Nhà Tù Shawshank

Lượt đọc: 2330 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

“Tôi không nhớ hắn ta có nói với tôi tên của người phụ nữ hay không” Tommy kể tiếp. “Có thể có. Nhưng ở New England, cái tên Dufresne cũng phổ biến như tên Smith hay Jones trên khắp đất nước này, vì vùng này khối dân Pháp. Dufresne, Lavesque, Ouelette, Poulin, ai mà nhớ nổi những cái tên Pháp ấy kia chứ. Song hắn có kể với tôi tên của gã đàn ông. Hắn bảo gã này là Glenn Quentin, một gã chết toi giàu nứt đố đổ vách, một tay golf chuyên nghiệp. El bảo hắn nghĩ gã này có thể trữ tiền mặt trong nhà, khéo phải đến năm nghìn đô la. Hắn nói thời ấy, như thế là nhiều lắm. Tôi bèn hỏi: “Lúc đó là khi nào? Hắn đáp: ‘Hậu chiến. Ngay khi chiến tranh vừa kết thúc.

“Hắn đột nhập vào nhà lục lọi, gia chủ tỉnh giấc, gã đàn ông bắt đầu gây khó dễ với hắn. Đó là những gì El kể. Tôi đoán có khi gã đàn ông chỉ cất tiếng ngáy thôi. El kể Quentin đang cặp kè với vợ một tay luật sư có máu mặt nào đó, và họ tống tiễn gã luật sư lên nhà tù bang Shawshank. Dứt lời, hắn cười ha hả như ma nhập. Lạy Chúa tôi, khi nhận giấy báo ra tù, tôi chưa bao giờ mừng rỡ đến thế.”

Tôi đoán bạn có thể thấy tại sao Andy choáng váng khi nghe chuyện Tommy kể, và tại sao anh ta lại muốn gặp ngay cai ngục. Bốn năm trước, khi Tommy quen biết Elwood Blatch, tên này đang lãnh án sáu đến mười hai năm tù. Năm 1963, thời điểm Andy biết chân tướng sự việc, hắn ta có thể sắp ra tù... hoặc đã ra tù rồi. Vậy nên Andy đang đối diện với hai khả năng – một bên là việc Blatch vẫn còn bóc lịch trong tù, một bên là khả năng hiện hữu rằng hắn đã bốc hơi như cơn gió ngoài kia.

Trong câu chuyện của Tommy có những chỗ không nhất quán, song chẳng phải đời thực luôn là thế sao? Blatch kể với Tommy người bị tống vào tù là một tay luật sư có máu mặt, còn Andy là nhân viên ngân hàng, nhưng đó là hai nghề mà người ít học nhầm lẫn với nhau. Thêm vào đó, đã mười hai năm trôi qua kể từ lúc Blatch đọc bài báo về vụ xét xử và lúc hắn ta kể chuyện cho Tommy Williams. Hắn cũng bật mí với Tommy rằng hắn thó được hơn một nghìn đô la từ rương trong tủ quần áo của Quentin, nhưng ở phiên tòa xét xử Andy, cảnh sát nói không có dấu hiệu trộm đột nhập. Tôi có vài suy nghĩ về việc đó như sau. Thứ nhất, nếu anh lấy tiền mặt và chủ nhân số tiền đã chết, làm thế nào anh biết thứ gì bị lấy trộm, trừ khi ngay từ đầu, có người biết về sự tồn tại của nó? Thứ hai, ai dám khẳng định Blatch không nói dối về chi tiết này? Có thể hắn không muốn thừa nhận mình đã giết hai mạng người mà chẳng được tích sự gì. Thứ ba, có thể có dấu hiệu trộm đột nhập, song cảnh sát bỏ sót – nhiều tay cảnh sát bã đậu lắm – hoặc cố ý che giấu chúng để không phá quấy vụ án của Ủy viên Công tố quận. Tên này đang tranh cử vào Hạ viện, bạn nhớ chứ, thành thử hắn ta cần kết án ai đấy để đánh bóng tên tuổi. Một vụ cướp của – giết người chưa tìm được hung thủ chẳng có gì hữu ích.

Nhưng trong ba phân tích, tôi ưng điều ở giữa nhất. Trong thời gian ở Shawshank, tôi biết một vài kẻ giống như Elwood Blatch, đám sẵn sàng xả súng với đôi mắt điên dại. Những kẻ như vậy muốn ta nghĩ ở mọi phi vụ, chúng đều cuỗm được gia tài ngang ngửa Viên kim cương Hy Vọng [7E] , dù thực ra chúng chỉ vét được chiếc đồng hồ Timex trị giá hai đồng còm và chín đô la trên người nạn nhân, để rồi sau đấy phải vào tù bóc lịch.

Và có một điều trong câu chuyện của Tommy thuyết phục Andy đến mức anh không chút nghi ngờ. Không dưng mà Blatch lại nhắm đến Quentin. Hắn ta gọi Quentin là “gã chết toi giàu nứt đố đổ vách”, thêm nữa, hắn biết Quentin là một tay golf chuyên nghiệp. Chà, trong nhiều năm, tuần nào, vợ chồng Andy cũng đến câu lạc bộ đồng quê để thưởng rượu và dùng bữa tối một, hai lần, chưa kể, từ lúc phát hiện vợ mình cắm sừng, Andy hay đến uống ở đó. Câu lạc bộ đồng quê ấy có bến du thuyền, và có một tay nhân viên bảo trì bảo dưỡng máy móc làm bán thời gian một thời gian trong năm 1947 khớp với hình ảnh Elwood Blatch mà Tommy mô tả. Một tay to cao, hói gần hết tóc, hai con mắt màu xanh lá trũng sâu. Một kẻ nhìn người khác với ánh mắt rất khó chịu, như thể hắn đang ước đoán ta. Thời gian hắn làm không lâu, Andy kể. Hoặc hắn ta tự nghỉ, hoặc Briggs, người phụ trách bến du thuyền ấy, đuổi cổ hắn. Nhưng chúng ta không thể nào quên ngữ như hắn. Bởi lẽ hắn quá đỗi dị thường.

Thế rồi Andy đến gặp Warden Norton vào một ngày ào ào mưa và cuồn cuộn gió với những đám mây đen trĩu nặng hối hả lướt qua bầu trời bên trên dãy tường xám xịt, ngày những đụn tuyết cuối cùng bắt đầu tan, để lộ mấy khóm cỏ úa tàn của năm ngoái trong cánh đồng xa xa nhà tù.

Tay quản ngục có một văn phòng tương đối hoành tráng trong Khu Quản trị, và đằng sau bàn làm việc của hắn là cánh cửa nối với văn phòng của phó quản ngục. Hôm ấy, tay phó quản ngục không có mặt, nhưng một người tù được tin cẩn đang ở đó. Kẻ này là một gã đớn hèn mà tôi đã quên béng tên thật; tất cả tù nhân, kể cả tôi, đều gọi lão là Chester, theo tên đồng đội của nhân vật Marshal Dillon. Chester có nhiệm vụ tưới cây và dùng sáp chà bóng sàn nhà. Tôi đoán hôm ấy đám cây cối phải chịu cảnh khát nước, còn chỗ duy nhất được thoa sáp là bề mặt lỗ khóa của cánh cửa nối hai căn phòng mà Chester áp cái tai dơ dáy đầy ráy của lão vào.

Lão nghe thấy cửa chính văn phòng của quản ngục mở ra, đóng lại, rồi nghe Norton cất tiếng: “Chào buổi sáng, anh Dufresne, tôi giúp gì được cho anh?”

“Ông quản ngục,” Andy nói, và Chester già bảo với chúng tôi suýt chút nữa lão đã không nhận ra giọng của Andy vì nó lạ quá. "Ông quản ngục... có chuyện này... có chuyện vừa xảy ra với tôi... rất... rất... tôi không biết bắt đầu từ đầu nữa.”

“Chà, vậy sao anh không bắt đầu từ đầu?” tay quản ngục thủng thẳng, có lẽ bằng cái giọng chúng-ta-hãy-lật-đến-Thánh-vịnh-hai-mươi-ba-và-cùng-đồng-thanh-đọc du dương nhất của hắn. “Như thế thường hiệu quả nhất.”

Thế là Andy làm theo. Anh ta bắt đầu bằng cách nhắc lại cho Norton anh ta phải vào tù vì tội trạng gì. Đoạn anh ta kể với tay quản ngục chính xác những điều mà Tommy Williams đã nói với anh ta. Anh ta cũng nói rõ tên của Tommy, riêng điều này xem chừng không khôn ngoan lắm nếu xét tới những biến cố sau này, nhưng tôi chỉ xin hỏi một câu, anh ta còn biết làm gì khác để câu chuyện mình kể đáng tin cậy kia chứ.

Khi anh ta kể xong, Norton lặng thinh không nói một lời suốt khoảng thời gian dài. Tôi có thể mường tượng ra hình ảnh hắn ngả ra ghế văn phòng dưới bức tranh của Thống đốc Reed treo trên tường, mười đầu ngón tay chụm lại, đôi môi dày cui mím chặt, lông mày màu nâu nhíu lại, xô thành những bậc thang lên hết nửa quả trán của hắn ta, huy hiệu ba mươi năm lấp lánh.

“Phải,” cuối cùng, hắn mới thốt lên. “Đây là câu chuyện chấn động nhất mà tôi từng nghe. Nhưng để tôi nói với anh điều khiến tôi ngạc nhiên nhất, anh Dufresne a.”

“Là gì vậy, thưa ông?”

“Là việc anh tin sái cổ.”

“Thưa ông? Tôi không hiểu ông muốn nói gì.” Đến đây, Chester bảo Andy Dufresne, kẻ đã hiên ngang đối chọi với Byron Hadley trên mái nhà máy làm biển số xe mười ba năm trước, nay lại lúng búng như gà mắc tóc.

“Ấy nào,” Norton tiếp. “Tôi thấy tương đối rõ ràng rằng cậu thanh niên tên Williams kia ấn tượng với anh. Khá ngưỡng mộ anh là đằng khác. Cậu ta nghe bi kịch kiếp người của anh, thế nên, cũng dễ hiểu khi cậu ta muốn... nói sao nhỉ, cố cổ động tinh thần. Cũng dễ hiểu mà. Cậu ta còn trẻ người non dạ. Không có gì ngạc nhiên khi cậu ta không ý thức được câu chuyện ấy sẽ khiến anh quay quắt ra sao trong lòng. Giờ thì tôi đề nghị...”

“Ông tưởng tôi chưa nghĩ đến điều đó sao?” Andy hỏi. “Nhưng tôi chưa bao giờ kể với Tommy về gã đàn ông làm việc ở bến du thuyền. Tôi chưa kể với bất kỳ ai chi tiết đó... Nó thậm chí còn không lướt qua tâm trí tôi! Nhưng những gì Tommy mô tả về kẻ sống cùng buồng giam với cậu ấy và gã ta... chúng giống nhau như đúc!

“Ấy nào, tôi thấy có thể anh đang chìm đắm trong chút nhận thức có chọn lọc đấy,” Norton nói với nụ cười tủm tỉm. Những cụm từ như nhận thức có chọn lọc là kiến thức mà những kẻ trong ngành nghiên cứu về tội ác và quản trị nhà tù phải học, thế nên được dịp là bọn chúng lại ba hoa xả láng.

“Không phải như thế. Thưa ông”

“Đấy là góc nhìn phiến diện của anh thôi,” Norton nói, “tôi thì thấy khác. Và xin nhắc lại tôi chỉ nghe chủ quan từ anh rằng có một người như vậy từng làm việc ở câu lạc bộ đồng quê Đồi Falmouth.”

“Không, thưa ông” Andy lại cắt lời. “Không, điều đó không đúng. Vì...”

“Dù sao đi nữa,” Norton chặn họng đối phương, sang sảng và lấn lướt, “ta hãy lật ngược lại vấn đề xem sao nhé? Giả sử – chỉ giả sử thôi — rằng quả thực, có một người đàn ông mang tên Elwood Blotch.”

“Blatch,” Andy đanh giọng.

“Ừ, ý tôi là Blatch. Và giả sử tên này đúng là tù nhân chung buồng giam với Thomas Williams ở Rhode Island. Khả năng cao lúc này, hắn ta đã được thả tự do rồi. Rất cao là đằng khác . Chứ còn gì nữa, thậm chí chúng ta chẳng biết hắn ta đã ở tù bao lâu trước khi ở chung buồng với Williams, đúng không? Chỉ biết hắn đang chịu án sáu đến mười hai năm tù.”

“Đúng. Chúng ta không biết hắn đã ở tù bao lâu. Nhưng Tommy bảo hắn ta cư xử và cải tạo không tốt. Tôi nghĩ vẫn có khả năng hắn còn ở trong tù. Thậm chí nếu hắn đã được thả ra, nhà tù sẽ lưu trữ thông tin về địa chỉ gần nhất mà họ xác định được, tên tuổi họ hàng hắn...

“Gần như chắc chắn hai đầu mối này sẽ chỉ dẫn đến ngõ cụt mà thôi.”

Andy lặng thinh một lúc, đoạn thốt lên: “Chà, vẫn có cơ hội mà, phải không?”

“Phải, tất nhiên là có. Vậy Dufresne này, chúng ta tạm giả sử Blatch có tồn tại và hắn ta vẫn đang ngồi bóc lịch trong nhà tù bang Rhode Island đi. Thế nếu chúng ta mang hung tin này đến đổ vào đầu hắn, hắn sẽ nói gì? Chẳng lẽ hắn quỳ mọp xuống đất, đảo mắt và nói: ‘Phải! Tôi là thủ phạm! Xin các người cứ việc thêm án chung thân vào tội trạng của tôi đi! ư?”

“Sao ông có thể trì độn thể?” Andy gắn khẽ đến mức Chester gần như không nghe thấy. Nhưng lão ta nghe thấy tiếng của tay quản ngục.

“Cái gì? Anh gọi tôi gì kia?”

Trì độn !” Andy gắt lên. “Ông đang cố tình phải không?”

“Dufresne, anh đã lấy năm phút của tôi – không, bảy phút chứ – mà hôm nay, lịch của tôi rất bận bịu. Nên cho rằng chúng ta sẽ kết thúc cuộc họp nhỏ này tại đây và...”

“Câu lạc bộ đồng quê sẽ lưu trữ mọi hồ sơ của nhân viên cũ, ông không nhận ra điều đó sao?” Andy hét lên. “Chúng có hồ sơ thuế, giấy báo lương, hồ sơ trợ cấp thất nghiệp, cái nào cũng sẽ có tên hắn trên đó! Nhân viên hiện đang làm việc có thể đã làm từ xưa, có khi còn cả Briggs ấy chứ! Mới chỉ mười lăm năm trôi qua chứ có phải ngàn thu đâu! Họ sẽ còn nhớ hắn ta! Họ sẽ còn nhớ Blatch! Nếu tôi có Tommy đứng ra làm chứng cho những điều Blacth kể, có Briggs làm chứng Blatch từng ở đó, thực ra còn làm việc cho câu lạc bộ đồng quê ấy, tôi có thể xin mở một phiên tòa mới! Tôi có thể…”

“Lính đâu! Lính đâu! Lôi tên này đi mau!”

“Ông bị làm sao thế hả?” Andy nói, và Chester bảo lúc này, anh gần như gào thét ỏm tỏi. “Đó là đời tôi, là cơ hội để tôi được thả tự do, ông không thấy sao? Vậy mà ông thậm chí không gọi nổi một cuộc điện thoại đường dài để xác minh câu chuyện của Tommy sao? Nghe này, tôi sẽ trả cho cuộc gọi! Tôi sẽ trả cho...”

Đoạn vang lên tiếng quẫy đạp khi lính gác chộp lấy anh và bắt đầu kéo anh ra.

“Biệt giam,” quản ngục Norton khô khốc nói. Có khi vừa nói, hắn vừa mân mê phù hiệu ba mươi năm. “Bánh mì và nước.”

Và thế là họ kéo Andy ra khỏi phòng, lúc này, anh tựa con ngựa bất kham, không ngừng la hét vào mặt tay quản ngục; Chester nói sau khi cửa đóng sập lại, lão vẫn nghe tiếng anh gào thét: “Đó là đời tôi! Đó là đời tôi, ông không hiểu sao, đó là đời tôi!”

Andy phải chịu hành xác trên con tàu hạt và phạt ở khu biệt giam trong hai mươi ngày. Đó là lần thứ hai anh bị tống vào biệt giam, và màn tranh cãi với Norton là vết đen đầu tiên của anh kể từ lúc bước chân vào gia đình hạnh phúc này.

Nhân lúc chúng ta đang nói đến chủ đề này, tôi xin kể đôi điều về phòng biệt giam ở Shawshank. Bản chất của phòng giam ấy tương tự những ngày tháng khai hoang lập địa nhọc nhằn ở Maine từ đầu đến giữa thế kỷ thứ 18. Thời đó, chẳng ai rỗi hơi xét đến những khái niệm như “bộ môn hình phạt học”, “cải tạo” hay “nhận thức có chọn lọc”. Ngày ấy, cách bạn được săn sóc vô cùng rõ ràng. Một là bạn phạm tội, hai là bạn vô tội. Nếu có tội, bạn sẽ bị treo cổ hoặc đưa vào tù. Nếu bạn được tuyên án vào tù, bạn chẳng đi đến cơ sở nào cả. Không đâu, bạn phải tự đào buồng giam cho mình bằng cái mai mà chính quyền Maine cấp cho. Từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời khuất núi, bạn phải cố mà đào một cái hố thật rộng và sâu cho mình. Sau đó, họ cho bạn vài bộ quần áo và cái xô, thế rồi bạn chui xuống. Khi bạn xuống dưới hố rồi, cai tù sẽ chặn chấn song trên mặt hố, cứ một hoặc hai lần một tuần, hắn ta sẽ vứt xuống chút ngũ cốc hoặc có thể là miếng thịt đầy giòi bọ xuống cho bạn, tối Chủ nhật, họa hoằn lắm bạn sẽ được phát chút xúp lúa mạch. Bạn đái vào xô, rồi cũng cái xô ấy, bạn giơ lên để xin nước khi cai tù đến vào 6 giờ sáng. Lúc mưa, bạn dùng xô để xúc nước ra khỏi hố giam... trừ khi bạn muốn chết đuối như con chuột trong thùng nước mưa.

Chẳng ai có thể trụ nổi khoảng thời gian dài “trong hố” như cách người đời gọi; ba mươi tháng đã là phi thường rồi, và theo như những gì tôi được biết, thời hạn tù dài nhất mà một người từng trải qua và giữ được mạng sống là của một tù nhân được gọi với cái tên “Cậu Nhóc Durham”, một kẻ tâm thần 14 tuổi dùng một mảnh kim loại gỉ sét thiến bạn cùng lớp. Hắn sống sót được bảy năm, nhưng tất nhiên, khi xuống hố hắn còn là thanh niên sức dài vai rộng.

