Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 433 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XII
nhà nhiếp ảnh

Đừng cho rằng cuộc sống của một người năng động như Phoebe chỉ loanh quanh trong phạm vi ngôi nhà cũ Pyncheon. Thời gian Clifford cần đến cô thường được đáp ứng, chủ yếu là trước khi mặt trời lặn, trong những ngày dài ấy. Sự tồn tại hàng ngày của ông tuy lặng lẽ nhưng vẫn khiến ông cạn kiệt năng lượng. Không phải do hoạt động thể chất mà ông mệt mỏi, - vì trừ những lúc ông cuốc đất chút ít, hoặc đi dạo trong vườn, hoặc, nếu trời mưa, thì tham quan một căn phòng lớn không người ở, - khuynh hướng của ông là ở yên một chỗ, tránh vất vả cho hoạt động chân tay và cơ bắp. Song, hoặc có một ngọn lửa âm ỉ bên trong tiêu hao năng lượng sống của ông, hoặc sự đơn điệu ắt sẽ kéo theo tác động tê liệt lên trí óc lại không đúng với trường hợp của Clifford. Có lẽ ông đang ở giai đoạn phát triển và phục hồi thứ hai, và liên tục tiêu hóa dưỡng chất cho tinh thần và trí não từ những hình ảnh, âm thanh, và những sự việc vốn bình thường đối với những người đã quen thuộc với thế giới. Vì tất cả đều là hoạt động và biến chuyển đối với trí óc tinh khôi của một đứa trẻ, nên nó cũng có thể xảy ra với bộ óc đang trải qua một dạng tái tạo, sau khi cuộc sống bị đóng băng quá lâu.

Có thể vì những nguyên nhân ấy, Clifford thường đi nằm, hoàn toàn kiệt sức, trong lúc những tia nắng vẫn thiêu đốt qua những tấm rèm cửa sổ, hoặc chiếu ánh tà dương rực rõ lên bức tường trong phòng. Và trong lúc ông ngủ sớm như thế, y như trẻ con, và mơ về thời thơ ấu, Phoebe được y tự do theo đuổi những sở thích của bản thân trong phần còn lại của ban ngày hoặc buổi tối.

Đây là sự tự do cần cho sức khỏe kể cả với một người không dễ mắc bệnh như Phoebe. Ngôi nhà cũ, như chúng ta đã nói, bị mục ruỗng và thối rữa trong các bức tường; không khí hít thở vô cùng độc hại. Bà Hepzibah, mặc dù có những phẩm chất đáng quý bù lại, vẫn lớn lên thành một dạng tâm thần do giam mình quá lâu ở một chỗ, chẳng có gì bầu bạn ngoài một dòng suy nghĩ miên man, và chỉ có một tình yêu mến, và một cảm giác sai trái cay đắng. Clifford, độc giả có lẽ tưởng tượng được, quá ù lì để lợi dụng về mặt tinh thần đồng loại của mình, bất kể đó là họ hàng thân cận và độc nhất đối với ông. Nhưng sự đồng cảm hoặc kết nối giữa con người kỳ ảo và bao la hơn chúng ta nghĩ, nó tồn tại giữa những dạng thức khác nhau của trật tự cuộc sống, và lan tỏa từ người này sang người kia. Chẳng hạn như một bông hoa, như chính Phoebe nhận thấy, luôn bắt đầu héo trong tay Clifford, hoặc bà Hepzibah, sớm hơn trong tay cô; và bằng quy luật tương tự, khi chuyển toàn bộ cuộc sống hàng ngày của cô thành một đóa hoa thơm ngát cho hai tâm hồn ốm yếu, cô gái xinh tươi ắt sẽ tàn héo rất nhanh so với bông hoa mang trên một bộ ngực trẻ trung và hạnh phúc hơn. Trừ phi cô thỉnh thoảng chiều theo những cơn bốc đồng của mình, và hít thở không khí miền quê trong một chuyến đi dạo ra ngoại ô, hoặc hóng gió ngoài bờ biển, - những cô gái New England đôi lúc vì thôi thúc tự nhiên sẽ đi nghe một bài giảng về thuyết siêu hình hoặc triết học, hoặc ngắm một bức tranh toàn cảnh, hoặc xem hòa nhạc, - đi mua sắm trong thành phố, lùng sục toàn bộ các cửa hàng, và mang về nhà một dải ruy băng, - cũng như dành một ít thời gian để đọc Kinh Thánh trong phòng riêng, và bỏ thêm một chút thời gian nữa để nghĩ về mẹ và quê nhà của cô — trừ những phương thuốc tinh thần kể trên, nếu không chúng ta hẳn sẽ sớm thấy Phoebe trở nên gầy guộc, sắc mặt xanh xao ốm yếu, và mang bộ dạng kỳ dị, nhút nhát, tiên tri của một cô gái già và một tương lai u ám.

Ngay cả thế, một sự thay đổi ngày càng rõ nét, một sự thay đổi có phần đáng tiếc, cho dù bất kể vẻ đẹp nào nó xâm phạm cũng được bù đắp bằng một vẻ đẹp khác, có lẽ còn quý giá hơn. Cô không còn lúc nào cũng vui vẻ, mà có những lúc trầm tư, điều mà Clifford thích hơn giai đoạn vui tươi trong vắt trước đây của cô, vì bây giờ cô hiểu ông rõ hơn và sâu sắc hơn, thậm chí có lúc còn lý giải bản bản thân ông cho ông nghe. Đôi mắt cô trông to hơn, và tối hơn, sâu hơn; vào những khoảnh khắc im lặng càng sâu thăm thẳm như lòng giếng. Cô ít vẻ thiếu nữ hơn khi chúng ta lần đầu thấy cô từ trên xe bước xuống; ít vẻ thiếu nữ hơn, nhưng đằm thắm hơn. Tâm hồn trẻ trung duy nhất mà Phoebe có cơ hội thường xuyên gặp gỡ là người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Hẳn là vậy, do áp lực của sự cô quạnh mà họ thành ra thân thiết. Nếu họ gặp nhau trong những hoàn cảnh khác, không ai trong hai con người trẻ tuổi này có khả năng dành nhiều ý nghĩ cho người kia, trừ phi sự khác biệt cực độ của họ chứng minh một nguyên lý hấp dẫn lẫn nhau. Quả thực cả hai đều là những nhân vật điển hình của đời sống New England, do đó sự phát triển bên ngoài của họ dựa trên một nền tảng chung, nhưng nội tâm họ khác nhau như thể quê hương bản quán của họ cách nhau nửa vòng trái đất. Thuở mới quen biết, Phoebe đã giữ thái độ dè dặt trái với cung cách thẳng thắn và đơn giản của cô trước sự tán tỉnh vu vơ của Holgrave. Cô cũng không tự mãn rằng mình hiểu rõ anh, cho dù gần như ngày nào họ cũng gặp mặt và trò chuyện, theo một cách hòa nhã, thân thiện, và dường như là đùa cợt.

Người nghệ sĩ, bằng một cách thức lộn xộn, đã cho Phoebe biết đôi điều về quá khứ của mình. Còn trẻ, và đã chấm dứt sự nghiệp vào thời điểm rực rỡ nhất, có đủ các tình tiết để viết nên một cuốn tự truyện. Một sự lãng mạn dựa trên cốt truyện Gil Blas[12], được điều chỉnh cho hợp với xã hội và phong cách Mỹ, sẽ không còn lãng mạn. Cuộc đời của nhiều người trong chúng ta, họ nghĩ chẳng đáng để giãi bày, không kém thăng trầm so với những gì anh chàng người Tây Ban Nha đó kinh qua; trong khi thành tựu sau chót của họ, hoặc cái đích họ định đến, có thể còn cao hơn bất cứ điều gì một tiểu thuyết gia hình dung ra cho người hùng của mình. Holgrave, như anh có phần tự hào nói với Phoebe, không thể kiêu hãnh về gốc gác của bản thân, trừ phi cực kỳ khiêm tốn, cũng như về học vấn, bởi nó cực kỳ ít ỏi, và có được nhờ vài tháng mùa đông đi học trường làng. Phải xoay xở từ sớm, anh bắt đầu tự lập khi còn là một cậu bé, và nó là một hoàn cảnh vừa khéo thích hợp với sức mạnh ý chí của anh. Dù bây giờ mới hai mươi hai tuổi (thiếu vài tháng, bằng vài năm đối với một cuộc sống như vậy), anh đã là, trước hết, một thầy giáo làng; tiếp đến là người bán hàng trong một cửa hàng ở quê; và, hoặc đồng thời hoặc sau đó, phụ trách mục chính trị của một tờ báo ở quê. Rồi anh đến New England và các bang Trung Đại Tây Dương, làm công việc bán dạo cho một xưởng sản xuất nước hoa và các loại nước thơm ở Connecticut. Anh đã học và hành nghề nha sĩ theo cách không chính thống, và rất thành công ở bề nổi, nhất là ở một số thị trấn công nghiệp nằm dọc theo những sông ngòi trong nội địa. Là một nhân viên bổ sung, hay đại loại vậy, trên một con tàu hàng, anh đã đến châu Âu, và trước khi trở về tìm được phương cách để ghé thăm nước Ý, một phần nước Pháp và Đức. Có giai đoạn anh tham gia một cộng đồng những người theo chủ nghĩa xã hội trong vài tháng. Gần đây hơn anh làm diễn giả tự do về thuật thôi miên, môn khoa học mà anh rất có thiên tư (như anh khẳng định với Phoebe, và chứng minh bằng cách làm cho con gà trống, tình cờ bới đất gần đó, ngủ gục).

