Nguyên Hồng Toàn Tập 3

Lượt đọc: 942 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cơn Bão Đã Đến
Chương 2

Càng gió nam trời đất càng mù mịt. Khói ở bốn lò nung và nhà máy điện tỏa ra làm đen kịt, ngập chìm hết các đường, các xóm, các làng ở rìa khu nhà máy Xi măng. Nắng đầu hè chói chang. Khói bốc với nắng càng nghi ngút. Mặt đất và bầu không khí đêm cũng như ngày như là một vạc dầu khổng lồ sôi sục âm ỉ. Bến tàu biển Sáu Kho, bến tàu đường sông và các khu các bãi hơn năm nay mở mang chỉ để chứa nguyên có hàng Mỹ càng nhộn nhịp, huyên náo. Mọi công việc ở đây đều gấp rút vô cùng. Cả ngày, cả đêm, người làm lúc nào cũng như phải chạy, phải đuổi. Những ống khói các tàu lớn cùng với không biết bao nhiêu cột buồm của các thuyền Trà Cổ, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi và không biết bao nhiêu sà lan, boọc cứ chen sít nhau trên mặt sông cửa Cấm, sông Tam Bạc, sông Xi Măng, sông Dế, vây kín thêm các bến của khu Xi măng và của các hãng vận tải, các hãng, các kho, các xưởng máy trong vùng đó.

Ông cụ Vy không làm lò nung và cũng không làm nhà than, nhà điện. Ông cụ làm đá ở ngoài trời, bên một cửa sông trông ra biển khơi bát ngát, mà cũng vẫn thấy ngột ngạt. Ngột ngạt vì nắng, vì khói bụi, vì đá. Những đống đá chuyển vào cho máy hập nghiền nhỏ ra, ngào với đất, với nước thành bùn, rồi nung thành xi măng, những đống đá hàng bốn mươi năm nay chính tay ông cụ đã vứt vào goòng, chở đổ vào máy hập ấy, cứ chồng chất không bao giờ hết cả. Nó cứ như là những thành những lũy ma quỷ hễ vừa bạt đi được quãng này thì quãng khác liền chuyển tới, hễ đống kia vơi đi thì đống khác lại ùn lên. Ông cụ Vy cả ngày và cả đêm nữa đi trên đá, ngồi trên đá, hai tay cứ như máy bốc đá, xếp đá. Đá nhọn, sắc, nóng bỏng. Đá vập vào ống chân, đá kẹp vào ngón tay, vào mu bàn tay. Đá bật, đá bắn vào đầu, vào lưng. Đá thúc vào bụng vào ngực. Đá lún ào ào sầm sập như muốn vùi, muốn lấp các vật ở dưới chân, ở bên cạnh, ở chung quanh. Đá kêu gau gáu, đá xốc ình ình, choang choang trong máng, đá hất đá ném vô tội vạ xuống đường. Đá như những mảnh trái phá, những mũi kim bắn qua đầu, qua mặt, vào đầu vào mặt người ta. Và đá thành bụi thành hơi nóng trộn với bụi xi măng với mạt than trùm lên mọi vật, lách vào tất cả chỗ nào hở, nào trống...

Từ lúc mặt trời mọc đến giờ đây, một phía nhà máy đã ngả dài bóng xuống bãi, xuống đường rồi, ông cụ Vy vẫn ở giữa các đống đá. Kíp ông cụ cũng rục rịch sắp làm mười hai tiếng, cũng phải thay nhau mà làm cả đêm cả ngày, như mọi kíp thợ, kíp cu li của nhà máy. Chỉ trong vòng hai tháng sau khi bên Tây nổ chiến tranh, bọn chủ nhà máy đã thay đổi gần hết các chế độ lao động. Chúng nó bảo cái việc như ban hành luật lệ ngày làm tám tiếng cho thợ thuyền là cả một sự ngu xuẩn của cái chính phủ nhố nhăng Mặt trận bình dân, đã làm cho nền sản xuất và công việc trị an của cả chính quốc Pháp và thuộc địa Đông Dương phải chịu bao nhiêu hậu quả tai hại. Nhất định chúng phải "đánh một cái dấu chấm hết rất đẹp cho cái thời đại kỳ cục ấy!". Bởi vậy, ông cụ Vy, người cu li làm lâu nhất ở Máy đá, lại được làm việc nhiều giờ như thế! Vì ông cụ muốn đi làm ngày tám tiếng như trước, hay nghỉ hẳn cũng được, tùy ý tùy thích... Trái lại, ông cụ muốn kiếm được nhiều tiền hơn thì phải làm việc ngày mười hai tiếng, làm thật nhanh, làm thật nặng, làm luôn chân luôn tay, làm cả ngày chủ nhật, làm khoán, tùy ý, tùy thích!

Nhưng rồi ông cụ xếp đá nọ cũng phải ngồi nghỉ. Ba giờ rồi! Trưa hôm nay ông cụ vẫn chỉ ăn cháo. Bà cụ nấu cháo đỗ đen cho ông cụ ăn với cà bát nén. Một phạng cháo và hai quả cà to, mọi khi ông cụ đánh cứ bay đi, ấy là không kể ba bát cơm vật và một liễn nước rau. Thế mà dạo này cơm đã không ăn, ông cụ lại chỉ ăn có nửa phạng cháo. Thấy một ông già mới vào làm và một bà có chửa người cùng xóm cũng không ăn cơm, có ý muốn ăn cháo, ông cụ Vy đưa luôn cả phạng cháo và bát cà cho hai người. Rồi ông cụ chỉ uống nước cháo xin của một ông già quen, ông này mệt quá cũng bỏ cơm, nấu một nồi to cháo loãng để chắt nước uống như thói quen của nhiều người mỏi mệt khác trong những ngày mùa hè làm ở những chỗ than bụi nhất của nhà máy.

Ông cụ Vy vừa húp cháo vừa quạt. Ông cụ quạt với cái mũ lính to như cái nón tu lờ của nhà sư. Mồ hôi cứ ròng ròng chảy từ đỉnh đầu hói nhẵn xuống cái trán nhăn nhăn mốc như da trăn, và chảy từ mảng ngực vừa dày vừa to ngang, ở giữa lồm xồm một nạm lông, xuống đến bụng ngấn vừa to vừa sệ, đẫm hết cả vai, cả cánh tay, cả bắp đùi ông cụ. Bên cạnh chỗ cụ Vy còn có ba người đàn bà, một người đàn ông đứng tuổi, hai người con gái và hai anh trai gộc. Cả bọn trai gái cũng chỉ ngồi thở sau khi nốc hết gáo nước lã này đến gáo nước lã khác. Bóng rợp che cho họ là bóng của đống đá đằng sau. Cái bóng in xuống chỗ họ ngồi và đống đá thấp ở trước mặt họ làm nổi rõ thêm những lớp bụi hầm hập, ngùn ngụt ở chung quanh họ. Mặt mày, đầu tóc của họ trông càng hốc hác, quần áo trông cũng xạc xờ... Chợt có một bà vùng vằng quạt phành phạch một thôi một hồi, rồi tru tréo lên:

- Nắng ơi là nắng! Mới vào hè mà đã nắng thế này!

Một bà khác cũng như gào lên. Rồi hai người quay lại, lấy nón quạt quạt cho ông cụ Vy, người già nhất và cũng làm lâu nhất ở Máy đá này:

- Bố ơi! Chuyến sau thì bố xếp bớt đi nhé. Bớt đá, nhưng bảo ký vẫn ghi đủ bố ạ. Cha con đẻ nhà nó, nhà nó lại phới ra ngoài kia uống bia, uống nước cam rồi!

- Ai bảo mẹ mày thế?! Nó vẫn chòm chõm ở ngoài

cần cẩu, gậy ông vải nhà nó vẫn còn để chầu bên bàn giấy kia kìa.

Một người đàn bà đẩy goòng đến, vừa nói vừa lấy vạt áo lau mặt và những dòng nước uống vội sớt ra cổ ra yếm. Cả bọn đều nhìn cái ba toong của thằng cai kíp, ré lên cười. Ông cụ Vy vẫn chẳng nói chẳng rằng và như không nghe thấy gì cả. Nét mặt ông cụ càng nặng càng dữ. Anh cháu nhớn của ông cụ cũng đẩy goòng, liền quay lại:

- Các mẹ ơi! Bức sốt thế này mà các mẹ còn cứ đùa được?

Tức thì có tiếng cười bật hẳn lên như ngựa hí như còi rúc:

- Eo mẹo ơi! Anh Vy nhớn nhà tôi dạo này đứng đắn mới ghê! Này cái bé kia, tối nay có cải lương trên Hà Nội về diễn, anh cả đã lấy vé mời bu mời em xem chưa?

Người con gái cùng đẩy xe với Vy lớn đỏ dừ cả mặt, Vy lớn cũng thế. Vy lớn giơ ngay quả đấm:

- Các mẹ có biết cái gì đây không?

Một bà cũng giơ nắm tay, lại còn hà hà hơi:

- Thằng cu ngẩu cũng liệu cái thần hồn. Cái bé kia gọi chúng tao bằng bá, bằng dì đấy. Bu nó giao phó hẳn nó cho chúng tao đấy.

Cả bãi đá cười rúc lên.

- Thôi thôi... cả Tây xếp và cai đã về kia kìa! - Mọi người bảo nhau bổ choàng xuống đường. Đá đổ, đá sụt theo họ ầm ầm. Duy ông cụ Vy cứ ngồi. Ông uống hết bát nước cháo từ lâu, tay vẫn cầm cái bát không. Khi mọi người kêu lên bỏ chạy, ông cụ đặt cái bát xuống đống đá, xòe bàn tay vuốt từ trán xuống cằm, đoạn ngón tay cái và ngón tay trỏ lại gang ra day day hai thái dương.

- Chậc chậc chậc...

Ông cụ rít lên khe khẽ. Dưới đường mấy người đàn bà càng giục:

- Bố ơi là bố! Tây xếp đến kia kìa! Giời ơi!...

Ông cụ Vy vẫn ngồi im, mắt trân trân nhìn. Ở đầu đường goòng Vy lớn thầm kêu:

- Giời ơi... ông!

*

Tây xếp và cai không ra Máy đá, lại vào nhà giấy uống bia với nhau. Ông cụ Vy đã đứng dậy, lửng thửng xuống đường. Goòng của Vy lớn lại xếp đầy đá. Trong khi chờ những goòng đến trước đổ đá cho băng cuốn vào máy, Vy lớn lại đứng dưới chân một đống đá cho đỡ nắng, và vẫn theo dõi người ông. Tuy cố trông, nhưng qua những lớp bụi đá, bụi xi măng và nắng chiều ngùn ngụt, Vy lớn chỉ thấy lờ mờ nét mặt, hình thù cùng những cử động của ông mình. Rồi giây phút sau, đám xe goòng và người làm đá qua lại dồn dập thêm, ông cụ liền khuất hẳn giữa những đống đá chói chang, bụi mù, thì Vy lớn chỉ còn thấy ông Vy trong trí nghĩ.

Nửa năm rồi, ông Vy càng bần thần, nhưng lắm lúc lại có những cử chỉ, đột nhiên như vừa đây. Và thế là đã gần hai năm, từ cái đêm cả hai làng Đình Hạ, Chiêu Thương của hầu hết những người làm ở nhà máy Xi măng bị cháy, tính nết ông Vy bỗng khác lạ hẳn đi. Người bảo vì ông cụ tiếc nhà tiếc cửa, vì cháu ông cụ chết. Người bảo vì ông cụ đã vác chạy hai cây cột gỗ lim quá sức, lại còn bị cả cái nhà đương cháy đổ xuống người nên ông cụ bị động óc. Người bảo cứ ai làm lâu ở cái nhà máy Xi măng về già hay mất trí như thế. Rồi gần đây, bác Vy làm ở lò nung bị đuổi, bác phải bỏ nhà ra Uông Bí xin việc làm,... rồi bên Tây đánh nhau, người em bác Vy bị bắt lính sang bên ấy không còn thư từ giấy má gì về cho nhà nữa, thì ông cụ Vy lại càng lẩn thẩn. Giá cảnh bác Vy không neo bấn, để ông cụ ở nhà mà thuốc thang, không thuốc bắc thuốc tây thì thuốc lá, và tìm những thức mát cho ông cụ ăn uống, là ông cụ đỡ thôi. Nếu không cứ còn đi làm, chỉ vài vụ nắng nữa, ông cụ bị nặng thêm, sẽ khó khăn lắm!....

- Chao ôi, cái ông cụ lành như đất, hiền như bụt mà rất vui tính vui nết, vậy mà giờ như thế đấy!

Không phải chỉ ở Máy đá mà cả nhà máy Xi măng, bà con thân thuộc nào cũng ai tâm vì bệnh nạn và tình cảnh của cụ Vy. Càng về già, ông cụ càng được mọi người mến. Làm kíp với ông cụ, không cô nào, bà nào không tranh nhau đi xe với ông cụ. Ông cụ bốc đá vừa nhanh, xếp đá vừa gọn, khi người ta nghỉ ông cụ vẫn làm, và làm việc gì khó việc gì nặng, ông cụ đều lẳng lặng làm cả. Từ việc đi chọn xe, lấy xe, cho đến chuyển xe, dỡ đá lúc bị cặm, ông cụ thường làm một mình, ai đùn việc, né việc ông cụ cũng chẳng nói chẳng rằng. Đến bữa ăn không hôm nào không có người quấy ông cụ. Bà này xin nước dưa, nước rau luộc. Thằng kia xin cá mặn, xin cà. Đứa "bố ơi bố!", đứa "ông ơi ông!", "bố bớt cho con một bát nào!", "ông ơi ông, cho cháu boóng sẩu mấy miếng cơm nắm, bát cháo của ông nào".

Bọn trai gái và các mẹ càng hay trêu ông cụ Vy.

- Ông ơi ông! Cái con bé này hư lắm. Sáng nó đi làm nó chỉ dám ăn quà những một trinh bắp rang. Cuối năm nay nó lại lấy bát họ cũng được có hơn trăm bạc thôi, đã thế nó lại còn giấu giếm sắm sửa đủ cả hoa tai bộ cánh để sẵn trong hòm đấy. Ông bảo bà con đưa ngay trầu cau đến nhà nó xin nó về để làm... chị thằng ngẩu Vy thì xin đi...

- Bố ơi! Con có người dì ruột năm nay mới có năm mươi tuổi và mới góa có ba lần chồng, làm việc nhà quê thì khỏe như trâu, bố đương cần người đỡ chân đỡ tay cho u con ở nhà, để con nói với dì con cho bố. Dì con nghe đồn chỉ mê cái nết ăn nết ở của bố và chỉ chuốc cái nốt ruồi nổi quý tướng ở mép rốn bố. Công việc mà xong con chỉ xin bố cho chúng con một chầu phở nạm và cà phê túi ở hàng Gầm Cầu cổng sở thôi!

Ông Vy lông mày dựng ngược, thở như Trương Phi, mắm môi mắm lợi sấn đến túm cẳng người nọ. Dù người ấy cao lớn, nặng, khỏe đến đâu, ông cụ cũng nhấc bổng lên, dộng đầu xuống đất một cách rất nhẹ, rất gọn làm người ấy vừa kêu thất thanh, vừa lạy, vừa cười. Cả mọi người chung quanh cũng cười, còn ông Vy lại trở về chỗ cũ, phì phèo cái điếu tẩu hút thuốc lá, gương mặt càng lành như đất, hiền như bụt.

- Để ông ta ở nhà nghỉ, uống thuốc và ăn uống những thứ mát, chỉ ít lâu là ông ta lại như trước. Đúng đấy! Nhưng chỉ đúng có một phần mười thôi! Cốt nhất phải làm sao...

