Nguyên Soái Zhukov Người Chiến Thắng Hitler

Lượt đọc: 906 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
stalingrad - phiên bản của địa ngục

Dừng lại! Hãy nghiêng mình tỏ lòng tôn kính - bạn đang đứng trên một mảnh đất thiêng liêng.

LILIA KIRSHINA, Volgograd, 1967

Các kế hoạch của Manstein nhằm giải cứu lực lượng đang bị bao vây ở Stalingrad... không thành công như dự tính.

G.K.ZHUKOV, Nhớ lại và suy ngẫm

---❊ ❖ ❊---

Các kế hoạch chiến tranh của Hitler luôn đặt ra mục tiêu tiến thẳng theo hướng A-A (Archangelsk - Astrakhan), kéo dài từ Biển Trắng ở phía Bắc tới Biển Caspian dưới phía Nam. Stalingrad luôn luôn được đề cập trong các kế hoạch năm 1941 và 1942 khi các cánh quân của Đức chuẩn bị cho các chiến dịch tại Mặt trận phía Đông trong mùa xuân và mùa hè. Tất nhiên, thành phố này được đặt tên như vậy sau khi Stalin trở thành lãnh tụ cao nhất, cũng giống như cái tên Leningrad -thành phố thường được gọi là St Perterburg. Đầu tháng 11, Hitler cho rằng thành phố hầu như đã nằm trong tay quân Đức. Phát biểu trên đài phát thanh ngày 8 tháng 10 năm 1942, Hitler tuyên bố: “Chúng ta đã ở đó”, tình báo Xô viết đã thu được bài phát biểu này.

Tính đến cuối thu năm 1942, các lực lượng của Hitler trên mặt trận Xô - Đức đã lên đến hơn 200 sư đoàn với tổng số khoảng 6,2 triệu sĩ quan và binh lính, với khoảng 51.000 khẩu pháo và đại bác, 5.000 xe tăng và các vũ khí tấn công khác, 3.500 máy bay và gần 200 tàu chiến.

So sánh với lực lượng của Đức, quân Liên Xô có xấp xỉ 6,6 triệu sĩ quan và chiến sĩ, 77.000 khẩu pháo và đại bác, 7.000 xe tăng và 4.500 máy bay. Zhukov cho biết, điều quan trọng hơn cả là, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã có một lực lượng dự bị chiến lược gồm 27 sư đoàn bộ binh, 5 quân đoàn cơ giới hóa và xe tăng độc lập và 6 trung đoàn bộ binh độc lập khác.

Zhukov nhận định, về quy mô lực lượng của hai bên, đến cuối “giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh” cán cân lực lượng bắt đầu nghiêng về phía Liên Xô. Đồng thời, ở mặt trận phía Đông, quân Liên Xô đã biết cách giữ bí mật các kế hoạch của mình và tung tin giả gây cho địch lúng túng trên quy mô lớn. “Do ngụy trang tốt công tác tập trung và huy động lực lượng nên chúng tôi đã giáng cho địch những đòn tấn công đầy bất ngờ”, Zhukov nói.

Ví dụ về việc quân Đức bị ăn tin giả là, sau cuộc tấn công ác liệt ở phía Nam, tại Stalingrad và Bắc Caucasus, Bộ Chỉ huy tối cao Đức tin rằng, các lực lượng Xô viết sẽ không thể tiến hành một chiến dịch phản công lớn trên các mặt trận này. Mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy tối cao các lực lượng mặt đất của Đức ra ngày 14 tháng 10 năm 1942 khẳng định: “Quân Nga đã hoàn toàn suy kiệt trong các trận giao chiến gần đây. Mùa đông năm 1942 - 1943, chúng sẽ không thể tăng cường lực lượng mạnh mẽ như chúng đã có được trong mùa đông năm ngoái”.

Nguvên soái Zhukov khẳng định: Tuyên bố này quá sai lầm.

Mùa hè năm 1942 là một khoảng thời gian bận rộn đối với Mátxcơva chứ không chỉ trên chiến trường. Tháng 8, Winston Churchill bay tới Mátxcơva và chuyển một tin xấu rằng, Mỹ và Anh không thể mở mặt trận thứ hai trong năm đó. Trên đường đi, Churchill viết trong nhật ký: “Tôi đã cân nhắc kỹ lưỡng về sứ mệnh này của mình... Tôi đã cố gắng, lao tâm khố tứ đế ngăn cản sự ra đời của Nhà nước Bônsêvích này... Tôi sẽ phải nói với họ như thế nào bây giờ? Tướng Wavell, mặc dù văn chương kém cỏi nhưng vẫn có thể truyền tải được thông điệp trên trong một bài thơ gồm mấy khổ nhưng mỗi khổ đều có câu kết là: “Không có Mặt trận Thứ hai trong năm 1942”.

