Belorussia đã đánh tan Cụm tập đoàn quân Trung tâm của Đức, tiêu diệt hơn 30 sư đoàn địch tại các vị trí khác nhau.Chiến dịch
Trích từ các báo ở Mátxcơva, tháng 8 năm 1944
Các chiến sĩ của chúng ta hoan nghênh Mặt trận thứ hai của quân Đồng minh ở Normandy, điều này giúp đánh đổ Chủ nghĩa phát xít và kết thúc chiến tranh nhanh hơn.
G. K. ZHUKOV, Nhớ lại và suy ngẫm
---❊ ❖ ❊---
Dường như là cả đất nước Belorussia (nay là Belarus) rung chuyển bởi những tiếng nổ. Theo đúng kế hoạch, các chiến sĩ đu kích là người thực hiện nhiệm vụ phá hủy các tuyến đường xe lửa. Trong suốt ha đêm liền, tiếng bom mìn xé toạc bầu không khí yên tĩnh kèm theo những ánh chớp lửa sáng rực. Người ta gọi đây là một chiến dịch phá đường xe lửa chưa từng có trong lịch sử. Đúng là các chiến sĩ du kích đã thực hiện khoảng 40.000 vụ đánh bom, đặt mìn trên các tuyến đường xe lửa ở tất cả các hướng trong cùng một thời điểm. Hành động này đã làm tê liệt đường giao thông liên lạc của địch khiến chúng lâm vào tình thể hết sức bất lợi. Cùng một lúc, các chiến sĩ đã cắt dứt nhiều tuyến giao thông liên lạc chính có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động của địch, như Minsk - Orsha, Minsk - Brest và Pinsk - Brest. Nhiều cầu cống, đường dây điện báo, điện thoại và đường dây diện cũng bị phá hỏng.
Vào giai đoạn cuối của chiến dịch Belorussia, trước khi một cuộc tấn công quy mô lớn nổ ra trên lãnh thổ nước cộng hòa này, các chiến sĩ du kích đã tiên hành 182.000 vụ nổ, làm trật đường ray 5.494 chuyên tàu quân sự chở binh lính và lương thực, phá hoại 1.101 cầu đương sắt và đường bộ, phá hủy 73 máy bay, 397 xe tăng và 2.510 xe môtô.
Cùng lúc, 2.400.000 sĩ quan và chiến sĩ, 36.400 pháo và súng cối, 5.200 xe tăng và pháo tự hành cùng 5.300 máy hay chiến đấu ở mặt trận phía Đông được báo động chiến đấu.
Ngày 23 tháng 6 năm 1944 là ngày ấn định mở màn chiến dịch Bagration.
Chiến dịch Bagration bắt đầu từ ngày 23 tháng 6 năm 1944 trên chiến trường Belorussia và kéo dài 67 ngày đêm. Đây là một trong những chiến dịch phản công lớn nhất trong cuộc chiến tranh chống phát xít và làm thay đối căn bản cục diện chiến lược trên toàn Mặt trận phía Đông. Sau chiến dịch Bagration, mục tiêu quan trọng nhất tiếp theo là Berlin. Afanasy Beloborodov, một trong những vị tướng được ngợi ca nhiều nhất tại Mặt trận phía Đông, cho biết, Đức Quốc xã đã buộc phải điều thêm hơn 40 sư đoàn và 4 lữ đoàn từ các mặt trận khác tới Belorussia; điều này đã khiến cho lực lượng của quân Đức ở Tây Âu bị suy yếu, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho lực lượng liên quân Anh - Mỹ ở Pháp.
---❊ ❖ ❊---
1. Sau khi Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết tan rã, nước Cộng hòa Belorussia đổi tên thành Belarus. Trừ một số tên gọi của các đơn vị quân đội thời chiến tranh và số trường hợp khác mà việc sử dụng tên gọi cũ là phù hợp hơn, tên gọi mới được dùng thống nhất trong toàn bộ cuốn sách này.
Tháng 8 năm 1943, Bộ Chỉ huy tối cao của Đức bắt đầu triển khai xây dựng cái gọi là Bức tường phía Đông. Phát xít Đức tuyên bố đó là phòng tuyến cực kỳ vững chắc, còn hơn cá Bức tường Đại Tây Dương. Bức tường phía Đông sẽ ngăn chặn đường tiến của Hồng quân về phía Tây. Cái gọi là Hành lang Belorussia là một khu vực nhô ra trái rộng xung quanh vùng Minsk, Cụm tập quân đoàn Trung tâm của Thống chế Ernst von Busch dóng trong khu vực đó. Hành lang Belorussia, một yếu tố cấu thành nên Bức tường phía Đông, sẽ đảm bảo các tuyến đường ngán nhất tới Đức và duy trì các đường thông tin liên lạc chính của các lực lượng phát xít dọc toàn bộ Mặt trận phía Đông.