Vy lớn tự nhủ, lại nghĩ đến cái nhà cũ và tình cảnh gia đình. Sau vụ cháy năm kia, bố con ông cháu Vy lại phải làm nhà. Nhà, kèo cột bằng các thứ ván, thứ gỗ, bằng cả sắt xà gồ, cột buồm gẫy. Mái lợp, nào lá gồi, đánh tranh, phủ bao tải, phủ giấy bao xi măng. Trước kia nhà Vy đã bị sở lấy đất dồn đuổi từ trong làng ra đầm than, vậy mà khi vừa bị cháy, nhóm rau nhóm bếp dựng lại xong, lại được lệnh thành phố lấy đất. Giữa lúc ấy cha Vy mất việc. Ra ngoài mỏ than Vàng Danh làm, cuối năm ngoái cha Vy còn năng thư từ, nhưng từ đầu năm tới giờ cha Vy chỉ có nhắn người quen về hỏi thăm nhà và gửi được có ba mươi đồng bạc đỡ bố mẹ già nuôi các cháu nhỏ. Thằng em út Vy bị chết cháy như thế cũng sắp giỗ hai năm. Cái thằng nọ sao mà bén ông thế. Từ cái lông mày, cái trán, cái miệng, đến cái ngực, cái lưng, cái dáng đi huỳnh huỵch, cái giọng nói ồm ồm, đến cả cái ăn, cái ngáy ngủ. Ông Vy quý nó nhất nhà. Ông Vy đã cai sữa cho nó. Cứ đến bữa cơm, có ông ở nhà là nó ngồi chầu bên ông. Ông xắn thịt, bẻ đậu phụ, gỡ cá kho, cá rán, khêu ốc, xé cua... cái gì ông ăn ông cũng cho nó. Hôm nhà cháy, ông Vy đã vác được hai cây cột lim ra bờ sông, đầu tóc mặt mày cháy sém, lại còn đi tìm bà Vy, mẹ Vy, các em Vy không biết chạy đi đâu. Mãi sau nghe nói có bọn đàn bà trẻ con nhà ai đương khóc ở ngõ trong, gần cổng sau nhà máy kia kìa, ông Vy liền bổ vào thì thấy mẹ Vy đương ôm thằng em Vy thái dương máu chảy ròng ròng.

- Phải làm sao cho ông ta lại có mấy gian nhà hẳn hoi, cha ta lại về Hải Phòng làm nhà cửa lại, luôn luôn khách khứa vui vẻ, hay có phép gì làm thằng em ta sống lại...

Câu nói này đương thầm thì trong tâm trí Vy lớn, một câu nói khác bỗng cắt ngang:

- Nhưng nếu cuộc sống và cái xã hội này không biến đổi và biến đổi từ gốc, thì cả ông mày, cả cha con anh em nhà mày cùng với mọi người nghèo khổ bán sức lao động khác cũng vẫn chỉ kéo dài cuộc đời làm thân nô lệ tối tăm cùng kiệt thôi!

Vy lớn lặng hẳn đi. Vy lớn lại phải nghĩ lan man sang nhiều chuyện khác. Vy lớn lại phải nhớ đến nhà ông cụ năm xưa chạy đói nhà quê, dắt cháu ra tỉnh kiếm việc không được rồi chết ở Máy đá. Ông cụ người còn già hơn ông Vy, gày gò khẳng khiu, móm lép cả miệng, da khô róc đen như than. Ông cụ chết ngồi, mặt gục xuống đầu gối, hai tay ôm lấy như cố giấu mặt đi, cố giữ cho mình được ngồi khuất như thế mà chết. Hôm ấy hai mươi tám Tết, cả trong làng và các nhà đò, tiếng lợn đã kêu eeng eéc. Trời rét, Vy lớn đi đưa cơm cho bố, cho ông. Mẹ Vy lấy cái áo dạ màu cứt ngựa nặng như cái chăn bông đụp của ông Vy khoác cho Vy lùng thùng gần quét đất. Áo này lúc nào về tầm ông Vy sẽ mặc. Mẹ Vy còn quấn cả đầu cả cổ cho Vy cái khăn bông làm tã cho em. Vy cứ nghển mãi người, lắc đầu, đẩy tay mẹ đi, nhưng vẫn cứ phải mặc áo quấn khăn. Ông cụ nọ chết chỉ đóng khố, mặc cái xác tải bao gạo cắt một lỗ để chui lọt cổ, tay cụt, khâu bằng đay, ngồi thom thỏm giữa đống đá ngoài bờ sông.

Không hiểu ông cụ có bà con nào ở đây không? Ông cụ chết từ bao giờ, chết vì ốm hay vì làm sao?

Người ta đã bàn tán nhiều chuyện với nhau về ông cụ nọ. Mỗi người một cách, mỗi người một ý, rồi quy kết thành nhiều điều mà ai nghe cũng thấy đúng, cũng thấy có lý, nhất là cũng thấy thương xót ai oán. Duy có cha Vy không nói gì cả. Vy thấy hình như cha Vy không nghĩ, không đoán như những người chung quanh. Vy đã băn khoăn vì sự lặng lẽ đặc biệt của cha, và không hiểu cha Vy nghĩ ngợi thế nào. Dần dà câu chuyện của ông cụ chết ngồi giữa đống đá mọi người cũng quên đi. Nhưng, một hôm cha Vy có hai người bạn ở bên phố sang, Vy thấy cha Vy vừa kể vừa tả lại cái chết của ông cụ làm Vy ngạc nhiên vô cùng. Vy thấy, cứ theo từng nhời, từng câu của cha Vy, ông cụ nọ lại hiện lên y như lúc Vy gửi quang liễn cơm canh của ông của cha cố lách đám đông để vào xem.

- Ông cụ bị chúng nó giết đấy! Chính là ông cụ bị chúng nó giết đấy!

Cha Vy kêu hẳn lên, ư ứ ưng ức nói với hai người bạn như thế. Vy kinh ngạc hết sức.

Sao? Làm sao? Ông cụ chết ngồi ở đống đá bị giết à? Ông cụ bị giết thế nào? Ai giết ông cụ? Chúng nó là ai? Làm sao cha Vy lại biết mà nói quả quyết như thế?!

Mấy năm sau Vy lớn lại nhớ, lại tưởng tượng, lại nghĩ và còn đi xa hơn:

"Ông cụ chết ở đống đá là bị giết. Quả thật ông cụ bị giết thì những đứa giết người kia có bị bắt đền tội không? Nhưng liệu cha Vy có đoán đúng, biết đúng không? Mà những kẻ giết người kia, giết cả một ông cụ gày còm, đói rét như thế chắc phải hung ác lắm? Chúng nó làm những công việc như thế có bè có cánh không? Những ai động chạm vọc vạch công việc chúng nó ra liệu có nguy hiểm không?"

Bao nhiêu lần Vy lớn định hỏi cha và cũng định hỏi một vài người quen thân của cha nhưng không dám. Tính Vy lớn rụt rè, cha Vy lại lầm lì ít chuyện, ít đùa không như ông Vy. Bẵng đi, một hôm cha Vy bỗng hỏi Vy:

- Con nhỉ, có phải chỗ đống đá ông cụ ngồi chết giờ xây một bệ cột đèn, cái bệ ấy to nhất để lắp hòm điện nặng phải không?

Vy lớn không kịp nghĩ ngợi gì cả, hồi hộp một cách lạ, vội đáp:

- Đúng chỗ ấy đấy, bố ạ. Ông cụ chết như thế đến tám, chín năm rồi bố nhỉ?

Cha Vy vẫn giữ cái vẻ mặt lặng lẽ, ngậm ngùi, da diết như trong mọi công việc, mọi câu chuyện đặc biệt của mình:

- Không!... Ông cụ vẫn chỉ mới chết hôm qua, hôm kia thôi! Chúng nó xây cái bệ cột đèn và chuyển cái bãi đỗ thuyền đá ấy ra chỗ khác để làm phi tang chứng tội ác của chúng nó đi, nhưng không được đâu!

Cha Vy nói như không phải chỉ nói với một mình Vy nghe mà còn để nói với những người thân thiết của ông cụ chết và với cả các người hiền lành chân thật, kín đáo ở chung quanh nghe nữa:

- Chúng nó đã giết người, một người vô sản đói rét của ta! Tất cả bọn bóc lột, thống trị, giàu sang quyền quý, tất cả cái chế độ này là những kẻ giết người, là tổ chức giết người. Chuyến này chúng nó gây chiến tranh thế là cuộc giết người của chúng nó diễn ra công khai, và chúng nó càng bóc lột quần chúng lao động, quần chúng lao động càng đói rét, đau khổ vô cùng...

Trong khi Vy lớn đương cố sức tìm hiểu cái chết của ông cụ chết ngồi ở đống đá, nhất là các việc từ ngày quân Đức nổ chiến tranh, thì được nghe cha Vy nói những câu kia giờ đây nó lại càng rành rọt từng lời một trong tâm trí Vy lớn.

- Vy lớn ơi Vy lớn! Mày làm thêm bao nhiêu xe đá nữa rồi?

- Kỳ tiền này mày có sang phố may áo không đấy?

- Vy lớn ơi! Có đi xem đá bóng thì đi chứ đừng đi chợ phiên nhé. Lại mấy cái con đĩ non ấy chúng nó ra ưỡn ẹo múa hát đấy thôi. Những một đồng vé vào cửa, mất của bố nó gần hai ngày công!

- Thằng gì trong xóm mày ấy phải bán cả xe đạp vì tài sửu (1)vì chợ phiên rồi phải không?

⚝ ✽ ⚝

[1] Tài sửu: đánh bạc một mặt chẵn, một mặt lẻ.

- Rạp Côlibờri lại chiếu phim chiến tranh. Phim mới nghe nói đánh nhau hắc lắm, quay sốt sột ngay tận mặt trận và gửi sang bằng máy bay...

- Ở Côlibờri à, vé hạng bét cũng những một đồng, đắt bỏ cha đi ấy.

- Vy lớn ơi! Thế nào chủ nhật này mày cũng rủ tao đi bơi. Bơi ở sông Cầu Rào cho khoái.

Những xe goòng rầm rập qua lại. Vẫn xếp đá, bốc đá và nghe anh em tíu tít gọi hỏi mình, Vy lớn chưa dứt được những ý nghĩ về đời sống của gia đình, lại phải bắt sang những ý nghĩ về tình hình hiện nay do những câu nói của cha Vy làm Vy thêm bồn chồn da diết. Đức nổ chiến tranh đã hơn nửa năm. Quân Đức đương đánh rất dữ dội Bỉ và Hà Lan. Cả Anh và Pháp đều phải chuyển những tướng giỏi tiếng tăm lừng lẫy và những đạo quân lớn để giữ các mặt trận xung yếu. Theo tin các báo chí, thì những pháo đài, những phòng tuyến đặc biệt của Pháp đương chuẩn bị ráo riết để chống đỡ những cuộc tràn đánh của quân Đức sẽ còn khủng khiếp gấp mười, khủng khiếp không lường ước tưởng tượng được. Như thế liệu Anh và Pháp có tiến công lại được Đức không? Như thế ở bên Viễn Đông liệu cuộc xâm lược của đế quốc quân phiệt Nhật Bản có mở rộng thêm nữa không? Nghĩa là quân Nhật sẽ đánh Pháp ở Đông Dương. Quân Nhật rất mạnh đã chiếm không biết bao nhiêu đất, bao nhiêu tỉnh của nước Tàu rồi! Quân Pháp sẽ đối phó thế nào? Đế quốc thực dân Pháp ở Đông Dương sẽ đối phó với đế quốc quân phiệt Nhật như thế nào?

Vy lớn mím mím môi, thở mạnh một tiếng. Đây này, đế quốc thực dân Pháp ở Đông Dương đương chuẩn bị đối phó trước tình hình chiến tranh như thế này đây: Hải Phòng của Vy vẫn tuyên bố phòng thủ thụ động rất vững, rất hiệu nghiệm. Đèn thành phố lại bớt bóng, đèn đường chỉ còn bóng hai mươi nhăm nến. Các phố, các xóm lao động càng tối tăm. Lệnh bắt lính sang Tây, bắt phu đi làm trường bay càng ngặt. Thợ thuyền ở nhà máy đi về luôn luôn bị giữ lại ở giữa đường khám xét. Nhà cửa, xóm lán luôn luôn bị lục lọi. Cứ mấy ngày cam nhông mật thám lại sục về tận ngõ bắt người đi, và người bị đánh ngay trên xe. Càng về khuya càng hay bắt người, chẳng để người đi làm về kịp ăn uống, thay quần áo. Cái gì cũng cấm. Cấm hội họp. Cấm đọc báo nghe chung. Cấm cả chuyện với nhau trong nhà máy về tình hình thế giới, về đời sống, về giá sinh hoạt. Khám ngặt nhất, cấm ngặt nhất, canh gác theo dõi cũng ngặt nhất, là ở mấy khu Xi măng, Máy tơ, Máy chỉ, Cốt phát. Từ ngày cha Vy bị đuổi, phải ra mỏ Vàng Danh kiếm việc, nhà Vy mới thôi không bị khám, không thấy súdoóc (2), bé con canh gác nữa...

⚝ ✽ ⚝

[2] Phụ mật thám.

Thống trị thì "đối phó" như thế; còn tư bản: Luật làm ngày tám tiếng sắp bãi bỏ hết. Hơn tháng nay lương và các giá làm khoán không những không được tăng lên với sức làm việc và sức ăn uống may mặc của thợ thuyền mà còn bị rút xuống. Cảnh làm ăn ở nhà máy càng vất vả lam lũ. Lại đánh đập, lại cúp phạt. Đàn bà có mang cũng bị đánh. Hé răng kêu, cất tay đỡ, là bị đuổi liền. Bọn chân tay người nhà của cai xếp của mật thám lại nhoi lên như dòi.

Chiếc goòng bỗng đứng lại đánh ình, đá đổ choang choang rào rào. Lại cặm rồi! Vy lớn choàng người nhảy ra khỏi đường sắt. Hai người đàn bà đẩy xe sau, một bà người Tàu, quần áo cũng rách bươm, mặt mày lấm bê lấm bết, vội vàng kéo giật goòng đá của mình lại, và cũng nhảy vội ra hai bên. Bà người Tàu giơ cánh tay áo gạt mồ hôi trán, thấm thấm chùi chùi ở thái dương, ở má:

- Hầy ồ! Còn những cái xe này thì còn khổ lớ!

Vy lớn đương quay lại nhìn bà Tàu người ở cạnh nhà Vy, chợt có tiếng cười ré lên. Một bà dừng xe đá gọi Vy:

- Vy lớn ơi! Bà trẻ mày lại mang nước chè tươi ra cho ông mày kia kìa.

Đó là bà quét nhà giấy đã đứng tuổi, có con gái bé cũng đi xe với Vy, xách cái ấm nước to mới đi nấu về cho các thầy ký.

Vy lớn đỏ rửng cả mặt nhưng cứ phải đến lấy một ống nước cho ông. Cô con bà nọ vẫn một mình đẩy cái goòng bị cặm vào lại đường sắt. Vy lớn hai tay bưng ống nước đưa cho ông. Ông cụ Vy hừng hực uống hết ống nước. Vy hỏi ông có uống nữa không, ông cụ chỉ lắc đầu, giơ cánh tay bết mồ hôi và bụi gạt những giọt nước sớt ra mép ra râu, lừ lừ nhìn cháu.

- "Phải làm sao bố ta lại có việc làm về ở Hải Phòng hoạt động, sống với ông ta và anh em ta mới được! Cũng phải làm sao mấy người bạn thân của bố ta thỉnh thoảng lại đến nhà ta để nói cho ta nghe thêm nhiều điều khác nữa. Và trước tình hình này, cả mấy thằng bạn thân của ta ở Máy đá ở Lò nung phải cùng nhau giữ ý giữ tứ, đừng tếu như hồi kỳ trước! Nhất là không được đua đòi, dây dính gì với bọn con cháu người nhà bọn chó ở trong xóm, ở nhà máy. Sách báo, tài liệu nhận được thì phải bảo vệ rất cẩn thận, hết sức bí mật. Càng ngày mới càng thấy quý! Thật là quý!..."

