Clifford, nếu không có sự thúc giục nhiệt tình của Phoebe ắt sẽ đầu hàng trước sự uể oải là trạng thái thường trực của ông, nó chậm chạp ru ông ngồi lì trong ghế đến tận chiều hôm. Nhưng cô gái hiếm có thất bại khi đề xuất một chuyến đi chơi ra vườn, nơi Bác Venner và chàng nghệ sĩ nhiếp ảnh đã sửa chữa vòm của cái cây đổ nát, hay còn gọi là chòi hóng mát, giờ nó là một nơi che nắng che mưa hữu hiệu. Hoa bia cũng đã bắt đầu leo kín trên các mặt của túp nhà nhỏ ấy, tạo thành một chốn náu mình xanh tươi, với vô số những khe hở nhìn ra khu vườn rộng thanh vắng.
Ở đây, trong không gian xanh lung linh sáng, thỉnh thoảng Phoebe lại đọc sách cho ông Clifford. Nghệ sĩ nhiếp ảnh và là người quen của cô, xem ra có sở thích với văn chương, đã cung cấp cho cô những quyển tiểu thuyết, dạng sách mỏng, - và vài tập thơ, chúng đều mang phong cách và tư tưởng khác những quyển sách bà Hepzibah đã chọn cho ông giải trí. Tuy nhiên, nếu những buổi đọc sách của cô gái có thành công hơn người cô già của cô chút nào thì những quyển sách chỉ góp một phần nhỏ. Giọng Phoebe luôn có nhạc điệu bên trong, vừa có thể làm Clifford tươi tỉnh bằng thanh âm vui vẻ sôi nổi, vừa có thể ru ông bằng nhịp điệu êm đềm như tiếng suối róc rách. Nhưng những quyển tiểu thuyết - mà cô gái thôn quê không quen với thể loại đó, thường trở nên mê mải - hầu như không thu hút người thính giả kỳ lạ của cô. Những bức tranh của cuộc sống, những cảnh cảm động hoặc thống thiết, duyên dáng, hài hước, bị đát, tất cả đều là đồ bỏ đi, hoặc tệ hơn bỏ đi, đối với Clifford; hoặc do ông thiếu sự trải nghiệm để kiểm tra độ chân thực của chúng, hoặc những khổ đau của chính ông là viên đá thử thực tế mà ít có cảm xúc giả tạo nào chịu đựng được. Khi Phoebe bật cười thích thú trước điều vừa đọc, đôi lúc ông sẽ cười theo, nhưng thường là phản ứng bằng một ánh nhìn khó chịu, thắc mắc. Nếu một giọt nước mắt - giọt nước mắt hồn nhiên của một cô gái trước một nỗi đau tưởng tượng rơi xuống trang sách sầu muộn, Clifford hoặc coi đấy là dấu hiệu của một tai họa thực sự, hoặc trở nên cáu kỉnh, và ra hiệu cho cô gấp sách lại một cách tức giận. Và cũng sáng suốt nữa! Chẳng phải thế gian đã đủ những buồn đau thực sự, khỏi cần tiêu khiển bằng những nỗi đau giả tạo hay sao?
