Nguyên Soái Zhukov Người Chiến Thắng Hitler

Lượt đọc: 903 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
hitler gây chiến

Ngày 3 tháng 9 năm 1939 - ngày Hitler tấn công Ba Lan đã trở thành ngày chủ nhật của Chúa, mở đầu cho một cuộc chiến tranh thế giới!

WILLAM L. SHIRER, Nhật ký Berlin, 1941

Nước Nga sẽ sụp đổ giống như một bộ bài.

Tiến sĩ JOSEF GOEBBELS, Những cuốn nhật ký, 1942 - 1943

Tôi nói với Stalin rằng, cần khoảng 40 phút để xác định các phương hướng của chúng ta.

G.K. ZHUKOV trong chiến tranh, ngày 26 tháng 6 năm 1941

---❊ ❖ ❊---

Ngày 31 tháng 8 năm 1939, một buổi tối mùa hè ấm áp ở thị trấn biên giới Gleiwitz của nước Đức, bọn phát xít xúc tiến âm mưu thực hiện cuộc tấn công khiêu khích. Một toán điệp viên của Hitler mặc quân phục lính Ba Lan bất ngờ tập kích đài phát thanh của thị trấn. Một số báo cáo khác nhau cho biết, thành viên của nhóm người này là những tên tội phạm được tuyển mộ trong một nhà tù ở địa phương để làm công việc bẩn thỉu trên. Tiếp đó, một tên lính "Ba Lan” bật micro, tuyên bố ngắn gọn rằng đã đến lúc tiên hành một cuộc chiến tranh với nước Đức rồi hô vang những khấu hiện chống Đức. Trong khi hắn ta phát biểu trên radio, những tên còn lại trong nhóm giả vờ thực hiện một cuộc đọ súng với toán lính biên phòng Đức, những tiếng nổ sẽ dược thu vào micro. Không rõ liệu những tên tội phạm hay “những binh lính Ba Lan” đó có sống sót sau vụ việc này không. Một số người kể, họ đã nghe thấy những tiếng súng và một số xác chết.

Lời tuyên bố chỉ kéo dài trong 7 phút nhưng đã thể hiện được ý đồ. Cơ quan mật vụ Đức đã tiến hành nhiệm vụ tuyên truyền để tạo cớ cho Hitler tiến hành chiến dịch tấn công chớp nhoáng vào Ba Lan. Hai năm sau, tấn công đất nước Xô viết nhằm chiếm lấy “không gian sinh tồn” ở phía Đông, Hitler đã biện minh cho hành động của y bằng cách nói rằng, Stalin đang chuẩn bị tấn công hắn. Vì vậy, đó là “một cuộc chiến ngăn chặn”").

Hải quân Đức nổ súng mở màn cuộc chiến tranh trên đất nước Ba Lan vào sáng hôm sau sự kiện ở biên giới.

Vào 4 giờ 40 phút sáng ngày 1 tháng 9 năm 1939. tàu chiến Schleswig-Holstein của Đức, mới trước đó 7 ngày đã thực hiện một “chuyến thăm hữu nghị” tới thành phố tự do Danzig (Gdansk), bất ngờ liên tiếp nã đạn vào pháo đài Westerplatte của Ba Lan bên bờ biển trong khi các xe lội nước từ trên tàu đổ bộ 4.000 quân lên bờ. Cùng lúc, các cánh quân của Đức ồ ạt tiến vào Ba Lan trên toàn tuyến biên giới. 2.000 máy bay đã thả hàng nghìn tấn bom xuống hàng trăm thị trấn, làng mạc vẫn còn chìm trong giấc ngủ của đất nước yên bình này. Trên những con đường giao thông chính chật cứng dòng người vô tội chạy loạn, không quân Đức có một ngày đáng nhớ. (Một báo cáo cho biết, trước buổi trưa khoáng một giờ tại những thị trấn trên đã có những nhóm hướng đạo sinh trang bị súng máy đứng trên bậc thềm các nhà thờ).

Chiến tranh thế giới lần thứ hai bắt đầu.

Zhukov đã có những bình luận chính trị về tình hình Ba Lan trong hồi ký thời chiến tranh. Ông đã tổng kết thời kỳ dẫn tới sự bùng nố Chiến tranh thế giới lần thứ hai này là “sự mau lẹ từ phía Hitler và sự thụ động của Anh và Pháp”, vì sau khi Đức tấn công Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939, các đồng minh của Ba Lan là Anh và Pháp mới chỉ làm mỗi một việc tuyên chiến với Đức chứ thực tế họ chưa hề “nhúc nhích một ngón tay nào”.

Ba Lan nhanh chóng bị đánh bại. Nhưng chí có một vài động thái phản đối ở phương Tây. Không đầy hai tuần trước khi cuộc xâm lược Ba Lan của Đức, ngày 23 tháng 8 năm 1939, Liên Xô và Đức đã ký Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Giữa tháng 9, Stalin đã đưa quân vào nửa lãnh thố phía Đông của Ba Lan nhằm ngăn chặn quân Hitler tiến sát vào biên giới phía Tây của Liên Xô. (Trong cuốn sách Đây chính là Liên Xô xuất bản ở Luân Đôn năm 1943 của mình, trung úy không quân Anh Hubert Griffith đã đưa ra một quan điểm rất thú vị rằng, nếu quân Đức gần thủ dô nước Nga hơn vài trăm dặm nữa và có mọi cơ may thì Mátxcơva đã bị sụp đổ, và không chỉ có Mátxcơva).

---❊ ❖ ❊---

1. Tại tòa án quàn sự quốc tế Nuremberg năm 1946, Hans Fritzsche, Cục trưởng Báo chí nội địa, Bộ Tuyên truyền của Goebbels khai, người Đức không có lý do gì để cáo buộc Mátxcơva đang chuẩn bị một cuộc tấn công vũ trang. Giáo sư sử học Đức Gerhard Ritter cũng đã viết như sau: "Đã đến lúc phải từ bỏ câu chuyện '"huyền thoại" của Đức Quốc xã rằng cuộc chiến tranh chống đất nước xỏ viết là cuộc chiến mang tính ngăn chặn, đó là một hành động phòng vệ nhằm chống lại một cuộc tấn công có chủ ý... Đó không phái là một cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ châu Âu mà nói đúng hơn là nhằm giành quyền thống trị trên toàn lục địa này" (Stuttgarter Zcitung).