Vy lớn đưa cái mũ của mình cho ông đội, trở về chỗ goòng bị cặm, bẩy xe vào đường sắt cho bà Tàu hàng xóm xong, vừa đi vừa tự nhủ, tâm trí càng nao nức.

*

Về tầm, Vy lớn xách cái quang liễn bát đĩa đi liền với ông. Cụ Vy vẫn mình trần, quần đùi khâu bằng thứ vải bạt dày như mo nang ống thấp ống cao, tay cầm mũ, tay vắt bộ quần áo rách, chân đất, đi giữa bọn bà con anh em làm đá. Đã sáu giờ. Còn nắng. Những đám mây trắng đằng xa vẫn rực lên, bay tản ra lấp lóa trên nền trời xanh. Nhưng đã có gió mát. Ngoài bến tàu to Sáu Kho, cửa sông Tam Bạc, cửa sông Xi Măng thuyền lên buồm san sát ra khơi. Từ đường Bônbe qua Cầu Đất, những ô tô ra vội Đồ Sơn nổi còi như thét như xé, tung hết lớp bụi này đến lớp bụi khác. Tất cả những ôten, hàng bán rượu, giải khát đều sáng trưng, mở hết quạt trần, quạt bàn. Có những phòng ăn rộng như đình làng chỉ có mỗi một khách ăn cũng bật tất cả đèn, chạy tất cả quạt trần, chầu chực hàng chục bồi bàn, toàn trai gái đẹp, quần áo trắng, nước hoa sực nức. Ở phố Cầu Đất và phố LaCôm toàn những hàng tạp hóa và may mặc sang nhất, cả hai khách sạn Thượng Hải và Tân Á, đều tấp nập khách ăn uống, trước cửa, ô tô, xe kéo, các hàng vặt họp như bến chợ. Bồi bàn ở hai khách sạn này phần đông là những con gái từ Hồng Kông, Thượng Hải mới sang. Trông còn đẹp, còn sang và còn lịch sự hơn cả những tiểu thư con nhà buôn bán giàu có, hay những đào hát nổi tiếng của thành phố. Toàn áo chít nách hở đùi, cánh tay trần, tóc uốn điện. Những chuỗi hạt, dây chuyền và những cặp tóc, trâm cài tóc không hiểu bằng vàng, ngọc, kim cương hay thứ đá gì mà cứ ngời ngời lấp lánh đầy cả tóc, tai, ngực, cổ, gáy. Tiếng hát đã dập dìu ở các tầng gác. Tiếng đàn tam thập lục và tiếng hát nũng nịu lả lướt điểm theo tiếng sênh, tiếng phách và tiếng bài sừng xô xát.

Có một khách sạn không sang nhưng đông và ầm ĩ khác hẳn. Đó là ôten Y Lan đặc biệt của lính Tây, của các me Tây, các gái nhảy. Bốn gian liền, mỗi gian từ sáu đến tám bàn, đều có khách. Bàn, hai tẩy một me Tây. Bàn ba tẩy, một gái nhảy. Bàn có me Tây và gái nhảy vẫn cặp tóc, trông người chỉ mười lăm mười sáu tuổi nhưng hết sức câng câng trơ trẽn và nanh ác. Ôten Y Lan chỉ mở kèn hát. Những nhịp kèn còn ồn ào thúc giục hơn cả kèn trống ra trận. Lê dương, pháo thủ, lính thủy, Tây trắng, Tây đen tất cả đều uống nhiều hơn ăn. Toàn rượu nặng. Ở những bàn đánh bi a và xúc xắc cá ngựa, tiếng kêu, hét, gắt, chửi, cãi cọ, reo cười mở rượu, đập bàn, xô ghế, hôn hít, giằng kéo... nhiều lúc không còn thể phân biệt được.

Kín tiếng là giúp nước...

Ở tất cả những bàn uống rượu và chỗ đánh bi a đánh xúc xắc cá ngựa, đều có những bình nhổ, những lọ hoa, những thùng rác kẻ những dòng chữ trên đây và vẽ các kiểu mặt của Hítle với dúm tóc cun cút phẩy bên trán, núm ria con đỉa quệt trên mồm, và cái mồm thì bặm lại gân guốc, hai tai vểnh như hai tai chó béc giê. Ba bức tranh in màu, nền cờ tam tài phất phới trên những họng súng đại bác, lưỡi lê, có hình nước Pháp, có hình bà đầm xòe và cả hình xứ Đông Dương, dán ở quầy bàn rượu nhận tiền, ở chỗ hòm kèn hát và ở cửa ra vào, cổ động cho sự hùng cường của đế quốc Đại Pháp, sự giỏi giang của quân lính Đại Pháp và sự thịnh vượng yên vui của xứ thuộc địa bảo hộ.

Trước cửa ôten Y Lan không có ô tô, nhưng xe tay, các hàng thuốc lá, hàng tranh ảnh và các đám ăn mày, trẻ con kiếm chác lại đông hơn ở trước hai khách sạn Thượng Hải và Tân Á. Đèn trong nhà không lắp chao phòng thủ, cứ sáng trưng, sáng chói ra cả ngoài hè.

Ông cháu Vy lớn đi trong đám người làm nhà máy về tầm qua quãng đường nọ. Cũng như họ, ông cháu Vy lớn luôn luôn phải men vào sát bờ đường để nhường lối phóng cho các xe ô tô hòm đi nghỉ mát Đồ Sơn và những cam nhông Mỹ chở khí giới hàng hóa bán cho Tưởng Giới Thạch. Cứ mỗi lần các xe ô tô nọ vút qua, mùi thuốc lá Ănglê, mùi nước hoa phấn sáp, mùi kẹo bánh lại sực lên. Đèn phố đã bật. Hai ông cháu Vy lớn càng phải rảo bước, càng phải chen chúc, càng phải luôn luôn tránh các xe cộ qua lại. Trong chiếc chụp vỏ ngoài sơn đen, lòng chụp khuýp hẳn lại chỉ để rọi xuống mặt đường một khoảng tròn bằng cái đĩa, ánh sáng điện càng bị vẩn đục vì bóng chiều. Phố xá càng mờ mịt thêm vì khói. Khói của các lò, các ống khói nhà máy, các tàu to.

Sắp đến hàng bán lòng gà, lòng vịt và đầu gà đầu vịt quay cho các người lam lũ về tầm chiều muộn, Vy lớn đương hí húi buộc lại chiếc giày bị người đi sau giẫm phải gót làm tụt đứt cả dây, và đương nhớn nhác định gọi ông Vy, thì có tiếng chuông xe đạp bấm loạn lên, rồi một cái xe đạp bóng loáng sạt qua mặt Vy nếu Vy không né nhanh đến mất mặt. Vy lớn ngẩng lên, cau mày nhìn, khẽ kêu:

- Thằng La! Cái thằng nhóc ở nhà thằng Đờvanhxy Tây Xia. Hôm nay nó lại càng diện.

Thằng La mặc áo sơ mi dệt, cổ bẻ, như vừa lấy ở hộp ra, quần soóc đũi, xăng đan da láng, đi cái xe cuốc mới tinh. Không như mọi khi hễ thằng La gặp Vy lớn thì cười reo lên, tíu tít hỏi thăm thằng Vy em. Lần này thằng La cũng reo, nhưng tiếng reo lào thào lạ quá:

- Anh Vy lớn ơi! Hự hự...

- Mày lại phóng xe đi đâu thế?

La mếu máo nhìn Vy lớn, giọng nói như không cất lên được:

- Anh Vy lớn ơi! Người ta bảo bu em chết rồi hay làm sao ấy!

Vy lớn mắt dịu hẳn lại, nhìn La:

- Làm sao hở La?

- Em gửi cả thư commăngđê (3)lên trên đề lao cho bu em! Chờ hàng tháng rồi cũng không thấy tin tức gì cả. Có người bảo bu em chết rồi! Anh ơi! Hự hự...

Vy lớn vẫn giữ vẻ bình tĩnh:

- Thế La đi đâu bây giờ?

- Em đi mua tương ớt vội về cho cô Dậu ăn cơm với thằng Tây Xia. Chiều mai thì em sang bên ông, anh bảo thằng Vytem (4)chờ em ở nhà chứ đừng đi xem đá bóng anh nhá. Ông mai có nghỉ không?

⚝ ✽ ⚝

[3] Thư bảo đảm.

[4] Vy em.

Vy lớn gật đầu, xoa xoa tóc thằng La, bảo mai cứ sang chơi và nói cho nghe kỹ các tin tức về bu nó.

- Ông ơi! Ông!

Vy lớn chạy theo gọi ông. Hình như ông cụ không nghe thấy cả tiếng cháu, khi Vy đến ngay sau lưng ông:

- Ông về trước tắm xong chờ con về hãy ăn cơm. Nếu hàng lòng gà ở chợ Ba Ty hết thì con sang ngõ Hàng Cháo mua mấy lạng thịt quay. Chiều nay thứ bảy, hàng chú Voòng em bà Coóng ở cạnh nhà ta ấy, có cả lộ mị (5), con mua về ông uống rượu với cụ Coóng thì uống.

⚝ ✽ ⚝

[5] Lộ mị: thịt nhồi chân giò, tim gan dạ dày rán.

Không hiểu ông cụ còn mải nghĩ gì mà vẫn chỉ ngơ ngác nhìn Vy mãi sau mới gật đầu một cái. Vy lớn dặn ông lần nữa, đoạn đi vội sang bên kia đường. Thằng La đạp xe chồm chồm, bấm chuông loạn lên, đã vèo ra đầu phố. Vy lớn nhìn theo thằng bé bạn thân của em Vy, mắt nhíu nhíu, thở mạnh một cái.

- Nhà mẹ La chết rồi! Mẹ nó chết rồi! Mẹ nó mà là một kẻ giết người đấy! Con con mẹ giết chồng đấy?!

*

Lúc thằng La đến rủ thằng Vy em đi xem đá bóng, Vy em đương đẩy xe ba gác ra ngõ với ông. Hai ông cháu lại sang nhà máy Xi măng làm chuyến than xỉ và gạch pa panh vụn nữa. Mặc dầu ông cụ Vy đã bảo cháu để mình ông cụ làm thôi, nhưng thằng Vy em không nghe. Thằng La thì xui thằng Vy em đừng đi xem đá bóng, rồi cởi áo sơ mi, cởi quần soóc ra, mặc mỗi cái quần đùi vải đen, cùng thằng Vy em đẩy xe cho ông cụ. Nghe anh về tầm kể chuyện gặp thằng La chiều qua, giờ lại thấy bạn mò sang và cứ nhất định làm giúp mình, thằng Vy em càng thấy thương bạn, càng cố tìm những chuyện vui nói với bạn. Hai đứa cứ ríu ra ríu rít như chim. Xe vừa chuyển bánh được một quãng ngắn, La đưa ngay gói kẹo sữa, kẹo chanh và bánh hạnh nhân, bánh dừa cho Vy em. Vy em đựng kẹo bánh vào cái mũ nồi vải xanh chàm. Thằng này sợ ông không chịu ăn quà ngoài đường, nó bóc ba cái kẹo chanh và hai cái kẹo sữa luôn một lúc, rồi chạy lên đằng bò và dúi dúi vào tay ông bốn cái, còn một cái bỏ vào miệng ông bắt ông ăn ngay. Ông cụ càng nghển mặt lên, xua tay, thằng cháu càng níu xe lại, bỏ thêm cái kẹo nữa vào miệng ông. Thằng La ở đằng sau lay lay thùng xe khẩn khoản:

- Ông ăn kẹo với hai thằng ông ơi! Kẹo dưới tàu Ănglê đấy ông ạ. Ông ăn kẹo rồi chốc nữa nghỉ uống nước ăn bánh. Phần bà, phần bác gái một gói to đây này. Ông ăn đi ông ạ...

Thấy ông vừa đi vừa cũng nhai kẹo phúng phính, thằng Vy em càng khoái. Nó lừa lừa nhảy tót lên xe bảo ông:

- Đến cầu sông Xi Măng thì cháu xuống ông nhé. Ông cho cháu lái xe Pho Vêhuýt của ông một quãng. quay lại Vy em bảo La: - Xe Pho của ông cháu tao còn nhanh, còn khỏe, còn êm hơn cả xe Pho của thằng Tây Xia nhà mày và xe Lanhcôn nhà Thy San cai thầu hành tỏi, rau diếp, gà vịt cho các hãng tàu ở ngoài Sáu Kho, cu La nhỉ? Có gì hết Tết, sang năm hay sang năm nữa, tao với mày cố xin xuống làm quýt dưới tàu hay học việc ở xưởng ô tô Con ngựa, rồi hai thằng cùng vào Sài Gòn hay sang Tây làm mạch lô, hay đi lái xe với nhau...

Ông cụ Vy nheo nheo mắt như cười, xòe bàn tay vuốt chụm lại một cái cả bộ râu ria lởm chởm xồm xoàm và ăn thêm cái kẹo nữa. Cặp mắt quăng quắc của ông cụ liếc lại đằng sau, tay ông cụ nổi gân hơn, giữ càng xe cho cháu tha hồ nhún nhổm cười đùa với bạn.

Cùng đường với bọn ông cháu cụ Vy cũng có hai cái xe ba gác sang nhà máy Xi măng lấy than xỉ và gạch pa panh vỡ. Nhưng họ chuyên lấy về để bán cho người ta mỗi xe một hào. Còn ông cháu cụ Vy lấy để dùng. Trong trận cháy năm kia, xóm cụ Vy cháy tàn cháy hại, không còn được nóc nhà nào. Mọi người đương cố đùm dúm lên cho có được một chỗ chui ra rúc vào, thì năm ngoái trên sở Đốc lý sức giấy báo có lệnh mở mang thành phố. Thành phố lấy lại chỗ đất đó sẽ bồi thường tiền cho. Dân xóm chưa kịp tìm đất tìm nhà đã hết hạn. Lúc ký giấy lĩnh tiền, người năm chục, người một trăm, họ còn hứa sẽ được xét và sẽ còn được những khoản tiền bồi thường làm nhà và tiền di chuyển. Họ cứ yên trí. Nếu đoàn Ánh Sáng được phép dựng xóm nhà Ánh Sáng kiểu mẫu cho bà con lao động Hải Phòng, thành phố sẽ đặc ân xếp cho họ ở cái xóm "xã hội" đó!

Mọi người còn đương khấp khởi nghe ngóng, dạm hỏi chạy vạy thuê đất, nhờ đất, mua lại nhà và sửa soạn làm nhà. Đùng cái loong toong Đốc lý đưa giấy sức khẩn, rồi mõ tòa, đội xếp xuống xóm hạ lệnh trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ phải dỡ hết nhà cửa. Ngay hôm sau, hàng đàn, hàng lũ xe cam nhông Mỹ cứ ùn ùn kéo đến, và cơ man dây thép gai, cột bê tông, cọc sắt, hết đống này đến đống khác chở đến quây lấy các bãi, các đường, các ngõ, các xóm. Các xưởng to xưởng nhỏ lợp toàn bằng vải bạt rộng như những mái nhà hội chợ giăng giăng ra. Liền đó, các thứ hàng quán, xe cộ khác ầm ầm tuôn đến. Chỉ sau mấy hôm, khó mà nhận ra nổi những xóm cũ ngõ cũ nữa!