Mặc dù người Xô viết không bao giờ tin rằng, Bắc Phi, vùng Viễn Đông và cuộc chiến trên Đại Tây Dương là những chiến trường trọng tâm, nhưng điều còn gây tranh cãi là Ngày D năm 1944 diễn ra quá chậm trễ nên đã gây ra mối nghi ngờ rằng có một “động cơ chính trị” nào đó nhằm vào Kremlin. Vì vậy, chắc hẳn là hy vọng thực sự về việc Anh - Mỹ mở Mặt trận thứ hai vào năm 1942 là viển vông.

Sau khi thông báo cho Stalin tin này trong cuộc gặp không lấy gì làm vui vẻ giữa hai nhà lãnh đạo, Churchill nhận được một Bản ghi nhớ trong đó nói rằng:

Việc Chính phủ Anh từ chối mở Mặt trận thứ hai ở Châu Âu vào năm 1942 gây thất vọng và bất bình lớn trong dư luận nhân dân Xô viết, gây khó khăn cho Hồng quân ở mặt trận phía Đông và ảnh hưởng xấu đến các kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô. Những khó khăn mà Hồng quân Liên Xô phải đối mặt do việc từ chối mở Mặt trận thứ hai vào năm 1942 sẽ làm suy yếu khả năng tác chiến của quân Anh và các nước Đồng minh 1 .

---❊ ❖ ❊---

1. Khi Chiến dịch Volga diễn ra, Thủ tướng Churchill cố gắng yêu cầu Liên Xô chấp thuận cho điều động quân Anh tới vùng Caucasus.

Zhukov tiết lộ về việc lập kế hoạch tấn công ở Stalingrad: “Theo kế hoạch của Bộ Tống tư lệnh tối cao, các lực lượng của chúng ta sẽ mở các đòn tiến công từ hướng Tây vào mùa hè và mùa thu năm 1942 nhằm vào Cụm tập đoàn quân Trung tâm của bọn phát xít nhằm đánh lạc hướng chúng và làm cho Bộ Chỉ huy của Hitler nghĩ rằng đòn tấn công chính của chúng ta là ở đấy chứ không phải nơi nào khác, và rằng chúng ta đang chuẩn bị cho một chiến dịch lớn vào mùa đông. Điều này lý giải việc tháng 10, Bộ Chỉ huy Đức bắt đầu tập trung một số lượng lớn các lực lượng của chúng ở phía đối diện với các mặt trận phía Tây của chúng ta”. Ồng cũng cho biết, quân Đức đã điều 3 sư đoàn thiết giáp, cơ giới và bộ binh từ khu vực Leningrad tới phía Bắc Smolensk, 7 sư đoàn khác cũng nhanh chóng được đưa từ Pháp và Đức tới phía Tây Mátxcơva (cũng được coi là vùng phụ cận của Smolensk). Vì vậy, tới đầu tháng 11, Cụm tập đoàn quân Trung tâm của phát xít Đức đã tăng lên 12 sư đoàn kèm theo các phương tiện chiến tranh tăng cường khác.

Zhukov cho rằng, Đức đã mắc sai lầm ngớ ngẩn về chiến thuật và càng làm trầm trọng thêm tình hình do công tác tình báo quá tồi, chúng đã thất bại ngay trong công tác chuẩn bị cho cuộc phản công chính ở Stalingrad, nơi chúng tập trung 10 tập đoàn quân bộ binh, 1 tập đoàn quân xe tăng và tập đoàn quân không quân và các đơn vị khác.

Nhận định trên cũng được tướng Đức Jodi thừa nhận tại Tòa án quốc tế Nuremberg sau chiến tranh rằng, quân Đức đã không có dự đoán nào về sức mạnh thực sự của Hồng quân ở Stalingrad, nên hoàn toàn bị bất ngờ khi cuộc phản công quyết liệt của họ nổ ra - một cuộc phản công “được chứng minh là có tính quyết định”.

Mùa thu năm 1942, quân Đức rơi vào một “tình thế hết sức khó khăn”. Biểu hiện đầu tiên là, chúng không đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra. Thứ hai là, chúng phái tác chiến trên một mặt trận rộng lớn kéo dài từ Biển Đen. qua phía Nam Caucasus, Stalingrad, vùng Sông Đông và tới Biển Barents. Ba là, chúng không có lực lượng dự bị chiến lược tại mặt trận và ở hậu phương. Thứ tư, chúng phải đối mặt với tình trạng sa sút tinh thần chiến đấu trong binh lính.

