Mùi sự trì trệ, hay chúng ta có thể gọi là lay lắt, của tâm trạng thường ngày, Clifford có lẽ sẽ hài lòng dành ngày này sang ngày khác, vô tận - hoặc ít nhất hết mùa hè - sống theo kiểu đã được miêu tả ở những trang trước. Tuy nhiên, cho rằng sẽ có lợi cho ông nếu thay đổi khung cảnh, Phoebe thỉnh thoảng khuyên ông nên nhìn ra cuộc sống ngoài phố. Vì mục đích này, họ hay leo cầu thang lên tầng hai ngôi nhà, tại đó, ở cuối lối đi rộng có một cửa sổ vòm, kích thước lớn khác thường, buông rèm kín mít. Nó mở ra một mái hiên, nơi trước đây có một ban công, hàng lan can từ lâu mục nát đã bị dỡ bỏ. Ở ô cửa sổ vòm này, mở hết cánh, nhưng giấu mình trong bóng tối lờ mờ của những lớp rèm, Clifford có cơ hội chứng kiến một phần của đời sống thế giới đi qua một trong những con phố hẻo lánh của một thị trấn không quá đông đúc. Nhưng ông và Phoebe thấy nó giá trị như bất cứ nơi nào thị trấn có thể phô ra. Vẻ mặt nhợt nhạt, rầu rĩ, trẻ thơ, già nua, u uất, song thường là vui vẻ, và đôi khi thông minh tinh tế của Clifford, ngó ra từ sau tấm rèm đỏ thẫm đã bạc màu, - ngắm nhìn nhịp sống đơn điệu hàng ngày với sự chăm chú và háo hức vô lý, và, với mỗi nốt rung động của giác quan, ông đều quay sang tìm sự đồng cảm trong đôi mắt cô gái trẻ.
Nếu ngày bé ông được đặt ngồi lên cửa sổ, phố Pyncheon cũng không đến nỗi quá buồn tẻ và hiu quạnh, mà ngoài phạm vi của nó Clifford có thể khám phá bằng mắt những điều khiến ông thích thú, nếu không phải là say mê. Những thứ ban đầu dường như xa lạ đã trở nên quen thuộc với đứa trẻ. Một chiếc xe ngựa thuê, một cỗ xe khách, bên trong chất đầy người, thỉnh thoảng lại dừng thả một hành khách xuống, và đón một hành khách khác lên, như mô hình thu nhỏ của một cỗ xe rộng lớn không ngừng lăn bánh, là thế giới, điểm cuối hành trình của nó ở khắp mọi nơi và vô tận; những đối tượng này được ông theo dõi bằng đôi mắt háo hức, nhưng quên ngay bọn chúng trước khi bụi bốc lên dưới vó ngựa và bánh xe tiếp tục lăn. Đối với những thứ mới lạ (trong đó có thể kể đến xe ngựa và xe khách), tâm trí ông dường như mất khả năng lưu giữ. Chẳng hạn như hai ba bận, trong suốt mấy giờ đồng hồ một ngày nắng gắt, một chiếc xe phun nước chạy qua ngôi nhà Pyncheon, để lại một dải đất ẩm rộng, thay vì lớp bụi trắng sẵn sàng vẫn lên dưới bước chân nhẹ nhàng nhất của một tiểu thư; nó như một trận mưa mùa hè, bị nhà chức trách thành phố bắt được và thuần hóa, và đưa nó vào khuôn khổ phục vụ cho họ. Chiếc xe chở nước này Clifford không sao quen được; nó luôn khiến ông kinh ngạc như lần đầu. Tâm trí ông bị ấn tượng mạnh, nhưng không ghi nhớ được cơn mưa lặp đi lặp lại này, trước khi nó xuất hiện vào lần tiếp theo, khi đường phố lại mịt mù bụi trắng trong nắng nóng. Với đường ray xe lửa cũng vậy. Clifford có thể nghe thấy tiếng gầm rú của con quỷ hơi nước đó, và, chỉ cần vươn người một chút khỏi ô cửa sổ, có thể loáng thoáng thấy những toa tàu, lướt qua chớp nhoáng ở cuối phố. Ý nghĩ về cỗ máy kinh khủng ấy choán lấy tâm trí ông mỗi lần nó xuất hiện, và khiến ông khó chịu cùng ngạc nhiên gấp trăm lần so với lần đầu.
Không gì gây ra cảm giác suy tàn đáng buồn hơn việc mất đi hoặc đình trệ khả năng ứng phó với những thứ khác thường, và theo kịp thời khắc vùn vụt trôi qua. Nó có thể chỉ là sinh khí bị tắc nghẽn, vì nếu năng lượng thực sự tắt, thì sự bất tử chẳng còn mấy ý nghĩa. Chúng ta không khác gì hồn ma khi gặp phải tai ương này.
Clifford là người bảo thủ ngoan cố nhất trong những kẻ bảo thủ. Mọi cung cách xưa cũ của con phố đều thân thương với ông, kể cả những cái thô thiển mà bình thường sẽ gây khó chịu đến các giác quan cảnh vẻ của ông. Ông yêu những chiếc xe ngựa hai bánh cũ vừa ồn vừa xóc, con đường ngày xưa ông vẫn tìm thấy trong ký ức bị chôn sâu của mình, như người quan sát ngày nay tìm thấy vết bánh xe của những chiếc xe cổ ở Herculaneum. Xe của hàng thịt, với mái che phủ đầy tuyết, là thứ có thể chấp nhận được; tương tự là xe bán cá với tiếng kèn hiệu; xe chở rau của người nông dân, chậm chạp đi từ nhà này sang nhà khác, với những lần dừng lâu của con ngựa nhẫn nại, trong khi chủ nó buôn bán củ cải, cà rốt, bí mùa hè, đậu cô ve, đậu Hà Lan, và khoai tây mới dõ, với các bà nội trợ trong khu phố. Xe bán bánh, với tiếng chuông chói tai, có một tác động dễ chịu lên Clifford, bởi vì, như một số ít thứ khác, nó mang nghịch âm khó chịu của ngày xưa. Một chiều nọ một người mài dao kéo tình cờ đặt cái bánh mài dưới cây du Pyncheon, và ngay trước cửa sổ vòm. Trẻ con chạy ùa đến với những chiếc kéo của mẹ chúng, dao bếp, dao cạo, hoặc bất cứ thứ gì khác không được sắc (trừ trí thông minh của Clifford tội nghiệp), để người thợ mài áp vào bánh xe thần kỳ của mình, rồi trả lại nó trong tình trạng tốt như mới. Động cơ quay không ngừng nhờ bàn chân của người thợ, mài thép cứng vào đá cứng, từ đó phát ra tiếng rít dữ dội và gay gắt kéo dài như âm thanh của quỷ Satan và đồng đảng của hắn nơi địa ngục, nhưng ở phạm vi nhỏ hơn. Đó là một âm thanh xấu xí, rin rít độc địa của loài rắn, rất hại cho tai con người. Nhưng Clifford lắng nghe với vẻ say sưa. Âm thanh ấy, dù khó chịu, nhưng chứa đầy sức sống, cùng với trẻ con vòng trong vòng ngoài tò mò quan sát bánh xe quay tít, dường như cho ông một cảm giác sống động về sự tồn tại hối hả, ồn ào và rực rỡ hơn bất cứ cách thức nào khác. Tuy nhiên, sự mê hoặc của nó nằm chủ yếu trong quá khứ, vì bánh xe của người thợ mài dao kéo đã rít lên trong đôi tai trẻ thơ của ông.
Thỉnh thoảng ông lại phàn nàn rằng ngày nay không còn những cỗ xe ngựa bốn bánh. Và ông hỏi bằng giọng giận dỗi về những chiếc xe nhỏ hình vuông ngày xưa giờ đâu mất, với những cái cánh chìa ra ở hai bên, thường được kéo bởi một con ngựa cày, do vợ và con gái một bác nông dân điều khiển, bán rong những quả việt quất đen và mâm xôi trong thị trấn. Sự biến mất của chúng khiến ông nghi ngờ, ông nói, phải chăng những loại quả mọng đã không còn mọc ở những bãi cỏ rộng và dọc theo những con đường quê râm mát.
Nhưng bất cứ thứ gì thu hút mỹ cảm, dù theo cách khiêm nhường đến đâu, cũng không cần gợi nhắc bởi những liên tưởng xa xưa này. Có thể thấy điều đó khi một trong những thằng bé người Ý (những nhân vật khá mới lạ trên đường phố của chúng ta) xuất hiện cùng chiếc đàn quay, và dừng chân dưới bóng mát tỏa rộng của cây du. Với ánh mắt chuyên nghiệp nó phát hiện ra hai gương mặt đang nhìn mình từ ô cửa sổ vòm, và, mở nhạc cụ ra, nó bắt đầu rải những giai điệu. Thằng bé có một con khỉ bám trên vai, mặc trang phục kẻ ô của người cao nguyên Scotland, và, để hoàn tất tổng thể sức hấp dẫn nhằm lôi kéo công chúng, có một nhóm người tí hon, cư trú trong thùng đàn bằng gỗ gụ, với nguồn sống là âm nhạc thằng bé người Ý tạo ra. Có đủ các thành phần, - thợ giày, thợ rèn, người lính, tiểu thư cầm quạt, bợm nhậu cầm chai, cô gái vắt sữa ngồi cạnh con bò cái của mình – cái xã hội nhỏ tốt số này có thể nói là yêu thích một sự tồn tại hài hòa, và biến cuộc sống thành một điệu nhảy. Thằng bé người Ý quay một cái tay quay, và xem kìa! Tất cả những người tí hon bắt đầu cử động một cách lạ lùng nhất. Thợ giày đóng một chiếc giày; thợ rèn quai búa; người lính vung thanh gươm sáng loáng; tiểu thư phe phẩy quạt tạo ra một làn gió nhẹ; gã bợm nhậu chuếnh choáng tu ừng ực chai rượu; một nhà học giả mở quyển sách với vẻ khao khát thu nạp kiến thức, đầu đảo qua đảo lại trên trang giấy; cô gái hăm hở vắt sữa con bò cái; và một người keo kiệt chất vàng vào trong két sắt, tất cả chuyển động cùng lúc với cái tay quay. Và cũng do động cơ ấy thúc đẩy, một chàng trai hôn chào người tình. Có thể một kẻ yếm thế nào đó, trong một giây phút vừa vui tươi vừa chua chát, đã khao khát chứng tỏ, trong hoạt cảnh câm này, rằng con người chúng ta, dù nghề nghiệp hay thú vui gì, - nghiêm túc hay bỡn cợt thế nào, – tất cả đều nhảy theo một điệu, mặc kệ động tác kỳ cục ra sao, cuối cùng cũng chẳng làm nên cơm cháo gì. Vì điểm đáng chú ý nhất là, khi tiếng nhạc ngừng, tất cả mọi người lập tức sững lại, từ cuộc sống sôi động nhất thành chết lâm sàng. Không chiếc giày nào của người thợ giày được làm xong, thanh sắt của thợ rèn cũng chưa ra hình dạng, chẳng có giọt brandy nào vơi đi trong cái chai của gã bợm nhậu, chẳng có thêm giọt sữa nào trong xô của cô gái, không có thêm đồng vàng nào trong két sắt của kẻ keo kiệt, nhà học giả không đọc thêm được trang sách nào. Tất cả ở nguyên trong tình trạng như trước khi họ biến mình thành lố bịch bằng sự hối hả lao động, vui chơi, tích trữ vàng, và trở nên thông thái. Đáng buồn nhất là chàng trai chẳng hề hạnh phúc hơn nhờ nụ hôn của cô gái! Nhưng chúng ta thà từ bỏ cả buổi trình diễn còn hơn nuốt ngụm cuối cùng đắng chát này!
Trong lúc ấy con khỉ, với cái đuôi dài duỗi ra phi lý từ dưới bộ trang phục kẻ ô, nhảy xuống ngồi dưới chân thằng bé người Ý. Nó hướng bộ mặt nhăn nheo xấu xí vào mọi khách qua đường, và vòng tròn trẻ con đã sớm tập hợp xung quanh, rồi cửa hàng của bà Hepzibah, và hướng lên cửa sổ vòm, nơi Phoebe và Clifford đang nhìn xuống. Chốc chốc nó lại bỏ cái mũ cao nguyên Scotland ra, cúi chào và gãi soàn soạt. Thỉnh thoảng nó còn làm động tác xin xỏ với mọi người, chìa bàn tay nhỏ đen đúa ra, và bày tỏ khao khát tột bậc với bất cứ chút lộc vụn vặt nào có thể tình cờ nằm trong ví của bất cứ ai. Vẻ bần tiện và thấp hèn, song giống con người một cách kỳ lạ trên bộ mặt héo quắt của nó; ánh nhìn xoi mói và xảo trá, cho thấy nó sẵn sàng chộp lấy mọi lợi thế khốn khổ; cái đuôi lớn của nó (quá lớn để giấu đi một cách ý tứ dưới lớp vải gabardine), và bản chất độc ác toát ra, - nói tóm lại, nhìn con khỉ này ta chẳng thể tìm đâu ra hình ảnh chính xác hơn của con quỷ phú quý, mang hình dáng thô tục nhất của tình yêu tiền bạc. Bao nhiêu cũng không đủ đối với con quỷ nhỏ tham lam này. Phoebe ném xuống một vốc tiền xu, nó nhặt lên với sự háo hức chẳng lấy gì làm vui vẻ, đưa cho thằng bé người Ý cất, và lập tức tiếp tục chuỗi xin xỏ câm lặng.
Chắc chắn, hơn một người New England, – hoặc người vùng nào cũng được, có thể thế lắm - đi ngang qua, phóng một ánh nhìn vào con khỉ, và đi tiếp, mà không hay biết tình trạng đạo đức của mình bị đem ra làm ví dụ minh họa ở đây. Song Clifford thuộc một hệ khác. Ông đã vui sướng như trẻ thơ trong tiếng nhạc, và mỉm cười khi những hình người cử động. Nhưng sau khi nhìn một lúc vào con quỷ nhỏ đuôi dài, ông hết sức bàng hoàng bởi sự xấu xí kinh khủng của nó, về tâm hồn cũng như thể xác, đến nỗi ông thực sự rơi nước mắt. Một sự yếu đuối mà những con người trời sinh tao nhã, không có khả năng cười cợt dữ dội hơn, sâu sắc hơn, và bị thảm hơn, khó có thể tránh được, khi mặt tồi tệ và hèn hạ nhất của cuộc sống vô tình hiện ra trước mắt họ.
Phố Pyncheon thỉnh thoảng lại rộn rã bởi những buổi trình diễn còn ấn tượng hơn cảnh kể trên, và kéo theo một đám đông đi cùng. Với một ác cảm rùng mình khi nghĩ đến việc tiếp xúc với thế giới, một thôi thúc mạnh mẽ vẫn kiểm soát Clifford, mỗi khi sự ào ạt và ầm ĩ của đám đông dội vào tai ông. Đến một ngày chuyện đó được làm rõ, khi một cuộc diễu hành chính trị, với hàng trăm biểu ngữ phô trương, kèn trống, vang dội giữa những dãy nhà, đi khắp thị trấn, kéo lê những bước chân rầm rập và huyên náo nhất, qua ngôi nhà bảy đầu hồi thường ngày tĩnh lặng. Là đối tượng quan sát, xem một cuộc diễu hành qua những đường phố nhỏ hẹp giống như nhìn một bức tranh bị lộ hết khiếm khuyết. Người xem cảm thấy nó là một vở kịch ngớ ngẩn, khi anh ta có thể nhận ra sự tầm thường của mỗi khuôn mặt, với mồ hồi và vẻ trịnh trọng gắng sức trên đó, và từng đường cắt của cái quần ống bó, sự cứng nhắc hoặc lỏng lẻo của cổ áo sơ mi, và bụi bẩn trên lưng chiếc áo khoác đen. Muốn trở nên đường bệ, nó phải được nhìn từ một góc thuận lợi, khi chầm chậm diễu qua trung tâm một bãi trống rộng, hoặc quảng trường công cộng trang nghiêm nhất của một thành phố. Khi ấy, khoảng cách lớn sẽ giúp nó xóa nhòa những nét vụn vặt và dựng lên một hình ảnh hùng vĩ, - một cuộc đời vĩ đại, - một thân hình vững chãi, với một tinh thần cao cả đồng nhất thổi hồn cho nó. Nhưng mặt khác, nếu một người dễ kích động, đứng một mình bên rìa, nơi một trong những cuộc diễu hành này, quan sát nó, không phải từng chi tiết mà cả tổng thể, - như một dòng sông lớn, nước cuồn cuộn, và đen ngòm bí ẩn, và độ sâu của nó đánh động tới chiều sâu đồng loại bên trong anh ta, rồi sự kề cận sẽ gia tăng sức ảnh hưởng. Nó có thể khiến anh ta phấn khích đến mức khó mà ngăn mình nhảy xuống dòng thác cảm xúc của đám đông.
Điều đó đúng với Clifford. Ông rùng mình, tái nhợt và ném một ánh mắt khẩn cầu vào bà Hepzibah và Phoebe, những người đứng cùng ông bên cửa sổ. Họ không hiểu gì về những cảm xúc của ông, và cho rằng ông chỉ bực bội vì sự náo động bất thường. Cuối cùng, với tứ chi run rẩy, ông bước lên, đặt bàn chân lên bệ cửa sổ, và thêm một bước nữa thôi sẽ ở ngoài ban công không được che chắn. Khi ấy, cả đoàn diễu hành có thể nhìn thấy ông, một kẻ hoang dại, hốc hác, những lọn tóc xám của ông phất phơ trong cơn gió thổi gợn sóng những biểu ngữ của bọn họ; một con người cô độc, xa lạ với chủng loài của mình, nhưng giờ đây cảm thấy mình lại là một người đàn ông, dưới tác động của bản năng không thể kìm nén choán lấy ông. Nếu Clifford tới được ban công, có lẽ ông sẽ nhảy xuống đườn, nhưng bị thúc đẩy bởi nỗi kinh hoàng thỉnh thoảng xui khiến nạn nhân của nó vượt qua vách đá hắn đang nấp vào, hay bởi một lực hút tự nhiên về phía trung tâm của đám đông, điều đó không dễ xác định. Cả hai thôi thúc có thể cùng lúc tác động lên ông.
Nhưng hai người bên cạnh, hoảng sợ trước cử chỉ của ông - cử chỉ của một người vội vã ra đi bất chấp ý chí của bản thân, - liền túm áo Clifford giữ ông lại. Bà Hepzibah hét lên. Còn Phoebe, kinh hãi trước hành động dị thường ấy, òa lên khóc.
“Clifford, Clifford! Anh điên à?” Em gái ông hét. “Tôi không biết nữa, Hepzibah,” Clifford nói, hít một hơi sâu. “Không có gì phải sợ, - bây giờ nó đã qua rồi, nhưng nếu tôi nhảy xuống, và sống sót, tôi nghĩ tôi sẽ trở thành một người khác!”
Ở một vài khía cạnh, có thể Clifford nói đúng. Ông cần một cú sốc, hoặc ông cần một cú nhảy sâu vào đại dương cuộc sống, chìm xuống và được bao phủ bởi tầng tầng lớp lớp bề dày của nó, và rồi nổi lên, chững chạc, mạnh mẽ, trở lại là chính mình. Nhưng có lẽ ông chỉ cần phương thuốc mạnh cuối cùng - cái chết!
Một khao khát tương tự là khôi phục những mối quan hệ đồng đạo đã đứt gãy của ông đôi khi xuất hiện dưới hình thức nhẹ nhàng hơn, và nó được tô điểm bởi niềm tin ẩn sâu hơn chính nó. Khi điều đó mới manh nha hình thành, trong Clifford xuất hiện một nhận thức mơ hồ, về sự quan tâm và tình yêu của Chúa dành cho ông, - dành cho con người đáng thương, bị bỏ rơi này, người mà, nếu chết đi, có thể được tha thứ vì đã coi mình là đồ bỏ đi, bị quên lãng, và đem làm trò chơi cho một con quỷ nghiện cái ác.
Hôm ấy là buổi sáng ngày Sabbath - một trong những ngày Sabbath sáng sủa, yên bình, với bầu không khí thiêng liêng, khi Thiên đường như lướt qua trái đất trong một nụ cười hòa ái. Vào một buổi sáng Sabbath như thế, nếu chúng ta đủ ngoan đạo, chúng ta sẽ cảm nhận được lòng tôn kính của trái đất dâng lên qua cơ thể chúng ta, tại mọi điểm trên mặt đất chúng ta đứng. Những quả chuông nhà thờ trầm bổng du dương, đang reo ca và đáp lời nhau, “Đó là ngày Sabbath! Ngày Sabbath đấy! - Đúng rồi, ngày Sabbath!” - chuông rải khắp thành phố những âm thanh tốt lành, lúc chậm rãi, lúc hân hoan, lúc thì một tiếng chuông, lúc thì tất cả các quả chuông cùng ngân lên náo nức, - “Đó là ngày Sabbath!” – và tỏa câu nói của chúng lan xa, không gian tràn ngập lời nói linh thiêng. Không gian với ánh nắng ngọt ngào dịu dàng nhất của Chúa, được tạo ra cho con người hít vào trong tim, và trả lại bằng lời cầu nguyện.
Clifford ngồi ở cửa sổ với bà Hepzibah, nhìn những người hàng xóm bước ra đường. Tất cả họ, dù vô thần vào ngày thường, nhưng cũng thay đổi vào ngày Sabbath, thế nên trang phục của họ - dù là chiếc áo khoác lịch sự đã chải tới lần thứ một nghìn của một ông lão, hay bộ quần áo của thằng bé mới được mẹ may xong hôm qua - đều mang dáng dấp của những chiếc áo choàng lễ. Cũng như vậy, từ cổng ngôi nhà cũ Phoebe bước ra, giương chiếc ô nhỏ màu xanh lá cây lên, và ngước lên gửi một nụ cười chào tạm biệt với hai người nơi cửa sổ. Vẻ mặt cô mang một niềm hân hoan quen thuộc, một sự thiêng liêng mà người ta có thể trêu chọc, song vẫn rất mực kính trọng. Cô giống như một người cầu nguyện, nói tiếng mẹ đẻ của mình trong vẻ đẹp mộc mạc nhất. Trang phục của Phoebe còn tinh khôi, thanh cao và thuần khiết, như thể không thứ gì trên người cô - chiếc váy dài, chiếc mũ rơm nhỏ, khăn tay, đôi tất trắng - từng được mặc trước đó, hoặc nếu đã mặc, thì chúng càng tươi mới hơn, và thơm tho như được ướp giữa những nụ hồng.
Cô gái vẫy tay với bà Hepzibah và ông Clifford, và bước đi trên phố; một đức tin ở trong cô, ấm áp, giản đơn, chân thật, với một thân xác có thể bước đi trên mặt đất, và một tâm hồn có khả năng lên thiên đường.
“Hepzibah,” Clifford hỏi, sau khi nhìn Phoebe rẽ ở góc đường, “cô không bao giờ đi nhà thờ sao?”
“Không, Clifford!” Bà đáp, “từ nhiều năm nay rồi!”
“Nếu tôi tới đó,” ông nói, “tôi cảm thấy mình có thể cầu nguyện một lần nữa, khi rất nhiều người đang cầu nguyện xung quanh tôi!”
Bà nhìn khuôn mặt Clifford, và thấy một sự dịu dàng chan chứa, vì dâng lên trong tim ông, tràn qua đôi mắt ông, là niềm kính Chúa, và lòng yêu mến đối với những người đồng đạo. Cảm xúc ấy truyền sang bà Hepzibah. Bà khao khát được nắm tay ông, và quỳ xuống, cả hai người đều tách biệt với thế giới quá lâu, và, như bây giờ bà nhận ra, gần như không còn là bạn của Người trên kia nữa, để mà quỳ xuống giữa đám đông, và hòa giải với Chúa và nhân loại cùng lúc.
“Anh ạ,” bà nói tha thiết, “chúng ta cùng đi đi! Chúng ta không thuộc về đâu cả. Chúng ta không có chỗ trong bất kỳ nhà thờ nào để quỳ xuống, nhưng chúng ta hãy đến một nơi thờ phụng nào đó, kể cả đứng trên lối đi cũng được. Chúng ta nghèo khó và bị ruồng bỏ, một cánh cửa nào đấy sẽ mở ra cho chúng ta!”
Thế là bà Hepzibah và anh trai sửa soạn, diện bộ trang phục ngày xưa đẹp nhất của mình, chúng đã treo trên mắc, hoặc nằm trong rương, lâu đến nỗi ám đầy mùi ẩm mốc của quá khứ, sẵn sàng trong trạng thái tàn phai tốt nhất, để đi nhà thờ. Họ đi xuống cầu thang, - bà Hepzibah gầy gò tái mét, và ông Clifford xanh xao, hốc hác, già yếu! Họ mở cánh cửa chính, và bước qua ngưỡng cửa, và cảm thấy như mình đang đứng trước mặt cả thế giới, với con mắt lớn và khủng khiếp của nhân loại chiếu vào mình họ. Con mắt của Cha họ dường như khép lại, không cho họ sự động viên. Ánh nắng ấm ngoài phố làm họ rùng mình. Tim họ đập dữ dội trước ý nghĩ phải bước thêm bước nữa.
“Không được đâu, Hepzibah! Quá muộn rồi,” Clifford nói với vẻ buồn bã sâu sắc. “Chúng ta là những hồn ma! Chúng ta không có quyền ở giữa những người sống, không có quyền ở bất cứ đâu ngoài ngôi nhà cũ này, ngôi nhà mang một lời nguyền, vì thế chúng ta phải ở đây! Vả lại,” ông nói tiếp, với một sự nhạy cảm kiêu hãnh, bản tính cố chấp của ông, “có đi cũng không thích hợp và không đẹp! Tôi không chịu nổi ý nghĩ trở thành nỗi khiếp sợ đối với mọi người, và trẻ con bám chặt váy mẹ khi trông thấy tôi!”
Họ lùi vào tiền sảnh mờ tối, và đóng cửa lại. Nhưng khi lên cầu thang, họ thấy cả ngôi nhà ảm đạm gấp mười, và không khí nặng nề ngột ngạt hơn, vì ánh mắt và hơi thở của tự do họ mới vừa nắm được. Họ không thể trốn thoát, cai ngục của họ đã để hé cánh cửa nhằm chế giễu, và đứng sau nó theo dõi họ lẻn ra. Đến ngưỡng cửa, họ cảm thấy cú chộp tàn nhẫn của hắn lên người mình. Vì còn hầm ngục nào tối hơn trái tim một con người! Tên cai ngục nào sắt đá hơn bản thân họ!
Nhưng hình ảnh Clifford sẽ không đúng nếu chúng ta miêu tả ông như một người bất hạnh triền miên. Ngược lại là khác, không có người đàn ông nào trong thị trấn này, chúng tôi mạo muội khẳng định, cùng lắm bằng nửa tuổi ông, biết tận hưởng mọi khoảnh khắc vui vẻ và nhẹ nhõm như ông. Ông không mang gánh nặng chăm lo ai, không có những lo âu và dự phòng cho tương lai cần thu xếp khiến những người khác mòn mỏi, vật lộn trong cuộc mưu sinh. Ở phương diện này ông là một đứa trẻ, - một đứa trẻ suốt cuộc đời mình, dù ngắn hay dài. Cuộc sống của ông dường như đứng im ở giai đoạn vừa qua khỏi tuổi thơ, và mọi hồi ức đều bao quanh giai đoạn ấy; y hệt như, sau trạng thái hôn mê của một cú đánh mạnh, ý thức của nạn nhân khi khôi phục chỉ trở lại một thời điểm nào đó ở trước tai nạn khiến người đó bàng hoàng. Thỉnh thoảng ông kể cho bà Hepzibah và Phoebe những giấc mơ của mình, trong đó lúc nào ông cũng đóng vai một đứa trẻ, hoặc một thanh niên. Chúng sống động đến mức có lần ông tranh cãi với em gái về hình dáng hoặc họa tiết của một chiếc váy hoa buổi sáng mà ông đã thấy mẹ của họ mặc. Bà Hepzibah, tự kiêu về sự chính xác của phụ nữ trong những vấn đề như thế, cho rằng nó hơi khác những gì Clifford miêu tả, nhưng khi lấy chiếc váy đó ra từ một cái rương cũ, dáng vẻ nó đúng như trong trí nhớ của ông. Nếu Clifford, mỗi lần tỉnh dậy từ những giấc mơ quá chân thực, chịu sự giày vò của việc biến đổi từ một cậu bé thành một ông già tàn phế, sự tái diễn hàng ngày của cú sốc ắt khó có thể chịu nổi. Nó sẽ gây ra một nỗi đau nhức nhối từ lúc bình minh, xuyên suốt ngày dài, cho đến giờ đi ngủ; ngay cả khi ấy một nỗi đau mụ mị, khó dò và màu vàng vọt của tai ương sẽ trộn lẫn với thanh xuân rực rỡ hư ảo trong giấc ngủ của ông. Nhưng ánh trăng ban đêm dệt vào sương mù buổi sớm, bao bọc lấy ông như tấm áo choàng mà ông ôm quanh mình, và hiếm khi để cho sự thật tàn nhẫn lọt vào; ông không thường tỉnh giấc, mà ngủ mở mắt, và có lẽ khi ấy ông đang mơ sâu nhất.
Cứ loanh quanh quá gần tuổi thơ như vậy, ông thành đồng cảm với trẻ con, và do đó giữ cho trái tim mình tươi trẻ hơn, giống như một hồ chứa nước từ những dòng suối nhỏ không xa nguồn đổ về. Dù ý thức ngăn cản ông kết bạn với chúng, ông vẫn thích thú khi nhìn qua cửa sổ vòm và trông thấy một cô bé lăn chiếc vòng của mình dọc vỉa hè, hoặc những cậu bé học trò đang chơi bóng. Giọng nói của lũ trẻ, cũng rất dễ chịu đối với ông, nghe từ xa chúng hòa vào nhau như những con ruồi trong một căn phòng đầy nắng.
Chắc chắn Clifford sẽ vui mừng khi được chơi chung với lũ trẻ. Một buổi chiều ông không thể cưỡng lại khao khát thổi bong bóng xà phòng; một trò chơi, như bà Hepzibah nói riêng với Phoebe, được anh trai bà rất yêu thích từ thuở cả hai còn là trẻ con. Vì thế hãy nhìn ông, bên ô cửa sổ vòm, với một cái ống bằng đất nung trên miệng! Mái tóc bạc và một nụ cười mệt mỏi lơ mơ trên gương mặt, nơi vẫn vương lại một vẻ duyên dáng xinh đẹp, kẻ thù độc ác nhất của ông hẳn là biết cái đó thuộc về tinh thần và bất tử, vì nó đã sống sót quá lâu! Hãy nhìn ông thả những quả bong bóng từ cửa sổ xuống đường! Những bong bóng xà phòng ấy là những thế giới nhỏ xíu, vẽ lại thế giới lớn bằng màu sắc rực rỡ của trí tưởng tượng trên bề mặt hư vô của chúng. Thật muốn biết những người qua đường nghĩ gì khi họ nhìn thấy những tinh cầu rực rỡ này là là bay xuống, phủ lên họ một lớp không khí mờ ảo. Một số người dừng lại nhìn đăm đăm, và có lẽ mang theo một hồi ức đẹp về những quả bong bóng đi về cuối phố; số khác tức giận ngẩng lên, như thể Clifford đã chơi khăm họ bằng cách đặt một hình ảnh đẹp đê bồng bềnh quá gần con đường bụi bặm họ đi. Nhiều người còn giơ ngón tay hoặc đầu gậy chạm vào, và thích chí khi quả bong bóng, phản chiếu hình ảnh mặt đất và bầu trời, biến mất như chưa từng xuất hiện.
Cuối cùng, đúng lúc một quý ông lớn tuổi hết sức đạo mạo tình cờ đi qua, một bong bóng lớn lơ lửng trôi xuống, và nổ ngay trên mũi ông ta! Người đàn ông nhìn lên, - ban đầu bằng ánh mắt lạnh lùng nghiêm khắc, chiếu thẳng vào bóng tối lờ mờ sau ô cửa sổ vòm, - rồi nở một nụ cười có thể làm phát ngốt một vùng bán kính vài thước quanh ông ta.
“A ha, em họ Clifford!” Thẩm phán Pyncheon reo lên. “Vẫn thổi bong bóng xà phòng cơ đấy!”
Tổng giọng như có ý tử tế và ôn hòa, song chứa một sự chế nhạo cay độc trong đó. Về phần Clifford, ông đờ ra vì khiếp hãi. Ngoài nguyên do đáng sợ nào đó ông từng trải qua trong quá khứ, ông còn cảm thấy nỗi kinh hoàng nguyên thủy và bản năng trước ngài thẩm phán kiệt xuất, điều dễ hiểu đối với một tính cách yếu đuối, tinh tế và mong manh trước một sức mạnh áp đảo. Sức mạnh mà kẻ yếu không hiểu nổi, do đó lại càng khủng khiếp. Trong phạm vi các mối quan hệ của ông đến ngáo ộp cũng không đáng sợ bằng người họ hàng cứng rắn ấy.