Ông cụ Vy may được nhà cụ Coóng ở trong ngõ Hạ Lý nhường cho một gian, nếu không đến giờ vẫn chưa biết ở đâu như bao nhiêu gia đình khác. Gọi là một gian nhà nhưng chỉ có một mái tôn gác lên bờ tường đằng sau một tràn gạo của hãng xuất cảng gạo sang Hồng Kông. Trước chỗ ở là rãnh, bên chỗ ở cũng là rãnh, và quá chỗ ở mươi bước là bờ sông, và, bờ sông đây chính là nơi đổ rác. Gần một năm rồi, những ngày chủ nhật hay ngày nghỉ nào cũng vậy, trừ hôm mưa bão hay ốm mệt, ông cụ đều mượn hay thuê xe ba gác của mấy nhà ngoài ngõ để đi lấy than xỉ, gạch vụn. Gặp những cai bao khoán quen, ông cụ còn xin được những thứ kia, không thì ông cụ phải lấy trộm. Đặc biệt là gạch pa panh: thứ gạch làm bằng sỏi, than xỉ trộn với xi măng tả mà nhà máy cho đấu thầu làm bán cho trại lính, cho các xưởng máy, các chủ thầu để xây tường, xây kho và nhà ở tạm bợ. Mấy năm trước, thứ gạch này rẻ lắm. Những gạch vụn đều bỏ vạ đầy cả bãi, cả lối đi ở cổng sau nhà máy. Từ nửa năm nay các kho, các hãng, các xưởng đóng sà lan lắp ô tô, các xưởng máy cưa, máy dệt tới tấp mở khắp Hải Phòng, thì cả những gạch xấu, gạch vụn cũng lên giá đắt gấp đôi, gấp ba gạch tốt ngày trước. Không biết bao nhiêu cai bao khoán chỉ nhận mua nhận làm các món hàng nọ mà phất cứ bạc vạn, bạc vạn.

Hôm nay càng nắng nhưng ông cụ Vy vẫn cố lấy bảy chuyến: sáng bốn, chiều ba như trước. Ông cụ phải để xe ở một ngõ hẻm ngoài đường cái. Ba ông cháu chuyên nhau đội xỉ than, đội gạch từ trong bãi ra. Thằng La và thằng Vy em tranh nhau lấy cái thúng to của ông cụ, cứ vừa xúc một thúng là hè nhau chạy trước. Tuy nóng bức ngột ngạt và đội nặng, nhưng thằng La như không thấy mệt gì cả. Trong tâm trong trí nó cứ tưởng như đây chính thật là công việc nhà mình. Ông cụ Vy là ông ruột nó, bà cụ Vy là bà ruột nó, bác Vy gái là chị ruột u nó, còn thằng Vy em với nó là hai thằng sinh đôi. Rất thú lại còn được có người anh cả là Vy lớn. Chúng nó làm chỉ vài buổi nữa là nhà mới của chúng nó sẽ có sân, có lối đi, có cả bếp, cao ráo hẳn hoi, do chính bàn tay ba ông cháu tu sửa. Hai thằng lại ríu ra ríu rít chuyện. Chuyện đá bóng.

- Không đi xem hôm nay cũng tiếc đấy!

Vy em bảo La, La đáp:

- Tao thấy cũng chả tiếc. Ta đá với ta không hăng lắm!

- Ai bảo cậu thế?! Ôlempích với Raxinh mà chả cộp

nhau à?

- Mày ạ, Ôlempích có hai anh em thằng Tây lai hiệu thịt bò và một thằng Tây đội xếp đá đểu thượng hạng là đểu.

La bỗng cười sặc:

- Thế này mày thấy có đểu không, ở Nam Định lại có cả cẩm mật thám giữ gôn nữa. Thằng này bụng bằng cái dó, nên người ta đặt tên cho nó là Dómẹbíttết. Nó chỉ đi không mà tay cũng đã khuệnh khoạng như người bơi hay như Đổng Trác ra trào đường ấy. Nghe nói nó chuyên săng tan người, và chỉ thích săng tan các ông cộng sản chính trị. Ấy thế mà nó lại giữ gôn, hội của nó lại đá với hội của thợ nhà Máy sợi và học trò trường Thành chung. Có một trận không hiểu thế nào avăngsăng họ đã hết sức sút nhẹ, sút như tao với mày taloong (6)cầu lông đùa ấy. Nhưng mà trúng bóng ngay vào bụng nó. Cái Dómẹbíttết ềnh ra, chết ngất, còn bóng thì bật xà ngang nhưng không vọt ra ngoài mà lại chính tay Dómẹbíttết quờ bóng từ từ lăn vào gôn. Thế là tuần sau hai avăngsăng chuyền nhau đá quả bóng ấy bị gọi vào Sở mật thám để thằng Tây nọ đá săng tan luôn cho hai ngày.

⚝ ✽ ⚝

[6] Đá gót.

- Thế cái Dómẹbíttết kia có còn ăn được xà lách trộn không?

Vy em hỏi, cười bò ra đường. Ông cụ Vy nhìn hai thằng, không hiểu chuyện gì cũng mủm mỉm cười. Đổ xong xỉ than, xếp gạch vào xe hai thằng khoác thúng lên vai, cứ bêu đầu dưới nắng, đi vào bãi lấy gạch.

- À Vytem này, mày có biết ông Rỗ thịt bò khô không?

- Có!.. Có!.. Sao cơ mày?

- Ông ấy ốm nghỉ hàng chứ không phải về quê hay ra mỏ đâu!

Vy em vui hẳn lên:

- Ông Rỗ đi đâu thì bãi bóng nhớ lắm đấy! Cứ có đá bóng, đến bãi mà không đến ông Rỗ đả xu thịt bò khô thêm thật nhiều nộm đu đủ và dấm tỏi, thì cả trận đấu bóng đội tuyển ta đấu với Tây cũng buồn thiu mày nhỉ. Nhưng làm sao ông ấy ốm?

- Ấy cũng chỉ vì đá bóng. Trận ấy, đội tuyển ta trên Hà Nội gặp đội lính Tây mỏ neo. Vừa mới sang tăng hai thì vỡ bãi. Đội mỏ neo đá gẫy chân ngay một avăngsăng và alaxô huých cả đầu gối vào thái dương người giữ gôn của ta. Ông Rỗ đương lách tách đánh kéo cắt thịt trộn nộm dưới gốc cây, thế mà không hiểu ai đè sấn lên ông ta, giằng lấy cái kéo mà thụi vào đầu hai thằng đội Tây đương xàlucusoong ngậu xị. Đầu không phải, phải tai. Bọn lính Tây gần đấy ùa đến cứ nhè ông Rỗ mà đánh hội chợ. Thế là bọn các bác tài, bác ét xốpphơ, học sinh trường Sông Lấp và cả anh em lính khố đỏ của ta liền xông lại cướp lấy cả đòn gánh dao phở mà đánh gỡ cho ông Rỗ. Ông Rỗ tan tành hết cả mâm thịt bò khô. Còn hàng phở thì bẹp rúm cả thùng nước dùng, con dao không biết ai phúc đức lại nhặt đem giả cho... Nhưng mà sáng nay có đứa bảo ông Rỗ lại đóng mâm mới, đánh kéo mới, đi hàng rồi. Cả bãi xô đến hỏi thăm, chỉ một nhoáng là hết cả mâm thịt bò khô.

Xỉ than và gạch lại xếp đầy hai thúng. Hai thằng lại tranh nhau đội thúng nặng. Chúng vừa đi vừa ăn kẹo. Thằng Vy em há miệng đớp ngáu một cái suýt mất ngón tay thằng La:

- La nhỉ, mày thử đoán xem chuyến này Pháp với Đức la ghe (7)thì ai được ai thua nào?

⚝ ✽ ⚝

[7] Chiến tranh.

Thằng La làm ra vẻ thờ ơ:

- Chẳng chó nào được, chẳng chó nào thua cả!

Thằng Vy em nhăn mặt, xì một tiếng.

- Mày nói nhằng! Tao thì cho là Đức sẽ được - Vy em hạ thấp giọng, vẻ quan trọng - Tao nghe người ta đồn Đức đánh toàn bằng tàu bay. Tàu bay bay rợp trời, nhiều hơn những chim én dạo nào kéo về Sáu Kho và bờ sông Tam Bạc mà người ta đồn là báo những điềm gỉ điềm gì ấy! Có mấy nước lớn nữa phải hàng Đức đến nơi rồi. Đức sắp tiến đến tận cửa thành nước Pháp rồi!

Thằng La cũng nhăn mặt nhưng càng làm ra vẻ lạnh nhạt:

- Cũng biết thế! Mày tưởng Đức như thế mà Pháp không kình lại được à? Người ta bảo Pháp là giàu xứ quê, giàu ngầm, Đức thì giàu xổi? Pháp là họ găm nhiều thứ khí giới lắm. Súng của họ còn có thứ to hơn của Đức, tàu bay của họ cũng có thứ bay nhanh hơn của Đức, nhưng họ giữ bí mật chưa giở ra đấu phép đấy thôi! - Đến đây thằng La cũng quan trọng hẳn nét mặt, bảo thằng Vy em - Lão Đờvanhxy nó bảo kín với cô Dậu rằng Pháp cứ mặc cho Đức đánh tràn ra các nước, để thử xem các kiểu súng, các đạo quân của Đức, rồi Pháp chỉ cho ra quân loại hạng ba hạng tư của họ như Marốckeeng, Xênêgale là cũng đủ thắng. Chả có thế mà họ đương mộ lính ta sang thêm. Tao thấy nói lính ta đánh cũng ghê lắm, cũng hắc lắm, chắc Pháp để đến lúc thật gay thì mới cho xuất trận...

Thằng La giơ ngón tay trỏ vẽ vẽ gạch gạch lên không khí:

- Mày có bao giờ được nghe chiến lũy pháo đài Maginô của Pháp không? Mấy ông đi làm tàu to ở xóm Cấm nhà tao về chuyện kín với người nhà, tao nghe được, thì rất chi là nhiều cái lạ, như trong truyện phong thần ấy. Chiến lũy xây dài còn hơn từ Hải Phòng lên Hà Nội cơ. Các pháo đài giăng giăng ra còn nhiều hơn những quả bù lù để neo tàu hay những phao đèn ngoài bến Sáu Kho. Đường đi từ pháo đài nọ sang pháo đài kia, không thuộc bản đồ thì không sao đi được. Người lạ mà lạc vào thì bị vướng điện, bị phun thuốc ngạt chết ngay. Súng lắp ở pháo đài có những khẩu thần công to bằng cái lò nung trong nhà máy ông nhà ta làm ấy. Bắn roạt một cái không đầy tích tắc cứ ra hàng trăm viên đạn, đạn lại bằng những cái phao gối trên tàu Long Môn kia kìa. Súng bắn lại không cần người mà chỉ bấm điện. Bấm điện một cái là nòng súng ngẩng lên, quay đi tứ phía; bấm điện cái nữa là nổ đạn. Đức đã cho bao nhiêu trinh thám cừ nhất của Đức đến vẽ địa đồ ăn cắp kiểu súng của Maginô mà không được. Các ông làm tàu, các ông ấy còn bảo có nhiều cái lạ nữa nhưng các ông ấy không dám nói, vì nói ra mà nhà binh Pháp họ biết, hay có người do thám báo cho nhà binh họ biết người nào nói, thì người nói có thể mất cái đội mũ ngay!

Vy em tròn cả mắt lên. Thằng La ngừng lại, con mắt láo liên nhìn tả nhìn hữu để thêm vẻ gìn giữ bí mật. Chẳng thằng nào chịu lý lẽ, bằng chứng của thằng nào. Nhưng cả hai thằng đều đồng ý, sẽ có một nước khác rất ghê sẽ thắng mà lại thắng cả Pháp cả Đức, và có khi nước này bây giờ tưởng như rất xoàng thôi. Nước đó là nước nào? Thằng La đưa ra một nước. Thằng Vy em cũng đưa ra một nước với cái kiểu nói úp úp mở mở như Sấm của Trạng ấy!

Xe lại chuyển bánh. Cái xe rúm ró như cái cũi lợn sề, bánh sắt phải buộc, phải chằng, phải néo bằng đủ các thứ dây thép, đai thùng với cọc gỗ cọc sắt, mà vẫn xếp đầy xỉ than, gạch vỡ. Cả thằng La và thằng Vy em đều mồ hôi mồ kê lấm bê lấm bết. Thằng La đi mượn hẳn một cái tích sành của bọn làm đất, mua đầy nước chè tươi rồi giục Vy em giở cả chỗ bánh ra để ông ăn. Ba ông cháu đẩy xe tắt ngõ ra đường cái. Xuống khỏi cầu Xi Măng, thằng Vy em chạy lên giữ lấy càng xe:

- Ông ơi, ông! Ông để con làm bò cho. Con làm bò được ông ạ!

Bị dừng lại bất ngờ, ông cụ nheo nheo mắt nhìn thằng cháu sừng sững ở trước mặt mình. Mặt trời chiếu đằng sau thằng cháu. Hình vóc và gương mặt thằng cháu bỗng như lớn khác hẳn lên. Thằng La cũng đi lên giữ lấy càng xe, khẩn khoản. Nhưng ông cụ đã gò lưng kéo. Còn hai đứa lại nhoài người đẩy ở đằng sau vừa chuyện ríu rít, các thứ chuyện mà ông cụ không để lọt qua tai một câu nào, và thấy thêm bao nhiêu ý nghĩ, thêm bao nhiêu cái nao nao, dào dạt trong người...

*

Ông cụ Vy phải gườm gườm con mắt, gừ một tiếng đuổi lần nữa, thằng Vy em và thằng La mới thôi trêu ông cụ. Ra bến, chúng nó nhảy ngay xuống sông Tam Bạc, đùa nghịch như quỷ giãy một lúc rồi thay quần áo, kéo nhau sang phố.

- Bà ơi, bu ơi! Con không ăn cơm nhà đâu nhé.

- Thế hai thằng lại đi ăn gì? Hôm nay nhà nấu cá riêu ăn với hoa chuối ghém đấy.

Vy em dẩu cái miệng ra làm trò với mẹ với bà:

- Cũng không bằng thịt bò khôôô, bằng bánh tôôm ôôm!

Hai thằng tót đi, thằng nọ bắt thằng kia cõng, thằng kia đá cẳng thụi lưng thằng nọ, ồn ĩ ra mãi ngoài ngõ. Ông cụ Vy chỉ rửa qua mặt mũi, ngồi quạt một lúc, uống nước rồi lại hậm hụi làm.

Chỗ ông cụ cần sửa sang nhất vẫn là phía trước cửa trông ra bến sông và cái lối đi men theo chân tường có rãnh nước. Dù đất đây chỉ là bãi rác, một bãi rác không những chỉ có ngoài phố và các ngõ chung quanh đem rác đến đổ, mà còn là nơi đọng rác của dệ sông có lẽ từ ngày Pháp sang mở rộng thêm bến rồi xây thành phố cũng chưa bao giờ được dọn dẹp cả! Đất đây vừa là đất nhà mình làm, cửa ngõ mình đi về, vừa là chỗ qua lại xuống bến nữa. Rồi ra ông cụ sẽ đánh đống các thứ sắt gỉ, dây thép gai, mảnh chai mảnh sành, đoạn cào rác nhặt sỏi nhặt gạch, cuốc làm thành một cái vườn con trồng lấy một gốc chuối, vài luống rau cải, rau thơm, hành, và bắc một giàn mướp, giàn bầu.

Ông cụ tu bổ như thế, để giúp cả ông cụ Coóng, có con dâu cùng làm ở Máy đá với ông cháu cụ. Cái ông cụ người Tàu trước kia làm thuyền Trà Cổ, sau làm phu khuân vác Sáu Kho có tiếng khỏe làm, khỏe ăn này, thế mà nay phải chịu ở nhà ăn nhờ vào con dâu đấy! Từ ngày ông cụ Vy dọn đến, ông cụ Coóng đã đỡ, nhưng cả ngày vẫn chỉ ngồi bóp chân trông các cháu bé, còn đi lại vẫn khó khăn lắm. Vì thế thím Coóng đi làm về lại phải nấu ăn, không thì để gạo để rau ở nhà nhờ bà cụ Vy hay bác Vy gái thổi nấu giúp. Chính thím Coóng đã giữ cái gian nhà cũ nọ cho nhà cụ Vy, nếu không khi vợ chồng người con gái cụ Coóng theo sở dọn nhà đi chỗ khác, chỉ kề cái xe ba gác khiêng giường lên là có chủ mới đến chiếm liền. Rồi chủ đất sẽ lấy tươi ngay của người thuê hàng ba bốn chục bạc đặt tiền trước và sẽ còn tha hồ tăng giá.