Bạn phải nhớ rằng nếu phạm tội trạng nghiêm trọng hơn ăn cắp vặt, báng bổ, quên nhét khăn chùi mũi trong túi khi bước ra khỏi cửa vào lễ Sabbath, bạn sẽ bị treo cổ. Đối với tội vặt như những ví dụ tôi vừa liệt kê hoặc những tội tương tự như thế, bạn sẽ phải chịu ba, sáu hay chín tháng giam trong hố, để rồi khi bước ra, người trắng hếu như bụng cá, rúm ró trước không gian quá đỗi rộng lớn, mắt gần như mù, răng thi nhau nhảy đầm trong chân răng do tình trạng thiếu vitamin C, chân râm ran vì bị nấm. Ôi Maine vui tươi thái bình. Hô hô hô, và một chai rượu rum [8E] .

Khu Biệt giam của Shawshank không tệ hại đến thế... tôi đoán vậy. Theo tôi, xét theo trải nghiệm của con người, mọi thứ có thể chia ra thành ba cấp độ chính. Có tốt, có xấu và khủng khiếp. Và càng tiến vào bóng tối về phía khủng khiếp, ta càng khó chia nhỏ cấp độ hơn.

Để đến Khu Biệt giam, bạn sẽ được dẫn đi hai mươi ba bậc thang xuống tầng hầm, nơi âm thanh duy nhất tồn tại là tiếng nước nhỏ giọt. Ánh sáng duy nhất được cung cấp bởi mấy bóng đèn sáu mươi watt lủng lẳng. Buồng giam có hình dạng như thùng chứa, kiểu két sắt gắn tường mà dân nhà giàu thỉnh thoảng giấu đằng sau bức tranh. Tương tự như két sắt, cửa ở đây hình tròn gắn bản lề, nhưng thay vì là chấn song thì cửa lại là khối đặc. Không khí chỉ lưu thông từ phía trên, nhưng không có chút ánh sáng nào ngoại trừ bóng đèn sáu mươi watt, vốn bị tắt bởi công tắc tổng vào đúng 8 giờ tối, sớm hơn một tiếng so với giờ tắt đèn ở những khu vực còn lại trong nhà giam. Đèn không có chụp bóng bằng lưới thép hay gì cả. Nếu muốn ở trong bóng tối, bạn cứ việc tháo ra. Nhưng chẳng mấy ai có sở thích ấy... dù tất nhiên, sau 8 giờ tối, có thích hay không cũng đành chịu. Bạn có giường ngủ gắn vào tường và một cái xô không bồn cầu. Bạn có ba cách sử dụng thời gian: ngồi, ỉa và ngủ. Lựa chọn phong phú quá còn gì. Hai mươi ngày có thể như cả năm trời. Ba mươi ngày tựa hai năm, còn bốn mươi ngày tựa mười năm. Thỉnh thoảng, bạn có thể nghe thấy chuột chít chít bò trong hệ thống thông gió. Trong tình huống như thế, chia nhỏ mức độ khủng khiếp chẳng còn ý nghĩa gì.

Nếu cố gắng vớt vát bất cứ ưu điểm nào của phòng biệt giam thì chỉ có một điểm duy nhất: bạn có thời gian để ngẫm nghĩ. Andy có hai mươi ngày để nghiền ngẫm trong khi tận hưởng chuyến tàu hạt và phạt, sau đấy, khi ra khỏi phòng biệt giam, anh ta yêu cầu hẹn gặp quản ngục song bị từ chối. Quản ngục cho hay, cuộc hẹn như thế chỉ tổ “phản tác dụng” Đó cũng là một cụm từ bạn phải khắc cốt ghi tâm trước khi có thể vào làm việc ở nhà tù và nhà trừng giới.

Andy kiên nhẫn yêu cầu thêm lần nữa. Lại một lần nữa. Và một lần nữa. Đến một người như Andy Dufresne rốt cuộc cũng lung lay. Bất ngờ thay, khi mùa xuân năm 1963 tưng bừng sắc thắm, trên mặt anh đã in hằn những nếp nhăn, mái tóc anh đã lấm tấm bạc. Anh đánh mất bóng dáng nụ cười mỉm chi vốn thường trực nơi khóe miệng. Đôi mắt anh bần thần nhìn vào vô định nhiều hơn, và khi một người nhìn xa xăm như thế có nghĩa là anh ta đang đếm tổng thời gian mình đã ở tù, bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu tuần, thậm chí bao nhiêu ngày.

Anh cứ yêu cầu gặp hết lần này đến lần khác. Anh nhẫn nại. Anh chẳng có gì ngoài thời gian. Chẳng mấy chốc, xuân qua, hè lại. Ở Washington, tổng thống Kennedy hứa hẹn tái khởi động cuộc tấn công vào nghèo đói và bất bình đẳng quyền công dân, chẳng hề hay biết ông chỉ còn nửa năm trên cõi đời này. Ở Liverpool, một ban nhạc mang tên The Beatles ngày càng làm mưa làm gió trong làng âm nhạc nước Anh, dù tôi đoán ở xứ cờ hoa này, chưa có ai nghe danh họ. Đội bóng chày Boston Red Sox vẫn lẹt đẹt ở cuối bảng American League, phải bốn năm sau, họ mới trở thành Điều kỳ diệu năm ’67 như cái tên mà dân New England đặt cho. Tất cả những sự kiện ấy đang xảy ra ở thế giới rộng lớn ngoài kia, nơi bao người được tự do sải bước.

Đến cuối tháng Sáu Norton mới chịu gặp anh, và dưới đây là đoạn trao đổi mà tôi nghe chính miệng Andy kể chừng bảy năm sau đó.

“Nếu vấn đề là ở chuyện tiền mãi lộ thì ông không cần phải lo, Andy hạ giọng nói với Norton. “Ông nghĩ tôi sẽ hé răng sao? Như thế tôi cũng há miệng mắc quai mà. Tôi cũng sẽ có thể bị truy tố như...”

“Đủ rồi,” Norton ngắt lời anh. Mặt hắn ta dài và lạnh lùng như bia mộ. Hắn ta ngả ra chiếc ghế văn phòng cho đến khi phần gáy suýt nữa chạm vào bức tranh thêu để dòng chữ PHÁN XÉT CỦA NGƯỜI ĐƯƠNG ĐẾN VÀ ĐẾN THẬT GẦN.

“Nhưng…”

“Nghiêm cấm anh nhắc đến tiền bạc với tôi thêm một lần nào nữa,” Norton đe. “Dù ở văn phòng này hay bất cứ nơi nào. Trừ khi anh muốn nhìn thư viện ấy trở lại thành nhà kho và phòng chứa sơn. Anh hiểu chưa?”

“Tôi chỉ cố giúp ông yên lòng mà thôi.”

“Ái chà, thời điểm tôi cần một thằng khốn thảm hại như anh giúp tôi yên lòng, tôi sẽ nghỉ hưu luôn cho rồi. Tôi đồng ý hẹn gặp anh là vì tôi chán bị quấy rầy, Dufresne ạ. Tôi muốn anh thôi đi. Nếu anh muốn ăn cú lừa này thì đó là việc của anh. Đừng khiến tôi liên lụy. Nếu tôi dễ dãi nghe các người, có khi tuần nào tôi cũng phải hầu những chuyện bát nháo chi khươn như chuyện của anh hai lần. Kẻ nào có tội trong chốn này cũng sẽ xem tôi như chốn than thân trách phận mất. Tôi từng dành cho anh rất nhiều tôn trọng. Song thế này là quá lắm rồi. Dừng ở đây thôi. Chúng ta hiểu nhau chưa nhỉ?”

“Rồi,” Andy đáp. “Nhưng xin thưa với ông, tôi sẽ thuê luật sư.”

“Vì Chúa, để làm gì?”

“Tôi nghĩ chúng ta có thể tổng hợp lại,” Andy nói. “Có Tommy Williams, lời khai của tôi, chứng thực từ hồ sơ và nhân viên ở câu lạc bộ đồng quê, chúng ta có thể tổng hợp tất cả lại.”

“Tommy Williams không còn là tù nhân của cơ sở này nữa.”

“Gì kia?”

“Cậu ta được chuyển đi rồi.”

“Chuyển đi đâu ?”

"Cashman.”

Nghe đến đây, Andy lặng thinh. Anh ta vốn là người thông minh, nhưng chỉ có ngữ dốt đặc cán mai mới không ngửi thấy mùi dàn xếp ở đây. Cashman vốn là một nhà tù có an ninh lỏng lẻo nhất ở trên phía Bắc hạt Aroostook. Tù nhân ở đó đào khoai tây, công việc vốn nặng nhọc nhưng chí ít họ được trả lương tương xứng cho mồ hôi nước mắt bỏ ra, họ có thể dự lớp học ở CVI, một cơ sở dạy nghề kỹ thuật tương đối đâu ra đấy, nếu họ mong muốn như thế. Quan trọng hơn nữa, với thanh niên như Tommy, có vợ trẻ, con thơ, Cashman có chương trình nghỉ phép... điều đó có nghĩa tù nhân được cơ hội sống như người bình thường, chỉ ít vào dịp cuối tuần. Có cơ hội lắp mô hình máy bay với con trai, vân vũ với vợ, đôi khi còn đi picnic cùng nhau.

Không nghi ngờ gì nữa, hẳn Norton đã lấy tất cả những điều này ra làm mồi nhử Tommy, với một điều kiện duy nhất: từ nay về sau không được hé thêm lời nào về Elwood Blatch. Nếu không muốn uống rượu mời, thì cứ việc uống rượu phạt ở nhà tù Thomaston dưới Tuyến số 1, nên thơ với những kẻ cực kỳ thô bạo, và thay vì lên giường với vợ mình, cậu sẽ mây mưa với mấy tên bò đĩ đực.

“Nhưng tại sao?” Andy cất tiếng. “Tại sao ông…”

“Tôi làm thế là vì cậu,” Norton bình thản đáp, “tôi kiểm tra với Rhode Island rồi. Đúng là họ có tù nhân mang tên Elwood Blatch. Hắn ta được tham gia chương trình phóng thích tạm thời, lại một chương trình theo chủ nghĩa tự do điên rồ, trong đó họ để tội phạm tự do trong thế giới bên ngoài. Kể từ đó, hắn ta lặn không sủi tăm.”

Đoạn Andy hỏi: “Quản ngục ở đó... có phải bạn của ông không?”

Sam Norton nở nụ cười lạnh lẽo tựa dây đồng hồ của phó tế với Andy. “Chúng ta là chỗ quen biết,” hắn ta gọn lỏn.

“Tại sao vậy?” Andy lặp lại. “Ông không thể nói với tôi tại sao ông làm thế ư? Ông biết tôi sẽ không nói gì về... về tất cả những gì có thể đang xảy ra. . Ông biết rõ như thế mà. Vậy thì tại sao?”

“Vì những kẻ như anh làm tôi muốn bệnh,” Norton cay nghiệt. “tôi muốn anh ở đâu thì cứ an vị chỗ đấy, anh Dufresne ạ, và chừng nào tôi còn làm quản ngục ở Shawshank này, chừng đó anh còn bóc lịch ở đây. Anh thấy đấy, ngày trước anh cứ tưởng mình thượng đẳng hơn kẻ khác. Tôi rất giỏi nhìn ra cái thái độ dương dương tự đắc ấy ở con người. Tôi để ý vẻ mặt ấy ở anh ngay lần đầu tiên tôi đặt chân vào thư viện. Thiếu điều anh viết hoa dòng chữ lên trên trán thôi. Nhưng vẻ mặt ấy giờ đã biến mất rồi, và tôi rất lấy làm vừa lòng. Anh chẳng phải cái bình hữu dụng đâu, [9E] đừng ảo tưởng như thế. Đơn giản là kẻ như anh cần được học thế nào là khiêm cung. nhỉ, ngày trước anh từng đủng đỉnh bước quanh sân tập thể dục này như thế nó là phòng khách, còn anh đang ở bữa tiệc cocktail nơi những kẻ đáng xuống địa ngục khệnh khạng bước đi, hau háu thèm thuồng vợ người ta, chồng kẻ khác rồi say sưa không biết trời trăng gì. Nhưng giờ anh không còn bước đi với điệu bộ đó nữa rồi. Và tôi sẽ chống mắt lên xem anh còn cái gan đi lại theo cung cách ấy không. Trong những năm tới, tôi sẽ rất lấy làm vui sướng được dõi theo anh. Giờ thì phiền anh biến khỏi đây.”

“Được. Nhưng mọi hoạt động ngoài lề sẽ chấm dứt ngay lúc này, Norton ạ. Tư vấn đầu tư, đảo, tư vấn thuế miễn phí. Tất đều chấm dứt. Ông hãy nhờ công ty H & R Block tư vấn cho ông cách kê khai thuế thu nhập.”

Mới đầu, khuôn mặt của quản ngục Norton đỏ như gạch... đoạn bao màu sắc như biến sạch khỏi gương mặt ấy. “Anh sẽ trở lại phòng biệt giam vì điều đó. Ba mươi ngày. Bánh mì và nước. Thêm một vết đen nữa. Và trong thời gian ngồi biệt giam, cứ từ từ ngẫm nghĩ đi: nếu có bất cứ thứ gì chấm dứt, thì đó chính là thư viện đấy. Tôi sẽ bỏ công bỏ sức để đảm bảo mọi thứ trở về tình trạng trước khi anh bước chân đến đây. Và tôi sẽ khiến đời anh... khốn khổ. Khốn khổ khốn nạn. Anh sẽ biết thế nào là cùng khổ. Trước nhất, anh sẽ mất cái phòng đơn Hilton thượng hạng ở Khu buồng giam số 5, rồi anh sẽ mất những viên đá để trên bậu cửa sổ, và anh đừng hòng được lính gác bảo vệ khỏi đám kê gian kia. Anh sẽ... mất tất cả. Hiểu chưa?”

Tôi nghĩ như thế đã quá rõ ràng.

Thời gian như thoi đưa – mánh lới xưa cũ nhất thế gian này, và có lẽ là mánh lới duy nhất thực sự nhiệm màu. Nhưng Andy Dufresne nay đã khác xưa. Anh ta chai sạn hơn. Tôi chẳng biết mô tả thế nào ngoài cách ấy. Anh ta tiếp tục làm những công việc bẩn thỉu cho quản ngục Norton, anh ta níu giữ lấy thư viện, nên nhìn bên ngoài thì mọi việc vẫn như xưa. Anh ta tiếp tục uống vào dịp sinh nhật và dịp giao thừa; anh ta san sẻ với mọi người phần rượu còn lại. Thỉnh thoảng, tôi lại lấy cho anh ta vải mới để đánh bóng đá, và năm 1967, tôi kiếm cho anh ta một cây búa đục đá mới – như tôi đã kể, chiếc búa tôi cung cấp cho anh ta mười chín năm trước giờ tã lắm rồi. Mười chín năm! Khi chợt thốt lên như thế, ba âm tiết ấy văng vẳng tựa tiếng cửa hầm mộ đóng thịch và khóa kép đánh cạch. Búa đục đá ngày xưa có giá mười đồng, thì đến năm ’67, giá lên đến hai mươi đồng. Anh ta và tôi nở nụ cười buồn trước thời thế.

Andy tiếp tục tạo hình và đánh bóng những viên đá anh ta tìm thấy trong sân tập thể dục, nhưng lúc này, sân đã nhỏ hơn nhiều; nửa miếng đất năm 1950 được trải nhựa vào năm 1962. Tuy vậy, xem chừng anh vẫn tìm được đủ đá để luôn chân luôn tay. Làm xong hòn đá nào, anh ta cũng cẩn thận đặt nó lên bậu cửa sổ quay ra hướng Đông. Anh ta bảo với tôi rằng anh ta thích ngắm chúng dưới vầng dương, những mảnh hành tinh anh nhặt nhạnh từ sỏi đất mà tạo tác thành. Đá phiến, đá thạch anh, đá hoa cương. Tượng điêu khắc từ mica con con với hình thù kỳ khôi, dán bằng keo dán nhựa. Những khối kết trầm tích muôn hình vạn trạng được đánh bóng và cắt gọt, nhìn vào, bạn sẽ biết tại sao Andy gọi chúng là “bánh sandwich thiên niên kỷ” — các lớp vật liệu khác nhau chồng chất qua bao thập kỷ, thế kỷ.

Cứ một thời gian, Andy lại tặng đá và tượng điêu khắc đi để có chỗ trưng bày vật phẩm mới. Tôi đoán tôi là người được anh ta cho nhiều nhất – tính cả hai viên đá trông giống cặp khuy măng sét thì tôi có năm món cả thảy. Trong đó có một bức tượng điêu khắc mica mà ban nãy tôi có nhắc tới, được cẩn thận đẽo gọt thành hình một người đàn ông đang phóng lao, hai khối kết trầm tích với các lớp vật liệu được phô ra qua mặt cắt được mài nhẵn bóng. Đến giờ, tôi vẫn còn giữ chúng, và tôi lấy chúng xuống mãi thôi, ngẫm về điều một người có thể làm nếu có đủ thời gian và sắt son ý chí, tỉ mẩn từng chút một.

Nói tóm lại, bên ngoài, chí ít mọi thứ vẫn theo guồng quay cũ. Nếu Norton muốn phá hủy Andy tận tâm can như hắn từng nói, hắn ta sẽ phải nhìn xuống dưới bề mặt thì mới thấy chuyển biến. Nhưng nếu thấy Andy đã đổi khác ra sao, tôi đồ rằng Norton sẽ vô cùng thỏa mãn với bốn năm sau cuộc chạm trán giữa hai người bọn họ.

Hắn ta từng bảo với Andy rằng anh ta đủng đỉnh bước quanh sân tập thể dục như thể đang ở một bữa tiệc cocktail. Tôi sẽ không mô tả như vậy, nhưng tôi hiểu ý hắn là gì. Nó chính là những gì tôi nói về việc Andy khoác lên mình sự tự do tựa chiếc áo vô hình, về việc anh ta chẳng bao giờ có tâm thế mình đang trong vòng lao lý. Đôi mắt anh ta không bao giờ nhuốm vẻ đờ đẫn. Anh ta không bao giờ bước đi như những người khác lúc ngày tàn và họ phải trở về buồng giam cho một đêm dài tưởng chừng vô tận – cái điệu bộ lầm lũi, so vai ấy. Andy bước với đôi vai hiên ngang, chân nhẹ nhàng khoan thai, tựa hồ anh ta đang trên đường về mái ấm, nơi có bữa cơm nhà nóng hổi và người vợ hiền ngóng trông, chứ không phải mớ hổ lốn rau bèo nhèo nhạt thếch, khoai tây nghiền lục cục, một hai lát vừa mỡ vừa sụn mà đa số tù nhân đều gọi là thịt kỳ bí... về với thứ này cùng bức ảnh của Rachel Welch trên tường.

Nhưng trong bốn năm ấy, dù không trở nên giống những người khác, anh ta im lặng, thu mình và trầm tư. Ai có thể trách anh kia chứ? Nên có lẽ, kẻ lấy làm sung sướng nhất là quản ngục Norton... chí ít là vậy trong một thời gian.

Tâm trạng u tối của Andy tiêu tan vào khoảng giải vô địch bóng chày Mỹ năm 1967. Đó là năm giấc mơ tung cánh, năm đội Red Sox giành chiến thắng vòng loại thay vì đứng vị trí thứ chín, đúng như kết quả mà dân cá cược chuyên nghiệp ở Las Vegas dự báo. Khi điều đó xảy ra – khi đội bóng giành chiến thắng trong vòng loại American League – một bầu không khí sục sôi bao lấy cả nhà tù. Người ta ôm trong lòng cảm giác ngớ ngẩn rằng đến cái đội Red Sox yếu nhớt ấy còn trỗi dậy được thì có khi bất cứ ai cũng có thể làm lại cuộc đời. Lúc này đây, tôi khó lòng cắt nghĩa được cảm giác ấy, có lẽ như kẻ ngày xưa từng chết mê chết mệt nhóm nhạc the Beatles không thể nào lý giải được niềm yêu thích mù quáng ấy. Nhưng nó rất thật. Mọi radio ở nơi này đều phát các trận đấu trong đó đội Red Sox tạo ra những cú phát bóng đầy uy lực. Ai nấy đều chùng xuống khi Sox thua hai trận ở Cleveland khi vào sâu vòng đấu, và mọi người vui đến vỡ òa khoảnh khắc Rico Petrocelli chụp được quả bóng bổng mang tính quyết định. Và rồi thất vọng bao trùm khi Lonborg bị đánh bại ở trận thứ bảy giải đấu, kết thúc giấc mơ ngay trước khi kịp đơm hoa kết trái. Có lẽ chỉ một kẻ khốn nạn như Norton là vui sướng hết cỡ. Hắn ta chỉ thích nhà tù của mình mặc áo gai và đội tro trên đầu. [10E]

Nhưng riêng Andy, anh không rơi vào u uất. Có lẽ lý do là vì vốn dĩ anh ta chẳng hâm mộ bóng chày cho lắm. Tuy nhiên, anh ta vẫn hòa chung vào dòng chảy hồ hởi ấy, chỉ có điều, nó không cạn đi sau trận cuối cùng của giải đấu. Anh ta lôi chiếc áo khoác vô hình ra khỏi tủ và một lần nữa vận nó lên người.

Tôi còn nhớ một ngày mùa thu nắng vàng ươm độ cuối tháng Mười, vài tuần sau khi giải vô địch bóng chày kết thúc. Chắc hôm ấy là Chủ nhật, vì sân tập thể dục đông như mắc cửi, đầy những gã “thong dong cho hết tuần” – chơi ném đĩa, loanh quanh chuyền bóng bầu dục, có gì bán đó. Lại có những người ngồi ở chiếc bàn dài trong Sảnh Thăm nuôi, dưới những ánh mắt quan sát như cú vọ của lính gác, trò chuyện với gia đình người thân, hút thuốc lá, nói những lời nói dối chân thành, nhận những món đồ tiếp tế đã được kiểm tra kỹ lưỡng.

Andy ngồi xổm, tựa vào tường, tay cầm hai viên đá đập lách cách vào nhau, mặt ngẩng lên nhìn trời. Đã gần cuối năm mà hôm ấy vầng dương ấm áp đến lạ thường.

“Xin chào, Red,” anh cất tiếng. “Anh đến đây ngồi chơi cho vui.”

Tôi làm theo.

“Anh thích không?” anh ta hỏi rồi đưa cho tôi một trong hai viên “sandwich thiên niên kỷ” được tỉ mẩn đánh bóng mà tôi vừa nhắc đến ở trên.

“Hẳn rồi,” tôi đáp. “Đẹp quá. Cảm ơn anh.”

Anh ta nhún vai rồi chuyển chủ đề. “Năm sau là lễ kỷ niệm lớn của anh nhỉ.”

Tôi gật đầu. Năm sau là tròn ba mươi năm tôi bóc lịch. Sáu mươi phần trăm đời tôi đã trôi qua trong nhà tù bang Shawshank.

“Anh có nghĩ anh sẽ được thả không?”

“Có chứ. Khi tôi nuôi được bộ râu dài bạc phơ và đầu óc tôi mười phần thì bảy phần chập cheng.”

Anh ta khẽ mỉm cười, đoạn lại ngẩng mặt lên nhìn trời, mắt khép mi. “Dễ chịu quá.”

“Tôi nghĩ cảm giác ấy luôn xuất hiện khi chúng ta biết mùa đông chết toi sắp sửa càn quét qua rồi.”

Anh ta gật đầu, đoạn chúng tôi im lặng một lúc.

“Khi tôi ra khỏi đây,” mãi sau, Andy mới cất tiếng, “tôi sẽ đến một nơi ấm áp quanh năm.” Anh thản nhiên nói với tông giọng chắc như đinh đóng cột, đến độ ai không biết sẽ tưởng anh chỉ còn ở tù thêm một hai tháng là xong. “Anh biết tôi sẽ đi đâu không, Red?”

“Tôi chịu.”

“Zihuatanejo,” anh tiết lộ, khẽ uốn lưỡi thốt lên tên địa danh ngân nga tựa nhạc điệu. “Ở Mexico. Đó là một thành phố nhỏ cách bãi biển Playa Azul và Cao tốc Mexico 37 chừng 30 cây số. Nó cách thị trấn Acapulco ở Thái Bình Dương 160 cây số về phía Tây Bắc. Anh có biết người Mexico nói gì về Thái Bình Dương không?”

Tôi bảo không.

“Họ nói nó không có ký ức. Và đó là nơi tôi muốn sống đến hết đời, Red ạ. Một nơi ấm áp không lưu giữ ký ức.”

Vừa nói, anh ta vừa nhặt một nắm sỏi; đoạn anh ta ném từng viên, từng viên một, nhìn chúng nảy lên rồi lăn dọc theo phần sân bóng chày mà chẳng bao lâu sau sẽ nằm dưới ba tấc tuyết.

“Zihuatanejo. Tôi sẽ sở hữu một khách sạn nhỏ ở đó. Sáu chòi dọc bãi biển, thêm sáu chòi cách đó một khoảng, gần đường cao tốc. Tôi sẽ thuê một anh dẫn khách đi câu cá. Sẽ có cúp cho người câu được con cá cờ xanh to nhất mùa, và tôi sẽ trưng hình vị khách ấy trong sảnh. Đó sẽ không phải nơi dành cho gia đình mà là nơi những vợ chồng son đi tuần trăng mật... lần một hoặc lần hai.”

“Thế anh kiếm đâu ra tiền để mua xứ sở tuyệt vời ấy?” tôi hỏi. “Tài khoản chứng khoán của anh à?”

Anh nhìn tôi, mỉm cười. “Gần đúng” anh nói. “Nhiều khi anh làm tôi bất ngờ đấy, Red ạ.”

“Anh đang nói gì thế?”

“Thật ra trên đời này chỉ có hai loại người khi biến cố ập xuống, anh nói, khum tay quẹt que diêm châm điếu thuốc. “Giả sử có một ngôi nhà nọ chứa đầy tranh, tượng điêu khắc quý hiếm cùng cổ vật cao cấp, Red nhé? Sau đấy, giả sử chủ nhân của ngôi nhà nghe tin có siêu bão đang trên đường tiến thẳng tới. Một trong hai loại người kia chỉ biết cầu mong điều may mắn nhất xảy ra. Anh ta tự nhủ cơn bão sẽ thay đổi hướng đi. Chẳng có cơn bão biết suy nghĩ đúng đắn nào lại dám quét sạch những tác phẩm của Rembrandt, hai bức tranh vẽ ngựa của Degas, tranh của Grant Wood và cả Benton. Hơn thế nữa, còn khuya Chúa mới cho phép chuyện này xảy đến. Mà nếu tình hình tồi tệ, họ còn bảo hiểm chi trả mà. Đó là loại người đầu tiên. Loại người còn lại sẽ xem như cơn bão sẽ càn quét qua ngay giữa nhà mình. Kể cả khi sở khí tượng bảo cơn bão đã thay đổi hướng đi, người chủ cũng sẽ tự nhủ nó sẽ quay lại quỹ đạo cũ để xóa sổ ngôi nhà của họ. Loại người thứ hai này biết không có gì sai trái nếu hy vọng cho điều tuyệt vời nhất miễn là ta đã trù liệu cho điều tồi tệ nhất.”

Tôi châm một điếu thuốc. “Ý anh nói anh đã chuẩn bị cho chung cuộc rồi ư?”

“Phải. Tôi đã chuẩn bị cho cơn bão . Tôi biết nó trầm trọng ra sao. Tôi không có nhiều thời gian, nhưng tôi tranh thủ hành động trong chừng mực của mình. Ngày xưa tôi có một người bạn — có thể nói là người duy nhất kề vai sát cánh bên tôi – làm việc cho một công ty đầu tư ở Portland. Anh ấy đã qua đời sáu năm trước.”

“Tôi rất tiếc.”

“Phải.” Andy vứt đầu mẩu đi. “Linda và tôi có khoảng mười bốn nghìn đô la. Không phải gia tài kếch xù, nhưng chịu thôi, chúng tôi còn trẻ mà. Chúng tôi còn cả cuộc đời trước mặt.” Anh khẽ nhăn mặt rồi phá lên cười. “Khi sắp sửa nước sôi lửa bỏng, tôi bắt đầu lôi những tác phẩm của Rembrandt tránh khỏi đường cơn bão quét qua. Tôi bán cổ phiếu, ngoan ngoãn chấp hành nộp thuế trên thặng dư vốn. Khai thuế đầy đủ. Không mánh khóe gì cả.”

“Họ không đóng băng tài sản của anh à?”

“Tôi bị buộc tội giết người mà Red, chứ có chết đâu! Anh không thể đóng băng tài sản của một người vô tội – tạ ơn Chúa. Mà cũng mất một thời gian, họ mới có đủ can đảm để buộc tội tôi. Jim, cậu bạn tôi và tôi có chút thời gian. Tôi thiệt hại cũng khá khi bán tống bán tháo như thế. Trầy vi tróc vảy sơ sơ. Nhưng lúc ấy, tôi có nhiều chuyện phải lo hơn dăm ba đồng trả lại cho thị trường chứng khoán.”

“Phải, tôi cũng đồ là thể.”

“Nhưng khi tôi đến Shawshank, mọi thứ đều được an toàn. Đến giờ vẫn an toàn. Bên ngoài những bức tường này, có một người đàn ông chưa linh hồn nào hiện hữu trên cõi đời từng trực tiếp gặp mặt. Anh ta có thẻ An sinh Xã hội, có bằng lái xe ở Maine. Anh ta còn có giấy khai sinh. Tên là Peter Stevens. Cái tên nghe hay và nặc danh phết nhỉ?”

“Anh ta là ai thế?” Tôi hỏi. Tôi đã nghĩ mình biết đối phương sẽ nói gì, song vẫn không tài nào tin nổi tại mình.

“Tôi.”

“Đừng bảo tôi anh đã có đủ thời gian để tạo ra nhân dạng giả trong khi đám lính gác hành anh lên bờ xuống ruộng chứ,” tôi thốt lên, “hoặc anh đã lo liệu xong xuôi công chuyện khi còn đang bị đem ra tòa xét xử vì...”

“Không, tôi sẽ không nói vậy đâu. Jim, cậu bạn tôi, mới là người tạo ra nhân dạng giả ấy. Cậu ta bắt tay vào việc sau khi đơn kháng cáo của tôi bị từ chối, và các giấy tờ tùy thân chính nằm trong tay cậu ấy vào mùa xuân năm 1950.”

“Hẳn cậu ấy phải thân với anh lắm.” Tôi không rõ tôi tin bao nhiêu phần trăm câu chuyện này – có thể một chút, có thể nhiều chút hoặc không chút nào. Nhưng hôm ấy, tiết trời ấm áp, mặt trời ló dạng trên tầng mây và câu chuyện vô cùng hấp dẫn. “Làm thẻ căn cước công dân là việc phi pháp một trăm phần trăm luôn đấy.”

“Cậu ấy là bạn chí cốt của tôi,” Andy nói. “Chúng tôi băng qua làn bom lửa đạn cùng nhau. Pháp, Đức, chỗ chiếm đóng. Cậu ấy hết lòng vì tôi. Cậu ấy biết như thế là phi pháp, nhưng cậu ấy cũng biết tạo lập nhân dạng mới ở đất nước này vô cùng dễ và an toàn. Cậu ấy cầm tiền của tôi – khoản tiền tôi đã đóng thuế đàng hoàng nên Sở thuế vụ không buồn dòm ngó – và đầu tư nó dưới cái danh Peter Stevens. Cậu ấy làm thế vào năm 1950 và 1951. Hiện tại, tổng số tiền đạt mức ba trăm bảy mươi nghìn đô la có lẻ.

Tôi đoán hẳn là tôi đã há hốc đến độ mồm chạm vào ngực đánh cạch, vì anh ta mỉm cười.

“Anh thử nghĩ về tất cả những gì người ta ước họ đã đầu tư từ năm 1950 đi, hai hay ba thứ đó là gì Peter Stevens bỏ tiền vào. Nếu tôi không rơi vào chốn này, có khi lượng tài sản của tôi đã lên đến bảy, tám triệu đô la rồi. Tôi sẽ có chiếc Rolls Royce... và có lẽ cả một khối u to như đài phát thanh cầm tay.”

Tay vốc xuống đất, anh bắt đầu lọc thêm sỏi. Chúng cứ thế khoan thai chuyển động qua lại.

“Chúng tôi vọng cầu điều tốt nhất, nhưng cũng trù bị cho điều tồi tệ nhất – chỉ vậy thôi. Cái tên giả là để giữ cho khoản vốn nhỏ nhoi ấy của tôi không bị sứt mẻ phần nào. Hành động ấy chính là lôi tranh ra khỏi hướng bão sắp quét qua. Nhưng tôi không ngờ rằng cơn bão ấy... nó có thể kéo dài đến thế.”

Tôi lặng thinh không nói gì hồi lâu. Tôi đoán có lẽ tôi đang cố gắng tiếp nhận việc người đàn ông nhỏ con, mảnh khảnh trong nhà tù xám xịt bên cạnh tôi đây có thể có lượng gia tài lớn hơn tất cả những gì tên quản ngục Norton kiếm được trong phần đời khốn khổ khốn nạn còn lại của hắn, ngay cả khi tính cả những khoản lừa lọc gian manh.

“Khi anh nói anh có thể thuê luật sư, quả thật anh không đùa nhỉ,” mãi sau, tôi lên tiếng. “Với số tiền ấy, anh còn có thể thuê Clarence Darrow hoặc tay luật sư nào na ná ông ta bây giờ. Nhưng sao anh không làm vậy hả Andy? Lạy Chúa! Anh có thể phóng như tên lửa ra khỏi đây ấy chứ.”

Anh ta lại mỉm cười. Cũng là nụ cười từng xuất hiện trên gương mặt khi anh ta nói với tôi vợ chồng anh ta có cả cuộc đời trước mặt. “Không” anh ta đáp.

“Một luật sư tốt dư sức kéo cậu nhóc Williams từ Cashman dù cậu ta có muốn đi hay không,” tôi nói. Đến lúc này, tôi cũng đã bắt đầu cao hứng. “Anh có thể yêu cầu mở một phiên tòa mới, thuê thám tử tư lùng sục cho ra gã Blatch kia, chưa kể, anh hoàn toàn có thể hạ bệ Norton. Sao anh không làm thế, Andy?”

“Vì tôi tự mua dây buộc mình rồi. Nếu tôi tìm cách đụng đến số tiền của Peter Stevens từ trong này, tôi sẽ mất không còn xu nào. Cậu Jim bạn tôi có thể sắp xếp mọi thứ, nhưng Jim qua đời rồi. Anh thấy vấn đề chưa?”

Tôi thấy rồi. Quả thật, tiền chính là cứu cánh lúc này cho Andy, song trên danh nghĩa, nó đang thuộc về người khác. Nhìn theo cách nào đó thì là thế. Và nếu thứ mà nguồn vốn ấy đang đầu tư vào chợt chuyển biến xấu, tất cả những gì Andy có thể làm là ngồi nhìn nó cắm đầu, hằng ngày chỉ có thể theo dõi giá trên trang cổ phiếu và trái phiếu của tờ Press-Herald . Nếu ta không yếu mềm đi, đời sẽ khó sống.

“Để tôi nói với anh sự tình ra sao, Red ạ. Trong thị trấn Buxton có một đồng cỏ rất lớn. Anh biết Buxton ở đâu chứ?”

Tôi bảo có. Nó nằm ngay cạnh Scarborough.

“Đúng rồi. Ở cuối đồng cỏ ấy về phía bắc có một tường đá, giống y như bức tường trong bài thơ của Robert Frost. Và đâu đó dọc theo chân tường sẽ có hòn đá không dính dáng gì đến đồng cỏ ở Maine. Nó là một viên đá thủy tinh núi lửa, đến tận năm 1947, nó vẫn là chặn giấy trên bàn làm việc của tôi. Cậu bạn Jim của tôi đặt nó ở tường đá. Bên dưới có một chìa khóa. Chìa khóa ấy mở ra hộp ký gửi an toàn ở ngân hàng Casco, chi nhánh Portland.

“Tôi đoán anh gặp rắc rối lớn phết nhỉ,” tôi nói. “Khi Jim, người bạn của anh qua đời, Sở thuế vụ hẳn đã mở tất cả các hộp ký gửi an toàn của anh ấy. Tất nhiên là cùng với người thi hành di chúc.

Andy mỉm cười và gõ lên đầu. “Không tệ lắm. Tôi đoán ở đây không chỉ có kẹo dẻo mà còn nhiều thứ khác. Nhưng chúng tôi tính tới khả năng Jim có thể qua đời trong khi tôi còn ngồi tù. Cái hộp đứng tên Peter Stevens, và hằng năm, công ty luật đóng vai trò là người thi hành di chúc của Jim sẽ gửi séc cho Casco để chi trả phí thuê hộp ký gửi của Stevens.

“Peter Stevens nằm trong cái hộp ấy, chờ đợi được ra bên ngoài. Giấy khai sinh, thẻ An sinh Xã hội và bằng lái xe. Bằng đã hết hạn sáu năm vì Jim qua đời sáu năm trước, nhưng làm lại trong nháy mắt ấy mà, chỉ tốn năm đô la phí. Ở đó có chứng chỉ chứng khoán, trái phiếu đô thị miễn thuế của anh ta, và khoảng mười tám trái phiếu vô danh, mỗi trái phiếu trị giá mười nghìn đô la.

Tôi huýt sáo.

“Peter Stevens hiện đang bị khóa trong hộp ký gửi an toàn ở ngân hàng Casco, chi nhánh Portland, còn Andy Dufresne bị khóa trong hộp ký gửi an toàn ở Shawshank,” anh ta nói. “Được cái này mất cái kia. Chiếc chìa khóa mở ra chiếc hộp, số tiền ấy và cuộc sống mới nằm dưới tảng đá màu đen trong cánh đồng Buxton. Đã tiết lộ đến mức này thì tôi sẽ nói với anh thêm một điều nữa, Red ạ – suốt khoảng thời gian hai mươi năm qua, khi tôi đọc báo, tôi rất chú ý đến tin tức dự án xây dựng ở Buxton. Tôi cứ nghĩ biết đâu một ngày nào đó, tôi sẽ đọc thấy tin họ đang xây dựng đường cao tốc ngang qua đó, hoặc xây bệnh viện cộng đồng mới, hoặc trung tâm mua sắm mới. Và rồi, cuộc đời mới của tôi sẽ bị chôn vùi dưới ba mét bê tông, hoặc bị đổ xuống đầm lầy nào đó cùng với rác rến.”

Tôi thốt lên, “Chúa ơi, Andy, nếu tất cả những điều này là thật, làm thế nào anh không phát rồ vậy?”

Anh mỉm cười. “Tính đến giờ, mạn tây vẫn không có động tĩnh gì.”

“Nhưng có khi còn nhiều năm...”

“Đúng thế. Nhưng có lẽ không nhiều như nhà nước và quản ngục Norton nghĩ đâu. Tôi không đợi lâu đến vậy được. Tôi cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi về Zihuatanejo và khách sạn nhỏ ấy. Cả cuộc đời này, tôi chỉ cần có thế mà thôi, và tôi không nghĩ mình đang đòi hỏi quá nhiều. Tôi không giết Glenn Quentin, tôi cũng không giết vợ mình, và cái khách sạn ấy... nó không phải thứ gì quá đáng. Tôi muốn bơi, muốn da mình rám nắng, muốn ngủ trong một căn phòng với cửa sổ để ngỏ và không gian tràn trề ... thế đâu phải nhiều nhặn gì.”

Anh lia những hòn đá đi.

“Anh biết không, Red,” anh ta tỉnh bơ nói. “Ở một nơi thế này... tôi phải có một người biết cách cung các món đồ.”

Tôi ngẫm nghĩ suốt một lúc lâu. Trở ngại lớn nhất trong tâm trí tôi thậm chí còn không nằm ở việc chúng tôi đang bàn những chuyện mơ mộng hão huyền trong sân tập thể dục của nhà tù khốn kiếp với những tay lính gác đang đứng từ trên tháp canh nhìn xuống chúng tôi. “Tôi không làm được,” tôi thốt lên. “Tôi không xoay xở bên ngoài được. Tôi trở thành kẻ bị nhà tù thui chột ý chí rồi. Ở đây, tôi là kẻ có thể thu xếp kiếm hàng cho anh, thật là thế. Nhưng ngoài kia, ai cũng làm được chuyện đó. Ngoài kia, nếu anh muốn có áp phích, búa đục đá, một cái đĩa hát nào đấy, hay mô hình lắp ráp thuyền trong chai, anh ta chỉ cần lật cuốn danh bạ điện thoại ra là thấy. Còn trong này, tôi chính là cuốn danh bạ điện thoại. Tôi sẽ chẳng biết mình nên bắt đầu thế nào. Hay ở đâu.”

“Anh đánh giá thấp bản thân mình rồi,” anh ta nói. “Anh là người tự giáo dục cho bản thân, một người tự cường, tự lực. Tôi thấy anh rất xuất sắc là đằng khác.”

“Ôi trời, tôi còn chẳng có bằng trung học.”

“Tôi biết điều đó,” anh ta đáp. “Nhưng một mảnh giấy chẳng làm nên đại trượng phu. Chấn song nhà tù chẳng phá hủy một người được.”

“Tôi không trụ nổi ngoài kia đâu, Andy. Tôi biết điều đó.”

Anh ta đứng dậy. “Anh cứ ngẫm đi,” anh ta thủng thẳng nói, đúng lúc ấy, còi hiệu bên trong vang lên. Rồi anh ta thong thả bước đi, tựa hồ anh ta là người tự do vừa đưa ra đề xuất với một người tự do khác. Và chỉ chút thời gian ấy thôi cũng đủ để khiến tôi cảm thấy mình tự do. Andy có cái năng lực ấy. Anh ta có thể khiến tôi quên bẵng đi trong chốc lát rằng chúng tôi là đám tù nhân bóc lịch thời gian dài, nằm dưới quyền sinh sát của hội đồng tư vấn ân xá chẳng chút từ bị và tay quản ngục hót thánh thi như khướu, những muốn cầm chân Andy Dufresne tại đây. Suy cho cùng, Andy là con cún biết kê khai thuế mà. Một loài vật tuyệt vời xiết bao!

Nhưng đến đêm ấy, khi nằm trong buồng giam, tôi lại cảm thấy mình như tù nhân. Ý tưởng kia sao quá đỗi ngông cuồng, và hình ảnh biển xanh, bãi cát trắng phau thay vì ngu xuẩn, thì lại thật tàn nhẫn – nó tựa lưỡi câu cửa vào tâm trí tôi. Đơn giản là tôi không thể khoác trên mình chiếc áo vô hình kia giống như Andy. Tối hôm ấy, tôi chìm vào giấc ngủ thì mơ thấy tảng đá to màu đen bóng loáng như kính giữa đồng cỏ; tảng đá có hình dạng tựa cái đe của thợ rèn khổng lồ. Trong mơ, tôi cố nâng tảng đá lên để lấy chìa khóa bên dưới. Song nó nhất quyết không suy suyển; kích thước của nó to quá.

Và từ bên ngoài, tôi có thể nghe thấy tiếng sủa của chó săn vắng lại.

Tôi đoán chuyện này dẫn ta đến chủ đề vượt ngục.

Tất nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn xảy ra trong gia đình nhỏ hạnh phúc của chúng tôi. Nhưng ở Shawshank này, nếu bạn có đầu óc, bạn sẽ không chọn cách trèo tường đâu. Đèn pha rọi cả đêm, vươn những ngón tay dài và trắng dọc theo khoảng đất trống bao quanh ba mặt của nhà tù và vùng đầm lầy hôi tanh ở mặt còn lại. Thỉnh thoảng, vài tù nhân cũng trèo tường, và hầu như lần nào, đèn pha cũng rọi được bọn họ. Nếu không bị bắt, họ sẽ được cho đi quá giang xe trên đường cao tốc số 6 hoặc cao tốc số 99. Nếu họ tìm cách băng qua vùng đồng quê, nông dân sẽ bắt gặp họ và một cuộc gọi điện thoại tới nhà tù báo địa điểm là xong. Chỉ có lũ ấu trĩ mới vượt ngục bằng cách trèo tường. Shawshank không gắt gao như nhà tù ở Canon City, nhưng tại vùng đồng không mông quạnh thế này, một gã đàn ông lom khom bò qua ruộng đồng trong bộ quần áo màu xám nổi bật chẳng khác nào con gián trên bánh cưới.

Bao nhiêu năm qua, kỳ quặc thay, hoặc có lẽ không kỳ quặc cho lắm, những kẻ thành công nhất là những kẻ hành động bất chợt. Một vài người chui vào giữa xe chở ga trải giường; ta có thể nói đấy là bánh mì kẹp tù nhân. Lúc tôi mới vào, tình trạng này xảy ra rất nhiều, nhưng năm tháng trôi qua, họ đã ít nhiều khắc phục kẽ hở ấy.

Chương trình nổi tiếng “Trong Ra Ngoài” của quản ngục Norton cũng tạo cơ hội cho tù nhân đào tẩu. Họ là những kẻ nung nấu sự quan tâm với thứ nằm bên phải dấu gạch nối chứ không phải với thứ bên trái dấu gạch. Một lần nữa, trong hầu hết mọi trường hợp, mọi sự diễn ra bất chợt đến mức tùy tiện. Thả cái cào việt quất xuống đất, lủi vào bụi cây trong khi một tay lính đang uống ly nước ở xe tải hoặc khi hai tay lính đang hăng tiết tranh cãi về khoảng cách mà đội Boston Patriots đã di chuyển bóng hoặc tấn công.

Vào năm 1969, các tù nhân trong chương trình “Trong Ra Ngoài” tham gia đào khoai tây ở Sabbatus. Hôm ấy là ngày 3 tháng Mười một, công việc cũng sắp sửa xong xuôi. Tay lính gác là Henry Pugh – hắn ta không còn là thành viên trong gia đình nhỏ bé hạnh phúc này nữa, tôi nói thật – đang ngồi trên thanh cản đằng sau một xe tải chở khoai, ăn trưa với khẩu súng carbine để trên gối thì bỗng một con hươu đực với cặp sừng năm đầu nhọn vô cùng tuyệt mỹ (hoặc chỉ ít những gì tôi được kể là thế, dù thỉnh thoảng những thông tin này hay bị thêm mắm dặm muối) bước ra từ làn sương lạnh giá đầu chiều. Pugh đuổi theo nó, trong đầu tưởng tượng khung cảnh chiến lợi phẩm ấy trông sẽ ra sao trong phòng thư giãn của mình, tranh thủ lúc đó, ba tù nhân do hắn ta quản lý bỏ đi. Hai tên bị bắt ở tiệm pinball tại Lisbon Falls. Tên thứ ba đến tận bây giờ vẫn không rõ tung tích.

Tôi đoán trường hợp nổi tiếng nhất trong tất cả là Sid Nedeau. Vụ việc xảy ra từ năm 1958, và tôi đoán có lẽ sẽ chẳng có vụ nào vượt qua được nó. Sid đang kẻ sân thi đấu cho trận bóng chày nội bộ tổ chức vào thứ Bảy thì còi hiệu báo 3 giờ đúng vang lên, báo hiệu lính gác đổi ca. Bãi giữ xe nằm ngay đằng sau sân tập thể dục, phía bên kia cổng chính chạy bằng điện. 3 giờ đúng, cổng mở ra, lính gác ca sau và ca trước hòa trộn vào nhau. Họ vỗ lưng, bỗ bã trêu ghẹo, so sánh tỷ số giải bóng bầu dục và đùa những câu về sắc tộc xưa như trái đất.

Sid cứ thế đẩy máy kẻ vạch sân qua cổng, để lại một đường kẻ rộng bảy xen ti mét từ gôn nhà trong sân tập thể dục đến cái mương phía bên kia Tuyến số 6, nơi họ phát hiện cái máy lật úp trong một đống vôi. Đừng hỏi tôi gã ta làm thế nào. Gã mặc bộ đồ tù nhân, cao gần một mét chín, bột vôi bay lên tứ tung chẳng khác nào những đám mây đằng sau lưng. Tôi chỉ có thể đoán là, vốn dĩ hôm ấy là chiều thứ Sáu, đám lính gác hết ca đang hết sức hoan hỉ được ra về, còn đám lính gác sắp trực chán nản vì phải vào làm việc, thành thử lính ca trước thì để đầu óc trên chín tầng mây, còn lính ca sau cứ thế âu sầu cúi đầu xuống đất... Sid Nedeau chỉ việc lẻn vào giữa bọn họ.

Theo như những gì tôi được biết, Sid vẫn tự do tự tại ngoài kia. Nhiều năm qua, Andy Dufresne và tôi hay lôi phi vụ tẩu thoát hoành tráng của Sid Nedeau ra bàn, được dịp cười lấy cười để, và khi chúng tôi nghe tin vụ một chiếc máy bay bị cướp đòi tiền chuộc, sau đó thủ phạm đã nhảy dù từ cửa sau của máy bay [11E] , Andy thề sống thề chết tên thật của gã D. B. Cooper ấy chính là Sid Nedeau.

“Và có khi hắn để trong túi một nắm vôi kẻ sân làm bùa may mắn,” Andy nói. “Cái tên khốn số hưởng ấy.”

Nhưng bạn nên hiểu trường hợp như Sid Nedeau hoặc cái gã thành công trót lọt trốn khỏi gã lính canh ở ruộng khoai trên Sabbatus chẳng khác nào những kẻ trúng số độc đắc phiên bản nhà tù. Chỉ đơn giản là sáu loại may mắn khác nhau quần tụ lại cùng lúc. Một người như Andy có thể chờ đợi chín mươi năm cũng chẳng vượt ngục được tương tự như thế.

Có thể bạn còn nhớ, ở phần trước, tôi từng nhắc đến một người đàn ông mang tên Henley Backus, vốn là đốc công của khu giặt. Lão ta vào Shawshank năm 1922, để rồi ba mươi mốt năm sau, lão chết trong bệnh xá của nhà tù. Chuyện vượt ngục và vượt ngục hụt là sở thích của lão, có thể là vì lão chẳng có cái gan nhắm mắt làm liều như thế. Lão có thể kể với bạn hàng trăm kế hoạch khác nhau, cái nào cũng dị thường như cái nào, và tất cả đều đã xảy ra ở Shawshank vào một thời điểm nào đó. Câu chuyện tôi thích nhất là chuyện về Beaver Morrison, một gã tù nhân phạm tội đột nhập trái phép đã cố gắng nhặt nhạnh lắp ráp tàu lượn dưới tầng hầm nhà máy biển số xe. Gã này làm theo bản vẽ từ trong cuốn sách vào khoảng năm 1900 mang tên Hướng dẫn Hiện đại để Bạn nam Vui chơi và Phiêu lưu . Beaver hoàn thành con tàu mà không bị ai phát hiện, hoặc chỉ ít theo câu chuyện là thế, nào ngờ gã này nhận ra dưới tầng hầm chẳng có cánh cửa nào đủ to để thứ chết tiệt này lọt qua. Khi Henley kể câu chuyện này, thể nào bạn cũng phá lên cười nắc nẻ, mà lão ấy còn biết chục – không, hai chục ấy chứ – câu chuyện vui tương đương kìa.

Khi nào thuật lại những vụ vượt ngục ở Shawshank, Henley đều kể chi tiết đến từng cái móng chân. Có lần, lão kể với tôi thời của lão, phải có đến hơn bốn trăm vụ cố tình vượt ngục, mà đấy chỉ là những vụ lão biết. Trước khi gật gù đọc tiếp, bạn hãy ngẫm về con số này mà xem. Bốn trăm vụ cố tình vượt ngục đấy! Nghĩa là có 12.9 vụ xảy ra mỗi năm khi Henley Backus ở Shawshank và ghi nhận. Câu lạc bộ Nỗ-lực-vượt-ngục-của-tháng. Tất nhiên, hầu hết đều là những vụ cụt hơi ngắn cánh, thường kết thúc trong cảnh lính gác chộp tay của cái kẻ lén lút thậm thụt rồi gầm lên, “Mày nghĩ mình đang đi đâu đấy hả, thằng khốn ảo tưởng kia?”

Henley bảo lão phân loại được chừng sáu mươi trường hợp là nghiêm túc, lão cũng nhắc tới vụ “vượt ngục” vào năm 1937, một năm trước khi tôi chuyển đến Shawshank. Khu quản trị mới đang được xây dựng và có mười bốn tù nhân đã thoát ra ngoài bằng các thiết bị xây dựng lấy từ nhà kho khóa sơ sài. Cả khu vực Maine miền Nam được phen thất kinh trước mười bốn “tên tội phạm khát máu” này, dù thật ra đa phần cả đám bọn họ sợ đến mất mật, chẳng biết mình nên đi đâu, giống lũ thỏ ngây ra trên đường cao tốc trước ánh đèn pha khi chiếc xe tải to đùng đang lao tới. Chẳng ai trong số mười bốn tên tẩu thoát thành công. Hai trong số đó bị bắn chết – do dân thường bắn chứ không phải cảnh sát hay nhân viên nhà tù – nhưng không ai thoát được.

Vậy tính từ năm 1938, lúc tôi vào đây, đến cái ngày tháng Mười lần đầu tiên Andy nhắc đến Zihuatanejo với tôi, có bao nhiêu tù nhân thực sự vượt ngục thành công? Cộng cả thông tin của tôi và của Henley, tôi sẽ nói con số là mười người. Mười người cao chạy xa bay. Và dù khó lòng xác nhận chắc chắn, tôi đoán chí ít một nửa trong số này đang bóc lịch ở trong các nhà tù trình độ học thức kém như Shawshank. Vì con người ta quả thật sẽ bị thui chột ý chí khi ở tù. Khi ta cướp đi tự do của một người và dạy anh ta sống quanh quất trong buồng giam, dường như anh ta mất đi khả năng suy nghĩ theo nhiều phương diện. Anh ta giống con thỏ tôi vừa nhắc tới, bàng hoàng đến cứng người trước ánh đèn pha của chiếc xe sắp sửa giết chết nó. Phần nhiều trường hợp, kẻ vừa được ra tù sẽ bày trò gì đó ngu ngốc mà chẳng có cơ hội thành công... tại sao vậy? Vì điều đó sẽ đưa anh ta vào lại bên trong. Về lại nơi anh ta hiểu cách thức mọi thứ vận hành.

Andy không phải tuýp người đó, nhưng tôi thì có. Ý tưởng ngắm nhìn Thái Bình Dương nghe qua thì êm tai đấy, nhưng tôi sợ rằng tôi sẽ hoảng hết hồn vía khi thực sự có mặt ở đó – trước cái bao la của biển cả.

Nói tóm lại, cái ngày chúng tôi trao đổi với nhau về Mexico, về ông Peter Stevens... là ngày tôi bắt đầu nhen nhóm trong lòng niềm tin rằng Andy đang mưu tính đến việc thực hiện một màn biến mất. Tôi cầu với Chúa, anh ta sẽ thật cẩn trọng nếu làm điều đó, song tôi sẽ không cược tiền cho xác suất anh ta thành công. Bạn cũng thấy còn gì, quản ngục Norton theo dõi Andy với ánh mắt sát sao hơn cả cú vọ. Trong mắt Norton, Andy không phải gã tù nhân ngu độn gắn với một con số; mà mối quan hệ của họ là mối quan hệ làm ăn. Ngoài ra, Andy có khối óc và có trái tim. Một thứ, Norton quyết tâm tận dụng, thứ còn lại, hắn quyết nghiền nát.

Ngoài kia vẫn có những chính trị gia trung thực – những kẻ cứ đút lót là xong chuyện – thì trong này, cũng có những lính gác trung thực, và nếu bạn có mắt nhìn người, có đủ tiền lo lót, tôi đồ rằng bạn có thể dùng tiền mua chuộc để họ nhắm mắt làm ngơ giúp bạn dễ bề đào tẩu. Tôi sẽ không nói điều này là bất khả thi, nhưng riêng Andy Dufresne thì càng không thể làm điều đó. Vì như tôi vừa kể, Norton theo dõi sát sao. Andy biết điều đó, đám lính gác cũng vậy.

Không ai tiến cử Andy tham gia vào chương trình Trong Ra Ngoài, chí ít là chừng nào quản ngục Norton còn là kẻ đánh giá các trường hợp đề xuất. Mà chưa kể, Andy không phải tuýp người sẽ thử vượt ngục theo cái cách đầy ngẫu hứng như Sid Nedeau.

Nếu tôi là anh ta, suy nghĩ về chiếc chìa khóa ấy sẽ giày vò tôi khôn nguôi. Hằng đêm, chắc tôi chỉ chợp mắt được hai tiếng đồng hồ là cùng, mà thế đã quá ư là may mắn. Buxton cách Shawshank chưa tới 50 ki lô mét. Gần ngay trước mặt mà xa tận chân trời.

Tôi vẫn nghĩ cách chắc ăn nhất là thuê một luật sư và cố xin tái xét xử. Bất cứ điều gì để thoát khỏi vòng kiểm tỏa của Norton. Đúng là Tommy Williams có thể bị bịt miệng chỉ bằng một chương trình ngày nghỉ nhàn nhã, nhưng tôi không khẳng định chắc chắn đâu. Có thể một gã luật sư cao tay nào đấy ở Mississippi sẽ cạy được miệng cậu ta... và có khi tay luật sư ấy còn chẳng phải dụng sức quá nhiều. Williams thật sự rất quý Andy. Thỉnh thoảng, tôi sẽ nhắc những luận điểm này với Andy, song anh ta chỉ mỉm cười, đôi mắt nhìn về xa xăm rồi đáp anh cũng đang cân nhắc.

Rõ ràng anh ta đang cân nhắc rất nhiều điều khác nữa.

Vào năm 1975, Andy Dufresne đã trốn thoát khỏi nhà tù Shawshank. Anh ta chưa bị bắt giữ trở lại, và tôi cho rằng sẽ không ai bắt được anh ta. Hay nói đúng hơn, tôi không nghĩ Andy Dufresne còn tồn tại trên đời. Song tôi đồ rằng ở Zihuatanejo, Mexico có một người đàn ông mang tên Peter Stevens. Có thể hiện tại, anh ta vừa đưa vào kinh doanh một khách sạn nho nhỏ vào năm 1976.

Tôi sẽ kể với bạn những gì tôi biết và ý kiến của tôi; thì tôi chỉ có thể làm vậy chứ biết làm gì khác?

Vào ngày 12 tháng Ba năm 1975, các cửa buồng giam Khu số 5 mở ra vào lúc 6 giờ 30 phút như bao buổi sáng trong tuần trừ ngày Chủ nhật khác. Và như những ngày bình thường trừ ngày Chủ nhật, tù nhân trong các buồng giam bước ra ngoài hành lang và xếp thành hai hàng khi cửa buồng đóng sập lại sau lưng. Họ bước ra cổng chính của khu buồng giam, ở đó sẽ có hai lính gác điểm danh số lượng trước khi họ được xuống căng tin ăn bữa sáng bằng yến mạch, trứng bác và thịt hun khỏi béo mỡ.

Mọi thứ đi theo nhịp điệu thường nhật cho đến thời điểm điểm danh ở cổng khu buồng giam. Đáng lý ra phải có hai mươi bảy người, vậy mà chỉ đếm được hai mươi sáu. Sau khi gọi cho trưởng nhóm lính gác, khu buồng giam số 5 được cho phép đi ăn sáng.

Trưởng nhóm lính gác, một tay đàng hoàng ngoài kỳ vọng mang tên Richard Gonyar và gã trợ lý lúc nào cũng hớn ha hớn hở mang tên Dave Burkes ngay lập tức đến Khu buồng giam số 5. Gonyar mở cửa buồng giam, gã và Burkes cùng nhau đi dọc theo hành lang, kéo dùi cui qua các chấn song và thủ sẵn khẩu súng trên tay. Trong trường hợp như vậy, thường nguyên nhân sẽ là tù nhân bất ngờ đổ bệnh trong đêm, đến độ sáng nay không thể bước ra khỏi buồng giam. Ngoài ra, trường hợp hiếm hơn là tù nhân đã chết... hoặc tự sát.

Nhưng lần này, họ thấy một điều bí ẩn, chứ chẳng thấy ai ốm, ai chết. Họ không tìm được bất cứ tù nhân nào. Ở khu buồng giam số 5 có mười bốn buồng, mỗi bên có bảy buồng, tất cả đều tương đối ngăn nắp – tại Shawshank, hạn chế quyền thăm hỏi là hình phạt nếu để buồng giam lôi thôi – và cái nào cũng trống không.

Điều đầu tiên Gonyar rút ra là ban nãy điểm danh sai hoặc đây là trò chơi khăm. Vậy nên thay vì đi làm sau khi ăn sáng, các tù nhân của khu buồng giam số 5 được đưa về buồng giam, vừa đi vừa hào hứng bông đùa. Người ở đây ai cũng chào đón guồng quay thường nhật bị phá vỡ.

Cửa buồng giam mở ra; các tù nhân bước vào; cửa buồng đóng lại. Gã hề nào đấy hét toáng lên, “Tôi muốn gọi luật sư, tôi muốn gọi luật sư, các người điều hành nơi này chẳng khác nào nhà tù.”

Burkes: “Ngậm mồm lại, kẻo tao cho mày ra bã bây giờ.”

Gã hề: “Tao cho vợ mày ra bã thì có, Burkie.”

Gonyar: “Tất cả im hết đi kẻo tôi cho các người chết gí trong này nguyên hôm nay đấy.”

Gã và Burkes lại cùng nhau đi dọc theo lối đi, đếm đầu người. Họ không cần phải đi quá xa.

“Buồng giam này của ai?” Gonyar hỏi tay lính trực đêm bên phải.

“Andrew Dufresne,” tay lính trực đêm trả lời, và chỉ cần có thể. Ngay lúc ấy, mọi thứ đã không còn đi theo guồng quay vốn có. Kinh thiên động địa rồi đây.

Trong tất cả những bộ phim nhà tù tôi từng xem, khi có tù vượt ngục, còi hụ lên réo rắt. Nhưng ở Shawshank thì không bao giờ xảy ra chuyện đó. Việc đầu tiên Gonyar làm là liên lạc với quản ngục. Việc thứ hai là tiến hành lục soát nhà tù. Việc thứ ba là cảnh báo với lực lượng cảnh sát bang ở Scarborough về khả năng có tù nhân vượt ngục.

Thủ tục là thế. Thủ tục không yêu cầu họ kiểm tra buồng giam của tù nhân nghi ngờ vượt ngục, thành thử lúc đó, chẳng ai làm vậy. Họ kiểm tra vì lý do gì kia chứ? Mọi thứ rành rành trước mắt thế kia mà. Căn phòng thì nhỏ xíu, song chắn còn nguyên trên cửa sổ và cửa trượt. Có một bồn cầu và một giường ngủ trống trơn. Trên bậu cửa sổ trưng vài hòn đá xinh xẻo.

Và tất nhiên, còn có tấm áp phích. Thời điểm đó, áp phích là hình Linda Ronstadt. Nó treo ngay trên giường ngủ. Suốt 26 năm nay luôn có áp phích treo đúng vị trí đó. Và khi bọn họ – trong trường hợp này, hóa ra chính quản ngục Norton là kẻ phát hiện, đúng là ông trời có mắt – nhìn đằng sau bức hình, họ được dịp thất kinh hồn vía.

Nhưng phải đến 6 giờ 30 phút tối hôm ấy điều đó mới xảy ra, tức là gần mười hai tiếng đồng hồ sau khi nhà tù thông báo Andy đã mất tích, và có lẽ đã hai mươi tiếng trôi qua từ lúc anh ta vượt ngục.

Norton nổi cơn tam bành.

Tôi nghe từ nguồn tin đáng tin cậy – còn ai trồng khoai đất này ngoài Chester, ngày hôm ấy, lão đang chà sàn trong sảnh Khu Quản trị. Lão không cần áp cái tai dơ dáy đầy ráy vào lỗ khóa nào để nghe lỏm; lão kể người ta có thể nghe thấy tiếng tay quản ngục gào rỗng vẳng xuống tận phòng Hồ sơ khi hắn ta mắng như tát nước vào mặt Rich Gonyar.

“Ý anh là sao, anh đủ cơ sở khẳng định hắn ta không còn ở trong khu vực nhà tù? Câu này có nghĩa gì hả? Nó có nghĩa anh chưa tìm hắn đấy! Mau đi tìm hắn cho tôi! Đi ngay! Vì tôi muốn hắn ta! Anh có nghe tôi nói không? Tôi muốn hắn ta!”

Gonyar nói gì đó.

“Chuyện này không xảy ra trong ca của anh sao? Anh nói thì nói thế, nhưng theo tôi thấy, chẳng ai biết chuyện xảy ra khi nào. Hoặc bằng cách nào. Hoặc thậm chí nó có xảy ra hay không. Nói tóm lại, tôi muốn hắn ta có mặt trong văn phòng của tôi trước 3 giờ chiều nay, không thì đừng trách tôi độc ác. Tôi có thể hứa với anh điều đó, và tôi luôn luôn giữ lời đấy.”

Gonyar rì rầm đáp lại, chẳng biết nói gì nhưng chỉ tổ đổ thêm dầu vào lửa giận của Norton.

“Không ấy à? Thế thì nhìn cái này đi! Banh mắt ra nhìn cái này đi! Anh có nhận ra nó không? Bản điểm danh hôm qua của Khu buồng giam số 5 đấy. Tù nhân đầy đủ cả! Dufresne đã bị khóa trong buồng giam vào 9 giờ tối qua, nên không lý nào hắn ta có thể cao chạy xa bay được! Không lý nào! Giờ thì đi tìm hắn ngay cho tôi!

Nhưng đến ba giờ chiều hôm ấy vẫn không rõ tung tích Andy ở đâu. Vài tiếng sau, Norton thân chinh xuống tận khu buồng giam số 5, nơi họ giam đám chúng tôi nguyên ngày hôm ấy. Chúng tôi có bị tra hỏi hay không à? Cả ngày dài hôm ấy, chúng tôi bị tra hỏi bởi đám lính gác như đỉa phải vôi đang cảm thấy con rồng phà hơi vào gáy mình. Chúng tôi đưa ra câu trả lời giống nhau: chúng tôi không thấy gì, cũng không nghe gì. Và theo như những gì tôi biết, cả đám đều đang nói sự thật. Chí ít tôi là thế. Tất cả những gì chúng tôi có thể khai là Andy đã ở trong buồng giam của anh vào thời điểm khóa cửa và vào lúc tắt đèn một tiếng sau đó.

Có kẻ lanh chanh đùa Andy đã tuồn mình qua lỗ khóa. Cái miệng hại cái thân, rốt cuộc hắn lãnh bốn ngày trong phòng biệt giam. Họ đang rất bực dọc.

Thế là Norton xuống khu buồng giam – hay nói đúng hơn là ào ào lao xuống – lườm chúng tôi bằng đôi mắt xanh nóng phừng phừng, thiếu điều tóe ra tia lửa từ phía ngoài những chấn song bằng thép đã tôi quanh lồng của chúng tôi. Hắn ta nhìn chúng tôi như thế hắn tin rằng tất cả chúng tôi đồng lõa trong vụ này. Khéo có khi hắn tin như thế thật ấy chứ.

Hắn bước thẳng vào buồng giam của Andy rồi nhìn quanh. Mọi thứ vẫn nguyên vẹn như lúc Andy bỏ lại, tấm trải giường bị lật ngược nhưng không hằn vết người ngủ. Những hòn đá trên bậu cửa sổ... nhưng không phải tất cả. Andy đã mang theo những viên anh thích nhất.

“Đá với chả điếc,” Norton rít lên rồi gạt chúng khỏi bậu cửa, đá rơi lách cách trên sàn. Gonyar nhăn mặt nhưng không nói gì.

Ánh nhìn của Norton lia tới tấm áp phích của Linda Ronstadt. Linda đang nhìn ra sau vai, hai tay thọc vào túi sau của chiếc quần bó cực sát màu nâu vàng. Nàng ta đang mặc áo yếm, làn da rám nắng bánh mật đậm chất California. Tấm áp phích ấy hẳn là khiến lòng mộ đạo nhiệt thành của Norton thấy chướng lắm. Nhìn cảnh mắt hắn ta long lên trước bức hình ấy, tôi lại nhớ đến việc Andy từng nói anh cảm thấy như mình có thể bước qua bức hình và ở bên cạnh mỹ nhân kia.

Xét trên thực tế, đó chính là những gì anh ấy đã làm — chỉ vài giây nữa thôi, Norton sẽ phát hiện ra điều đó.

“Thứ lăng loàn!” hắn gầm gừ rồi vung tay xé toạc tấm áp phích khỏi tường.

Để rồi lộ ra trước mặt hắn là một cái lỗ toang hoác, vỡ vụn trong bức tường bê tông đằng sau.

Gonyar nhất quyết không chui vào.

Mặc cho Norton ra lệnh – lạy Chúa, có khi cả cái nhà tù này đều nghe thấy Norton ông ổng yêu cầu Rich Gonyar chui vào trong – Gonyar thẳng thừng từ chối.

“Tao sẽ cho mày mất việc!” Norton rống lên. Hắn ta điên cuồng chẳng khác nào bà la sát đang nổi cơn thịnh nộ. Vẻ đạo mạo đã bay biến cả. Cổ hắn biến thành màu đỏ quạch, mạch máu vằn vện nổi rõ, giật giật trên trán. “Mày cứ chống mắt lên mà xem, thằng... thằng người Pháp chết toi kia! Tao sẽ cho mày mất việc và tao sẽ khiến mày dù kiếm đỏ mắt cũng không có nổi công việc trong hệ thống nhà tù ở New England này!”

Gonyar im lặng đưa khẩu súng lục cho Norton, báng súng chĩa ra trước. Đến nước này thì con giun xéo lắm cũng quằn. Gã đã phải làm lỗ thời gian đến hai tiếng đồng hồ, sắp sửa thành ba tiếng, thế này là quá đủ rồi. Tựa hồ việc Andy trốn thoát khỏi gia đình nhỏ bé hạnh phúc này đã đẩy Nortton xuống cái vực phi lý trí vốn đã tồn tại bao lâu nay... đêm ấy, hắn ta như kẻ cuồng dại.

Tất nhiên tôi không biết cái phi lý trí ấy là gì, chỉ biết có hai mươi sáu tù nhân đã nghe thấy Norton mắng chửi Rich Gonyar thậm tệ vào buổi tối hôm ấy, khi những tia sáng cuối cùng của ngày tàn phai dần khỏi bầu trời cuối đông đầy mây, tất cả chúng tôi, những kẻ bóc lịch ròng rã bao tháng năm, chứng kiến biết bao đời quản lý đến rồi đi, bất kể là loại lỳ đòn hay loại đốn mạt, và chúng tôi đều biết quản ngục Samuel Norton vừa vượt qua ranh giới mà các kỹ sư hay gọi với cái tên “biến dạng do áp lực.”

Và thề có Chúa, dường như tôi đã nghe thấy tiếng Andy Dufresne cười văng vẳng.

Norton cuối cùng cũng kiếm được một tay lêu khêu như cò hương vào ca trực đêm hôm đó chui vào cái lỗ đằng sau tấm áp phích Linda Ronstadt của Andy. Tên của gã lính ốm o ấy là Rory Tremont, gã không hẳn là dạng thông minh sáng dạ cho lắm. Có lẽ gã này tưởng mình sẽ được trao thưởng huy chương Ngôi sao Đồng hay gì đó nhờ chiến công này thì phải. Nhìn chung, Norton đã may mắn kiếm được một người có chiều cao và tạng người tương đương Andy để chui vào lỗ; nếu để một gã to con chui vào – mà hầu hết lính gác nhà tù đều to cao vạm vỡ – chắc như đinh đóng cột là thể nào gã ấy cũng mắc kẹt bên trong... và có khi đến giờ gã sẽ vẫn kẹt dưới đấy.

Tremont chui vào cái lỗ với sợi dây thừng nhỏ bằng nylon mà ai đó tìm được trong cốp xe cột quanh hông, một tay cầm đèn pin loại lớn sử dụng sáu cục pin. Đến lúc ấy, Gonyar đã thay đổi suy nghĩ, không tính bỏ việc nữa, và xem chừng gã là kẻ duy nhất còn tư duy mạch lạc. Gã đã lục ra một tập bản vẽ. Tôi thừa biết bản vẽ ấy là gì – mặt cắt ngang của một bức tường trông như bánh mì kẹp. Cả bức tường dày ba mét. Phần ngoài và phần trong, mỗi phần dày một mét hai. Ở giữa là đường ống rộng 60 phân, và hẳn bạn cũng đã lờ mờ nhận ra điểm mấu chốt ở đây... cho rất nhiều thứ chứ không phải chỉ một.

Giọng của Tremont vang từ cái lỗ, nghe trầm đục, chết chóc. “Dưới này hôi thối khiếp, quản ngục ạ.”

“Kệ nó! Đi tiếp đi!”

Cẳng chân của Tremont biến mất vào cái lỗ. Phút sau, bàn chân gã cũng mất dạng luôn. Ánh đèn pin của gã yếu ớt chiếu qua chiếu lại.

“Thưa quản ngục, mùi hôi kinh khủng khiếp ạ.”

“Ta bảo kệ nó!” Norton gào lên.

Giọng của Tremont khốn khổ vẳng lên: “Như mùi cứt vậy. Ôi Chúa ơi, chính thế, đây chính là cứt, ôi lạy Chúa tôi, cho tôi ra khỏi đây kẻo tôi mửa tất tần tật ra ngoài bây giờ ôi cứt đái quá là cứt ôi Chúa ơi...” Và theo sau là tiếng động không thể nào nhầm lẫn khi Rory Tremont ộc ra mấy bữa ăn trong dạ.

Chà, đến đây thì tôi chịu hết nổi. Tôi không thể nào nhịn nữa! Bao nhiêu sự kiện của cả ngày hôm nay – à không, của 30 năm qua – chợt tựa thác lũ ồ ạt ập đến, và tôi bắt đầu cười như điên như dại, tràng cười sang sảng mà tôi chưa bao giờ có kể từ lúc còn tự do, kiểu cười tôi không nghĩ mình sẽ có trong bốn bức tường xám xịt này. Và ôi Chúa ôi, mới sảng khoái làm sao!

“Đưa hắn ra khỏi đây!” quản ngục Norton hét toáng lên, và tôi cười lăn cười bò, đến độ chẳng biết hắn ta đang ám chỉ tôi hay Tremont. Tôi cứ thế cười, chân khua loạn xạ, tay ôm bụng. Giả như Norton có dọa cho tôi xơi kẹo đồng ngay đó chăng nữa, có khi tôi cũng chẳng ngưng cười nổi. “Đưa bắn ra!”

Chà, thưa bà con cô bác, tôi chính là kẻ được giải đi. Thẳng xuống phòng biệt giam, tôi ở đấy suốt mười lăm ngày. Dài ra phết. Nhưng thỉnh thoảng, tôi lại nhớ đến cái tay Rory Tremont bã đậu đáng thương ấy gào lên ôi cứt đái quá là cứt , rồi tôi lại nghĩ về việc Andy Dufresne đang bon bon trên chiếc xe của mình, thẳng tiến về phương Nam, diện bộ com lê bảnh bao, và tôi lại phá lên cười. Suốt mười lăm ngày trong phòng biệt giam, tôi cười không biết bao nhiêu lần. Có lẽ là vì một nửa hồn tôi đang phiêu du cùng Andy Dufresne, anh chàng Andy Dufresne đã lội qua cứt rồi bước ra sạch sẽ ở phía bên kia, anh chàng Andy Dufresne đang tiến đến Thái Bình Dương.

Tôi nghe phần còn lại của buổi tối hôm ấy từ năm, sáu nguồn khác nhau. Thật ra cũng chẳng có gì nhiều nhặn. Xem chừng Rory Tremont nhận ra sau khi mất bữa trưa và bữa tối, hắn chẳng còn bao nhiêu thức ăn trong bụng để mất nữa, vì hắn đi tiếp. Không sợ bị rơi xuống ống bao trục giữa phần ngoài và phần trong ca tường buồng giam; nó quá hẹp, thành thử Tremont phải lách người xuống. Về sau, gã kể gã chỉ dám thở thật nông, và rằng gã đã hiểu bị chôn sống có cảm giác ra sao.

Đến đáy của ống bao trục, hắn phát hiện ống cống tổng phục vụ cho mười bốn bồn cầu ở khu buồng giam số 5, một ống bằng sứ được lắp đặt cách đây ba mươi ba năm. Nó đã bị đục thủng. Bên cạnh cái lỗ nham nhở trên ống cống, Tremont tìm thấy cây búa đục đá của Andy.

Andy đã tìm lại được tự do, song hành trình ấy không hề dễ dàng.

Ống cống thậm chí còn hẹp hơn cả ống bao trục mà Tremont vừa chui. Rory Tremont không chui vào trong, và theo như những gì tôi được biết, không ai dám chui vào cả. Gớm đến thế thì hẳn có là thánh cũng phải sợ. Tremont đang săm soi cái lỗ và cây búa đục đá thì bất thình lình, một con chuột lao ra khỏi ống, và sau này gã thề nó to gần bằng một chú cún Cocker Spaniel. Hắn cuống cuồng chui ngược trở lại lên buồng giam của Andy.

Andy đã chui vào cái ống ấy. Có lẽ anh biết nó chảy vào một con suối cách nhà tù 450 mét về khu vực đầm lầy phía tây. Tôi cho là thế. Bản vẽ nhà tù có sẵn, và hẳn Andy đã xoay xở tìm cách xem nó. Anh vốn là một gã cực kỳ hệ thống. Hẳn anh đã biết hoặc phát hiện ra ống cống chảy từ Khu buồng giam số 5 là ống cống cuối cùng ở Shawshank không nối vào nhà máy xử lý chất thải mới xây dựng nào, và có lẽ anh biết một là anh phải thực hiện cú đào tẩu trước lúc giữa năm 1975 hoặc mất đi cơ hội vô tiền khoáng hậu, bởi tháng Tám tới đây, họ sắp sửa chuyển hệ thống cống sang nhà máy xử lý chất thải mới.

450 mét. Chiều dài của năm sân bóng dầu dục. Non nửa dặm. Anh ta đã bò khoảng chừng ấy, có lẽ thủ theo chiếc đèn pin cỡ nhỏ, hoặc có khi chẳng cầm gì ngoài vài xấp diêm. Anh ta bò qua bao xú uế nhơ bẩn tôi không tài nào tưởng nổi, cũng chẳng ham hình dung làm gì. Tôi tự hỏi đám chuột đã chít chít chạy tán loạn trước mặt anh ta, hay chúng nhào tới anh ta theo cái cách những con vật thỉnh thoảng lồng lên khi chúng thu đủ can đảm trong bóng tối. Hẳn vai anh ta chỉ có vừa đủ không gian để di chuyển, và có lẽ anh đã phải dụng sức lách người qua những đoạn giao nhau của đường ống. Nếu là tôi, có lẽ nỗi sợ không gian chật sẽ khiến tôi phát điên vài chục lần là ít. Vậy mà anh ta vẫn làm được.

Ở cuối ống cống, họ phát hiện những dấu chân đầy bùn từ một nhánh sông có phần tù đọng, ô nhiễm mà ống cống đổ vào. Cách đó hơn ba cây số, đội tìm kiếm phát hiện đồng phục tù nhân của anh ta – nhưng khi đó đã là một ngày sau.

Có lẽ bạn cũng đoán ra, câu chuyện trở thành đề tài sốt dẻo cho báo giới, nhưng trong bán kính 25 ki lô mét từ nhà tù, không ai lên tiếng thông báo xe ô tô bị đánh cắp, quần áo bị lấy trộm hay thấy một người đàn ông trần như nhộng dưới ánh trăng. Cũng chẳng có tiếng chó sủa trong nông trang. Anh ta bước ra khỏi ống cống rồi biến mất tựa làn khói.

Nhưng tôi dám cá anh ta biến mất về hướng Buxton.

Ba ngày sau cái hôm đáng nhớ ấy, quản ngục Norton từ nhiệm. Tôi rất lấy làm sung sướng hoan hỉ được báo rằng hắn ta như kẻ mất hồn. Bước chân hắn không còn vẻ phăm phăm nữa. Vào ngày làm việc cuối cùng, hắn lê chân, cúi gằm đầu như tên tù nhân già đang lê bước xuống bệnh xá xin thuốc giảm đau. Gonyar là người thế chỗ hắn, và với Norton, ắt hẳn đây là vết cứa trí mạng nhất. Theo những thông tin tôi nghe ngóng được, Sam Norton hiện đang ở Eliot, chăm chỉ đi lễ ở nhà thờ Baptist vào Chủ nhật hàng tuần; và tự hỏi làm thế quái nào cái tay Andy Dufresne ấy lại trên cơ hắn như thế.

Giá mà tôi có thể giải đáp cho hắn rằng câu hỏi ấy cũng chính là câu trả lời rồi. Có người hiểu, Sam ạ. Có người không, hiện tại không, sau này cũng không.

Đó là những gì tôi biết; giờ tôi xin kể cho bạn nghe ý kiến của mình. Tôi có thể sai ở một vài chi tiết, nhưng tôi sẵn sàng đem chiếc đồng hồ bỏ túi của mình ra cược rằng tôi nắm được những điểm chính yếu. Vì với người có tính cách như Andy, chỉ có thể có một hoặc hai trường hợp mà thôi. Đôi khi ngẫm về chuyện này, tôi lại nghĩ đến Normaden, cái tay Anh-điêng đầu óc hơi chập cheng. “Tay đấy tốt,” Normaden nhận xét sau khi ở chung buồng giam với Andy suốt tám tháng trời. “Được đi kể cũng mừng. Buồng ấy thông thống gió. Lúc nào cũng buốt. Anh ta không cho ai đụng vào mình. Cũng được thôi. Tay đấy tốt, không chế nhạo. Nhưng gió buốt quá.” Rõ là tội nghiệp cho tay Normaden hâm hấp ấy. Anh ta biết nhiều hơn tất cả đám chúng tôi, và anh ta biết sớm hơn nhiều. Mất tám tháng ròng rã Andy mới có thể tống khứ bạn tù của mình đi để ở một mình một cõi như trước. Nếu không có tám tháng Normaden ở chung buồng giam sau khi quản ngục Norton mới nhậm chức, tôi cho rằng Andy sẽ tự do từ trước khi Nixon từ chức.

Giờ nhìn lại, tôi tin rằng mọi sự nhen nhóm từ năm 1949, một quãng thời gian quá đỗi xa xôi – không phải với cây búa đục đá mà là với tấm áp phích Rita Hayworth. Tôi đã kể với bạn lúc hỏi mua tấm áp phích chỗ tôi, trông anh ta vô cùng căng thẳng, cứ nhấp nhổm và kìm nén sự vui thích đúng không? Lúc đó, tôi cứ nghĩ là do anh ta ngại, rằng Andy là típ người không bao giờ muốn người khác biết anh ta cũng là người trần mắt thịt, có ham mê nhục dục... đặc biệt đây là một bóng hồng trong tưởng tượng. Nhưng giờ ngẫm lại, tôi đã nhầm. Giờ tôi mới nhận ra sự hào hứng ấy của Andy xuất phát từ một nguyên nhân hoàn toàn khác.

Đâu là thứ góp phần tạo nên cái lỗ mà quản ngục Norton tìm ra đằng sau tấm áp phích của cô thiếu nữ thậm chí còn chưa sinh ra lúc tấm hình Rita Hayworth được chụp? Tất nhiên không thể không kể đến tinh thần kiên nhẫn và chăm chỉ của Andy Dufresne – riêng điều này, tôi hoàn toàn công nhận. Nhưng còn hai yếu tố khác trong phương trình: rất nhiều may mắn và bê tông WPA.

Chắc bạn chẳng cần tôi phải giải thích yếu tố may mắn nhỉ. Còn bê tông WPA là thông tin tôi tự tìm hiểu. Đầu tư chút thời gian và vài con tem, trước hết, tôi biên thư cho Khoa Lịch sử Đại học Maine rồi tiếp tục gửi thư cho người tôi xin được địa chỉ. Người này ngày xưa là quản đốc của công trình WPA xây dựng Khu An ninh Tối đa Shawshank.

Khu này bao gồm Khu buồng giam số 3, 4 và 5, được xây dựng trong giai đoạn 1934-37. Hiện tại, đa phần mọi người không nghĩ rằng xi măng và bê tông là “các phát triển công nghệ”, giống như chúng ta đã quá quen với ô tô, lò sưởi cũ và tàu tên lửa nên chẳng nghĩ chúng mang tính cách cột mốc, dù thật ra là thế. Phải đến khoảng năm 1870 xi măng hiện đại mới được đem vào sử dụng, và bước qua thêm thế kỷ mới chúng ta mới có bê tông hiện đại. Trộn bê tông là công việc yêu cầu sự khéo léo chẳng khác nào làm bánh. Ta có thể trộn ra hỗn hợp quá ướt hoặc quá khô. Ta có thể khiến hỗn hợp cát quá đặc hoặc quá lỏng, hỗn hợp sỏi cũng thế. Hồi năm 1934, phương thức trộn bê tông không được công phu như bây giờ.

Tường của Khu buồng giam số 5 đủ cứng nhưng không khô ráo và rắn hoàn toàn. Do vậy, từ ngày trước và đến cả bây giờ, chúng khá ẩm ướt. Sau khoảng thời gian mưa liên tục kéo dài, tường sẽ rịn ướt, lắm lúc nước còn tong tỏng. Các vết nứt cứ thể xuất hiện, nhiều chỗ sâu hơn hai phân. Cứ một thời gian người ta lại phải tô trát một lần.

Và rồi Andy Dufresne được chuyển vào khu buồng giam số 5. Anh ta tốt nghiệp đại học Maine khoa kinh doanh, nhưng anh ta cũng từng theo học hai hay ba khóa địa chất học. Cụ thể hơn, địa chất học trở thành thú tiêu khiển chính của anh ta. Tôi suy đoán nó thu hút bản tính kiên trì, tỉ mỉ của anh ta. Nào kỷ băng hà mười nghìn năm. Nào ngọn núi sừng sững đắp bồi qua cả triệu năm. Các tầng địa chất ma sát vào nhau sâu bên dưới lớp vỏ của Trái đất suốt thiên niên kỷ. Áp lực . Andy từng nói với tôi suy cho cùng, địa chất học là bộ môn nghiên cứu về áp lực.

Và tất nhiên là thời gian nữa.

Andy có thời gian để nghiên cứu những bức tường ấy. Rất nhiều thời gian là đằng khác. Khi cửa buồng giam đóng lại, đèn tắt, chẳng còn gì khác để nhìn với ngó.

Những tù nhân mới đến thường sẽ gặp khó khăn trong việc thích nghi với không gian tù túng của cuộc sống trong tù. Họ phát rồ vì bị quản thúc bởi lính gác. Thỉnh thoảng vài người còn bị lôi xuống bệnh xá để tiêm cho vài mũi an thần trước khi cho họ hòa nhập vào lối sinh hoạt ở đây. Một thành viên mới của gia đình nhỏ hạnh phúc này đập vào chấn song và la hét đòi được thả ra... tiếng gào thét kéo dài chưa lâu thì cả khu buồng giam đã ông ổng hát: “ mới, chú cá mới ơi, cá mới ơi, ôi mới, hôm nay có mới!” [12E]

Lúc đến Shawshank vào năm 1948, Andy không mất tự chủ như thế, song điều đó không có nghĩa trong lòng anh ta không ngổn ngang những cảm xúc tương tự. Thậm chí anh ta còn tiến gần đến điên loạn; vài người phát rồ thật, số khác mấp mé ngay bên mép. Cuộc sống cũ bị thổi bay trong chớp mắt, cơn ác mộng không có hồi hết cứ thế trải rộng trước mắt, khổ ải đằng đẵng dưới địa ngục.

Vậy xin hỏi bạn, anh biết làm thế nào? Gần như quẫn trí, anh ta tìm kiếm thứ để phân tán tâm trí quay cuồng của mình. Ô phải, có đủ cách để ta khiến mình phân tâm, ngay cả trong ngục tù; dường như tâm trí con người chứa vô vàn những khả năng phân tán tư tưởng. Tôi đã kể cho bạn nghe về gã tạc tượng điêu khắc và Tam Thời Giê-su của gã. Có người chọn sưu tập đồng xu, dù lúc nào cũng bị trộm mất bộ sưu tập của đó, những người sưu tập tem, một số thu thập bưu thiếp từ ba mươi lăm quốc gia khác nhau – và để tôi nói bạn nghe, họ sẵn sàng cho bạn nổ đom đóm mắt nếu phát hiện bạn nghịch phá mấy tấm thiệp ấy đấy.

Còn Andy thì hứng thú với đá. Cũng như tường buồng giam.

Tôi nghĩ ban đầu anh ta chắc chỉ định khắc tên viết tắt của mình lên bức tường nơi tấm áp phích của Rita Hayworth chẳng bao lâu sau sẽ được treo lên. Các chữ cái viết tắt tên anh, hoặc có thể là vài dòng thơ nào đó. Nhưng nào ngờ, anh phát hiện bê tông ở đây yếu đến lạ thường. Có thể anh đang khắc tên mình thì một khối đá lớn bất thình lình rơi ra. Tôi có thể tưởng tượng cảnh anh ta nằm trên giường, trân trân nhìn khối bê tông vỡ được lật tới lật lui trong tay. Mặc kệ cái cuộc đời khốn nạn từ đầu chỉ cuối này, mặc kệ việc anh ta bị vu oan giá họa để rồi bị bao vận hạn đen đủi đẩy vào đây. Hãy quên tất cả và tập trung nhìn thật kỹ khối bê tông này.

Vài tháng trôi qua, có thể anh đã quyết định thử xem sức của mình có thể đục bức tường sâu đến đâu. Nhưng bạn không thể cứ thế đào tường, để rồi khi lính gác tới kiểm tra hàng tuần (hoặc kiểm tra đột xuất mà thể nào cũng tìm ra những chai rượu, thuốc, ảnh đồi trụy và vũ khí được giấu kín), bạn có thể bảo với gã lính rằng: “Cái này hả? Tôi đào lỗ trên tường một chút cho vui ấy mà. Không có gì đáng lo đâu, thưa bạn hiền.”

Không, có mà thần kinh mới làm thế. Vậy nên, anh ta đã đến chỗ tôi hỏi liệu tôi có thể kiếm cho anh ta tấm áp phích của Rita Hayworth hay không. Không phải khổ nhỏ mà là khổ to.

Và tất nhiên, anh có chiếc búa đục đá kia mà. Tôi nhớ khi thu xếp cho anh ta dụng cụ ấy hồi năm 48, tôi đã nghĩ một người sẽ mất khoảng sáu trăm năm để đào hầm xuyên qua bức tường bằng cây búa ấy. Điều đó đúng. Nhưng Andy chỉ cần đào một nửa bức tường – và dù bê tông bở vụn chăng nữa, anh ta vẫn cần hai cây búa đục đá và 27 năm ròng để thực hiện.

Và tất nhiên, anh ta hụt mất gần một năm vì Normaden, chưa kể, anh ta chỉ có thể làm vào ban đêm, càng khuya càng tốt, khi gần như tất cả mọi người đều đã chìm vào giấc ngủ – bao gồm cả những tay lính trực ca đêm. Song tôi ngờ rằng thứ chi phối tốc độ của anh ta nhất chính là phần xử lý chỗ tường anh ta đã đục ra. Anh ta có thể triệt tiêu tiếng mình đục đẽo bằng cách quấn đầu búa bằng vải đánh bóng, nhưng biết làm thế nào để xử lý phần bê tông vụn nát và những khối bê tông thỉnh thoảng lại rơi ra thành tảng đây?

Tôi đoán hẳn anh ta đã đập những khối này thành sỏi và...

Tôi còn nhớ ngày Chủ nhật sau khi tôi sắp xếp cho anh ta cây búa đục đá. Tôi nhớ tôi đã nhìn theo anh ta băng qua sân tập thể dục, mặt sưng húp sau khi đụng độ với hội tỷ muội. Tôi thấy anh ta ngồi thụp xuống, nhặt một viên sỏi... và rồi viên sỏi ấy biến mất trong tay áo anh ta. Túi trong tay áo là thứ mánh khóe xưa như trái đất trong tù. Ta có thể nhét đủ thứ trong tay áo hoặc trong gấu quần. Tôi còn một ký ức nữa, rất ấn tượng nhưng hơi mù mờ, có lẽ là cảnh tượng tôi đã thấy không chỉ một lần. Đó là hình ảnh Andy Dufresne đi qua sân tập thể dục vào một ngày mùa hè nóng nực, khi không khí lặng như tờ. Vậy mà... phải, dường như vẫn có ngọn gió hiu hiu thổi cát quanh chân Andy Dufresne.

Xem ra anh có vài chiếc túi bí mật có đầu chúc ngược trong quần, ngay dưới gối. Anh chỉ cần nhét đầy túi bí mật rồi đi tới đi lui, tay thọc túi quần, khi thấy đủ an toàn hay không bị ai quan sát, anh khẽ giật túi. Tất nhiên, túi quần của anh được nối bằng một sợi dây rất chắc vào túi bí mật kia. Để rồi anh vừa đi, đất cát bên trong vừa rơi thẳng xuống ống quần. Các tù nhân trong thế chiến thứ hai đã dùng cách này khi đào hầm trốn thoát.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, Andy cứ bền bỉ mang từng vốc tường ra sân tập thể dục. Anh ta chịu nằm dưới trướng của hết tay quản lý này đến tay quản lý khác, chúng cứ tưởng lý do là bởi anh ta muốn giữ cho thư viện hoạt động. Tôi chắc đó là một phần nguyên nhân, nhưng điều Andy thực sự nhắm tới là giữ cho Buồng giam số 14 trong Khu buồng giam số 5 là cõi một mình anh độc chiếm.

Tôi ngờ rằng thực ra, anh chẳng có kế hoạch cụ thể hay hy vọng mình sẽ thoát khỏi chốn này, chí ít ban đầu là thế. Có lẽ anh ta chỉ bâng quơ nghĩ bức tường này là khối bê tông đặc dày ba mét, và nếu anh ta đục xuyên qua tường thành công, anh ta sẽ chui ra bên ngoài, cách chín mét so với mặt sân tập thể dục. Chắc anh ta nghĩ như sau: Bảy năm trời, mình mới đào được ba mươi phân; do đó mình sẽ mất bảy mươi năm để đục thủng bức tường ấy; khi đó mình một trăm lẻ một tuổi.

Còn dưới đây là suy đoán thứ hai tôi đưa ra nếu tôi là Andy: chẳng chóng thì chầy, anh ta sẽ bị bắt quả tang và bị tống vào phòng biệt giam suốt khoảng thời gian dài cho mà xem, chưa kể còn lĩnh một vết đen rất to trên hồ sơ. Bởi tuần nào cũng có kiểm tra buồng giam, và cứ cánh hai tuần một lần, họ lại chơi chiêu đánh úp xộc vào – thường rơi vào buổi tối. Hẳn anh ta đã chuẩn bị tinh thần rằng chuyện này chẳng thể kéo dài mãi. Sớm muộn cũng sẽ có một tay lính gác vén tấm áp phích Rita Hayworth để kiểm tra xem Andy có dán chiếc muỗng mài sắc cán hay điếu cần nào lên tường hay không.

Và phản ứng của anh với suy đoán thứ hai hẳn là Chơi tới luôn chứ sợ gì . Có khi anh ta còn lấy đó làm trò chơi. Chơi xem mình có thể đào sâu đến đâu trước khi bị phát hiện. Ngục tù là chốn chán ngán đến tận cổ, và khả năng anh bị bất ngờ kiểm tra vào giữa đêm khi đang gỡ tấm áp phích xuống để hành sự điểm xuyết thêm chút hương vị cho cuộc sống của anh ta những tháng năm đầu.

Và tôi tin rằng anh ta không thể nào trót lọt qua mắt bọn chúng chỉ nhờ số đỏ. Suốt 27 năm thì không. Tôi tin rằng trong hai năm đầu – cho đến giữa tháng Năm năm 1950, khi anh ta giúp Byron Hadley vụ thuế má trên khoản thừa kế trên trời rớt xuống kia – vận trời đã thuận, giúp anh ta cầm cự.

Hoặc từ ngày ấy, có lẽ anh ta không chỉ được ông trời ưu ái mà phải dụng công. Anh ta có tiền, nên có lẽ hằng tuần, anh ta đã đút cho bọn chúng một ít để chúng xuề xòa cho qua. Đa phần các linh gác sẽ đồng ý nếu cái giá anh ta đưa hợp tình hợp lý; tiền vào túi bọn chúng, còn tù nhân thì có thể giữ những bức ảnh để xúc lọ hoặc mấy điếu thuốc lá. Ngoài ra, Andy là một tù nhân mẫu mực — tĩnh lặng, ăn nói có học thức, biết trước sau, không bạo lực. Chỉ có những tên tù nhân điên khùng, cuồng loạn mới bị lục soát từng ngóc ngách buồng giam ít nhất sáu tháng một lần, nệm bị tháo tung, gối bị lấy đi rồi rạch toạc, ống bồn cầu được kiểm tra kỹ lưỡng.

Và rồi, năm 1950, Andy không chỉ dừng lại ở một tù nhân mẫu mực. Vào cái năm định mệnh ấy, anh ta trở thành món hàng quý giá, một kẻ giết người kê khai thuế còn xuất sắc hơn cả công ty H & R Block. Andy tư vấn miễn phí cách lập kế hoạch di sản, hướng dẫn các mảnh trốn thuế, điền đơn xin vay tiền (thỉnh thoảng rất sáng tạo). Tôi còn nhớ cảnh anh ta ngồi đằng sau bàn làm việc trong thư viện, kiên nhẫn đọc từng đoạn hợp đồng cho vay mua xe ô tô cùng trưởng nhóm lính gác muốn mua chiếc DeSoto cũ, phân tích cho anh ta này hợp đồng có gì tốt và có gì xấu, giải thích anh ta có thể tìm kiếm chỗ cho vay phù hợp và không phải chịu lãi suất quá cao, giúp anh ta tránh khỏi công ty tài chính, ngày ấy, chúng chẳng khác các công ty cho vay nặng lãi hợp pháp là bao. Khi anh ta đã nói xong, trưởng nhóm lính gác bắt đầu chìa tay ra... đoạn vội vàng rụt tay lại. Bạn thấy đấy, trong một khắc, anh ta đã quên mất mình đang làm việc với một quân cờ chứ chẳng phải đối tác.

Andy theo dõi thông tin về luật thuế và các biến động trên thị trường chứng khoán, nên cái hữu dụng của anh không hề ngừng lại sau khi anh ta bị cho vào trữ đông suốt thời gian dài như người ta vẫn tưởng. Anh ta bắt đầu huy động tài trợ cho thư viện của mình, cuộc chiến dai dẳng với hội tỷ muội cũng tới hồi kết, và chẳng ai bới tung buồng giam của anh ta lên. Căn bản, anh ta là một gã chơi đẹp.

Đoạn ngày nọ, xảy ra sau đó một khoảng thời gian rất dài — có lẽ vào khoảng tháng Mười năm 1967 – thú tiêu khiển bấy lâu nay của anh ta bỗng chốc thay hình đổi tướng. Đêm nọ, trong lúc đang chui vào cái lỗ sâu đến thắt lưng với nàng Raquel Welch lững lờ treo sau mông, đầu búa đục đá của anh chợt cắm vào bê tông.

Có lẽ anh ta đã kéo vài khối bê tông ra, nhưng có lẽ anh ta đã nghe thấy những khối còn lại rơi xuống trụ, nảy tới nảy lui, lanh canh vào thành ống bên dưới. Lúc đó, anh ta có dự liệu được mình sẽ gặp trụ ống này không, hay anh ta hoàn toàn bất ngờ? Tôi không biết. Thời điểm đó chẳng rõ anh đã có dịp trông thấy bản vẽ của nhà tù hay chưa. Nếu chưa, bạn có thể đoán rằng anh ta sẽ tìm cách để xem càng sớm càng tốt.

Ngay lập tức, anh ta nhận ra bản thân không chỉ chơi một trò chơi mà là đang đem hết tất cả ra đánh cược... cuộc đời anh ta, tương ; lai anh ta, một ván bài được ăn cả, ngã về không. Thậm chí ngay cả khi ấy, anh ta vẫn chưa biết chắc chắn, nhưng hẳn anh ta đã lên kế hoạch tương đối cụ thể trong đầu, vì khoảng thời gian đó là lần đầu tiên anh ta trao đổi với tôi về Zihuatanejo. Đột nhiên, cái lỗ ngu xuẩn trên tường không còn đơn thuần là đồ chơi mà biến thành đấng thánh thần – nếu anh ta biết ở dưới đáy có ống nước thải dẫn xuống dưới phần tường bên ngoài.

Bao nhiêu năm nay, anh ta cứ mãi nặng đầu về chiếc chìa khóa nằm dưới tảng đá ở Buxton. Giờ anh ta có thêm mối lo khác: một tay lính gác mới vào nghề hăng tiết vịt nhìn đằng sau tấm áp phích và vạch trần tất cả, hoặc anh ta sẽ có bạn tù mới, hoặc khéo có khi bỗng dưng anh ta bị chuyển cơ sở giam giữ sau nhiều năm bóc lịch ở đây. Đầu óc anh ta ngổn ngang biết bao lo lắng suốt tám năm sau đó. Tôi chỉ có thể nói rằng anh ta là một trong những người biết giữ cái đầu lạnh nhất từng sống trên đời này. Tôi dám chắc nếu phải vật lộn sống trong những điều bất định đấy, tôi sẽ phát rồ chỉ sau một thời gian mất thôi. Thế mà Andy vẫn tiếp tục chơi trò chơi.

Anh ta đã phải ngẫm đến khả năng mình bị phát hiện trong suốt tám năm – hay nói đúng hơn là xác suất — vì bất kể anh ta có cẩn thận gom những quân bài mạnh đến đâu, anh ta vẫn chỉ là tù nhân trong nhà tù bang, và anh ta cũng chẳng có nhiều quân bài để gom... hơn nữa, thần linh hẳn đã tốt bụng với anh suốt khoảng thời gian dài; thấm thoắt mà đã 19 năm.

Điều mỉa mai kinh khủng nhất mà tôi có thể nghĩ ra chắc là việc giả sử anh ta được ân xá. Bạn có thể tưởng tượng được không? Ba ngày trước khi tù nhân hưởng ân xá được thả ra, anh ta được chuyển tới khu giam giữ có an ninh lỏng lẻo hơn để khám tổng quát và thực hiện một bộ kiểm tra hướng nghiệp. Khi anh ta đến đó, buồng giam cũ của anh ta sẽ được dọn dẹp sạch sẽ. Thế là thay vì được ân xá, Andy sẽ xuống tầng dưới mọt gông trong biệt giam, sau đó là lên tầng trên chịu giam hãm thêm ít lâu... có điều là ở buồng giam khác.

Nếu anh ta đục vào ống cống năm 1967, tại sao phải đến năm 1975 anh ta mới thoát ra?

Tôi không dám chắc – nhưng tôi có thể trình bày một số suy luận hợp tình hợp lý như sau.

Thứ nhất, anh ta sẽ phải cẩn trọng đường đi nước bước hơn bao giờ hết. Khôn ngoan như anh ta hẳn sẽ không nhắm mắt nhắm mũi cố công nhào tới trước và tìm cách thoát thân trong tám tháng hoặc thậm chí là mười tám tháng. Anh ta phải tiếp tục nới rộng lỗ hổng của chỗ chui từ từ từng chút một. Cái lỗ to bằng tách trà vào lúc anh ta uống ly rượu mừng giao thừa năm đó. Cái lỗ to bằng đĩa ăn vào lúc anh ta uống rượu mừng sinh nhật năm 1968. Đến lúc vào mùa bóng chày năm 1969, hẳn nó đã to bằng khay phục vụ thức ăn.

Có một thoáng, tôi đã nghĩ lý ra quá trình thực hiện phải nhanh hơn so với tốc độ thực tế – ý tôi là sau khi anh ta đục qua ống cống. Tôi cứ ngỡ thay vì nghiền vụn phần bê tông rồi mang ra khỏi buồng giam bằng cách giấu vào túi ngược như tôi đã mô tả, anh ta chỉ cần thả nó xuống ống cống. Song từ khoảng thời gian anh bỏ ra, tôi thấy xem chừng anh không dám làm như thế. Có thể anh ta đã nhận định âm thanh sẽ khiến ai đó sinh nghi. Hoặc nếu anh ta biết đó là ống cống, mà tôi nghĩ hẳn anh đã đoán ra từ sớm, anh ta sợ một khối bê tông rơi xuống sẽ làm bể ống trước khi anh ta chuẩn bị sẵn sàng, phá hỏng hệ thống nước thải của buồng giam rồi khiến họ tiến hành điều tra. Và không cần phải nói thì ai cũng biết, điều tra thì tất cả đều xôi hỏng bỏng không.

Dẫu thế, tôi đồ rằng vào thời gian Nixon thể thốt hứa hẹn cho nhiệm kỳ thứ hai, kích thước của cái lỗ đã to đến mức đủ cho anh ta bò trườn qua. thậm chí có khi từ trước đó. Andy vốn là một người nhỏ con.

Vậy tại sao anh không thoát ra từ sớm?

Đến nước này thì tôi đã lôi hết mọi vốn liếng kiến thức ra để võ đoán rồi đấy, thưa các bạn; từ giờ trở đi, lời tôi đoán càng lúc càng bừa phứa. Một khả năng là lối chui kẹt đầy rác rến nên anh ta phải dọn sạch sẽ. Nhưng lý do này cũng không thể giải thích tại sao lại tốn thời gian đến thế. Vậy rốt cuộc là sao?

Tôi nghĩ có lẽ là vì Andy cảm thấy sợ hãi.

Tôi đã giải thích với bạn toàn vẹn hết mức về việc thế nào là một người đàn ông hao mòn ý chí khi vào tù. Ban đầu, bạn không tài nào chịu nổi bốn bức tường ấy, rồi bạn cắn răng chịu đựng, thế là bạn bắt đầu chấp nhận chúng... và tự lúc nào, khi cả cơ thể, tâm trí và linh hồn của bạn quen với việc sống trong một không gian bé như lỗ mũi, dần dà bạn yêu quý nó. Bạn được người ta nói giờ ăn, giờ biên thư, giờ hút thuốc lá. Nếu bạn làm việc ở khu giặt đồ hoặc nhà máy đóng biển số, mỗi tiếng đồng hồ, bạn lại được cho năm phút đi vệ sinh. Suốt 35 năm trời, cứ mỗi khi kim phút chỉ hai mươi lăm sẽ đến lúc tôi đi giải quyết nỗi buồn, và sau 35 năm, đó là thời điểm duy nhất tôi cảm thấy buồn đi tiêu đi tiểu; khi kim phút chỉ hai mươi lăm. Và nếu vì lý do gì đó mà tôi đi không được, cơn buồn vệ sinh sẽ lắng xuống vào lúc ba mươi phút, sau đó lại xuất hiện trở lại khi kim phút chỉ hai mươi lăm một tiếng sau.

Tôi nghĩ có lẽ Andy đã phải vật lộn với con hổ ấy – triệu chứng hao mòn ý chí – và với nỗi sợ hãi càng lúc càng phình đại rằng có thể tất cả sẽ chỉ là dã tràng xe cát.

Biết bao đêm, anh ta đã thao thức dưới tấm áp phích ấy, ngẫm nghĩ về đường cống, thừa biết đây là cơ hội duy nhất dành cho mình. Bản vẽ có thể cho anh ta biết cỡ ống to đến mức nào, nhưng bản vẽ không thể cho anh ta biết ở trong ống sẽ ra sao – liệu anh ta có thể thở hay sẽ ngạt chết, liệu chuột có to và hung hăng đến độ tấn công anh ta thay vì thoái lui không... và bản vẽ không thể nói với anh ta liệu anh ta có ra đến cuối ống hay không, khi nào và tìm thấy gì ở đó. Đây, tôi xin trình bày thêm một trò đùa thậm chí còn hài hước hơn câu chuyện ân xá ban nãy: Andy chui vào đường ống nước thải, bò qua hơn 450 mét bóng tối xú uế đến nghẹn họng, nhưng đến cuối cùng thì lại bị chặn bởi một tấm lưới thép cỡ dày. Ha ha, hài dễ sợ chưa.

Có lẽ tất cả đã xuất hiện trong tâm trí anh ta. Và nếu cơ hội ngàn năm có một ấy thật sự đến, anh ta có thể thoát khỏi nơi đây, anh ta kiếm đâu ra quần áo dân thường và làm cách nào để đi khỏi khu vực xung quanh nhà tù mà không bị phát hiện. Cuối cùng, giả như anh ta chui ra khỏi ống cống, cao chạy xa bay khỏi Shawshank trước khi chuông báo động hụ lên, đến được Buxton, lật đúng tảng đá ấy lên... nhưng không thấy gì bên dưới? Không nhất thiết phải là một điều gì đó kinh thiên động địa như đến đúng đồng cỏ rồi phát hiện tại đây đã mọc lên một chung cư cao tầng, hoặc nó bị biến thành bãi đậu xe siêu thị đâu. Có khi một đứa trẻ nào đó thích đá để ý thấy mảnh đá này là đá thủy tinh núi lửa nên lật nó lên, trông thấy chiếc chìa khóa mở hộp ký gửi rồi đem cả chìa và cả hòn đá về phòng làm kỷ niệm. Biết đâu một tay thợ săn tháng Mười một đá phải hòn đá, khiến chiếc chìa bị lộ ra, một con sóc hay con quạ thích đồ lấp lánh đã cắp chìa khóa đi mất. Có thể năm nào đó có lũ mùa xuân tràn qua, phá thủng bức tường, cuốn phăng chìa khóa đi. Còn vô vàn tình huống có thể xảy ra.

Vậy nên tôi đoán – suy nghĩ này hoang đường hay không, tôi chẳng rõ – Andy cứ thế cứng người nằm yên tại chỗ hồi lâu. Suy cho cùng, không đánh bạc thì không lo mất. Bạn hỏi anh ta có gì mà mất kia chứ? Thư viện của anh ta chẳng hạn. Cái êm đềm đầy bại hoại của cuộc sống hao mòn ý chí là một điều khác. Cơ hội để vươn đến cái danh tính an toàn kia trong tương lai.

Thế nhưng cuối cùng, anh ta đã thực hiện rồi đấy, như tôi vừa kể với bạn. Anh ta thử... và kìa, trời ơi! Chẳng phải anh ta đã thành công vang dội đấy sao? Bạn nói tôi nghe xem!

Song anh ta có trốn thoát thành công không? Sau đó xảy ra chuyện gì? Chuyện gì xảy ra khi anh ta đến đồng cỏ ấy, lật hòn đá lên... chúng ta hãy cứ luôn giả sử rằng hòn đá vẫn im lìm nơi đó nhé?

Tôi không thể mô tả khung cảnh ấy cho bạn, vì con người hao mòn ý chí hiện vẫn ở trong nhà tù này đây, chờ đợi năm rộng tháng dài lầm lũi trôi qua.

Nhưng tôi xin kể bạn nghe điều này. Khi mùa hạ năm 1975 chỉ còn vương chút sắc, chính xác là vào ngày 15 tháng Chín, tôi nhận được một tấm bưu tiếp được gửi từ thị trấn bé xíu mang tên McNary, Texas. Thị trấn ấy nằm sát rìa biên giới Hoa Kỳ, ngay bên kia là El Porvenir. Phần nội dung bưu thiếp hoàn toàn để trống. Nhưng tôi biết. Tôi biết điều đó từ sâu tận cõi lòng, như tôi hiểu con người chúng ta ai rồi cũng sẽ trở về đất mẹ.

Anh đã vượt biên ở McNary. McNary, Texas.

Câu chuyện của tôi là thế đấy, Jack ạ. Tôi không tài nào tin nổi viết tất cả lại ngốn nhiều thời gian hay giấy mực đến thế. Tôi bắt đầu viết ngay sau khi tôi nhận được tấm bưu thiếp ấy, và lúc này đây, tôi đang viết nốt những dòng cuối vào ngày 14 tháng Một năm 1976. Tôi đã viết mòn ba cây bút chì cho đến khi cùn một mẩu và dùng hết cả tập giấy. Tôi đã cất giấu những trang bản thảo cực kỳ cẩn thận... mà thật ra cũng chẳng mấy người đọc nổi chữ như gà bới của tôi.

Tôi chẳng thể nào ngờ nó khơi gợi trong lòng tôi nhiều cảm xúc đến thế. Xem chừng viết về bản thân cũng giống như chọc một cành cây xuống dòng nước sông trong vắt và khuấy đục phần bùn dưới đáy vậy.

Chà, anh có viết về bản thân anh đâu, tôi nghe một kẻ vạch lá tìm sâu xách mé. Anh đang viết về Andy Dufresne đấy chứ. Anh chỉ là một nhân vật phụ trong câu chuyện của chính mình mà thôi. Nhưng bạn biết không, thật ra không chỉ có thể. Từng từ, từng chữ trong này là về tôi. Andy là một phần của tôi, cái phần họ mãi mãi chẳng tài nào xiềng xích, cái phần sẽ vỡ òa mừng vui khi cánh cổng cuối cùng cũng mở, để tôi được bước ra trong bộ vest rẻ tiền với hai mươi đô la phòng lúc trái gió trở trời dằn túi. Cái phần ấy trong tôi sẽ vui mừng, sẽ hoan hỉ bất chấp phần còn lại của tôi già nua, vụn vỡ và sợ hãi đến nhường nào. Tôi đoán đơn giản là Andy sở hữu nhiều phần ấy hơn tôi, và anh tận dụng nó lão luyện hơn tôi.

Ở đây có những người như tôi, những người còn nhớ chuyện về Andy. Chúng tôi vui khi thấy anh ta thoát khỏi đây, nhưng cũng hơi chạnh lòng. Suy cho cùng, có những chú chim chẳng cam chịu sống kiếp giam cầm. Bộ lông của chúng quá đỗi rực rỡ, tiếng hót của chúng quá đỗi du dương, quá đỗi mãnh liệt. Vậy nên ta phải để chúng tung cánh đi, hoặc khi ta mở lồng cho chúng ăn, chúng cứ thế vụt bay. Và cái phần trong ta, cái phần ngay từ đầu đã biết cầm tù chúng là điều sai trái, cất tiếng hoan ca, dẫu vậy, kể từ khi chúng ra đi, nơi ta sinh sống bỗng chốc nhuốm màu xám xịt và trống trải vô ngần.

Câu chuyện là thế đấy, tôi vui vì đã có thể kể ra thành lời, dù phần kết còn bỏ lửng và dù một vài kỷ niệm mà cây bút chì gợn lên trong tôi (giống cành cây chọc bùn dưới hồ nước) khiến tôi có chút u uất và già cỗi hơn bản thân trong hiện tại. Cảm ơn bạn đã lắng nghe. Còn Andy, nếu anh thực sự ở ngoài kia, như tôi vẫn hằng tin, hãy đưa mắt ngắm nhìn muôn vàn tinh tú sau khi vầng dương vừa lặn thay tôi, hãy chạm vào cát, lội qua nước, và cảm nhận tự do.

Tôi không nghĩ sẽ có dịp viết tiếp câu chuyện, thế mà lúc này đây, tôi lại đang ngồi với tập giấy quăn góc trên bàn làm việc trước mặt. Tôi đang viết thêm ba hoặc bốn trang nữa trên tập giấy mới toanh. Tập giấy tôi mới mua ở tiệm – tôi vừa bước vào một cửa tiệm trên đường Congress ở Portland để mua.

Tôi cứ tưởng tôi đã đặt dấu chấm hết cho câu chuyện của mình trong buồng giam ở nhà tù Shawshank vào một ngày tháng Một âm u năm 1976. Hiện giờ là tháng Năm năm 1977, còn tôi, tôi đương ngồi trong căn phòng khách sạn nhỏ xíu, rẻ tiền ở khách sạn Brewster, Portland để viết thêm phần cuối.

Cửa sổ để ngỏ, tiếng xe cộ lọt vào phòng thật ồn ào, náo nhiệt và có phần đáng sợ. Hết lần này đến lần khác, tôi phải quay sang nhìn cửa sổ để trấn an bản thân rằng chẳng còn chấn song nào ở đó. Tối đến, tôi ngủ chẳng sâu giấc vì chiếc giường trong căn phòng này, dù rẻ mạt chăng nữa, sao mà thật thênh thang, thật xa hoa. Cứ đúng 6 giờ 30 phút sáng, tôi giật mình tỉnh giấc, mất phương hướng, hãi hùng. Ác mộng ám ảnh tôi. Tôi chống chếnh bởi cảm giác rồ dại rằng tôi đang rơi tự do. Cảm giác ấy vừa kinh sợ, lại vừa phấn chấn biết bao.

Đời tôi đã có biến cố gì ư? Bạn không đoán ra được sao? Tôi được ân xá. Sau 38 năm dự các phiên tòa theo thông lệ và bị từ chối theo thông lệ (suốt 38 năm đó, tôi đã chứng kiến ba luật sư qua đời), tôi được ban ân xá. Tôi đoán họ đã quyết định rằng, ở cái tuổi năm mươi tám này, tôi cũng sức cùng lực kiệt rồi, không còn là thành phần nguy hiểm nữa.

Suýt chút nữa tôi đã đốt tài liệu mà bạn vừa đọc. Họ lục soát những tù nhân được ân xá kỹ chẳng kém lục soát “cá mới.” Và ngoài chứa đủ thuốc nổ để đảm bảo tôi quay đầu trong một nốt nhạc và lãnh thêm sáu đến tám năm sau song sắt nữa, “hồi ký” của tôi còn chứa một thứ khác: tên thị trấn mà tôi cho rằng Andy Dufresne hiện đang ẩn thân. Cảnh sát Mexico sẽ vui vẻ hợp tác với cảnh sát Hoa Kỳ, và tôi không muốn sự tự do của tôi — hoặc do tôi không sẵn lòng bỏ đi câu chuyện tôi đã dụng sức, vắt óc viết nên – khiến Andy mất đi bầu trời của mình.

Đoạn tôi nhớ lại cách Andy thủ theo năm trăm đô la vào đây năm 1948, tôi bèn bắt chước cách của anh để mang nó ra. Cẩn tắc vô áy náy, tôi còn thận trọng viết lại từng trang nhắc tới địa danh Zihuatanejo. Nếu những trang giấy này bị phát hiện trong lúc “khám xét bên ngoài” như theo cách người ta gọi ở nhà tù Shawshank, tôi sẽ phải quay lại bóc lịch... nhưng cảnh sát sẽ lùng sục Andy ở một thị trấn ven biển Peru mang tên Las Intrudres.

Hội đồng Tư vấn Ân xá sắp xếp cho tôi công việc “trợ lý đóng hàng” ở một siêu thị rất lớn mang tên FoodWay trong trung tâm thương mại Spruce phía nam Portland — nghĩa là tôi làm nhân viên gói hàng vào túi cho khách, có điều tôi già hơn mặt bằng chung. Bạn biết đấy, chỉ có hai kiểu nhân viên gói hàng, một là già, hai là trẻ. Nhưng dù có là loại nào cũng chẳng ai thèm nhìn. Nếu bạn đến mua hàng ở FoodWay trung tâm thương mại Spruce, có khi tôi đã từng xách đồ ra xe ô tô cho bạn đấy... nhưng bạn phải đến đấy mua sắm giữa tháng Ba và tháng Tư năm 1977, vì tôi chỉ làm việc tại đó trong khoảng thời gian này mà thôi.

Ban đầu, tôi không hề nghĩ rằng mình đủ sức cầm cự ở thế giới bên ngoài đâu. Tôi đã mô tả xã hội trong ngục tù là mô hình thu nhỏ của thế giới bên ngoài, nhưng tôi không hay biết ngoài này, mọi thứ chuyển động vun vút ra sao; người ta cứ lao đi đến chóng mặt. Thậm chí họ còn nói chuyện liến thoắng hơn. Oang oang hơn.

Đời tôi chưa bao giờ phải trầy trật học cách thích nghi đến thế, mà thú thật tôi còn chưa thích nghi nổi... một chút cũng chưa. Ví dụ như phụ nữ chẳng hạn. Sau bốn chục năm không hay biết họ chiếm một nửa dân số loài người, đùng cái tôi lại làm việc trong cửa tiệm đầy phụ nữ. Các bà lão, phụ nữ mang thai mặc áo thun in hình mũi tên chĩa xuống dưới và dòng từ CÓ TRẺ EM, những cô gái thanh mảnh với nhũ hoa nhô lên dưới lần áo sơ mi – thời tôi vào tù, phụ nữ mà ăn mặc kiểu này sẽ bị gô cổ lại rồi mang đi tra hỏi xem đầu óc có bình thường hay không – phụ nữ đủ loại mập ốm và cao thấp. Tôi nhận ra gần như lúc nào hạ bộ của mình cũng hơi cương lên, và tôi chỉ biết rủa xả bản thân vì cái tội già mà không nên nết.

Vào nhà vệ sinh lại là một điều tôi chưa quen nổi. Khi phải đi giải quyết nỗi buồn (cơn buồn luôn đến với tôi vào lúc kim phút chỉ hai mươi lăm), tôi phải cố gắng lắm mới gắn xuống được nhu cầu báo với sếp của mình. Tôi biết ở thế giới bên ngoài vốn vô cùng rực rỡ này, tôi cứ việc đi vào nhà vệ sinh tiểu tiện, đại tiện như mọi người, song biết là một chuyện, bắt bản thân mình thích nghi với điều đó sau bao năm luôn phải báo cáo với tay lính gác gần nhất, nếu không sẽ thẳng tiến vào biệt giam vì tội sơ suất... lại là một chuyện khác.

Sếp của tôi không ưa tôi. Cậu ta trẻ măng, hai mươi sáu hay hai mươi bảy gì đấy, mà tôi tự thấy tôi cũng khiến cậu ta thấy ghét cay ghét đắng tôi, giống như một con chó già nua đớn hèn, quỵ lụy ngửa bụng lên, lết đến chỗ chúng ta sẽ khiến ta cảm thấy ghê người. Chúa ơi, đến tôi còn thấy phát tởm với bản thân mình. Nhưng... tôi không thể bắt mình thôi cái trò đấy. Tôi những mong nói với cậu ta: Ở tù cả đời thì kết cục sẽ như vậy đấy, chàng trai trẻ. Nó biến kẻ cầm quyền trở thành ông chủ, còn biến chúng ta thành con chó cun cút theo chủ. Có thể ta biết mình đã thành con chó, ngay cả khi ta ở trong tù, nhưng vì những kẻ mặc bộ đồ tù khác cũng chung phận chó, nên ta thấy đó là chuyện bình thường. Song khi ra bên ngoài, đấy lại là chuyện lớn. Tuy nhiên, làm sao tôi mở miệng nói với chàng trai trẻ như cậu ta được, bởi cậu sẽ không hiểu nổi. Cả người quản chế của tôi cũng thế, một tay từng là dân Hải quân, tướng người to con, hộ pháp với bộ râu màu hung vĩ đại cùng một bổ truyện cười Ba Lan. Gã gặp tôi đâu đấy năm phút hằng tuần. “Ông có đang ở ngoài chấn song không đấy, Red?” khi chẳng còn truyện cười Ba Lan để mua vui, gã sẽ hỏi tôi câu này. Tôi đáp vâng, và thế là kết thúc buổi nói chuyện, hẹn tuần sau.

Nhạc trên đài phát thanh. Thời tôi vào tù, những ban nhạc lớn mới chỉ bắt đầu có tiếng tăm. Còn giờ, dường như bài hát nào cũng về chuyện giường chiếu. Ô tô thì như mắc cửi. Ban đầu, tôi cảm thấy như thể mỗi lần qua đường là một lần mạng sống của mình ngàn cân treo sợi tóc.

Còn nhiều lắm – thứ nào thứ nấy đều xa lạ và đáng sợ – nhưng chắc bạn nắm sơ lược rồi, hoặc chí ít cũng hiểu được phần nào. Tôi bắt đầu suy tính tới việc gạt chuyện gì đó để kiếm đường quay vào trong. Khi bạn đang trong quá trình theo dõi sau ân xá, cứ làm bừa cũng xong chuyện. Nói ra thì chỉ mang nhục, nhưng tôi đã toan tính đến chuyện chôm ít tiền hoặc trộm vặt trong FoodWay, cái gì cũng được, để trở lại cái nơi yên tĩnh ấy, cái nơi ta nằm lòng trình tự một ngày sẽ ra sao.

Nếu không quen không biết Andy, có lẽ tôi đã vận đến cách ấy. Nhưng tôi cứ nghĩ mãi về anh ta, về việc đằng đẵng bao năm trời, anh ta kiên nhẫn lấy búa đục đẽo tường xi măng để tìm đến tự do. Suy nghĩ cứ trở đi trở lại trong đầu, khiến tôi lấy làm xấu hổ, thành thử tôi lại bỏ ý định kia. Ờ, bạn có thể nói anh ta có nhiều căn cứ để tự do hơn tôi – anh ta có danh tính mới, có cả núi tiền. Song thực ra, điều đó chẳng đúng lắm đâu. Vì anh ta không biết chắc danh tính mới còn ở đó không, và nếu không có danh tính, số tiền sẽ mãi mãi là trên mây hạc vàng. Không, thứ anh ta cần đơn giản chỉ là được tự do, và nếu tôi hất đổ thứ tôi có thì chẳng khác nào phỉ nhổ vào tất cả những gì anh ta đã bỏ bao công sức để đoạt lại.

Và thế là khi có thời gian rảnh, tôi lại xin đi quá giang xuống thị trấn nhỏ Buxton. Thời điểm đó là đầu tháng Tư năm 1977, khi tuyết mới bắt đầu tan trên các cánh đồng, không khí ấm áp dần lên, các đội bóng chày tiến về phương Bắc để thi đấu mùa giải mới, chơi bộ môn thể thao duy nhất mà tôi chắc chắn Chúa ủng hộ. Khi lên đường rong ruổi, tôi lại mang theo la bàn Silva trong túi.

Trong thị trấn Buxton có một đồng cỏ rất lớn, Andy từng nói, và ở cuối đồng cỏ ấy về phía bắc có một tường đá, giống y như bức tường trong bài thơ của Robert Frost. Và đâu đó dọc theo chân tường sẽ có hòn đá không dính dáng gì đến đồng cỏ ở Maine.

Bạn có thể nhận xét nói thế có khác nào mò kim đáy bể. Ở một thị trấn quê cũ nhỏ bé như Buxton có bao nhiêu đồng cỏ kia chứ? Năm chục? Một trăm? Dựa theo kinh nghiệm cá nhân, tôi đoán con số thậm chí còn lớn hơn thế, nếu bạn cộng thêm những cánh đồng giờ đã được canh tác nhưng lúc Andy vào tù thì vẫn là đồng cỏ. Và giả như tôi có tìm được đúng cánh đồng chăng nữa, có khi tôi còn chẳng biết. Vì có khả năng tôi sẽ bỏ qua hòn đá thủy tinh núi lửa màu đen ấy, hoặc khả năng cao hơn nữa là Andy đã cho nó vào túi đem đi mất rồi.

Vậy nên tôi đồng ý với bạn. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây đúng là trò mò kim đáy bể. Tệ hơn, đó còn là một hành động nguy hiểm đối với một người đang được theo dõi hậu ân xá, vì một số cánh đồng có cắm biển cấm vào. Và như tôi đã nói, họ sẽ rất vui sướng khi được đá đít ta vào lại hàng nếu ta xớ rớ bước ra hàng lối. Mò kim đáy bể... nhưng chuyện tỉ mẩn đục tường bê tông suốt 27 năm cũng tựa muối bỏ bể đấy thôi. Và khi bạn không còn là người đàn ông cần gì thì cung nấy, chỉ còn là lão già xếp đồ cho khách, có cái thú tiêu khiển để tâm trí không quẩn quanh lo nghĩ về cuộc sống mới cũng tốt. Thủ tiêu khiển của tôi là đi tìm viên đá của Andy.

Rồi thì tôi cứ thế xin quá giang đến Buxton, đoạn cuốc bộ qua các nẻo đường. Tôi lắng tai nghe tiếng chim véo von, nghe tiếng nước róc rách chảy dưới cống, ngắm nghía chai lọ lộ ra dưới lớp tuyết dần tan – tiếc là chỉ toàn những chai vô dụng, không được thu hồi để trả về nhà cung cấp; kể từ khi tôi vào tù bóc lịch, thế giới này càng lúc càng tiêu xài như phá mả – và đi tìm những cánh đồng.

Đa phần sẽ bị loại ngay lập tức. Không thấy bức tường đá nào. Một số cánh đồng có tường đá, nhưng la bàn cho tôi biết nó nằm ở sai hướng. Nhưng tôi vẫn dạo bộ trong những cánh đồng ấy. Nó làm tôi thư thái, và trong những cuộc ngao du, tôi cảm thấy lòng mình thực sự tự do, an bình. Thứ Bảy nọ, có chú chó già lững thững đi cùng tôi. Có hôm tôi còn bắt gặp một chú nai xác xơ vì đông đói.

Và rồi đến ngày 23 tháng Tư, cái ngày tôi sẽ không bao giờ quên dù tôi có sống thêm 58 năm nữa. Đó là một chiều thứ Bảy ấm áp, tôi đang đi lên con đường mà cậu bé câu cá ngoài cầu bảo với tôi là đường Smith Cũ. Xách theo bữa trưa trong chiếc túi FoodWay màu nâu, tôi ngồi trên tảng đá bên vệ đường nhấm nháp. Ăn xong, tôi cẩn trọng chôn phần rác rến như cụ thân sinh ra tôi từng dạy trước khi qua đời, khi tôi còn là thằng oắt con tầm tuổi cậu bé câu cá vừa chỉ tôi tên đường.

Khoảng 2 giờ, tôi đến một cánh đồng rất lớn về phía bên trái. Cuối cánh đồng có tường đá chạy dọc theo hướng tây bắc. Tôi bước lại đó, lép nhép trên nền đất ẩm ướt rồi đi dọc theo bức tường. Một chú sóc buông lời trách mắng tôi từ trên cây sồi.

Đi được ba phần tư chiều dài bức tường, tôi trông thấy hòn đá. Không lẫn vào đâu được. Thủy tinh màu đen, mịn như lụa. Một tảng đá hoàn toàn lạc quẻ so với cánh đồng cỏ trần tục ở Maine. Suốt lúc lâu, tôi cứ thế ngẩn ngơ nhìn, cảm thấy nước mắt chực trào, chẳng rõ vì lý do gì. Chú sóc đi theo tôi vẫn luôn mồm rinh rích. Tim tôi đập điên cuồng trong lồng ngực.

Khi cảm thấy mình đã bình tĩnh lại, tôi bước đến hòn đá, ngồi thụp xuống bên cạnh – các khớp gối của tôi răng rắc như súng hoa cải hai nòng – đoạn chạm tay vào nó. Thật quá. Tôi không nhặt lên vì tôi cho rằng bên dưới có gì đó; tôi có thể quay lưng bước đi mà không kiểm tra xem bên dưới để món đồ gì. Hẳn nhiên, tôi cũng không tính mang hòn đá ấy đi, vì tôi cảm thấy nó chẳng thuộc về tôi, sao tôi mang đi được – tôi cảm thấy lấy hòn đá đi khỏi cánh đồng là hành vi trộm cắp hạ tiện nhất trần đời. Không, tôi chỉ cầm nó lên để lòng tôi tràn trề, để cảm nhận sức nặng, và có lẽ là để chứng minh nó thực sự hiện diện nơi đây, bằng cách cảm nhận bề mặt láng mịn của nó trên da.

Tôi trân trối nhìn thứ bên dưới suốt hồi lâu. Mắt tôi thấy, nhưng tâm trí của tôi mất một lúc mới bắt kịp. Là một phong thư, được bọc cẩn thận bằng túi nhựa để ngăn ẩm mốc. Tên tôi được viết bên trên bằng dòng chữ nắn nót của Andy.

Tôi cầm phong thư lên, để hòn đá trở lại chỗ Andy và người bạn của Andy đã từng đặt.

« Lùi
Tiến »