Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 434 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XIII
alice pyncheon

Một hôm, có một lời nhắn từ ngài Gervayse Pyncheon đáng kính gửi cho chàng thợ mộc Matthew Maule, muốn anh lập tức có mặt tại ngôi nhà bảy đầu hồi.

“Ông chủ của anh muốn gì ở tôi?” Người thợ mộc hỏi tên đầy tớ da đen của ngài Pyncheon. “Ngôi nhà cần sửa chữa à? Vào tầm này thì cũng có thể lắm, mà đừng có đổ cho cha tôi người đã xây nó! Trước lễ Sabbath không lâu tôi đã đọc bia mộ của ông đại tá, và tính từ ngày đó thì ngôi nhà đã tồn tại ba mươi bảy năm. Chẳng có gì lạ nếu mái nhà cần sửa.”

“Tôi không biết ông chủ muốn gì.” Scipio đáp. “Ngôi nhà là một ngôi nhà rất tốt, và tôi đoán ngài đại tá Pyncheon cũng nghĩ thế, không thì tại sao ông cụ ám nó ghê thế, và dọa chết khiếp một tên da đen tội nghiệp, phải không nào?”

“Được rồi, anh bạn Scipio, báo cho ông chủ anh là tôi sẽ đến,” người thợ mộc cười nói. “Đối với một công việc cần sự lành nghề và khéo léo thì ông ấy tìm đúng người rồi. Và ngôi nhà bị ma ám hả? Phải triệu một tay thợ cứng cựa hơn tôi để đuổi những hồn ma khỏi ngôi nhà bảy đầu hồi. Ngay cả khi ngài đại tá giữ im lặng,” anh nói thêm, lẩm bẩm với chính mình, “ông nội tôi, thầy phù thủy, chắc chắn sẽ đeo bám gia tộc Pyncheon chừng nào những bức tường của bọn họ còn đứng vững.”

“Anh lẩm bẩm gì thế, Matthew Maule?” Scipio hỏi. “Và anh nhìn tôi trừng trừng thế để làm gì?”

“Đâu có, anh bạn nhẹ,” người thợ mộc nói. “Anh không nghĩ ngoài anh ra chẳng có ai nhìn trừng trừng à? Về báo với ông chủ là tôi sắp đến, và nếu anh tình cờ gặp cô Alice, con gái ông ấy, hãy gửi lời chào hèn mọn của Matthew Maule đến cô ấy. Cô ấy có một gương mặt yêu kiều kiểu Ý, yêu kiều, và dịu dàng, và kiêu hãnh, - đặc sệt Alice Pyncheon!”

“Hắn nói về cô Alice!” Scipio kêu lên, khi xong việc trở về. “Tên thợ mộc thấp hèn! Hắn mà cũng đòi nhìn cô ấy từ xa cơ đấy!”

Phải nói rằng chàng thanh niên Matthew Maule, làm nghề thợ mộc, là một người khó hiểu, và nói chung không được yêu thích lắm, ở thị trấn nơi anh sống. Không phải nhân cách, tay nghề hay sự chăm chỉ của anh trong công việc có thể dễ dàng bị bài bác. Mối ác cảm (có thể gọi như vậy) nhiều người dành cho anh một phần xuất phát từ tính cách và thái độ của anh, và một phần do đời trước.

Anh là cháu nội của một ông Matthew Maule quá cố, một trong những người định cư đầu tiên của thị trấn, và là một phù thủy nổi tiếng và đáng sợ ở thời của ông. Kẻ tội lỗi này là một trong những đối tượng bị nhắm vào khi Cotton Mather, và các mục sư anh em của ông ta, những thẩm phán học cao hiểu rộng, cả những nhân vật thông thái khác, và ngài William Phipps, vị thống đốc khôn ngoan, thực hiện những nỗ lực đáng ca ngợi nhằm làm suy yếu kẻ thù lớn của các linh hồn, bằng cách đưa một loạt các môn đồ của hắn lên con đường mòn gồ ghề đá của Đồi Gallows. Kể từ đó dấy lên một mối nghi ngờ, do hậu quả của một hành động được tung hô rầm rộ dẫn đến quá đà, chiến dịch bài trừ phù thủy cho thấy Đức Chúa Trời thiện lành thì ít mà kẻ thù không đội trời chung mà bọn họ định đánh bại và chôn vùi thì nhiều. Tuy nhiên nỗi sợ hãi và kinh hoàng trùm lên ký ức của những người đã chết vì tội ác khủng khiếp của yêu thuật này không hề nhỏ. Những ngôi mộ của họ, nằm giữa các kẽ đá, được cho là không thể giữ được những thân hình đã bị ném vào đó một cách vội vàng. Đặc biệt là ông già Matthew Maule, nghe bảo là chẳng do dự hay gặp khó khăn gì khi ra khỏi mộ của mình như một người bình thường ra khỏi giường, và thường xuyên được nhìn thấy vào nửa đêm giống như thấy người sống vào ban ngày. Lão phù thủy độc địa này (chịu hình phạt như thế song dường như chẳng hề hối cải), có một thói quen mãn tính là lui tới một tòa nhà, chính là ngôi nhà bảy đầu hồi kiểu cách, để đòi tiền thuê đất của chủ nhà. Có vẻ như hồn ma, với sự ngoan cố vốn là một trong những đức tính nổi bật của ông ta hồi còn sống, - khăng khăng cho rằng mình là chủ sở hữu hợp pháp của mảnh đất nơi ngôi nhà tọa lạc. Điều kiện của ông ta là, hoặc khoản tiền thuê đất đã nói trên, kể từ ngày bắt đầu đào móng, phải được thanh toán, hoặc tòa dinh thự tự dỡ bỏ; bằng không ông ta, hồn ma chủ nợ, sẽ nhúng tay vào mọi sự vụ của gia tộc Pyncheon, làm mọi thứ rối tung, dù có là hàng nghìn năm sau cái chết của ông ta đi nữa. Có lẽ đó là một câu chuyện điên rồ, nhưng dường như không quá khó tin đối với những ai còn nhớ thầy phù thủy già Maule cố chấp đến quyết liệt như thế nào.

Hiện giờ, cháu nội của thầy phù thủy, chàng trai trẻ Matthew Maule trong câu chuyện của chúng ta, được cho là thừa hưởng vài nét khả nghi của tổ tiên. Không biết có bao điều vô lý đã được lan truyền liên quan đến anh. Chẳng hạn như anh được đồn thổi là có một năng lực kỳ lạ có thể đi vào giấc mơ của con người, và điều chỉnh những tình tiết trong đó theo ý thích của mình, y như quản lý sân khấu của một nhà hát. Có bao nhiêu cuộc bàn tán giữa những người hàng xóm, đặc biệt là các bà các cô, về cái mà họ gọi là phép thuật của con mắt Maule. Một số người bảo anh có thể nhìn vào tâm trí con người, hoặc sai khiến họ, nếu anh thích, làm những việc vặt cho ông nội anh, trong thế giới linh hồn. Những người khác lại bảo nó có tên là Mắt Quỷ, và có khả năng làm tàn lụi mùa màng, làm trẻ con khô quắt thành xác ướp với trái tim bị đốt cháy. Nhưng xét cho cùng, những cái gây bất lợi nhất cho chàng thợ mộc là, đầu tiên, sự kín đáo và lãnh đạm trong tính cách của anh, kế đến, anh không phải là người chịu lễ ban thánh thể trong nhà thờ, và mối nghi ngờ anh nắm giữ những nguyên lý dị giáo trong những vấn đề tôn giáo và chính thể.

Sau khi nhận được lời nhắn của ngài Pyncheon, người thợ mộc chỉ nán lại làm nốt một công việc nhỏ đang dở tay, rồi lên đường đến ngôi nhà bảy đầu hồi. Tòa dinh thự nổi tiếng này, dù kiểu dáng có thể hơi lỗi thời, nhưng vẫn là một ngôi nhà đáng kính như bất cứ quý ông nào ở thị trấn. Người chủ hiện tại, Gervayse Pyncheon, nghe nói là bị ác cảm với ngôi nhà, hậu quả của một cú sốc tâm lý từ hồi nhỏ, do cái chết đột ngột của ông nội ông ta. Khi chạy đến trèo lên đầu gối đại tá Pyncheon, cậu bé phát hiện người Thanh giáo già đã là một xác chết. Đến tuổi trưởng thành, ngài Pyncheon đã đến nước Anh, ở đó ông kết hôn với một tiểu thư giàu có, và sau đó dành nhiều năm khi thì ở quê nhà, khi thì ở những thành phố khác nhau trên lục địa châu Âu. Trong giai đoạn này, tòa dinh thự của gia đình được giao cho một người bà con đến ở và trông nom, sửa chữa và giữ gìn. Thỏa thuận ấy đã được thực hiện rất cẩn thận, nên giờ đây khi người thợ mộc đến gần ngôi nhà, con mắt lành nghề của anh không phát hiện ra điểm gì để chê trách. Những chóp nhọn của bảy đầu hồi vươn lên nhọn hoắt, mái nhà lợp gỗ trông hoàn toàn kín khít không để nước lọt vào, và lớp vữa trát trên những bức tường bên ngoài lấp lánh trong ánh nắng tháng Mười, như thể nó mới hoàn thành cách đây một tuần.

Ngôi nhà có một vẻ sinh động giống như vẻ vui tươi của sự lanh lợi trên gương mặt con người. Ta có thể lập tức thấy rằng có sự xôn xao của một gia đình lớn bên trong nó. Một xe gỗ sồi lớn đang đi qua cổng tới dãy nhà phụ phía sau; bà đầu bếp to béo - hoặc có thể là bà quản gia - đứng ở cửa hồng, mặc cả giá gà tây và gà thịt do một bác nông dân mang đến bán. Thỉnh thoảng một cô hầu gái, ăn vận gọn gàng, và bây giờ là gương mặt đen bóng của một nô lệ, có thể thấy đang hối hả đi qua các ô cửa sổ ở tầng dưới. Bên một ô cửa sổ mở toang của một căn phòng trên tầng hai, đung đưa mấy chậu hoa xinh đẹp và thanh nhã, - những loài hoa ngoại lai, nhưng chưa bao giờ biết đến ánh nắng nào ấm áp hơn nắng mùa thu ở New England, - là dáng hình một cô gái trẻ, một người đẹp nước ngoài, giống như những bông hoa, xinh đẹp và thanh nhã như chúng. Sự hiện diện của cô truyền một vẻ duyên dáng khôn tả và một sức quyến rũ tinh tế cho cả tòa nhà. Ở những mặt khác, nó là một dinh thự đồ sộ, trông tươi tắn, và dường như thích hợp làm nơi ở của một trưởng tộc, người có thể đặt đại bản doanh của mình ở đầu hồi đằng trước và phân chia số đầu hồi còn lại cho sáu đứa con, còn ống khói lớn ở giữa biểu trưng cho tấm lòng hiếu khách của ông ta, giữ cho tất cả được ấm áp, và làm ống khói chung của bảy đầu hồi.

Có một đồng hồ mặt trời ở đầu hồi đằng trước, người thợ mộc đi qua liền ngước lên xem giờ.

“Ba giờ!” Anh tự nói một mình. “Cha mình bảo cái đồng hồ được lắp chỉ một giờ trước khi ông đại tá chết. Nó chạy đúng giờ suốt ba bảy năm qua! Bóng tối cứ bò trườn, và luôn dè chừng ánh nắng.”

Một thợ lao động như Maule khi được gọi đến một nhà quyền quý thường đi bằng cửa sau, nơi gia nhân và người làm công thường ra vào; hoặc chí ít là cửa hông, nơi tiếp tầng lớp cao hơn là những người giao hàng. Nhưng người thợ mộc lại đầy sự kiêu hãnh và cứng cỏi; và hơn nữa, lúc này trái tim anh cay đắng với một cảm giác sai trái được di truyền, vì anh coi ngôi nhà Pyncheon bề thế nằm trên mảnh đất lẽ ra là của anh. Trên mảnh đất này, bên cạnh dòng suối mát lành, ông nội anh đã chặt hạ những cây thông và dựng một ngôi nhà tranh, con cái ông đã sinh ra ở đó. Và đại tá Pyncheon đã giật bản khế ước từ những ngón tay cứng đờ của người đàn ông đã chết. Thế nên Maule đi thẳng vào cổng chính, bên dưới một vòm cửa bằng gỗ sồi chạm trổ, và dộng ầm ầm cái vòng sắt kim loại khiến người ta ắt sẽ tưởng tượng chính ông phù thủy sắt đá đang đứng trước cửa.

Scipio hớt hải chạy ra mở cửa, nhưng trợn tròn mắt kinh ngạc khi thấy đó chỉ là anh chàng thợ mộc.

“Lạy Chúa lòng lành, tên thợ mộc này mới lớn gan làm sao!” Scipio làm bầm trong cổ. “Ai nấy lại tưởng hắn đập cửa bằng cây búa lớn nhất của hắn!”

“Tôi đến rồi đây!” Maule lạnh lùng nói. “Chỉ đường cho tôi tới phòng khách của ông chủ anh.”

Khi anh bước vào trong nhà, một nốt nhạc du dương và u buồn ngàn lên và lan dọc hành lang, từ một trong những căn phòng trên gác. Đó là cây đàn harpsichord được Alice Pyncheon mang theo về từ bên kia đại dương. Cô gái Alice yêu kiều dùng hầu hết thì giờ rỗi rãi cho hoa và âm nhạc, mặc dù cái đầu tiên thì dễ héo, và những bản nhạc thường buồn. Cô được hưởng nền giáo dục nước ngoài, và không thể hòa nhập với cách sống của New England, nơi không có cái đẹp nào từng đâm chồi nảy lộc.

Vì ngài Pyncheon đang sốt ruột đợi Maule đến, nên Scipio không chần chừ dẫn người thợ mộc vào gặp ông chủ. Căn phòng quý ông này ngồi có kích thước vừa phải, nhìn ra khu vườn của ngôi nhà, và có những cửa sổ lờ mờ tối bởi bóng râm của những cây ăn trái. Nó là căn phòng đặc biệt của ngài Pyncheon, đồ đạc mang phong cách thanh nhã và đắt tiền, chủ yếu đặt từ Paris; sàn nhà (điều bất thường vào hồi đó) phủ một tấm thảm, được dệt rất công phu và cầu kỳ khiến nó dường như sáng rực lên với những bông hoa sống động. Trong một góc dựng bức tượng một người phụ nữ bằng đá cẩm thạch, vẻ đẹp của bức tượng nằm ở bộ trang phục đơn sơ và vừa vặn. Vài bức tranh nom đã cũ, và có một gam màu dịu phớt qua sự rực rõ tinh xảo của chúng - treo trên tường. Gần lò sưởi là một chiếc tủ lớn rất đẹp bằng gỗ mun, ốp ngà voi; một món đồ cổ ngài Pyncheon đã mua ở Venice, và dùng làm nơi cất giữ huân chương, tiền cổ, và bất cứ những đồ linh tinh nhỏ bé và quý hiếm nào ông ta tìm được trong những chuyến đi. Tuy trang trí đa dạng như vậy nhưng căn phòng vẫn toát lên những đặc tính nguyên thủy của nó; trần thấp, dầm ngang, một phần ống khói, với gạch lát Hà Lan kiểu cũ; nó biểu trưng cho một sự tâm hồn cần cù siêng năng kết hợp với những ý tưởng ngoại nhập, và trau chuốt thành một sự tinh tế nhân tạo, nhưng không lớn hơn cũng chẳng tao nhã hơn so với hồi trước.

Có hai món đồ xem ra khá lạc điệu trong căn phòng bày biện đẹp mắt này. Một là tấm bản đồ lớn, hoặc bản đồ của một người đo đạc địa chính, về một vùng đất, trông như thể đã được vẽ cách đây rất nhiều năm, và giờ xỉn màu vì khói, đây đó còn in vệt ngón tay sờ vào. Cái kia là bức chân dung một người đàn ông già nghiêm nghị, mặc trang phục Thanh giáo, được vẽ một cách gai góc, nhưng gây ấn tượng sâu đậm, và toát lên cá tính mạnh của nhân vật.

Tại một chiếc bàn nhỏ, trước ngọn lửa đốt bằng than đá nước Anh, ngài Pyncheon ngồi uống cà phê, nó đã trở thành thức uống yêu thích của ông ta ở Pháp. Ông ta là một người đàn ông trung niên và thực sự điển trai, với bộ tóc giả xõa xuống vai; áo khoác bằng nhung xanh, viền đăng ten ở gấu và trên khuyết áo; và ánh lửa lấp lánh trên chiếc áo chẽn dày dặn thêu hoa bằng chỉ vàng. Khi Scipio dẫn người thợ mộc vào, ngài Pyncheon xoay nửa người lại, nhưng ngồi nguyên tại chỗ, và thong thả uống nốt tách cà phê, không chú đến vị khách ông đã gọi đến. Không phải ông có ý thô lỗ hay hờ hững một cách bất lịch sự, - điều mà ông sẽ đỏ mặt vì áy náy, - nhưng ông chưa từng mảy may nghĩ rằng một người ở địa vị của Maule lại đòi hỏi sự lịch sự ở ông, hoặc sẽ tìm cách có được nó.

Tuy nhiên người thợ mộc lập tức đi đến lò sưởi, và quay người để nhìn thẳng vào mặt ngài Pyncheon.

“Ông cho gọi tôi,” anh nói. “Xin hãy nói yêu cầu của ông, để tôi có thể quay về với công việc của mình.”

“À, xin lỗi,” ngài Pyncheon ôn tồn nói. “Tôi không định làm mất thời gian của cậu mà không đền bù. Tên cậu, tôi nghĩ, là Maule, - Thomas hay Matthew Maule, con trai hoặc cháu nội của người xây ngôi nhà này?”

“Matthew Maule,” người thợ mộc đáp, “con trai người đã xây ngôi nhà, cháu nội của người sở hữu hợp pháp mảnh đất.”

“Tôi biết cuộc tranh chấp cậu ám chỉ,” ngài Pyncheon nói với vẻ bình thản như không. “Tôi nhận thức rõ rằng ông nội tôi đã buộc phải viện đến kiện tụng để xác lập quyền sở hữu đất nền của ngôi nhà này. Nếu cậu vui lòng, chúng ta đừng khơi lại vụ tranh cãi. Vấn đề đã được giải quyết vào lúc đó, và bởi những nhà chức trách có thẩm quyền, - nghe nói là công bằng, - và dù thế nào đi nữa cũng không thể hủy bỏ. Tuy nhiên, khá kỳ lạ là có một sự liên quan ngẫu nhiên đến chuyện mà tôi định nói với cậu bây giờ. Và mối hận truyền kiếp này, xin lỗi, tôi không có ý xúc phạm, sự cáu kỉnh này, mà cậu vừa bộc lộ, không hoàn toàn nằm ngoài chuyện đó.”

“Nếu ông tìm được điều gì phục vụ cho mục đích của ông,” người thợ mộc nói, “trong sự oán giận tự nhiên của một con người đối với những bất công mà cha ông của anh ta phải chịu, thì xin mời.”

“Tôi tin lời cậu, cậu Maule giỏi giang ạ,” chủ nhân ngôi nhà bảy đầu hồi nói, với một nụ cười, “và sẽ đề xuất một cách thức trong đó những cơn oán giận truyền đời, nếu không cũng chính đáng của cậu, có thể liên quan đến việc của tôi. Chắc là cậu đã nghe nói rằng dòng họ Pyncheon, kể từ thời ông nội tôi, đã theo đuổi quyền sở hữu vẫn chưa được giải quyết đối với một vùng đất rất rộng lớn ở phía Đông?”

“Nghe thường xuyên,” Maule đáp, và một nụ cười hiện ra trên mặt anh, “rất thường xuyên, từ cha tôi!”

“Quyền sở hữu này,” ngài Pyncheon nói tiếp, sau khi ngừng một giây, như để suy đoán nụ cười của tên thợ mộc có thể mang ý nghĩa gì, “đã sắp được giải quyết và cấp phép, ở giai đoạn ông nội tôi mất. Ông cụ đã chia sẻ với những người thân cận rằng ông đoán chắc sẽ không còn khó khăn vướng mắc nào hết. Đại tá Pyncheon, có lẽ tôi không cần nói, là một người thực tế, quen thuộc với chuyện công và chuyện tư, và hoàn toàn không phải là người ấp ủ những hy vọng không có căn cứ, hoặc cố gắng theo đuổi một kế hoạch bất khả thi. Vì vậy hoàn toàn kết luận được rằng ông có những cơ sở, mà con cháu ông không nắm rõ, cho dự đoán tự tin của ông về sự thành công trong vụ đất đai ở phía Đông. Nói tóm lại, tôi tin, - và những luật sư của tôi cũng đồng ý, một cách có căn cứ, trong chừng mực nhất định, bởi những lời truyền miệng trong gia đình, - là ông nội tôi có một chứng thư, hoặc văn bản nào đó, quan trọng đối với quyền sở hữu này, nhưng nó đã biến mất từ hồi ấy.”

“Rất có thể,” Matthew Maule nói, và một lần nữa nụ cười đen tối xuất hiện trên gương mặt anh, “nhưng một tên thợ mộc nghèo thì có thể liên quan gì đến việc lớn của dòng họ Pyncheon?”

“Có lẽ không liên quan nhiều lắm,” ngài Pyncheon trả lời.

Đến đây bắt đầu cuộc nói chuyện dài giữa Matthew và chủ nhân ngôi nhà bảy đầu hồi, về chủ đề mà người thứ hai đã đề cập. Hình như (mặc dù ngài Pyncheon có đôi chút lưỡng lự khi kể ra những câu chuyện quá ư phi lý) có một niềm tin phổ biến đối với mối liên kết và phụ thuộc bí ẩn nào đó, giữa gia đình Maule và khối tài sản khổng lồ chưa được làm rõ này của gia đình Pyncheon. Nghe đồn lão phù thủy, dù bị treo cổ, đã giành được kết quả tốt nhất trong cuộc đấu với đại tá Pyncheon; vì ông ta đã có được quyền sở hữu vùng đất rộng lớn phía Đông, đổi bằng một hai mẫu đất vườn. Một người phụ nữ rất già, mới qua đời gần đây, thường úp mở, trong câu chuyện gẫu bên lò sưởi, rằng nhiều dặm lãnh thổ của nhà Pyncheon đã bị hất vào mộ của nhà Maule; mà đó chỉ là một cái hốc nông choèn, nằm giữa hai tảng đá, gần đỉnh đồi Gallows. Và khi các luật sư truy tìm giấy tờ mất tích, nghe được một ngạn ngữ rằng nó sẽ không bao giờ được tìm thấy, ngoại trừ trong bàn tay xương xẩu của lão phù thủy. Những luật sư khôn ngoan đã dành rất nhiều công sức cho những truyền thuyết hoang đường ấy, đến độ (nhưng ngài Pyncheon thấy không thích hợp để cho người thợ mộc biết) họ đã bí mật đào mộ của lão phù thủy. Tuy nhiên họ không phát hiện được gì, trừ việc bàn tay phải của bộ xương đã biến mất, một cách không giải thích được.

Điều quan trọng là, một phần của những tin đồn phổ biến ấy có thể bắt nguồn, dù khá đáng ngờ và mập mờ, từ những lời nói và ám chỉ mơ hồ của con trai thầy phù thủy bị hành quyết, và là cha của Matthew Maule hiện tại. Đến đây ngài Pyncheon có thể đưa ra một bằng chứng của chính ông. Mặc dù khi đó chỉ là một đứa trẻ, ông vẫn nhớ hoặc nghĩ rằng cha của Matthew có vài việc được giao làm vào ngày hôm trước, hoặc là chính buổi sáng ngài đại tá qua đời, trong căn phòng nơi ông và người thợ mộc đang nói chuyện lúc này. Một số giấy tờ của đại tá Pyncheon, cháu nội của ông ta nhớ rõ, được trải rộng trên bàn.

Matthew hiểu sự nghi ngờ bóng gió này.

“Cha tôi,” anh nói, nhưng vẫn giữ nguyên nụ cười đen tối, tạo ra vẻ bí hiểm trên gương mặt, “cha tôi là một con người trung thực hơn ông đại tá chết tiệt kia! Nếu ông mang đi một trong những tờ giấy đó thì cũng chẳng khôi phục được tình cảnh của ông!”

“Tôi sẽ không đôi co với cậu,” ngài Pyncheon mang dòng máu nước ngoài nói, với vẻ điềm tĩnh kiêu ngạo. “Cũng sẽ không phẫn nộ trước bất kỳ lời nói thô lỗ nào nhằm vào ông nội tôi hoặc tôi. Một quý ông, trước khi gặp gỡ một người ở địa vị và có tính khí như cậu, trước hết sẽ cân nhắc sự cấp thiết của kết quả có thể đền bù cho sự khó chịu của cuộc gặp không. Ở thời điểm hiện tại thì có.”

Rồi ông tiếp tục cuộc trò chuyện, và đưa ra những đề nghị hấp dẫn cho người thợ mộc, nếu người này tiết lộ thông tin giúp ông tìm ra giấy tờ thất lạc, và từ đó giành được quyền sở hữu vùng đất phía Đông. Từ đầu đến cuối thấy bảo Matthew đã nghe bằng đôi tại dửng dưng những đề nghị này. Sau cùng, với một tràng cười kỳ lạ, anh hỏi liệu ngài Pyncheon có chuyển cho anh quyền sở hữu mảnh đất của thầy phù thủy, cùng với ngôi nhà bảy đầu hồi, giờ đang nằm trên đó, để đổi lấy cái văn bản rất cần thiết kia không.

Chuyện bàn tán bên lò sưởi (được tác giả tham khảo ở mức hợp lý) đã kể lại một hiện tượng rất bất thường trên bức chân dung đại tá Pyncheon. Cần biết rằng bức tranh này được cho là có liên quan mật thiết với số phận ngôi nhà, và dính liền vào những bức tường một cách thần kỳ, một khi nó bị tháo xuống, lập tức cả ngôi nhà sẽ đổ sụp thành một đống gạch vụn. Suốt cuộc trò chuyện kể trên giữa ngài Pyncheon và người thợ mộc, bức chân dung đã cau mày, siết chặt nắm đấm, và có những dấu hiệu mất bình tĩnh cực độ, nhưng hai người không chú ý đến. Và cuối cùng, trước lời đề nghị trơ tráo của Maule về việc chuyển nhượng ngôi nhà bảy đầu hồi, bức chân dung hẳn đã mất hết kiên nhẫn, và tỏ thái độ muốn lao xuống từ khung tranh. Nhưng tình tiết không thể tin nổi đó chỉ được đề cập bên lề.

“Từ bỏ ngôi nhà này!” Ngài Pyncheon thốt lên, kinh ngạc trước lời đề nghị. “Nếu tôi làm thế, ông nội tôi sẽ không được yên nghỉ dưới mồ!”

“Ông ta chưa bao giờ yên nghỉ, nếu tất cả những lời đồn là thật,” người thợ mộc thản nhiên nói. “Nhưng vấn đề quan trọng đối với cháu nội ông ta hơn là đối với Matthew Maule. Tôi không có điều kiện nào khác.”

Thoạt đầu ông nghĩ không thể nào đồng ý với điều kiện của Maule được, song, khi nghĩ lại, ngài Pyncheon thấy rằng ít nhất họ có thể thương lượng. Bản thân ông không có sự gắn bó cá nhân với ngôi nhà, cũng không có bất cứ kỷ niệm tươi đẹp nào liên quan đến thời thơ ấu ở đó. Ngược lại, sau ba mươi bảy năm, sự hiện diện của người ông đã chết của ông dường như vẫn tràn ngập trong nó, như vào buổi sáng ấy khi cậu bé hoảng sợ thấy ông mình, tái nhợt và cứng đờ trên ghế. Hơn nữa, với thời gian dài ở nước ngoài, và quen thuộc với nhiều lâu đài và dinh thự của tổ tiên ở Anh, và những cung điện bằng đá cẩm thạch ở Ý, đã khiến ông có ánh mắt khinh thường ngôi nhà bảy đầu hồi, về mặt tráng lệ cũng như vẻ tiện nghi. Nó là một dinh thự không hề tương xứng với phong cách sống của chức vụ mà ngài Pyncheon sẽ mang, sau khi có được quyền lãnh thổ của mình. Quản gia của ông có thể hạ cố sống ở đó, nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ là chủ nhân một lãnh thổ rộng lớn như ông. Nếu thành công, ông dự định sẽ về nước Anh. Thực ra, ông cũng sẽ không rời bỏ mái nhà thân thiết ấy, nếu không vì gia sản của mình, cũng như vì người vợ đã qua đời của ông, bắt đầu có những triệu chứng suy kiệt. Quyền sở hữu vùng đất phía Đông một khi được giải quyết ổn thỏa, và có nền tảng chắc chắn, tài sản của ngài Pyncheon - đo bằng dặm, không phải mẫu sẽ giá trị bằng lãnh địa của một bá tước, sẽ cho ông quyền cầu xin, hoặc giúp ông mua, chức vị cao ngất ấy từ vua nước Anh. Đức ngài Pycheon! - hoặc Bá tước vùng Waldo! – làm sao một con người quyền quý như thế có thể bó hẹp sự vương giả của mình trong phạm vi đáng khinh của bảy đầu hồi lợp ván?

Nói ngắn gọn, nếu nhìn xa trông rộng, điều kiện của người thợ mộc có vẻ dễ dàng đến ngớ ngẩn khiến ngài Pyncheon phải vất vả nhịn cười. Ông ta khá xấu hổ, sau những suy nghĩ kể trên, nếu đề nghị giảm bớt cái giá đã quá phải chăng cho một vụ làm ăn quá hời.

“Tôi đồng ý với đề nghị của cậu, Maule!” Ông nói. “Trao cho tôi giấy tờ xác nhận quyền sở hữu của tôi, và ngôi nhà bảy đầu hồi là của cậu!”

Theo một số phiên bản của câu chuyện, một bản hợp đồng quy củ về mục đích trên đã được luật sư soạn ra, được ký và đóng dấu với sự chứng kiến của bên thứ ba. Những phiên bản khác nói rằng Matthew hài lòng với một thỏa thuận riêng tư viết tay, trong đó ngài Pyncheon lấy danh dự và sự chính trực của mình cam kết thực hiện các điều khoản. Sau đó ông ta gọi rượu lên, ông ta và người thợ mộc cùng nhau uống để xác nhận giao kèo của họ. Trong suốt cuộc thảo luận trước đó và những nghi thức sau đó, bức chân dung người Thanh giáo già giữ nguyên thái độ phản đối; nhưng không tác dụng, trừ việc, khi ngài Pyncheon đặt chiếc ly rỗng xuống, ông nghĩ mình đã thấy ông nội cau mày.

“Thứ rượu sherry này quá mạnh đối với tôi; nó đã ảnh hưởng đến não tôi rồi,” ông nhận xét, sau khi liếc nhìn có phần kinh ngạc vào bức tranh. “Khi nào về châu Âu, tôi sẽ chỉ hạn chế mình trong những loại rượu vang nhẹ hơn của Ý và Pháp, loại ngon nhất trong đó không chịu được chuyên chở.”

“Đức ngài Pyncheon có thể uống bất cứ loại rượu nào ngài ấy thích,” người thợ mộc đáp, như thể anh tham gia vào những mưu đồ tham vọng của ngài Pyncheon. “Nhưng trước tiên, nếu ngài muốn biết tin tức về số giấy tờ thất lạc này, tôi xin có một cuộc nói chuyện nhỏ với cô con gái Alice xinh đẹp của ngài.”

“Cậu điên rồi, Maule!” Ngài Pyncheon thốt lên đầy ngạo mạn, và bây giờ, cuối cùng, sự tức giận đã xen vào lòng kiêu hãnh của ông. “Con gái tôi thì liên quan gì đến chuyện này?”

Đúng là trước yêu cầu mới này của người thợ mộc, chủ nhân ngôi nhà bảy đầu hồi thậm chí còn sốc hơn so với đề nghị ông từ bỏ ngôi nhà. Ít ra điều kiện đầu tiên còn có động cơ hợp lý, còn cái này xem ra chẳng có nguyên do gì cả. Tuy nhiên Matthew Maule nhất định đòi gặp cô gái, và thậm chí làm cho cha cô hiểu, bằng một kiểu giải thích bí ẩn, - khiến cho vụ việc đen tối hơn nhiều so với người ta tưởng trước đó, - rằng cơ hội duy nhất để có được thông tin cần thiết là thông qua một trung gian trong sáng của một trí tuệ thuần khiết và trinh bạch, như Alice. Không làm dài dòng câu chuyện với những đắn đo của ngài Pyncheon, bất kể là về lương tâm, lòng kiêu hãnh, hay tình cha con, cuối cùng ông đã cho gọi con gái mình tới. Ông biết rõ cô đang ở phòng riêng, và không bận bịu việc gì để không thể gác lại, vì từ lúc tên của Alice được nhắc đến, cả cha cô và người thợ mộc đều nghe thấy điệu nhạc u buồn và ngọt ngào từ cây đàn harpsichord, và tiếng hát du dương hòa theo của cô.

Thế là Alice Pyncheon được gọi đến, và xuất hiện. Một bức chân dung của cô tiểu thư này được vẽ bởi một họa sĩ người Venice, và cha cô đã bỏ nó lại nước Anh, nghe nói rơi vào tay công tước Devonshire đương thời, và hiện giờ lưu giữ ở Chatsworth; không phải vì có mối liên hệ gì với nguyên mẫu, mà bởi giá trị nghệ thuật của nó, và cá tính thể hiện trên nét mặt người đẹp. Nếu có một quý cô đích thực, và khác với số đông tầm thường bởi sự nghiêm trang nhà nhặn và lạnh lùng, đó chính là cô Alice Pyncheon này. Song ở cô có sự nữ tính; sự dịu dàng, hoặc ít nhất là tiềm năng dịu dàng. Vì tố chất bù đắp lại ấy, một người đàn ông rộng lượng ắt sẽ tha thứ cho tất cả sự kiêu hãnh của cô, và gần như bằng lòng nằm xuống con đường cô đi, để Alice Pyncheon giảm bàn chân nhỏ nhắn lên trái tim anh ta. Tất cả những gì anh ta đòi hỏi chỉ là sự công nhận rằng anh ta là đàn ông thực thụ, và mang những tố chất giống cô.

Khi Alice Pyncheon bước vào phòng, đôi mắt cô bắt gặp người thợ mộc, đang đứng giữa phòng, mặc áo khoác len màu xanh lục, quần ống rộng không bó ở gối, với một cái túi dài theo thói quen, dưới đáy túi phồng lên đó - đặc điểm nghề nghiệp của người thợ, như thanh kiếm tinh xảo của ngài Pyncheon là một chỉ dấu quý tộc vậy. Một ánh tán thưởng làm gương mặt Alice Pyncheon sáng lên, cô ngưỡng mộ ra mặt trước vẻ đẹp, sự mạnh mẽ, và sức sống căng tràn của Maule. Nhưng ánh mắt ngưỡng mộ đó (mà hầu hết những người đàn ông khác ắt sẽ ấp ủ như một kỷ niệm ngọt ngào suốt cuộc đời) người thợ mộc không bao giờ tha thứ. Hẳn là bản chất xấu xa khiến cho Maule dửng dưng như vậy. “Cô gái đó nhìn mình cứ như mình là một tên súc sinh?” Anh nghĩ, nghiến răng. “Cô ta sẽ biết mình có tâm hồn con người hay không, và nếu hóa ra nó mạnh hơn tâm hồn cô ta thì xui cho cô ta rồi!”