Ông cụ Vy vun quét lần nữa cả lối đi và rãnh nước rồi lại bắt tay vào việc xây tường. Gạch pa panh nhặt về chỉ được mươi hòn kha khá, còn toàn vỡ đôi vỡ ba và sứt mẻ, ông cụ phải lựa từng hòn. Hôm nay thế là lên được nửa tường. Ông cụ đo lại cẩn thận, chừa chỗ để rồi lắp cửa sổ hẳn hoi. Cửa sổ ấy sẽ trông ra bến sông, đón cái gió ngoài sông vào. Xây còn mươi hòn gạch vỡ xấu quá, ông cụ dành lại nhỡ khi không thể xin hay ăn trộm được nữa sẽ đành phải dùng vậy. Chỉ là bức tường bằng thứ gạch xi măng cà khổ, rồi đây trời nắng sẽ hút nóng ghê gớm, trời mưa trời nồm sẽ ẩm nhớt lạnh lẽo. Giường phản mà kê sát tường, người nằm sẽ thấy mình ở bên cái nồi rang hay thùng nước đá. Nhưng ông cụ Vy lên xong được hòn nào cũng lại ngắm nghía, lại tính toán, phác ra tấm cửa sổ sẽ làm với những mảnh ván hòm sữa con chim chính tay ông cụ bào, cưa, đục, lắp.

Ông cụ kê giường sát bức tường mới. Cả thằng Vy lớn, thằng Vy em lại nằm với ông. Chọn mấy mảnh ngói sứ chèn lại chân giường, ông cụ đẩy thử thấy thật khít với tường và không lay chuyển gì nữa mới yên trí. Nắng đã xế bóng. Bà cụ cũng vừa đun xong siêu nước lá vối ủ, chế với hoa hương nhu, lễ mễ bưng lại giường cho ông cụ. Ông cụ lại bảo bà cụ rót một bát to đem sang gian bên cho ông cụ Coóng. Ông cụ bạn hàng xóm nọ mãi mới cất được cánh tay lên đón bát nước. Mắt ông cụ đùng đục cùi nhãn nhìn lờ ngờ bà cụ Vy lúc lâu, rồi chẳng nói chẳng rằng, ông cụ lập cập uống nước, uống không thổi không sụp soạp gì cả tuy nước vẫn nóng bỏng.

Chiều rồi. Trên dãy đồi Phù Liễn đằng xa, đã thấy lởn vởn những dải hơi tim tím, hồng hồng, thẫm thẫm màu bồ quân ở ngọn đồi cao nhất dưới vầng mặt trời vàng rực. Con sông Tam Bạc rợp hẳn. Thỉnh thoảng một thuyền chở nhẹ, một ca nô nhỏ, từ ngoài cửa sông vào, lất phất những vuông cờ hiệu và những quần áo vải trắng vải hoa đi thoáng qua ô cửa đương xây của nhà ông Vy. Những thuyền bán chè đỗ đen, cháo đỗ xanh, bánh giò, chuối bưởi cũng luôn luôn đi qua rao hàng như hát. Có gió. Gió càng tung thêm bụi mù khi những cam nhông lồng qua. Gió thổi leeng keeng những dây thép cột buồm và những dây thép chằng buộc những đò những thuyền nát cắm mãi mãi ở dệ sông và làm thành một dãy phố thứ hai trên mặt nước. Và gió tỏa ầm ầm ù ù những tiếng vang động của khu Máy chỉ, khu Xi măng và cả khu bến tàu to Sáu Kho.

Gió nam! Gió nam!

Phải, gió nam đã nổi. Gió nam ở ngoài sông kia thổi vào hẳn hoi. Nhưng người ta chỉ càng khổ, càng như phải chịu một cái tội.

Bên kia sông, trước nhà ông cụ Vy và ông cụ Coóng là con đường đằng sau phố Ba Ty. Tất cả dãy tường sau đều có cổng có lỗ nhà xí. Còn ở dệ sông ngoài nhà hai ông cụ, không những là bãi rác mà còn có cống. Cái cống to của chính phố nhà hai ông cụ đổ nước ra. Đã thế lối đi vào ngõ nhà hai ông cụ cũng lại có một dãy lỗ nhà xí nữa. Cả cái khu ngõ hẻm lấy tên cái kho của hiệu Vinh Phát Tường buôn bán gạo sang Hồng Kông ấy, chính là cái phễu để hút các thứ gió và mùi hôi thối từ phố Hạ Lý qua sông Tam Bạc sang đằng sau phố Ba Ty, và từ đằng sau phố Ba Ty qua con sông Tam Bạc sang phố Hạ Lý. Những nhà ở trong ngõ phải làm một dãy phên, tấm ghép bằng ván, tấm bằng những mảnh tôn mảnh sắt tây thùng cũ, tấm ken lá gồi lá cọ, đan nứa, tấm chằng chịt bao tải, giấy bao xi măng. Nhà nào cũng quét vôi các phên các mành cho thật trắng, và còn trồng cả mướp, hoa lý để che thêm.

Trong đám nhà ngõ Vinh Phát Tường riêng nhà ông cụ Vy và ông cụ Coóng được cái lợi là giáp vách nhau và ở cuối dãy, liền với dệ bờ sông, nhưng lại trông thẳng vào đằng sau bếp và dãy hố xí của khách sạn Thiên Tân. Cầu tiêu của khách sạn này không những ở tầng dưới cùng mà còn ở cả những tầng trên, ở lưng chừng trời, trên đầu người ta. Có những ống máng cầu tiêu và bếp nước trên thượng tầng bị vỡ, bị gỉ, thỉnh thoảng lại phì hẳn nước ra, tung tóe xuống dưới ngõ. Và càng khuya, những tiếng giật nước, giội nước, mở nước, tháo nước càng thon thót, ầm ầm đổ xuống các nhà trong ngõ...

Chiều nay, khi gió vừa thổi những phoi bào, rơm lót cùng với bụi, với khói bay tuôn vào cửa, và mùi hôi thối lựng lên, thì ông cụ Vy như một con thú mang mũi tên thây lẩy ở trán, ở sườn bỗng bị động đến, liền nổi vẩy nổi gai cả người. Vẻ xót xa, đau tủi, căm uất quắc lên trong cặp mắt gườm gườm và như căng nứt cả vầng trán ngắn nhăn nheo mốc mác của ông cụ. Ông cụ lại thấy như có lửa cháy lửa hun trong gan trong ruột, trong tâm trong trí.

- Ông ơi! Ông uống nước rồi ăn khoai! Con lại mua được mớ khoai ỉ, vừa bở, vừa bùi.

Bác Vy gái bưng rổ khoai còn khói nghi ngút đặt lên cái quạt nan to. Hai đứa con bé liền xúm lại. Bác Vy gái vội mắng:

- Chúng mày để ông ăn nào. Phần chúng mày ở ngoài kia kìa.

Ông cụ Vy lẳng lặng chọn bốn củ bở nhất dúi vào tay hai cháu. Yết hầu ông cụ vẫn giật giật tuy đôi mắt, vẻ mặt đã dịu đi khi hai cháu chạy đến. Ông cụ lại rót nước uống. Cái áo cánh rách phơi đã khô của thím Coóng vẫn chao nghiêng như cờ trên dây thép. Mấy tàu lá cọ và bao giấy xi măng buộc che ở những tấm liếp trước dãy hố xí càng tung lên tung xuống vì gió. Gió còn táp đến những mùi xào nấu, mùi tỏi phi, mùi thịt chim, thịt lợn phơi sấy, mùi cá rán ngập trong mỡ, mùi thịt bò bít tết, mùi hồ tiêu hành hoa rau thơm bốc lên ở những món ăn vừa xúc trên lửa ra. Tiếng bát đĩa xoong chảo. Tiếng dao băm thành nhịp hẳn hoi. Tiếng chặt xương. Tiếng kỳ cọ rửa ráy và tiếng nước mỡ tóe trên các tầng khách sạn Thiên Tân càng dội xuống đầu người ta ở dưới ngõ.

Ông cụ Vy vẫn chưa ăn khoai. Ông cụ uống nước, không những chỉ vì khát mà còn để những ngụm nước chè tươi ngâm ngợi ấy làm hạ bớt cái "con hỏa" trong tâm trong trí. Vì ông cụ lại phải nghĩ đến những tầng gác của cái khách sạn đương lù lù ở trước mặt ông cụ, và các thứ mùi của nó đương theo gió sực cả lên kia. Ngay từ buổi sáng khách sạn Thiên Tân đã đông khách rồi. Đến giờ, không còn phòng lớn phòng nhỏ, không còn bàn ăn ở ngóc ngách nào là không có khách. Phần nhiều đặt tiệc. Như có một hội chợ ô tô mở ở hai bên đường trước khách sạn. Nổi lên trên cái hội chợ ở dưới đường ồn ào huyên náo thâu đêm suốt sáng kia, còn có những tiếng bài sừng, tiếng đàn tam thập lục, tiếng dàn nhạc kèn hơi, đánh đàn thổi kèn là những người Maní, Tây Ban Nha, và tiếng cười đùa ăn uống nhiều lúc làm như có sóng có bão dồ dồ lên ở các tầng gác.

Khi nhà cụ Vy mới dọn đến ngõ Vinh Phát Tường đây khách sạn Thiên Tân còn là dãy phố và khu ngõ bẩn thỉu lúc nhúc của những nhà thổ, tiệm hút, sòng bạc, hàng phở, hàng bánh cuốn, thợ cắt tóc, thợ may, thợ xe đạp, nhà hộ sinh, trường tư và nhà ở của phần đông những người lao động Hoa kiều lam lũ, nghèo khổ. Rồi tháng trước tháng sau, một hôm cụ Vy đi tầm về thấy một cảnh tượng lạ quá. Hàng dãy ô tô hòm kính đỗ ở gần ngõ nhà mình. Ông cụ ngẩng đầu lên: cái tòa nhà với ba tầng gác chất ngất không những đã xây xong hoàn toàn, cửa kính sáng choang, tường vôi vàng rực, khung cửa, rèm cửa, bao lơn, giàn hoa rực rỡ, mà còn phấp phới như hội, như tết, treo toàn đèn lồng, mắc kín đèn xanh đèn đỏ, và giăng hoa kết lá suốt từ cổng ô tô, cột điện bờ hè, lên đến lan can tầng thượng cùng. Hai tấm biển lớn đề cả chữ Nho chữ Pháp chữ Ănglê với hai chữ Thiên Tân bằng đồng nét to hàng thước, dựng ở tầng trên cùng và ở cửa chính, chói rọi xuống đường, từ bờ sông Tam Bạc, cầu Hạ Lý và đầu phố Bônbe đều trông rõ. Biển nào cũng lắp đèn khung điện ngũ sắc nhấp nháy. Cùng với những khung đèn những hoa lá giăng suốt bao lơn nóc thượng, làm khu trên đó thành như một rạp hát lộ thiên, và là một rạp hát chưa từng rạp hát nào ở Hải Phòng to, đẹp, lạ như thế.

Cũng ngay đêm ấy - đêm ấy ông cụ Vy được nghỉ ở nhà - trên khu thượng tầng lộ thiên đứng đây người ta có thể trông thấy khắp cả thành phố, bắt đầu dập dìu đàn hát, khiêu vũ cho đến gần sáng. Rồi từ hôm khai trương đến nay, ở cửa khách sạn Thiên Tân, bên cạnh cái hội chợ ô tô với những người cực kỳ sang trọng ra vào, còn có một cảnh họp chợ khác. Chợ của các tay kéo xe nhưng không sống bằng nghề kéo xe, của các bọn ma cô có nhiều mối nhiều khách đặc biệt, của các bọn chạy hàng lậu ở Sáu Kho, ở phố Khách, nhà ga, của các hàng thuốc lá, nước chanh bia đá, của các thứ hàng quà, và của các đám cua cá, chẵn lẻ, cát tê mà người đánh bạc phần đông là những người làm phu khuân vác, các mẹ buôn hàng xách và lũ trẻ con bấu sấu đưa đón hàng và ăn cắp hàng.

Tuy mở sau những khách sạn mới như Tân Á, Thượng Hải, Đông Kinh và những ôten to như Châu Âu, Thương Mại, Ba Lê, nhưng khách sạn Thiên Tân có phần nguy nga lộng lẫy hơn. Dãy nhà đã được hãng thầu Đờvanhxy tu sửa rất cầu kỳ công phu. Trông cái bề mặt của nó tưởng chừng như đây là một khu, một góc đường phố ăn chơi nào của ngoại quốc ấy. Nghe nói công ty khách sạn Thiên Tân còn định mua cả cái bãi và đầm to của làng Hạ Lý và của Sở pháo thủ để mở sân quần vợt, bể bơi, rạp chiếu xinê, và xây hẳn một khách sạn hoàn toàn mới, lấy kiểu của những khách sạn tối tân bên Nhật bên Mỹ, các bồi bàn sẽ kén toàn con gái Hồng Kông Thượng Hải, đẹp và lành nghề, và các dàn nhạc sẽ tuyển toàn những tay cừ khôi lão luyện ở Maní, ở Ba Lê sang...

- Chậc! Chậc! Chà à à à...

Tất cả những hình ảnh, những sự việc, những cảnh vật xoay quanh cái khách sạn Thiên Tân kia đương vùn vụt, chờn vờn trước mắt ông cụ Vy, thì ông cụ ho sặc lên. Ông cụ phải đặt bát nước cạnh rổ khoai và lại xòe bàn tay vuốt từ trán xuống miệng rồi bóp bóp hai bên thái dương, vừa chậc lưỡi, vừa kêu khe khẽ.

Lại bao nhiêu cảnh tang thương! Cái đời bán sức bán mồ hôi của cha con ông cháu cụ, cái đời của những người nghèo khổ làm thân vô sản như cha con ông cháu cụ ở cái đất Hải Phòng này, lại phải chịu bao sự biến đổi, đau lòng. Như ngủ mê, như nằm mộng vậy. Đời sống đã được ít lâu hưng hửng dễ thở. Như năm kia, thợ đi làm không những ngày chỉ có tám tiếng mà khắp thành phố đâu đâu cũng có trụ sở của thợ. Nào Ái hữu Xi măng, Ái hữu Máy tơ, Ái hữu Máy chỉ. Đến trong các xóm ngõ cũng có trụ sở như Ái hữu thợ xẻ, Ái hữu thợ giặt, Ái hữu cắt tóc, thợ may. Cả những bồi bếp, những người đi ăn đi ở làm con sen thằng nhỏ cũng có Ái hữu, có trụ sở: trụ sở Ái hữu công nhân tư gia.

Động có việc gì là đến ngay nhà báo của mình. Nhà báo ở Hải Phòng không giải quyết can thiệp được thì viết thư hay cử hẳn người lên nhờ anh em nhà báo trên Hà Nội. Báo của Mặt trận dân chủ mở để bênh vực quyền lợi của cả anh em bà con lao động và các tầng lớp quần chúng khác. Đứng chủ chốt tờ báo thật là những chiến sĩ, những người hoàn toàn vì lợi ích chung mà làm việc. Bác Vy có lần được cử đưa tiền ủng hộ của thợ nhà máy Xi măng lên tòa báo trên ấy, lúc về kể thêm cho ông cụ nghe không biết bao nhiêu chuyện thật lạ, thật cảm động về tờ báo. Ở tòa báo hầu hết là những đồng chí chính trị phạm ở Côn Lôn, ở Sơn La về xúm nhau lại làm. Giấy in chạy vạy mua từng súc. Báo thuê in chạy vạy tiền chuộc từng số. Phóng viên, chủ bút, chủ nhiệm, quản lý chẳng ai có lương, ngoài tiền cơm mỗi tháng ba đồng hay ba đồng rưỡi. Nhiều người đã không lấy số tiền nọ, lại còn đi dạy học, đi bán sách bán báo, đem tiền về góp thêm cho quỹ báo.