Nghề nhiếp ảnh hiện tại theo anh không quan trọng cũng không lâu dài hơn bất cứ nghề nào trước đó. Nó được chọn bằng sự hoạt bát vội vàng của một kẻ phiêu lưu cần kiếm miếng ăn. Nó sẽ bị gạt phăng đi bất cứ khi nào anh chọn kiếm miếng ăn bằng những cách thức ngoài lề khác. Nhưng điều đáng chú ý nhất, và có lẽ cho thấy nhiều hơn sự tự chủ ở người thanh niên, đó là qua tất cả những thăng trầm ấy anh chưa từng đánh mất căn tính của mình. Là một người vô gia cư, - liên tục thay đổi nơi ở, do đó không chịu trách nhiệm trước dư luận cũng như những ý kiến cá nhân, - lột bỏ một vỏ ngoài, khoác lên lớp vỏ khác, không lâu sau lại đổi sang vỏ thứ ba, - anh chưa bao giờ xâm phạm đến phần cốt lõi, mà mang theo lương tâm bên mình. Quen biết Holgrave ắt sẽ nhận ra điều đó. Bà Hepzibah đã nhìn thấy nó. Phoebe cũng sớm nhìn ra, và dành cho anh một sự tin tưởng vững chắc. Song cô ngạc nhiên, và đôi khi khó chịu, - không phải vì nghi ngờ tính chính trực của anh hay bất cứ quy tắc nào anh am hiểu, mà vì một cảm giác rằng quy tắc của anh khác với quy tắc của cô. Anh khiến cô bất an, và dường như làm đảo lộn mọi thứ quanh cô, bằng sự coi thường những cái đã cố định, trừ phi nó bất ngờ thiết lập được một vị thế kiên cố. Thêm vào đó, cô không nghĩ trong tính cách anh có sự dịu dàng. Anh là một người quan sát quá bình thản và lãnh đạm. Phoebe thường cảm nhận được ánh mắt anh; trái tim anh thì hiếm khi hoặc không bao giờ. Anh quan tâm đến bà Hepzibah và anh trai bà, và Phoebe ở mức độ nhất định. Anh nghiên cứu họ một cách chăm chú, không bỏ sót một chi tiết nhỏ của từng người. Anh sẵn sàng giúp đỡ họ hết khả năng của mình; nhưng xét cho cùng anh chưa bao giờ thực sự kề vai sát cánh với họ, cũng không đưa ra bằng chứng xác thực rằng quen biết họ lâu hơn thì anh sẽ yêu quý họ hơn. Trong mối quan hệ của anh với họ, dường như anh tìm kiếm món ăn cho tinh thần, không phải dưỡng chất cho trái tim. Phoebe không hiểu nổi anh bị thu hút bởi điều gì ở họ hàng của cô và bản thân cô, về mặt trí tuệ, vì anh không hề hoặc rất ít để tâm đến họ như những đối tượng của lòng yêu mến con người.

Trong những lần gặp gỡ giữa anh và Phoebe, lúc nào người nghệ sĩ cũng đặc biệt hỏi thăm tình hình của Clifford, người anh ít khi gặp gỡ trừ buổi lễ Chủ nhật.

“Ông ấy vẫn vui vẻ chứ?” Một hôm anh hỏi.

“Vui vẻ như một đứa trẻ,” Phoebe trả lời, “nhưng cũng rất dễ cáu như một đứa trẻ.”

“Cáu thế nào?” Holgrave muốn biết. “Bởi những thứ ngoài thân, hay bởi những suy nghĩ trong đầu?”