Trong khi đó, các cuộc tấn công ác liệt vẫn nồ ra liên tiếp trên mặt trận Xô - Đức. Ngày 28 tháng 6 năm 1942, quân Đức mở cuộc tấn công, âm mưu tiêu diệt Hồng quân ở sườn trái phía Nam Orel, nhưng thất bại. Tuy nhiên, Hồng quân cũng buộc phải rút qua sông Đông, tấn công kìm chân các lực lượng của địch đang chiếm ưu thế. Ngày 6 tháng 7, quân Hitler bị chặn lại rất gần Voronezh bơi các cuộc phản công từ hướng Bắc. Kế hoạch ban đầu của Đức bị thất bại, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công xuống phía Nam, tới khu vực sông Volga. Ngày 12 tháng 7, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô thành lập Phương diện quân Volga do tướng Andrie Eremenko chỉ huy. Sau 4 tháng truy kích ròng rã, Phương diện quân bị địch phát hiện, tấn công đẩy lùi, lực lượng rút lui của Hồng quân đã dựng lên một tuyến phòng ngự vững chắc. Trong tháng 7, Bộ Chỉ huy Đức mở chiến dịch mang tên “Kế hoạch Edelweiss” nhằm chiếm lấy vùng Caucasus. Thống chế Ewald von Kleist, Tư lệnh Cụm tập đoàn quân A sau này nhận xét: “Chúng ta đã có thể đạt được mục tiêu nêu các tập đoàn quân của chúng ta không bị tiêu hao hết đơn vị này đến đơn vị khác để yểm trợ cho hướng tấn công vào Stalingrad”.

Ngày 21 tháng 8, do sức địch quá mạnh, các lực lượng Xô viết phải rút từ vành đai phòng thủ bên ngoài vào tuyến trong Stalingrad. Hai ngày sau, không quân Đức điều hàng trăm máy bay ném bom thành phố. Tướng (sau này trở thành Nguyên soái) Eremenko cho ta thấy một bức tranh toàn cảnh về trận đánh này trong cuốn sách viết về thành phố trong chiến tranh:

Cả khu vực Stalingrad đường như bị lật tung lên và biên thành một màu đen. Dường như đã có một trận cuồng phong ghê gớm vừa đi qua thành phố, hất tung nó lên không trung và quăng trở lại với những đống đổ nát của nhà cửa trên khắp các quảng trường và đường phố. Không khí trở nên nóng bức, cay nồng, khắc nghiệt và rất khó thở. Tình hình hỗn loạn không thể nào tả xiết. Hàng nghìn âm thanh hỗn tạp đập chói tai. Đó là tiếng bom rơi ầm ầm hòa lẫn những tiếng nổ khác, cùng tiếng nhà đố ầm ầm và tiếng lửa cháy dùng dùng. Trong bầu không khí, âm thanh hỗn loạn ấy, chúng ta vẫn có thể nghe rõ tiếng rên rỉ và nguyên rủa của những người sắp chết, tiếng khóc lóc van xin của đám trẻ con, tiếng thổn thức của những người phụ nữ. Trái tim chúng ta nghẹn ngào thương xót cho số phận những nạn nhân vô tội do tội ác của phát xít Đức. Trong trái tim chúng ta đè nặng suy nghĩ rằng, chúng ta đã không thể ngăn được nỗi đau của hàng trăm người dân yêu chuộng hòa bình này, nhất là những em bé 1 .

1. ''Eremenko, Stalingrad (bản tiếng Nga), Mátxcơva, 1961.

Giữa tháng 9, chiến sự đã chuyển hướng vào bèn trong thành phố. Đức Quốc xã liên tục tuyên truyền thành phố sắp thất thủ. Nhưng điều này còn quá sớm khi bọn xâm lăng phải đối mặt với điều mà vị tướng người Siberia A.P. Belobordov gọi là “cuộc đối đầu với ý chí ngoan cường của người Nga”. Suốt mùa thu và mùa đông năm 1942 - 1943, thành phố trở thành mục tiêu tập trung tất cả các chiến dịch trên mặt trận Xô - Đức. Thành phố Stalingrad, trung tâm công nghiệp và thông tin quan trọng, chính là tham vọng của Bộ Chỉ huy Đức nhằm chia cắt khu vực sông Volga và thiết lập bàn đạp để chiếm đóng Caucasus.

Câu chuyện có thực dưới đây không chỉ là một trận đánh đẫm máu mà còn cho thấy thậm chí trên cuộc chiến đường phố đang diễn ra nóng bỏng nhất, tình người vẫn tồn tại:

Stalingrad - lúc đầu bọn Đức gọi là “Phiên bản của Địa ngục”. Sau này chúng thay đối phép ẩn dụ này và bắt đầu ví rằng Địa ngục mới chính là phiên bản của Stalingrad. Thật vô cùng phi thường, mặc dù hàng trăm ngàn người đi sơ tán về hậu phương, nhưng còn rất nhiều người, chủ yếu là những phụ nữ và trẻ em quần áo bê bết, vẫn trụ lại ở Stalingrad trong suốt thời gian thành phố bị vây hãm, mạng sống của họ mong manh trên các bờ phía cao của sông Volga, trong các hố pháo và rãnh mương dẫn vào thành phố.

Trên phố Lênin, pháo tầm ngắn của Hồng quân được đặt trên tầng Tòa nhà số 36. Bên phía đối diện, quân Đức bám chặt một tầng hầm và giữa hai tòa nhà, mỗi mét vuông đều nằm dưới tầm đạn. Rõ rằng không ai có thể sống sót trên vùng đất không người, ngoại trừ những người lính này, hầu hết người dân phải chạy khỏi thành phố. Người ta nói rằng thậm chí đến những con dơi trong các tòa nhà này cũng phải bỏ chạy.

Nhưng trên con phố đặc biệt này, một người dân vẫn còn trụ lại. Khi màn đêm buông xuống, một sinh vật giống như một hồn ma di chuyển từ một miệng cống bên phải vào giữa con phố, chính xác là giữa hai làn đạn. Bàn tay già nua của bà ta lật tìm trong đống rác rưởi, sau đó bà ta trở xuống miệng cống và quay lại ngôi nhà bí ẩn của mình. Bà lão vẫn sống (có lẽ chính xác hơn là vẫn tồn tại) trong một cống thoát nước bằng thép của một mê cung dưới lòng đất trong thành phố. Các chiến sĩ Hồng quân còn nhớ, bà lão mặc một chiếc áo choàng mùa đông cũ kỹ, cổ áo đã ố vàng, sờn rách. Các chiến sĩ càng ngày càng khâm phục bởi vì bà lão có thể bò qua phố trong suốt một đêm không trăng sao tối tăm, khi màn đêm yên tĩnh ngự trị, trèo lên cầu thang đã bị thiêu trụi gần hết, đưa cho những người lính bị khói súng làm nhem nhuốc thảm lót chân mới giặt sạch hoặc quần áo mới mạng lại hoặc cháo yến mạch nóng.

Trong ngôi nhà dưới lòng đất của mình, bà lão có một bếp lò nhỏ kêu ro ro nhè nhẹ giữa những tiếng ầm ầm sấm sét của trận đánh.

Xà bông là một cái gì đó thật xa xỉ nhưng một người phụ nữ - Maria Gavrilovna - có thể có một miếng nhỏ khi mà ai đó cần đến. Một hôm, khi chỉ huy pháo binh than thơ bị đau răng, bà liền đưa cho ông một loại thuốc nóng để làm giảm đau. Dần dần, các chiến sĩ bắt đầu gọi bà là “Mẹ”.

Một sáng, Maria Gavrilovna nói với “các con trai” rằng, hôm nay bà sẽ đãi họ một bữa tiệc - một nồi súp bắp cải nóng. Không ai biết bà kiếm bắp cải ở đâu. Nhưng nồi súp bắp cải với một ít thịt bò thái nhỏ chắc chắn là một bữa tiệc đặc biệt đối với những người lính. Đêm xuống, khi tiếng súng đạn dịu bớt, hình ảnh quen thuộc lại trèo lên từ miệng cống, lạch bạch di qua phố, mang theo một nồi đầy súp bắp cải nóng.

Bỗng nhiên, các chiến sĩ nghe thấy tiếng nổ chói tai của pháo địch, nhưng họ vẫn thấy Maria Gavrilovna tiếp tục bước đi điềm tĩnh, không vội vàng, để không làm đổ nồi súp. Các chiến sĩ bắn trả để bảo vệ người khách vô cùng quý giá của họ. Nhưng khi bà trèo lên cầu thang, không hề để tràn một giọt súp, họ thấy máu đang chảy ra dưới khăn trùm đầu của bà. Đặt nồi súp xuống, bà ngã gục xuống sàn không kịp nói một lời nào. Bà không hao giờ tỉnh lại nữa. Những người lính chôn bà trong đêm đó dưới tường rào trong sân Tòa nhà số 36.

Trên mộ bà, họ viết:

“Nơi đây an nghỉ Maria Gavrilovna Timofeyeva, Người Mẹ của Tiểu đoàn đại bác tầm ngắn số 12 1 .