Thế mà báo cứ ra hàng tuần, mỗi kỳ in hàng năm, sáu nghìn bản! Công sứ, tổng đốc, tuần phủ, tri huyện, bang tá, chủ đồn điền, chủ mỏ, mật thám, giám binh... nào tịch thu, nào cấm bán cấm mua, nào dọa bỏ tù người đọc, trục xuất người làm đại lý, khám xét canh gác trụ sở đại lý. Nhưng báo càng bị khủng bố lại càng tăng người đọc, càng phải in thêm. Người mua đặt tiền trước hàng một năm, nửa năm. Ngoài tiền đặt mua báo lại còn bỏ thêm tiền ủng hộ. Ủng hộ nhà báo. Ủng hộ các cuộc đấu tranh. Ủng hộ từng xu, từng hào, từng đồng bạc. Năm xu của một dân cày Thái Bình ủng hộ Sở hỏa xa Trường Thi đương đình công. Hai đồng của cu li cao su Đất đỏ ủng hộ dân cày Thái Bình đương chống thuế. Một đồng của chị em hàng rau, năm hào của công nhân thợ xẻ, công nhân tư gia quyên giúp anh em cu li thợ mỏ than Vàng Danh, Uông Bí đình công.

Chính thằng Vy lớn đã đọc cho ông nghe những mục ủng hộ này. Và ông cụ chỉ nghe đọc những tin ủng hộ đăng trên báo thôi cũng nức cả lòng!

Những tờ báo chữ đen nhánh, đỏ thắm lúc giở ra nghe cứ soàn soạt thơm phức, và đọc lên thấy cứ sang sảng, thật là quang minh, chính trực, làm rạng rỡ cả đầu óc, sôi sục cả tâm trí, như còn mở ra từng trang, từng cột, từng mục trước mắt ông cụ Vy. Những tờ báo và những tập sách của ta ấy lại còn đọc giữa nhà máy, ở ngay những trụ sở, giữa những cuộc hội họp. Hội họp thì cứ hàng chục hàng trăm người. Hội họp không những chỉ ở trụ sở Ái hữu mà còn mét tinh công khai dưới thanh thiên bạch nhật kéo đi ở cả ngoài đường, ngoài phố. Ngày mồng Một tháng Năm quốc tế lao động mà kỷ niệm ngay giữa Hà Nội. Hải Phòng cũng cử đại biểu lên dự mét tinh. Hơn hai vạn người đi biểu tình. Truyền hết cả Hà Nội, cả Đông Dương truyền sang cả bên Tây. Phải! Bằng giờ năm kia biểu tình trên Hà Nội đây. Chiều hôm ấy Hà Nội biểu tình thì đêm hôm ấy dưới Hải Phòng cả hai làng Đình Hạ, Chiêu Thương và các khóm khu Xi măng bị cháy. Chúng nó đốt nhà. Chúng nó phá hoại...

Hai bên thái dương của cụ Vy vừa buốt, vừa nóng lại như muốn nứt. Ông cụ thấy mình như bị xẻo thịt. Ông cụ thấy cổ mình như bị thêm gông, tay chân như thêm xiềng thêm xích để chúng nó xẻo thịt. Ông cụ thấy những ngọn gió thông thốc vào nhà có cả tiếng bọn chúng nó reo đùa, cười hát với nhau trong lúc người ta bị tùng xẻo. Thật vậy, trong cuộc đàn áp khủng bố diễn ra từ cuối năm ngoái đến giờ, cả đời sống của ông cụ và bà con anh em lao động nghèo khổ ở chung quanh đã bị bọn thống trị siết thêm xiềng xích mà tùng xẻo trong cái nhà tù thuộc địa nô lệ này...

- Chậc! Chậc! Chà à à à...

Những đường gân ở cổ họng ông cụ Vy càng giật giật, và hai bên thái dương càng thon thót. Ông cụ lắc lắc đầu, lại có những tiếng thì thầm:

- Không thể sống được!.. Không thể chịu sống như thế được!

Tiếng đàn hát, ăn uống trên các tầng lầu dội xuống ngõ nhà cụ Vy không còn thể phân biệt được ở phòng nào và đương diễn ra những cảnh gì nữa. Gió chiều cũng lộng hơn nhưng cả mấy gian nhà úp xúp vẫn như hang, như hốc hút lấy các mùi hôi thối, tanh tưởi. Rổ khoai và cái bát sành to ở mé giường chỗ ông cụ Vy ngồi bỗng bị gạt tung vào góc tường. Ông cụ đứng dậy vắt cái áo cánh rách lên cánh tay, bước sầm ra cửa. Bác Vy gái luống cuống vội gọi, vẫn sẽ sàng:

- Thày ơi! Thày ở nhà ăn cơm. Cơm đã chín, riêu cá

cũng được rồi, các cháu chúng nó đi chơi cũng sắp về cả rồi thày ạ.

Nhưng thấy người bố chồng già mắt quắc hẳn lên, môi bậm lại, chẳng nói chẳng rằng, đi như chạy ra đường, bác Vy gái không dám nói thêm. Bác chỉ nhìn theo xót xa, lại nghĩ đến cảnh nắng bức ngột ngạt ở nhà máy rồi đây không biết ông cụ chịu làm sao nổi với cái máu nóng và chứng uất khí một ngày một nặng của một tuổi già lam lũ, bực bội, buồn phiền.

Ông cụ Vy ra con đường ban nãy cùng thằng cháu bé và thằng bạn của cháu đi xe gạch xỉ than, cũng là con đường hàng ngày ông cháu cụ và thợ thuyền nhà máy Xi măng đi về. Vẫn nắng. Trên nền trời xanh chói chang bốn cột khói của lò nung vẫn ngùn ngụt và tỏa ra đen sạm, đục ngầu, làm mù mịt cả một vùng. Nhà máy đương chạy dồn, chạy đuổi.

Nhìn về phía bốn cột khói quen thuộc và nghe vẳng đến những tiếng ầm ầm rền rền của bão lửa trong ruột lò, và của các thứ sắt thép chuyển động, ông cụ Vy càng xót xa. Những ý nghĩ cũng sôi cháy lên rền rền trong tâm

trí cụ.

- "Bố thằng Vy kia! Cái thằng con trai đầu đàn của ông cụ, chịu thương chịu khó, rất cẩn thận và chín chắn kia, trong tình hình này và trong lúc này nó đương làm gì đây? Chỗ nó làm việc có bị trở ngại, hiểm nghèo gì không? Làm sao mà ngoài chỗ nó làm cũng lại luôn luôn có người bị mật thám bắt về Hải Phòng như thế? Nó đã bị tình nghi, bị đuổi, phải lần ra ngoài cái mỏ nước độc nhất ấy để làm ăn, liệu có bị nghi ngờ theo dõi nữa không? Nhất là nó lại có liên lạc và hoạt động, thì nó có giữ gìn được vẹn toàn không? Còn về phần ta, ta có làm gì lộ liễu mà sao cứ bằn bặt tin tức của nó và của cả anh em đồng chí các nơi và các nhà máy quen thuộc thế này? Từ ngày Xi măng bị phá vỡ hai cơ sở và bị bắt mất bốn người, tin tức lại càng biền biệt. Hay chỗ của ta không còn mối liên lạc nào nữa! Hay vì thằng Vy nhớn dạo này hay đi sang phố, hay đi khuya, trống mồm trống miệng, có hành động xốc nổi, nên nhà ta và chỗ ta làm phải đặt thành vấn đề. Không!... Không!... Cái thằng cháu ta tuy là ngựa con háu đá, nhưng ta biết rõ tính hạnh và tinh thần của nó.

Chậc! Chậc! Chà à à à... Hải Phòng vẫn là nơi phong trào mạnh... Cơ sở Xi măng vẫn tốt, vẫn vững cơ mà!...".

Ông cụ Vy đứng sững lại ở ngay giữa cái cầu Xi Măng bắc qua con sông đương lúc tấp nập chen chúc các thuyền bè, sà lan, sà lúp, và ùn lên hai bên bờ không biết bao nhiêu đống hàng với các thứ cần cẩu chạy thâu đêm suốt sáng. Nhiều người quen biết đi đường cũng chỉ nhìn qua ông cụ Vy đương ngờ ngạc, cặp mắt thì sáng một cách dữ dội. Họ tươi cười chào ông cụ rồi đi chứ không ra vẻ chú ý đến sự bần thần của ông cụ. Cả thằng Vy lớn, ở một ngõ bên bờ sông đi ra, thấy ông cứ đứng giữa cầu mặc kệ xe cộ qua lại và người quen chào hỏi mà nhìn trân trân, không hiểu nhìn cái gì và suy nghĩ gì, thì nó cũng chỉ gọi với lên: "Ông ơi ông! Nhà ăn cơm chưa ông?". Rồi Vy lớn cũng làm ra vẻ không chú ý gì đến ông, xuống đò sang nhà bạn ở bên kia nhà máy Cốt phát.

Tâm trạng và những nỗi niềm của người ông ấy, cả Vy lớn là thằng cháu đã mười chín tuổi rồi, đi làm bên ông, ăn ngủ cũng bên ông, làm sao thấy rõ được, và đến bao giờ mới thấy?

*

Thằng La mua hai lạng lộ mị, một lạng thịt quay và ba xu củ kiệu. Còn bảy xu, nó mua nốt ba chục quả tu hú đưa cho thằng Vy em.

- Mày về đừng có ăn vèn của các em, ăn vụng đồ nhắm của ông đấy! Ngày kia tao sang tao ngửi mồm thấy, tao chỉ cho một quả cờ rô xê (8)này thì gãy hết cái để ăn cơm. - Thằng La khịt khịt mũi - Mũi tao còn hơn cả cái mũi ông đô hít cơ!

⚝ ✽ ⚝

[8] Cờ rô xê: đấm móc tay trái.

Hai thằng còn cặp kè lên đến cầu rồi mới chịu đứa nào về nhà đứa ấy. Thế là hơn đồng bạc của thằng La chiều nay quà bánh tiêu hết, không kể gói bánh kẹo nó đem ở nhà đi. Hai thằng ăn đủ thứ: thịt bò khô, bánh tôm, bánh rán nóng nhân thịt, dưa hấu, dứa, và uống cả bia nữa. Nhiều nhất vẫn là thịt bò khô và bánh tôm. Hai thằng ăn có lẽ hết hàng nửa rổ rau sống, nộm đu đủ và hàng nửa chai dấm tỏi ớt của nhà hàng!... Thằng La lại thấy buồn. Nó buồn cả trong khi xem đám xiếc rong ở vườn hoa Đưa người, cả trong khi ăn uống với thằng Vy em. Nếu nó không nghĩ đến cái em gái bé nó đã gửi ở nhà người quen từ trưa thì nó sẽ đi chơi thêm với thằng Vy em tới khuya mới về đón em.

Ngày mẹ La chưa đi tù, mồng một Tết nào mẹ cũng đưa các con sang mừng tuổi ông cụ bà cụ Vy. Mẹ La và bác Vy gái thường gọi nhau là bá là dì. Bác Vy gái hơn mẹ La có một tuổi. Hai người thuở con gái cùng làm phu hồ cho sở thầu Đờvanhxy cha. Chuyện với nhau, thấy người cùng huyện, cùng tổng, cùng cảnh côi cút tha hương cầu thực, thì nhận nhau làm chị em. Mẹ La thân với bác Vy gái cũng như với bà cụ Xim, cô Xim nhà mẹ gửi cái gái Lê, hay với nhà ông cụ Cam có cô cháu rất đanh đá mà cũng rất thảo lảo là Gái đen làm Sáu Kho ở cùng xóm và cạnh nhà mẹ kia, hay với nhà mẹ Nghĩa rằng cùng đi làm than với mẹ có thằng con cũng nghịch như quỷ sống và chơi cũng rất thân với thằng La,... cũng như với mấy người nữa hiện nay thằng La vẫn chạy đi chạy về như con cháu trong nhà vậy.

Thằng La đi dọc con đường Bônbe về nhà. Cảnh nhộn nhịp còn hơn cả lúc hai giờ nó qua đây để sang nhà thằng Vy em. Ô tô đỗ suốt từ đầu đường ôten Ba Lê đến trước nhà Xabô chỉ bán các đồ trang sức rất đắt tiền, và đến tận trại lính Cátdem! Các cửa hàng đều tấp nập. Từ hàng chuyên bán thịt bò, patê, giăm bông, xúc xích, bánh tây của lão Mixô nổi tiếng vì cái bụng xệ đến hiệu Giarôđôn bán các thứ lụa, len, nhung, dạ của Pháp chiếm cả một dãy nhà nguy nga nhất phố. Từ hiệu thuốc tây của một lão chủ cũng nổi tiếng vì cách mượn người làm của nó - nó mượn toàn con gái, con trai mười tám hay hai mươi tuổi, đến hiệu chuyên bán đồ hộp, thuốc lá Ănglê của lão Tây đen mũ thóp đỏ, có hàng trăm con bò sữa giống bò tót Ấn Độ nuôi ở cái trại sau làng Lạc Viên khu thợ Máy tơ mà lão bỏ tiền mua dần mòn gần hết nửa đất bãi làng để trồng cỏ và các thứ ớt, tỏi, nghệ, riềng...

Ở những cửa hàng nọ, Tây đầm và con cái từng lũ từng ổ ra vào mua sắm tha hồ. Còn mọi người ta đều phải sắp hàng. Trong số người phải sắp hàng này có hai loại: loại có sổ và không có sổ. Loại có sổ là những tham biện, dạy học con Tây, thông ký phán đầu tòa, đầu bàn giấy quan to, nhà buôn đóng môn bài trên trăm đồng, những điền chủ, có nhà cho thuê, những thầu khoán đóng thuế thân cũng hàng trăm đồng, v.v... Còn loại không có sổ là loại cứ nghe tin hay thấy biển đề có bán đường, bột mì, sữa hay vải liền ùn ùn kéo đến. Loại thứ hai này ở cửa hiệu nào cũng đông nghịt. Có cả trẻ con nheo nhếch đánh chửi nhau inh ỏi để xí phần, những người con mọn, những người già lão mù què tranh giành nhau chỗ còn hơn cả những cảnh phát chẩn đói lụt mọi khi, và cũng bị đội xếp đánh đá chửi túi bụi. Họ chầu chực nhiều khi cả đêm để rồi lại bỏ về vì tin bán những thứ kể trên chỉ là tin đồn thổi, hay họ đương ồn ồn chờ cửa hiệu mở thì có biển treo: hết hàng. Nhưng cái cảnh chầu chực mua hàng nọ vẫn khác cảnh phát chẩn là vì không có ăn mày, không có những hàng quà bày rác; vì đây là khu phố Tây, không những chỉ có đội xếp ta mà còn cả đội xếp Tây gác đường, săn đuổi các đám người đói rách rưới còn hơn cả những thú dữ. Đặc biệt ở các cửa hàng có Tây đầm mua sắm và ở cửa khách sạn Thương Mại, chỗ ăn uống riêng của các chủ sở, chủ nhà máy và quan cai trị to, hay khách sạn Châu Âu riêng của các quan binh, thì không một người rách rưới nào được bén mảng đến hay đi qua cửa.

Ba rạp chiếu bóng ở khu đây chiều nay lại càng đông. Cả ba đều chiếu phim Mỹ mới sang, chỗ ngồi hạng bét cũng giá bằng hạng nhất ở các rạp khác. Trai thanh gái lịch của Hải Phòng phải đi xem ở mấy rạp này mới thấy có sĩ diện, có địa vị, có phẩm giá, và, ngày nghỉ đó mới đáng là ngày lễ, ngày chủ nhật. Đi xem và đến những nơi đây còn có thêm một hãnh diện này nữa: như Tây. Nói chuyện tiếng Tây như Tây; mặc Tây như Tây; tiêu tiền cũng như Tây và được làm những điều vinh dự như Tây. Mỗi vé chiếu bóng đều có phụ thu. Phần phụ thu này gần bằng nửa tiền vé. Tiền đó gửi về Tây để đóng quỹ quốc phòng Mẫu quốc.