“Làm sao tôi nhìn ra được những suy nghĩ của ông ấy?” Phoebe sôi nổi đáp. “Tâm trạng ông thường xuyên thay đổi không vì nguyên nhân cụ thể nào, y như đám mây bay ngang mặt trời. Gần đây, khi tôi bắt đầu hiểu ông nhiều hơn, tôi cảm thấy không phải phép khi săm soi tâm tính của ông. Ông mang một nỗi đau lớn, nó khiến trái tim ông trang trọng và thiêng liêng. Khi ông vui, - khi mặt trời chiếu rọi vào tâm trí ông, - tôi mới dám ghé nhìn vào những nơi ánh nắng chạm tới, nhưng không xa hơn. Nó là vùng đất thiêng chìm trong bóng tối!”

“Cách cô diễn giải sự đa cảm này thật dễ thương!” Người nghệ sĩ nói. “Tôi có thể hiểu cảm xúc ấy, dù không có nó. Nếu tôi có những cơ hội như của cô, không sự đắn đo nào ngăn được tôi tìm hiểu ông Clifford đến tận cùng!”

“Mong muốn của anh kỳ lạ làm sao!” Phoebe buột miệng nhận xét. “Chú Clifford là gì đối với anh vậy?”

“Ồ, không gì cả, không gì cả!” Holgrave mỉm cười đáp. “Có điều đây là một thế giới kỳ quặc và khó hiểu! Càng nhìn nó tôi càng thấy bối rối, và tôi bắt đầu ngờ rằng sự hoang mang của một người đàn ông là thước đo trí thông minh của anh ta. Đàn ông, phụ nữ trẻ con cũng là những sinh vật kỳ lạ, người ta không thể nào biết chắc mình thực sự hiểu họ, nhìn họ bây giờ cũng không suy ra được họ trước đây như thế nào. Thẩm phán Pyncheon! Ông Clifford! Họ đại diện cho một bí ẩn phức tạp - một tổ hợp của những sự phức tạp! Cần có sự đồng cảm bằng trực giác của một cô gái mới giải thích được. Một người quan sát đơn thuần, như tôi (kẻ chưa từng có bất cứ trực giác nào, chỉ có mơ hồ và chính xác), chắc chắn sẽ lạc hướng.”