Với thơ thì đỡ hơn. Ông thích sự trầm bổng của vần điệu, và sự lặp đi lặp lại vui vẻ của nó. Không phải Clifford không biết cảm nhận tính truyền cảm của thơ ca, có lẽ cũng không phải ở chỗ nó cao siêu nhất hoặc sâu sắc nhất, mà ở chỗ nó lâng lâng và bay bổng nhất. Không thể đoán trước trong câu thơ đặc sắc nào ẩn giấu câu thần chú đánh thức; nhưng, khi ngước mắt khỏi trang sách nhìn lên gương mặt Clifford, Phoebe sẽ cảm thấy, bằng ánh sáng chiếu vào, một trí thông minh tinh tế hơn trí tuệ của cô đã bắt được một tia lửa nhỏ từ những gì cô đọc. Tuy nhiên tia sáng kiểu này thường là dấu hiệu u sầu cho nhiều giờ đồng hồ sau đó; bởi vì, khi tia sáng rời bỏ ông, dường như ông ý thức được mình đã mất đi cảm thụ và sức mạnh, và dò dẫm xung quanh tìm chúng, như một người mù tìm thị lực đã mất của mình. Ông vui hơn, và cũng tốt cho tinh thần ông hơn, nếu Phoebe nói chuyện, và khiến những sự việc đã qua sống động đối với tâm trí ông bằng những mô tả và nhận xét kèm theo. Đời sống của khu vườn đem lại những câu chuyện kể thích hợp với ông nhất. Ông luôn muốn biết loài hoa nào đã nở vào hôm qua. Tình cảm ông dành cho hoa cỏ rất thắm thiết, như trở thành một niềm xúc động hơn là một thị hiếu; ông thích ngồi với một bông hoa trên tay, chăm chú quan sát nó, và nhìn từ những cánh hoa sang gương mặt Phoebe, cứ như hoa trong vườn là chị em với cô gái vậy. Không chỉ là niềm vui sướng được ngửi hương hoa, hay ngắm nhìn hình dáng xinh đẹp của nó, màu sắc tinh tế hoặc rực rõ của nó; sự thích thú của Clifford còn đi cùng với hiểu biết về cuộc sống, con người, cá nhân, khiến cho ông yêu những bông hoa trong vườn, như thể chúng có cảm xúc và trí tuệ. Lòng yêu hoa này gần như là đặc tính của riêng phái nữ. Đàn ông, nếu có tính ấy, sẽ sớm đánh mất, quên đi, và học cách khinh thường nó, khi họ tiếp xúc với những thứ thô tục hơn hoa. Clifford cũng đã quên nó từ lâu, nhưng giờ lại tìm thấy, khi ông dần dần tỉnh lại từ trạng thái lờ đờ tê liệt của đời mình. Thật tuyệt khi nhiều điều thú vị liên tục xuất hiện ở mảnh vườn hẻo lánh ấy, một khi Phoebe đã quyết định tìm kiếm chúng. Cô đã nhìn hoặc nghe thấy một con ong vào ngày đầu tiên làm quen với nơi này. Kể từ đó trở đi, những con ong thường xuyên ghé lại, chẳng hiểu vì sao, hoặc bởi khao khát ngoan cố đối với thứ mật ngọt quyến rũ hơn, khi rõ ràng có những đồng cỏ ba lá rộng mênh mông và đủ loại vườn tược gần nhà chúng hơn nơi này. Những con ong bay đến và đắm mình vào những bông hoa bí, cứ như suốt chuyến bay dài không gặp dây bí nào, hoặc đất trong vườn của bà Hepzibah cho hoa sự sinh trưởng đúng ý muốn của những phù thủy bé xíu cần mẫn ấy, để truyền mùi hương núi Hymettus cho mật ong làm ra ở New England. Khi Clifford nghe thấy tiếng vo vo vui vẻ của chúng trong nhụy những bông hoa vàng, ông nhìn ra xung quanh với cảm nhận sung sướng về sự ấm áp, và bầu trời xanh, thảm cỏ xanh, và không khí tự do của Chúa khắp đất trời. Xét cho cùng chẳng cần băn khoăn vì sao bầy ong lại đến cái góc khuất màu xanh trong thị trấn bụi bặm. Chúa cử chúng đến để Clifford được vui. Chúng mang theo mùa hè rực rỡ, trả ơn cho một chút mật hoa.
Khi những dây đậu bắt đầu ra hoa trên những chiếc cọc, hoa có màu đỏ thắm đặc biệt. Nhà nhiếp ảnh đã tìm thấy những hạt đậu này trong một căn gác mái, trên một trong bảy đầu hồi, cất giữ trong một ngăn kéo cũ bởi một người làm vườn Pyncheon nào đấy của ngày xưa, người chắc chắn định gieo chúng vào mùa hè sang năm, nhưng chính mình đã bị gieo trước vào lòng đất chết. Bằng cách xem thử có còn mầm sống nào trong những hạt khô đó, Holgrave đã lấy vài hạt đem gieo, và kết quả thí nghiệm của anh là một luống đậu tươi tốt, leo lên tận đỉnh những chiếc cọc, và rải từ trên xuống dưới những bông hoa đỏ quấn quýt thành chuỗi. Và kể từ khi hé cái nụ đầu tiên, rất đồng chim ruồi đã bị thu hút đến. Có lúc dường như mỗi bông hoa trong hàng trăm bông đều có một chú chim bé xíu này, - bé bằng ngón tay và có bộ lông óng ả, bay lượn trên những cọc đậu. Ngắm những con chim ruồi là một niềm vui khôn xiết và trẻ thơ của Clifford. Ông thường khẽ khàng thò đầu ra từ rèm cây chòi hóng mát để nhìn chúng rõ hơn, đồng thời ra hiệu cho Phoebe yên lặng, và nhác thấy nụ cười trên mặt cô thì niềm vui còn nhân lên bội phần với sự chia sẻ của cô. Ông không đơn thuần trẻ ra, - ông lại trở về làm một đứa bé.
Bà Hepzibah, mỗi lần tình cờ chứng kiến sự hứng khởi như trong bức tiểu họa ấy, sẽ lắc đầu với cảm giác mừng mừng tủi tủi của một người mẹ và một người em gái. Bà bảo Clifford luôn như vậy khi những con chim ruồi đến, - luôn như vậy từ thuở bé, - và niềm thích thú của ông với chúng là một dấu hiệu sớm nhất cho thấy tình yêu của ông với cái đẹp. Và thật là sự trùng hợp tuyệt vời, người phụ nữ tốt bụng nghĩ, khi nhà nhiếp ảnh lại trồng những dây đậu hoa đỏ này - thứ được lũ chim ruồi tìm kiếm khắp nơi, và đã không mọc ở khu vườn Pyncheon từ bốn mươi năm nay - vào đúng mùa hè Clifford trở về.
Và nước mắt sẽ rưng rưng trong đôi mắt bà Hepzibah, hoặc trào ra thành dòng khiến bà phải trốn vào một góc, để Clifford không trông thấy sự xúc động của bà. Quả thực tất cả những niềm vui trong giai đoạn này đều khiến người ta rơi lệ. Mùa hè kiểu Ấn Độ thường đến rất muộn, với một lớp sương mù trong cái nắng nhẹ nhất, và tan đi khi nắng đã chói chang. Clifford càng tận hưởng niềm vui của một đứa trẻ, nỗi buồn đối lập càng thấy rõ. Với một quá khứ bí ẩn và khủng khiếp đã hủy diệt ký ức trong ông, và một tương lai trống rỗng trước mặt, thứ ông có chỉ là hiện tại hư ảo này, mà nếu ta nhìn kỹ vào nó thì chẳng có gì. Bản thân ông, có thể quan sát thấy qua nhiều triệu chứng, nằm lặng lẽ sau niềm vui của mình, và biết nó là một trò chơi trẻ con, chỉ để chơi đùa chứ không tin tưởng hoàn toàn. Có thể Clifford nhìn thấy, trong tấm gương tiềm thức của mình, ông là một ví dụ và mẫu vật của một lớp người đông đảo mà một Thượng để bí ẩn liên tục gây khó dễ; phá vỡ những cái dường như là triển vọng của họ; giấu đi thức ăn của họ, đặt thuốc độc trước mặt họ như một bữa tiệc lớn; và cứ thế - khi người ta có thể tung hứng nó quá dễ dàng – làm cho sự tồn tại của họ trở thành một sự kỳ lạ, một sự cô độc, đọa đày. Suốt cuộc đời mình, ông đã học làm thế nào để bất hạnh, như người ta học ngoại ngữ; và giờ, đã thấm nhuần bài học, ông tiếp nhận niềm vui nhỏ bé một cách khó khăn. Thường có một bóng đen nghi ngờ trong mắt ông. “Nắm lấy tay tôi, Phoebe,” ông sẽ nói, “và nhéo mạnh vào! Đưa tôi một bông hồng để tôi ấn vào những cái gai, và chứng minh mình đang tỉnh táo bằng cái đau nhói!” Hiển nhiên ông mong mỏi vết châm con con này, để trấn an bản thân, bằng cảm giác thật ông biết rõ nhất, rằng khu vườn, và bảy đầu hồi dãi dầu mưa nắng, và vẻ cau có của bà Hepzibah, nụ cười của Phoebe, cũng là thật. Không có dấu ấn này trong da thịt, ông có thể cho rằng chúng không hơn gì sự mơ hồ trống rỗng của những hình ảnh tưởng tượng ông dùng làm món ăn tinh thần, cho đến khi ngay cả dưỡng chất ít ỏi đó cũng cạn kiệt.
Tác giả rất cần niềm tin vào sự đồng cảm của độc giả của mình; bằng không anh ta ắt sẽ do dự khi đưa những chi tiết quá nhỏ, những sự việc quá vặt vãnh, nhưng cần thiết để xây dựng ý tưởng về cuộc sống trong khu vườn. Đó là vườn Địa Đàng của một Adam khốn khổ, người đã chạy khỏi nơi hoang vu hiểm nghèo đến nương náu ở chốn mà Adam nguyên bản bị trục xuất.
Một trong những niềm vui lớn nhất Phoebe tạo cho Clifford là đám gia cầm, những con gà mái, như chúng ta đã kể, là “đồ gia truyền” lâu đời trong dòng họ Pyncheon. Thể theo một ý thích nhất thời của Clifford, vì ông khó chịu khi thấy chúng bị giam cầm, chúng đã được thả tự do, và giờ thoải mái lang thang trong vườn, gây ra vài sự phá phách nhỏ, nhưng không sống đi đâu được bởi ba mặt tường và hàng rào gỗ nhọn hoắt ở mặt còn lại. Chúng dành phần lớn thời gian rảnh rỗi bên bờ giếng Maule, ở đó thường có ốc sên, hiển nhiên là món khoái khẩu của chúng; và chính thứ nước mằn mặn, dù ghê tởm đối với phần còn lại của thế giới, song rất đáng quý với bọn gà này, ta thấy chúng nếm thử, ngẩng đầu lên, và chẹp chẹp mỏ, với điệu bộ y chang những bợm nhậu vây quanh một thùng rượu thử. Cuộc trò chuyện nhìn chung yên lặng, song linh hoạt và liên tục biến hóa, giữa chúng với nhau, hoặc đôi khi là độc thoại, - khi chúng bởi những con sâu từ lớp đất đen màu mỡ, hoặc mổ những cái cây hợp khẩu vị của chúng, - có một âm điệu riêng, khiến ta gần như tự hỏi tại sao không thể thiết lập một sự trao đổi ý tưởng thường xuyên về các vấn đề nhà cửa, con người và gia cầm. Tất cả gà mái đều xứng đáng được học tập vì cung cách đa dạng và duyên dáng của chúng, nhưng những con gà khác không thể nào có được dáng vẻ và thái độ kỳ lạ như những con gà dòng dõi này. Có thể chúng mang những đặc trưng truyền thống của tổ tiên, qua một sự kế thừa liền mạch của những quả trứng, không thì ngài gà trống và hai bà vợ của nó đã lớn lên thành những kẻ hài hước, và hơi gàn dở, do lối sống cô độc của chúng, và sự đồng cảm với bà Hepzibah, bà chủ của chúng.
Trông chúng quả thực kỳ khôi! Ngài gà trống, mặc dù đi lại nghênh ngang trên đôi chân như cà kheo, với vẻ trịnh trọng của con nhà dòng dõi toát lên trong mọi cử chỉ, khó lòng to hơn một con gà gô bình thường; hai bà vợ của nó kích cơ ngang lũ chim cút; còn đối với con gà con thì nom nhỏ đủ để vẫn nằm trong quả trứng, đã thế còn trông già mõ, quắt queo, xơ xác, và dày dạn, đủ để làm tổ tông của một dòng giống lâu đời. Thay vì là kẻ trẻ nhất trong gia đình, nó dường như tập hợp vào mình tuổi tác, không chỉ của những con gà còn sống, mà còn của tất cả ông bà cụ kỵ của nó, mọi cái xuất sắc và dị thường dồn hết vào cơ thể nhỏ bé của nó. Mẹ nó hiển nhiên coi nó là con gà của thế giới, và rất quan trọng đối với sự di truyền của thế giới, hoặc với sự cân bằng của hệ thống xã hội hiện tại, dù là trong nhà thờ hay đất nước. Không một cảm giác thua kém nào về tầm quan trọng của con gà con có thể lý giải cho, kể cả trong mắt một bà mẹ, sự kiên nhẫn nó dùng để canh chừng đứa con, xù lông lên to gấp đôi bình thường, và lao vào mặt tất cả những ai nhìn quá lâu vào đứa con đầy triển vọng của mình. Không một sự đánh giá thấp nào có thể thanh minh cho sự sốt sắng không biết mệt mỏi của nó khi bới đất, và mặc nhiên đào lên cây hoa hay luống rau đẹp nhất, vì một con sâu béo ở dưới gốc. Tiếng cục cục nôn nóng của nó, khi đứa con vô tình bị khuất trong đám cỏ cao hay dưới những lá bí. Tiếng chắt lưỡi mãn nguyện của nó, khi yên tâm đứa con đã ở dưới cánh của mình; giọng của nỗi sợ hãi được che giấu vụng về và sự thách thức ầm ĩ của nó, khi nó nhìn thấy kẻ thù cốt tử, một con mèo nhà hàng xóm, ở trên đỉnh hàng rào, những âm thanh này được nghe thấy gần như mọi lúc trong ngày. Dần dà, người quan sát trở nên quan tâm đến con gà con danh giá này nhiều gần bằng con gà mái mẹ nó.
Phoebe, sau khi thành quen thân với con gà mái già, thỉnh thoảng được phép nhấc con gà con lên bàn tay có khả năng nắm gọn thân hình tí hon của nó. Trong lúc cô tò mò xem xét những đặc điểm di truyền, - đốm đặc biệt trên bộ lông, túm lông ngộ nghĩnh trên đầu, hay một vết gồ ở mỗi bên chân, - con gà nhỏ kêu chiếp chiếp, liên tục nháy mắt đầy khôn ngoan với cô. Nhà nhiếp ảnh có lần nói nhỏ với cô rằng những đặc điểm này tiêu biểu cho sự kỳ quặc của gia tộc Pyncheon, và con gà con là biểu tượng của cuộc sống của ngôi nhà cũ, cũng như lí giải cho nó, dù là một sự lí giải khó hiểu, như những manh mối thường vậy. Nó là một thứ khó hiểu có lông vũ; một bí ẩn nở ra từ một quả trứng, và đầy bí ẩn như thể quả trứng bị ung!
Bà vợ thứ hai của ngài, kể từ lúc Phoebe tới, ở trong tình trạng chán chường nặng, hình như vì gần đây không đẻ được quả trứng nào. Tuy nhiên đến một ngày, bằng dáng đi trịnh trọng, cái ngoảnh đầu, và cái liếc mắt, khi nó nghiêng ngó góc nọ xó kia trong vườn, - kêu cục cục không ngừng với vẻ tự mãn khó tả, – rõ ràng con gà mái này, loài người đã đánh giá thấp nó, mang trên mình một giá trị không thể đo đếm bằng vàng hay đá quý. Không lâu sau vang lên tiếng cục tác và chúc mừng rộn rã của ngài gà trống và toàn thể gia đình ngài, gồm cả con gà con xơ xác, kẻ dường như hiểu vấn đề nhanh như cha nó, mẹ nó, hoặc dì nó. Chiều hôm ấy Phoebe tìm thấy một quả trứng bé tí, - không phải trong cái ổ bình thường, nó quá quý giá để bị bỏ mặc ở đó, - mà giấu một cách xảo trá dưới bụi lý chua, trên đám cỏ khô của năm ngoái. Bà Hepzibah, khi biết tin, liền lấy ngay quả trứng và đem làm bữa sáng cho Clifford, bởi vì, như bà khẳng định, những quả trứng này luôn nổi tiếng với hương vị thơm ngon. Theo đó người phụ nữ già đã bất cẩn làm tuyệt tự một chủng tộc lồng vũ lâu đời, chỉ để dâng cho anh trai một món ăn đựng vừa cái thìa uống trà. Nó hẳn có liên quan đến cơn thịnh nộ mà ngài gà trống, vào ngày hôm sau, cùng với con gà mẹ mất trứng, đến đứng trước mặt Phoebe và Clifford, và tuôn ra một bài diễn thuyết chắc phải dài như dòng dõi của nó, nhưng chỉ khiến Phoebe thấy tức cười. Đến đây, con gà tự ái bỏ đi trên đôi chân dài, và không thèm để ý đến Phoebe và toàn bộ loài người, cho đến khi cô phải làm lành bằng một cái bánh rắc hạt, món ngon thứ hai sau ốc sên đối với khẩu vị quý tộc của nó.
Chắc chắn chúng ta đã nấn ná quá lâu bên con lạch nhỏ của đời sống chảy qua khu vườn của ngôi nhà Pyncheon. Nhưng chúng tôi nghĩ nên ghi lại những sự kiện vụn vặt và những niềm vui nhỏ bé này, vì chúng tỏ ra rất có ích cho Clifford. Chúng có mùi của đất, và góp phần cải thiện sức khỏe và thể chất của ông. Một số việc ông làm không tốt cho ông lắm. Giả dụ như ông có thói quen kỳ lạ là nghiêng người trên cái giếng Maule, và nhìn những hình ảnh không ngừng biến đổi bởi sự lay động của nước trên những viên đá cuội đủ màu sắc dưới đáy. Ông nói những gương mặt đó nhìn lên ông, - những gương mặt đẹp, dàn thành những nụ cười quyến rũ, - mỗi gương mặt thoáng qua đều xinh đẹp và hồng hào, mỗi nụ cười đều rạng rỡ, đến nỗi ông cảm thấy có lỗi trước sự ra đi của nó, cho đến khi phép thuật lại tạo ra một gương mặt mới. Nhưng có lúc ông bỗng hét lên, “Gương mặt hắc ám đang nhìn tôi!” và khổ sở suốt cả ngày hôm sau. Phoebe, khi ngó vào đài phun nước bên cạnh Clifford, thì chẳng thấy được gì, - gương mặt đẹp cũng như gương mặt xấu, - mà chỉ thấy đá cuội sặc sở, trông như thể luồng nước đã lắc và xáo trộn chúng. Và gương mặt hắc ám khiến Clifford phiền muộn chẳng qua là cái bóng của một cành mận tía hắt xuống giếng Maule. Thực ra là trí tưởng tượng của ông - phục hồi nhanh hơn ý chí và óc phán đoán, và luôn mạnh hơn chúng - đã tạo ra những hình dáng đáng yêu vốn là bản tính của ông, và thỉnh thoảng một hình ảnh ghê gớm đáng sợ tiêu biểu cho số phận của ông.
Những ngày Chủ nhật, sau khi Phoebe đi lễ nhà thờ về, vì cô gái ngoan đạo, và sẽ khó lòng cảm thấy thanh thản nếu cô bỏ lỡ một buổi cầu nguyện, bài hát, bài giảng đạo, hoặc bài kinh tạ ơn, sau bữa trưa thường sẽ có một lễ hội nhỏ trong vườn. Ngoài Clifford, bà Hepzibah, Phoebe, còn có hai vị khách tham dự. Một là nghệ sĩ nhiếp ảnh Holgrave, bất chấp hiệp hội những nhà cải cách mình tham gia, và những điểm bất thường và đáng ngờ khác, vẫn giữ vị trí cao trong lòng bà Hepzibah. Người còn lại, chúng ta gần như xấu hổ khi nói ra, là Bác Venner đáng kính, trong chiếc áo sơ mi sạch, áo khoác vải poplin, trang trọng hơn trang phục ngày thường, vì nó được vá khéo ở mỗi khuỷu tay, và có thể coi là bộ quần áo chỉnh tề, trừ phần vạt áo hơi bên cao bên thấp. Clifford, trong vài dịp, dường như thích nói chuyện với ông cụ, vì phong thái chín chắn mà vui vẻ của ông, giống như vị ngọt trong một quả táo bị sương giá, khi ta nhặt lên dưới gốc cây vào tháng Mười hai. Một người ở điểm thấp nhất trong thang bậc xã hội dễ tiếp xúc và trò chuyện hơn đối với một quý ông từng vấp ngã so với một người ở bất cứ bậc trung bình nào. Hơn nữa, vì thời thanh niên của Clifford bị đánh mất, ông thích cảm giác mình còn trẻ trung tương đối khi áp vào độ tuổi già cả của Bác Venner. Thực ra có thể thấy nhiều lần Clifford cố tránh né ý thức mình bị thời gian tàn phá, và ấp ủ những hình ảnh của một tương lai vẫn còn phía trước, tuy nhiên những hình ảnh được vẽ quá mờ nhạt để đi theo bằng thất vọng - song chắc chắn có chán nản - khi bất kỳ một sự việc hay hồi ức nào cũng khiến ông mang cảm giác của một chiếc lá úa tàn.
Cái hội nhỏ hình thành một cách kỳ cục này thường nhóm họp trong căn chòi hóng mát đổ nát. Bà Hepzibah trịnh trọng hơn bao giờ hết, vẻ cao quý của bà được trưng ra hết mức khi bà tỏ ra kẻ cả như công chúa - bày tỏ một sự hiếu khách không phải không duyên dáng. Bà nói năng nhã nhặn với người nghệ sĩ lông bông, và lắng nghe ý kiến thông thái - vì bà là một quý bà - của thợ xẻ gỗ, người chạy việc của khu phố, và triết gia áo vá. Và Bác Venner, người đã nghiên cứu thế giới ở những góc phố, và những vị trí khác cũng thích hợp không kém, sẵn sàng cho ý kiến như cái máy bơm của thị trấn sẵn sàng phun nước.
“Cô Hepzibah ạ,” ông phát biểu sau một buổi nhóm họp rất vui vẻ. “Tôi thực sự thích những buổi gặp mặt nhỏ yên tĩnh vào một buổi chiều Sabbath[10] thế này. Chúng giống hệt những gì tôi mong đợi sau khi tôi về nghỉ hưu ở trang trại của mình.”
“Bác Venner,” Clifford nhận xét bằng một tông giọng uể oải, tư lự, “luôn nói về trang trại của bác ấy. Nhưng tôi có một kế hoạch hay hơn cho bác, không lâu nữa đâu. Chúng ta hãy đợi xem!”
“À, anh Clifford Pyncheon!” Ông lão áo vá nói, “anh lên bao nhiêu kế hoạch cho tôi cũng được, nhưng tôi không từ bỏ kế hoạch của tôi đâu, ngay cả khi tôi không bao giờ biến nó thành hiện thực chăng nữa. Tôi thấy người ta mắc sai lầm nghiêm trọng khi cứ cố ra sức làm giàu. Tôi mà như thế tôi sẽ cảm thấy như là Thượng đế không quan tâm đến tôi, và dù thế nào đi nữa, thị trấn sẽ không quan tâm! Tôi là một trong những người cho rằng sự vô tận là đủ lớn, và vĩnh viễn là đủ dài cho tất cả chúng ta.
“Đúng vậy, Bác Venner,” Phoebe lên tiếng sau một khoảng dừng, vì cô đang cố hiểu ý nghĩa sâu sắc và thích đáng của câu châm ngôn tổng quát này. “Nhưng đối với cuộc sống ngắn ngủi của chúng ta, người ta sẽ muốn một ngôi nhà và một mảnh vườn khiêm tốn cho riêng mình.”
“Theo tôi thấy,” nghệ sĩ nhiếp ảnh mỉm cười nói, “Bác Venner có những lý luận cơ bản của Fourier[11]; có điều chúng không được rành mạch trong tâm trí bác như trong tâm trí được hệ thống hóa của ông người Pháp kia.”
“Nào, Phoebe,” bà Hepzibah nói, “đến lúc mang những quả lý chua lên rồi.”
Nhân lúc ánh nắng chiều vàng rực vẫn chiếu rọi khu vườn, Phoebe mang ra một ổ bánh mì và một bát sứ đựng những quả lý chua, mới hái trên cây và dầm với đường.
Những thứ này cùng với nước - không phải lấy từ đài phun nước mang điềm gở ngay đấy - làm nên một bữa tiệc trọn vẹn. Trong thời gian ấy, Holgrave cố gắng gợi chuyện với Clifford, hình như xuất phát hoàn toàn từ lòng tốt, để giờ phút hiện tại vui vẻ hơn hầu hết thời gian con người ẩn dật đó đã trải qua, hoặc dự định trải qua. Tuy nhiên trong đôi mắt suy tư, tinh tường của người nghệ sĩ thỉnh thoảng có một biểu cảm, không độc ác, nhưng đáng ngờ, như thể anh ta có mối quan tâm khác đến cảnh tượng này hơn một người lạ, một người lang bạt trẻ tuổi và không liên quan, có thể có. Song với khả năng biến đổi linh hoạt, anh ta tập trung vào nhiệm vụ khuấy động bữa tiệc; và rất thành công, ngay đến bà Hepzibah ủ dột cũng vứt bỏ vài phần sầu muộn, và tìm cách giải quyết phần còn lại. Phoebe thầm nhủ trong lòng, - “Chú ấy có thể vui vẻ biết mấy!” Về phần Bác Venner, là một đại diện cho tình thân hữu và chấp thuận, ông sẵn lòng ủng hộ chàng trai trẻ trong công việc của anh, - không phải hiểu theo nghĩa ẩn dụ mà theo đúng nghĩa đen, bằng cách cho phép chụp ảnh gương mặt ông, vốn rất quen thuộc với thị trấn, để trưng ở lối vào studio của Holgrave.
Khi mọi người cùng tham gia bữa tiệc nhỏ, Clifford trở nên hào hứng hơn ai hết. Hoặc do một trong những luồng ánh sáng tinh thần lóe lên, khiến tâm trí ở trong trạng thái bất thường, hoặc người nghệ sĩ đã chạm vào đúng dây đàn cần thiết. Thật vậy, cùng với buổi tối mùa hè thú vị, và sự chia sẻ của cái nhóm nhỏ những tâm hồn không tàn nhẫn, dễ khiến một người nhạy cảm như Clifford trở nên hoạt bát, và sẵn sàng đáp lại những lời nói xung quanh. Nhưng ông cũng bày tỏ những suy nghĩ của bản thân bằng sự sôi nổi duyên dáng và đặc sắc, khiến chúng sáng lấp lánh qua những kẽ hở của giàn dây leo bao quanh chòi hóng mát. Tất nhiên là ông vui vẻ khi ở một mình với Phoebe, nhưng chưa bao giờ biểu lộ trí thông minh sắc sảo, dù chỉ phần nào như vậy.
Nhưng khi ánh nắng rời khỏi những chóp nhọn của bảy đầu hồi, sự phấn chấn cũng nhạt đi trong mắt Clifford. Ông nhìn xung quanh ngờ ngợ và buồn bã, như là nhớ một điều gì đó quý giá, và càng buồn hơn vì không biết chính xác nó là gì. “Tôi muốn hạnh phúc của tôi!” Cuối cùng ông lẩm bẩm khàn khàn và mơ hồ, gần như không rõ lời. “Bao nhiêu năm tôi đã chờ đợi nó! Muộn rồi! Muộn rồi! Tôi muốn hạnh phúc của tôi!”
Tội nghiệp Clifford! Ông đã già, và kiệt quệ với những tai ương lẽ ra không bao giờ giáng xuống ông. Ông dở điên dở dại; một phế nhân, một thất bại, như hầu hết mọi người, có điều ở mức thấp hơn, hoặc ít lộ liễu hơn so với bạn bè họ. Số phận không để dành hạnh phúc cho ông, trừ phi chốn nương náu lặng lẽ trong ngôi nhà cổ của gia đình với bà Hepzibah trung thành, và những chiều mùa hè kéo dài của ông bên cạnh Phoebe, và những buổi lễ Sabbath với Bác Venner và người nghệ sĩ nhiếp ảnh, đáng được gọi là hạnh phúc! Tại sao không? Nếu không phải, thì cũng rất giống, tính siêu thực và mơ hồ của nó khiến mọi ưu phiền trong lòng biến mất. Vì thế, ông hãy đón nhận nó khi còn có thể. Đừng băn khoăn, đừng ngờ vực, cứ tận hưởng đi!