Trong những đám trai gái nhí nhố làm các thứ điệu bộ bắt chước các đào kép trên màn ảnh ở trước rạp chiếu bóng "Vườn địa đàng", "Chim sâu" và "Ôlempia" ấy, thằng La thấy có cả mấy gã và mấy ả vẫn đến nhà riêng của cô Dậu nó mà gỡ gạc. Ăn gỡ nho táo lê, bánh kem, kẹo súc cù là, ... uống gỡ rượu coăngtơrô, píppécmanh, canhkina,... mượn gỡ quần áo, bôi gỡ phấn sáp nước hoa, mở gỡ kèn hát để nhảy gỡ với nhau. Và có nhiều đứa còn mở ví của Dậu nhón tiền, dùng tạm cả khăn giải giường của Dậu đi may quần áo lót mà thằng La tóm ngay giữa hiệu thợ may cái đồ chính tay nó giặt, nó là, nó đánh dấu. Có một cặp vừa mới tìm đến làm quen với Dậu, thoáng trông thấy La liền vẫy gọi rối rít, định tung cho La một túi kẹo nhưng La lờ đi, đến đầu đường ra Sáu Kho La mới chậm bước lại.

Người đi tầm về lũ lượt trên bờ hè nhà băng Năm sao và hãng Đầu Ngựa. Cũng lại có người gọi La. Mấy người làm than ấy vẫn hỏi thăm mẹ La, cho quà em La. La đến quãng đường Ngã sáu càng gặp nhiều người quen quá. Phần đông là trẻ con. Nhiều đứa cũng như người lớn, cũng mình trần, quần đùi, áo rách vắt vai, vuông vải nâu quàng qua cổ, đội những cái mũ không ai còn thể nhận ra nổi trước kia là thứ mũ gì. Những đứa này, thằng làm than, thằng đi boóng xe bò chở gỗ, chở sắt với bố, với ông, với anh, với người quen, thằng thì ai bảo gì làm nấy, làm ở dưới thuyền, dưới sà lan, trên cầu, trong các bãi, các kho. Chúng nó vừa được cho ăn lại còn được thêm mấy hào. Có thằng chuyên đi kiếm các ván hòm, ván thùng, giấy dầu, đai thép, dạo này hàng đồng nát bao chè ăn giá đai thép cao, nhiều đứa kiếm bở hơn cả người lớn đi làm. Bọn chúng nó lại réo gọi thằng La với cái tên nghịch ngợm cũ:

- Thằng Eeng La ơi! Thằng Eeng La ơi! (thằng em La ơi).

Tuy không có những bạn thân như thằng Vy em, La cũng thấy vui vui khi mấy đứa níu vai bá cổ, giằng kéo cánh tay nó lại hỏi chuyện. Những đứa ở xóm cũ với La lại đá đá đít La, đấm dứ vào gáy vào mang tai La, khoèo bắp chân La, nháy nhó nhắc lại những cuộc đấu bóng ngày trước với tụi trẻ con nhà giàu ngoài phố, và chửi yêu La, bảo thế nào cũng phải về xóm chơi.

Gần đến nhà, thằng La phải giả vờ ngoạm vào tay một thằng để gỡ tay mình ra, và chịu cho mấy đứa đấm đá thùm thụp, dúi đầu vò tóc một lúc rồi mới được buông tha.

Nhà thằng La ở trong cái ngõ của một con đường mang tên một thành phố nổi tiếng của Pháp: Lyông. Cũng là ngõ, nhưng hai ô tô song sóng ra vào cũng còn rộng. Một rặng phượng vĩ và hoàng lan trồng ở bên đường. Hai khu toàn biệt thự dành cho những quan hai, quan ba thuê. Khu trong cùng là nhà Đờvanhxy, nhà cô Dậu của thằng La: biệt thự Chim hoàng anh. Lúc mới bao Dậu, Đờvanhxy đã lấy một tòa nhà cũng ở một khu phố sang trọng. Nhưng chỉ sau vài tháng, Đờvanhxy bỏ dọn đến đây. Biệt thự Chim hoàng anh chiếm cả khu trong ngõ Lyông; trước mặt là một vườn hoa trồng hồng, cúc, cẩm chướng, lagiơn và viôlét chuốc toàn giống quý nhất, điểm mấy gốc ngọc lan, trắc bách diệp và hoa ban tím; đằng sau là một đầm sen có thể bơi thuyền được. Tòa nhà xây hai tầng, kiểu Âu châu tối tân, tường bằng xi măng trộn sỏi mài nhẵn, mái ngói sứ, tuy không to như mấy tòa nhà ngoài ngõ phố, nhưng xinh đẹp lộng lẫy khác hẳn. Người ta đồn cái biệt thự này trước là của chủ nhì sở Xi măng, Đờvanhxy mua chơi, không đứng tên mà cũng không cho vợ con biết, với một phần tiền lãi của món thầu làm khách sạn Thiên Tân và món tiền lãi mở thêm hai nhà máy, một nhà máy đóng phân của thành phố Hải Phòng đưa về Tây bán, một nhà máy len ở đường Hàng Kênh chuyên làm hàng cũng đưa về Tây bán từ ngày chiến tranh.

Thằng La vừa về gần đến cổng, hai con chó lài liền kêu rít lên, chạy xồ ra. Khi tay La luồn vào mở then, cả hai con chó chồm đến, chân gác lên vai La, mõm dúi vào mặt La. Qua sân, thằng La xuống ngay nhà ở của ông bếp. Ông khóa cửa đi phố. La chạy sang nhà kho thức ăn. Mâm cơm để phần anh em nó, món xào vẫn còn hơi nóng, còn xoong canh thì để dưới bếp lò vẫn liu riu lửa. Sự ngại ngùng buồn nản của thằng La trên đường về nhà, nhất là lúc về đến đầu cái ngõ sực nức hương hoa, vắng lạnh lạ lùng kia, và trong khi bên tai La như còn ríu rít những câu chửi yêu, câu dặn dò của lũ bạn xóm cũ, sự ngại ngùng buồn nản cả hôm nay đã làm gân cốt La nặng nề và rời rã ấy, bỗng thành một khối u tối đè sập xuống người La. Thêm vào đó, một bầu không khí lạnh lẽo cứ thăm thẳm hun hút ở chung quanh La. Những ánh lửa liu riu và hơi thức ăn còn nóng càng khiến La thấy thê thảm vô cùng cái cảnh cô độc của mình.

- Biết lại thế này thì ta lại đi với thằng Vy em, hay không ta đến bà cụ Xim đón em bé ta, chờ lúc nào ông bếp về, anh em ta hãy về nhà!

Thằng La tự nhủ rồi tanh tách bật các đèn cửa, đèn trong nhà, nhìn qua một lượt đoạn khép cửa nhà kho nhà bếp lại, lên nhà trên, luồn tay vào khe cửa chỗ ông bếp và nó hẹn nhau lấy khóa mở cửa. Tất cả những cử động, những việc làm này là theo một thói quen mỗi khi La đi chơi về thấy không có ai ở nhà. Nhưng hôm nay, không phải vì thói quen mà như bị một cái gì đã thu gần hết hồn vía nó, làm nó như mê đi, tay cứ động, chân cứ đi ngoài ý định của nó vậy.

Cửa đã mở. Ở đây có cầu thang xây cuốn lên tầng gác và có lối vào buồng khách to. Một cái tối mờ mờ ẩm ẩm nồng những mùi nước hoa, mùi phấn sáp, mùi thức ăn uống và hương hoa thoảng từ trên cầu thang xuống, từ trong buồng khách ra. Thằng La đã toan quay ra nhưng lại bật đèn bước vào buồng khách. Ánh điện vừa bật chói, bóng người La vừa nhô vào, một tiếng kêu lạnh rợn thét lên, và một cái bóng vút từ một góc tối lên cửa sổ. Đúng con Miêmiê rồi! Miêmiê loáng cặp mắt xanh lét nhìn La rồi gừ gừ rình chạy.

Thằng La cũng xanh mắt lên nhìn con Miêmiê. A! Cái con mèo vẫn cứ rúc vào giữa anh em La mà thở, mà rên, mà cọ cọ, quào quào, mặc dù La muốn đạp, muốn bóp, muốn quật, muốn đập thế nào thì cũng chỉ một lúc sau lại thấy nó khò khò, khừ khừ, lại thở lại rên, lại cọ cọ, quào quào trong chăn của anh em La. Cái con quái Miêmiê giả vờ giả vĩnh, lúc nào cũng lim dim, cù rù, uốn éo một cách rất mệt mỏi, rất nũng nịu, rồi thì quấn quýt lấy người ta rên xin, gạ gẫm, đòi hỏi, giờ nó lại nhìn La và ở trong cái dáng dấp của một kẻ gian quyệt phạm tội bị bắt gặp đương định lẩn trốn đây kia.

Đờvanhxy có hai con mèo, con Lý ly lý ly giống mèo Nhật Bản, con Miêmiê giống mèo Xiêm. Lý ly lý ly ở trên sở với Đờvanhxy, chuyên đi ô tô với Đờvanhxy. Miêmiê nuôi sau Lý ly Lý ly, Đờvanhxy cho Miêmiê ở với Dậu, chuyên ngồi ăn uống và chơi nhởn ve vuốt với Đờvanhxy và Dậu. Từ ngày con Miêmiê về, ông bếp bị mất với nó không biết bao nhiêu lần thức ăn. Toàn những thức ăn vào những buổi đặc biệt ông chủ về ăn với cô. Có bữa nó cuỗm đi nhay ăn cả một con cá song hấp, vì ông bếp chỉ quay đi quay lại lấy cái khăn lau tí nước xốt sớt ra miệng đĩa. Rồi một bữa, con gà gô vừa quay xong cũng bày ra đĩa, ông bếp vừa chạy sang bàn bên cạnh lấy hành, xà lách, cà chua, rau mùi để trộn lót thêm, con Miêmiê liền lẻn đến tha cả con gà. Ông bếp và thằng La nổ đom đóm mắt đi tìm, thì nó đương như một con quỷ ngau ngáu gừ gừ với con gà quay trong đống củi. Ông bếp vừa thò tay vào lùa đánh nó, nó đã luồn thót ra. Nhưng cũng là lúc Đờvanhxy ở trên gác nhìn xuống. Nó nhăn mặt, xì nước bọt, nhấc cả cái chậu hoa định lao xuống đầu ông bếp, vừa rít lên cái câu chửi đểu cáng nhất thường ở cửa mồm những thằng chủ Tây, thằng quan Tây khi chửi những người làm việc hầu hạ chúng nó!

- Đức Chúa trời ơi! Cái giống bẩn thỉu kia... nó dám...

Không phải Đờvanhxy bực tức vì mất một cái món ăn hắn đương chờ đợi và Dậu đã phải mua chuốc từ tuần lễ nay, mà vì Đờvanhxy đã ra lệnh cấm không ai được đụng chạm đến các cây cỏ hoa lá và bất kỳ đồ vật ở nhà trên của y, đặc biệt là con Miêmiê và hai con chó lài. Tất cả sức chiều chuộng của người trong nhà, kể cả Dậu, đều phải dành cho trước tiên là con Miêmiê rồi đến hai con chó. Không những chỉ có lúc ngồi uống rượu với Dậu buổi năm giờ chiều là buổi Đờvanhxy thích thú nhất, mà cả lúc Đờvanhxy nằm với Dậu cũng để Miêmiê ở bên người. Thường thường những áo lót mình hay bít tất của Đờvanhxy, mỗi lần ông bếp kiêm bồi chính và La bé con kiêm bồi phụ cầm đưa cho Đờvanhxy đều phải lót dâng bằng cái khăn là mới tinh. Còn khi cầm mùi soa hay khăn mặt đều phải gắp bằng cái gắp bạc như gắp nước đá, gắp bánh kem mà đặt lên đĩa, lên khay. Nhưng con Miêmiê thì Đờvanhxy chuyên để nằm trong lòng, Đờvanhxy đặt nó trên đầu gối, Đờvanhxy kiệu nó lên vai, quàng nó qua cổ, Đờvanhxy ấp nó vào ngực, lấy cà vạt dứ dứ cho nó vồ, và khùa khùa vào mặt nó cho nó buồn, nó sợ, nó luồn, nó tránh. Đờvanhxy lại để cả Miêmiê quào dứ lên mặt y vừa chuýp chuýp cái miệng để nói chuyện và làm trò cho Miêmiê chơi.

Đờvanhxy ăn gì cũng cho Miêmiê cùng ăn.

Ăn bít tết, gà quay, sườn lợn rán Đờvanhxy nhả bã. Cá song, tôm hùm luộc chấm xốt và nấm hương hầm với chim cũng thế. Nhưng những bã đó phải bỏ vào nước gạo, còn Đờvanhxy cho Miêmiê ăn từng miếng thức ăn ở đĩa Đờvanhxy sẻ ra. Đờvanhxy khi ở sở hay khi đi ô tô đây đó chiều chuộng đùa nghịch với con Lý ly bé xíu mà Đờvanhxy cho đeo hẳn kiềng vàng, mặc yếm nhung và luôn luôn mồm ăn kẹo sữa, kẹo súc cù là thế nào, thì khi đến ở với Dậu, Đờvanhxy chiều chuộng, đùa nghịch với Miêmiê như thế. Cả ông bếp và La đều thù con mèo nọ. Ông bếp gọi nó là con vợ ba của thằng Tây Xia. Nhưng có một người ở trong nhà cũng khốn khổ vì Miêmiê nhưng không dám thù, dám ghét vì chưa biết thù biết ghét mà chỉ sợ Miêmiê: cái Tý con.

Cái em thằng La này bị bệnh còi xương hay sao mà lên bốn lên năm rồi nó vẫn bé như con chuột. Thật vậy, cái Tý con ngồi bên con Miêmiê lông vằn dữ như con beo, béo và mỡ mượt núng nính hơn cả cô chủ Dậu, thì Tý con quả là một con chuột. Khi Dậu ăn cơm khách hay đi đâu vắng, Miêmiê xuống nhà dưới, mỗi lần nó ngoao ngoao, khừ khừ ở gần mâm cơm là Tý con lại xanh xám cả mặt mày. Miêmiê chuyên lấy thức ăn của Tý con. Bát cơm Tý con mà được miếng thịt, miếng cá nào, người nhớn chỉ nhãng ý một tý, liền bị Miêmiê cướp tươi. Bao giờ cũng thế, người lớn biết mà giằng lại những thứ đó thì thôi, không có Tý con chỉ ăn nhạt đến gần hết bát mới òa lên khóc. Bởi vậy khi nào người lớn thấy Tý con ăn gì mà mếu mếu là biết ngay thức ăn của nó bị con Miêmiê cướp giật mất rồi!...

Giờ đây cặp mắt xanh như ma như quái của con Miêmiê vẫn len lét nhìn La. Và tất cả sự gian quyệt của nó đương diễn ra trong cái thế rình chộp, nghe ngóng, nửa muốn chạy trốn, nửa còn tiếc rẻ con tôm hùm ăn dở bỏ rơi trên cái đi văng nệm nhung dưới cửa sổ. Thằng La đã thấy cái phất trần dựng ở góc tường. Nó cầm lấy giấu giấu đằng sau lưng, giả vờ đi ra phía cửa buồng trong phía trái đi văng. Vừa đến đây, La ngoắt lại, tận lực quật vào đầu Miêmiê. Một tiếng kêu chóe lên cùng với một tiếng rơi vỡ âm cả tòa nhà. Con Miêmiê đã vút lên nóc tủ bầy đồ chơi, không bị sao cả, vì nó tránh được rất nhanh cái đòn mưu mẹo của người định đánh nó. Nhưng cái lọ sành mà Đờvanhxy lấy ở Thanh Hóa về mà Dậu nghe bảo là đồ cổ, từ những đời gì hàng hơn nghìn năm rồi, lại bị đòn thay Miêmiê, rơi từ cái giá tựa ở đi văng vỡ tan trên sàn nhà gạch men sứ.

Thằng La hoa cả mắt.