Đến đây người nghệ sĩ chuyển cuộc trò chuyện sang những chủ đề bớt u ám hơn. Phoebe và anh đều còn trẻ. Nếu Holgrave, với kinh nghiệm sống sớm dày dạn, không lãng phí hoàn toàn tinh thần đẹp đẽ của tuổi trẻ trào dâng từ một trái tim nhỏ bé rạo rực, có thể đã lan tỏa nó khắp vũ trụ, khiến nó tươi sáng như thuở khai thiên lập địa. Tuổi trẻ của đàn ông là tuổi trẻ của thế gian; chí ít đàn ông cảm thấy như vậy, và hình dung rằng lớp vỏ cứng của trái đất là thứ gì đó chưa đông kết, anh ta có thể nhào nặn thành mọi hình dạng anh ta thích. Với Holgrave cũng thế. Anh có thể nói một cách uyên bác về sự già nua của thế giới, nhưng chưa bao giờ thực sự tin những điều mình nói; anh vẫn là một chàng trai trẻ, và do đó coi thế giới - râu tóc bạc phơ và mặt mũi hom hem đầy nếp nhăn, song không có vẻ khả kính - như một thanh niên non nớt, có thể cải tạo thành mọi thứ đáng phải trở thành, nhưng chẳng cho thấy một sự hứa hẹn dù xa xôi nhất. Anh có cảm giác, hoặc linh tính, - thứ mà một người đàn ông trẻ thà đừng sinh ra còn hơn không có nó, và một người đàn ông chín chắn thà chết ngay lập tức còn hơn từ bỏ nó, - rằng chúng ta không phải chịu số phận bò mãi trên con đường tồi tệ cũ, mà ngay bây giờ đã có những dấu hiệu của một kỷ nguyên hoàng kim, mở ra trong thời kỳ anh sống. Dường như Holgrave thấy - hẳn là đối với những con người tràn đầy hy vọng của mọi thế kỷ từ thời con cháu Adam dường như cũng thấy, - rằng trong thời đại này, hơn bao giờ hết, quá khứ rêu phong và thối rữa sẽ bị kéo sập, và những thể chế vô hồn bị quét sạch khỏi đường đi, những cái xác của chúng bị chôn vùi, và bắt đầu một tương lai mới mẻ. Về điểm chính, - có thể chúng ta chẳng cần nghi ngờ điều đó! – về những thế kỷ tốt đẹp hơn đang tới, người nghệ sĩ chắc chắn đúng. Sai lầm của anh nằm ở chỗ cho rằng thời đại này, không phải quá khứ hay tương lai, được định sẵn để trông thấy những lớp quần áo rách rưới của Đời Xưa được thay bằng bộ trang phục mới, chứ không phải từ từ làm mới mình bằng việc vá may; rằng cuộc đời nhỏ bé của mình đóng góp cho một thành tựu vô tận; và hơn hết, tưởng rằng cái kết quả lớn lao ấy ít nhiều phụ thuộc vào việc anh đấu tranh cho nó hay chống lại nó. Song anh nghĩ vậy cũng tốt. Nhiệt huyết này, khi ngấm vào tính cách lãnh đạm của anh, và chiếm một chỗ trong suy nghĩ và trí tuệ, sẽ giữ cho tuổi trẻ của anh được thuần khiết, nâng đỡ những khát vọng trong anh. Và khi tuổi tác đè nặng trên vai, niềm tin ban đầu của anh thay đổi bởi những trải nghiệm khó tránh khỏi, những cảm xúc của anh sẽ không đảo lộn một cách đột ngột và gay gắt. Anh vẫn sẽ tin vào số phận tươi sáng của con người, và có lẽ càng yêu bản thân hơn, khi anh nhận ra sự bất lực của chính mình; niềm tin kiêu hãnh anh đã mang theo vào đời sẽ bị đổi lấy một niềm tin khiêm tốn hơn, khi hiểu ra nỗ lực chuyên tâm nhất của con người sẽ thực hiện được một giấc mơ, trong khi Chúa là người lao động duy nhất của thực tại. Holgrave đọc rất ít, và con số ít ỏi đó khi bôn ba trên đường đời đã pha tạp ngôn ngữ huyền bí trong những cuốn sách của anh với tiếng lao xao của đám đông, khiến cả hai đều có khả năng mất đi bản sắc của mình. Anh coi bản thân là một người tư duy, biết suy nghĩ thấu đáo, nhưng do tự khám phá con đường của mình nên có lẽ chưa đạt tới mốc mà một người được học hành bắt đầu suy nghĩ. Giá trị thực sự của anh nằm ở sự ý thức sâu sắc về sức mạnh nội tâm, khiến những thăng trầm đã qua của anh dường như chỉ là việc thay một bộ quần áo; nằm ở bầu nhiệt huyết thầm lặng mà anh gần như không biết đến sự tồn tại của nó, nhưng tạo ra hơi ấm cho mọi thứ anh chạm tay vào; nằm ở tham vọng, chìm khuất - khỏi mắt anh cũng như những cặp mắt khác - giữa những thôi thúc mạnh mẽ hơn của anh, nhưng ẩn chứa một hiệu lực nhất định, có khả năng bồi đắp anh từ một nhà lý luận thành một nhà đấu tranh cho một mục tiêu có thể thành hiện thực. Tất cả nằm trong tri thức và khát khao tri thức của anh, - trong triết lý sơ khai, lộn xộn, mơ hồ của anh, và kinh nghiệm thực tiễn chống lại những khuynh hướng của nó; trong sự nhiệt thành hào hiệp của anh đối với sự tiến bộ của con người, và sự coi thường bất cứ thứ gì thời đại đã phát minh ra vì con người; trong niềm tin của anh, trong sự vô thần của anh; trong những cái anh có, và những cái anh không có, - người nghệ sĩ có thể đủ khả năng bước lên đại diện cho bạn bè ở quê hương anh.

Sẽ khó hình dung trước sự nghiệp của anh. Ở một đất nước nơi mọi thứ tự do thuộc về bàn tay nào biết nắm bắt, Holgrave có những tố chất để dễ dàng gặt hái vài giải thưởng trong tầm tay anh, nhưng không cầm chắc. Gần như mỗi bước đi trong đời, chúng ta đều gặp những thanh niên trẻ trạc tuổi Holgrave mà chúng ta thấy toát lên tiền đồ sán lạn, nhưng sau khi hỏi han kỹ lưỡng, chúng ta không bao giờ nghe được gì từ họ nữa. Sự sôi sục của tuổi trẻ và đam mê, và vẻ hào nhoáng tươi mới của tài trí, phủ lên họ một hào quang giả tạo, tự biến họ và những người khác thành lố bịch. Giống như những tấm vải hoa, vải trúc bâu, vải bông kẻ, lúc còn mới trông rất đẹp, nhưng không chịu được nắng mưa, qua một ngày giặt giũ đã xỉn màu.

