi cá mặn lựng lên từ xa mà những nhà pha lúc ốm kinh sợ không gì bằng, có người cứ cầm đến cá ăn có thể nôn ra cả máu.
Cỏ vê các sở đã về. Tiếng xiềng và tiếng vỏ lưỡi lê, bao đạn, súng xô đập ở ngả đường nào cũng có. Những đoàn xe bò chạy ầm ầm, xẻng cuốc, xà beng, choòng, búa inh ỏi. Buổi chiều ở cái tỉnh đường rừng thuộc đạo quan binh nọ chỉ có tù và lính. Phần nhiều là tù khổ sai, án nặng người dưới xuôi. Cảnh xơ xác, ốm yếu, rã rượi, cuồng cuống cứ lũ lượt lúc nhúc như ong như ri. Tiếng thét, tiếng chửi, tiếng đánh đập càng ghê khiếp, vì chính người thét, chửi, đánh đập là những kẻ gần như mất trí vì bị thúc bách, nếu họ không làm như thế thì kẻ trên coi họ như là a tòng với tù nhân. Họ không đáng ăn cơm, mặc áo và nuôi vợ nuôi con bằng số lương phát cho hàng tháng, và họ sẽ bị bọn tù tội nó coi thường, nó khinh nhờn, nó cho là đần độn.
Cỏ vê nhà thương buổi nay gặp được người lính Mèo quen thuộc và dễ dãi nên lại về sớm. Quản đề lao vẫn chưa ra nhận nhà pha. Trong khi người lính còn tạt vào phố chợ mua thuốc hút, mẹ La xin phép vào lễ ở cái miếu ngay trước cổng đề lao.
Đấy là miếu bà Chúa ngục, ở bên cây si to. Chỉ ít lâu sau khi xây đề lao thì có miếu và trồng cây si. Càng lâu năm, cây si càng xanh và quanh năm xanh um. Những cành, những chạc, những gốc con, gốc lớn mọc thành những cụm, những vầng chằng chịt rườm rà trông như một đám cây của một cửa rừng hoang. Tất cả những chùm rễ lòng thòng xoắn xít ở trước miếu, sau miếu, ở mé đường, ở khuất sâu mé bên trong, và ở những hốc những chạc ngóc ngách, đều bện đều kết thành những cái võng đeo các thứ bình vôi, cái thì dán giấy buộc vải hồng điều, cái tôi vôi đỏ, cái viết chữ mực tàu, cái quấn chỉ ngũ sắc. Và các thứ tượng, các thứ tranh hổ. Hổ xám, hổ vàng, hổ vằn tím, hổ vằn xanh, hổ đỏ, hổ trắng, hổ to, hổ nhỏ, hổ một, hổ đôi, hổ thành bộ "năm ông" với các kiểu nằm, ngồi, oằn mình, gại vuốt, vờn, chồm, nhảy, đi trên mây, trấn ở cửa hang, ngự trên bàn thờ vân vân được bày, được tô, được vẽ, được treo ở khắp các khám, các bệ, tường miếu, gốc cây, hốc cây, chạc cây.
Gian cửa võng chính điện của miếu che mành mành cũng vẽ một bộ "năm ông", ngự ở giữa là "ông Bạch". Một ngọn đèn hoa kỳ thắp suốt ngày đêm ở khám hậu cung đặt ngai bà Chúa. Tượng bà sơn son thếp vàng, mình mặc áo vóc xanh, đầu chít khăn vàng phủ khăn đỏ, cả người choàng một tấm nhiễu màu huyết dụ.
Mẹ La, trống ngực đập thòm thòm, giở bọc đồ lễ, lom khom đặt đĩa xôi đỗ xanh, gói hoa, ba quả cau, ba lá trầu và bao hương lên cái khay trước mâm bồng. Mắt mẹ chỉ dám nhìn chênh chếch, cúi cúi xuống đất, vậy mà mẹ vẫn thấy lành lạnh chờn chợn. Tất cả những cặp mắt bằng thủy tinh của bà Chúa và của những ông Bạch, ông Xám bày ở cái bệ thờ xây sắp tô vẽ giả làm hang động, đều như quắc lên chiếu cả vào đầu mẹ, vào gáy mẹ.
- Nam vô A di đà Phật! Nam vô A di đà Phật! Lạy Chúa mớ bái, lạy ngài vạn bái, lạy chư vị thần tướng sơn lâm.
Mẹ La lập cập bóc bao hương, rút ba nén châm vào ngọn đèn, đoạn khum khum hai bàn tay vừa cầm hương vừa lạy vừa xuýt xoa. Cái ẩm lạnh của tòa miếu ngan ngát mùi hương mùi hoa đè nặng thêm tâm trí mẹ La. Khi mẹ La khấn cho mình được mạnh khỏe thì mẹ còn lầm thầm ra tiếng. Tới khi mẹ sắp sửa khấn đến việc phù hộ cho mẹ trốn tù về đến quê hương bản quán với con lớn con bé, và được như thế mẹ sẽ xin sửa lễ hậu tạ, thì mẹ La bủn nhủn cả người thấy cứ nghẹn nghẹn. Hình như tất cả những cặp mắt sáng lạnh như dao kia của bà Chúa, của các ông Hổ đều lừ lừ đưa hỏi ý nhau. Trong khi ấy những ngọn gió lò qua tấm cửa võng và các ngách cửa, lại cứ như kêu dần dần lên cho mọi người biết cái rắp tâm ghê gớm của mẹ La.
Người đầu tiên nghe được ấy có thể chính là người lính gương mặt bủng bớt đương ngồi phì phèo hút thuốc ở bên đường kia. Trong suốt buổi đi coi, không bao giờ y nói chuyện với nhà pha. Nhận tù đi là đi, dong tù về là về, chẳng nói chẳng rằng, hễ nhà pha có hỏi việc gì hay xin phép đi đâu, y chỉ gật đầu. Nhưng đôi lúc cặp mắt vừa dữ dữ vừa dại dại của y lại chớp chớp, và lộ vẻ nửa như nghi ngại nửa như không thể hiểu biết nổi những người chung quanh, rồi y xớn xác hốt hoảng đưa nhìn bọn nhà pha và trông ra đường cái về xuôi, trông ra cả suối cả rừng. Phải! Biết đâu y đã chột dạ và hiểu hết mọi việc của mẹ La rồi, nhưng y cứ mặc cho mẹ La làm. Rồi hoặc y sẽ để mẹ La lần ra khỏi bờ suối một quãng, y theo sau mẹ mà giương súng đoàng một phát vào gáy mẹ. Phải! Chỉ một phát vào gáy mẹ thôi, vừa trừng phạt, vừa trả thù một kẻ dám lừa phản, làm hại y, một kẻ đã nhẫn tâm lợi dụng sự thật thà chậm chạp và cả tin của một người lính tốt như y. Mẹ La vừa gục xuống, y liền lấy con dao y đeo bên mình mà thường thường mẹ La thấy y vót tre, vót gỗ cứ lem lém, luôn luôn lấy lại mầu với hòn đá ở bên bờ suối, nên lưỡi dao lúc nào cũng loang loáng, y xẻo ngọt hai tai mẹ, đưa về quan giám binh lấy thưởng.
Không thế, y sẽ bắt mẹ La dong trở về đề lao. Sau những trận đòn sưng tím hết cả mình mẩy, bại liệt cả chân tay, uống nước cũng thấy đau, mẹ còn bị ba tháng phạt cùm tréo hai chân, ngày ăn có một nắm cơm con và ăn cơm nhạt. Tới khi mẹ được tha lại đi làm, y sẽ lại đánh mẹ. Đánh mẹ ở ngay cổng đề lao khi y nhận nhà pha. Đánh mẹ khi mẹ chưa kịp cầm cái xẻng cái cuốc. Đánh mẹ lúc mẹ gần hết hơi hết sức định ngồi nghỉ. Đánh mẹ lúc mẹ ở nhà tiêu ra. Đánh mẹ lúc chợt không trông thấy mẹ. Đánh mẹ lúc mẹ nấu được bát canh rau láo nháo xì xụp ăn vụng cho đỡ bụng đói cật rét. Đánh mẹ cả lúc mẹ ốm sốt lê đi không được như người bạn tù ốm cùng sở kia. Y đánh chán rồi pátsê consinh (9)cho các người lính khác đánh. Đánh cho mẹ đến ốm, đến chết như tất cả những nhà pha đã trốn cỏ vê, đã vượt ngục bị bắt lại.
⚝ ✽ ⚝
[9] Truyền lệnh lại (passer consigne).
- Nam vô A di đà Phật. Nam vô A di đà Phật. Lạy Chúa mớ bái. Xin Chúa phù hộ độ trì cho con.