1. Câu chuyện này đã được đăng nhiều lần trên các tờ báo quân đội xuất bán trong chiến tranh.

Ngày 10 tháng 11 năm 1942, Zhukov tới Phương diện quân Stalingrad đế giúp thông qua lần cuối cùng các kế hoạch cho chiến dịch Tổng phản công sẽ bắt đầu ngay sau đó, làm nên một chiến thắng khiến cả nước Đức phái choáng váng. Hai ngày sau, Zhukov có mặt ở Mátxcơva bàn bạc về chiến dịch sắp tới với Stalin. Hai ngày tiếp theo, ông quay trở lại Stalingrad với chỉ thị “kiểm tra một lần nữa tinh thần sẵn sàng chiến đấu của sĩ quan và bộ đội để mở màn chiến dịch". Mục tiêu của chiến dịch là bao vây toàn bộ một tập đoàn của quân Đức.

Ngày 11 tháng 11, sau khi cùng VỚI một số tướng lĩnh di thị sát địa hình tại vị trí dóng quân của một số tập đoàn quân chủ lực đang chuẩn bị cho chiến dịch, Zhukov báo cáo với Tống Tư lệnh tối cao:

Đã làm việc với tướng A.I Eremenko hai ngày; đích thân đi trinh sát các vị trí của quân địch đối diện với các Tập đoàn quân số 51 và 57. Truyền đạt các mục tiêu cụ thể của Chiến dịch Uranus cho Tư lệnh các sư đoàn, quân đoàn và tập đoàn quân. Qua kiểm tra tôi thấy, tướng F.I Tolbukhin đã dẫn đầu trong các công tác chuẩn bị... Đã ra lệnh trinh sát trận địa, thông qua lần cuối cùng kế hoạch tấn công và các mệnh lệnh của Tư lệnh Tập đoàn quân dựa trên thông tin tình báo thu được. Tướng M.M. Popov làm việc rất tốt, đồng chí ấy biết phải làm gì.

Zhukov cho Stalin biết còn thiếu khá nhiều thứ trong đó có cả việc phương tiện và ngựa cho hai sư đoàn kỵ binh không đến được, chưa có đủ cơ số đạn pháo cho chiến dịch sắp tới, cần gấp 100 tấn hóa chất chống dông (không có chất này thì các đơn vị cơ giới hóa bị vô hiệu hóa) và quân trang mùa đông cho hai tập đoàn quân mà ông vừa tới thăm.

Zhukov cũng báo cáo, chiến dịch có thể bị hoãn lại nhưng nói thêm: “Đã ra lệnh sẵn sàng chiến đấu vào ngày 15 tháng 11 năm 1942”.

Trong hồi ký của mình, Zhukov cũng để cập tới những đoạn trích trong cuốn nhật ký của một sĩ quan lữ đoàn pháo binh Rumani đã chiến đấu với bộ đội tại Stalingrad:

Ngày 19 tháng 11,

Quân Nga nã pháo dữ dội vào sườn trái của Sư đoàn số 5 của chúng tôi. Từ trước tới nay, tôi chưa từng chứng kiến một trận pháo kích nào như thế... Pháo bắn quyết liệt khiến mặt đất rung chuyển và các cửa sổ vỡ vụn.

Ngày 20 tháng 11,

... Không thể liên lạc với cấp chỉ huy cao hơn. Sư đoàn số 6 nhận lệnh phải giữ trận địa cho tới người lính cuối cùng. Hiện tại, chúng tôi đang bị quân địch bao vây...

Ngày 21 tháng 11,

Chúng tôi bị bao vây... Hỗn loạn khủng khiếp... Bạn bè nhìn chằm chằm vào những tấm ảnh người thân, vợ, con. Thật đau đớn khi nghĩ đến mẹ tôi, anh chị em tôi và những người thân yêu của tôi. Chúng tôi mặc những bộ quần áo còn đẹp nhất, thậm chí hai lớp lót trong. Chúng tôi nghĩ về kết cục bi thảm phía trước... Chúng tôi bàn bạc về hai sự lựa chọn cuối cùng:1) Cố gắng tấn công mở đường thoát;

2) Đầu hàng.

Sau khi bàn bạc hồi lâu, quyết định đưa ra là đầu hàng. Chúng tôi được biết Hồng quân đã phái đại diện tới mang theo yêu cầu đầu hàng.

Cuốn nhật ký dừng lại ở đấy. Zhukov cho biết toàn bộ cánh quân Rumani đã đầu hàng.

Đầu mùa hè năm 1942, Hitler vẫn còn lực lượng lớn nên vẫn thỏa sức huênh hoang. Từ đầu năm, các kế hoạch của giới quân sự Đức dựa trên đánh giá rằng, chỉ chiếm được các vùng kinh tế quan trọng ở miền Nam Liên Xô mới có thể làm suy yếu đối phương và tăng cường sức mạnh cho Đệ tam Đế chế đến mức có thể đi đến kết thúc chiến tranh. Các khu vực dầu mỏ ở Caucasus cũng là mục tiêu hàng đầu, vì ngay khi bắt đầu chiến tranh, nước Đức đã thiếu xăng dầu cùng với lương thực. Tuy nhiên, chiếm được Mátxcơva vẫn là mục tiêu quan trọng, vì vậy, chúng vẫn tập trung một lực lượng lớn ở khu vực Mátxcơva.

Trong một phát biểu ngày 9 tháng 9 năm 1942, Hitler nhiều lần nhấn mạnh chi tiết Chỉ thị số 41, trong đó chỉ rõ các nhiệm vụ cơ bản của chiến cục mùa hè. Tên trùm phát xít giải thích cơ sở để ban hành chỉ thị này: “Mục tiêu đầu tiên của chúng ta là phải chiếm được những vùng trồng ngũ cốc cuối cùng của đối phương; thứ hai là, phải giành được mỏ than đá cuối cùng đề có thể sản xuất than cốc; thứ ba, tiến gần hơn tới các mỏ dầu, chiếm lấy hoặc chí ít thì cũng phải cách ly chúng với phần còn lại của đất nước này; và mục tiêu thứ tư là, mở rộng phạm vi tấn công và giành quyền kiểm soát khu vực sông Volga, tuyến đường giao thông thủy quan trọng cuối cùng của đối phương”. Kế hoạch của Đức cho thấy những mục tiêu thực sự mà chúng theo đuổi ở Liên Xô. Như Joseph Goebbels từng nói: “Đó không hẳn là một cuộc chiến tranh xưng hùng xưng bá, mà là cuộc chiến tranh vì lúa và bánh mỳ, vì bữa ăn thừa mứa, vì bữa sáng và bữa tối no nê... Đó là cuộc chiến tranh vì nguyên nhiên liệu thô, vì cao su và quặng sắt thép”.

Zhukov và Vasilevsky đã bàn bạc kế hoạch tổng phản công trên ba mặt trận, dự kiến vào nửa cuối tháng 11 và được Stalin nhất trí. Ngay từ đầu tháng, nhiệt độ đã giảm mạnh và sông Volga bắt đầu đóng băng. Chẳng cần phải nói thêm gì nữa, mùa đông sẽ gây khó khăn cho quân Đức. Do lương thực đang cạn kiệt nên quân Đức sẽ sớm buộc phải giết thịt ngựa. Sự thực là, hàng nghìn lính Đức đã vui vẻ ăn bữa tối trong ngày Lễ Giáng sinh với thịt ngựa. Hàng nghìn con ngựa bị giết trong ngày lễ trọng đó.

Zhukov đã miêu tả như thể này về những ngày mở màn chiến dịch:

7 giờ 30 phút ngày 19 tháng 11, bộ đội Phương diện quân Tây Nam giáng một đòn tấn công sấm sét, đồng loạt bẻ gãy các vị trí phòng thủ của Tập đoàn quân Rumania số 3 ở hai khu vực... Quân địch quằn quại, hoảng sợ, tháo chạy và đầu hàng. Một số đơn vị Đức đóng đằng sau quân Rumania mở một cuộc phản công quyết liệt hòng ngăn cản sức tiến công của quân ta, nhưng chúng đã bị Quân đoàn Tăng số 1 và 26 đánh cho tan tác. Đòn tấn công chiến thuật vào Phương diện quân Tây Nam thực sự chấm dứt.

Nhanh chóng chọc thủng được tuyến phòng ngự của Đức, Hồng quân đã tiến thêm được 50 km, vây chặt quân địch vào trong một chiếc túi khổng lồ. Vào đêm giao thừa năm mói, vòng vây phía ngoài đã đẩy ra xa Stalingrad 240 - 320 km về phía Tây. Những cố gắng nhằm giải vây cho đội quân 250.000 sĩ quan và binh lính đều không thành công, một nỗ lực cứu nguy lớn do Manstein chỉ huy từ hướng Tây Nam cũng thất bại. Trong tháng 1, Friedrich Paulus, Tư lệnh Tập đoàn quân số 6 của Đức, hai lần được yêu cầu đầu hàng đế bảo toàn tính mạng, nhưng ông ta vẫn trì hoãn. Binh lính Đức đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn một hy vọng được giải cứu hay tiếp tế bằng đường hàng không nữa. Paulus, được Hitler phong làm Thống chế vào cuối tháng 1, cuối cùng buộc phải đầu hàng vào ngày 2 tháng 2 cùng với khoảng 90.000 binh lính.

Con số thương vong ở Stalingrad là rất khủng khiếp. Giai đoạn đầu cuộc chiến, Đức chịu tổn thất rất nặng nề: có lẽ khoảng 150.000 người chết, 90.000 bị bắt làm tù binh. Hồng quân hy sinh hơn một nửa triệu trong chiến dịch này. Các tư lệnh Hồng quân đã thực thi một kỷ luật quân đội khắt khe theo lệnh của Zhukov, vì vậy, theo số liệu mà Bộ Quốc phòng Nga công bố năm 1995, 13.500 binh sĩ ở Stalingrad đã bị tử hình do hèn nhát và đào ngũ.

Thành phố Stalingrad không bao giờ rơi vào tay quân Đức mặc dù một bộ phận nhỏ của chúng đã đặt được chân lên bờ Tây sông Volga. Người ta nói rằng, lịch sử của người Nga gắn chặt chẽ với thành phố lịch sử Stalingrad, nay được gọi là thành phố Volgograd. Hiện nay, có một công trình điêu khắc rộng 52m được biết đến như là biểu tượng kiến trúc của Đất Mẹ, trong đó miêu tả cảnh hàng trăm nghìn người Nga ủng hộ lệnh cấm rút lui của Kremlin. Mệnh lệnh số 227, có tiêu để “Không được rút lui một bước” được ban hành vào thời điểm sự tồn vong của đất nước Xô viết đang bị đe dọa. Nhiều tướng lĩnh của Stalin đã gọi mệnh lệnh này là một trong những văn ban quan trọng nhất của chiến tranh.

Do công lao chỉ huy Chiến dịch Stalingrad thắng lợi, Zhukov được tặng thưởng Huân chương Suvorov hạng nhất. Một số tướng lĩnh khác cũng được tặng thương Huân chương này bao gồm: Vasilevsky, Voronov, Vatutin, Rokossovsky và Eremenko.

Dưới đây là những gì mà các tướng Đức nhận định về thất bại ở Stalingrad 1 :

Stalingrad là bước ngoặt của Đại chiến thế giới lần thứ hai. Đối với Đức, Chiến dịch Stalingrad là thất bại thảm hại nhất trong lịch sử, còn đối với Nga, đây lại là một chiến thắng vĩ đại nhất. Không một nước Đồng minh nào trong cuộc chiến tranh này không tự hào về một chiến thắng vĩ đại như thế.

Tướng Hans Doerr

Thất bại thảm hại tại Stalingrad, đầu hàng vô điều kiện toàn bộ một phương diện quân ở một mặt trận lớn, thảm họa quốc gia này gây nên những tốn thất vô cùng nặng nề, đó cũng là một thất bại to lớn của các đồng minh của chúng ta, những nước đã không thể giữ vững được tuyến phòng ngự bên sườn Tập đoàn quân số 6 - tất cả đã dẫn tới thảm họa nghiêm trọng này.

Tướng Heiz Guderian

Trận chiến tại Stalingrad là bước ngoặt trong lịch sử nước Đức. Chính chiến dịch Stalingrad và các sự kiện xảy ra cùng với nó, nếu chúng ta nhìn nhận lại, như là một giọt nước làm tràn ly của tất cả các vấn đề của cuộc chiến tranh cướp bóc của nước Đức Quốc xã.

Thống chế Friedrich Paulus

Chúng ta không có bất cứ nhận định rõ ràng nào về sức mạnh của quân Xô viết tại khu vực Stalingrad. Trước đó, chẳng có gì ở đấy cả, vậy mà bỗng nhiên, một cuộc tấn công mãnh liệt nổ ra, trở thành nhân tố quyết định của cuộc chiến tranh này.

Tướng Alfred Jodi

Đối với người Đức, thất bại khủng khiếp này là do nhận thức chính trị ngu muội. Điều này ám ảnh sâu đậm nhất trong tâm trí những người bị bắt làm tù binh ở Stalingrad.

Tướng Otto Korfes

---❊ ❖ ❊---

1. Một số nhà phê bình, như Alan J.Levine (năm 1985), khi được hỏi về ý nghĩa những thất bại của Đức ở Stalingrad và nhiều nơi khác, cho rằng Chiến thắng của quân Đồng minh trong những chiến dịch này rốt cục chẳng phải tất cả đều có ý nghĩa quan trọng. Đây là một nhận định gây nhiều tranh cãi. Quan điểm về những chiến dịch hỗ trợ (chiến dịch nhánh) cho các chiến dịch trên - tuyên bố của rất nhiều chuyên gia và cả của nhiều chỉ huy của quân Đức, trong đó có Paulus, Jodi, Guderian và Doer - đều không thuyết phục.

Sau khi Thống chế Paulus bị bắt (đây là lần đầu tiên, một Thống chế Đức bị bắt làm tù binh), ông ta khai rằng không bao giờ có thể tương tượng được rằng Liên Xô lại có thể mở một cuộc phản công với quy mô lớn, ồ ạt như vậy.

Zhukov thì thẳng thắn hơn: Sai lầm chiến lược của Đức là đã làm trầm trọng hóa thêm tình hình bởi thiếu thông tin tình báo; chúng đã thất bại ngay trong công tác chuẩn bị cho cuộc phản công quan trọng gần Stalingrad, tại đó chúng đã huy động 10 tập đoàn quân bộ binh, 1 tập đoàn xe tăng và 4 tập đoàn không quân, nhiều đơn vị tăng độc lập, các quân đoàn, trung đoàn kỵ binh, cơ giới và các đơn vị độc lập khác, với 15.500 khẩu pháo và đại bác, 1.460 xe tăng, xe thiết giáp gắn súng máy và 1.350 máy bay chiến đấu. Zhukov cho rằng, chiến thắng “đã chuyến hướng cuộc chiến tranh sang thế có lợi cho Liên Xô và phát huy những nỗ lực to lớn nhằm đánh đuổi quân thù ra khỏi lãnh thổ Xô viết”. Sau chiến thắng này, Bộ Tổng Tư lệnh tối cao Liên Xô đã nắm chắc chiến lược đó và vận dụng cho tới khi kết thúc chiến tranh. “Đó là một chiến thắng hào hùng, nhưng cũng đầy gian khổ không chỉ đối với các lực lượng chiến đấu đã đánh tan quân thù mà còn đối với toàn thể nhân dân đã làm việc ngày đêm đế cung cấp vũ khí, phương tiện cho quân đội đánh thắng quân thù 1 ”.

Theo quan điểm của Mátxcơva, chiến thắng Stalingrad chứng tỏ cho cả thế giới biết sức mạnh bên trong của nền kinh tếXô viết và ý chí quyết tâm của người dân đất nước này. Quả vậy, họ đã quyết tâm giành chiến thắng bằng mọi giá. Trên lĩnh vực kinh tế, đến mùa thu năm 1942, nền kinh tế thời chiến đã phục hồi mạnh mẽ.

Sau khi Stalin qua đời, không rõ ai là “kiến trúc sư trưởng thực sự” của cuộc tổng phản công dẫn đến chiến thắng lẫy lừng bên dòng sông Volga. Zhukov (cũng như Vasilevsky) đã đấu tranh để khẳng định, đó là chiến thắng của tinh thần tập thể: “Tôi sẽ khẳng định đi khảng định lại rằng, không còn nghi ngờ gì nữa. Bộ Tổng tư lệnh tối cao và Bộ Tổng tham mưu đóng vai trò quyết định trong việc lập kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo cuộc phản công ở Stalingrad”. Ông tiếp tục nhấn mạnh, Bộ Tổng tư lệnh tối cao (mà Zhukov là một thành viên lãnh đạo) và Bộ Tổng Tham mưu hoàn toàn tin tưởng vào khả năng nhận định, đánh giá với sự đúng đắn khoa học về tất cả những nhân tố liên quan đến chiến dịch vĩ đại này và đã dự đoán được sự tiến triển và kết quả cuối cùng của chiến dịch. Ông kết luận, do vậy, “đó không còn là vấn đề” xem cá nhân nào đã làm nên chiến thắng này.

Đánh giá về vai trò của mình trong Chiến dịch Stalingrad, Zhukov nói: “Đối với bản thân tôi, tôi nghĩ rằng công tác tổ chức phòng ngự trong Chiến dịch Stalingrad, công tác chuẩn bị cho chiến dịch phản công và tham gia quyết định các khâu quan trọng trong các chiến dịch ở miền Nam có tầm quan trọng đặc biệt vì qua đó tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn những gì tôi đã đúc rút được tại chiến trường Mátxcơva năm 1941, khi mà lực lượng hạn chế thiếu hụt đã không cho phép tổ chức phản công nhằm bao vây cả "cụm quân địch”.

---❊ ❖ ❊---

1. Nhà sử học Nga, Alexanderr Borisov, đưa ra một nhận xét mỉa mai rằng, sau Chiến dịch Stalingrad, các nhà lãnh đạo chính trị nhìn xa trông rộng nhất ở phương Tây đều thừa nhận, sự thất bại của phát xít Đức giờ đây chỉ là vấn đề thời gian; rằng do trì hoãn mở Mặt trận thứ hai quá lâu nên khi quân Đồng minh phương Tây liều mình tiến vào Berlin thì đã “quá muộn".

« Lùi
Tiến »