“Thưa cha, cha đã cho gọi con,” Alice cất tiếng, giọng ngọt ngào và thánh thót như tiếng đàn hạc. “Nhưng nếu cha đang bận công chuyện với người đàn ông trẻ này, con xin được lui. Cha biết là con không thích căn phòng này, bất chấp bức tranh Claude mà cha dùng nó để cố gợi lại những ký ức tươi đẹp.”

“Xin chờ một chút, thưa cô!” Matthew Maule nói. “Công chuyện của tôi với cha cô đã kết thúc. Giờ nó sẽ bắt đầu với cô!”

Alice nhìn về phía cha mình, ngạc nhiên và dò hỏi.

“Đúng vậy, Alice,” ngài Pyncheon nói, có phần lo âu và bối rối. “Người đàn ông trẻ này - tên cậu ấy là Matthew Maule tự nhận, theo như cha biết về cậu ấy, có thể tìm ra, thông qua con, một văn bản đã thất lạc từ lâu trước khi con ra đời. Tầm quan trọng của văn bản này khiến ta không nên bỏ qua bất cứ phương cách khả thi nào, thậm chí không chắc chắn, để lấy lại nó. Vì vậy con hãy giúp cha, Alice thân yêu, bằng việc trả lời các câu hỏi của người này, và tuân theo những yêu cầu hợp pháp và hợp lý của cậu ấy, chừng nào nó còn có đối tượng nói trên trong đó. Cha sẽ ở lại trong phòng, con không cần e sợ thái độ thô lỗ hoặc thiếu lịch sự từ cậu ấy; và chỉ cần con muốn, cuộc điều tra, hoặc bất cứ cái tên nào chúng ta đặt cho nó, sẽ lập tức dừng lại.”

“Tiểu thư Alice Pyncheon,” Matthew Maule nói, với sự tôn kính tột bậc, song vẫn ẩn chứa sự chế nhạo trong ánh mắt và tông giọng, “chắc chắn sẽ cảm thấy an toàn với sự có mặt của cha mình, và dưới sự bảo vệ tuyệt đối của ông.”

“Tất nhiên tôi không có gì phải e sợ, với cha tôi ở cạnh,” Alice nói với sự chững chạc đường hoàng. “Tôi cũng không cho rằng một quý cô tự tin lại phải sợ bất cứ ai, hoặc trong bất cứ hoàn cảnh nào!”

Alice đáng thương! Thôi thúc bất hạnh nào đã khiến cô lập tức chấp nhận thách thức một sức mạnh mà cô không thể lường hết?

“Vậy thì, tiểu thư Alice,” Matthew Maule nói, chỉ vào một chiếc ghế, - khá duyên dáng, đối với một người thợ, “xin mời cô ngồi, và cảm phiền cô (mặc dù người thợ mộc không xứng đáng) nhìn vào mắt tôi!”

Alice làm theo, cô rất đỗi kiêu hãnh. Gác sang bên tất cả những ưu thế về địa vị, cô gái xinh đẹp này cho rằng mình ý thức được một sức mạnh - bao gồm nhan sắc, sự trong sáng không tì vết, và năng lực bảo toàn của phụ nữ – có thể khiến thế giới của cô bất khả xâm phạm, trừ phi bị phản bội từ bên trong. Bằng bản năng cô biết có thể một thế lực nham hiểm và độc ác nào đó đang tìm mọi cách vượt qua lớp rào chắn của cô. Cô cũng sẽ không khước từ cuộc chiến. Cho nên Alice dùng sức mạnh của phụ nữ chống lại sức mạnh đàn ông, một trận đấu thường không cân sức về phía người phụ nữ.

Trong lúc đó cha cô đã quay đi, và dường như mải mê chiêm ngưỡng bức tranh phong cảnh của Claude, nơi một ánh tranh tối tranh sáng khe khẽ xâm nhập vào một khu rừng già, thật không có gì lạ nếu tâm trí ông chìm đắm trong chiều sâu hoang mang của bức tranh. Nhưng thực ra giây phút ấy bức tranh đối với ông chẳng có ý nghĩa gì hơn bức tường trống trơn nơi treo nó. Tâm trí ông đang bị ám ảnh bởi vô số những câu chuyện kỳ lạ ông đã nghe, quy những thiên tư bí ẩn nếu không muốn nói là siêu nhiên cho những người họ Maule, cũng như đứa cháu nội nhà ấy đang hiện diện ở đây. Cuộc sống lâu năm ở nước ngoài của ngài Pyncheon, và giao du với những nhân vật thông thái và nổi tiếng, - những cận thần trong triều, những kẻ phàm tục, những nhà tư tưởng tự do, - đã tẩy xóa những ý nghĩ mê tín dị đoan Thanh giáo, điều mà không một người New England nào sinh ra ở thời kỳ đó có thể tránh khỏi hoàn toàn. Nhưng mặt khác, nếu không có cả một cộng đồng tin ông nội của Maule là phù thủy? Nếu tội ác không được chứng minh? Nếu lão phù thủy không chết vì nó? Nếu ông ta không để lại một niềm căm thù dòng họ Pyncheon cho đứa cháu nội độc nhất này, kẻ hình như định thực hiện một tác động tinh vi lên con gái của kẻ thù? Có thể tác động này đã không giống với cái được gọi là phép thuật?

Quay nghiêng người lại, ông bắt gặp hình ảnh Maule trong gương. Cách Alice vài bước chân, với hai cánh tay giơ lên trời, người thợ mộc làm động tác như đang điều khiển một sức nặng vô hình từ từ hạ xuống người cô gái.

“Dừng lại!” Ngài Pyncheon hét lên, bước tới. “Tôi cấm cậu tiến xa hơn!”

“Xin cha đừng làm anh ta gián đoạn,” Alice nói, không thay đổi tư thế. “Con đảm bảo với cha việc làm của anh ta hoàn toàn vô hại.”

Ngài Pyncheon liền quay lại với Claude. Chính con gái ông, chứ không phải ông, muốn thử nghiệm đó được thực hiện. Bởi vậy, từ giờ trở đi ông chỉ còn cách đồng ý, không hối thúc. Và chẳng phải ông mong nó thành công là vì con bé hơn là vì ông đó sao? Một khi tìm được văn bản thất lạc đó, Alice Pyncheon xinh đẹp, với của hồi môn dồi dào mà khi ấy ông có thể ban tặng, có thể cưới một công tước Anh hoặc một thân vương Đức, thay vì một mục sư hay luật sư nào đó ở New England! Trước ý nghĩ ấy, trong thâm tâm người cha tham vọng gần như bằng lòng, rằng nếu như phải cần đến một sức mạnh ma quỷ để thực hiện mục đích lớn này, Maule có thể gọi nó lên. Sự trong sáng của Alice sẽ bảo vệ con bé.

Trong đầu đầy những hình dung kỳ vĩ, ngài Pyncheon nghe thấy một âm thanh nghèn nghẹn từ con gái mình. Nó rất yếu và nhỏ, mơ hồ đến mức dường như dùng sức tàn để thốt ra lời, và quá tối nghĩa để có thể hiểu được. Song đó là một tiếng kêu cứu! – lương tâm ông không bao giờ nghi ngờ điều đó, - và, đến tai ông chỉ lớn hơn một tiếng thì thầm, nó là một tiếng thét bi thảm, và vang vọng rất lâu trong trái tim ông! Nhưng lần này người cha không quay lại.

Sau một khoảng thời gian nữa, Maule cất tiếng.

“Nhìn con gái ngài xem.”

Ngài Pyncheon vội vã lao tới. Người thợ mộc đang đứng trước chiếc ghế của Alice, chỉ ngón tay vào cô gái với vẻ mặt đắc thắng, mức độ của nó không thể xác định, giới hạn của nó dường như trải dài đến vô cực. Alice ngồi như đang ngủ, với hàng mi nâu dài che rợp đôi mắt.

“Cô ấy đấy!” Người thợ mộc bảo. “Nói với cô ấy đi!” “Alice! Con gái của cha!” Ngài Pyncheon gọi. “Alice của cha!”

Cô không nhúc nhích.

“Nói to lên!” Maule bảo, mỉm cười.

“Alice! Tỉnh dậy đi!” Người cha hét lên. “Cha rất lo khi thấy con thế này! Tỉnh dậy đi!”

Ông nói lớn, giọng hoảng loạn, và ngay gần đôi tai tinh tế vốn luôn nhạy cảm trước mọi nghịch âm. Nhưng âm thanh rõ ràng không đến được tai cô. Thật khó tả cảm giác về khoảng cách xa xôi, lờ mờ, vô vọng giữa ông và Alice khiến người cha bàng hoàng khi không thể gọi được con gái mình. “Tốt nhất hãy chạm vào cô ấy!” Matthew Maule khuyên. “Lắc cô ấy mạnh vào! Bàn tay tôi thô cứng vì suốt ngày dùng rìu, cưa, và bào, - không thì tôi có thể giúp ngài rồi!”

Ngài Pyncheon nắm lấy tay cô, siết chặt một cách nôn nóng. Ông hồn cô, trong cái hôn có cả tiếng tim đập thình thịch, mà ông nghĩ cô phải cảm thấy nó. Và rồi, trong một cơn giận bùng lên trước sự trơ trơ của cô, ông lắc cô gái một cách dữ dội đến mức, phút tiếp theo, ông hoảng sợ khi nhớ lại. Ông buông hai tay ra, và Alice - thân hình dù mềm dẻo nhưng hoàn toàn bất động - lại rơi vào trạng thái như trước khi bị lay dậy bằng đủ mọi cách. Maule di chuyển, gương mặt cô liền hướng theo anh, dường như giấc ngủ sâu của cô có một mối liên hệ với sự dẫn dắt của anh.

Trông thấy cảnh tượng ấy người đàn ông của những lễ nghi lắc bộ tóc giả khiến bột rơi lả tả; quý ông kín đáo và trịnh trọng ấy quên hết thể diện của mình; chiếc áo chẽn thêu chỉ vàng loang loáng trong ánh lửa với sự rung chuyển của cơn thịnh nộ, kinh hoàng, và đau đớn trong trái tim đang đập bên dưới nó.

“Thằng vô lại!” Ngài Pyncheon gầm lên, giơ nắm đấm run run về phía Maule. “Bọn quỷ sứ chúng mày đã cướp con gái tao. Trả con bé đây, dòng giống của lão phù thủy, bằng không mày sẽ leo lên đồi Gallows theo chân ông nội mày!”

“Bình tỉnh nào, ngài Pyncheon!” Người thợ mộc nói với vẻ bình thản khinh miệt. “Xin ngài bình tĩnh, nếu không ngài sẽ làm hỏng những lớp đăng ten rườm rà trên cổ tay đấy! Có phải tội của tôi không nếu ngài bán con gái mình chỉ vì hy vọng nắm được trong tay một mảnh giấy màu vàng? Tiểu thư Alice đang ngủ say ở kia. Giờ hãy để Matthew Maule xem thử cô ấy có còn kiêu hãnh giống như tên thợ mộc này thấy cô lúc trước không.”

Anh cất tiếng, và Alice đáp lại với một sự phục tùng dịu dàng, mơ hồ, âm thầm, thân mình cúi về phía anh, như ngọn lửa của một cây đuốc khi gặp làn gió nhẹ. Anh vẫy tay, và, đứng lên khỏi ghế, - mò mẫm, nhưng kiên định, như hướng đến trung tâm yên ổn và quen thuộc của mình, - cô gái Alice kiêu hãnh lại gần anh. Anh khoát tay, và Alice lùi lại, ngồi xuống ghế.

“Cô ấy là của tôi!” Matthew Maule nói. “Vì tinh thần tôi mạnh nhất!”

Trong phần tiếp theo của câu chuyện, có một bài niệm chú (nếu có thể gọi nó như thế) dài, kỳ cục, và đôi khi gây bàng hoàng của người thợ mộc, nhằm tìm kiếm văn bản mất tích. Hình như mục đích của anh ta là biến đổi tâm trí Alice thành một loại kính viễn vọng, thông qua đó ngài Pyncheon và anh ta có thể nhìn vào thế giới tâm linh. Nhờ vậy anh ta như đã có một cuộc nói chuyện đứt quãng với những người chết canh giữ những bí mật quý giá đã được mang sang thế giới bên kia. Trong trạng thái bị thôi miên, Alice miêu tả ba người theo cảm nhận của cô. Đầu tiên là một quý ông lớn tuổi, đạo mạo, nghiêm trang, phục sức cho một lễ hội lớn dưới địa phủ và trang phục đắt tiền, nhưng có một vết máu lớn trên dải cổ áo cầu kỳ; người thứ hai, một người đàn ông lớn tuổi, ăn mặc bình thường, diện mạo u tối độc ác, và một cái thòng lọng đứt đeo ở cổ; người thứ ba không quá thành đạt trong cuộc sống như hai người trước, nhưng chỉ vừa quá tuổi trung niên, mặc áo rộng vải len thô và quần bằng da, với một cái thước thợ mộc chĩa ra từ cái túi bên hông. Ba nhân vật này biết một bí mật về văn bản thất lạc. Một trong số họ, - là người có vết máu trên cổ áo, - hình như, trừ phi cử chỉ của ông ta bị hiểu sai, đang giữ văn bản đó, nhưng bị ngăn cản bởi hai đồng bọn không cho ông ta trút bỏ trách nhiệm. Cuối cùng, khi ông ta định hét to cái bí mật ấy từ thế giới của mình cho thế giới bên kia nghe được, hai người liền vật lộn với ông ta, lấy tay bịt miệng ông ta; và ngay lập tức – dù ông ta mắc nghẹn bởi nó, hay chính bí mật ấy mang màu đỏ thẫm có một dòng máu tươi xuất hiện trên cổ áo ông ta. Thấy vậy, hai kẻ ăn vận tầm thường kia chế nhạo và cười cợt người đàn ông đạo mạo đang vô cùng lúng túng, và chỉ tay vào vết máu.

Trước sự việc này, Maule quay sang ngài Pyncheon.

“Vô ích thôi,” anh nói. “Việc canh giữ cái bí mật sẽ khiến con cháu ông ta giàu có này là sự trừng phạt đối với ông nội ngài. Ông ta phải mắc nghẹn với nó cho đến khi nó không còn giá trị nào. Và ngài cứ giữ ngôi nhà bảy đầu hồi! Nó là tài sản thừa kế quá thân thương để mua bán, và quá nặng bởi lời nguyền, để con cháu của ông đại tá dứt bỏ được.”

Ngài Pyncheon cố gắng nói, nhưng - với vẻ sợ hãi và kích động - chỉ có thể phát ra tiếng ùng ục trong cổ họng. Người thợ mộc mỉm cười.

“A ha, thưa ngài! Vậy là ngài đã có máu của ông già Maule để uống rồi đấy!” Anh chế nhạo.

“Đồ ma quỷ đội lốt người! Tại sao mày vẫn khống chế con gái tao?” Ngài Pyncheon kêu lên, khi đã đẩy được cục nghẹn ra. “Trả lại con gái cho tao. Rồi biến đi! Có thể chúng ta sẽ không bao giờ gặp nhau nữa!”

“Con gái ngài!” Matthew Maule nói. “Gì chứ, con gái ngài thuộc về tôi rồi! Song không cần quá gay gắt với tiểu thư Alice xinh đẹp, tôi sẽ cho ngài giữ lại cô ấy, nhưng tôi không đảm bảo với ngài rằng cô ấy sẽ không bao giờ có dịp nhớ đến Maule, người thợ mộc.”

Anh phất hai bàn tay, và sau vài lần lặp lại động tác ấy, cô gái Alice Pyncheon tỉnh dậy khỏi cơn hôn mê kỳ lạ. Cổ tỉnh dậy mà không hề nhớ giấc mộng ảo mình vừa trải qua, như khi người ta đánh mất bản thân trong một giấc mộng thoáng qua, và trở về với cuộc sống thực, trong một khoảng ngắn ngủi, như ngọn lửa cháy đượm trong lò sưởi lại hóa khói bay đi. Nhận ra Matthew Maule, cô lấy một vẻ mặt trang nghiêm lạnh lùng nhưng lịch sự, vì có một nụ cười kỳ lạ trên gương mặt người thợ mộc kích thích tính kiêu hãnh tự nhiên của Alice. Thế là việc tìm kiếm văn kiện ban vùng đất phía Đông cho dòng họ Pyncheon chấm dứt tại đây, mặc dù sau đó thường xuyên được khôi phục, nhưng chưa một người Pyncheon nào trông thấy mảnh giấy đó.

Nhưng thương thay cho cô gái Alice xinh đẹp, dịu dàng, song quá kiêu ngạo! Một thế lực mà cô ít ngờ đến đã đặt bàn tay của nó lên linh hồn cô gái. Một ý chí, không giống ý chí của cô, bắt ép cô làm theo mệnh lệnh lố bịch và lập dị của nó. Hóa ra cha cô đã đày đọa đứa con tội nghiệp vì một khao khát quá quắt muốn đo đất đai của mình bằng dặm thay vì bằng mẫu. Bởi vậy, chừng nào Alice còn sống, cô là nô lệ của Maule, trong một cảnh giam cầm còn nhục nhã gấp nghìn lần bị xiềng xích cơ thể. Ngồi trước cái lò sưởi khiêm tốn của mình, Maule chỉ việc vẫy tay, và bất kể cô tiểu thư kiêu hãnh đang ở đâu, - trong phòng riêng, hay đang tiếp đãi những vị khách oai vệ của cha mình, hay đang cầu nguyện trong nhà thờ, - dù ở đâu, tâm trí cô cũng thoát khỏi sự kiểm soát của cô, và cúi đầu thuần phục trước Maule. “Alice, cười đi!” - người thợ mộc, ngồi bên lò sưởi, lên tiếng, hoặc có lẽ ra lệnh không cần lời. Và thế là, ngay cả đang giờ cầu nguyện, hoặc ở một đám tang, Alice phải bật cười khanh khách. “Alice, buồn rầu đi!” - và ngay lập tức nước mắt cô chảy xuống, dập tắt mọi sự vui vẻ xung quanh cô như cơn mưa bất chợt đổ xuống một đống lửa. “Alice, nhảy đi.” Và cô sẽ nhảy, không phải những điệu nhảy trong cung điện như cô đã học ở nước ngoài, mà là một điệu jig sôi động, hoặc điệu nhảy vung chân rigadoon, thích hợp với những cô gái lanh lợi ở một cuộc vui thôn dã. Dường như Maule có một thôi thúc, không phải định hủy hoại Alice, hay trừng phạt cô bằng bất cứ trò tai ác quá quắt nào, điều ắt sẽ tô điểm cho những đau khổ của cô một vẻ duyên dáng bi kịch, mà để thể hiện sự khinh bỉ nhỏ mọn đối với cô. Như thế tất cả thể diện trong cuộc sống đều mất hết. Cô cảm thấy mình vô cùng nhục nhã, không khác gì sâu bọ!

Một tối nọ, tại một bữa tiệc cưới (không phải của cô, vì mất kiểm soát như thế, cô ắt cho rằng kết hôn là tội ác), Alice bị tên bạo chúa vô hình của cô gọi đến, và bắt cô, trong chiếc váy trắng mỏng manh và đôi dép satanh, phải chạy suốt con phố đến ngôi nhà lụp xụp của một người lao động. Bên trong vẳng ra tiếng cười và những lời chúc mừng; vì Matthew Maule, tối hôm ấy, làm đám cưới với con gái của ông ta, và đã triệu nàng Alice Pyncheon kiêu hãnh đến phục vụ cô dâu của anh ta. Và cô đã nghe theo. Khi đám cưới kết thúc, Alice tỉnh dậy khỏi giấc ngủ bị phù phép. Tuy nhiên, không còn kiêu hãnh, - mà khiêm nhường, với một nụ cười chứa đầy sự buồn bã, - cô hôn vợ của Maule, và bỏ đi. Đó là một đêm khắc nghiệt; gió đông nam quất tuyết trộn lẫn mưa vào ngực áo mỏng của cô; đôi dép satanh của cô ướt sũng, khi cô bước đi trên vỉa hè đầy bùn. Ngày hôm sau là một trận cảm lạnh; không lâu sau là bệnh ho dai dẳng; không lâu nữa là đôi má đỏ rực, một thân hình gầy yếu, ngồi bên cây đàn harpsichord, và âm nhạc tràn ngập ngôi nhà! Tiếng nhạc được một dàn hợp xướng trên thiên đường lặp lại! Ôi, vui sướng! Vì Alice đã chịu đựng nỗi nhục nhã cuối cùng của mình! Vui sướng hơn nữa! Vì Alice đã sám hối một tội lỗi của cô, và không còn kiêu ngạo nữa!

Gia đình Pyncheon tổ chức một đám tang trọng thể cho Alice. Bạn bè và người quen đều có mặt, cùng với sự tôn trọng của cả thị trấn dành cho cô. Cuối buổi lễ, Matthew Maule đến, răng nghiến chặt, như thể sẽ cắn trái tim mình làm đôi, - người u uẩn nhất và đau khổ nhất trong những người bước sau thi hài! Anh ta định hạ nhục Alice, không định giết cô; nhưng anh đã cướp đi một linh hồn thanh tao của người thiếu nữ bằng bàn tay thô bạo, để chơi đùa - và cô đã chết!

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne