Tôi đoán ở nhà tù bang và liên bang nào trên đất Mỹ cũng có một kẻ như tôi - anh cần gì, tôi cung nấy. Thuốc lá điếu, một túi cần sa nếu anh ưng bụng thứ này hơn, một chai rượu mạnh uống mừng con trai hay con gái anh tốt nghiệp trung học, hoặc thứ gì khác tôi cũng cân... tất nhiên là đừng quá lố. Để có ngày hôm nay tôi cũng trải qua lắm nhọc nhằn.
Vào Shawshank từ thời mới đôi mươi, tôi là một trong số ít thành viên của cái gia tộc tươi vui hạnh phúc sẵn sàng dám làm dám chịu. Tôi gây án mạng. Tôi mua gói bảo hiểm giá trị cao cho cô vợ hơn tôi ba tuổi, sau đó táy máy phanh chiếc ô tô coupe Chevrolet bố vợ tặng làm quà cưới. Mọi chuyện diễn ra đúng như những gì tôi trù liệu, có điều tôi không tính đến chuyện vợ tôi ghé qua đón cô hàng xóm và đứa con còn ẵm ngửa của cô ta trên đường chạy xuống Castle Hill để vào thị trấn. Phanh không ăn, càng lúc càng tăng tốc, chiếc xe lao thẳng qua bụi cây ở rìa bãi đất thị trấn. Nhân chứng khai xe phóng với vận tốc tám mươi cây số hoặc hơn khi tông vào chân bức tượng Nội Chiến rồi phát hỏa.
Tôi cũng không tính đến chuyện bị cảnh sát sờ gáy, thế mà tôi vẫn bị thộp cổ. Chạy trời không khỏi nắng, người ta đưa tôi vào đây. Maine không thi hành án tử hình, nhưng Ủy viên Công tố quận quyết tâm lo liệu để tôi bị xử tội giết cả ba mạng người, lãnh ba án chung thân, án này nối án kia. Điều này triệt tiêu chút cơ hội mong manh tôi được phóng thích sau này. Quan tòa gọi điều tôi đã làm là “một tội ác man rợ, tàn bạo,” mà đúng là thế thật, nhưng giờ nó là dĩ vãng rồi. Bạn có thể tra thông tin về vụ án trong những tập báo đã vàng ố của tờ Castle Rock Call , trên đấy, những dòng tít thông báo về việc tòa tuyên án tôi trông rõ là khôi hài và cổ xưa bên cạnh tin tức về Hitler, Mussolini và mở tổ chức hổ lốn toàn chữ viết tắt của Franklin D. Roosevelt.
Bạn hỏi tôi đã cải tạo chưa à? Tôi còn chẳng hiểu cái từ đấy nghĩa là gì, chí ít là trong phạm vi nhà tù hay cơ sở cải huấn. Tôi nghĩ là đám chính trị gia võ vẽ ra chữ đấy ấy. Có lẽ nó còn nghĩa gì đó khác, có lẽ tôi sẽ có dịp tìm tòi, nhưng ấy là chuyện tương lai... thứ mà đám tù bóc lịch phỉnh phờ bản thân không bao giờ nghĩ tới. Tôi vốn tuổi trẻ, anh tú, xuất thân phố nghèo trong trấn. Tôi làm một tiểu thư xinh xẻo, u uất, ương ngạnh sống trong dãy biệt thự cổ nguy nga đường Carbine ễnh bụng. Bố cô ả chấp thuận cho cuộc hôn phối với điều kiện tôi về làm cho công ty kính mắt ông ta sở hữu và “nỗ lực đi lên”. Tôi phát hiện ra ông ta toan tính trong đầu là muốn giữ tôi trong nhà, dễ bề thao túng, như con thú nuôi phá phách không chịu vào khuôn phép và có thể cắn chủ. Phẫn hận cứ thế tích tụ đến cùng cực, đẩy tôi gây ra cơ sự ấy. Nếu có cơ hội thứ hai, tôi sẽ không làm thế, nhưng tôi không chắc liệu điều đó có nghĩa tôi đã cải tạo hay chưa.
Mà chủ đề tôi muốn kể với bạn không phải là về bản thân tôi; tôi muốn kể chuyện một người mang tên Andy Dufresne. Nhưng trước khi kể về Andy, tôi phải giải thích thêm đôi điều về chính mình. Vắn tắt thôi.
Như đã nói, tôi cung ứng vật phẩm ở Shawshank ngót nghét bốn chục năm rồi. Và tôi không phải chỉ tuồn lậu những thứ như thuốc lá hay rượu bia, dù mấy món này luôn đứng đầu danh sách. Tôi còn ti tỉ thứ khác cho đám đực bóc lịch ở đây, nhiều thứ hoàn toàn hợp pháp nhưng khó kiếm ở một nơi anh được đưa đến để chịu trừng phạt. Có một gã vào tù vì hãm hiếp một bé gái và trưng hàng với hàng tá đứa trẻ khác; tôi kiếm cho gã ba khối đá hoa cương Vermont, thế là gã đục đẽo thành ba bức tượng cực kỳ xinh xẻo – một đứa bé, một thiếu niên chừng mười hai và một thanh niên với bộ râu quai nón. Gã gọi mấy bức tượng là Tam Thời Giê-su , và những bức tượng ấy hiện tại đang nằm trong phòng khách của người ngày trước từng làm thống đốc bang này.
Hoặc có cái tên này khéo bạn sẽ nhớ nếu bạn lớn lên ở bắc Massachusetts – Robert Alan Cote. Năm 1951, hắn cố cướp nhà băng Mậu dịch Đệ nhất Thị trấn Mechanic Falls, cuộc bắt giữ con tin biến thành buổi tắm máu – chung cuộc có sáu người thiệt mạng, hai trong số đó là thành viên băng đảng, ba người là con tin, một người là viên cảnh sát bang trẻ tuổi nghểnh cổ lên sai thời điểm và lĩnh một viên kẹo đồng vào mắt. Cote có bộ sưu tập tiền xu. Thường thì còn khuya họ mới cho phép hắn duy trì thói tiêu khiển ấy trong này, nhưng với sự trợ giúp của mẹ gã và một tay trung niên từng làm tài xế xe tải giặt là, tôi xoay xở được cho hắn. Tôi bảo hắn, Bobby, đầu mày chắc biêng biêng, không dưng muốn sưu tập đồng xu trong một khách sạn bằng đá đầy đạo tặc. Hắn nhìn tôi rồi mỉm cười đáp, tôi biết chỗ cất. Chúng sẽ an toàn. Ông đừng lo. Hắn nói đúng. Năm 1967, Bobby Cote chết vì u não, nhưng chẳng ai biết tung tích bộ sưu tập tiền xu ấy ở nơi nào.
Tôi tuồn sô cô la cho đám đực rựa vào ngày lễ tình nhân; tôi xoay ba ly sữa lắc xanh xanh người ta phục vụ ở McDonald’s vào dịp lễ Thánh Patrick cho một gã điên người Ireland mang tên O’Malley; thậm chí tôi còn sắp xếp chiếu phim Ngập họng và Tiểu quỷ trong nàng Jones lúc nửa đêm cho nhóm hai chục gã gom góp hầu bao để thuê phim... dù rốt cuộc tôi phải ngồi một tuần trong phòng biệt giam vì trò lố ấy. Đó là rủi ro tôi phải gánh khi theo cái nghiệp cung ứng này.
Tôi có sách tham khảo, sách đen, những món chơi khăm như dụng cụ giật điện, bột ngứa, và đôi lần, tôi đã chứng kiến nhiều tay mọt gông trong tù nhận được quần con của vợ hay bạn gái... tôi đoán bạn thừa hiểu đám tù nhân trong này làm gì với các món ấy vào những đêm trường thời gian tựa hồ lưỡi dao cứa. Tôi không cung cấp hàng miễn phí, nhiều món có cái giá rất cao. Nhưng tôi không làm chỉ vì tiền; tiền nhiều được tích sự gì kia chứ? Tôi đâu thể sở hữu một chiếc ô tô Cadillac hay bay đến Jamaica nghỉ mát đôi tuần vào tháng Hai. Tôi theo cái nghiệp này với lý do giống như anh đồ tể chất lượng chỉ bán thịt tươi: tôi có cái tiếng, và tôi muốn giữ gìn danh tiếng ấy. Hai thứ duy nhất tôi từ chối lo liệu là súng và ma túy nặng đô. Tôi không tiếp tay cho kẻ khác tự sát hay giết người. Trong đầu tôi đã đủ lượng giết chóc dùng dần cho cả đời rồi.
Phải, tôi chẳng khác nào một cái trung tâm thương mại NeimanMarcus. Thế nên năm 1949, khi Andy Dufresne đến hỏi tôi liệu có thể tuồn nàng Rita Hayworth vào nhà giam cho anh ta không, tôi bảo không thành vấn đề. Mà thật là thế.
Khi Andy vào Shawshank năm 1948, anh ta ba mươi tuổi. Tướng tá tầm thước, gọn ghẽ với mái tóc màu cát cùng đôi tay nhỏ nhắn, khéo léo. Anh ta mang cặp kính gọng vàng. Móng tay luôn cắt ngắn, sạch sẽ. Tôi đoán ấn tượng về một người đàn ông như thế thì quả lạ lùng, nhưng với tôi, dường như con người Andy cô đọng trong câu nói ấy. Lúc nào trông anh ta cũng như thể nên đeo thêm chiếc cà vạt cho đủ bộ. Bên kia khung sắt, anh ta từng là phó chủ tịch phòng ủy thác của một ngân hàng Portland tầm cỡ. Đúng là tuổi trẻ tài cao, nhất là khi anh biết hầu hết các ngân hàng thủ cựu ra sao... và riêng ở cái xứ New England, anh cứ nhân thái độ thủ cựu ấy lên chục lần mới vừa, vì dân ở đây không hảo giao mồ hôi nước mắt của mình cho gã nào trừ khi gã ta phải hói, chân cà nhắc và lúc nào cũng bứt quần để quần thẳng thớm. Andy vào tù vì tội hạ sát vợ và tình nhân của cô ta.
Tôi nghĩ tôi từng nói mọi người trong tù đều là kẻ vô tội. Ôi chao, họ đọc kinh cứ y như những tay truyền giáo say sưa đọc Sách khải huyền. Họ là nạn nhân của đám thẩm phán với trái tim sắt đá, máu huyết lạnh ngắt, hoặc luật sư bất tài vô dụng, hoặc cảnh sát chơi chiêu, hoặc số nhọ. Họ đọc kinh, song anh có thể thấy một bài kinh khác hằn lên trên mặt họ. Hầu hết phường lừa đảo là hạng bần cùng, chẳng còn tích sự gì cho bản thân hay cho kẻ khác, và cái vận xui rủi nhất của họ là đấng sinh thành đã chửa đẻ họ ra đời.
Đằng đẵng ngần ấy năm ở Shawshank, tôi tính thì thấy chưa tới chục gã tâm sự với tôi chúng bị oan. Andy Dufresne là một trong số đó, dù phải nhiều năm sau, tôi mới bị thuyết phục rằng anh ta vô tội thật. Nếu tôi nằm trong hội thẩm đoàn phán xử vụ án của anh ta ở Tòa án Tối cao Portland vào những tuần giông tố năm 1947-1948, hẳn tôi sẽ bỏ phiếu tuyên anh ta có tội.
Vụ án rúng động dư luận, thật tình là thế; một trong những vụ đình đám với những chi tiết đắt xắt ra miếng. Một mỹ nhân quen biết dân máu mặt (đã chết), một vận động viên nức tiếng trong vùng (cũng chết), một doanh nhân trẻ đầy triển vọng đứng trước vành móng ngựa. Sơ sơ là thế, chưa kể những tình tiết xì căng đan mà báo chí bóng gió. Quá trình truy tố diễn ra chóng vánh vì mọi thứ rành rành ra đấy. Phiên tòa chỉ kéo dài như thế vì Ủy viên Công tố quận dự tính tranh cử vào Hạ viện Hoa Kỳ và ông ta muốn quần chúng nhân dân chiêm ngưỡng cho kỹ tướng mạo vị công bộc của dân. Phiên tòa đúng là một rạp xiếc pháp lý với khán giả xếp hàng từ bốn giờ sáng, mặc kệ nhiệt độ âm mười mấy độ C, để đảm bảo mình giành được một ghế.
Chi tiết của vụ khởi tố mà Andy không chối tội như sau: anh này có cô vợ mang tên Linda Collins Dufresne; vào tháng Sáu năm 1947, cô ta bày tỏ mối quan tâm với việc học chơi golf ở Câu lạc bộ Đồng quê Đồi Falmouth; trên thực tế, cô ta theo học được bốn tháng người hướng dẫn cho cô là tay golf chuyên nghiệp của Đồi Falmouth mang tên Glenn Quentin; vào cuối tháng Tám năm 1947, Andy phát hiện Quentin và vợ mình dan díu; Andy và Linda Dufresne cãi nhau đầy gay gắt vào chiều ngày 10 tháng Chín năm 1947; chủ đề cuộc tranh cãi là về việc cô vợ ngoại tình.
Anh ta khai Linda tuyên bố cô ta mừng là chồng mình biết chuyện; cô ta bảo cứ thậm thụt lén lút thế này mệt mỏi quá. Cô bảo với Andy cô ả dự tính đến Reno để làm thủ tục ly hôn cho nhanh chóng. Andy đáp anh ta sẽ gặp vợ mình ở địa ngục trước khi gặp cô ta ở Reno. Cô ta bỏ đến thẳng căn nhà mà Quentin thuê cách sân golf không xa để qua đêm với nhân tình. Sáng hôm sau, bà phục vụ của tay vận động viên phát hiện cả hai người họ đã chết trên giường. Mỗi người bị bắn bốn phát.
Chi tiết cuối cùng này khiến dư luận sục sôi với Andy hơn bất cứ chi tiết nào khác. Ủy viên Công tố quận toan tính theo nghiệp chính trị nhấn mạnh điểm này trong phát biểu mở đầu và kết luận. Ông ta phát biểu Andrew Dufresne không phải một người chồng sai trái khi nóng máu tìm cách trả thù người vợ hai lòng; Ủy viên Công tố quận nói hành vi đó có thể lý giải, thậm chí dung thứ. Nhưng cách trả thù lại quá đỗi máu lạnh. Nhìn mà xem! Ủy viên Công tố quận thống thiết với hội thẩm đoàn. Mỗi nạn nhân bốn phát! Tổng cộng không phải sáu phát mà là tám phát! Hắn ta đã bắn hết đạn... sau đó dừng lại, nạp thêm đạn để tiếp tục bắn hai nạn nhân! BỐN PHÁT CHO HẮN, BỐN PHÁT CHO CÔ, tờ Portland Sun giật tít. Tờ Boston Register gọi anh ta là Sát thủ Bắn cho bằng.
Một nhân viên tiệm cầm đồ Wise ở Lewiston làm chứng đã bán một khẩu súng lục .38 Police Special cho Andrew Dufresne chỉ hai ngày trước khi vụ sát hại hai mạng người xảy ra. Nhân viên pha chế ở câu lạc bộ đồng quê khai Andy xuất hiện vào khoảng 7 giờ tối ngày 10 tháng Chín, nốc cạn ba cốc whiskey trong khoảng thời gian hai mươi phút – và khi rời khỏi ghế, anh ta bảo với người nhân viên pha chế mình sẽ đi đến nhà của Glenn Quentin và anh nhân viên pha chế có thể “đọc phần còn lại trên báo”. Một nhân viên khác làm trong cửa tiệm Handy-Pik cách nhà Quentin chừng một cây số rưỡi, khai với quan tòa rằng Dufresne đến tiệm vào khoảng 9 giờ kém 15 đêm đó. Anh ta mua thuốc lá, ba chai bia và vài khăn lau chén dĩa. Nhân viên giám định pháp y hạt tuyên bố Quentin và vợ Dufresne bị giết trong khoảng thời gian 11 giờ tối và 2 giờ sáng đêm ngày 10, rạng sáng ngày 11 tháng Chín. Thanh tra từ văn phòng Bộ Tư pháp phụ trách vụ án cho biết có một ngã rẽ cách căn nhà của Quentin hơn 60 mét, và vào chiều ngày 11 tháng Chín, có ba vật chứng đã bị lấy đi khỏi ngã rẽ: thứ nhất là hai vỏ chai bia Narragansett (bên trên có dấu vân tay của bị cáo); thứ hai là mười hai đầu mẩu thuốc lá (tất cả đều là thuốc lá Kool, nhãn hiệu mà bị cáo hút); thứ ba, khuôn thạch cao của vết bánh xe (khớp chính xác với độ hao mòn của lốp chiếc Plymouth 1947 mà bị cáo sử dụng).
Trong phòng khách căn nhà của Quentin, cảnh sát phát hiện bốn khăn lau chén đĩa nằm trên sofa. Khăn nào khăn nấy đều có lỗ đạn và cháy sém do thuốc súng. Cảnh sát đặt giả thiết (mặc kệ luật sư của Andy cật lực phản đối) rằng thủ phạm đã bọc khăn quanh miệng vũ khí giết người để giảm âm thanh của phát súng.
Andy Dufresne đứng ra khai để tự bào chữa, kể lại câu chuyện của mình một cách bình thản, lạnh lùng và lãnh đạm. Anh ta nói mình bắt đầu nghe phong thanh những lời đồn đại sét đánh ngang tai về việc vợ mình tằng tịu với Glenn Quentin từ tuần cuối tháng Bảy. Cuối tháng Tám, anh ta đau lòng đến mức điều tra chút đỉnh. Vào tối hôm Linda đáng lý ra phải đi mua sắm ở Portland sau khi học đánh golf xong, Andy bám theo cô và Quentin vào căn nhà một tầng mà Quentin thuê (tất lẽ dĩ ngẫu, cánh báo giới gọi đấy là “tổ chim cư”). Anh ta đậu xe ô tô ở khúc quanh cho đến khi Quentin chở tình nhân về lại câu lạc bộ đồng quê chỗ cô ta đậu xe, tức là khoảng ba tiếng sau đó.
“Bị cáo muốn nói với tòa rằng bị cáo đã bám theo vợ bị cáo trong chiếc xe sedan Plymouth mới coóng của bị cáo đúng kh ©We-love-ebook ông?” Ủy viên Công tố quận hỏi anh ta trong buổi thẩm vấn chéo.
“Buổi tối hôm đó, tôi đã đổi xe với một người bạn,” Andy trả lời, và thái độ thản nhiên công nhận mình đã bỏ công sức lên kế hoạch cho cuộc điều tra chi li đến mức nào chỉ càng khiến hình tượng anh sứt mẻ trong mắt hội thẩm đoàn.
Sau khi trả xe người bạn và lấy lại xe mình, anh ta về nhà. Linda đang nằm trên giường đọc sách. Anh hỏi vợ ở Portland thế nào. Cô vợ đáp vui lắm nhưng không tìm được món đồ nào thích đến độ muốn mua về. “Đó là lúc tôi chắc như đinh đóng cột,” Andy nói với khán phòng nín thịnh như tờ. Anh nói bằng cái giọng xa xôi, tĩnh lặng vốn được anh dùng để cung cấp gần như toàn bộ lời khai.
“Tâm trạng của anh ra sao trong mười bảy ngày kể từ lúc đó đến đêm vợ anh bị giết hại?” Luật sư của Andy hỏi anh.
“Lòng tôi đau như cắt,” Andy lạnh lùng, bình thản đáp. Tựa hồ một người đọc to danh sách các món đồ cần mua, anh nói anh đã nghĩ đến chuyện tự sát, thậm chí còn mua luôn một khẩu súng ở Lewiston vào ngày 8 tháng Chín.
Đoạn luật sư yêu cầu anh ta thuật lại cho hội thẩm đoàn những chuyện xảy ra sau khi vợ anh ta rời khỏi nhà để gặp Glenn Quentin vào đêm án mạng. Andy làm theo... và để lại ấn tượng xấu hết mức có thể.
Tôi biết Andy ngót nghét ba chục năm, và tôi có thể nói anh ta là người giữ tự chủ tốt nhất mà tôi từng biết. Thứ gì anh ta ưu việt hơn người, anh ta chỉ nhử cho anh từng chút một. Thứ gì anh ta yếu nhược, anh ta giấu kín như bưng trong lòng. Nếu anh ta trải qua cuộc bể dâu trong đời, như cách nhiều nhà văn hay nói, còn khuya anh mới biết. Anh ta là típ đàn ông nếu đã quyết định tự sát sẽ kết liễu sự sống của mình mà không để lại di thư, nhưng trước đó, anh ta phải xử lý đâu vào đấy mọi công chuyện cần thiết đã. Nếu anh ta rơi lệ trên vành móng ngựa, hoặc nếu giọng anh ta khàn đi, lừng khừng, thậm chí nếu anh ta la hét inh ỏi vào mặt tay Ủy viên Công tố quận đang muốn tiến thân ở Washington kia, tôi không nghĩ anh ta sẽ lãnh án chung thân như thế. Mà dù có chăng nữa, đến năm 1954, anh ta cũng sẽ được phóng thích. Nhưng anh ta thuật lại câu chuyện chẳng khác nào cái máy thu âm, tựa như muốn bảo với hội thẩm đoàn: Chuyện là thế. Tin hay không tùy các người. Họ chọn vế sau.
Anh ta khai tối hôm ấy mình say rượu, rằng từ ngày 24 tháng Tám, anh ta cứ say xỉn liên miên, mà khổ nỗi tửu lượng của anh ta chẳng khá khẩm gì cho cam. Tất nhiên trên đời chẳng có hội thẩm đoàn nào nuốt nổi lời bao biện ấy. Họ chẳng tài nào hình dung nổi cảnh tượng chàng trai trẻ với tâm tĩnh đến lạnh lùng, khoác trên mình bộ vest ba mảnh, hai hàng khuyu bằng len tươm tất này có thể xỉn quắc cần câu khi hay tin vợ mình lén lút cắm sừng với tay vận động viên golf trong thị trấn bé như lỗ mũi. Còn tôi thì tin, bởi tôi đã có cơ hội dõi theo Andy, một cơ hội mà sáu tay đàn ông, sáu người phụ nữ kia không có.
Suốt thời gian tôi quen biết Andy Dufresne, anh ta chỉ uống đúng bốn lần một năm. Anh ta sẽ gặp tôi trong sân tập thể dục hằng năm, tầm một tuần trước sinh nhật và một lần nữa vào khoảng hai tuần trước Giáng sinh. Mỗi lần gặp, anh ta nhờ tôi chuẩn bị cho một chai Jack Daniel’s. Anh ta mua theo cách đa số các tù nhân sắp xếp để mua các thức đồ – đồng lương mạt rệp được trả trong này cộng thêm chút tiền riêng. Đến tận năm 1965, quần quật làm việc cũng chỉ kiếm được mười xu một giờ. Năm ’65, chút lương bèo bọt ấy được nâng lên tận hai mươi lăm xu. Hoa hồng tôi buôn rượu vẫn là mười phần trăm từ xưa đến nay, và khi anh cộng thêm số tiền ấy vào giá một chai whiskey uống thấm như Black Jack, anh có thể ước lượng Andy Dufresne phải đổ mồ hôi sôi nước mắt bao nhiêu tiếng đồng hồ trong phòng giặt nhà tù để mua được bốn cốc rượu một năm.
Vào sáng ngày sinh nhật, 20 tháng Chín, anh ta sẽ tự thưởng cho mình một ngụm rất to, đoạn uống thêm ngụm nữa sau khi đèn đóm đã tắt. Ngày hôm sau, chai rượu còn bao nhiêu, anh ta đem trả lại tôi tất, thế là tôi chia cho mọi người. Một chai còn lại, anh ta uống một lần vào đêm Giáng sinh, thêm lần nữa vào đêm giao thừa. Và rồi chai rượu ấy cũng quay lại chỗ tôi, với lời dặn dò để người khác chung vui. Một năm uống đúng bốn lần – đó là cách hành xử của người vì chất cồn ấy mà thân bại danh liệt. Đến độ đổ máu.
Anh ta khai với hội thẩm đoàn là vào đêm ngày 10, anh ta say mèm đến độ chỉ nhớ được những mảnh ký ức rời rạc về chuyện xảy ra. Chiều hôm đó, anh uống say – cụ thể lời anh ta nói là “tôi trót mượn rượu lấy gấp đôi bản lĩnh” – trước khi gây gổ với Linda.
Sau khi cô vợ bỏ nhà đi gặp Quentin, anh ta nhớ mình đã quyết định ba mặt một lời với đôi gian phu dâm phụ. Trên đường đến nhà của Quentin, anh ta có tạt vào câu lạc bộ đồng quê để làm vài ly. Anh nói mình không nhớ có nói với nhân viên pha chế rằng anh này có thể “đọc phần còn lại trên báo”, thậm chí anh không nhớ mình có nói lời nào với tay ấy hay không. Anh nhớ có mua bia ở Handy-Pik nhưng không nhớ đã mua khăn lau chén đĩa. “Tôi mua khăn lau chén đĩa làm gì kia chứ?” anh ta hỏi, và một tờ báo tường thuật rằng ba thành viên nữ trong ban hội thẩm đã rùng mình.
Sau này, rất lâu sau này, anh ta mổ xẻ với tôi về tay nhân viên đã đứng ra khai báo về khăn lau chén đĩa, tôi thấy phân tích của anh đáng ghi lại vào đây. Ngày nọ, trong sân tập thể dục, Andy nói cho tôi nghe: “Giả sử trong quá trình tìm kiếm nhân chứng, họ tình cờ tìm được người nhân viên đã bán bia cho tôi đêm đó. Đến lúc ấy, đã ba ngày trôi qua. Các tình tiết về vụ án đã được toàn bộ các tờ báo lao vào mổ xẻ. Có khi cả đám bọn họ đã kéo bè cánh đe dọa anh ta, năm, sáu tay cớm, thêm gã khốn nạn ở văn phòng Bộ Tư pháp, thêm trợ lý của Ủy viên Công tố quận. Ký ức là một thứ rất chủ quan, Red ạ. Ban đầu, có thể họ chỉ bâng quơ hỏi ‘Biết đâu anh ta đã mua năm, sáu chiếc khăn lau chén đĩa thì sao?’ rồi dần dần xây dựng câu chuyện từ đây. Nếu số người muốn ta nhớ thứ gì đó đủ đông, nó sẽ biến thành yếu tố thuyết phục rất mạnh mẽ.”
Tôi đồng ý với khả năng ấy.
“Nhưng có một điều thậm chí còn tác động mạnh hơn,” Andy tiếp tục chìm trong dòng suy nghĩ. “Tôi nghĩ vẫn có khả năng anh ta tự huyễn hoặc bản thân. Là do ánh đèn sân khấu. Cánh phóng viên phỏng vấn, hình ảnh xuất hiện trên mặt báo... đỉnh điểm, tất nhiên là màn xuất hiện hoành tráng tại tòa. Tôi không nói anh ta cố tình bịa chuyện hoặc khai man. Nhưng tôi cho rằng có thể anh ta đã vượt qua bài kiểm tra phát hiện nói dối thành công hoặc thể sống thể chết rằng tôi đã mua những cái khăn lau chén đĩa ấy. Gì thì gì... ký ức là thứ chủ quan vô cùng.
“Tôi biết rõ như sau: mặc dù cả luật sư của tôi còn nghĩ phân nửa những gì tôi kể là chuyện bịa, anh ta không nhắc đến chuyện những cái khăn lau chén đĩa. Mới nghe qua đã thấy điên rồ. Tôi xỉn quắc cần câu, xỉn tới mức đấy thì quan tâm làm gì đến bịt bớt tiếng súng. Nếu tôi là thủ phạm, tôi cứ để mặc nó kinh thiên động địa thôi.
Anh ta đến khúc quanh rồi đậu xe ở đó. Nốc bia, rít thuốc. Nhìn đèn tầng dưới nhà Quentin tắt ngóm. Anh ta nhìn thấy một ngọn đèn trên gác bật sáng... rồi mười lăm phút sau, anh ta thấy nó cũng tắt luôn. Anh ta bảo mình có thể mường tượng phần còn lại.
“Anh Dufresne, có phải sau đó, anh đã vào nhà của Glenn Quentin rồi hạ sát hai người bọn họ không?” luật sư chất vấn.
“Không, tôi không giết họ,” Andy trả lời. Anh khai đến nửa đêm, anh tỉnh rượu. Anh cũng bắt đầu cảm nhận những dấu hiệu đầu tiên của cơn choáng váng sau say. Anh quyết định đi về nhà, ngủ cho đỡ mệt, để mọi chuyện hôm sau suy tính cho ra đầu ra đũa. “Lúc đó, trên đường lái xe về nhà, tôi bắt đầu nghĩ phương thức khôn ngoan nhất là để cô ấy đi Reno ly hôn theo ý muốn.”
“Cảm ơn, anh Dufresne.”
Ủy viên Công tố quận chợt chen ngang.
“Anh đã ly hôn với nạn nhân theo cách thức nhanh nhất mà anh có thể nghĩ ra, đúng không? Anh ly hôn với cô ấy bằng khẩu súng lục ổ quay .38 bọc trong khăn lau chén đĩa à?”
“Không, thưa tòa, tôi không làm thế,” Andy bình thản đáp.
“Sau đó anh bắn tình nhân của vợ.”
“Không, thưa tòa.”
“Vậy ý anh là anh bắn Quentin trước.”
“Tôi muốn nói tôi không bắn ai trong hai người họ. Tôi uống hai chai bia và đốt thuốc, đúng những đầu mẩu mà cảnh sát tìm thấy ở khúc quanh. Sau đó tôi lái xe về nhà rồi vào giường ngủ.”
“Anh khai với hội thẩm đoàn rằng giai đoạn từ ngày 24 tháng Tám đến ngày 10 tháng Chín, anh cảm thấy muốn tự sát.”
“Phải, thưa tòa.”
“Muốn tự sát đến độ mua một khẩu súng lục.”
“Phải.”
“Anh Dufresne này, anh có phật lòng không nếu tôi bảo với anh tôi thấy anh không phải típ người tự sát?”
“Tôi không phật lòng” Andy đáp, “nhưng trong mắt tôi, quý tòa không có vẻ gì là một người nhạy cảm, và nếu tôi thấy muốn tự sát thật, tôi đồ rằng tôi cũng không đến trút bầu tâm sự với quý tòa.”
Nghe đến đây, phòng xử án khẽ vang lên tiếng cười khúc khích đầy căng thẳng, nhưng anh chẳng ghi được điểm nào với hội thẩm đoàn.
“Anh có mang theo khẩu súng .38 trong người vào đêm ngày 10 tháng Chín không?”
“Không, như tôi đã khai...”
“À phải!” Ủy viên Công tố quận nở nụ cười đầy mỉa mai. “Anh đã quăng khẩu súng xuống sông phải không? Xuống sông Royal. Vào buổi chiều ngày 9 tháng Chín.”
“Phải, thưa tòa.”
“Một ngày trước vụ sát hại.”
“Phải, thưa tòa.”
“Sao mà tiện lợi thế nhỉ?”
“Chẳng tiện lợi cũng không bất tiện. Sự thật là thế mà thôi.”
“Tôi nghĩ anh đã nghe thấy lời khai của trung úy Mincher rồi phải không?” Mincher là người phụ trách đội nạo vét khoảng sông Royal gần cầu đường Pond, nơi Andy khai đã vứt khẩu súng xuống. Cảnh sát đã tìm nhưng không thấy.
“Phải, thưa tòa. Tòa biết tôi đã nghe lời khai mà.”
“Vậy anh đã nghe thấy trung úy báo cáo với tòa đội không tìm được khẩu súng nào dù đã nạo vét suốt ba ngày trời. Chuyện này cũng tiện lợi quá nhỉ?”
"Bỏ qua chuyện tiện lợi hay không, sự thật là họ không tìm ra khẩu súng” Andy bình thản đáp lại. “Nhưng tôi xin phép chỉ ra với hội thẩm đoàn rằng cầu đường Pond nằm rất gần vị trí sông Royal đổ vào vịnh Yarmouth. Dòng nước chảy rất xiết. Có thể khẩu súng đã bị cuốn ra vịnh rồi.”
“Vậy có nghĩa là không thể so sánh đường xẻ trên những viên đạn gắp ra từ thi thể nhuốm máu của vợ anh cùng anh Glenn Quentin với rãnh xẻ trong nòng khẩu súng của anh. Tôi nói vậy có đúng không, anh Dufresne?”
“Đúng”
“Điều đó cũng tiện lợi quá đấy?”
Khoảnh khắc ấy, theo cánh báo chí, Andy thể hiện trên mặt một trong số phản ứng cảm xúc rất vi tế ít ỏi mà anh cho phép bản thân bộc lộ suốt sáu tuần tổ chức phiên tòa xét xử. Một nụ cười cay đắng tựa làn mây thoáng qua.
“Vì tôi hoàn toàn vô tội trong vụ án này, thưa tòa, và vì tôi nói sự thật về việc ném khẩu súng xuống sông một ngày trước khi tội ác kia xảy ra, nên không nghi ngờ gì nữa, tôi cảm thấy việc không tìm ra khẩu súng là điều hoàn toàn bất lợi với tôi.”
Ủy viên Công tố quận chĩa mũi dùi vào anh suốt hai ngày. Ông ta đọc lại lời khai của tay nhân viên Handy-Pik về khăn lau chén đĩa cho Andy nghe. Ande nhắc lại rằng anh không nhớ mình đã mua khăn, nhưng thừa nhận anh cũng không dám chắc mình không mua chúng.
Có thật là vợ chồng Andy và Linda Dufresne đã mua một hợp đồng bảo hiểm cho hai người vào đầu năm 1947 không? Phải, đúng là thế. Và nếu trắng án, có thật là Andy sẽ được nhận năm mươi nghìn đô la tiền bồi thường đúng không? Đúng là thế. Và có thật anh ta đã đến nhà của Glenn Quentin với sát ý nung nấu trong tâm, và có phải anh ta đã sát hại đến hai mạng người hay không? Không, điều đó không đúng. Vậy anh ta nghĩ chuyện gì đã xảy ra, nhất là khi không có dấu hiệu trộm cướp?
“Tôi không thể nào biết điều đó, thưa tòa,” Andy khẽ cất tiếng.
Vụ án được giao cho hội thẩm đoàn vào một buổi chiều thứ Tư âm u tuyết rơi. Mười hai thành viên cả nam lẫn nữ trong hội thẩm đoàn trở lại vào 3 giờ 30 phút. Chấp hành viên ở toà án cho hay họ đã có thể về sớm hơn, nhưng họ nán lại thêm chút nữa để tận hưởng món thịt gà trứ danh cho bữa tối ở nhà hàng Bentley’s được nhà nước chi trả. Họ tuyên án anh ta có tội, và bạn tôi ơi, nếu Maine áp dụng luật tử hình, anh ta đã xơi kẹo đồng từ trước khi cây nghệ tây của mùa xuân nhủ ra khỏi tuyết rồi.
Ủy viên Công tố quận hỏi Andy nghĩ chuyện gì đã xảy ra, và anh ta bảo mình không biết – nhưng thật ra anh đã nghĩ đến một kịch bản có thể xảy ra, và tôi đã khai thác được kịch bản ấy từ anh vào một đêm năm 1955. Bảy năm đằng đẵng trôi qua, chúng tôi mới đi từ mối quan hệ quen sơ, gật đầu chào nhau sang bạn hữu tương đối thân thiết – nhưng phải tầm năm 1960, tôi mới cảm thấy mình thật sự thân thiết với Andy, và tôi dám chắc tôi là kẻ duy nhất từng gần gũi với anh như thế. Cả hai vốn vào tù bóc lịch đến mọt gông, chúng tôi ở cùng khu phòng giam từ thuở ban đầu đến lúc cuối, dù tôi cách anh nửa hành lang.
“Tôi nghĩ sao à?” Anh ta cười – nhưng thanh âm chẳng vương chút khôi hài. “Tôi nghĩ tối hôm đó quả là họa vô đơn chí. Trong cuộc đời ngắn ngủi thế này, có lẽ chẳng còn lần nào bao vận hạn xui rủi tụ họp nhiều đến như thế. Tôi nghĩ có lẽ một người lạ vô tình đi ngang qua. Có lẽ sau khi tôi về nhà, đã có một kẻ nào đó bị xẹp lốp trên đường. Hoặc một tên trộm. Hoặc một tên tâm thần. Hắn kết liễu họ, thế thôi. Và tôi đứng đây chịu trận thay.”
Đơn giản thế đấy. Anh bị kết án phải dành quãng đời còn lại trong Shawshank – hay nói đúng hơn, phần đời đáng lý công thành danh toại. Năm năm sau, anh bắt đầu dự các phiên điều trần ân xá, nhưng hết lần này đến lần khác, anh đều bị bác bỏ dù là một người tù có ý thức cải tạo tốt. Công cuộc để kiếm được tấm vé ra khỏi Shawshank khi trên mẩu giấy nhận vào tù của anh đóng dấu tội giết người là một quá trình chậm chạp, chậm chẳng kém gì nước sông chảy mòn đá. Bảy người ngồi trên ghế hội đồng, con số này nhiều hơn hẳn hai người so với hầu hết các nhà tù bang, và cả bảy nhân vật ấy đều rắn tựa nước lấy lên từ giếng có mạch nước khoáng. Anh đừng hòng mua chuộc được họ, ngon ngọt đưa họ vào tròng hay than thân trách phận với họ. Đối với hội đồng ở đây, đồng tiền không phải thứ vạn năng, chẳng phải cứ có tiền thì muốn mua tiên cũng được. Riêng vụ án của Andy còn nhiều lý do khác... nhưng tôi xin để dành kể ở phần sau cho phù hợp.
Trong tù có một người tù vì thái độ tốt nên được hưởng đặc ân riêng mang tên Kendricks, anh ta nợ tôi kha khá từ thập niên ’50, và phải đến bốn năm sau, anh ta mới thu xếp trả hết được. Hầu hết phần lãi anh ta trả cho tôi là thông tin – làm trong hệ này, tai vách mạch rừng, nếu không biết nghe ngóng tứ bề thì chỉ có con đường chết. Ví dụ, Kendricks có thể tiếp cận các giấy tờ mà tôi còn khuya mới có thể thấy khi rị mọ đóng con dấu khắc số xe trong cái phân xưởng sản xuất biển số chết toi.
Kendricks cho tôi hay trong hội đồng tư vấn ân xá bỏ phiếu 7-0 chống lại Andy Dufresne vào năm 1957, 6-1 vào năm ’58; lại 7-0 vào năm ’59; và 5-2 vào năm 60. Sau đó ra sao thì tôi không rõ, chỉ biết mười sáu năm sau đó, anh vẫn bóc lịch trong Buồng giam số 14 của Khu buồng giam số 5. Đến lúc ấy, tức năm 1975, anh đã năm mươi bảy tuổi. Có khi đến năm 1983, biết đâu họ lại mở lượng hải hà và phóng thích anh ta. Họ cho bạn cuộc sống, họ cũng lấy đi cuộc sống của bạn – nói đúng hơn là phần đời ý nghĩa nhất. Có thể một ngày nào đó, họ sẽ ban cho bạn tự do, nhưng... chà, để tôi kể bạn nghe chuyện này: tôi biết một người tù mang tên Sherwood Bolton, anh ta nuôi con chim bồ câu trong buồng giam suốt quãng thời gian từ năm 1945 đến năm 1953, tức năm họ cho anh này ra tù. Anh ta chẳng đam mê chim chóc như tay Điểu nhân của Alcatraz [1E] ; đơn giản là anh ta nuôi con chim bồ câu, thế thôi. Anh ta đặt tên nó là Jake. Một ngày trước khi cất bước rời nhà tù, Sherwood thả cho Jake bay đi, và chú chim Jake đã tung cánh bay đẹp mắt đến độ ai nấy đều bồi hồi. Nhưng tầm một tuần sau khi Sherwood Bolton rời khỏi gia đình hạnh phúc của chúng tôi, một người bạn hữu gọi tôi ra góc phía Tây sân tập thể dục, nơi ngày trước Sherwood hay dạo chơi. Một con chim đang chỏng chơ nằm đó, trông y như mảnh khăn trải giường bẩn vo thành ụ nhỏ. Nhìn nó như bị chết đói. Bạn tôi thốt lên: “Chẳng phải đó là Jake sao, Red?” Phải. Con bồ câu ấy đã chết thẳng cẳng.
Tôi còn nhớ như in lần đầu tiên Andy Dufresne liên hệ với tôi để hỏi hàng; tôi nhớ như thể chuyện mới ngày hôm qua. Nhưng đó không phải lần anh ta muốn tấm áp phích Rita Hayworth. Ấy là chuyện sau này. Vào mùa hè năm 1948, anh ta đến chỗ tôi vì thứ khác.
Hầu hết các thương vụ giao dịch của tôi được thực hiện ngay trong sân tập thể dục, và lần đó cũng thế. Sân của chúng tôi rất rộng, rộng hơn nhiều so với chỗ khác. Nó có hình vuông, cạnh nhỉnh hơn 80 mét một chút. Cạnh hướng bắc là bờ tường bao, ở hai góc có hai tháp canh. Lính canh trên tháp được trang bị ống nhòm và súng trấn áp bạo động. Cổng chính nằm ở hướng bắc ấy. Khu vực tải hàng hóa nằm ở phía nam của sân. Có tổng cộng năm khu. Trong tuần làm việc, Shawshank là một nơi hết sức bận rộn – hàng hóa hết nhập lại xuất. Chúng tôi có nhà máy sản xuất biển số xe và một khu giặt là công nghiệp rộng lớn giải quyết toàn bộ quần áo trong tù, cộng với Bệnh viện Sơ cứu Kittery và Viện dưỡng lão Eliot. Ngoài ra còn có một ga ra ô tô lớn, ở đây những người tù rành về kỹ thuật sửa chữa các phương tiện giao thông trong nhà tù, của bang và của thành phố − ấy là chưa nói tới xe riêng của nhân viên quản ngục, văn phòng quản lý... và không hiếm lần, chúng tôi sửa cả xe của hội đồng tư vấn ân xá.
Phía đông là một bức tường đá dày cui với những thanh cửa mỏng. Khu buồng giam số 5 nằm phía bên kia tường. Phía tây là ban Quản lý và bệnh xá. Shawshank trước giờ không đông đúc quá độ như hầu hết các nhà tù khác, và vào năm ’48, nhà tù chỉ hoạt động khoảng hai phần ba sức chứa, nhưng ở bất cứ thời điểm nào cũng có từ tám mươi đến một trăm hai mươi tù nhân trên sân – chơi ném bắt bóng bầu dục hoặc bóng chày, chơi ném xí ngầu, nói tràng giang đại hải với nhau hoặc thực hiện giao kèo. Vào Chủ nhật, nơi này còn đông hơn nữa; trông chẳng khác nào dịp lễ tết... chỉ thiếu các bóng hồng là đủ bộ.
Andy tiếp cận tôi vào một ngày Chủ nhật. Khi đó, tôi vừa trao đổi xong với Elmore Armitage, cánh tay đắc lực của tôi, về đài phát thanh thì Andy bước đến. Tất nhiên tôi biết anh ta là ai; anh ta vốn nổi tiếng khinh thế ngạo vật và lạnh lùng một cõi. Đám tù nhân bảo chưa gì đã anh ta đã tự rước rắc rối vào thân. Một trong những kẻ nói câu này là Bogs Kim cương, hạng ác đảng mà ai cũng phải dè chừng. Andy không có bạn chung buồng giam, và tôi nghe nói ấy là anh ta muốn thế, dù thiên hạ dị nghị rằng anh ta tưởng phân mình thơm hơn phân đám dân đen. Nhưng tôi không việc gì phải nghe những lời ngồi lê đôi mách về kẻ khác khi tôi có thể tự mình đánh giá.
“Xin chào,” anh ta cất tiếng. “Tôi là Andy Dufresne.” Anh ta chìa tay ra, tôi bắt lấy. Anh không phải típ người phí thời gian nói dông dài mà vào chủ đề chính ngay. “Tôi được biết anh là người có cách thu xếp để lấy các món đồ.”
Tôi công nhận thỉnh thoảng tôi có khả năng định vị món này món kia.
“Anh làm điều đó bằng cách nào?” Andy hỏi.
“Nhiều lúc, đồ cứ thế mà đến tay tôi thôi. Khó mà giải thích lắm. Tôi chỉ có thể nói nguyên do vì tôi là người Ireland.”
Anh ta khẽ mỉm cười trước câu đùa của tôi. “Liệu anh có thể thu xếp cho tôi búa đục đá không” "”
“Búa đục đá là gì, mà tại sao anh lại muốn có nó kia chứ?”
Andy tỏ vẻ ngạc nhiên. “Một phần công việc của anh là ghi nhận động cơ của kẻ khác à?” Dùng ngôn từ kiểu này thì bảo sao người ta xì xầm anh ta là loại nhìn thiên hạ bằng nửa con mắt, típ người thích ra vẻ — nhưng tôi cảm nhận được chút hài hước tinh vi trong câu hỏi của anh.
“Để tôi bảo,” tôi nói. “Nếu anh muốn bàn chải đánh răng, tôi chẳng hỏi nhiều làm gì. Tôi chỉ báo giá cho anh thôi. Vì anh thấy đấy, bàn chải đánh răng không phải đồ vật có thể gây chết người.”
“Anh cảnh giác với những món đồ mang tính sát thương sao?”
“Phải.”
Một quả bóng chày cũ được quấn băng keo bay về phía chúng tôi, anh ta xoay người, nhanh như cắt, chộp lấy nó giữa không trung. Đến Frank Malzone [2E] còn phải ưỡn ngực tự hào nếu thực hiện được động tác ấy. Andy ném quả bóng về lại vị trí ban đầu – cổ tay vụt xuống thoăn thoắt, ung dung, nhưng cú ném không hề kém uy lực. Tôi có thể thấy rất nhiều người vừa lo chuyện của bản thân vừa liếc một con mắt dõi theo chúng tôi. Có lẽ cả mấy tay lính gác trên tháp canh cũng đang quan sát. Tôi chẳng thiên hô bát sát; nhưng nhìn chung nhà tù nào cũng có những tù nhân máu mặt, nhà tù nhỏ thì chừng bốn, năm tên, nhà tù lớn thì có khoảng hai, ba chục. Ở Shawshank, tôi cũng thuộc nhóm có máu mặt, và thái độ của tôi đối với Andy Dufresne sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc anh ta trải qua thời gian trong tù ra sao. Có lẽ anh ta cũng biết điều đó nhưng anh không khúm núm hay xun xoe bợ đỡ tôi, nên tôi tôn trọng anh vì lẽ đó.
“Cũng có lý. Vậy tôi sẽ nói với anh nó là gì và tại sao tôi muốn có nó. Búa đục đá trông giống cuốc chim cỡ nhỏ – dài chừng này.” Anh ta đưa hai tay cách nhau chừng ba tấc, và đó là lần đầu tiên tôi để ý móng tay anh gọn gàng ra sao. “Một đầu lưỡi búa nhọn và sắc, đầu kia phẳng và cùn. Tôi muốn có nó vì tôi thích đá.”
“Đá à,” tôi nói.
“Anh ngồi xổm xuống đây một chút,” anh ta đề nghị.
Tôi thuận theo. Chúng tôi chồm hổm ngồi xuống như người da đỏ.
Andy vốc một nắm đất trong sân tập thể dục rồi rây nó giữa hai bàn tay gọn ghẽ khiến bụi tung lên như đám mây ti. Trên tay anh ta chỉ còn sót lại những viên sỏi nhỏ, trong đó có một hai viên sáng lấp lánh, còn lại mờ đục và xỉn màu. Trong số những viên xỉn màu có cả thạch anh, tưởng chừng xỉn màu nhưng chỉ cần chùi sạch, ta sẽ thấy viên đá ánh lên màu sữa. Andy nhanh nhẹn lau chùi rồi ném viên đá cho tôi. Vừa chụp lấy, tôi đã xác định được ngay.
“Thạch anh, hẳn rồi,” anh ta nói. “Anh nhìn đây. Mica. Đá phiến sét. Đá hoa cương lẫn bột. Đây là một mảnh đá vôi đã mủn ra, từ khi họ xẻ triền đồi để xây dựng nơi này.” Anh ta ném chúng đi rồi phủi tay. “Tôi hay sưu tầm khoáng vật. Hay nói đúng hơn... ngày trước tôi từng sưu tầm khoáng vật. Từ dạo xa xưa. Tôi muốn theo đuổi đam mê ấy lần nữa, trên quy mô giới hạn hơn.”
“Các cuộc thám hiểm vào Chủ nhật trong sân tập thể dục à?” tôi hỏi, đoạn đứng dậy. Ý tưởng ấy nghe thật ấu trĩ, nhưng đồng thời... nhìn viên thạch anh con con khiến cõi lòng tôi có chút gì đó phấn khởi. Tôi chẳng rõ lý do tại sao; có lẽ nó khiến tôi liên tưởng đến thế giới bên ngoài. Khoảng sân này không cho bạn cơ hội nghĩ về những điều đó. Thạch anh là thứ ta nhặt trong dòng suối nhỏ róc rách nước reo.
“Thà có thám hiểm vào Chủ nhật ở đây còn hơn không có gì cả” anh ta nói.
“Anh có thể bửa cây búa đục đá ấy vào sọ ai đó,” tôi nhận xét.
“Tôi chẳng có kẻ thù nào ở đây cả,” anh ta ôn tồn.
“Không à?” tôi mỉm cười. “Cứ chờ mà xem.”
“Nếu vấn đề phát sinh, tôi có thể xử lý mà không dùng đến búa đục đá.”
“Nhỡ đâu anh nảy ra ý định vượt ngục thì sao? Đục tường chẳng hạn? Vì nếu anh làm thế...”
Anh ta lịch thiệp cười. Ba tuần sau, khi thấy cái búa đục đá, tôi hiểu lý do tại sao.
“Tôi bảo này,” tôi nói, “nếu người ta thấy anh cầm cây búa, họ sẽ lấy nó đi. Nếu họ thấy anh cầm cái muỗng, họ cũng sẽ tước mất cho mà xem. Vậy anh định thế nào, không lẽ cứ thế ngồi trong sân hì hụi đục đẽo?”
“Ồ, tôi tin rằng tôi có thể làm tốt hơn thế.”
Tôi gật đầu. Phần trao đổi này thật ra chẳng thuộc bổn phận của tôi. Một người vận đến dịch vụ của tôi để lấy được thứ gì đó. Sau khi tôi hoàn thành nhiệm vụ, giữ được nó hay không là việc của đương sự.
“Món đồ như thế này trị giá bao nhiêu?” tôi hỏi. Tôi bắt đầu thấy thích phong cách kiệm lời, lặng thầm của anh ta. Trải qua mười năm đầy phong ba bão táp như tôi, bạn sẻ ngán đến tận cổ những kẻ già mồm, thùng rỗng kêu to và ba hoa chích chòe. Phải, tôi nghĩ công bằng mà nói, tôi quý Andy ngay từ đầu.
“Tiệm đá quý bán tám đồng,” anh ta nói, “song tôi nghĩ trong ngành này, anh lấy lời dựa trên thặng số...”
“Tôi tính tỷ lệ thặng số là mười phần trăm, nhưng với món đồ nguy hiểm, tôi phải nâng lên. Với món đồ anh đang nói đến, tôi tốn nhiều công sức bôi trơn hơn thì mới được việc. Ta hãy tính mười đồng.”
“Vậy thì mười đồng”
Tôi nhìn anh ta, khẽ mỉm cười. “Anh có mười đồng kia à?”
“Tôi có,” anh ta ôn tồn đáp.
Sau đấy một thời gian dài, tôi phát hiện anh ta có năm trăm đô la là ít. Anh ta thủ theo số tiền ấy vào tù. Khi họ vời anh vào khách sạn này, một tay nhân viên trực lối vào có nhiệm vụ bắt anh cúi xuống để kiểm tra hàng họ – nhưng hàng thì lắm, họ cũng nhiều, và nói thẳng quá lại đâm lỗ mãng, tôi chỉ xin nói nếu thật sự quyết tâm, thì người ta có thể nhồi thứ tương đối to vào sâu ra phết – sâu đến độ khuất tầm mắt, trừ khi anh xui rủi bốc trúng một tay nhân viên trực khách sạn đương sốt sắng mang găng tay tìm kiếm cho kỹ.
“Thế thì tốt,” tôi nói. “Anh cũng biết tôi kỳ vọng điều gì nếu chẳng may anh bị bắt quả tang với món đồ tôi xoay cho anh chứ?”
“Tôi đoán là có,” anh nói, và từ chút biến đổi tinh vi trong đôi mắt xám của đối phương, tôi hiểu anh ta biết rõ những điều tôi sắp sửa thốt lên. Đôi mắt chỉ khẽ lóe lên, tia sáng bộc lộ cái khôi hài chua cay đặc biệt nơi anh.
“Nếu bị bắt, anh sẽ nói anh tìm thấy món đồ. Ngắn gọn thế thôi. Họ sẽ đưa anh vào phòng biệt giam trong ba hoặc bốn tuần... tất nhiên, cộng thêm việc anh mất đồ chơi và lãnh vết đen trong hồ sơ. Nếu anh khai ra tên tôi, chúng ta sẽ không bao giờ làm việc với nhau nữa. Đến cả sợi dây giày hay gói thuốc lá Bugler, anh cũng đừng hòng có được. Chưa kể, tôi sẽ cử vài tay đến tẩm quất anh. Tôi không thích bạo lực, nhưng anh sẽ hiểu vị thế của tôi. Tôi không thể để thiên hạ truyền tai nhau rằng tôi không biết kiềm chế bản thân. Như thế là tôi tự đặt dấu chấm hết cho chính mình”
“Vâng. Tôi đồ là thế. Tôi hiểu rồi, và anh không cần lo lắng”
“Tôi chẳng bao giờ lo lắng” tôi đáp. “Ở nơi như thế này, có lo cũng không được tích sự gì.”
Anh ta gật đầu rồi bước đi. Ba ngày sau, anh ta bước đến bên cạnh tôi trong sân tập thể dục vào giờ giải lao ban sáng của phòng giặt đồ. Anh ta chẳng nói chẳng rằng, thậm chí còn không nhìn về hướng tôi, nhưng gí tờ giấy bạc có in hình quý ngài Alexander Hamilton [3E] đáng kính vào tay tôi, nhanh gọn như một nhà ảo thuật tài ba biểu diễn với bộ bài. Anh ta là típ người thích ứng rất nhanh. Tôi xoay cho anh búa đục đá. Tôi giữ nó một đêm trong buồng giam của mình, và nó đúng y như anh ta mô tả. Muốn vượt ngục bằng món đồ ấy chẳng khác nào lên trời (tôi đoán một người sẽ mất khoảng sáu trăm năm để đào hầm xuyên xuống dưới bức tường bằng cây búa đục đá ấy), nhưng lòng tôi vẫn có chút hồ nghi. Nếu anh bửa cái búa ấy vào đầu một người, chắc chắn người đó sẽ chẳng còn sống để nghe chương trình Fibber McGee và Molly trên đài radio nữa. Mà chưa gì, Andy đã bắt đầu xích mích với hội tỷ muội. Tôi hy vọng bọn chúng không phải nguyên nhân anh ta trang bị cây búa đục đá ấy.
Chung cuộc, tôi tin vào óc đánh giá của mình. Sáng sớm hôm sau, hai mươi phút trước khi còi báo thức vang lên, tôi tuồn cây búa đục đá và gói thuốc Camel cho Ernie, người tù già quét hành lang Khu buồng giam số 5 cho đến khi được thả tự do vào năm 1956. Ông ta lặng thinh thả búa vào áo, để rồi suốt mười chín năm sau, tôi không trông thấy cây búa đục đá ấy thêm lần nào, và đến lúc đó, hẳn nó đã mòn gần như chẳng còn gì.
Chủ nhật sau đó, một lần nữa, Andy bước lại chỗ tôi trong sân tập thể dục. Tôi nói thật, khuôn mặt anh ta hôm ấy trông đến là khiếp. Môi dưới sưng vù, to như cây xúc xích, mắt phải sưng húp, chưa kể, trên má còn có một vết trầy trụa gớm ghiếc. Andy đang gặp hạn với hội tỷ muội, nhưng anh ta không nhắc đến chúng dù chỉ một lời. “Cảm ơn anh vì món đồ,” anh ta nói rồi bỏ đi.
Tôi hiếu kỳ dõi theo anh ta. Bước được vài bước thì phát hiện thứ gì trong đất đá, anh ta bèn cúi xuống nhặt lên. Là một viên đá nhỏ. Đồng phục tù nhân không có túi, trừ áo lao động của những người tù làm thợ cơ khí. Nhưng cái khó ló cái khôn. Những viên sỏi con con biến mất trong ống tay áo của Andy và không rơi xuống. Tôi khâm phục điều đó... và tôi ngưỡng mộ anh ta. Dù phải đối mặt với bao vấn đề, anh ta vẫn sống tiếp cuộc đời mình. Có hàng nghìn kẻ không như vậy, không thể làm thể hoặc rồi sẽ thối chí, mà khối người trong số ấy chẳng phải chịu kiếp tù đày. Và tôi để ý dù bị tẩn cho răng môi lẫn lộn, tay anh ta vẫn sạch sẽ, tươm tất, móng tay được giữ gọn gàng.
Suốt sáu tháng sau đó, tôi chẳng mấy khi có dịp gặp anh ta. Andy dành hầu hết khoảng thời gian ấy một mình.
Tôi xin nói đôi lời về hội tỷ muội.
Ở nhiều nhà ngục, chúng được mệnh danh là Bò đĩ đực hoặc Chị đại nhà tù – còn gần đây, cụm từ đang thịnh là “bà hậu sát thủ.” Nhưng ở Shawshank này, chúng luôn được gọi với cái tên hội tỷ muội. Tôi không rõ lý do, nhưng tôi đoán ngoại trừ tên gọi thì bản chất vẫn vậy mà thôi.
Hiện giờ, đa số mọi người chẳng mấy ngạc nhiên khi biết rằng trong bốn bức tường trại tù, kê gian là chuyện thường ngày ở huyện – có lẽ ngoại trừ những tay mới chân ướt chân ráo vào đây, xui rủi sao lại trẻ trung, thanh mảnh, tuấn tú và khinh suất – nhưng tình dục đồng giới cũng giống như tình dục dị giới, nó có muôn hình vạn trạng. Có những người không thể chịu được nếu không có tình dục ở một dạng nào đó, thành thử họ vận đến thân thể người đàn ông khác để không phát điên. Thường thì bước tiếp theo là sự dàn xếp giữa hai gã đàn ông về cơ bản là dị tính, dù lắm lúc tôi tự hỏi khi trở về với vợ hay bạn gái, liệu họ có dị tính như bản thân vẫn tưởng hay không.
Cũng có những gã đàn ông bị “bóng” trong tù. Theo ngôn từ hiện nay, họ “bị bẻ cong” hoặc “công khai giới tính thật”. Hầu hết (nhưng không phải tất cả) họ đóng vai nằm dưới, và mọi người xung quanh lao vào cấu xé nhau để lọt mắt xanh bọn họ.
Và rồi ta có hội tỷ muội.
Trong xã hội ngục tù, chúng chính là kẻ hãm hiếp trong xã hội ngoài song sắt. Chúng thường là những kẻ ở tù mọt gông, chịu án phạt hà khắc cho những tội ác tàn bạo mình gây ra. Con mồi của bọn chúng thường là những tù nhân trẻ, yếu đuối và còn non xanh... hoặc như trong trường hợp của Andy Dufresne, tù nhân với vẻ ngoài thư sinh. Khu săn bắt của chúng là buồng tắm, những lối đi chật như nêm giống đường hầm đằng sau các máy giặt công nghiệp trong khu phòng giặt, thỉnh thoảng là bệnh xá. Các vụ hãm hiếp đã xảy ra trong phòng chiếu phim to bằng tủ quần áo đằng sau thính phòng không chỉ một lần. Đa số trường hợp, nếu muốn, những kẻ trong hội tỷ muội chẳng cần dùng vũ lực cũng được dâng hiến miễn phí; vì nhóm đã bị bẻ cong thế nào cũng “cảm nắng” một thành viên nào đó trong hội tỷ muội, giống những thiếu nữ mê mệt các chàng trai giống Sinatra, Presley hay Redford. Nhưng đối với hội tỷ muội, niềm vui luôn nằm ở việc chiếm đoạt bằng vũ lực... và tôi đoán sẽ luôn như thế.
Vốn dĩ Andy có tướng tá nhỏ con và dung mạo khá khôi ngô (và có lẽ vì phẩm chất bình thản mà tôi ngưỡng mộ), hội tỷ muội đã bỏ anh vào tầm ngắm ngay ngày đầu tiên anh bước chân vào đây. Nếu đây là chuyện cổ tích, tôi sẽ kể với bạn Andy đã chiến đấu ngoan cường đến khi bọn chúng để yên cho anh ta. Ước gì tôi có thể nói vậy, song đời không như là mơ. Ngục tù càng không phải.
Lần trải nghiệm đầu tiên của anh ta là trong nhà tắm, khi anh trở thành thành viên của đại gia đình Shawshank vui tươi này chưa tới ba ngày. Tôi đoán là lần đầu thì chỉ ăn tát đến nổ đom đóm mắt và mơn trớn mà thôi. Họ muốn đánh giá trước khi thật sự xuống tay, giống con chó rừng rình mò xem con mồi có yếu ớt và què quặt như vẻ bề ngoài hay không.
Andy đấm trả và làm chảy máu môi gã tỷ muội to con, lực lưỡng mang tên Bogs Kim Cương – từ xưa đến giờ hắn được gọi như thế. Một tay lính gác kịp can ngăn trước khi mọi chuyện đi xa hơn, nhưng Bogs vẫn dọa tóm bằng được anh ta – và Bogs là kẻ nói được làm được.
Lần thứ hai là đằng sau máy giặt trong khu giặt. Bao năm qua, biết bao thứ chuyện đã xảy ra trong cái không gian dài, bụi bặm và chật chội ấy; cánh lính gác biết cả nhưng nhắm mắt làm ngơ. Lối đi tranh tối tranh sáng, vương vãi túi giặt và chất tẩy, các thùng chứa chất Hexlite, vô hại như muối nếu tay anh khô ráo, nhưng nguy hiểm không thua gì a xít trong ắc quy nếu tay anh ướt. Đám lính gác không thích vòng ra sau đó. Không có không gian để xoay xở, mà một trong những điều đầu tiên họ được dạy khi vào làm việc ở nơi như thế này là tuyệt đối không được để tù nhân dồn mình vào nơi không có đường lui.
Hôm ấy, Bogs không có mặt ở đó nhưng Henley Backus, vốn là đốc công của khu giặt từ năm 1922 kể với tôi rằng bốn gã trong băng đảng của hắn có mặt. Andy cầm chân được bọn chúng một lúc bằng vốc Hexlite, dọa sẽ ném vào mắt nếu chúng tiến lại gần hơn, nhưng anh ta trượt chân khi cố đi vòng qua chiếc máy giặt công nghiệp Washex bốn lồng. Và chỉ cần như thế, chúng đã ngự lên người anh ta.
Tôi đoán dù qua nhiều thế hệ, hãm hiếp tập thể là cụm từ không thay đổi nhiều. Đó là điều bốn gã trong hội tỷ muội ấy đã làm với Andy. Chúng vật anh lên hộp truyền động, một tên trong số chúng gí tuốc nơ vít Phillips vào thái dương anh trong lúc chúng hành sự. Chúng làm anh rách đôi chút, nhưng không quá tệ đâu – bạn hỏi có phải tôi rút ra điều này từ trải nghiệm của bản thân không à? – tôi chỉ ước giá mà không phải thế. Sẽ bị chảy máu ít lâu. Nếu không muốn bị thằng hề nào đấy cà khịa hỏi bạn mới đến tháng hay sao, thì bạn nên cuộn một đống giấy vệ sinh, nhét dưới đáy quần lót cho đến khi cầm máu. Mà thật thế, máu chảy ra chẳng khác gì đàn bà có kinh; nó cứ ri rỉ hai, thậm chí ba ngày. Rồi máu ngừng chảy. Không gây ra tổn hại gì, trừ khi chúng làm trò gì đó thậm chí còn kì dị hơn với bạn. Không gây ra tổn hại gì về thể chất – nhưng hãm hiếp vẫn là hãm hiếp, và cuối cùng, bạn phải một lần nữa nhìn vào gương mặt mình trong gương, quyết định đường đi nước bước cho bản thân.
Andy đã trải qua giai đoạn ấy một mình, giống cái cách anh ta vẫn luôn làm. Anh đi đến cái kết luận mà những người trước anh đã rút ra, rằng chỉ có hai cách để đối phó với hội tỷ muội: chống lại bọn chúng và để thân mình rơi vào tay chúng, hoặc buông xuôi để mình rơi vào tay chúng.
Anh quyết định chiến đấu. Khoảng một tuần sau biến cố ở khu giặt, khi Bogs và hai đồng đảng của hắn đến chỗ Andy (“Tao nghe mày bị thông rồi à,” Bogs cợt nhả, theo những gì Ernie – lúc ấy đang có mặt tại đó – kể lại), Andy lao vào sống mái với chúng. Anh ta đấm gãy mũi một kẻ mang tên Rooster MacBride, một gã nông dân tướng người lực lưỡng vào tù vì đánh con gái riêng của vợ đến chết. Tôi xin hoan hỉ bổ sung, Rooster cũng chết trong tù.
Cả ba người bọn chúng tóm lấy anh ta. Khi hành sự xong, Rooster và một kẻ khác – có thể là Pete Verness nhưng tôi không chắc chắn một trăm phần trăm – ép Andy quỳ gối xuống. Bogs Kim Cương bước đến trước mặt anh ta. Ngày ấy, hắn ta có con dao gấp cán bằng ngọc trai với dòng chữ Ngọc trai Kim cương khắc hai bên mặt. Hắn mở con dao ra và gầm ghè, “Giờ tao mở khóa quần đây, anh trai, và mày liệu hồn mà nuốt thứ tao đưa cho mày nuốt. Sau khi nuốt của tao xong, mày sẽ nuốt của Rooster. Mày vừa làm gãy mũi nó còn gì, tao nghĩ nó phải được bồi thường gì đấy chứ nhỉ.”
Andy đáp, “Mày đưa thứ gì của mày vào miệng tao thì đừng trách sao mày mất nó.”
Bogs nhìn Andy như thể anh ta đã phát điên, Earnie kể.
“Không” hắn nói với Andy, chậm rãi gắn từng tiếng, như thể Andy là đứa trẻ ngu đần. “Mày không hiểu điều tao nói rồi. Mày thử làm trò như vậy xem, tao sẽ cắm thanh sắt dài hai mươi phần này thẳng vào tai mày. Hiểu chưa?”
“Tao hiểu lời mày nói. Nhưng tao không nghĩ mày hiểu ý tao. Tao sẽ cắn bất cứ thứ gì mày nhét vào miệng tao. Mày cứ việc cắm con dao ấy thẳng vào não tao, nhưng mày nên biết khi chấn thương não nghiêm trọng bất ngờ xảy ra, nạn nhân sẽ tiểu tiện, đại tiện... và cắn phập răng xuống cùng một lúc.”
Lão Earnie già kể anh ta ngước nhìn Bogs, miệng khẽ nở nụ cười mỉm chi đặc trưng, tựa hồ cả ba người bọn họ vừa bàn luận về cổ phiếu, trái phiếu chứ không phải đang đe dọa lấy mạng anh. Như thể anh đang mặc bộ com lê ba mảnh của dân nhà băng chứ không phải đang quỳ mọp trên sàn nhà dơ dáy của khu chứa đồ, quần bị kéo xuống mắt cá chân và máu thì ri rỉ chảy ra ở đùi trong.
“Thật ra,” anh ta nói tiếp, “tao được biết phản xạ cắn đôi lúc mạnh đến mức người ta phải dùng xà beng hoặc tay quay để cạy mở hàm nạn nhân.”
Rốt cuộc buổi tối cuối tháng Hai năm 1948 ấy, Bogs không nhét bất cứ thứ gì vào miệng Andy, Rooster MacBride cũng thế, và theo như tôi biết, không ai trong bọn chúng làm thế. Chúng chỉ đập cho Andy một trận thừa sống thiếu chết, để rồi cả bốn người phải vào ngồi phòng biệt giam. Andy và Rooster MacBride đi bằng đường bệnh xá.
Băng đảng ấy tấn công anh ta bao nhiêu lần ư? Tôi chịu. Tôi nghĩ Rooster mất hứng khá sớm – phải đeo nẹp mũi cả tháng trời mà không dè chừng mới lạ – còn Bogs Kim Cương thì đột ngột ngừng động thủ vào mùa hè năm ấy.
Chuyện xảy ra hết sức dị thường. Bogs được phát hiện trong buồng giam, bị đánh nhừ tử vào một buổi sáng đầu tháng Sáu khi hắn ta không xuất hiện lúc điểm danh vào bữa sáng. Hắn ta không khai ra thủ phạm là ai, hoặc bọn chúng tấn công hắn bằng cách nào, nhưng vốn làm trong ngành đã lâu, tôi biết ta có thể hối lộ lính gác để họ làm bất cứ điều gì, ngoại trừ việc tuồn súng cho tù nhân. Thời đó, họ chỉ nhận được đồng lương mạt rệp, hiện giờ cũng chẳng khá khẩm hơn. Mà ngày xưa không có hệ thống khóa điện tử, cũng chẳng có camera an ninh hay công tắc mạch chính kiểm soát toàn khu vực của nhà tù. Vào năm 1948, mỗi khu phòng giam có giám ngục riêng. Lính gác có thể bị mua chuộc một cách dễ dàng để cho một – hay có khi là hai, ba người – vào khu phòng giam, và phải, thậm chí là lần đến tận buồng giam của Kim Cương.
Tất nhiên công chuyện kiểu đấy ngốn cả đống tiền. Nhưng không tính theo tiêu chuẩn của thế giới bên ngoài. Trạng thái kinh tế trong tù có quy mô nhỏ hơn. Khi bóc lịch một thời gian, lận lưng một đô la chẳng khác nào có hai mươi đô la dắt túi ngoài kia. Tôi đoán thế này, để xử lý Bogs, người đó sẽ phải tốn khoản tiền kha khá — tỉ dụ chừng mười lăm đồng cho tay giám ngục, và khoảng hai hoặc ba đồng cho đám hội đồng.
Tôi không khẳng định kẻ đứng đằng sau vụ ấy là Andy Dufresne, nhưng tôi biết anh ta thủ theo năm trăm đô la khi vào tù, và rằng trong thế giới ngoài kia, anh ta là dân ngân hàng – họ hiểu hơn đám chúng tôi những cách dùng tiền xoay trời chuyển đất.
Và tôi còn biết điều này: sau trận đòn ấy – gãy ba xương sườn, xuất huyết một mắt, bong gân lưng, trật khớp hông – Bogs Kim Cương hết dám hó hé với Andy. Nói đúng hơn, sau cơn hạn, hắn thôi động thủ với hầu hết mọi người. Giờ đây, hắn tựa cơn gió lớn vào mùa hạ, ào ào đấy, nhưng chỉ là hư trương thanh thế. Nhìn vào, ta có thể nói hắn đã biến thành một “tỷ muội yếu nhược.”
Đó là hồi kết với Bogs Kim Cương, kẻ đã có thể tiễn Andy về chầu trời nếu anh ta không ra tay ngăn chặn (trong trường hợp quả thật anh ta là kẻ đứng đằng sau). Nhưng đó chưa phải hồi kết của rắc rối mà Andy gặp phải với hội tỷ muội. Tình hình lắng dịu được ít lâu rồi lại tái diễn, dù không khủng khiếp và cũng không thường xuyên như trước. Chó rừng thích những con mới dễ xơi, và có nhiều sự lựa chọn dễ dàng hơn so với Andy Dufresne.
Tôi nhớ anh ta luôn chống trả bọn chúng. Có lẽ anh ta biết chỉ cần để bọn chúng tấn công mình mà không chống cự dù chỉ một lần, thì lần tới anh ta sẽ rất dễ để mặc chúng tác oai tác quái mà không chống cự. Thế là thỉnh thoảng, Andy lại xuất hiện với những vết bầm tím trên mặt, và chừng sáu hay tám tháng sau lần Kim Cương no đòn, Andy bị gãy hai ngón tay. À đúng rồi – đâu đó cuối năm 1949, anh ta vào nằm bệnh xá do gãy xương gò má mà khả năng cao là bị một đoạn ống bọc vải ở đầu vung ra trò vào mặt. Không lần nào anh ta không chống trả, và kết quả là anh ta phải vào phòng biệt giam. Nhưng tôi không nghĩ biệt giam gây khó dễ cho Andy như với một vài tù nhân khác. Anh ta vui vầy với bản thân.
Hội tỷ muội là thứ anh ta học cách thích nghi – và rồi vào năm 1950, quấy nhiễu gần như chấm dứt hẳn. Đó là một phần câu chuyện của tôi, mà tôi sẽ kể khi thời điểm chín muồi.
Vào mùa thu năm 1948, một buổi sáng nọ, Andy gặp tôi trong sân tập thể dục, nhờ tôi kiếm cho anh ta tầm sáu cái chăn đá.
“Chăn đá là cái giống gì?” tôi hỏi.
Anh bảo đó là cách gọi của dân sưu tầm khoáng vật; chúng là vải đánh bóng có kích thước cỡ khăn lau chén đĩa. Chúng được bọc nhiều lớp, một mặt nhẵn mịn, mặt còn lại xù xì – mặt nhẵn tương tự giấy nhám, mặt xù xì gần như không khác gì bùi nhùi thép công nghiệp (Andy cũng có một hộp bùi nhùi này trong buồng giam, nhưng tôi không phải người cung – tôi đoán anh ta thó từ khu giặt của nhà tù).
Tôi nói với anh ta hai bên có thể thực hiện giao dịch các món này, và rốt cuộc tôi cũng có được chúng từ cửa tiệm đá quý mà tôi từng thu xếp mua cây búa đục đá. Lần này, tôi tính Andy theo mức mười phần trăm thông thường, không đội thêm xu nào. Tôi chẳng thấy có gì chết người hay thậm chí nguy hiểm ở mấy miếng vải dày hình vuông với cạnh dài hai tấc. Nói chính xác là chăn đá.
Khoảng năm tháng sau, Andy hỏi liệu tôi có thể lấy cho anh ta áp phích Rita Hayworth hay không. Cuộc trò chuyện diễn ra trong thính phòng, lúc đang chiếu phim. Hiện giờ chúng tôi được xem chiếu phim hai lần một tuần, nhưng thời đó một tháng phim mới chiếu một lần. Thường các bộ phim chiếu cho chúng tôi xem đều truyền tải một thông điệp nâng đỡ tâm hồn, và bộ phim Cuối tuần mất mát này cũng thế. Bài học ở đây là uống rượu rất nguy hiểm. Đó là bài học mà chúng tôi thấy an ủi phần nào.
Andy xoay xở ngồi cạnh tôi, được tầm nửa bộ phim anh ta nhích gần thêm một chút và hỏi tôi có kiếm được cho anh ta hình Rita Hayworth không. Thành thật mà nói, yêu cầu đó khiến tôi thấy khôi hài. Andy lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh, điểm đạm, thong dong, nhưng tối hôm ấy, anh ta như đỉa phải vôi, gần như xấu hổ, tựa hồ anh ta đang hỏi tôi kiếm cho anh ta hàng hãng Trojan hoặc mấy công cụ bọc da cừu có khả năng “nâng cao khoái cảm khi ở một mình” như mấy tờ tạp chí quảng cáo. Anh ta có vẻ dư tràn năng lượng, sắp sửa làm nổ bộ tản nhiệt của mình đến nơi.
“Tôi lo được,” tôi đáp. “Dễ như bỡn, anh cứ bình tĩnh. Anh muốn to hay nhỏ?” Thời điểm đó, hình Rita cháy hàng nhất (lui lại vài năm thì Betty Grable đứng đầu) và có hai kích thước. Với một đồng, bạn có thể sắm Rita nhỏ. Với hai đồng rưỡi, bạn có được Rita lớn, dài một mét hai, nguyên thân.
“Hình lớn,” anh ta nói mà không nhìn tôi. Tôi nói bạn nghe, đêm ấy Andy trông rõ khôi hài. Mặt anh ta đỏ bừng như cậu nhóc đang dùng giấy gọi nhập ngũ của anh trai để lẻn vào chương trình nhảy khiêu dâm. “Anh thu xếp được không?”
“Thoải mái đi, hẳn tôi lo được. Có gì mà phải lo?” Khán giả đang vỗ tay và hò reo trước cảnh bọ chui ra khỏi tường để bò lên Ray Milland lúc này đang sảng rượu nặng.
“Tầm nào?”
“Một tuần. Có thể ít hơn.”
“Thế à.” Nói thế nhưng anh ta có vẻ thất vọng, như thể anh ta hy vọng lúc này tôi có sẵn một bức nhét trong quần. “Giá sao nhỉ?”
Tôi tính giá sỉ cho anh ta. Lần này, tôi du di bán cho anh theo giá vốn; vì sau thương vụ búa đục đá và chăn đá thì anh ta là khách hàng biết điều. Hơn nữa, anh ta đàng hoàng – vào rất nhiều đêm anh ta chết lên chết xuống với Bogs, Rooster và đám cô hồn ấy, tôi tự hỏi còn bao lâu cho đến lúc anh ta dùng cây búa đục đá bửa vỡ đầu đối phương.
Áp phích là món hàng bán chạy của tôi, chỉ đứng đằng sau rượu bia, thuốc lá, đứng trước tài mà nửa bước. Vào những năm ’60, chúng hút hàng trên mọi phương diện, rất nhiều người muốn có những bức hình hay ho treo tường như hình Jimi Hendrix, Bob Dylan, bức áp phích Ngạo nghễ dặm trường . Nhưng hầu hết là áp phích các mỹ nhân; hết hình nàng này đến hình nàng khác.
Vài ngày khi Andy nói chuyện với tôi, một tay tài xế đồ giặt ngày ấy tôi làm ăn mang theo hơn 60 bức áp phích, hầu hết là của Rita Hayworth. Khéo có khi bạn còn nhớ bức hình ấy đấy chứ; vì tôi thì nhớ như in. Rita vận trên người bộ bikini, một tay đưa ra sau đầu, mắt khép hờ, bờ môi đỏ mọng hờn dỗi khẽ hé mở. Họ gọi nàng là Rita Hayworth, nhưng Bóng hồng Bốc lửa có khi hợp hơn.
Trong trường hợp bạn đang thắc mắc, thì ban quản lý nhà tù biết về chợ đen này. Biết thừa là đằng khác. Có khi họ nắm về mảng ấy chẳng thua kém gì tôi. Họ chấp nhận nó vì họ biết nhà tù giống như một cái nồi áp suất khổng lồ, thành thử phải có van để xả bớt hơi nén. Thỉnh thoảng họ cũng xộc vào kiểm tra, và tôi đã ngồi biệt giam dăm ba lần trong mấy năm qua, nhưng với áp phích, họ nháy mắt. Sống đời mình và để người sống đời họ. Khi bức những tấm áp phích lớn của Rita Hayworth được treo trong buồng giam, người ta mặc định đấy là bưu phẩm bạn bè hay họ hàng gửi. Tất nhiên tất cả hàng tiếp tế từ bạn bè, người thân đều được mở ra khám xét bên trong, nhưng ai rảnh mà tra lại bản kiểm kê để lục tìm một món đồ vô hại như áp phích Rita Hayworth hay Ava Gardner kia chứ? Khi ở trong nồi áp suất, bạn học cách sống và để người ta sống, nếu không có ngày ai đó sẽ khắc cho bạn cái miệng mới toanh ngay trên yết hầu. Sống thì phải biết trước biết sau.
Một lần nữa, lại là Ernie mang áp phích đến buồng giam số 14 của Andy từ buồng của tôi, số 6. Và cũng Ernie là người mang cho tôi mảnh giấy được Andy nắn nót viết hai từ: “Cảm ơn.”
Dạo sau, khi họ dẫn chúng tôi ra ngoài ăn sáng, tôi liếc vào buồng giam của anh và trông thấy nàng Rita treo trên giường, rực rỡ trong bộ bikini, một tay đưa ra sau đầu, mắt khép hờ hững, bờ môi mềm mại tựa vải lụa he hé. Nàng được treo phía trên chỗ nằm, để hằng đêm, sau khi tắt đèn, anh ta có thể chiêm ngưỡng dung nhan ấy dưới ánh nhập nhoạng của đèn cao áp từ sân tập thể dục.
Nhưng dưới ánh ban mai chói lòa, trên khuôn diện nàng lại có những vệt đen cắt qua – ấy là bóng của những thanh sắt trên khung cửa sổ hẹp của buồng giam.
Giờ tôi sẽ kể cho bạn nghe biến sự giữa tháng Năm năm 1950 đã đặt dấu chấm hết cho chuỗi chạm trán kéo dài suốt ba năm của Andy với hội tỷ muội. Đó cũng là sự kiện đưa anh ta thoát khỏi khu giặt để chuyển vào thư viện, nơi anh tham gia lao động cho đến khi rời gia đình nhỏ vui tươi này vào đầu năm nay.
Có lẽ nãy giờ bạn đã để ý rất nhiều điều tôi kể với bạn chỉ là phong thanh – người này người kia thấy, sau đó kể với tôi, tôi kể lại với bạn. Chà, trong một số trường hợp, tôi đã giản lược rất nhiều chi tiết so với tình hình thực tế, trước (và cả sau này) lời tôi kể đã qua bốn, năm lần tam sao thất bản rồi. Trong đây nó thế. Tin sương xa gần, và nếu muốn đi trước thiên hạ, bạn phải biết cách sử dụng nó. Đương nhiên, bạn phải biết cách đãi những hạt thóc sự thật từ đống trấu dối gian, đồn bậy và bịa đặt cho bố.
Ngoài ra, chắc bạn cũng đã mơ hồ biết tôi đang mô tả một người huyền thoại hơn số đông, và tôi đồng tình phần nào sự thật là thế. Trong tâm tưởng những người tù lâu năm, vốn biết Andy quãng thời gian dài như chúng tôi, anh ta có gì đó thật huyền mặc, gần như giai thoại, nhuốm ma thuật, tôi nói đại để như thế nhưng mong là bạn hiểu điều tôi muốn truyền đạt. Câu chuyện tôi kể về việc Andy từ chối không thổi kèn cho Bogs Kim Cương là một phần của giai thoại ấy, việc anh nhất quyết chống trả hội tỷ muội hay việc anh chuyển sang làm ở thư viện cũng là một phần của giai thoại... nhưng có một khác biệt quan trọng: tôi ở đấy, chứng kiến tận mắt, và tôi dám thề độc điều này là sự thật. Lời thề của kẻ sát nhân trong tù có lẽ chẳng mấy giá trị, nhưng hãy tin một điều: tôi không dối trá.
Dạo đấy, Andy và tôi hay giao thiệp qua lại. Anh ta khiến tôi hiếu kỳ. Nhìn lại câu chuyện về tấm áp phích, tôi nhận thấy mình đã quên kể một chi tiết mà có lẽ nên bổ sung. Năm tuần sau khi anh ta treo nàng Rita lên (lúc ấy, tôi đã quên bẵng về nó và tiếp tục các phi vụ khác), Ernie tuồn một hộp nhỏ màu trắng qua song sắt buồng giam của tôi.
“Dufresne gửi,” ông ta khẽ nói, tay vẫn thoăn thoắt đưa chổi.
“Cảm ơn ông, Ernie,” tôi đáp rồi đút cho ông ta nửa gói Camel.
Cái quái gì đây nhỉ, tôi tự hỏi khi đẩy nắp hộp ra. Bên trong có rất nhiều bông trắng, và bên dưới...
Tôi ngẩn ra nhìn suốt hồi lâu. Trong vài phút, tưởng chừng tôi không dám chạm vào chúng, bởi sao mà chúng diễm lệ đến thế. Chốn xà lim này thiếu đến cùng cực những thứ đẹp tươi, và một điều vô cùng đáng tiếc là nhiều người thậm chí chẳng mảy may thương nhớ chúng.
Bên trong hộp có hai viên đá thạch anh được đánh bóng vô cùng kỹ lưỡng. Chúng đã được đẽo thành viên nhỏ. Hai viên đá lấp lánh ánh pi-rit sắt tựa những mảnh vàng. Nếu không nặng tay như thế này, chúng có thể được dùng làm bộ khuy măng sét tao nhã cho nam giới – chúng giống nhau tựa một cặp.
Anh ta tốn bao công sức để tạo tác ra chúng? Tôi biết hẳn phải tốn hàng giờ sau khi đèn tắt. Bước đầu tiên là đục đẽo, tạo hình, sau đó là mài bóng gần như bất tận và hoàn thiện bằng chăn đá. Nhìn chúng mà lòng tôi khởi lên cảm giác ấm áp như khi một người đàn ông hoặc đàn bà nhìn thứ gì đó mỹ miều, một thứ được bàn tay con người chế tác, làm ra – tôi cho rằng đó là điều thật sự khiến chúng ta khác biệt với động vật – và tôi thấy nhen nhóm điều gì khác nữa. Đó là cảm giác nể phục trước sự nhẫn nại đáng gờm của người đàn ông ấy. Song phải rất lâu sau này, tôi mới thấm thía Andy Dufresne bền bỉ đến đâu.
Vào tháng Năm năm 1950, bên trên yêu cầu mái nhà máy đóng biển số xe phải được lợp lại bằng lớp phủ hắc ín. Họ muốn hoàn thành việc này trước khi trên đó quá nóng, nên họ hỏi có ai tình nguyện làm hay không, vốn dự tính sẽ mất khoảng một tuần. Hơn bảy mươi người tù xung phong, vì công việc này vốn làm ngoài trời, mà lao động ngoài trời trong thời tiết tháng Năm thì hết sảy. Chín, mười cái tên còn lại được bốc thăm, và run rủi thế nào, hai trong số đó lại là tên của Andy và tôi.
Suốt tuần kế tiếp, chúng tôi sẽ được dẫn ra sân tập thể dục sau khi ăn sáng, với hai lính gác đằng trước và thêm hai lính gác đằng sau... chưa kể những tay lính trên tháp canh theo dõi quá trình thi công qua ống nhòm.
Vừa rồng rắn đi từ sáng, bốn người chúng tôi vừa khiêng một cái thang rút rất lớn – tôi lúc nào cũng thấy buồn cười trước cách Dickie Betts, một thành viên tham gia lợp mái, gọi loại thang này là thang “khắc nhập” – rồi tựa nó vào bờ tường của tòa nhà thấp và bằng phẳng ấy. Sau đó, chúng tôi bắt đầu chuyền nhau các xô hắc ín nóng rẫy lên mái nhà. Nhỡ may đánh đổ thứ này lên người, anh sẽ kêu trời kêu đất cho tới tận bệnh xá.
Có sáu lính gác tham gia sự kiện này, tất cả đều được chọn dựa trên thâm niên. Cả đám bọn họ chẳng khác nào được nghỉ phép nguyên tuần, thay vì đổ mô hôi, sôi nước mắt trong khu giặt, trong nhà máy đóng biển số xe hoặc đứng canh một đám tù nhân phát quang, nhổ cỏ, họ đang tận hưởng ngày nghỉ tháng Năm dưới ánh nắng như bao người, họ cứ thế ngồi tựa lưng vào rào chắn, tán hươu tán vượn với nhau.
Họ thậm chí còn chẳng cần vận hơn nửa con mắt theo dõi chúng tôi, vì cột canh gác tường phía nam gần đến độ những người lính trên đó có thể khạc nhổ vào thẳng chúng tôi nếu muốn. Nếu kẻ nào trong đội lợp mái có hành vi khả nghi, chỉ cần bốn giây để xẻ đôi anh ta bằng kẹo đồng từ khẩu súng máy cỡ .45. Thế nên những tay lính này cứ thong thả ngồi đấy. Họ mà có thêm vài lốc bia ướp lạnh thì chẳng khác nào vua một cõi.
Trong số các lính gác có một gã tên Byron Hadley, và tính đến năm 1950, thâm niên của hắn ở Shawshank còn lâu hơn tôi, thậm chí lâu hơn hai cai ngục trước đó gộp lại. Tay nắm quyền vào năm 1950 là một gã xuất thân mạn miền đông New England mặt mũi khó đăm đăm mang tên George Dunahy. Hắn ta có bằng quản trị hình sự. Theo tôi thấy, chẳng ai ưa hắn, trừ những kẻ đã đưa hắn ngồi vào cái ghế này. Tôi nghe bảo hắn ta chỉ quan tâm ba điều: biên soạn số liệu thống kê cho một cuốn sách (sau này cuốn sách được một đơn vị nhỏ ở New England mang tên Light Side Press xuất bản, có lẽ do hắn tự bỏ tiền túi ra in), đội nào thắng giải vô địch bóng chày nội bộ tháng Chín hàng năm và vận động cho án tử hình được thi hành ở Maine. George Dunahy là một kẻ ủng hộ nhiệt thành án tử hình. Hắn bị sa thải vào năm 1953, khi chuyện hắn tổ chức dịch vụ sửa chữa xe ô tô giá rẻ trong ga ra nhà tù rồi chia chác lợi nhuận với Byron Hadley và Greg Stammas bại lộ. Hadley và Stammas dính chàm nhưng chẳng hề hấn gì – bọn chúng là lũ cáo già ăn vụng biết chùi mép – nhưng Dunahy thì lên đường. Chẳng ai tiếc thương khi hắn ra đi, nhưng cũng không một ai mãn ý lúc thấy Greg Stammas đảm nhiệm chức vụ. Hắn ta thấp bé, bụng chắc nụi, hai con mắt nâu lạnh lùng vô bờ bến. Hắn lúc nào cũng bĩu ra nụ cười khắc khổ, trông như người buồn đi vệ sinh mà táo bón. Trong thời gian Stammas làm cai ngục, Shawshank chẳng khác nào địa ngục trần gian, và dù không có bằng chứng, tôi tin rằng phải có đến năm, sáu cái xác đã được chôn dưới ánh trăng trong khu rừng cây bụi nằm phía đông nhà tù. Dunahy đã tệ, Greg Stammas còn máu lạnh, độc ác và tàn nhẫn hơn.
Hắn và Byron Hadley là bạn tốt của nhau. Dưới tư cách quản ngục, George Dunahy chỉ là bù nhìn chứ không có thực quyền; chính Stammas và Hadley, thông qua hắn ta, mới là những tên đầu sỏ thực sự quản lý nhà tù.
Hadley là một gã đàn ông lêu nghêu, lóng ngóng với mái tóc hung đang thưa dần. Hắn dễ cháy nắng, hay la lối, ai không di chuyển nhanh theo ý hắn, hắn sẽ dùng gậy phang thẳng vào người. Hôm đó, ngày thứ ba chúng tôi ở trên mái nhà, hắn trò chuyện với tay lính gác mang tên Mert Entwhistle.
Hadley vừa nhận được một số tin vui đến không tưởng nên hắn mải phàn nàn ca thán về chuyện đó. Tinh hắn vốn thế – hắn là một kẻ vô ơn, chẳng nói tốt cho ai lời nào, thể loại người cho rằng cả thế giới này chống lại mình. Thế giới này đã lừa sạch những năm tháng tươi đẹp nhất đời hắn, và thế giới này háo hức muốn lừa hắn nốt phần đời còn lại. Tôi đã từng gặp một số lính canh trong tù thánh thiện vô cùng, tôi nghĩ tôi biết lý do tại sao – họ có thể nhìn ra khác biệt giữa cuộc sống của họ, dù nghèo khó, giật gấu vá vai, với cuộc sống của những kẻ mà chính phủ trả tiền để họ giám sát. Những người lính gác ấy biết làm phép so sánh về nỗi thống khổ. Kẻ khác thì không thể, và cũng không buồn làm.
So sánh không nằm trong từ điển của Byron Hadley. Hắn có thể ngồi hưởng thụ không gian mát mẻ, thoải mái dưới ánh mặt trời ấm áp tháng Năm, trơ tráo than trách sao phận hắn sướng đến vậy, trong khi cách đó chưa tới ba mét, một đám người đang phải nai lưng làm việc, mồ hôi mẹ mồ hôi con, bỏng cả tay khi phải xách xô to chứa đầy hắc ín lục bục, đám người vào ngày thường phải cật lực cày cuốc, đến độ công việc này chẳng khác nào nghỉ giải lao . Bạn còn nhớ câu hỏi xưa cũ mà người ta hay dùng để xác định góc nhìn đời của bạn từ cách bạn đáp không? Với Byron Hadley, câu trả lời luôn là vơi một nửa, ly nước luôn với một nửa . Đời đời kiếp kiếp là thế, amen. Nếu bạn đưa hắn ly rượu táo lên men mát lành, hắn sẽ nghĩ về giấm. Nếu bảo vợ hắn một lòng một dạ thương chồng, hắn sẽ bảo đấy là mụ ta xấu ma chê quỷ hờn.
Hắn ngồi đấy, nói chuyện với Mert Entwhistle oang oang đến độ cả đám chúng tôi đều nghe thấy, cái trán rộng trắng hếu của hắn đã bắt đầu đỏ lựng dưới ánh mặt trời. Hắn vắt một tay ra tường chắn tầm thấp bao quanh mái nhà. Tay kia để trên báng khẩu súng .38.
Chúng tôi được dịp nghe chuyện cùng Mert. Số là khoảng mười bốn năm trước, anh trai của Hadley đi đến Texas và từ dạo ấy, cả gia đình chẳng hay tin gì của tên khốn nạn đấy. Họ cứ ngỡ hắn bỏ xác ở đó rồi, thôi thì nhẹ gánh. Nào ngờ một tuần rưỡi trước đó, một tay luật sư gọi đường dài cho họ từ Austin. Hóa ra anh trai của Hadley mới lên chầu ông bà bốn tháng trước, mà lúc chết, ông này giàu nứt đố đổ vách (“Đời lắm tréo ngoe, sao nhiều tên khốn số hưởng thế không biết,” hình mẫu đại diện cho lòng biết ơn trên nóc nhà máy làm biển số xe cảm thán). Tiền kiếm được từ dầu mỏ và cho thuê khai thác dầu mỏ, con số lên đến gần một triệu đô la.
Không, Hadley không thành triệu phú – điều này có thể khiến hắn vui vẻ ít lâu – nhưng người anh đã để lại khoản tiền thừa kế khá khẩm, cụ thể là ba mươi lăm nghìn đô la cho mỗi thành viên còn sống trong gia đình ông ta ở Maine, nếu có thể xác định nơi chôn của họ. Không tệ. Giống như may mắn trúng số vậy.
Nhưng trong đầu Byron Hadley, ly lúc nào cũng vơi một nửa. Hắn ta rền rĩ gần hết buổi sáng với Mert về việc lũ chính phủ khốn nạn sắp sửa ăn mất một phần của trời cho của gã. “Chúng nó chỉ chừa cho tôi chút tiền bọ mua con xe mới,” hắn thừa nhận, “mà tiếp theo thì sao? Tôi lại phải trả thuế cho cái xe mới tức chứ, chưa kể tiền sửa chữa, bảo trì, rồi đám con chết dịch suốt ngày mè nheo đòi chở đi chơi trên xe mui trần...”
“Còn đòi lái xe nữa chứ, nếu chúng đủ tuổi,” Mert đế thêm. Mert Entwhistle già đời thừa biết mượn gió bẻ măng, và gã chẳng dại gì nói ra điều rõ ràng như ban ngày với gã và với đám chúng tôi: Nếu số tiền ấy khiến ông mất ăn mất ngủ thế, thì hỡi Byron bạn hiền ơi, đưa đây tôi tiêu hộ cho. Suy cho cùng, bạn bè đồng cam cộng khổ mà.
“Đúng rồi, muốn lái xe, muốn dùng xe ấy tập lái , ôi lạy Chúa tôi,” Byon rùng mình nói. “Rồi cuối năm thì thế nào? Nếu anh tính thuế sai và không đủ tiền để trả phần thấu chi, anh sẽ phải tự móc tiền túi ra, hoặc thậm chí còn phải đi vay từ những chỗ tín dụng của dân Do Thái. Mà đằng nào họ cũng sẽ kiểm toán anh. Của thiên trả địa thôi. Chính phủ ra tay kiểm toán thì thể nào họ cũng bòn thêm. Ai có thể chống lại Chú Sam? Chú Sam thò tay vào trong áo, bóp ngực anh đến bầm tím, nhưng anh còn biết làm gì ngoài ngậm bồ hòn. Lạy Chúa.”
Hắn ta chìm vào im lặng ủ ê, trầm tư ngẫm vận hắn sao đen đến mức phải thừa kế ba mươi lăm nghìn đô la ấy kia chứ. Từ nãy đến giờ, Andy Dufresne dùng chổi Padd cỡ lớn quét hắc ín cách đó chưa tới năm mét, đoạn anh ta ném nó vào xô rồi bước lại chỗ Mert và Hadley đang ngồi.
Cả đám chúng tôi cứng người, và tôi trông thấy một tên lính gác, Tim Youngblood, thò tay xuống bao đựng súng lục. Một lính gác trên tháp canh huých vào tay người lính cạnh, rồi cả hai bọn họ quay lại. Trong một khắc, tôi còn tưởng Andy sẽ xơi kẹo đồng hoặc bị tẩn bằng dùi cui, hoặc cả hai.
Đoạn anh khẽ khàng hỏi Hadley: “Ông có tin vợ mình không?”
Hadley chỉ chằm chằm nhìn anh ta. Mặt hắn ta bắt đầu ửng đỏ, và tôi biết đấy là dấu hiệu xấu. Trong tầm ba giây, hắn sẽ lôi dùi cui chọi vào đám rối dương của Andy, chỗ tập trung cả một mạng lưới các dây thần kinh. Cú chọi đủ mạnh có thể kết liễu mạng sống của nạn nhân, nhưng chúng chấp tất. Nếu không mất mạng, cú chọi ấy sẽ khiến bạn tê liệt đủ lâu để quên sạch ban đầu mình dự tính làm những gì.
“Tên kia,” Hadley nạt, “tao cho mày đúng một cơ hội nhặt cây chổi Padd kia lên. Không là mày sẽ xuống khỏi mái nhà bằng đầu đấy.”
Andy chỉ nhìn hắn, bình thản, tĩnh lặng. Đôi mắt anh ta tựa băng đá. Như thể anh ta chưa nghe thấy lời hắn. Và tôi chợt muốn bảo ngay với anh ta cách hành xử phải phép, dạy ngay cho anh ta tôn ti trật tự trong này. Trật tự ở chỗ anh ta không bao giờ được tỏ ra anh ta nghe thấy đám lính gác nói chuyện, anh ta không bao giờ được chen vào cuộc trao đổi của chúng trừ khi chúng hỏi (và anh ta phải luôn nói điều chúng muốn nghe rồi ngậm miệng lại). Dân da đen, da trắng, da đỏ, da vàng, trong tù, điều đó chẳng quan trọng vì chúng tôi có một kiểu bình đẳng rất riêng. Trong tù, mọi tù nhân đều là thằng mọi, và anh ta phải tập làm quen với điều đó nếu muốn giữ cái mạng còm của mình trước Hadley và Greg Stammas, những kẻ có thể giết chết anh ta ngay khi nhìn anh ta. Vào đây bóc lịch có nghĩa là anh ta thuộc về nhà nước, và nếu anh ta quên điều đó, thì khốn khổ thân anh ta. Tôi biết có người từng mù mắt, cụt ngón chân, ngón tay; tôi biết một kẻ mất đầu dương vật nhưng còn tự thấy mình may mắn rằng chỉ mất chừng đó. Tôi những muốn nói với Andy rằng đã quá trễ. Anh ta có thể quay lại, nhặt chổi của mình lên, nhưng tối nay, sẽ có một gã bặm trợn đợi anh ta trong nhà tắm, sẵn sàng lao vào tẩn cho hai chân anh ta ra bã và để mặc anh ta rên xiết trên sàn xi măng. Chỉ cần một gói thuốc lá hoặc ba phong kẹo Baby Ruth đã đủ để thuê một gã như thế. Hơn tất cả, tôi muốn nói với anh ta tình hình đủ tệ rồi, đừng đổ thêm dầu vào lửa.
Nhưng tôi chỉ tiếp tục trát hắc ín lên mái nhà như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Như mọi người, tôi lo cái thân mình trước. Phải vậy thôi. Tình hình vốn đã sứt mẻ rồi, và ở Shawshank, lúc nào cũng có những kẻ như Hadley, sẵn sàng phá cho nó vỡ nát.
Andy nói, “Có thể tôi nói chưa chuẩn. Ông tin bà ấy hay không không quan trọng. Vấn đề là ông có cho rằng bà ấy có khả năng phản bội, hay vong ân bội nghĩa ông không.”
Hadley đứng dậy. Mert đứng dậy theo. Kế đến là Tim Youngblood. Mặt hắn ta đỏ au như tường tòa nhà bằng gạch. “Vấn đề duy nhất của mày,” hắn gầm gừ, “là mày còn bao nhiêu cái xương chưa gãy. Mày có thể đếm nó trong bệnh xá. Lên đi, Mert. Chúng ta sẽ ném thằng khốn này xuống đất.”
Tim Youngblood rút súng ra. Cả đám chúng tôi vẫn lia lịa trát hắc ín. Mặt trời chói chang đổ xuống. Chúng sắp sửa ra tay rồi; Hadley cùng Mert sẽ liệng anh ta xuống dưới. Tai nạn tồi tệ. Dufresne, tù nhân số hiệu 81433-SHNK, đang xách xô rỗng xuống thì bị trượt khỏi thang. Rõ là tội nghiệp.
Chúng nắm lấy anh ta, Mert nắm tay phải, Hadley tay trái. Andy không hề nao núng. Đôi mắt anh ta không rời khuôn mặt đỏ như ngựa của Hadley.
“Nếu ông nắm được vợ mình trong lòng bàn tay, ông Hadley,” anh ta nói bằng cái giọng bình tĩnh và điềm đạm vốn có, “thì không có lý do gì ông không thể giữ lại từng xu số tiền đó. Chung cuộc là ông Byron Hadley ba mươi lăm nghìn, còn Chú Sam không có đồng nào.”
Mert bắt đầu kéo anh ta đến rìa mái nhà. Hadley cứ thế đứng ngẩn ra. Trong một khắc, Andy trông như sợi dây thừng bị hai bên giằng co. Đoạn Hadley cất tiếng, “Hượm đã, Hert. Mày nói vậy có nghĩa gì, thằng thanh niên kia?”
“Ý tôi nói nếu ông nắm được vợ mình trong lòng bàn tay, ông có thể đưa số tiền cho bà ấy,” Andy đáp.
“Mày nói cho rõ xem nào, không thì xong đời với tao.”
“Sở thuế vụ cho chúng ta một lần duy nhất được trao tặng quà cho vợ hoặc chồng mình,” Andy giải thích. “Số tiền có thể lên đến sáu mươi nghìn đô la.”
Hadley chỉ biết ngây ra nhìn Andy đầy ngạc nhiên. “Không thể nào, nghe vô lý quá,” hắn nói. “ Không tính thuế sao?”
“Không tính thuế,” Andy đáp. “Sở thuế vụ không thể đụng vào dù chỉ một xu.”
“Sao mày lại biết điều đó?”
Tim Youngblood giải thích: “Ngày xưa hắn là dân nhà băng, Byron ạ. Tôi đoán hắn ta...”
“Câm mồm đi thằng cá hồi,” Hadley nạt mà chẳng buồn liếc nhìn. Tim Youngblood đỏ mặt, im bặt. Một số lính gác gọi gã là Cá Hồi vì đôi môi dày cùng đôi mắt lồi. Hadley trừng trừng nhìn Andy. “Mày là thằng nhà băng khôn lỏi bắn chết vợ. Hà cớ gì tao phải tin loại như mày? Để tao vào đây đập đá cùng mày cho vui à? Mày khoái như thế phải không?”
Andy bình thản nói: “Nếu ông phải vào tù vì trốn thuế, ông sẽ ở một nhà tù liên bang chứ không phải Shawshank. Nhưng không có chuyện đó đâu. Tặng quà miễn thuế cho vợ chồng là kẽ hở hoàn toàn hợp pháp. Tôi đã làm mấy chục lần... không, mấy trăm lần rồi. Chủ yếu nó được dùng cho những người muốn để lại công việc kinh doanh nhỏ, hoặc những người tình cờ hưởng được món tiền lớn độc nhất vô nhị. Như ông.”
“Tao nghi mày đang nói dối,” ngoài miệng, Hadley nói vậy nhưng thật ra không phải thế – anh có thể thấy điều đó. Bên dưới khuôn mặt dài thượt và xấu xí cùng hàng lông mày thưa thớt cháy nắng của hắn nảy nở thứ cảm xúc gớm ghiếc. Kết hợp với gương mặt của Byron Hadley, cảm xúc ấy gần như dơ bẩn. Đó là hy vọng.
“Không, tôi không nói dối. Cũng chẳng có lý do gì ông phải tin tôi. Không thì ông thuê luật sư…”
“Lũ khốn nạn đuổi xe cấp cứu, cướp cạn xa lộ ấy!” Hadley ré lên.
Andy nhún vai. “Vậy đến sở thuế vụ mà hỏi. Họ sẽ nói với ông điều tương tự mà không tốn đồng nào. Thật ra, ông chẳng cần tôi nói cho ông đâu. Bản thân ông có thể tự tìm hiểu.”
“Mày sủa chuẩn rồi. Tao không cần một thằng nhà băng khôn lỏi giết vợ chỉ cho tao điều rõ như ban ngày.”
“Ông sẽ cần cán bộ thuế hoặc nhân viên ngân hàng để thu xếp món quà cho ông, tốn chút phí tổn,” Andy nói. “Hoặc... nếu ông hứng thú, tôi sẽ rất vui được thu xếp cho ông gần như miễn phí. Cái giá là mỗi đồng nghiệp của tôi được ba chai bia...”
“Đồng nghiệp kia đấy,” Mert thốt lên rồi phì cười hô hố. Hắn vỗ đùi đen đét. Lão Mert ấy chỉ được cái vỗ đùi là giỏi, và tôi ước gì gã chết vì ung thư ruột ở xó xỉnh nào đấy trên thế giới, nơi người ta chưa phát hiện ra morphine. “Đồng nghiệp à, nghe cưng nhỉ? Đồng nghiệp ư? Mày làm quái gì...”
“Mày ngậm bô lại cho tao,” Hadley gầm lên, Mert tắt đài. Hadley quay sang nhìn Andy. “Ban nãy mày nói gì?”
“Tôi nói tôi chỉ yêu cầu mỗi bạn đồng nghiệp của tôi được ba chai bia, nếu được,” Andy nói. “Tôi nghĩ khi làm việc ngoài trời trong tiết xuân, một người đàn ông cảm thấy lòng mình được tưới mát nếu anh ta có thể nhâm nhi chút bia. Đó chỉ là ý kiến của tôi thôi. Được uống bia thì còn gì bằng, chưa kể họ sẽ biết ơn ông.
Tôi đã nói chuyện với một số thành viên lợp mái nhà hôm ấy – Rennie Martin, Logan St. Pierre cùng Paul Bonsaint là ba người trong số đó – và chúng tôi đều thấy chung một điều... cảm thấy chung một điều. Chợt Andy là người chiếm thế thượng phong. Dù Hadley mới là kẻ giắt súng ở hông, cầm dùi cui trong tay, có cả gã đồng đảng Greg Stammas đứng đằng sau, hệ thống quản lý cả nhà tù đằng sau Stammas, toàn bộ quyền lực của nhà nước đằng sau đó, nhưng bỗng chốc, dưới ánh nắng vàng ươm như rót mật, điều đó chẳng còn quan trọng. Tôi cảm thấy tim mình bừng lên trong lồng ngực, cảm giác tôi chưa lần nào nếm trải kể từ khi chiếc xe tải chở tôi cùng bốn người nữa tiến qua cánh cổng oan nghiệt năm 1938 và tôi bước vào sân tập thể dục.
Andy vẫn nhìn Hadley với đôi mắt sắc lạnh, dứt khoát, tĩnh lặng, tất cả chúng tôi đều đồng ý nó không dừng lại ở số tiền ba mươi lăm nghìn đô la nữa rồi. Tôi đã trở đi trở lại cảnh tượng ấy trong đầu vô vàn lần, và tôi biết điều đó. Rằng đây là cuộc đối đầu giữa người với người, đơn giản là Andy đã ép buộc hắn, cái cách kẻ mạnh có thể vật cổ tay kẻ yếu xuống bàn trong trận đấu. Bạn thấy đấy, vào thời điểm đó, Hadley vẫn có thể vừa gật đầu ra hiệu cho Mert hất Andy cắm đầu xuống đất, vừa làm theo lời khuyên của Andy.
Hắn dư sức làm chuyện đó. Nhưng hắn không làm vậy .
“Nếu tao muốn, tao có thể lấy vài chai bia cho đám chúng mày uống,” Hadley mở lời. “Lao động mà có hớp bia vào thì mát cả họng” Thứ tiểu nhân có hạng còn ra vẻ tốt đời đẹp đạo kia đấy.
“Tôi xin đưa ra một lời khuyên mà sở thuế vụ sẽ không căn dặn,” Andy nói. Đôi mắt anh ta chĩa thẳng vào Hadley, không chớp. “Hãy tặng món quà này cho vợ nếu ông chắc chắn . Nếu ông có chút hồ nghi bà ấy có thể phản bội hoặc đâm ông sau lưng, chúng ta có thể tìm cách khác...”
“Phản bội tao ư?” Hadley gay gắt hỏi. “Phản bội tao ư? Thưa quý ông nhà băng lõi đời, kể cả khi mụ ta hốc hết cả hộp Ex-Lax [4E] , chừng nào tao chưa đồng ý, mụ ta còn chưa dám đánh rắm ấy chứ.”
Mert, Youngblood và những tay lính khác xun xoe cười bợ đỡ. Andy thậm chí chẳng nhếch mép.
“Tôi sẽ viết các loại giấy tờ mà ông cần,” anh nói. “Ông có thể lấy chúng ở bưu điện, tôi sẽ điền cho ông ký.”
Nghe mới oai phong làm sao, chẳng trách ngực của Hadley phập phồng đắc ý. Đoạn hắn lừ mắt nhìn đám chúng tôi và gầm lên, “Đám thối tha chúng mày nhìn cái gì? Nhấc mông làm việc đi, mẹ kiếp!” Hắn quay sang Andy. “Mày đi với tao, thằng lõi. Và liệu hồn nghe cho thủng đây: nếu mày chơi tao, đầu mày sẽ lìa khỏi cổ trong buồng tắm khu C trước cuối tuần này đấy.”
“Vâng, tôi Andy khẽ nói.
Và anh ta hiểu thật. Hóa ra, anh ta hiểu hơn tôi rất nhiều – hay chính xác là hơn bất cứ ai trong chúng tôi.
Đó là ngọn ngành sự việc từ ngày thứ hai đến ngày cuối cùng thi công, toán tù nhân trát hắc ín trên mái nhà máy làm biển số xe vào năm 1950 được ngồi thành hàng vào lúc 10 giờ sáng giữa tiết trời xuân, uống bia Black Label cấp bởi tay quản ngục khắc nghiệt nhất từng tuần tra Nhà tù Bang Shawshank. Bia chẳng còn mát lạnh, nhưng đó vẫn là chai bia ngon nhất đời tôi. Chúng tôi ngồi đấy, nhâm nhi bia, cảm nhận nắng xuân mơn man trên vai, thậm chí cả nét mặt nửa hứng thú nửa khinh miệt trên mặt của Hadley – như thể hắn đang nhìn một lũ khỉ uống bia chứ chẳng phải người – cũng không thể phá đi niềm vui ấy. Chúng tôi nghỉ giải lao uống bia trong hai mươi phút, và trong khoảng thời gian hai mươi phút ấy, chúng tôi cảm thấy mình như được tự do. Tưởng chừng chúng tôi đang uống bia và tô trát hắc ín lên mái nhà chính mình.
Chỉ có Andy là không uống. Tôi đã kể với bạn về thói quen uống rượu bia của anh ta rồi đấy. Anh ta ngồi xổm dưới bóng râm, hai tay buông thõng giữa hai đầu gối, nhìn chúng tôi và khẽ mỉm cười. Thật kỳ diệu làm sao khi rất nhiều người ghi nhớ Andy theo cách ấy, và kỳ diệu làm sao khi rất nhiều người tuyên bố mình tham gia vào toán lao động khi Andy Dufresne đối đầu với Byron Hadley. Tôi cứ đinh ninh chỉ có chín, mười người chúng tôi, nhưng đến năm 1955, con số lên đến hai trăm người, có khi còn hơn... nếu bạn tin những gì bạn nghe thấy.
Nên phải rồi — nếu bạn yêu cầu tôi trả lời cho câu hỏi liệu có phải tôi đang kể với bạn chuyện về một người hay về một huyền thoại xoay quanh người đó, tựa ngọc trai bọc quanh hạt sạn – tôi xin đáp câu trả lời nằm đâu đó ở giữa. Tôi chỉ chắc chắn một điều, rằng Andy Dufresne không giống tôi hay bất cứ người nào tôi từng biết kể từ khi vào trong này. Anh ta thủ theo năm trăm đô la nhét sâu trong lỗ hậu, nhưng bằng cách nào đó, tên khốn ấy còn mang vào đây một thứ khác. Có lẽ đó là cảm thức về giá trị bản thân, hoặc cảm giác rằng sau rốt anh ta mới là kẻ chiến thắng... hoặc có lẽ đó là cảm giác tự do, dù bị bao bọc bởi bốn bức tường xám xịt chết toi này. Ở anh luôn tỏa ra một thứ ánh sáng nội tại. Tôi chỉ biết duy nhất một lần anh ta mất đi thứ ánh sáng ấy, và đó cũng là một phần câu chuyện.
Vào khoảng thời gian tổ chức chung kết giải vô địch bóng chày Mỹ năm 1950 – chắc bạn còn nhớ, năm đó, đội Philadelphia Whiz Kids thua liên tiếp bốn trận – Andy không gặp vấn đề gì với hội tỷ muội nữa. Stammas và Hadley đã có lời dặn dò. Nếu Andy Dufresne đến gặp hai tên này hoặc bất cứ lính gác nào kéo bè cánh với phe của chúng, và chảy dù chỉ một giọt máu ra quần lót, toàn bộ đám tỷ muội trong Shawshank tối hôm ấy sẽ đi ngủ với cái đầu nhức nhối. Chúng không phản kháng gì. Như tôi đã chỉ ra, luôn có tên thanh niên choai choai mười tám tuổi trộm xe, một kẻ phóng hỏa hoặc một kẻ hào hứng khi giở trò với trẻ nhỏ. Sau cái ngày trên mái nhà máy làm biển số xe, Andy và bè lũ hội tỷ muội đường ai nấy đi.
Lúc ấy, anh ta đã chuyển sang làm ở thư viện, dưới trướng một tù nhân già khó tính mang tên Brooks Hatlen. Hatlen đảm nhiệm công việc này từ cuối thập niên hai mươi vì ông ta học lên đại học. Mà bằng của ông ta là mảng chăn nuôi, thế đấy, nhưng tấm bằng đại học trong những nơi dân trí còn thấp như nhà tù Shank thì tìm đỏ mắt không thấy, nên đây là trường hợp ăn mày thì không đòi xôi gấc.
Vào năm 1952, Brooksie, một phạm nhân từng giết vợ cùng con gái do thua bài liểng xiểng được ân xá khi Coolidge lên làm tổng thống. Như thường lệ, chính phủ vô lượng minh triết thả ông ta ra sau khi cơ hội ông ta trở thành thành phần có ích cho xã hội đã mất sạch sành sanh. Ông ta đã 68 tuổi, bị viêm khớp khi cà nhắc bước ra khỏi cổng chính trong bộ vest Ba Lan và đôi giày Pháp, một tay cầm giấy tờ ân xá, tay còn lại cầm tấm vé xe buýt của hãng Greyhound. Lúc được thả, ông ta giàn giụa nước mắt. Shawshank là thế giới của ông ta. Với Brooks, thứ nằm bên kia bức tường đáng sợ như Biển Tây trong mắt những thủy thủ mê tín dị đoan thế kỷ 15. Lúc còn trong tù, Brooksie là người có chỗ đứng nhất định. Ông ta là thủ thư, là một người có học. Nếu ông ta đến thư viện Kittery xin việc, thậm chí người ta còn chẳng cho ông ta thẻ thư viện ấy chứ. Tôi nghe bảo ông qua đời trong viện dưỡng lão cho người già bần cùng ở Freeport vào năm 1953, tính đến lúc ấy, ông ta trụ lâu hơn sáu tháng so với tôi nghĩ. Phải, tôi đoán nhà nước chơi Brooksie một cú rất chua. Họ huấn luyện cho ông ta thích cuộc sống trong chốn ngục tù này, sau đấy đá ông ta ra ngoài.
Andy tiếp quản công việc của Brooksie và làm thủ thư suốt 23 năm. Anh ta gây áp lực như cái cách anh dồn ép Byron Hadley để đạt những điều mình muốn cho thư viện, và tôi được chứng kiến anh dần biến căn phòng chật chội (vẫn ám mùi dầu thông vì nó được dùng làm kho đựng sơn cho đến năm 1922, lại không được trang bị thông khí đàng hoàng) xếp Tuyển tập Sách Cô đọng cho Độc giả và Tạp chí Hội Địa lý Quốc gia thành thư viện nhà tù tuyệt nhất New England.
Anh ta tiến dần từng bước một. Anh dựng một hộp đề xuất ở cửa, kiên nhẫn lọc bỏ những yêu cầu đùa giỡn như Có thim xách khiu dâm đi hoặc 10 bài học chỉ cách vựt ngục dễ dàng [5E] . Anh ta nắm bắt những điều tù nhân nghiêm túc quan tâm. Anh ta biên thư cho các câu lạc bộ sách lớn ở New York và được hai nơi, Công hội Văn học và Câu lạc bộ Tâm điểm Sách Tháng, gửi cho các ấn phẩm trong tất cả danh sách tuyển chọn chủ chốt của họ ở mức giá đặc biệt ưu đãi. Anh ta phát hiện tù nhân khao khát có thêm thông tin về những thú tiêu khiển như khắc xà phòng, làm mộc, thủ thuật và chơi bài solitaire. Anh ta cố hết sức kiếm mọi đầu sách về những chủ đề trên. Ngoài ra phải kể đến sách của hai tác giả chính yếu trong tù, Erie Stanley Gardner và Louis L'Amour. Xem ra các tù nhân không bao giờ biết chán phòng xử án hay lang bạt kỳ hồ. [6E] Và phải, anh ta có một thùng đựng sách bìa mềm nội dung mặn mòi dưới quầy, cẩn thận cho bạn tù mượn và đảm bảo họ trả lại cho bằng được. Dẫu vậy, mỗi lần có đợt sách mới về là y như rằng chúng sẽ được đọc ngấu nghiến đến nát bươm.
Vào tháng Tám năm 1954, anh ta bắt đầu viết cho Thượng viện Hoa Kỳ. Lúc đó, Stammas đang là quản ngục, hắn ta làm ra vẻ Andy chỉ là linh vật. Hắn lúc nào cũng mò vào thư viện, tán phét tầm phào với Andy, thỉnh thoảng còn khoác vai Andy ra vẻ thân thuộc lắm hoặc đùa giỡn với anh ta. Song hắn ta lừa được ai kia chứ. Đừng hòng có chuyện Andy Dufresne là linh vật cho kẻ khác giật dây.
Hắn ta bảo với Andy có thể ngoài kia, anh ta là một nhân viên ngân hàng, nhưng cái phần ấy của cuộc đời anh ta đã lui vào dĩ vãng, tốt nhất anh ta nên học cách làm quen với sự thật về cuộc sống trong tù đi. Xét đến nhà tù, đối với đám Cộng hòa ăn trốc ngồi trên ở Augusta kia, tiền dân đóng thuế chỉ dành cho ba loại chi phí. Thứ nhất, xây thêm tường, thứ hai, lắp thêm song sắt và thứ ba là tăng lính gác. Theo như Stammas giải thích, đối với nhà nước, những kẻ bóc lịch tại Thomaston, Shawshank, Pittsfield và Nam Portland là thể loại cặn bã của xã hội. Họ vào đây để chịu khổ, nên lạy Chúa lòng lành, đã chịu khổ thì phải chịu cho tới. Và nếu trong bánh mì có vài con mọt thì có gì tệ hại đâu kia chứ?
Andy khẽ nở nụ cười điềm tĩnh quen thuộc và hỏi Stammas điều gì sẽ xảy ra với khối bê tông nếu một giọt nước rơi lên nó một năm một lần trong suốt một triệu năm. Stammas phá lên cười rồi vỗ lưng Andy. “Anh chẳng sống đến triệu năm đâu, bằng hữu, nhưng nếu anh có sống chăng nữa, tôi dám chắc anh vẫn giữ nguyên điệu cười ấy trên mặt. Anh cứ việc biên thư đi. Thậm chí tôi sẽ đi gửi cho anh nếu anh trả tiền tem.”
Andy đã làm thế. Và rốt cuộc có công mài sắt, có ngày nên kim, dù Stammas và Hadley không còn có mặt để chứng kiến. Yêu cầu gây quỹ thư viện của Andy liên tục bị từ chối cho đến năm 1960, rồi lúc ấy anh ta nhận được tấm séc hai trăm đô la – có lẽ thượng viện trích ra khoản tiền này với hy vọng anh ta sẽ im miệng và thôi quấy phá. Nhưng họ đã lầm. Andy cảm thấy sau bao công sức, anh ta đã lèn được một chân vào cửa, thế nên anh ta tiếp tục cố gắng gấp đôi; một tuần anh ta soạn hai bức thư, thay vì một bức. Vào năm 1962, anh ta nhận được bốn trăm đô la, và suốt thập niên ấy, năm nào thư viện cũng nhận được bảy trăm đô la đều như vắt chanh. Sang năm 1971, số tiền tăng lên một nghìn đô la. Tôi đoán con số này chẳng nhiều nhặn gì so với số tiền một thư viện của thị trấn nhỏ nhận được, nhưng một nghìn đô có thể mua được rất nhiều tiểu thuyết về Perry Mason và truyện miền viễn Tây của Jake Logan. Đến lúc Andy ra đi, bạn có thể vào thư viện (cơi nới từ kho chứa sơn ban đầu thành ba căn phòng) và có thể tìm thấy gần như bất cứ thứ gì bạn muốn. Trong trường hợp không tìm ra, khả năng cao là Andy sẽ lo liệu kiếm nó cho bạn.
Nghe đến đây, chắc bạn đang tự hỏi tất cả điều này xảy ra chỉ vì Andy hiến kế cho Byron Hadley tránh đóng thuế trên khoản tiền thừa kế bất ngờ kia sao. Câu trả lời là đúng... và sai. Có lẽ bạn đã đoán được phần nào chuyện xảy ra rồi.
Người ta truyền tai nhau Shawshank thủ cho mình một phù thủy tài chính tài ba. Cuối mùa xuân và vào mùa hạ năm 1950, Andy lập hai quỹ tín thác cho các lính gác muốn đảm bảo tài chính cho con cái mình học lên đại học, anh ta cố vấn cho một số người muốn đánh liều tham gia mua cổ phiếu thường (và kết quả là họ thu được khoản lợi nhuận kha khá; thậm chí một người trong số họ gom góp nhiều đến độ hai năm sau, anh ta đã đủ của ăn của để mà nghỉ hưu sớm), tôi cá anh ta đã cố vấn cho tay quản ngục kia, George Dunahy Nhìn Đời Chua Chát, cách thức thiết lập thủ thuật lách thuế. Đó là trước khi Dunahy bị hất cẳng, và tôi dám chắc hắn ta đã mơ về số tiền hàng triệu đô la mà cuốn sách của hắn sẽ mang về. Đến tháng Tư năm 1951, Andy chuẩn bị tờ khai thuế cho nửa số lính gác ở Shawshank, đến năm 1952, anh hỗ trợ cho hầu hết tất cả bọn họ. Anh được trả bằng đồng tiền có thể xem là giá trị nhất trong nhà tù: tấm lòng chân thành.
Một thời gian sau, Greg Stammas tiếp quản văn phòng của quản ngục, Andy trở nên quan trọng hơn bao giờ hết – nhưng dẫu tôi cố gắng kể với bạn chi tiết sự tình thì những lời ấy cũng chỉ là võ đoán của tôi mà thôi. Có những điều tôi biết, có những điều tôi chỉ đoán mò. Tôi biết có một số người tù nhận được đủ loại ưu đãi đặc biệt – buồng giam trang bị đài phát thanh, quyền lợi thăm viếng ngoại lệ, vân vân – và bên ngoài có những người chi tiền tù nhân được hưởng những đặc quyền ấy. Những người này được cánh tù nhân gọi với cái tên “thiên sứ”. Bỗng nhiên một tù nhân được miễn làm việc trong nhà máy đóng biển số xe vào các chiều thứ Bảy, ta biết anh này có thiên sứ ngoài kia đã nôn ra cả đống tiền nhằm thực hiện điều đó. Thông thường, thiên sứ ấy sẽ đút lót cho lính gác cấp trung, tay lính này sẽ về chia phần tiền bôi trơn cả trên lẫn dưới thang quản lý.
Rồi phải kể đến dịch vụ sửa chữa xe ô tô giá rẻ khiến cai ngục Dunahy thất thế. Sau khi lắng xuống được một thời gian, nó lại trỗi dậy, thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả cuối thập niên năm mươi. Một vài nhà thầu làm việc tại nhà tù thỉnh thoảng sẽ trả tiền lại quả cho các tay công chức hành chính chóp bu, và tôi dám chắc tình hình cũng như thế với các công ty bản thiết bị lắp trong khu giặt, nhà máy đóng biển số xe và máy nghiền xây dựng năm 1963.
Cuối thập niên sáu mươi, kinh doanh thuốc trở thành ngành hốt bạc, và cũng cái đám hành chính ấy tranh thủ làm tiền. Số lợi nhuận thu về lại chảy vào con sông thu nhập trái phép vốn đã vừa rộng vừa dài. Tuy không bằng đống tiền ngầm lưu thông trong nhà tù quy mô rất lớn như Attica hay San Quentin, nó cũng không phải dăm ba xu lẻ. Và sau một hồi thì bản thân tiền không phải vấn đề nữa. Bạn không thể cứ thế nhét tiền vào túi rồi lôi ra một đống những tờ 20 đô la nhàu nhĩ, 10 đô la quăn góc khi muốn xây một hồ bơi đằng sau sân nhà hoặc xây thêm gian nhà mới. Một khi vượt qua ngưỡng nhất định, bạn sẽ phải giải thích nguồn tiền sinh ra từ đâu... và nếu lời giải thích không đủ sức thuyết phục, bạn có nguy cơ phải vào tù bóc lịch như chơi.
Thế là càng nhiều người có nhu cầu sử dụng dịch vụ của Andy. Họ đưa anh ta ra khỏi khu giặt rồi giao cho anh ta công việc ở thư viện, nhưng nếu thay đổi góc nhìn, ta sẽ thấy thật ra họ chẳng đưa anh ta rời khỏi khu giặt chút nào. Họ chỉ sắp xếp cho anh ta công việc rửa những đồng tiền dơ bẩn thay vì giặt ga trải giường bẩn. Anh ta phân bố tiền vào cổ phiếu, trái phiếu, trái phiếu đô thị miễn thuế cùng đủ loại trên đời.
Lần nọ, chừng mười năm sau cái ngày trên nóc nhà máy làm biển số xe, anh ta nói với tôi rằng cảm xúc của anh về những điều mình làm rất rõ ràng, và rằng lương tâm của anh gần như chẳng cắn rứt. Dù có anh hay không, những màn đổi trắng thay đen ấy vẫn sẽ diễn ra. Bản thân anh không xin để được gửi đến Shawshank; anh ta là một kẻ vô tội bị vận hạn đen đủi vùi dập chứ chẳng phải nhà truyền giáo hay kẻ sống tốt đời đẹp đạo gì cho cam.
“Hơn nữa, Red ạ,” anh ta nói với nụ cười nửa miệng quen thuộc, “những gì tôi làm trong đây không khác là bao so với những gì tôi làm trước kia. Tôi sẽ cho anh một tiền đề khá cay đắng: mức độ hỗ trợ tài chính chuyên môn mà một cá nhân hay công ty cần tỷ lệ thuận với số người mà cá nhân hay công ty này đang hại.
“Những kẻ vận hành nơi này nhìn chung là đám quái vật ngu độn, độc ác. Những kẻ vận hành thế giới ngoài kia cũng tàn độc và ghê gớm, nhưng bọn chúng không ngu xuẩn đến vậy, vì chuẩn mực năng lực ở thế giới bên ngoài cao hơn một chút. Không nhiều, chỉ một chút thôi.”
“Song đống thuốc này,” tôi nói. “Tôi không muốn múa rìu qua mắt thợ, nhưng đống thuốc này khiến tôi lo quá. Thuốc quỷ đỏ, thuốc kích thích, thuốc ức chế, Nembutal – giờ còn có loại thuốc mang tên Giai đoạn Bốn. Tôi sẽ không đời nào đụng những thứ như thế. Trước giờ đều vậy.”
“Không” Andy đáp. “Tôi cũng không thích những loại thuốc ấy. Chưa từng thích. Mà thật ra tôi cũng chẳng phải tuýp rượu bia, thuốc lá nhiều. Nhưng tôi không thúc đẩy loại thuốc ấy. Tôi không mang chúng vào, và khi chúng thâm nhập rồi, tôi cũng không bán. Phần lớn lính gác mới là người bán.”
“Nhưng…”
“Vâng, tôi biết. Nó chỉ cách nhau một sợi chỉ. Anh biết không, suy cho cùng, một số người không bao giờ để tay mình nhúng chàm. Họ là thánh nhân, để rồi bồ câu tíu tít đậu lên vai họ, thả vài bãi mìn trên áo. Đối chọi với cực này là ngụp lặn trong ô uế và bất chấp thủ đoạn, miễn là kiếm ra tiền – dù đó là súng, dao bấm, heroin hay vô vàn thứ hàng độc. Anh từng có tù nhân nào đến chỗ mình, đề nghị ký hợp đồng không?”
Tôi gật đầu. Chuyện này đã xảy ra rất nhiều lần trong nhiều năm. Suy cho cùng, người ta cần gì, tôi cung nấy. Và người ta suy luận nếu anh có thể kiếm cho họ pin thay cho đài bán dẫn xách tay hoặc vài thùng thuốc lá Lucky, anh có thể giới thiệu cho họ một kẻ sử dụng dao.
“Tôi dám chắc là có,” Andy gật gù. “Nhưng anh không làm điều đó. Vì những kẻ như chúng ta, Red ạ, chúng ta biết có lựa chọn thứ ba. Một lựa chọn khác với viễn cảnh trong sạch như thần phật hoặc ngụp lặn trong nhơ bẩn và nhớp nhúa. Đó là lối lựa chọn thay thế mà người trưởng thành trên khắp thế giới đã chọn. Ta tìm sự cân bằng khi đi qua bùn nhơ bằng những lợi ích mà nó mang lại. Ta chọn cách dĩ hòa vi quý, cố gắng giữ những tâm niệm tốt đẹp trước mắt mình. Và tôi đoán ta đánh giá mình làm tốt đến mức nào bằng việc mỗi tối ta ngủ ngon đến đâu... và trong mơ ta thấy gì.”
“Tâm niệm tốt à,” tôi nói rồi cười. “Tôi còn lạ gì điều đó hả Andy? Nhưng khi đi trên con đường ấy, con người có thể loạng choạng lao thẳng xuống địa ngục đấy.”
“Anh đừng tin vào điều đó, anh đáp với vẻ ưu tư. “Nơi này chính là địa ngục rồi. Ngay đây, ngay nhà tù Shank này. Họ bán thuốc, còn tôi chỉ họ cách xử lý đống tiền. Nhưng tôi cũng có thư viện, và tôi biết gần ba chục người đã dùng những cuốn sách ở đó để vượt qua bài kiểm tra học vấn tương đương mức trung học. Có thể khi rời khỏi đây, họ sẽ có thể bò khỏi đống phân này. Năm 1957, khi chúng ta cần mở rộng sang căn phòng thứ hai, tôi đã được như ý. Vì họ muốn giữ cho tôi vui lòng. Tôi làm việc với cái giá rẻ mạt. Đó là đổi chác.”
“Chưa kể, anh còn có buồng giam riêng”
“Đúng rồi. Do tôi thích thế.”
Số tù nhân tăng lên từ từ suốt thập niên năm mươi rồi suýt chút nữa thì bùng nổ vào thập niên sáu mươi, khi gần như mọi cô cậu sinh viên ở Mỹ đều tập tành chơi thuốc trong khi chỉ cần sử dụng một chút cần sa là đã phải chịu hình phạt nặng đến nực cười. Tuy nhiên, cả quãng thời gian ấy, Andy không bao giờ có bạn chung buồng, trừ một anh chàng người Anh-điêng to lớn, trầm tính mang tên Normaden (giống tất cả những người da đỏ ở nhà tù Shank, anh ta được gọi là Tù Trưởng), song Normaden cũng chỉ ở một thời gian. Lắm tù nhân lâu năm nghĩ Andy bị điên, nhưng anh ta chỉ mỉm cười. Anh ta sống một thân một mình và anh thích điều đó... như anh ta nói, họ muốn giữ cho anh ta vui lòng vì anh ta làm việc với cái giá rẻ mạt.
Thời gian trong tù tựa sên bò, nhiều lúc bạn dám thề thời gian đã ngừng chảy, nhưng thật ra nó vẫn trôi. Trôi không nghỉ. George Dunahy hạ màn trong mở tít báo phanh phui đủ loại xì căng đan và vơ vét làm tiền. Stammas kế nghiệp hắn ta, và trong sáu năm kế đến, Shawshank chẳng khác nào địa ngục trần gian. Suốt quá trình Greg Stammas nắm quyền, giường bệnh xá và các buồng Khu Biệt giam lúc nào cũng kín chỗ.
Một ngày nọ vào năm 1958, tôi nhìn bóng mình phản chiếu trong tấm gương cạo râu nhỏ trong buồng giam và trông thấy người đàn ông ở tuổi tứ tuần đang nhìn lại. Năm 1938, bước vào đây khi còn là một thằng oắt với mớ tóc đỏ cà rốt, gần như phát rồ vì lương tâm cắn rứt, chực chờ suy nghĩ tự sát. Thằng oắt ấy nay đã không còn. Mái tóc đỏ đã chuyển bạc và thưa dần. Đuôi mắt đã hằn vết chân chim. Ngày hôm ấy, tôi trông thấy một ông già bên trong, mòn mỏi chờ đến lúc được thoát ra. Tôi khiếp sợ. Chẳng ai muốn già đi trong tù.
Stammas rời cuộc chơi đầu năm 1959. Trước đó, nhiều tay phóng viên điều tra đã đánh hơi xung quanh, một tay trong số này còn chấp nhận nằm vùng bốn tháng bằng tên giả, phạm một cái tội dàn dựng từ đầu chí cuối. Họ đang thu thập manh mối hòng vạch trần những vụ bê bối và ăn chặn làm tiền, nhưng trước khi họ kịp lôi hắn ta ra chỉ trích, Stammas bỏ của chạy lấy người. Tôi có thể hiểu điều đó; trời ạ, quá hiển nhiên ấy chứ. Nếu hắn ta bị đem ra xét xử và kết án, khả năng cao hắn sẽ bóc lịch trong này. Nếu thế, có khi hắn chỉ trụ được năm tiếng đồng hồ là hết cỡ. Byron Hadley đã rút lui hai năm trước đó. Tên khốn ấy bị nhồi máu cơ tim nên nghỉ hưu sớm.
Andy không bị ai sờ gáy trong sự vụ Stammas. Đến đầu năm 1959, người ta bổ nhiệm quản ngục mới, trợ lý quản ngục mới, trưởng đội lính gác mới. Trong tám tháng tiếp theo, Andy trở thành một tù nhân như bao tù nhân khác. Đó là khoảng thời gian mà Normaden, người tù mang dòng máu lai người da đỏ Passamaquoddy to lớn ở chung buồng giam với Andy. Rồi mọi sự lại tái diễn. Normaden được chuyển ra ngoài, và Andy trở về sống trong cái huy hoàng một mình một cõi như xưa. Những cái tên chóp bu thay đổi, nhưng cái gốc nhiễu nhương ngàn năm vẫn thế.
Có lần, tôi từng trò chuyện với Normaden về Andy. “Tay đấy tốt,” Normaden nhận xét. Căng tai ra mới nghe thủng được lời anh ta này nói, vì anh ta bị sứt môi và hở vòm miệng; từ nào thốt ra cũng líu nhíu lại với nhau. “Tôi thích ở đấy. Anh ta không chế nhạo. Nhưng không ưa tôi ở đấy. Tôi cảm nhận vậy.” Thân người đồ sộ nhún vai. “Được đi kể cũng mừng. Buồng ấy thông thống gió. Lúc nào cũng buốt. Anh ta không cho ai đụng đồ mình. Cũng được thôi. Tay đấy tốt, không chế nhạo. Nhưng gió buốt quá.”
Nếu tôi nhớ không lầm, áp phích Rita Hayworth treo trong buồng giam của Andy đến năm 1955. Sau đó là áp phích Marilyn Monroe, bức ảnh kinh điển từ bộ phim Chán cơm thèm phở trong đó nàng ta đứng ngay trên lưới thông gió của một tàu điện ngầm và làn hơi nóng đang tốc váy nàng lên. Bức hình Marilyn được trưng đến năm 1960, đến lúc đó, rìa áp phích rách nát quá nên Andy thay bằng hình Jayne Mansfield. Tôi xin lỗi nói năng khiếm nhã, nhưng nàng Jayne đúng là rởm đời. Vỏn vẹn mỗi một năm, nàng đã bị thay thế bởi một diễn viên người Anh – hình như là Hazel Court thì phải, tôi không dám chắc. Vào năm 1966, tấm áp phích ấy bị gỡ xuống, Raquel Welch đăng đàn, phá kỷ lục quãng thời gian gắn bó với buồng giam của Andy là sáu năm. Tấm áp phích cuối cùng treo ở đó là nàng ca sĩ nhạc rock đồng quê xinh đẹp Linda Ronstadt.
Tôi đã từng hỏi những tấm áp phích ấy có ý nghĩa gì với anh ta, thì anh ta nhìn tôi với vẻ mặt ngạc nhiên, kỳ khôi. “Sao thế, với tôi, chúng mang ý nghĩa giống với các tù nhân khác thôi, có gì đâu,” anh ta nói. “Tự do. Anh ngắm những mỹ nhân ấy, anh cảm thấy tựa hồ anh có thể gần như... hơi hão huyền, nhưng gần như... bước vào đó và đứng cạnh họ. Được tự do. Tôi đoán đó là lý do tôi luôn thích Raquel Welch nhất. Không chỉ là bản thân cô ấy; mà là bãi biển cô ấy đang đứng. Trông như cô nàng đang ở Mexico. Một nơi yên tĩnh, nơi người ta có thể lắng nghe tiếng lòng mình. Anh chưa bao giờ cảm thấy như vậy trước một tấm áp phích sao, Red? Rằng anh có thể gần như bước xuyên qua nó?”
Tôi đáp tôi chưa bao giờ suy nghĩ về áp phích theo cách này.
“Có lẽ một ngày nào đó, anh sẽ hiểu ý tôi muốn nói,” anh ta ôn tồn, và anh ta nói đúng. Nhiều năm sau đó, tôi hiểu chính xác ý anh ta là gì... và khi ngộ ra, điều đầu tiên tôi nghĩ tới là Normaden, và về việc tay này bảo buồng giam của Andy lúc nào cũng rét buốt.
Cuối tháng Ba, đầu tháng Tư năm 1963, biến cố ập xuống đầu Andy. Như tôi đã kể, anh ta có thứ phẩm chất mà hầu hết những người tù khác, kể cả bản thân tôi, đều không có. Có thể đó là tĩnh khí, hoặc là bình an nội tại, hay niềm tin bất diệt, không suy suyển rằng một ngày nào đó, cơn ác mộng đằng đẵng này sẽ kết thúc. Mà bất kể ta gọi với cái tên gì đi nữa, nhìn chung, có cảm tưởng Andy Dufresne lúc nào cũng giữ vẻ bình thản. Ở anh ta không mảy may vương chút quẫn bách âu sầu mà những kẻ ở tù chung thân chẳng sớm thì muộn cũng bị uế tạp; ta chẳng bao giờ đánh hơi được mùi tuyệt vọng nơi anh. Cho đến cuối mùa đông năm năm ‘63.
Lúc đó, chúng tôi đã có quản ngục mới mang tên Samuel Norton. Cotton Mather và Increase Mather hẳn sẽ mừng như bắt được vàng nếu gặp Sam Norton. Theo như tôi biết, chưa ai từng thấy hắn nở nụ cười. Hắn nhận một huy hiệu vì 30 năm phụng sự tại nhà thờ Baptist Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Eliot. Nước cờ đổi mới chủ chốt của hắn dưới tư cách kẻ đứng đầu gia đình hạnh phúc của chúng tôi là trao cho mỗi tù nhân mới một cuốn Kinh Tân ước. Hắn ta có một tấm bảng nhỏ bằng gỗ tếch trên bàn làm việc khảm dòng chữ bằng vàng CHÚA GIÊ-SU LÀ ĐẤNG CỨU RỖI. Trên tường treo bức vải do vợ hắn thêu, để dòng chữ: PHÁN XÉT CỦA NGƯỜI ĐƯƠNG ĐẾN VÀ ĐẾN THẬT GẦN. Quan điểm thứ hai chẳng là gì với hầu hết đám chúng tôi, bởi chúng tôi cảm thấy sự phán xét đã xảy ra rồi, và chúng tôi sẵn sàng đứng ra làm chứng rằng hòn đá sẽ không che giấu cho chúng tôi, cây chết sẽ chẳng buông cho chúng tôi chỗ ẩn nấp. Hắn ta có thể trích dẫn một câu Kinh Thánh cho mọi trường hợp, Quý ông Sam Norton ấy, và bất cứ khi nào gặp kẻ như vậy, tôi thành thật khuyên bạn nên nở nụ cười rạng ngời nhất có thể và khúm núm chắp hai tay che hai hòn của mình lại.
Có ít ca nằm bệnh xá hơn so với thời của Greg Stammas, và theo như những gì tôi biết, không còn tình trạng chôn xác dưới trăng nữa, nhưng điều này không có nghĩa Norton không có niềm tin thâm căn cố để vào trừng phạt, bởi phòng biệt giam lúc nào cũng đông nghìn nghịt. Tù nhân rụng răng không phải vì bị đánh đập mà vì chỉ gặm bánh mì và uống nước qua ngày. Chế độ ăn ấy bắt đầu được gọi với cái tên “ăn hạt chịu phạt”, tỉ dụ như “Tao đang đi chuyến tàu ăn hạt chịu phạt của Sam Norton chúng mày ạ.”
Hắn ta là kẻ đạo đức giả đáng ghê tởm nhất nắm vị trí cao mà tôi từng biết. Tình trạng nhiễu nhương mà tôi kể ban nãy tiếp tục nở rộ, nhưng Sam Norton thêm thắt một số biến tấu riêng. Andy biết tất, và vì thời điểm đó, chúng tôi đã là bạn bè tương đối thân thiết nên anh ta cũng tiết lộ cho tôi phần nào. Khi Andy kể về chúng, một nét biểu cảm vừa lấy làm kỳ khôi, vừa lộ rõ vẻ kinh tởm sẽ xuất hiện trên khuôn mặt anh ta, như thể anh ta đang kể với tôi về giống bọ xấu xí săn mồi, mà vì cái sự xấu man dại và tham lam của mình, nó buồn cười hơn là khủng khiếp.
Warden Norton chính là người khởi xướng chương trình “Trong Ra Ngoài,” chắc bạn cũng từng đọc về chương trình này khoảng 16, 17 năm trước; thậm chí nó còn được nhắc đến trên tờ Newsweek kìa. Trên báo, nó được ca tụng là bước đi vô cùng tân tiến trong trừng phạt và phục hồi nhân phẩm thực tế. Tù nhân được đưa ra ngoài xẻ gỗ tếch, sửa chữa cầu đường, xây dựng kho chứa khoai tây. Norton gọi chương trình này là “Trong Ra Ngoài” và được mời đi thuyết giảng về nó tại gần như mọi câu lạc bộ Rotary và Kiwanis ở New England, đặc biệt sau khi hình hắn ta chình ình trên mặt tờ Newsweek . Còn đám tù nhân gọi nó với cái tên “Cu Li Cày Đường”, nhưng theo tôi biết, chẳng có ai trong số họ được mời đến câu lạc bộ Kiwanis hay Trật Tự Trung Thành của Nai Sừng Tấm để bộc lộ quan điểm cả.
Norton có mặt trong mọi hoạt động, đường đường là kẻ có huy hiệu ba mươi năm ở nhà thờ kia mà; từ xẻ gỗ, đào cống xả lũ đến lắp đặt ống cống mới dưới đường cao tốc bang, Norton đều hớt phần ngọn. Có cả trăm cách để bớt xén, nào nhân công, vật liệu, vân vân. Song hắn ta còn có nguồn thu từ ngạch khác. Giới xây dựng khu vực phát khiếp cái chương trình “Trong Ra Ngoài” của Norton, vì lao động tù nhân có khác gì lao động nô lệ, còn khuya họ mới cạnh tranh nổi. Thế nên Sam Norton, con người một Kinh Thánh hai Kinh Thánh cùng huy hiệu ba mươi năm nhà thờ nhận hối lộ hàng đống phong bì dày cộm trong 16 năm làm quản đốc của Shawshank. Và tiền trao thì cháo múc, hắn ta sẽ bỏ thầu dự án quá cao, không tham gia đấu thầu hoặc tuyên bố các tù nhân tham gia chương trình “Trong Ra Ngoài” đang bận dự án khác. Tôi luôn lấy làm lạ khi Norton không rơi vào cảnh bị phát hiện trong cốp một chiếc Thunderbird đậu ngoài cao tốc dưới Massachusetts, hai tay trói sau lưng, đầu xơi năm, sáu viên kẹo đồng.
Nói tóm lại, như bài hát thời xưa ngân nga, Lạy Chúa, như thế tiền mới vào như nước. Hẳn là Norton tin theo tin niệm Thanh giáo rằng cách tốt nhất để biết ai được Chúa ban ân điển là kiểm tra tài khoản ngân hàng của anh ta.
Andy Dufresne là cánh tay phải, là đồng lõa kín tiếng của hắn trong mọi sự. Thư viện nhà tù là chốn cầm chân Andy. Norton biết điều đó và hắn lợi dụng triệt để. Andy kể với tôi một trong những cách ngôn ưa thích của Norton là Tay này gội rửa tay kia . Thế nên Andy đưa ra lời khuyên, gợi ý đề xuất hữu dụng. Tôi không thể khẳng định anh là người vạch ra đường đi nước bước cho kế hoạch Trong Ra Ngoài của Norton, nhưng tôi dám chắc anh đã xử lý tiền cho tên khốn kiếp suốt ngày rao giảng về Chúa Giê-su ấy. Anh ta cứ thế đưa ra lời khuyên, gợi ý đề xuất hữu dụng, tiền được chia đều, và... cái tên khốn này! Thư viện sẽ nhận được bộ sách hướng dẫn sửa chữa ô tô mới, bộ Bách khoa toàn thư Grolier mới, những đầu sách về phương thức chuẩn bị cho bài Kiểm tra Năng lực Học tập. Và tất nhiên, thêm sách của Erie Stanley Gardner và Louis L'Amour.
Không nghi ngờ gì nữa, được như thế là vì Norton không muốn mất đi cánh tay phải vô cùng đắc lực. Tôi xin nói cụ thể hơn: được như thế là vì hắn ta sợ vạn nhất tai vạ xảy ra – Andy có thể vạch trần hắn – nếu Andy có cơ hội bước ra khỏi Nhà tù Bang Shawshank.
Trong bảy năm ấy, tôi lượm lặt các câu chuyện mỗi chỗ một ít, một phần tôi nghe kể từ Andy – nhưng không phải toàn bộ. Anh ta chẳng bao giờ muốn nhắc lại giai đoạn này trong đời mình, và tôi không trách anh ta. Tôi nghe ngóng thông tin từ khoảng năm, sáu nguồn khác nhau. Tôi từng bảo rồi đấy, tù nhân chẳng khác gì nô lệ, và họ có cái thói quen của đám nô lệ: giữ vẻ mặt ngơ ngốc nhưng thực chất đang căng tai lên lắng nghe. Tôi nhặt nhạnh đoạn trước, đoạn sau, đoạn giữa, nhưng tôi sẽ kể đủ cho bạn nghe câu chuyện từ A đến Z, có thể bạn mới hiểu tại sao anh ta lại chơi vơi trong trạng thái trầm cảm, u sầu suốt mười tháng trời. Đấy, tôi nghĩ phải đến năm 1963, tức là 15 năm sau khi sa chân vào cái lỗ địa ngục này, anh ta mới ngộ ra sự thật. Cho đến khi gặp Tommy Williams, tôi đồ rằng anh ta chưa biết thế nào là họa vô đơn chí.
Tommy Williams bước vào đại gia đình hạnh phúc của chúng tôi tại Shawshank vào tháng Mười một năm 1962. Tommy nghĩ gốc gác mình là dân Massachusetts, nhưng cậu chẳng có gì đáng tự hào; hai mươi bảy năm cuộc đời, cậu ta đã vào tù ra khám ở khắp New England. Cậu ta là tay trộm chuyên nghiệp, và có lẽ bạn cũng đoán ra rồi đấy, cảm nhận riêng của tôi là lý ra cậu ta nên chọn công việc khác.
Cậu ta đã kết hôn, và tuần nào cũng như tuần nào, vợ cậu đều vào thăm. Cô ta một lòng tin tưởng rằng tình hình của Tommy sẽ cải thiện – theo đó, tình hình của đứa con trai ba tuổi và của cô ta cũng sẽ tốt lên – nếu cậu ta có bằng cấp ba. Cô vợ ngọt nhạt thuyết phục chồng, kết quả là Tommy Williams đến thư viện đều đặn hơn.
Với Andy, chuyện này chẳng có gì khó khăn. Anh sắp xếp cho Tommy tham gia các bài kiểm tra năng lực tương đương trung học. Tommy sẽ ôn những môn mình đậu thời trung học – chỉ có vài môn − rồi làm bài kiểm tra. Andy cũng chỉ dẫn cho cậu này ghi danh vào các khóa học từ xa dạy về những bộ môn thời cấp ba cậu ta thi trượt hoặc bỏ học.
Có thể cậu ta không phải học sinh sáng láng nhất mà Andy từng giúp vượt vũ môn, bản thân tôi cũng chẳng rõ cậu ta lấy được tấm bằng cấp ba chưa, nhưng đó không phải điểm chính yếu trong câu chuyện tôi muốn kể. Quan trọng nhất ở đây là dần dà, cậu ta rất quý Andy Dufresne, giống như đa phần mọi người.
Thỉnh thoảng, cậu ta lại hỏi Andy “người thông minh như anh đang làm gì trong tù thế này” – một câu hỏi tám lạng nửa cân với câu “Cô gái tốt như em làm gì trong chốn này thế kia?” Nhưng Andy chẳng bao giờ hé răng; anh chỉ mỉm cười hoặc chuyển sang chủ đề khác. Giống như bình thường, Tommy lân la hỏi kẻ khác, và cuối cùng, khi nắm bắt được toàn bộ câu chuyện, tôi đoán sét đã đánh ngang tai cậu trai trẻ chưa trải mùi đời ấy.
Người cậu hỏi là bạn làm chung trong phòng là hơi nước và gấp quần áo của khu giặt. Nhóm người tù gọi thiết bị này là máy cán, vì đó chính xác là điều bạn phải chịu nếu không tập trung và để cái thân còm của mình vướng vào máy. Bạn làm chung với cậu ta là Charlie Lathrop, bóc lịch mười hai năm nay vì tội giết người. Anh ta hơn cả sốt sắng kể lại chi tiết phiên tòa xét xử tội giết người của Dufresne cho Tommy nghe; nó phá vỡ nhịp điệu buồn tẻ của việc rút ga trải giường đã được ép phẳng ra khỏi máy và xếp chúng vào giỏ. Anh ta đang kể đến đoạn hội thẩm đoàn chờ đến sau bữa trưa để tuyên án Dufresne có tội khi còi báo động hụ lên và máy cán kèn kẹt dừng lại. Đầu bên kia của máy, người ta nhét ga trải giường mới giặt từ Viện Dưỡng lão Eliot; các tấm ga giường này được máy nhả ra khô ráo, ép phẳng ở đầu của Tommy và Charlie với tốc độ cứ năm giây một tấm. Nhiệm vụ của họ là chụp lấy ga giường, xếp gọn rồi tống vào đống giỏ đã lót sẵn giấy nâu sạch sẽ.
Nhưng Tommy Williams chỉ đứng như trời trồng, giương mắt trân trối nhìn Charlie Lathrop, miệng há hốc thiếu điều muốn rơi xuống ngực. Cậu ta đứng thất thần trong lúc ga tải giường ào ào tuôn ra, để chỉ trong chớp mắt, chúng thấm bùn ướt trên sàn nhà – khu giặt là ướt át này chẳng có gì ngoài bùn đất.
Homer Jessup, đốc công ngày hôm ấy, ba chân bốn cẳng chạy đến, vừa chạy vừa la hét ỏm tỏi, sấn sổ ăn tươi nuốt sống kẻ khác. Tommy chẳng hề để ý đến sự xuất hiện của tên này. Cậu ta hỏi chuyện Charlie như thể cái tay của Homer, vốn dĩ từng bửa đầu tù nhân nhiều không đếm xuể, chẳng có mặt tại đó.
“Anh nói tên của tay vận động viên golf ấy là gì kia?”
“Quentin,” Charlie đáp, bối rối xen lẫn bực mình. Về sau, gã này kể lại thằng lõi mặt cắt không còn giọt máu. “Tao nhớ là Glenn Quentin hay gì đó tương tự thì phải...”
“Này này” Homer Jessup gầm lên, cổ đỏ quạch như mào gà trống. “Bỏ ga giường vào nước lạnh! Mau lên! Mau lên, lạy Chúa, chúng mày...”
“Glenn Quentin, ôi Chúa ơi,” Tommy Williams bàng hoàng, và đó là tất cả những gì cậu ta kịp thốt lên, vì Homer Jessup, cái tên tính nóng như lửa, đã phang dùi cui vào ngay sau tai cậu. Tommy đập mặt xuống sàn mạnh đến độ gãy mất ba răng cửa. Lúc tỉnh dậy, cậu ta phát hiện mình đang ở trong phòng biệt giam, chịu trận trong đấy một tuần, lái một toa chở hàng trên con tàu trứ danh hạt và phạt của Sam Norton. Chưa kể thêm một vết đen trên phiếu giám sát của cậu.
Chuyện này xảy ra đầu tháng Hai năm 1963, và sau khi rời khỏi phòng biệt giam, Tommy Williams hỏi han thêm đâu đấy sáu, bảy tù nhân lâu năm, rốt cuộc thu được cùng một câu chuyện. Tôi biết vì tôi là một trong số đó mà. Nhưng khi tôi hỏi lý do cậu ta muốn biết chuyện thì cậu lại câm như hến.
Đoạn ngày nọ, cậu ta đến thư viện và xồng xộc xổ tất tần tật mọi thông tin cho Andy Dufresne. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, chí ít từ lần anh ta đến hỏi tôi về tấm áp phích Rita Hayworth với vẻ nhấp nhổm như đứa nhóc mua bọc bao cao su Trojan đầu tiên, Andy mất đi vẻ bình tĩnh... chỉ có điều, lần này, anh ta mất kiểm soát hoàn toàn.
Cuối ngày hôm ấy, tôi bắt gặp anh ta, trông anh ta như một gã vừa đạp phải cái cào và bị cán đập thẳng vào mặt, ngay giữa hai con mắt. Hai tay anh ta run bần bật, và khi tôi cất lời, anh chẳng đáp lại. Trước khi màn đêm ập xuống, anh đã nói chuyện với Billy Hanlon, đội trưởng đội lính gác, và sắp xếp một cuộc hẹn với Warden Norton ngay hôm sau. Về sau, anh ta kể với tôi suốt đêm ấy, anh ta không chợp mắt nổi; anh ta cứ thế thao thức lắng nghe gió đông gào rít ngoài kia, nhìn đèn pha rọi quanh khu nhà tù, quét thành những bóng đen dài, chuyển động trên tường xi măng của cái lồng anh gọi là nhà kể từ khi Harry Truman lên làm tổng thống, cố nghĩ cho thông suốt mọi sự. Anh ta nói tựa hồ Tommy đã tra chiếc chìa khóa vừa khít cái lồng ẩn đằng sau tâm trí anh ta, cái lồng giống buồng giam của anh ta. Chỉ có điều, thay vì giam người, cái lồng ấy giam một con hổ mang tên Hy Vọng. Williams đã tạo ra chiếc chìa khóa mở toang cửa lồng, để giờ đây mãnh hổ bất thần thoát ra, tung hoành khắp tâm trí anh.
Bốn năm trước, Tommy Williams bị bắt ở Rhode Island khi lái một chiếc xe chôm chỉa chở đầy hàng ăn cắp. Tommy khai ra tên đồng phạm, Ủy viên Công tố quận bắt tay, nên cậu ta hưởng án nhẹ hơn... hai đến bốn năm, tính cả khoảng thời gian tạm giam đến khi kết án. Cậu ta vào tù được mười một tháng thì người bạn tù cũ có tấm vé ra ngoài, Tommy có bạn tù mới mang tên Elwood Blatch. Blatch bị bắt quả tang lúc đang đột nhập để trộm cắp có vũ trang và chịu án sáu đến mười hai năm tù.
“Tôi chưa gặp tên nào hay lo như hắn,” Tommy kể với tôi. “Người như hắn không nên làm ăn trộm, càng không nên sở hữu súng. Chỉ một tiếng động nhỏ nhất đã đủ để khiến hắn nhảy dựng một mét lên không trung... sau đó, hắn sẽ vừa đáp đất vừa cuống cuồng nã súng. Một đêm nọ, hắn suýt bóp cổ giết tôi chết chỉ vì gã nào đấy dưới hành lang dùng cốc bằng thiếc gõ lanh canh vào chấn song buồng giam của mình.
“Tôi ở chung buồng với hắn bảy tháng, cho đến khi họ thả tôi đi. Tôi được tính cả thời gian tạm giam đến khi kết án và được khoan hồng nữa, anh hiểu không. Khó lòng nói chúng tôi từng nói chuyện vì thật ra, chẳng ai có cuộc trao đổi đàng hoàng với El Blatch. Hắn ta mới là kẻ chủ động khi nói chuyện với kẻ khác. Hắn nói từ đầu chí cuối. Liên tu bất tận. Anh cứ thử chen ngang một lời mà xem, hắn sẽ giơ nắm đấm lên với anh rồi đảo mắt. Lần nào hắn ta làm thế, tôi cũng rùng mình vì cóng cả người. Tướng tá hắn ta cao to như hộ pháp, đầu hói bóng, hai con mắt màu xanh trũng sâu trong hốc mắt. Chậc, mong rằng tôi không bao giờ gặp lại hắn ta.
“Đêm nào, hắn cũng nói trên trời dưới biển. Hắn lớn lên ở đâu, những cô nhi viện mà hắn bỏ trốn, những nghề hắn từng làm, những em gái hắn đã mây mưa, những trò xúc xắc hắn ăn. Tôi để hắn mặc sức nói. Tôi cũng chẳng phải dạng khôi ngô gì cho cam, nhưng tôi không có nhu cầu khiến răng môi lẫn lộn.
“Hắn kể hắn đã đột nhập trộm hơn hai trăm căn nhà. Tôi bán tín bán nghi, vì hắn là tuýp người nhảy đồng lên như pháo nổ mỗi khi có ai đánh rắm phát to, nhưng hắn thề thật là thế. Giờ thì... nghe tôi nói này, Red. Tôi biết có những kẻ thỉnh thoảng lại ba hoa khoác lác khi biết dăm ba điều, nhưng thậm chí trước khi tôi biết chuyện về Quentin, tay golf chuyên nghiệp kia, tôi nhớ mình đã nghĩ giả như El Blatch đột nhập vào nhà tôi và tôi phát hiện ra điều đó, tôi nghĩ tôi sẽ là cái thằng tốt số nhất quả đất nếu còn giữ được mạng. Anh thử tưởng tượng cảnh hắn ta trong phòng ngủ của một phụ nữ nào đấy, lục lọi hộp nữ trang, bất thình lình, cô này húng hắng ho trong giấc ngủ hoặc loạt soạt lật người mà xem? Mới nghĩ tới thôi mà tôi đã lạnh người, tôi xin thề độc là thế.
“Hắn kể hắn cũng từng giết người. Những kẻ khiến hắn gai mắt. Chí ít đấy là điều hắn nói. Và tôi tin hắn nói thật. Quả thực, trông hắn giống một kẻ có thể xuống tay lấy mạng kẻ khác. Hắn lúc nào cũng căng như dây đàn mà! Giống khẩu súng lục đã cưa bớt kíp nổ vậy. Tôi biết một gã sở hữu khẩu súng lục Smith & Wesson Police Special với kíp nổ bị cưa bớt như thế. Nó chẳng được tích sự gì, có lẽ chỉ tiện để lôi ra lải nhải mà thôi. Khẩu súng nhạy đến nỗi chỉ cần gã này, tên gã là Johnny Callahan, bật âm lượng của máy quay đĩa nhà hắn lên hết cỡ rồi đặt súng trên thùng loa, chắc chắn súng sẽ nổ. El Batch giống vậy đấy. Tôi chỉ biết giải thích đến thế mà thôi. Nói chung, tôi không hề nghi ngờ việc hắn từng cắt tiết kẻ khác.
“Đêm nọ, cốt kiếm chuyện để nói, tôi hỏi bừa: ‘Thế anh từng giết ai?’ Hỏi cho vui ấy mà. Hắn bèn cười và đáp: ‘Có một tên đang ngồi tù trên Maine vì hai kẻ tao giết. Một gã đàn ông và vợ của cái tên bóc lịch. Tao đang lục lọi nhà chúng nó thì gã đàn ông phá bĩnh.