Nhưng chúng ta hãy tập trung vào Holgrave khi chúng ta bắt gặp anh trong buổi chiều này, trong vòm cây của khu vườn Pyncheon. Thật là một hình ảnh dễ chịu khi ngắm nhìn chàng trai trẻ, tràn đầy niềm tin, giỏi giang và đẹp đẽ, - chỉ trầy xước chút đỉnh bởi những gian nan thử thách, - thật dễ chịu khi nhìn anh trò chuyện thân mật với Phoebe. Ý nghĩ rằng anh lạnh lùng của cô không đúng cho lắm, hoặc nếu đúng thì bây giờ anh đã ấm áp hơn. Cô không chủ tâm, còn anh không để ý, nhưng cô đã biến ngôi nhà bảy đầu hồi thành một mái ấm đối với anh, và khu vườn là một nơi thân thuộc. Với một nhãn quan mà anh lấy làm tự hào, anh cho rằng mình có thể nhìn thấu Phoebe, và mọi thứ xung quanh cô, và có thể đọc cô như đọc một trang sách dành cho trẻ con. Nhưng những thứ trong suốt thường gây nhầm lẫn về chiều sâu của chúng, những viên đá cuội dưới đáy đài phun nước ở xa chúng ta hơn chúng ta nghĩ. Do đó dù người nghệ sĩ có đánh giá thế nào về năng lực của Phoebe, đều bị đánh lừa, bởi sức hấp dẫn thầm lặng của cô, khi thoải mái nói về điều anh mơ ước sẽ thực hiện. Anh như trút tâm tư của bản thân sang một bản thể khác. Anh rất dễ quên đi Phoebe trong lúc trò chuyện với cô, và chỉ trôi theo dòng suy nghĩ, khi say sưa bởi nhiệt tình và xúc cảm, chảy vào cái hồ an toàn đầu tiên nó tìm thấy. Nhưng nếu ta nhìn họ qua những khe hở của hàng rào khu vườn, sự hăng hái và sắc mặt hồng lên của chàng trai có thể khiến ta cho rằng anh đang tỏ tình với cô gái!

Cuối cùng, Holgrave nói điều gì đó vừa khéo để Phoebe hỏi duyên cớ nào đã cho anh làm quen với bà Hepzibah, và vì sao anh lại muốn ở trọ trong ngôi nhà Pyncheon đổ nát. Không trả lời thẳng vào câu hỏi của cô, anh chuyển khỏi Tương Lai, cho đến trước đó vẫn là chủ đề bài diễn thuyết của anh, và bắt đầu nói về những tác động của Quá Khứ. Một chủ đề thực ra là tiếng vọng của chủ đề kia.

“Chúng ta sẽ không bao giờ dứt bỏ được Quá Khứ này sao?” Anh kêu lên, giữ nguyên tông giọng nhiệt thành của đoạn đối thoại trước. “Nó nằm trên Hiện Tại như xác chết của tên khổng lồ! Cứ như một tên khổng lồ trẻ buộc phải còng lưng cõng cái xác của tên khổng lồ già, ông của hắn, đã chết từ đời nào, và chỉ cần chôn cất một cách tử tế. Thử nghĩ xem, cô sẽ giật mình nhìn ra chúng ta là những nô lệ của dĩ vãng như thế nào, của Cái Chết, nếu chúng ta đặt đúng tên cho nó!”

“Nhưng tôi không nhìn ra!” Phoebe nói.

“Vậy thì tôi xin lấy ví dụ,” Holgrave tiếp tục: “một người đàn ông đã chết, nếu ông ta tình cờ làm di chúc, giải quyết số tài sản không còn của ông ta nữa; hoặc nếu ông ta chết không để lại di chúc, nó được phân chia theo sự đồng ý của những người chết lâu hơn ông ta rất nhiều. Một người chết ngồi trên tất cả những ghế quan tòa của chúng ta; và những quan tòa sống chỉ làm công việc tìm kiếm và lặp lại những quyết định của ông ta. Chúng ta đọc sách của những những người đã chết! Chúng ta cười trước những chuyện tiếu lâm của những người đã chết, và khóc trước cảnh bi đát của những người đã chết! Chúng ta ốm vì những căn bệnh của người đã chết, về thể xác và tinh thần, và chết bởi những phương thuốc tương tự mà những thầy thuốc đã chết dùng để giết các bệnh nhân của mình. Chúng ta thờ phụng vị thần sống theo nghi thức và tín ngưỡng của những người đã chết. Bất kể chúng ta cố gắng làm gì để được tự do, bàn tay lạnh lẽo của người chết sẽ cản trở chúng ta! Hướng mắt về đâu chúng ta cũng bắt gặp một khuôn mặt trắng bệch trừng trừng của người chết làm tim chúng ta đông cứng! Và chính chúng ta phải chết trước khi có thể bắt đầu có ảnh hưởng lên thế giới của chúng ta, khi ấy sẽ không còn là thế giới của chúng ta nữa, mà của một thế hệ khác, chúng ta sẽ không còn một quyền gì để can thiệp. Tôi cũng phải nói rằng chúng ta sống trong những ngôi nhà của người chết, chẳng hạn như ngôi nhà bảy đầu hồi này!”