Hậu cần quân sự và binh lính chuyển tới mặt trận chủ yếu di qua Belarus vì dây là con đường ngắn nhất. Đó chính là lý do vì sao mà Bộ Chỉ huy tối cao của Đức Quốc xã ra lệnh cho các lực lượng phai bảo vệ Belarus như bảo vệ chính nước Đức. Nhằm củng cố thêm cho khu vực phòng thủ này, chúng tuyên bố một số thành phố như Vitebsk, Orsha, Mogilev, Bobruisk, Polotsk và dĩ nhiên là cả thành phố Minsk là các khu vực phòng ngự vững chắc hay là các pháo đài. Nhiều vị trí quan trọng tập trung lực lượng hùng hậu cũng được thiết lập tại một số thành phố, thị trấn và các khu dông dân khác, đặc biệt là bên bờ các con sông.
Sau này, khi bị bắt làm tù binh, tướng von Erdmannsdorf, Chỉ huy của Khu phòng thủ Mogilev đã khai: chúng được lệnh là phải giữ các khu phòng thủ như vậy bằng mọi giá. thậm chí cả khi bị bao vây hoàn toàn. Một khu vực phòng thủ chỉ được phép bỏ khi có lệnh cho phép của chính Hitler theo đề nghị của Bộ Chỉ huy Cụm tập đoàn quân. Vào tháng 4, tất cả chỉ huy các khu phòng thủ ở Belarus được triệu tập tới Tổng hành dinhcủa Bộ chỉ huy Cụm tập đoàn quân và được trao bản cam kết viết tay rằng họ phải giữ các “pháo đài” tới khi chỉ còn người lính cuối cùng và viên đạn cuối cùng.
Thang 4 năm 1944, Stalin và Zhukov thảo luận về những vấn đề chung cho kế hoạch chiến cục mùa hè.
“Đồng chí vừa từ mặt trận đó về thẳng đây”, Stalin nói với Zhukov, “suy nghĩ thực của đồng chí về quân Đức như thế nào?
Zhukov trả lời: “Chúng đã làm tất cả những gì chúng thấy là cần thiết để thiết lập một khu vực phòng thủ kiên cố trên mật trận của chúng ta. Như Bộ chỉ huy Cụm tập đoàn quân và Bộ chỉ huy tối cao Đức đã để cập, tôi có thể khẳng định rằng, sau thảm họa ở Stalingrad và đặc biệt là ở Vòng cung Kursk, chất lượng quân địch đã giảm mạnh”.
Theo Zhukov, khác với giai đoạn đầu của cuộc chiến, Bộ Chỉ huy của Đức trở nên khá “ngu ngốc” và đã đánh mất những bước đi chiến lược khôn khéo, nhất là trong những tình huống khó khăn. Nguyên soái Zhukov cảm nhận chính xác được điều thực sự gây chú ý đối với Stalin khi đó. Vì vậy, ông đặc biệt nhất mạnh đến một số điểm quan trọng nhất đối với chiến dịch sắp tới.
Zhukov báo cáo: “Chúng ta đã phân tích một số quyết định gần đây của bọn chỉ huy đầu sỏ của Đức. Chúng rõ ràng bộc lộ sự thiếu hụt những nhận định chính xác về tiềm lực của chính các lực lượng Đức cũng như đối thủ của chúng (tức là về quân ta). Chẳng hạn, quân địch luôn quyết định rút lui rất chậm trễ khi đã rơi vào tình thế bị đe dọa tấn công sát sườn hay bị bao vây. Vì vậy, chúng luôn rơi vào thể tiến thoái lưỡng nan”.
Hàng thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, một số tướng lĩnh Đức, những kẻ sống sót đã đổ lỗi hoàn toàn cho thất bại này lên đầu Adolf Hitler, buộc tội hắn là bất tài, phạm những sai lầm ngớ ngẩn và không thèm quan tâm tới ý kiến người khác. Trong khi xuất hiện một số sự thật xung quanh lời khẳng định trên thì quan điếm của Zhukov và Vasilevsky - về việc nếu không có sự đóng góp của Hitler thì những quyết định tác chiến và chiến lược của quân Đức thường không tinh tường - cũng có vẻ đúng sự thật.
Zhukov khẳng định, cần phải đảm bảo hướng tấn công trọng tâm ở Belarus trong chiến cục mùa hè năm 1944 sẽ gây bất ngờ hoàn toàn đối với quân địch theo quan điểm của Tổng Tư lệnh tối cao và Bộ Tổng tham mưu. Chiến dịch chắc chắn sẽ thành công. Trước hết, ông tin rằng, cách Cụm tập đoàn quân Trung tâm địch dàn đội hình tác chiến theo một vòng cung hướng về phía Đông trung ương sẽ tạo điểu kiện thuận lợi cho Hồng quân thực hiện các đòn đánh thọc sâu theo thể gọng kìm vào trung tâm của tuyến phòng ngự này. Thứ hai, ông bảo đảm có thể tạo được ưu thế áp đảo cần thiết về lực lượng và phương tiện trên hướng tấn công chính. Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị cho chiến dịch chính, cần phải mở nhiều cuộc tấn công lớn trên các hướng khác để buộc kẻ thù phải rút các đơn vị dự bị chiến lược ra khỏi Belarus càng nhiều càng tốt. Chiến thuật tổ chứcnhững cuộc tấn công kiểu đó sau này được áp dụng trong các chiến dịch lớn ở mặt trận Leningrad và Karelia.
Kết thúc bản báo cáo, Zhukov trình bày những đánh giá của ông về những khó khăn mà quân phát xít sẽ phải đối mặt trên mặt trận Xô - Đức trong mùa hè 1944.
Tới đây, Stalin, khoát nhẹ tay, ngắt lời Zhukov và lần đầu tiên đề cập tới công tác chuẩn bị mở Mặt trận thứ hai đang được tiến hành trên đất Anh:
“Cũng còn nhiều vấn đề khác nữa. Trong tháng 6, quân Đồng minh định trước hết đổ bộ một lực lượng quân lớn lên đất Pháp. Quân đồng minh của chúng ta đã quá vội vã chăng?” (Zhukov kể, Stalin nói điều này với nụ cười mỉa mai), “Họ sợ chúng ta có thể đánh bại hoàn toàn phát xít Đức mà không cần có sự “can dự” của họ. Dĩ nhiên, chúng ta muốn quân Đức bắt đầu phái chiến đấu trên cả hai mặt trận trong giai đoạn cuối này, khiến chúng lâm vào tình thế còn tồi tệ hơn bao giờ hết và không thể xoay xở được nữa”.
Khi đó, để đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối, những lãnh đạo Xô viết cao nhất được đặt bí danh mới trước khi mở màn chiến dịch Bagration. Stalin dùng bí danh Semyonov đến tận cuối năm 1944, Zhukov là Zharov, còn bí danh của Vasilevsky là Valadimirov.
Giữa tháng 5 năm 1944, Bộ Tống tham mưu Xô viết hoàn tất các dự thảo kế hoạch cho chiến dịch Bagration, mật danh của trận đánh quy mô rất lớn ở Belarus. Stalin lấy tên Hoàng tử Pyotr Bagration, một vị tướng xuất thân trong một gia đình quí tộc Grudia đã hy sinh dũng cảm khi chiến đấu chống quân của Napoleon năm 1812, để đặt cho chiến dịch. Kết thúc chiến dịch vĩ đại này, Đức mất toàn bộ mặt trận phía Đông với tống số gần 1/3 quân số ban đầu. Những tổn thất này càng làm trầm trọng thêm vấn đề lực lượng của Hitler. Điểu này khiến chúng không thể chuyển sang chiến lược huy động tổng lực.
Ngày 20 tháng 5, Stalin triệu tập Zhukov, Vasilevsky và Tổng Tham mưu trưởng A.I. Antonov để thông qua lần cuối nghị quyết của Bộ Tư lệnh tối cao về các kế hoạch cho chiến cục mùa hè. Chiến dịch mở màn sẽ là ở khu vực eo đất Karelia; sau đó, vào nửa cuối tháng 6, sẽ mở tiếp một chiến dịch ở Belarus. Zhukov và Vasilevsky được lệnh chỉ huy hiệp đồng tác chiến giữa các mặt trận khác nhau. Vasilevsky chịu trách nhiệm phối hợp hành động của Phương diện quân Baltic số 1 và Phương diện quân Belorussia số 3, còn Zhukov tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa Phương diện quân Belorussia số 1 và số 2. Ngày 4 tháng 6, Vasilevsky tới mặt trận để chuẩn bị cho chiến dịch Bagration.
Khi kế lại quá trình tham gia chiến dịch Belarus vĩ đại, Nguyên soái Zhukov bắt đầu bằng mấy câu lột tả mức độ tàn phá khủng khiếp đối với nước cộng hòa Belarus mà quân phát xít gây ra. Chúng đã phá huý 7.000 trường học, đốt cháy 1.200.000ngôi nhà và giết hại 2.200.000 người dân lành, cảnh tượng thực tế còn khốc liệt hơn những con số chính thức này rất nhiều. Đơn cử, trung bình cứ bốn người dân thì có một người bị giết hại; tại thành phố Vitebsk, số người chết còn cao hơn với tỉ lệ 1/3. Không những thế, quân chiếm đóng còn san bằng 9.000 ngôi làng. Sự thật rõ ràng là, không một nơi nào trên lãnh thổ châu Âu lại phải chịu sự hủy hoại khôc liệt như ở đây trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Tháng 7 năm 1944, hầu hết các lực lượng chiến đấu của Đức vẫn ở mặt trận Xô - Đức. Các đơn vị của Zhukov phải đối mặt với gần 180 sư đoàn và 5 lữ đoàn được trang bị đầy đủ của Đức, cùng 49 sư đoàn và 12 lữ đoàn quân các nước chư hầu là Ý, Rumani, Hungary và Phần Lan. Tổng số quân của Đức lên tới gần 4,5 triệu với 59.000 khẩu pháo và súng cối, 7.800 xe tăng và pháo tự hành, gần 3.200 máy bay. Còn bộ đội của Zhukov tổng cộng là gần 6,6 triệu người với 98.000 khẩu pháo và súng cối, 7.000 xe tăng và pháo tự hành, khoảng 13.000 máy bay chiến đấu.
Trước khi về đơn vị, các chỉ huy họp một vài phút thảo luận chi tiết tất cả những điểm mạnh, yếu của địch trong phòng ngự và các chiến thuật cần áp dụng đối với cơ quan chỉ huy, tham mưu của các đơn vị và đối với các chiến sĩ. Zhukov đồng tình với tướng Antonov về các biện pháp chỉ huy công tác tập trung bộ đội, đảm bảo hậu cần và quân dự bị của Bộ Tổng tư lệnhtối cao cùng như yêu cầu về đảm bảo thông tin liên lạc giữa Bộ Tổng tư lệnh tối cao và các khu vực khác.
Theo ước tính của Bộ Tổng tham mưu, số lượng quân trang, quân dụng, phương tiện khổng lồ cần thiết cho các mặt trận trong chiến dịch Bagration là gần 100.000 tấn đạn được, 300.000 tấn nhiên liệu và dầu mỡ, hơn 500.000 tấn lương thực và cỏ khô. Phải tập trung 5 tập đoàn quân hợp thành, 2 tập đoàn quân thiết giáp, 1 tập đoàn không quân và những đơn vị thuộc Tập đoàn quân số 1 của Ba Lan. Một số các đơn vị trọng yếu khác cùng được Bộ Tổng tư lệnh tối cao chuyên giao.
Zhukov nhấn mạnh phải triển khai các biện pháp nâng cao cánh giác, ngăn chặn các âm mưu và hoạt động do thám của địch về công tác chuẩn bị cho chiến dịch của quân ta.
Điều này đặc biệt quan trọng vì các báo cáo trinh sát của chúng ta cho thấy, Bộ Chí huy tối cao của Đức nhận định quân ta sẽ mở màn chiến dịch đầu tiên trong chiến cục mùa hè ở Ukraina chứ không phải ở Belarus. Chúng lập luận rằng, địa hình cây cối rậm rạp và bùn lầy ở Belarus sẽ không cho phép Hồng quân chuyển quân dễ dàng và phát huy tối đa lợi thế của 4 tập đoàn quân tăng đang đóng ở Ukraina.
Rạng sáng ngày 5 tháng 6, Zhukov tới Bộ chỉ huy Phương diện quân Belorussia số 1 gặp Rokossovsky, Bulganin - thành viên Hội đồng quân sự và Tham mưu trưởng Malinin. Tướng Sergei Rudenko, Tư lệnh Tập đoàn không quân cùng tham gia. Họ đã thảo luận chi tiết về các hành động tiếp theo, đặc biệt là tại hai bên sườn các đơn vị. Cuộc họp cũng dành sự quan tâm đặc biệt để bàn bạc kỹ lưỡng về địa hình khu vực tác chiến và công tác trinh sát hệ thống phòng ngự của dịch cũng như chuẩn bị lực lượng bổ sung và khâu đảm bảo hậu cần cho chiến dịch.
Zhukov hiểu rất rõ vùng đất này vì ông đã chiến đấu ở Belarus hơn 6 năm và đặt chân tới khắp mọi miền; ông hay đi săn vịt trời trên những đầm lầy ngập nước và cây cỏ.
Không phải tất cả mọi việc đều trôi cháy. Zhukov phải gọi diện cho Stalin báo cáo kế hoạch chuyển quân và phương tiện đã gặp trở ngại. Ông đề nghị Stalin chỉ thị cho các sĩ quan đặc trách các vấn đề liên quan xem xét lại, nếu không chiến dịch buộc phải hoãn lại.
Giữa tháng 6. một số đơn vị đã triển khai diễn tập cho chiến dịch Bagration dưới sự giám sát của các tướng lĩnh trong Bộ Tổng tư lệnh tối cao và Zhukov cùng Ban tham mưu của ông. Ba tập đoàn quân tham gia diễn tập sẽ dẫn đầu đoàn quản với nhiệm vụ đánh tan Cụm tập đoàn quân Trung tâm -lực lượng chủ lực của quân Đức đang dóng trên một vị trí chiếm lược. Trọng trách của họ vô cùng lớn lao vì sự thất bại của Cụm tập đoàn quân Trung tâm khởi đầu cho việc đánh đuổi hoàn toàn các dội quân phát xít ra khỏi lãnh thổ Belarus và Đông Ba Lan.
Để rõ hơn về quy mô chiến dịch Bagration, có thể hình dung: các tập đoàn quân dưới sự chỉ huy của Zhukov và Vasilevsky sẽ phái tác chiến trên phạm vi 1.200 km theo chiều dài và 600 km chiều sâu; sẽ có những trận đánh rất ác liệt vì bộ đội Xô viết phải chiến đấu với 200.000 tên địch trang bị 9.599 khẩu pháo và súng cối, 900 xe tăng và pháo tự hành cùng hơn 1.300 máy bay chiến đấu. Ngoài ra, họ còn phải vượt qua những khu vực phòng thủ đã được củng cố với chiều sâu tới 250 - 270 km.
Chiến dịch này diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm năm thứ ba của chiến tranh, mà Zhukov nhấn mạnh là một trong những sự kiện lịch sử quan trọng của thế giới. Cũng thời điểm này, Mặt trận thư hai đã được mở khi các lực lượng Đồng minh dưới sự chỉ huy của tướng Eisenhower đã vượt eo biển Măngsơ đổ bộ lên đất Pháp ngày 6 tháng 6. Hồng quân nhiệt liệt chào mừng Mặt trận thứ hai, vì nó sẽ góp phần đánh đổ chủ nghĩa phát xít của Hitler nhanh hơn, sớm kết thúc cuộc chiến.
Ngày 27 tháng 6, Hồng quân đã dồn và vây chặt Quân đoàn bộ binh số 35 và Quán đoàn thiết giáp số 41 của Đức với gần 40.000 tên vào vùng hai lòng chảo ở khu vực Boruisk. Zhukov không được chứng kiến tận mắt “cuộc thanh toán kẻ thù nhưng đã chứng kiến cánh tháo chạy tán loạn của quân Đức ở Đông Nam thành phố Bobruisk. Trong khi đó, hàng trăm máy bay ném bom thuộc Tập đoàn không quân của Rudenko không ngừng dội sấm sét xuống cụm quân địch. Zhukov thuật lại:
Hàng đoàn xe tải, xe cơ giới và xe tăng, vô số kho nhiên liệu và dầu mỡ bốc cháy trên khắp chiến trường. Các máy bay ném bom cứ theo các đám cháy để xác định tọa độ tấn công ngày càng mạnh, từ mọi độ cao. Binh lính Đức khiếp sợ chạy tán loạn khắp mọi hướng, những kẻ không chịu đầu hàng đều bị bắn chét. Hàng ngàn lính Đức bị Hitler lừa gạt, hứa hão về một chiến thắng chớp nhoáng chống Liên bang Xô viết, đang bỏ mạng trên chiến trường Belarus.
Các chiến sĩ du kích Belarus hoạt động ở khu vực Minsk thông báo cho Bộ chỉ huy của Zhukov biết, bọn địch đang vội vã đặt mìn ở các công trình kiến trúc quan trọng của thành phố, trong đó có cả Tòа nhà Chính phủ và Câu lạc hộ Sĩ quan, để cho nổ trước khi rút chạy. "Để cứu các khu nhà lớn nhất, quan trọng nhất của thành phố, chúng tôi quyết định đẩy nhanh tốc dô hành quân của lực lượng tăng thiết giáp và điều động thêm các kỹ sư tháo gỡ bom mìn đi cùng. Nhiệm vụ của họ là phải đột nhập vào bên trong thành phố, đánh chiếm các tòa nhà Chính phủ, nhưng phải tránh đụng độ với quân địch trên đường tiến vào”, Zhukov kể.
Nhiệm vụ này được thực hiện thành công và những tòa nhà quan trọng đã được tháo gỡ hết mìn và được bảo toàn.
Đến tối ngày 3 tháng 7, toàn bộ thành phố Minsk được giải phóng. Cùng lúc đó. các đơn vị của cụm quân chủ lực của bọn Đức bị chặn mất đường rút chạy và bị bao vây ở phía Đông
Minsk, gồm Quân đoàn bộ binh số 12, 27, 35 và Quân đoàn xe táng số 39, 41 với tông cộng hơn 100.000 sĩ quan và binh lính.
Zhukov không khỏi choáng váng khi ông chứng kiến thành phố mà ông hiểu rất tường tận:
Thu dô của Belarus hầu như không còn nhận ra được. Tôi từng chỉ huy một trung đoàn ở đây trong 7 năm và tôi biết rõ từng con phố, từng tòa nhà quan trọng nhất, từ những cây cầu, công viên đến các sân vận động và nhà hát. Giờ đây, tất cả đều trong cảnh đổ nát, những khu chung cư chả còn gì ngoài đống gạch vụn. Người dân thành phố Minsk trông thật xót xa, họ kiệt sức, hốc hác, nhiều người nước mắt đầm đìa.
Theo các lãnh dạo của Minsk, trước khi rút di. quân địch đã phá hủy 300 nhà. Chúng còn đốt cháy 78 trường học, Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia, Nhà hát Opera và Ballet và tất cá các thư viện, trung tâm văn hóa của thành phố.
Tới ngày 11 tháng 7, mặc dù kháng cự quyết liệt, nhưng toàn bộ quân Đức đã bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Trong số 35.000 tù binh, có 12 viên tướng gồm 3 Tư lệnh Quân đoàn và 9 Tư lệnh Sư đoàn. Quân của Zhukov phải mất vài ngày truy kích những toán sĩ quan và binh lính dịch đang cố bát kịp các đơn vị của chúng, nhưng vì bọn này rút chạy quá nhanh nên chúng không đuổi kịp được. Nhân dân địa phương và quân du kích, mà Zhukov gọi là "những người chủ thực sự của các lực lượng Belarus”, đã nhiệt tình giúp đỡ các chiến sĩ Xô viết đánh đuổi hết quân thù ra khỏi đất nước.
Năm ngày trước đó. Stalin triệu tập Zhukov về Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao. Ngày hôm đó, ông phải bay tới Mátxcơva "trực tiếp nhận chỉ thị và tới Bộ Tổng tham mưu”. Trước khi gặp Tổng Tư lệnh tối cao, ông muốn nắm thêm thật chi tiết những diễn biến mới nhất.
Zhukov, đã từng giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu, cho biết, ông rất hài lòng vì trình độ tham mưu, chỉ đạo cấp chiến lược, chiến dịch của Bộ Tổng tham mưu đã được nâng cao rất nhiều.
2 giờ chiều, Zhukov và Antonov tới nhà nghỉ mùa hè của Stalin. Ông nhớ là vị chủ nhà khi ấy đang rất vui vẻ, cười đùa. Một trong các lý do là Vasilevsky đã báo cáo qua điện đài tình hình tốt dẹp ở Phương diện quân Baltic số 1 và Phương diện quân Belorussia số 3.
“Tôi vẫn chưa ăn sáng”, ông nói, “Chúng ta vào phòng cùng ăn và nói chuyện”.
Mặc dù ăn rồi, nhưng Zhukov và Antonov không thể từ chối lời mời. Trong suốt bữa ăn, họ trao đổi về khả năng quân Đức tiến công ở cả hai mặt trận: chống Liên Xô và đánh nhau với lực lượng viễn chinh Đồng minh đã đổ bộ lên Normandy, và về vai trò, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh.
Stalin đã trình bày các ý kiến của ông một cách rõ ràng, ti mỉ, chứng tỏ Stalin đã nghiền ngẫm những vấn đề này rất kỹ lưỡng. Mặc dù Stalin tin tưởng rằng Liên Xô đủ sức mạnh để tự mình tiêu diệt phát xít Đức, nhưng ông cũng hoan nghênh việc mở Mặt trận thứ hai ở Châu Âu, vì như thế chiến tranh càng sớm kết thúc, "đó chính là điều mong mỏi lớn nhất của nhân dân Xô viết, họ đã kiệt quệ vì chiến tranh và sự thiếu thốn”.
Nguyên soái cho biết thêm, không một ai nghi ngờ rằng Đức sẽ thất bại trong cuộc chiến tranh này. “Vấn đề ấy đã được giải quyết trên mặt trận Xô - Đức trong năm 1943 và đầu năm 1944. Cuộc thảo luận bây giờ tập trung vào vấn đề là chiến tranh sẽ kết thúc sớm như thể nào và đem lại kết quả gì về chính trị và quân sự”, Zhukov nói. Tới đó thì Molotov và những Ủy viên khác của ủy ban Quốc phòng Nhà nước đến tham gia vào cuộc thảo luận.
Câu hỏi được đặt ra là, giới quân sự chóp bu của Hitler có thể trông chờ gì trong tình thế như thế này. Câu trả lời của Satlin là:
Chúng giống như một con bạc khát nước đang đặt cược đồng xu cuối cùng. Tất cả hy vọng của chúng đều đặt vào Anh và Hoa Kỳ. Khi quyết định gây chiến với Liên Xô, Hitler đã bắt tay với các thế lực đế quốc ở Anh và Hoa Kỳ, nhũng kẻ có cùng dã tâm như hắn. Và không có lý do gì mà chúng không làm tất cả mọi thứ để hướng các hành động quân sự của nước Đức sang chống lại chúng ta.
Molotov bổ sung:
- Hitler chắc chắn đã âm mưu bằng mọi giá đạt được một thỏa thuận riêng với các thể lực cầm quyền ở Hoa Kỳ và Anh.
Stalin đồng tình:
- Đúng vậy, nhưng Roosevelt và Churchill chưa nhất trí thương lượng với Hitler. Chúng sẽ cố đạt được những mục đích chính trị ở Đức bằng việc thiết lập một chính phủ “bù nhìn" nhưng không bằng con đường câu kết với những tên phát xít đã đánh mất tất cả lòng tin của nhân dân.
Sau đó Stalin hỏi Zhukov:
- Liệu quân ta có thể bắt đầu giải phóng Ba Lan liên tục tiến công tới Vistula mà không phải dừng lại không? Có thể để Tập đoàn quân Ba Lan số 1 tham chiến ở khu vực nào, họ đã trở thành một lực lượng có khả năng chiến đấu rất hiệu quả rồi?
Tướng Beloborodov bổ sung:
- Tập đoàn quân này do tướng Zygmunt Belling chỉ huy đã chiến đấu rất ngoan cường ở Belarus và Ba Lan.
Zhukov đáp lời Stalin:
- Quân ta không những có thể tiến tới Vistula, mà còn phải giữ được các bàn đạp phục vụ cho việc mở các chiến dịch tấn công tiếp theo trên hướng chiến lược Berlin. Còn Tập đoàn quân Ba Lan số 1 nên tiến thẳng tới Vácsava.
Antonov hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Zhukov. Ông cũng khẳng định với Stalin rằng sức mạnh của địch ở khu vực của Phương diện quân Ukraina số 1 đã suy yếu.
Stalin trở lại ý kiến của Zhukov, nói:
- Bây giờ, đồng chí phái chịu trách nhiệm về các hoạt động phối hợp của Phương diện quân Ukraina số 1. Đặc biệt chú ý đến cánh trái của hai Phương diện quân Belorussia số 1 và Ukraina số 1. Đồng chí đã biết kế hoạch và các nhiệm vụ chung. Không có gì thay đổi trong kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh tối cao, đồng chí tự tìm hiểu các chi tiết tại Bộ Tổng tham mưu.
Tiếp đó, họ thảo luận về vấn đề khả năng hiệp đồng tác chiến của bộ đội dưới sự chỉ huy của Vasilevsky, khi đó Zhukov đề nghị, nên tăng cường nhiều hơn nữa cho các phương diện quân của Vasilevsky và giao cho Vasilevsky nhiệm vụ chia cắt Cụm tập đoàn quân phía Bắc của Đức và chiếm lấy Đông Phổ.
Stalin hỏi Zhukov:
- Đồng chí đã bàn bạc với Vasilevsky chưa, bởi vì đồng chí ấy cũng yêu cầu được tăng viện?
- Chúng tôi chưa bàn, nhưng nếu đồng chí ấy đã có ý kiến như vậy, thì điều đó là đúng.
- Quân Đức chiến đấu để giữ Đông Phố cho đến tên lính cuối cùng và chúng ta có thể bị mắc kẹt ở đó. Trước tiên, chúng ta phải giải phóng khu vực Lvov và miền Đông Ba Lan. Ngày mai, đồng chí sẽ gặp một số đồng chí Ba Lan gồm Bierut, Rola- Zimerski và Osubko-Moravvski tại phòng tôi.
Hai tuần sau, Zhukov đệ trình một ban kế hoạch đề nghị tăng cường và củng cố lực lượng cho các Phương diện quân đảm nhiệm hướng Đông Phổ và Ba Lan, vì theo ông, Đông Phổ sẽ là “một trở ngại vô cùng lớn". Thế nhưng, Stalin lại không chấp thuận kế hoạch đó, làm cho Zhukov nghĩ rằng, ông đã “phạm một sai lầm thực sự nghiêm trọng ở một khâu nào đó liên quan đến chiến dịch tấn công vào vùng Đông Phổ vô cùng phức tạp và khốc liệt này".
Nửa cuối tháng 7. Bộ Chỉ huy tối cao Đức nhận ra họ đang rơi vào tình thế ngày càng khốn đốn, nhất là khi các Phương diện quân Baltic số 2 và số 3 bắt đầu tiến công và lực lượng viễn chinh quân Đồng minh gây áp lực ở phía Tây. Tướng Buttlar của Đức đã viết: “Sự thất bại của Cụm tập đoàn quân Trung tâm trước quân Xô viết đã đặt dấu chấm hết cho chiến lược phòng ngự có tổ chức của quân Đức ở Mặt trận phía Đông".
Thất bại của Cụm tập đoàn quân Trung tâm khiến phát xít Đức mất hơn 30 sư đoàn ở các khu vực bị bao vây khác nhau. Belarus và phần lớn Lítva (Lithuania) sạch bóng quân xâm lược. Tấn công vào Niemen, Hồng quân đã tiến sát tới biên giới Đức, các trận đánh ở đây trải dài gần 1.300 km của mặt trận với các mũi thọc sâu tới 550 - 600 km.
Đến đầu mùa hè thứ tư của cuộc chiến. Hồng quân đã đánh đuổi quân xâm lược phát xít và đồng minh của chúng ra khỏi lãnh thô rộng lớn của mình. Trong các chiến dịch mùa đông và mùa xuân năm 1944, Hồng quân đã mở rộng các cuộc phản công trên suốt chiều dài 2.500 km, tiến sâu được 450 km ở nhiều hướng và đánh tan tác hơn 150 sư đoàn Đức. Các cánh quân của Hitler đã phải chịu tổn thất vô cùng nặng nề. Bộ chỉ huy tối cao Đức Quốc xã buộc phái điều động thêm hơn 40 sư đoàn tới mặt trận phía Đông. Bên cạnh tổn thất về người, quân Đức còn mất hàng nghìn đại bác, pháo, xe tăng và máy bay. Tinh thần chiến đấu của quân đội Đức bị sa sút ghê gớm. Mặc dù các lực lượng Đức vẫn trụ lại tại các vị trí phòng ngự và đã kháng cự một cách điên cuồng, nhưng vẫn không tránh được sự tổn thất về người và của.
Rõ ràng, quân phát xít sẽ chiến đấu tới tên cuối cùng, tuân theo mệnh lệnh của Hitler: cả nước Đức vẫn đứng sau chúng.
Tháng 8 năm 1944, Hồng quân đang sa lầy ở Đông Ba Lan. thì một cuộc khởi nghĩa bất ngờ nổ ra ở Vácsava, khoảng 40.000 người dân Ba Lan dũng cảm đã vũ trang nổi dậy chống quân xâm lược Đức. Những người nổi dậy muốn giải phóng đất nước họ trước khi Hồng quân làm điều này. Vì vậy, họ đã không thông báo cho Mátxcơva biết trước kế hoạch nhưng lại nhận các chỉ thị của Chính phủ lưu vong Ba Lan ở Luân Đôn theo đường lối chống cả Stalin và Hitler. Các đơn vị Xô viết đã có các trận đánh ác liệt và đặt chân lên lãnh thổ Ba Lan, nhưng quân khởi nghĩa Ba Lan không chấp nhận sự giúp đỡ của họ. Mátxcơva thường xuyên bị buộc tội là do dự trong quyết định, thiếu nhân đạo khi không tiếp tế cho các binh lính Tập đoàn quân Ba Lan, đó chính là lý do họ tổ chức nổi dậy.
Khi tới mặt trận Vácsava đầu tháng 9, Zhukov liền báo cáo Satlin, các lực lượng tinh nhuệ của Đức không thể vượt sông Vistula lúc này.
Để giúp người Ba Lan đang gặp khó khăn, đầu tháng 8, máy bay ném bom hạng nặng của Mỹ và Anh bắt đầu thả dù tiếp tế, tuy nhiên số lượng không đáng là bao và đường như phần lớn các dù hàng chi viện lại rơi vào tay bọn Đức. Cuộc nổi dậy bị đè bẹp và quân Hitler tiến hành các hoạt động trả thù nhằm vào người dân Ba Lan.
Nhưng theo Richard Overy, sự thật của sự kiện này rất phức tạp. Cuộc nổi dậy ở Vácsava không phải là một động thái để giúp Hồng quân tiến thẳng về phía Berlin. Bởi vì xét về phương diện quân sự, trong thời gian tháng 8 ấy, thành phố Vácsava không nằm trong tầm kiếm soát của các đơn vị dưới quyền Zhukov. Phối hợp chiến đấu với quân đội Xô viết lúc đó là Tập đoàn quân Ba Lan số 1 của tướng Berling. Tập đoàn quân này tấn công vào Vácsava tháng 9, nhưng khi ấy lực lượng phòng thủ ngoan cố của Đức đã rút lui. Do vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, những người Ba Lan ở Vácsava đã phạm một sai lầm chết người.
Một nhà sử học người Anh, B.H. Liddell Hart, khi nghiên cứu sự kiện bi kịch này, cho rằng, lẽ tự nhiên là các lực lượng hoạt động bí mật của Ba Lan nghĩ rằng người Nga cố tình tiến quân chậm lại. Nhưng ông củng chỉ ra rằng, chính các yếu tố về quân sự chứ không phải chính trị khiến Mátxcơva không ào ạt tiến vào thành phố này 1 .
Có thể thấy sức mạnh các lực lượng quân Hitler tại Ba Lan mùa hè năm 1944 qua con số thương vong của Hồng quân trong chiến cục tàn khốc ở dây: 500.000 người.
---❊ ❖ ❊---
1. Trong những năm 1980, các tài liệu được giải mật của Anh cung cấp thêm nhiều bằng chứng cho thấy, Mátxcơva đã không được thông báo trước về cuộc khởi nghĩa ở Vácsava. Một ủy ban thuộc Bộ Tham mưu quân đội Anh đã báo cáo vào ngày 31 tháng 7 năm 1944, ngay trước hôm nổ ra cuộc khởi nghĩa: “Thật không thể chấp nhận được cả về chính trị lẫn quản sự khi tiến hành bất cứ hành động nào kiểu như vậy mà lại không có sự nhất trí và phối hợp của người Nga”. Sau chiến tranh, tướng Đức Kert von Tippelskirch đã viết trong cuốn Lịch sử của Đại chiến thế giới lần thứ hai (Berlin, 1956, tiếng Đức): “Cuộc nổi dậy ở Vácsava nổ ra bất ngờ ngày 1 tháng 8 khi không có lực lượng Nga”.