Cặp mắt xanh như lửa điện, nhọn như lưỡi dao của Miêmiê vẫn nhìn La. Giờ nó vừa nhìn vừa gừ gừ, vừa rít lên những tiếng thất thanh như thét như xé. La vẫn giữ trong tay cái phất trần. Nhưng rồi La quẳng đi mà vớ lấy cái đít lọ lăn đến chân La. La mắm môi, La lấy hết thần mắt và hết sức mạnh, hết sức nhanh lao cái đít lọ vào con Miêmiê. Không có tiếng chóe lên như vừa qua. Cái bóng vằn mượt và cặp mắt xanh như lửa điện, nhọn như lưỡi dao đã biến đi đâu mất. Lần này một tiếng đổ vỡ khác ghê sợ hơn vô cùng. Cái tủ kính nhỏ bày toàn đồ sứ và toàn đồ đồng cổ kê trên cái giá gỗ mun nghiêng sập xuống sàn. Những tiếng tan tành lại âm lên rùng cả các mặt cửa kính, chuyển cả trên gác, dội lại rất lâu.

- Giời ơi!...

Thằng La thét lên, chạy cuồng ra cửa sổ nhìn, chạy cuồng vào buồng trong nhìn, và nhìn ra cả cái lối cầu thang lên gác mà chính La đã đứng chắn cửa. Con Miêmiê chỉ còn có trời là tìm thấy được thôi! Chỉ có trời là đuổi bắt được thôi. Hay phải trưa ngày mai, lúc bữa cơm sắp dọn, hoặc chiều ngày mai lúc Đờvanhxy sắp đến, thì mới lại thấy nó. Nhưng làm sao đến ngày mai La vẫn còn được yên lành mà lại thấy con Miêmiê?

- Thế là chuyến này ta không còn thể nào ở nhà thằng Đờvanhxy được nữa! Chuyến này nhất định ta phải đưa cái Tý con ra khỏi cái nhà này, anh em bỏ hẳn cái nhà này, chứ không được chần chừ như mấy lần trước! Thằng cai xia ơi! Nhất định anh em tao không ở nhà mày nữa!

Cái mặt mũi lõ, mắt cũng xanh như con Miêmiê, lúc nào cũng vênh vênh khinh khỉnh, không thèm trông một ai của Đờvanhxy, lại hiện vụt ra ở trước mặt thằng La. Mới hôm kia thôi, sau hơn một tháng đi xa về, Đờvanhxy lại đến với Dậu. Ngủ trưa xong, Đờvanhxy ra cửa sổ nhìn xuống dưới vườn, La lại thấy Đờvanhxy nhăn nhăn cái mặt, chun chun cái mũi. Lúc đó Tý con ngồi còm róm ở gốc cây bàng trước nhà bồi, một tay cầm quả chuối, một tay mẩu bánh tây, nhưng nó không ăn chỉ ngóng ra chỗ anh đương giặt quần áo cho cô chủ Dậu. Quả chuối tiêu trứng cuốc của bữa ăn thừa trên nhà, La đã phải bóc sẵn cho Tý con, nhưng Tý con chưa cắn miếng nào cả, để mấy con nhặng xanh cứ vè vè đến. Trong khi ấy mặt mày con bé cứ xuệch xoạc như chỉ chực òa lên khóc. Nhìn quả chuối ngon lành như thế chịu để nhặng bâu, mặt mày em xanh xám xếu mếu, và, trên gác kia Đờvanhxy lại nhăn nhăn cái mặt, chun chun cái mũi đương nhìn xuống, vậy mà La không thể chạy đến với em, La đã sôi người lên, càng thấy rõ thế nào là đau tủi, nhục nhã.

Buổi ấy, Đờvanhxy tắm xong, ra bờ đầm sen, không hiểu sao Đờvanhxy lại lững thững đi trên con đường sỏi qua nhà bồi. Cái Tý con đương quều quào quả chuối và miếng bánh men mén về sát gốc cây, chợt thấy tiếng giày lạo xạo và cái dáng cao lớn lừng lững đi qua của Đờvanhxy. Nó lại xanh xám cả mặt mày, cuống quýt định chạy vào nhà nhưng vấp chúi vào gốc cây, quả chuối rơi lăn xuống sỏi. Lồm cồm trên một cái rễ nổi của cây bàng xù xì như một con trăn to nằm qua đường, con bé còn nhoài người với với lấy quả chuối. Đờvanhxy, cái mặt vẫn nhăn nhăn, cái mũi vẫn chun chun vừa nhìn xuống cái Tý con, vừa lấy mũi giày gẩy gẩy quả chuối vào tay con bé. Đúng cái mũi giày đánh xi màu mận bóng nhẫy ấy đã hất quả chuối bóc sẵn bị nhặng bâu vào tay cái bé em La, sau đó lúc lâu cái bé em La lại cầm quả chuối ấy mà múp máp.

- Trời ơi! Thằng Tây Xia nó ghê nó sợ vì phải nhìn cái bé em ta còm cõi mà nó thấy người không ra người, khỉ không ra khỉ, làm cho ruồi bâu kiến đậu ở nhà nó? Hay là vì Dậu cho nó biết chuyện nhà ta, chuyện mẹ ta, nên nó càng ghê sợ, nó càng khó chịu, vì sao nó lại để Dậu chứa chấp mãi cái giống như thế bám lấy nhà nó, sống ở trước mắt nó? Trời ơi!.. Trời ơi!...

La rít lên, chạy vùng lên gác, vào buồng ngủ của Dậu. Gian buồng này cũng rộng bằng gian buồng khách ở dưới nhà mà chỉ có một giường, một tủ áo và bàn đánh phấn, với các thứ gấm, nhung, len dạ, cẩm châu, xa tanh và đăng ten đắt tiền mua về ở những nơi nổi tiếng nhất. Mùi thơm ở đây sực lên ngợp lấy người ta cùng một làn ánh sáng phơn phớt hồng, êm ả, đắm đuối.

- Mày lên định ăn cắp à hở con con mẹ giết chồng kia?!

Cái mặt vênh vênh khinh khỉnh của Đờvanhxy lại nhăn nhăn, mũi nó chun chun, giọng nói nó sin sít. Thằng La chững lại, một tay níu lấy cánh cửa, một tay vén tấm màn đăng ten rua chỉ tơ hồng rủ từ trần nhà xuống thảm nhung trải trên sàn:

- À, Đờvanhxy mày hỏi gì tao đấy? Tao mà lại thèm ăn cắp của thứ mày?! Tao mà lại đi làm những việc khốn

nạn ấy?!

- Nhưng mày lên đây làm gì?

Tiếng hỏi của Đờvanhxy vô hình kia liền cất lên với những tiếng cười lạnh rợn. Thằng La chỉ chực giàn nước mắt. Nó lại đứng trước một nơi làm nó tủi nhục nhất trong cái nhà này. Phải! Đúng cái buồng ngủ của Đờvanhxy và của Dậu. Hàng ngày La phải hai buổi lên đây quét tước, thu dọn. Tấm chăn trải giường và đôi gối kia, không bao giờ La được để nhàu, để lệch và bợn một vết gì vào cái nền trắng muốt thơm tho của nó. La phải nhặt từ cái quần lót, đôi bít tất và các thứ khác của Dậu để đi giặt. La phải hết sức ý nhị từ bước đi đến việc đặt cái cốc, đôi dép để khỏi động đến giấc ngủ và buổi nằm nghỉ của Đờvanhxy và của Dậu. Nhưng cũng chính ở đây Dậu cũng phải chiều lại La vì ngoài Đờvanhxy làm chủ cái nhà này, bao trả tất cả mọi khoản tiền, lại có mấy người cũng lên đây ngủ rồi ăn uống nữa, giờ giấc đều do La và ông bếp giữ gìn cho.

La hét lên:

- Tao lên đây làm gì à?... Tao lên đây để đốt cháy hết cái nhà này đi! Còn ăn cắp! Hừ! Bao nhiêu tiền của trong cái tủ áo kia tao sẽ lấy hết. Tao lấy hết rồi tao đem cho tất cả những người nghèo khó, mà mày khinh rẻ, Đờvanhxy ạ. Nhưng mà mày vẫn không thể nào khinh được tao dù tao có định lấy của mày! Nếu tao hèn hạ, manh tâm, thì chuỗi hạt kim cương mày mua cho Dậu, Dậu bỏ quên ở ngay nhà cái thằng kẻng trai dậy cô ấy ghita kia, tao bắt được tao đã lấy rồi! Lại còn bao nhiêu lần Dậu bỏ quên tiền, bỏ ngỏ tủ - à cái tủ áo kia, khóa của nó thì ra cái c. gì, tao chỉ lấy một mẩu dây thép ngoáy vào thì khóa trời cũng phải bật ra - thế mà tao có thèm tơ hào một đồng nào đâu?!.. Ha ha... tao lên đây à? Tao sẽ đốt... tao sẽ đốt hết cái nhà này!

La đã chạy đến bàn đánh phấn của Dậu. La mở ngăn tủ ra lấy gói bông và chai cồn xanh Dậu vẫn dùng để cọ rửa mỗi khi phải mó đến cái gì nhơ nháp, và để cọ móng chân khi cắt sửa xong sắp bôi dầu hồng. La xé gói bông giằng giằng, dứt dứt lấy một nắm. La dốc dốc cồn vào bông, giơ lên tấm màn tuyn buộc rủ từ mấp mé trần nhà xuống đầu giường Dậu... Chợt, từ cái giường rộng thênh thang, rùng rình, lúc nào cũng nõn nuột ở đây Dậu thường quần áo phong phanh nằm oằn oài xem các báo ảnh in màu gửi từ Tây sang, hay đọc các sách kiếm hiệp, trinh thám, ái tình, tâm lý, và Dậu thường bấm chuông gọi La đưa dưa hấu, dứa ướp nước đá, mơ khế dầm nước mắm ớt lên cho Dậu những buổi trưa. La thấy Dậu vùng nhỏm lên đi đến trước mặt La.

Nhưng là một Dậu mặc khác, nói năng khác, trẻ hơn, thon tươi hơn. Dậu này lần đầu tiên bỗng đến nhà La. Dậu đánh phấn da cam, mặc áo nhung the màu huyết dụ, ví xách màu gạch non, tóc không uốn điện, búi bỏ lơi và cài một con bướm nhung cũng màu hồng, má lúm đồng tiền. Dậu thoăn thoắt ở trên xe xuống bước vào nhà, tươi cười chào mọi người giữa lúc các ông các bà trong xóm Cấm, bên khu Xi măng, ở ngoài Sáu Kho và trên phố đương làm cơm cúng ba ngày cho cha La. La đã ngạc nhiên thấy Dậu toàn xưng con, xưng cháu, xưng em và ngồi thụp xuống, chuyện với mấy bà con xóm Cấm quấn quýt thân mật đúng như kiểu các cô gái trước kia làm ăn trong xóm đi xa một dạo lại trở về lúc khấm khá. Rồi Dậu xoa xoa đầu cái Tý con, rân rấn nước mắt. Dậu mở tách ví lấy ra một tập giấy bạc nắm vào tay cái Tý con, nó cầm không hết để rơi mấy lần xuống đất.

Đúng Dậu người như thế, ăn mặc, đi đứng nói năng như thế, cách đây hơn hai năm giời vụt đến trước mặt La, đầu tóc sã sượi, mặt mày nhợt nhạt:

- Trời đất ơi! Cháu ơi! Cô đối xử với cháu có làm sao đâu mà cháu lại đối xử với cô như thế? La ơi! Nhà cửa cô hoàn toàn giao phó cho cháu. Cháu muốn ăn tiêu may mặc gì cũng tha hồ. Mẹ cháu bị vận hạn, ốm đau thì cô quà cáp thuốc thang, gửi tiền và có lần cô cùng cháu vào phép thăm mẹ cháu ở đề lao đấy. Cô còn định gây dựng cho cháu khi cháu khôn lớn để rồi cháu đùm bọc lấy hai em. Cô còn định lựa lúc, lựa nhời sẽ nói với "ông", "ông" cho mấy chữ lên tòa Hà Nội xin ân giảm cho mẹ cháu. Cô chỉ nghĩ cái tình hàng xóm cũ, mẹ cháu nuôi chồng nuôi con, làm ăn lam lũ, quanh năm túng đói nhưng rất mực tốt bụng dạ, hiền lành thật thà, cô quý cô mến nên mới đón nuôi anh em nhà cháu. Như vậy cô có tội tình gì với cháu mà cháu lại đang tâm như thế?!

Tiếng Dậu giòn giã vẫn cười nói mọi khi giờ như thét như rú bên tai La. La bủn nhủn cả người. La thoáng nghĩ đến mẹ. Mẹ La suốt từ ngày lên Hà Nội chống án rồi bị phát vãng lên Hà Giang, không một lần nào gửi thư cho anh em La lại không có lời nói với Dậu.

"La ơi con có thương bu thì còn hai em con phải thương hai em. Giời Phật phù hộ cho bu khỏe mạnh qua được cái bước vận hạn oan khổ này, thì mẹ lại về với các con, mẹ con làm ăn sum họp".

Nếu như câu này đã thành văn sách của mẹ La trong tất cả những bức thư gửi cho La hay nhắn người gửi lời về cho La, thì khi gửi thư hay gửi lời về cho Dậu, mẹ La cũng lại có câu sau đây:

"Xin cô thương lấy các cháu. Giời Phật phù hộ cho tôi khỏe mạnh qua được cái bước vận hạn oan khổ này mà về làm ăn sum họp với các cháu, thì ơn cô, tôi xin...".

La chạy vùng lại cầu thang. Cái chổi La quét tước vẫn dựa ở góc tường gần cửa sổ trông xuống vườn. La gục mặt xuống thành cửa, tay giữ lấy cán chổi, nước mắt nhòa ra, nức nở:

- Không! Không! Ơn cô Dậu cưu mang mẹ con tôi, mẹ con tôi không đời nào quên đâu! Mẹ con thằng La này mà còn sống thế nào cũng phải có dịp đáp lại. Nhưng cái tủi nhục của tôi thì tôi cũng phải nhớ. Tôi phải đốt cái nhà này đi, phá cái nhà này đi, để thằng Đờvanhxy nó phải nghĩ mà không dám khinh tôi nữa, khinh những người nghèo khổ nữa. Thằng Tây Xia kia nó giàu sang sung sướng, nó bớt xén bóc lột, mà nó lại dám khinh người ta! Nó là thằng giết người, đúng nó là thằng giết người đấy anh Vy lớn ạ, các anh, các bác ạ! Thế mà nó lại xin ân giảm cho người ta à. Mẹ con tôi lại là phải chịu ơn huệ của nó à?!...

Thằng La ngoạm hẳn vào cánh tay nhay nhay vừa nuốt nuốt nước mắt:

- Bu ơi! Chuyến này nhất định con phải đưa em lên tìm đến chỗ bu, dù thiên sơn vạn thủy con cũng cứ vượt để gặp bu, sống với bu rồi tìm cách cho bu ra khỏi cảnh tù tội nhục nhã.

Mẹ con ta đưa nhau đi đến đâu cũng được. Bu lại đội than, con cũng đội than; bu gánh đất kéo xe, con cũng gánh đất kéo xe. Cốt sao mẹ con được sống với nhau. Bu khỏe làm được việc nào quý việc ấy, không có con làm hết con nuôi bu nuôi em. Con đã mười bốn mười lăm tuổi đầu rồi, con không thể để bu lại phải vất vả lo lắng nữa. Bu đã khổ sở nhiều vì bố vì chúng con. Giờ bu lại còn phải chịu tù chịu tội...

Bỗng có một tiếng hỏi thầm như từ một hang một hốc tối nào cất lên:

- Nghe đồn mẹ mày chết rồi cơ mà!

La thét hẳn lên thành tiếng:

- Mẹ tao chết rồi, tao cũng cứ đi tìm. Dù mẹ tao đã phải xuống âm ty, tao cũng theo xuống. Qua ba chứ qua bảy cầu vồng chó ngao, tao cũng qua cũng lội mà kéo bu tao lên để làm người, sống ở với tao, ở với hai em tao...

« Lùi
Tiến »