“Và tại sao không,” Phoebe nói, “miễn là chúng ta cảm thấy thoải mái?”

“Nhưng tôi tin chúng ta sẽ sống để nhìn thấy cái ngày mà không một người nào định xây ngôi nhà của mình để dành cho con cháu. Tại sao anh ta phải làm thế? Anh ta chỉ cần đặt may một bộ quần áo bền chắc, - bằng da, nhựa cây két, hay bất cứ cái gì bền nhất, - để cháu chắt anh ta thừa hưởng, và gây ấn tượng tương tự trong cái thế giới anh ta sống. Nếu mỗi thế hệ được phép và khuyến khích xây những ngôi nhà của riêng mình, sự thay đổi nhỏ ấy thôi sẽ kéo theo cả một sự cải tổ mà xã hội hiện đang mong mỏi. Tôi nghi ngờ có phải ngay đến những tòa nhà công cộng lớn của chúng ta - tòa nhà chính phủ, tòa nhà nghị viện bang, tòa án, nhà thị chính, nhà thờ, - cũng phải xây bằng những vật liệu vĩnh viễn như đá hoặc gạch. Tốt hơn là chúng nên sụp đổ trong vòng hai mươi năm trở lại, như một dấu hiệu cho mọi người khảo sát và cải tổ những thể chế mà chúng đại diện.”

“Anh đúng là căm ghét tất cả những thứ cũ kỹ!” Phoebe hoảng hốt nói. “Tôi thấy chóng mặt khi nghĩ đến một thế giới biến động như vậy!”

“Chắc chắn tôi không yêu thích cái gì lỗi thời.” Holgrave trả lời. “Còn ngôi nhà cũ Pyncheon này! Nó có phải là một chỗ trong lành để sống, với những tấm ván đen, và rêu xanh cho thấy chúng ẩm ướt như thế nào? - những căn phòng tối, trần thấp của nó - lớp bụi bẩn trên tường là kết tinh của hơi thở con người, đã phả ra ở đây trong bất mãn và thống khổ? Ngôi nhà phải được làm sạch bằng lửa, - làm sạch cho đến khi chỉ còn lại tro tàn!”

“Thế tại sao anh còn sống trong nó?” Phoebe hỏi, hơi giận dỗi.

“Ồ, tôi đang theo nghiệp học hành ở đây, tuy nhiên không phải trong sách vở.” Holgrave đáp. “Ngôi nhà, theo tôi, mang ý nghĩa của Quá Khứ đáng ghét và ghê tởm, với tất cả những ảnh hưởng tồi tệ của nó mà tôi vừa chỉ trích. Tôi ở trong nó một thời gian để tôi biết cách căm ghét nó triệt để hơn. Mà này, cô đã bao giờ nghe câu chuyện về Maule, tên phù thủy, và sự việc xảy ra giữa ông ta và cụ tổ của cô chưa?”

“Tôi có nghe!” Phoebe nói, “Cách đây đã lâu, từ cha tôi, và đôi ba lần từ cô Hepzibah, trong thời gian tôi mới đến đây. Hình như cô tôi cho rằng mọi tai ương của gia tộc Pyncheon bắt nguồn từ mâu thuẫn với tên phù thủy, như anh gọi ông ta. Và anh Holgrave, trông anh như thể anh cũng nghĩ vậy! Thật lạ là anh lại tin vào một chuyện hết sức ngớ ngẩn, trong khi bác bỏ những thứ có nguồn gốc giá trị hơn nhiều!”