Quyết tâm nhanh chóng thôn tính Ba Lan của Hitler càng trở nên rõ rằng hơn đối với mọi người sau một vài tháng. Ví dụ, sau khi có buổi nói chuyện với Hitler và Bộ trưởng Ngoại giao Đức Ribbentrop vào giữa tháng 8, Bộ trưởng Ngoại giao Italia Count Ciano đã viết trong nhật ký: “Quyết định tấn công là không thể thay đổi... Chẳng có điểu gì có thể ngăn chặn được quyết định này. Hitler đã quyết định tấn công và ông ta sẽ tấn công”. D.F. Fleming cũng cho rằng, quyết định tấn công Ba Lan đã được ấn định trước khi Đức ký Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau với Liên Xô và theo một số tài liệu của Toà án Quân sự quốc tê ở Nuremberg thì kế hoạch cụ thể về việc gây chiến với Ba Lan của Hitler -Chiến dịch Trắng - là một phần trong Chính sách quân sự của Đức tháng 4 năm 1939.

Không để phí phạm bất cứ giây phút nào, Hitler đã bắt đầu thực hiện âm mưu thôn tính châu Âu, xây dựng một chế độ khủng bố và bạo lực tại các nước chiếm đóng, đồng thời tuyên bố “quyền” được diệt chủng mọi dân tộc khác. Tư tưởng thù hận dân tộc đặc biệt nhằm vào người Slav, không thừa nhận người Do Thái, cuộc săn lùng “Không gian sinh tồn” của người Đức ở phía Đông vẫn tiếp tục. Đây là một trong những học thuyết cũ nát nhất của Hitler.

Một bằng chứng tiết lộ về kế hoạch thôn tính của Hitler cũng như những học thuyết chủng tộc vô lý của hắn được tìm thấy trong chính “thánh kinh” điên cuồng có nhan đề Mein Kampf. Một sự thật hầu như không được biết đến là, Hitler đã cắt bớt một số phần còn kinh khủng hơn nhiều trong học thuyết Quốc xã của hắn ngay trước thời điểm có Hiệp ước Munich năm 1938. (Thỏa hiệp này do Đức, Ý, Pháp và Anh ký kết, cho phép Hitler, theo cách nói của nhà sử học Mỹ Herbert Feis, chia cắt Tiệp Khắc, bỏ mặc Ba Lan và Liên Xô cho Đức đánh chiếm). Trước khi chiến tranh nổ ra, các chính trị gia đã đọc cuốn Mein Kampf qua bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp đều không biết mình đang đọc một trong những cuốn sách đã được xuất bản có chọn lọc của Hitler, trong đó đã cắt bỏ một số phần nhằm làm tiêu tan mọi nghi ngờ của chính phủ Anh và Pháp. Đầu những năm 1930, các luật sư của Hitler đã đệ đơn kiện một nhà xuất bản của Pháp đã cố gắng vô ích nhằm đưa ramột bản dịch nguyên bản cuốn sách này 1 .

Ngày 21 tháng 6 năm 1941. một ngày trước khi tấn công Liên Xô, Hitler gửi một thông điệp cho Mussolini nói rằng, từ trước tới nay hắn luôn sống trong nỗi lo sợ rằng Stalin sẽ tấn công trước và làm hỏng kế hoạch tiến hành một cuộc oanh tạc quy mô lớn bằng không quân vào nước Anh của hắn; bây giờ là lúc hắn bắt đầu “cuộc chiến ở phía Đông” và chắc chắn sẽ giành “thắng lợi lớn”. Hitler nói: “Duce, tôi đã chờ cho tới giờ phút này để báo cho ngài biết thông tin này bởi vì quyết định cuối cùng sẽ chỉ được đưa ra sau 7 giờ tối nay”. Hitler không hề nghi ngờ khi hy vọng rất nhiều người ở các nền dân chủ Phương Tây vốn lo sợ trước mối để dọa từ những người Cộng sản Bônsêvích hơn là hiểm họa phát xít giờ đây cảm thấy có một chỗ dựa tinh thẩn là Đảng Quốc xã.

Những bước chuẩn bị của phát xít Đức cho cuộc tấn công ồ ạt chớp nhoáng sắp diễn ra ở phía Đông, được biết với tên gọi “Kế hoạch Barbarossa”, liên quan đến rất nhiều lĩnh vực -quân sự, kinh tế, chính trị và tư tưởng - nhằm đánh bại và xóa sổ Liên bang Xô viết và “thanh toán” một phần lớn dân số Nga. Tại Anh, nước sau đó sớm trở thành một đồng minh của Liên Xô, Winston Churchill đã cảnh báo về tình hình nguy ngập của đất nước: “Chúng ta không còn được an toàn trên quốc đảo của mình nữa”.

---❊ ❖ ❊---

1. Theo các kế hoạch của Hitler, Anh và Pháp, hai quốc gia thường được ca ngợi là có những đóng góp vô cùng to lớn đối với nền văn minh của thế giới phải bị tiêu diệt. Liệu nước Đức có giành chiến thắng trong cuộc chiến này không và tương lai của Anh nằm trong lời tiên đoán của Walter Dare, một chuyên gia dân tộc học của phát xít Đức: “Ngay khi đánh bại nước Anh, chúng ta sẽ phải tiêu diệt người Anh và sau đó là tất cả những thứ khác. Những đàn ông tráng kiệu, khỏe manh sẽ được đưa vế Đức. Những người già yêu sẽ bị giết sạch”. Đối với nước Pháp, Hitler tuyên bố, đó là “đất nước của dân da đen" nên cần phải bị tiêu diệt và Pháp là một “quốc gia thoái hóa, suy đồi, dâm dục” nên không thể Đức hóa được. Tuy nhiên, những kế hoạch tận thế này của Đức đối với Pháp và Anh là để ngụy trang cho một chiến dịch dự định thành công ở Liên Xô.

Cho tối ngày 22 tháng 6 năm 1941, mặc dù cũng lo lắng như nhiều đồng đội về những kẻ thù tiềm tàng của Mátxcơva, nhưng Zhukov hầu như không phát biểu gì, tỏ ra ngần ngại khi tham gia vào các cuộc tranh luận ở cấp cao nhất về các công tác chuẩn bị cho chiến tranh của đất nước. Nhưng khi quân Hitler xuất hiện, Zhukov đã lên tiếng (sau này ông thừa nhận đã có sự lúng túng trong một gian ngắn trong ban lãnh đạo của Stalin) và kinh nghiệm từng trải của ông đã được thể hiện khi ông được giao gánh vác vai trò “người dàn xếp”. Và ông cũng sẵn sàng và quyết tâm khi thấy cần thiết phải tranh luận với Stalin. Mặc dù có những sai lầm, nhưng Stalin cũng đã nhanh chóng nhận ra khả năng thích ứng của Zhukov trong việc giải quyết các vấn để khó khăn, các tình huống gay cấn trên chiến trường.

Mặc dù Kremlin tính toán sai thời điểm quân Đức xâm lược và chậm trễ trong việc triển khai những bước đi cần thiết đế báo động cho quân đội ở tiền tuyên, nhưng Bộ Tổng Tham mưu Xô viết đã không đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Đức. Trước khi phát xít Đức tấn công, bản thân Zhukov đã nhận thức được khả năng thực tế là quân Đức đang rất mạnh nên Hồng quân sẽ không thế giữ được các khu vực biên giới trong trường hợp chúng tấn công. Trong suốt nửa sau thập niên 1930, Đức được xác định là kẻ thù tiềm tàng chủ yếu của Liên Xô và giới chuyên gia quân sự nước ngoài đã nhiều năm liền lưu ý việc Hồng quân đang ra sức củng cố, nâng cao sức chiến đấu. Trong bài diễn văn trước các học viên quân sự tháng 5 năm 1941, một tháng trước khi phát xít Đức xâm lược, Stalin thừa nhận nước Đức “có quân đội mạnh nhất cả về phương diện trang bị vũ khí lẫn tổ chức”. Nhưng ông cũng nói thêm: “Người Đức đang phạm sai lầm nếu họ nghĩ rằng quân đội của họ là một đội quân lý tưởng, không thề chiến bại”.

Tại thời điểm tấn công xâm lược Liên Xô, sức mạnh quân sự của Đệ tam Đế chế Đức dựa trên nền kinh tế chiến tranh hùng mạnh đã được xây dựng trong những năm 1930. Trong suốt chiến tranh, tiềm năng kinh tế chiến lược của Đức tăng đột biến do nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu thô và cơ sơ hạ tầng công nghiệp của gần như toàn bộ châu Âu đều nằm trong tầm kiểm soát của Đức. Vũ khí đạn được, trang thiết bị kỹ thuật của quân đội Quốc xã được cung cấp từ các công xưởng ở Áo, Bỉ, Pháp và Tiệp Khắc, trong khi các quốc gia trung lập như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và Thuỵ Điển chuyến cho Đức những nguyên nhiên liệu thô chiến lược như thiếc, vônfram, niken, crôm và quặng sắt. Khi xâm lược Liên Xô, sản lượng kim loại, năng lượng điện và than đá của Đức và các nước bị chiếm đóng ít nhất là gấp hai lần sản lượng của Liên bang Xô viết. Sự chênh lệch này càng trở nên sâu sắc hơn khi quân Hitler chiếm được ngày càng nhiều các vùng công nghiệp phía Tây của Liên Xô.

Vì cho rằng Đức chiếm ưu thế trong thời gian đầu chiến tranh nên hầu hết các chuyên gia Mỹ và Anh đều nhất trí rằng, người Đức sẽ nhanh chóng cắt gọn toàn bộ nước Nga giống như một con dao sắc cắt một miếng bơ và chiến tranh sẽ kết thúc trong vòng vài tháng chứ không muốn nói là chỉ vài tuần. Nhiều báo chí phương Tây đã ví nước Nga Xô viết là một gã khổng lồ đứng trên đôi chân đất sét.

Khi các đạo quân của Hitler đã trong tư thế sẵn sàng khai hỏa thì Georgi Zhukov đang đảm nhiệm các công việc tại Bộ Tổng tham mưu ở Mátxcơva. Tất cả các sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu Xô viết và Hội đồng Quốc phòng (Bộ quốc phòng Liên Xô), cũng giống như Zhukov, vẫn giữ nguyên nhiệm vụ theo cương vị như trước đây. Lý do là, trước ngày hôm đó, trung tướng Maxim Purkayev đã diện thoại cho Zhukov và cảnh báo với ông rằng, một thượng sĩ Đức đã chạy sang thông báo cho các chiến sĩ biên phòng Liên Xô rằng, quân Đức đang di chuyển tối các khu vực sát biên giới và cuộc tấn công sẽ bắt đầu vào sáng ngày 22 tháng 6. Khi đó, Zhukov với cương vị là Tổng Tham mưu trưởng còn Purkayev là Tham mưu trưởng Quân khu Kiev, Quân khu này có trách nhiệm vô cùng nặng nề là bảo vệ một vùng biên giới rộng lớn trong trường hợp Đức tấn công.

Mátxcơva nhận được hàng chục lời cảnh báo khác về một cuộc xâm lược sắp xảy ra, trong đó có cả những cảnh báo của một số đồng minh tương lai của Liên Xô. Churchill, người không hề giấu giếm thái độ chống chủ nghĩa Cộng sản và đã không ngừng có các hành động chống Nhà nước Xô viết suốt hai thập kỷ qua, ngày 3 tháng 4 năm 1941 đã cảnh báo Stalin về nguy cơ đang treo lơ lửng trên đầu Liên Xô. Trong hồi ký của mình, Zhukov cho biết, Stalin đã nhận thông điệp của Churchill với một nỗi hoài nghi. Trước đó, Stalin, vốn nổi tiếng về tính đa nghi, đã nói với Zhukov: “một người vừa gửi cho chúng ta một thông tin rất quan trọng về những toan tính của Chính phủ Hitler, nhưng chúng ta vẫn có nghi hoặc”. Theo Zhukov, Stalin đang để cập đến một nhân viên tình báo của ông là Tiến sĩ Richard Sorge, lúc đó đang là nhân viên của Đại sứ quân Đức tại Nhật Bản, nhưng bản thân ông không hề biết gì về điệp viên này cho đến tận khi chiến tranh kết thúc.

Một tháng trước khi Đức xâm lược, Sorge đã gửi thông điệp tới Mátxcơva, hầu hết là những dữ liệu chính xác, cụ thế về sự tập trung các lực lượng của Đức Quốc xã ở biên giới phía Tây Liên Xô. Trong thời khắc cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng của mình, một tuần trước khi chiến tranh nổ ra (ngày 15 tháng 6), Sorge đã gửi một bức điện ngắn nhưng rất chính xác về Mátxcơva: “Chiến tranh sẽ nổ ra vào ngày 22 tháng 6”. Ngay sau khi đánh lên không trung bức điện trên, Sorge và các thành viên trong lưới tình báo của ông đã bị cảnh sát Nhật bắt giữ. Sorge bị xử tử hình về tội gián điệp vào năm 1944.

Trong một nỗ lực đánh lạc hướng Liên Xô trước khi tấn công xâm lược, Bộ Tuyên truyền của Goebbles đã tổ chức một chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc trên diện rộng. Nhà sử học quân sự Pavel Zhilin thừa nhận, việc tuyên truyền rộng rãi những tin tức giả che giấu những bí mật về việc chuyên quân và tập trung quân ở phía Tây đã giúp Bộ Chỉ huy Đức đạt được những kết quả tích cực trong việc chuẩn bị cho một cuộc tấn công đầy bất ngờ vào Liên Xô. Trong hồi ký của mình, Zhukov đã để cập đến một chỉ thị của Bộ Chỉ huy tối cao của Hitler với tiêu đề “Đánh lạc hướng kẻ thù”, trong đó che đậy mọi công việc liên quan Kế hoạch Barbarossa. Ông cũng đề cập tới rất nhiều tin đồn và những thông tin giả do Cục tình báo của Bộ Tổng tham mưu Đức tung ra. Ngoài những thông tin và tình tiết không rõ ràng trôi nổi trong suốt một năm trước cuộc xâm lược, còn có những tin đồn được lan truyền về việc các lực lượng vũ trang Anh, Pháp đang chuẩn bị xâm lược vùng Caucasus; rằng những tài liệu ma đã được in ra để “khẳng định” có những quyết định này. (Trong suốt cuộc chiến tranh biên giới giữa Liên Xô với Phần Lan năm 1939 - 1940, ở Paris và Luân Đôn vẫn có những kẻ ủng hộ các biện pháp trả đũa chống lại Mátxcơva).

Tới tận ngày 22 tháng 6, Kremlin vẫn nhận được những báo cáo tình báo không chính xác, thậm chí là đầy mâu thuẫn. 3 tháng trước khi Đức xâm lược, tướng F.I. Golikov, Cục trưởng Cục Tình báo của Bộ Tổng tham mưu Xô viết, đã trình một báo cáo nhận định, cuộc tấn công của quân Đức chống Liên Xô sẽ nổ ra sau khi Đức chiến thắng Anh hoặc đạt được một thỏa thuận hòa bình trong danh dự với nước này. Golikov cũng cho rằng, những tin đồn và những tài liệu phản ánh về cuộc chiến chống Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết là không thế tránh được, đó nên được coi là những thông tin giả do tình báo Anh hoặc có thể từ chính tình báo Đức tung ra. (Trong hồi ký của mình, Zhukov đã nhấn mạnh dòng cuối bằng chữ in nghiêng).

Ngay sau khi được thông báo về người lính hàng binh Đức, Zhukov đã điện cho Nguyên soái Timoshenko, Ủy viên nhân dân quốc phòng và Stalin. Zhukov và Timoshenko được triệu tập tới văn phòng của Stalin ở Kremlin.

Zhukov kể lại: “Mang theo bản dự thảo mệnh lệnh sẵn sàng chiến đấu cho quân đội, tôi tới điện Kremlin cùng với ủy viên nhân dân quốc phòng và trung tướng Nikolai Vatutin của Bộ Tổng tham mưu. Trên đường đi, chúng tôi nhất trí rằng bằng giá nào cũng phải có được mệnh lệnh sẵn sàng chiến đấu cho quân đội”.

Khi ba người đến, chỉ có một mình Stalin trong phòng, ông tỏ ra khá lo lắng:

- Bọn tướng Đức có thế dùng kế hàng binh để khiêu khích gây xung đột.

- Chúng tôi nghĩ rằng, tên hàng binh đó khai thật - Timoshenko trả lời.

Ngay lúc đó, các ủy viên Bộ Chính trị (những người chịu trách nhiệm xây dựng các chính sách của Đảng Cộng sản) bước vào.

Stalin hỏi:

- Chúng ta phái làm gì bây giờ?

Không ai trả lời cả.

Timoshenko nói rằng cần phải ngay lập tức ban hành lệnh báo động chiến đấu cho quân đội ở các Quân khu biên giới.

- Đọc nội dung xem nào! - Stalin nói.

Zhukov đọc to dự thảo mệnh lệnh.

Nghe xong, Stalin nói:

- Bây giờ còn quá sớm để ra mệnh lệnh đó, có lẽ vấn để này vẫn còn có thế giải quyết được bằng con đường hòa bình. Chúng ta phải chuẩn bị một chỉ thị ngắn gọn nêu rõ, một cuộc tấn công có thể nổ ra do những hành động khiêu khích của quân Đức. Các đơn vị bộ đội thuộc các Quân khu biên giới không được rơi vào bất cứ sự khiêu khích nào, phải tránh mọi rắc rối.

Ngay sau đó, Zhukov và Vatutin sang phòng bên cạnh và nhanh chóng thảo một chỉ thị gửi các Quân khu biên giới. Quay trở lại phòng Stalin, họ xin phép được đọc bản thảo. Sau khi nghe, Stalin tự đọc lại một lần nửa, sửa chữa một số điểm. Timoshenko và Zhukov cùng ký vào mệnh lệnh này.

Các cánh quân Đức bắt đầu tấn công trước rạng sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 từ ba hướng chính. Zhukov khẳng định, những báo cáo được đề cập sau chiến tranh noi rằng, khi đó một số tư lệnh vẫn bình thản hoặc là đang ngủ ngon lành hoặc là đang lạc quan vui vẻ mà không hề nghi ngờ gì về một thám họa sắp xảy ra trên đất nước mình, là hoàn toàn sai lệch. Điều không gây tranh cãi trong giới sử học là những đợt tấn công đầu tiên vào ngày 22 tháng 6 đã làm cho Liên Xô bất ngờ.

Những đợt tấn công, cả trên mặt đất lẫn trên không, thực sự gây sửng sốt. Vì vậy, hàng trăm máy bay của Liên Xô đã bị bắn cháy nhiều đến mức Thống chế Albert Kesselring đã miêu tả việc bắn hạ các phi công Nga giống như việc giết những đứa trẻ.

Vào buổi chiều ngày quân Đức tấn công, Zhukov nhận nhiệm vụ đầu tiên. Stalin đã điện cho Zhukov, nói rằng: “Các tư lệnh ngoài mặt trận của chúng ta thiếu kinh nghiệm trận mạc và rõ ràng là có một chút bối rối”. Quyết định cử Zhukov tới Phương diện quân Tây Nam đã được thông qua, ông sẽ thôi giữ chức Tổng Tham mưu trương và đáp máy bay tới thành phốKiev đang trong tình hình nguy kịch. Stalin thấy tự ái khi Zhukov hỏi lại rằng, ai sẽ đảm trách cương vị Tổng Tham mưu trương thay ông. “Đừng lãng phí thời gian!”, Stalin ngắt lời và nói thêm rằng Zhukov nên đế Vatutin giữ chức vụ đó.

“Tôi điện thoại cho gia đình, nói với mọi người đừng chờ đợi tôi”, Zhukov kể, “và 40 phút nữa tôi sẽ lên máy bay. Chỉ tối lúc đó tôi mới nhớ ra là mình chưa có chút gì vào bụng suốt từ hôm qua đến giờ. Các phi công đã giúp tôi qua cơn đói, họ đưa cho tôi cốc trà lớn và mấy chiếc bánh sandwich”.

Zhukov bước vào cuộc chiến tranh kéo dài 1.418 ngày đêm như vậy.

Trong những tuần và tháng đầu tiên của chiến tranh, cuộc sống đối với Zhukov là những đòi hỏi đặc biệt khắt khe. Ông thường xuyên phải làm việc tới 20 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Để giữ cho đầu óc tỉnh táo, ông uống rất nhiều cà phê và khi ngoài trận địa có tuyết rơi, ông thường ra ngoài trượt tuyết tối 15 phút. Suốt nhiều giờ đồng hồ liền ông đắm mình bên những chiếc bản đồ, gửi điện cho các chỉ huy ngoài tiền tuyên, đưa ra các mệnh lệnh, thảo luận các chiến thuật với các sĩ quan tham mưu cấp cao, chỉnh sửa cái này, gác sang một bên hay gạt bỏ những cái mà ông thấy không đem lại hiệu quả. Ông bay từ khu vực chiến trường này sang khu vực khác, nghiêm khắc nhắc nhở những sĩ quan có vẻ lúng túng trong chỉ huy và như nhiều người kể lại, ông ra lệnh bắn bỏ những kẻ đào ngũ và nhát gan. (Người ta còn nói đội bảo vệ cơ động của ông còn thực hiện luôn cả nhiệm vụ của một đội hành quyết). Trên thực tế, sự xuất hiện thường xuyên của ông đã củng cố thêm niềm tin cho bộ đội. Trong khi đó, vẫn thường xuyên có các cuộc họp với Stalin, người mà ông đã từng có lúc kính sợ nhưng trong thâm tâm ông không còn thấy đó là một người nổi tiếng về sự kiêu ngạo. Zhukov sớm nhận thấy Nhà lãnh đạo vĩ đại không phải là người không thể phạm sai lầm. Một lần, các sĩ quan khác đang chờ để gặp Stalin tại điện Kremlin đã kinh hãi khi nghe thấy Zhukov và Stalin rất to tiếng với nhau. Nhưng số tướng lĩnh có đủ cam đảm “đối đầu” với Stalin và “sống sót” chỉ đếm trên đầu ngón tay và Zhukov là người đứng đầu trong số đó. Hai người vẫn duy trì mối quan hệ như vậy trong suốt thời gian chiến tranh và mỗi người đều thấy được ở người kia một sự tôn trọng mặc dù mối quan hệ đó chưa bao giờ phát triển thành quan hệ bằng hữu. Zhukov khám phá ra một điều là Stalin luôn có những trạng thái tâm lý trái ngược nhau và là người độc đoán, gia trưởng; ông đã học được cách xác định tâm trạng của Stalin thông qua cách vị Tư lệnh Tối cao đế chiếc tẩu hút thuốc hiệu Dunhill của ông đỏ lửa lên hay không và cách ông vuốt bộ ria hay thậm chí là kiểu quân phục ông đang mặc.

Ban đầu, Hồng quân rõ ràng là mất ưu thể trước kẻ thù mạnh hơn, được trang bị tốt hơn và có kinh nghiệm chiến đấu hơn. Quân xâm lược vượt trội lực lượng Hồng quân về chất. Chúng có 190 sư đoàn với khoảng năm triệu rưỡi lính, khoảng 5.000 xe tăng, 47.000 cỗ pháo và đại bác các loại, 4.500 máy bay chiến đấu và khoảng 200 tàu chiến. Đối địch VỚI lực lượng hùng mạnh đó, Hồng quân chỉ có khoáng 170 sư đoàn với khoảng 3 triệu người, gần 14.000 xe tăng và hơn 10.000 máy bay chiến đấu; đồng thời chất lượng trang bị, vũ khí của Hồng quân còn xa mối đạt tới mức mong đợi.

Những tâm trạng thường bộc lộ rất rõ ở giai đoạn đầu khi quân Đức thực hiện chiến thuật tấn công ồ ạt, chớp nhoáng và Zhukov nhận thấy một tuần sau khi phát xít Đức xâm lược, Stalin đã hai lần có “phản ứng rất gay gắt” trước những vụ việc có tính chất báo động.

Thảm họa giáng xuống Liên bang Xô viết vào những tuần và tháng đầu tiên của cuộc chiến đã được mô tả lại trong hàng nghìn cuốn sách và bài báo. Nhiều chuyên gia tin rằng, tinh thần sẵn sàng chiến đấu của Liên Xô lúc đó là rất kém do ảnh hưởng bởi những phân tích không sâu sắc, chính xác tình hình khi các lực lượng của Đức đang triển khai trên phạm vi rộng, dọc khắp tuyến biên giới, sẵn sàng cho một cuộc xâm lược. Cũng đã có những thông tin chính thức xác nhận, đã có ít nhất một vài đơn vị biên phòng Liên Xô lúc đó vẫn đang đặt trong cấp báo động của thời bình. Và cũng còn rất nhiều sĩ quan Hồng quân thiếu kinh nghiệm và chưa được huấn luyện kỹ lưỡng. Còn một nguyên nhân khá thuyết phục đó là, di sản do cuộc thanh trừng của Stalin trong quân đội. Năm 1941, quân đội Xô viết vẫn gặp nhiều khó khăn khi phải giải quyết những hệ luỵ của “Cuộc đại thanh trừng” cuối những năm 1930 dẫn đến việc hàng nghìn sĩ quan cấp cao bị xử bắn hay bỏ tù. Zhukov đã kể lại các cuộc thanh trừng đó một cách cay đắng trong hồi ký, nhắc tới một số sĩ quan cao cấp đã bị bắn mà ông biết với tư cách cá nhân. Một người trong số họ là Nguyên soái Tukhachevsky, người được ông trìu mến gọi là “một nhà lý luận quân sự xuất sắc, một trong những ngôi sao sáng nhất”. Trong những năm 1930, Tukhachevsky đã cảnh báo “kẻ thù số một của chúng ta là nước Đức”.

Zhukov cũng chỉ ra những thất bại của Stalin trong thời gian trước chiến tranh, chẳng hạn: “Một vài tháng trước chiến tranh, ban lãnh đạo đã không đưa ra bất cứ hành động gì mà đáng ra phái làm khi mối đe dọa của một cuộc chiến tranh đang ngày một lớn”. Ngoài ra, mặc dù rõ ràng là ông không công kích Nhà lãnh đạo về những cuộc thanh trừng nêu trên, nhưng ông cũng không phải làm điều đó: sự chú ý của ông trước những mất mát của Tukhachevsky cùng các sĩ quan cấp cao khác đã trở thành một bản cáo trạng nặng nề đối với Stalin và quyền lực độc đoán của ông ta. Nhưng theo quan điểm của Zhukov, Stalin đã thể hiện rất tốt trong lĩnh vực chính trị, vì Stalin đã đưa Liên Xô nằm ngoài cuộc chiến với nước Đức của Hitler trong gần hai năm, tạo điều kiện để cả nước, trong đó có quân đội, có thời gian để củng cố tiềm lực và giúp quân đội có khoảng thời gian nhất định để thực hiện tái tổ chức, mặc dù quãng thời gian đó không được trọn vẹn cho tới ngày phát xít Đức mơ cuộc tấn công xâm lược.

Zhukov là người biết tự phê bình. Ông luôn tự trách cứ bản thân và phê phán giới quân sự về những thiếu sót trong thời kỳ trước chiến tranh. Tuy nhiên, ông cũng giải thích, trước khi quân Đức xâm lược, ông mới chỉ đảm nhiệm cương vị Tổng Tham mưu trưởng chưa được 5 tháng và rằng, không thể đạt được nhiều kết quả đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy. Nhưng ông cũng không mập mờ khi nói: “Tôi muốn phát biểu rõ ràng, sai lầm của những người lãnh đạo không thế đổ lỗi cho sự ngớ ngẩn và đánh giá không đúng của các chỉ huy quân sự ở mọi cấp”.

Khi quân Đức tiếp tục cuộc tấn công quy mô lớn của chúng, điều một lực lượng lớn binh lính cùng hàng trăm xe thiết giáp từ lực lượng dự bị chiến lược để bố sung cho những thiệt hại, một số tướng lĩnh Đức đã bắt đầu nhận ra “con đường phía trước” không phải tất cả đều “bằng phẳng”. Ngay sau khi tấn công, Franz Haider, Tham mưu trương các Lực lượng mặt đất của Đức đã ghi trong nhật ký: “Đối phương đang điều động một lực lượng quân thiện chiến, sung sức mới từ hậu phương lên chống lại đòn tiến công bằng xe tăng của chúng ta... Đã ghi nhận có sự chuyển quân ở nhiều khu vực”. Một sĩ quan Đức khác, tướng tăng thiết giáp Hermann Hoth, nhớ lại những tuần đầu tiên của cuộc chiến: “Khó khăn lớn nhất cản bước tiến của quân Đức chính là những đòn giáng trả quyết liệt của đối phương”.

Và đây là điều mà Thống soái Đức Erich von Manstein đã viết trong cuốn sách Những chiến thắng bị đánh mất về giai đoạn khi quân Liên Xô liên tiếp chịu những thất bại lớn: “Chúng tôi sớm buộc phải phòng ngự ở bờ phía Bắc của sông Dvina (phía Tây Mátxcơva) để đối phó với các cuộc tấn công được một sư đoàn xe tăng hỗ trợ của quân địch. Tại một số khu vực khác, tình hình cũng trở nên rất trầm trọng”.

Mặc dù, Zhukov thừa nhận trong những tuần đầu tiên, bộ đội của ông không thể đập tan được quân địch và cản đường tiến của chúng, nhưng họ đã đạt được mục tiêu chính là ngăn chặn được lực lượng xung kích của địch tiến vào Kiev. Tuy nhiên, Zhukov cũng cho biết, mặc dù các sĩ quan và chiến sĩ có tinh thần chiến đấu anh dũng, đội ngũ chỉ huy rất vững vàng, nhưng tình hình ở tất cả các khu vực tại Phương diện quân Tây tiếp tục xấu đi. Sẩm tối những ngày cuối tháng 7. Hồng quân Liên Xô rút lui khỏi Minsk, thủ đô của Belorussia (nay là nước Cộng hòa Belarus). Khi tràn vào trong thành phố, bọn Đức bắt đầu một cuộc tàn sát đã man người dân nơi dây, đốt cháy và phá hủy những tòa nhà, những công trình kiến trúc văn hóa, nghệ thuật, trong đó có cả các bảo tàng lịch sử.

Trong khi tình trạng thiếu chuẩn bị và hỗn loạn diễn ra trên lĩnh vực quân sự, thì một hình ảnh hoàn toàn trái ngược lại diễn ra ở hậu phương, đặc biệt là ngành công nghiệp nặng, trong đó có cả công nghiệp quốc phòng. Trước khi chiến tranh nổ ra, Liên Xô đã rất khôn ngoan khi xây dựng một cụm công nghiệp sản xuất các phương tiện chiến tranh thứ hai ở khu vực sông Volga, vùng Urals và Siberia, rất xa khu vực biên giới. Mùa hè năm 1941, gần một phần tư các nhà máy sản xuất vũ khí, đạn được đã được tập trung ở các khu vực này. Sau khi chiến tranh nổ ra, hàng trăm nhà máy trước đây dóng ở các khu vực thuộc châu Âu của Liên Xô được chuyển sang phía Đông của sông Volga. Đây chính là một quyết định mang tính chiến lược của Liên Xô trong cuộc chiến tranh này.

Trong cuốn hồi ký viết nhiều thập kỷ sau chiến tranh, Zhukov đã đánh giá về quân đội Liên Xô trước cuộc chiến tranh như sau:

Ý chí, tinh thần chiến đấu và nhận thức về chính trị của sĩ quan và chiến sĩ là rất cao... Nhưng lúc này, tôi không thể nêu ra một khía cạnh đơn lẻ nào trong quá trình phát triển lớn mạnh của các lực lượng vũ trang của chúng ta mà đáng bị gạt ra cả. Khoảng thời gian từ năm 1939 đến giữa năm 1941 (thời gian Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau giữa Berlin và Mátxcơva có hiệu lực) đánh dấu một sự chuyển biến toàn diện, biến Hồng quân Liên Xô thành một quân đội tinh nhuệ, sẵn sàng làm tốt nhiệm vụ bảo vệ đất nước.

Liệu Zhukov có cường điệu hóa không? Liệu các nước khác đã phải chuẩn bị tốt hơn nữa để chống lại Hitler ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai không? Tháng 5 năm 2001, tiến sĩ Vladimir Zolotarev, Giám đốc Học viện Lịch sử Quân sự Nga, đã phát biểu, mặc dù quân Liên Xô đã bị thất bại trong những tháng đẩu của cuộc chiến tranh, nhưng họ kiên cường chiến đấu bảo vệ Tố quốc. Và khi đó, Hitler đã xâm lược Ba Lan và chiếm đóng một số quốc gia châu Âu khác, nước Pháp với quân đội mạnh thứ hai ở châu Âu đã đầu hàng vô điều kiện vào tháng 6 năm 1940.

Zhukov kết luận: “Lịch sử cho chúng ta quá ít thời gian hòa bình đế có thể sắp xếp mọi thứ vào đúng vị trí của nó. Chúng ta đã làm tốt được nhiều việc nhưng cũng không còn thời gian để hoàn thành nhiều việc. Việc chúng ta đã tính toán sai lầm về thời gian có thể nổ ra cuộc tiến công của phát xít Đức là một minh chứng. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những sai sót trong công tác chuẩn bị chống lại những trận tấn công ác liệt đầu tiên của kẻ thù.”

Khi chiến tranh diễn ra, Zhukov liên tục phải trao đổi hay tới gặp các sĩ quan chỉ huy trên chiến trường. Ngày cuối cùng của tháng 6, Zhukov nói chuyện qua điện thoại với Tư lệnh Phương diện quân, tướng lục quân Pavlov. “Tôi nhận thấy, bản thân đồng chí Tư lệnh không nắm vững được tình hình ở đây”, Zhukov nói.

Dưới đây là một đoạn cuộc nói chuyện giữa Zhukov và Pavlov, một trong những ví dụ điển hình trong vô số những cuộc bàn bạc giữa ông và các chỉ huy khác trong chiến tranh, khi ông không thể lập tức có mặt ngay ở mặt trận để trực tiếp bàn bạc với họ. Những người biết Zhukov nói rằng, mặc dù là một lãnh đạo quân đội, nhưng Zhukov thường không giữ được bình tĩnh, hay tỏ ra nóng nảy và quát mắng những viên chỉ huy bất tài và không tuân lệnh. Tuy nhiên, cho dù phải xử lý những chỉ huy như vậy, ông vẫn giữ được bình tĩnh trong những tình huống khó khăn nhất. Trong trường hợp đặc biệt này, Zhukov biết thậm chí một sai lầm nhỏ trong chỉ huy bộ đội của Pavlov cũng sẽ đồng nghĩa với việc làm gia tăng những tốn thất về người.

Zhukov: Chúng tôi không thể có bất cứ quyết định nào đối với Phương diện quân Tây nếu chúng tôi không nắm được điều gì đang diễn ra ở các khu vực Minsk, Bobruisk và Slutsk. Đồng chí hãy báo cáo thực chất tình hình ở đó. Pavlov: ớ khu vực Minsk, Quân đoàn bộ binh số 44 đang rút về phía Nam đường Mogilev... ở khu vực Slutsk, theo các trinh sát không quân, Sư đoàn bộ binh cơ giới số 210 đã có một trận đánh rất ác liệt ngày hôm qua... Tại khu vực Bobruisk, lúc 4 giờ hôm nay, địch đã dựng một cây cầu và 12 xe thiết giáp của chúng đã vượt qua sông.

Zhukov: Quân Đức tuyên bố trên đài phát thanh rằng, chúng đã bao vây hai tập đoàn quân ta ở phía đông Belostok. Chắc hẳn tuyên bố này có phần nào đó đúng. Tại sao sở chỉ huy của đồng chí lại không cử liên lạc viên đi xác định vị trí của đơn vị đó? Các tướng Kulik, Boldin và Kuznetsov đang ở đâu? Quân đoàn kỵ binh đang đóng ở đâu? Chắc chắn, trinh sát không quân phải phát hiện ra lực lượng kỵ binh chứ.

Pavlov: Vâng, nhiều thông tin chúng nêu là đúng...

Zhukov: Nhiệm vụ chính của đồng chí là xác định vị trí các đơn vị trên càng nhanh càng tốt và rút các đơn vị này về phía sau sông Berezina. Cá nhân đồng chí phải trực tiếp chịu trách nhiệm về việc này và lựa chọn những sĩ quan có năng lực thực hiện nhiệm vụ này. Bộ Tư lệnh Tối cao yêu cầu đồng chí phải nhanh chóng tập hợp bộ đội toàn Phương diện quân và quân triệt tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Trong bất cứ tình hình nào, không được để quân địch đột kích được vào khu vực Bobruisk và Borisov.

Nhưng tình hình ở khu vực do Pavlov chỉ huy không được cải thiện. Ngày 30 tháng 6, Stalin gọi Zhukov về Bộ Tổng tham mưu và lệnh cho ông phải triệu tập Pavlov về Mátxcơva chịu kỷ luật.

“Tôi rất khó nhận ra đồng chí ấy. Đồng chí ấy đã thay đổi quá nhiều trong tám ngày của cuộc chiến tranh”, Zhukov nhận xét về Pavlov.

Tin vui duy nhất đến trong những ngày đầu chiến tranh là việc các tàu chiến ở Biển Đen, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Filipp Oktyabrshy đã dùng súng phòng không của Hạm đội đánh đuổi được một phi đội không quân phát xít và Pháo dài Brest ở khu vực biên giới vẫn tiếp tục phản công địch sau một tháng bị bao vây hoàn toàn. Những chiến sĩ phòng ngự anh hùng, trong đó có cả một số nữ bác sĩ, y tá, đã chiến đấu đến phút cuối cùng, không chịu đầu hàng.

Cuộc phản công lớn đầu tiên sau nhiều tuần là Chiến dịch Smolensk (từ ngày 10 tháng 7 đến 10 tháng 9 năm 1941). Đây là một chiến dịch quan trọng trong những chiến dịch diễn ra trong mùa hè đầu tiên của cuộc chiến tranh. Nhiều sư đoàn và trung đoàn của Đức, đã lên kế hoạch diễu binh qua các đường phố của thủ đô Mátxcơva, phá hủy hoàn toàn những khu vực xung quanh, cách thành phố Mátxcơva cổ kính của nước Nga khoảng 300 km về phía Tây.

Mặc dù Hồng quân không thể giữ được Smolensk, nhưng Zhukov gọi đó là một chiến dịch thành công về chiến lược. “Quân địch âm mưu chia cắt Phương diện quân Tây của chúng ta bằng cách huy động những lực lượng xung kích hùng hậu chống lại chúng ta, bao vây các lực lượng chủ lực Xô viết ở Smolensk và từ đó mở đường tiến vào Mátxcơva. Một trận chiến ác liệt diễn ra bên cạnh những bức tường của Smolensk, nơi đây từng là một rào cản không thể đánh chiếm được đối với quân của Napoleon trên đường tiến vào Mátxcơva”. Ồng cho biết: “Ở Smolensk, giao tranh ác liệt diễn ra trong từng ngôi nhà, từng đường phố và từng khu dân cư”. Các đơn vị Xô viết có thế ngăn chặn được quân Đức trong một thời gian ngắn, điều này cho phép Hồng quân có thêm thời gian và thành lập được các đơn vị dự bị chiến lược, đồng thời có thời gian xây dựng những khu phòng ngự ở khu vực Mátxcơva 1 .

Zhukov cho biết, mặc dù không thể đập tan quân địch ở Smolensk như Bộ Tư lệnh tối cao Xô viết đề ra, nhưng lực lượng xung kích của địch đã “rơi vào tình trạng mệt mỏi, rã rời và có dấu hiệu xuống sức”. (Một điều ngẫu nhiên là, chính trong trận Smolensk này, một loại vũ khí mới - súng bắn tên lửa liên hoàn có tên là Katyushas - đã được bộ đội Liên Xô sử dụng lần đầu tiên). Bọn Đức thừa nhận rằng, tại Smolensk, chúng đã mất 250.000 sĩ quan và binh lính. Ngày 30 tháng 7, Bộ Chỉ huy Đức Quốc xã ra lệnh cho Cụm tập đoàn quân Trung tâm phải tăng cường các vị trí phòng ngự.

Tổng kết về chiến dịch này, Zhukov cho biết, trận Smolensk cùng với các cuộc tấn công, phản công của bộ đội Xô viết, các Phương diện quân Bắc và Tây Bắc cũng như Hạm đội Baltic và lực lượng không quân đã gây ra “một lỗ hổng lớn” cho quân Đức trong Kế hoạch Barbarossa. Zhukov tỏ ra hài lòng với kết quả của Chiến dịch Smolensk vì theo ông, thực tế trận đánh này đã khiến quân Đức phải ngừng tấn công, cho dù chỉ trong một thời gian ngắn, đó là “một thắng lợi chiến lược quan trọng”. Giờ đây, mọi người đều nhất trí rằng, chính tại Smolensk, học thuyết đánh nhanh thắng nhanh của Hitler đã bị thất bại thảm hại lần đầu tiên kế từ khi Ba Lan thất thủ năm 1939.

---❊ ❖ ❊---

1. Ngay sau cuộc tấn công xâm lược Liên Xô, tướng Gunther von Kluge và các sĩ quan khác của Đức bắt đầu đọc các sách lịch sử về cuộc xâm lược Nga đầy tai hại của Napoleon năm 1812. Hitler củng đã nghiên cứu chiến dịch của Napoleon ở Nga. Hắn nói: “Tôi sẽ không mắc những sai lầm tương tự của Napoleon". Tướng Gunther Blumentritt cho biết, ngoài Kluge, các tướng Brauchitsch, Haider, Jodi và Rundstedt đã đọc các ghi chép của Caulaincourt về chiến dịch tấn công Nga của Napoleon với sự tập trung nhiều nhất. Nhưng trong Lễ Giáng sinh năm 1941, sáu tháng sau chiến tranh, khi quân phát xít rơi vào vết xe đổ của Napoleon trong chiến dịch nhằm thiêu trụi Mátxcơva, được biết, một mệnh lệnh của Đức Quốc xã được ban hành, cấm tất cả các sĩ quan đọc các sách viết về Napoleon.

« Lùi
Tiến »