Trống ngực mẹ La đập rộn thêm. Mẹ móc ở túi áo trong ra hai đồng trinh Khải Định, đặt lên cái đĩa sứ cồm cộm những vệt vôi têm trầu, nâng nâng lên trước trán mà khấn. Rồi mẹ vái vái hạ dần đĩa xuống, cầm hai đồng tiền nọ sắp sắp cọ cọ miết vào nhau, như để xiết để động hơn nữa đến quỷ thần. Mắt mẹ La nhắm lại, mẹ khấn thêm mấy câu nữa đoạn nương nhẹ gieo tiền khỏi hai ngón tay xuống lòng đĩa.
Tiếng tiền sang sảng lọng lên trong ngực, trong tai mẹ La. Khi mẹ mở mắt ra và thấy một đồng tiền quay quay đã nằm rõ trên lòng đĩa trắng, mẹ La liền thấy trời đất như đảo lộn, ruột gan mẹ như có ai xoắn ai rứt hẳn ra.
- "Tiền múa Chúa mừng!... Tiền múa Chúa mừng... Xuỵt duỵttt... Nam vô A di đà Phật. Nam vô A di đà Phật".
Mẹ La lại nâng nâng đĩa tiền lên trước trán, xin lại âm dương. Tiếng tiền lại gieo sang sảng. Hai đồng tiền xoay xoay rồi nằm ghé lên nhau. Mẹ La lại mở mắt. Mồ hôi trán toát hẳn ra. Mặt mày mẹ vụt tối rầm tối quay. Hai đồng tiền lại ngửa mặt chữ lên? Trời đất! Sao lại thế?! Lần xin âm dương thứ hai rồi! Bà Chúa vẫn chưa cho! Các ngài vẫn chưa cho! Tiếng người ồn ào và tiếng xiềng đã rầm rập inh ỏi ở bên ngoài. Cả những bọn đi xây pháo đài đồn Cao, những bọn đi làm đá, nung vôi xe cát cũng đã về. Tiếng kêu gọi, thét đánh càng túi bụi. Mẹ La lại như điên, như mê, như mụ.
Giữa lúc đó có hai đồng tiền khác cũng gieo trong tâm trong trí mẹ La rồi một đồng sấp, một đồng ngửa nổi lên hẳn hoi trong lòng đĩa trắng. Đầu gối mẹ La bủn nhủn, mẹ tưởng như đến khuỵu xuống cái bục gạch xây, rơi vỡ toang cả đĩa. Mẹ liền khuýp thêm hai vai, cố lắng cho hết tâm tận trí vào sự cầu khẩn. Xuỵt duỵttt... Nam vô A di đà Phật. Lạy Chúa mớ bái. Mẹ La lại nâng nâng đĩa tiền lên trước trán. Cánh tay rung rung, người càng xo ro cho bé bỏng thấp hèn hơn.
Lần xin thứ ba và là lần cuối cùng.
Lần này tiếng tiền không gieo sang sảng mà lại cành cạch và tưởng chừng có đồng bắn xuống đất. Rồi trong lòng đĩa, hai đồng không những không nằm ngửa mà nằm sấp lên nhau. Khi mẹ La cạy cạy một đồng ra, thấy vết trắng trắng ở gờ, mẹ đã run rẩy cả người. Ai ngờ chỉ là vệt vôi dính ở mặt sấp chứ không phải là nét chữ. Thật rồi, đúng thật rồi! Rành rành cả hai đồng đều sấp mặt xuống giữa lòng đĩa. Ngay đó, hai đồng tiền trong tâm trí mẹ La lại một sấp một ngửa đứng hẳn lên xoay xoay như múa một hồi rồi biến hút...
Sao lại thế này? Sao bà Chúa ngục linh thiêng và các quân gia chư vị thần tướng kia đã không vui lòng chấp nhận mà lại còn giận dữ ngăn cản! Sao lại như thế? Mẹ La một tuần nay đều giữ trong người sạch sẽ, ngày nào cũng tắm gội, thịt trâu, cá mắm phần cơm đều cho chị em hết cơ mà! Và trước đây cũng như bây giờ, mẹ La đều thành kính rất mực với Chúa, ngay khi mẹ mới phát vãng lên, chỉ nghe chị em và bà con hàng trại cho biết miếu thờ ở cổng đề lao là thờ Chúa, mẹ liền sửa lễ lễ ngay, vậy sao lại sinh ra cơ sự thế này? Hay động thật? Hay chưa gặp được ngày được giờ, được năm được tháng? Hay chưa gặp được dịp được chuyến, được bạn, được người? Hay mình ăn ở còn có điều gì chưa thật thành tâm thành ý nên Chúa và các ngài gàn quải quở mắng?
Mẹ La chợt nghĩ đến ông già phe mì đã phải sống ở trên đây hai mươi năm rồi. Mẹ choáng choáng, vái vái lần nữa, gói lại đĩa xôi, khép nép đi giật lùi ra. Bước khỏi cái vòm xanh rậm xanh rì của cây si và cái không khí ẩm lạnh hăng hắc mùi hương mùi hoa nặng nề đè nén của tòa miếu, mẹ La tưởng ngã khuỵu xuống mất. Mặt mày mẹ càng xanh xám khi cặp mắt dữ dữ mà dại dại của người lính bỗng cười cười nhìn mẹ. Mẹ lập cà lập cập cắp bọc đồ lễ, hai bàn tay khum khum đưa cho người lính một miếng trầu. Người lính không những cầm lấy ăn ngay mà lại mủm mỉm gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào cái bọc đồ lễ của mẹ, nói một câu bằng tiếng Mèo mà mẹ thấy ý chừng muốn bảo:
- Cái nhà mày hay cúng ma lắm! Nhưng cái ma trên này cúng nó mà không có thịt có rượu, nó không thích đâu!
Cùng lúc ấy bọn xe đá xây pháo đài có người tù quê ở Hưng Yên chết đã về. Những chuyện, những tin cứ ồn ồn... Pháo đài lại lấy người nữa. Có lệnh gấp lắm. Cả tù đàn bà cũng lấy để sàng cát, rửa sỏi. Sở nào cũng phải bớt người. Quan tư đầu tỉnh và quan ba đốc tờ đi câu lơn về chưa kịp thay ngựa đã lên ngay núi xem công việc. Quan tư ngài gắt lắm. Từ quan quản đến ngài đội đều xanh cả mắt. Nhà pha bị ốp làm, có người đương đẩy xe bị lính đá ngã từ trên núi xuống. Một người tù bị bệnh suyễn và một người già khiêng chậm, lính rút đòn ống phang luôn vào đầu gối. Họ đứng cũng không đứng được nữa, anh em định dìu họ về nhưng lính không cho...
Bọn mẹ La đi vào giữa đám cỏ vê các sở nhỏ.
Trời vẫn sáng, nhưng ráng chiều dần dần như nhuộm máu. Những ngọn núi phía tây tím bầm tím lịm. Có những đám mây sã xuống những đỉnh núi trông như những hình cá to thú lớn chân tay vây cánh bị phanh ra. Cánh rừng phía đông bắc đã mờ mờ khí núi, chìm dần vào một đêm tối sẽ mịt mùng lạnh lẽo vô cùng. Quay lưng về phía tây, khu đề lao sần sùi, lởm chởm, hoăm hoắm những bờ tường đá, lỗ châu mai, lô cốt, nóc trại, càng nổi lên như cắt, vừa đen, vừa xám, lù lù trước một nền sáng như của những ngọn nến, những chùm đèn thắp ở các nhà mồ. Chỉ còn thấy những tiếng người lào rào hỗn loạn và những tiếng xiềng ran ran. Chợt hai cánh cổng sắt mở then rồi dập đánh sầm vào tường. Một hàng hai chục lính súng cắm lưỡi lê phăng phăng chạy tỏa ra làm hai gọng, trấn lấy hai bên cửa. Nhà pha nhốn nháo, chen chúc, dồn dồn vào.
Hai đồng trinh Khải Định đánh rất sáng, buộc rất kỹ trong dải yếm, hai đồng tiền mà mẹ La hết sức cầu khấn được một đồng sấp, một đồng ngửa để thấy rằng thần thánh linh thiêng chấp nhận cho công việc của mình, hai đồng tiền ác nghiệt xin âm dương ấy lại hiện ra, nằm sấp vào nhau trong cái lòng đĩa trắng bệch. Cũng với hai đồng tiền ấy, tiếng reo tiếng sát của nó cũng lanh lảnh gai gai trong tâm trong trí mẹ La cùng với tiếng xiềng đương làm tối thêm cả nhà ngục. Mẹ La lại càng thấy nhức nhói và xoáy xiết vào óc mẹ cái ánh sáng lạnh như dao của những cặp mắt vô tri vô giác của bà Chúa ngục và các ngài Hổ Bạch, Hổ Xám.
- Thế là ta chưa được phép thoát khỏi cái chốn âm ty địa ngục này? Rồi ngày mai không chừng ta cũng phải làm trên pháo đài đồn Cao, như thế biết đến ngày nào ta mới lại có dịp như dịp làm ở sở nhà thương? Đi làm ở sở nhà thương mà thân hình hơi sức ta đã chỉ còn như thế này, huống hồ ta lại phải làm đất làm đá trên đồn? Giờ đã cuối tháng hai, chỉ mấy ngày nữa sang tháng ba, mùa hè nắng nôi viêm nhiệt, sương lam chướng khí, đương nắng thì mưa, mà phải đi làm ở cả trưa trên ấy! Giời ơi!...
Mẹ La kêu u ú trong họng. Mẹ chùn chùn người lại, hớt hải quay lại nhìn không biết nhìn cái gì.
- Kìa cái nhà mẹ La, sao lại thế này?!
Bọn nhà pha đi sau kêu lên với nhau, đẩy mẹ La một cái. Cái bậc sắt để mép cửa đề lao ngoạm chặt lấy không cho hở dù một khe ly mặt đất, vập ngay vào chân mẹ La. Nhưng mẹ La không còn kịp thấy đau, vội bước qua bậc sắt của vòm cổng thứ hai. Lần cổng này vừa mới xây thêm từ ngày trên tỉnh đây cũng có báo động, và cùng dạo ấy bờ tường đá xây cao thêm một thước, vừa cắm mảnh chai, vừa mắc dây thép điện, còn các chòi gác thì đêm đến săngtinền đúp (1)...
⚝ ✽ ⚝
[10] Hai lính cùng gác một chòi.
*
Chiều hôm sau, vào lúc tù đi làm cỏ vê sắp về, bọn nhà pha ở sở nhà thương lại khiêng một người xuống nhà xác. Người chết này là người tù đàn ông có tuổi ốm tê thấp. Y bị đánh chết. Chính tay tên giám binh mũi khoằm đánh. Còn khiêng y là chị tù dở người và người tù đàn bà cũng bé nhỏ còm cõi như mẹ La. Cả hai người này cũng bị đánh. Quần áo, khăn yếm bê bết máu. Máu ở miệng, máu ở thái dương, máu ở nhiều chỗ hiểm khác.
Mẹ La trốn! Cái con mẹ người Hải Phòng án giết chồng ấy trốn!
Hai người đàn bà bạn tù của mẹ La dong về đề lao bị phạt cùm tréo hai chân ngay. Cả trại đàn bà cũng bị phạt, ăn cơm nhạt trưa, tối cùm một chân luôn một tháng. Chỗ mẹ La không ai nằm cả. Cái vệt người mẹ La hằn bụi trên mặt sàn gỗ lim hàng tháng rồi vẫn cứ y nguyên ở chỗ góc trại lạnh lẽo ấy.
Cái vệt ấy từ bao lâu đã thấm mồ hôi của người mẹ La chuyên nằm nghiêng, lấy cánh tay làm gối cho con bé, và con bé là cái bọc quần áo mà mẹ phải ôm ấp thì mới ngủ được cả những ngày tháng tư tháng năm, cả khi mẹ sốt bỏ cơm nước. Cái vết in đủ cả hình thù đầu, vai và cái cánh tay khuỳnh ra vừa để làm gối vừa để ấp con - cái hình mẹ La ấy - hàng năm nay thâm thẫm bóng bóng trên sàn gỗ, cứ mỗi khi nhìn đến sau ngày mẹ La trốn tù, nhiều người lại phải quay ngay mặt đi.
Nắng chiều vẫn chiếu vào đấy tới lúc mặt trời gác bóng. Còn ánh đèn của ông già có con lớn bị án chém ở bên nhà phe mì vặn to lúc gà gáy lần thứ hai, cũng vẫn qua khe cửa lim lọt sáng vào đây. Tuy bị ăn cơm nhạt trưa và phạt cùm tối hàng tháng, nhưng trại đàn bà lúc chiều hôm ban sớm vẫn nao nức bàn tán về cái con mẹ La người Hải Phòng gan cóc tía nọ. Cả người bạn nghiện thuốc lào của mẹ La, cả chị tù dở người và người tù bé nhỏ còm cõi hao hao giống mẹ La đã vì mẹ La mà bị đánh sưng tím cả người, đều luôn luôn nhắc đến mẹ La.
Nếu như có ai trỏ vào góc trại chỗ mẹ La vẫn ngồi hút thuốc lào, lầm thầm chuyện một mình buổi sáng, nhất là chỗ cái mặt sàn in vệt hình người mẹ La nằm ôm bọc quần áo gối đầu tay giả làm con bé mà ru rím, thì người ta lại chép miệng:
- Nhà mẹ La bị người chồng chết oan hành cho như thế đấy! Tội nghiệp!...
Ai nấy vẫn ai tâm, vẫn thấy phấp phỏng lo ngại cho mẹ La vô cùng...