“Tôi tin nó nhưng không phải như một sự mê tín dị đoan,” người nghệ sĩ nghiêm túc nói, “mà được minh chứng bằng những sự việc không thể chối cãi, và làm ví dụ cho một giả thuyết. Cô nhìn xem: bên dưới bảy đầu hồi mà chúng ta trông lên kia, - đó là ngôi nhà mà viên đại tá già Pyncheon định để lại cho những hậu duệ của mình, sống thịnh vượng và hạnh phúc đến tận thời đại sau này, - trải qua ba thế kỷ, dưới mái nhà kia luôn có sự dằn vặt của lương tâm, hy vọng bị tan vỡ, xung đột giữa người thân, những nỗi khổ sở khác nhau, một hình thức kỳ lạ của cái chết, sự nghi ngờ đen tối, nỗi nhục nhã tột cùng, - tất cả, hoặc hầu hết tai ương ấy là phương tiện để tôi lần ra khao khát quá quắt của ông già Thanh giáo muốn gây dựng một gia đình. Gây dựng một gia đình! Ý nghĩ này nằm ở tận cùng sự sai trái và độc ác con người gây ra. Sự thật là, cứ mỗi nửa thế kỷ, một gia đình nên hòa nhập vào cộng đồng pha tạp của nhân loại, và quên hết về tổ tiên của mình. Dòng máu, muốn giữ được sự tinh khiết, nên chảy trong những dòng chảy ngầm, như nước của một ống dẫn được chuyển vào những đường ống ngầm. Trong sự tồn tại kiểu gia đình của những người họ Pyncheon này, - thứ lỗi cho tôi, Phoebe, nhưng tôi không thể nào nghĩ về cô như một người trong số họ, - trong phả hệ ngắn ngủi của họ ở New England, có đủ thời gian cho họ không mắc bệnh tâm thần này thì cũng mang theo chứng điên khác.”

“Anh nói năng rất không khách sáo về họ hàng của tôi,” Phoebe nói, cân nhắc xem mình có nên nổi giận không. “Tôi nói những ý nghĩ thành thật cho một tâm hồn thành thật!” Holgrave trả lời, với một sự dữ dội mà Phoebe chưa từng chứng kiến ở anh. “Tôi chỉ nói sự thật! Hơn nữa, thủ phạm đầu tiên và cha đẻ của tội ác này hình như sống mãi, và vẫn dạo bước ngoài phố, - chí ít là hình ảnh của ông ta, trong tâm hồn và thể xác, - thừa hưởng cả sự thành đạt giàu có và khốn kiếp ở mức cao nhất! Cô có nhớ bức ảnh, và sự giống nhau giữa nó với bức tiểu họa không?”

“Anh hăng hái đến khác thường đấy!” Phoebe thốt lên, nhìn anh với vẻ ngạc nhiên và bối rối, nửa cảnh giác nửa muốn bật cười. “Anh nói về bệnh điên của dòng họ Pyncheon, nó có lây không?”

“Tôi hiểu ý cô!” Người nghệ sĩ nói, đỏ mặt và cười. “Tôi tin mình hơi điên một chút. Chủ đề này đã bám lấy tâm trí tôi hết sức dai dẳng kể từ khi tôi chuyển vào đầu hồi đằng kia. Như một phương thức để dứt bỏ nó, tôi đã đưa vụ việc trong lịch sử của gia tộc Pyncheon, mà tôi tình cờ quen thuộc, thành một dạng truyền thuyết, và định công bố nó trong một tạp chí.”

“Anh viết báo nữa à?” Phoebe hỏi.

“Lẽ nào cô lại không biết?” Holgrave kêu lên. “Tiếng tăm văn chương nổi như cồn vậy mà! Đúng vậy. Thưa cô Phoebe Pyncheon, trong vô số tài năng trác tuyệt của tôi có cả tài viết lách đấy, tên tôi đã xuất hiện trên trang bìa tạp chí của Graham và Godey, đầy khả kính, trong chừng mực mà tôi thấy, như bất cứ tên tuổi lớn nào nó hợp tác. Trong dòng văn hài, tôi được xem là người có khiếu hài hước; còn với mảng bi kịch, tôi dễ rơi nước mắt như khi thái hành. Để tôi đọc cho cô câu chuyện của tôi nhé?”

“Vâng, nếu nó không quá dài,” Phoebe nói, và cười khúc khích bổ sung, “hoặc quá buồn tẻ.”

Ở vế thứ hai thì người nghệ sĩ nhiếp ảnh không thể quả quyết, anh lập tức rút ra cuộn bản thảo, và bắt đầu đọc, trong lúc ánh nắng chiều dát vàng bảy đầu hồi.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne