Nhật Ký Phi Thường

Lượt đọc: 2297 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

Anh đã dặn em đừng cho mọi người đọc tiểu thuyết của Lâm Phong cơ mà?”

“Anh đã đồng ý. Lâm Phong cũng đồng ý còn gì.” Tiếu Nhân kêu lên oan ức.

“Thế tại sao em lại kể linh tinh cho người khác? Em không kể thì người ta đâu biết được chuyện của Lâm Phong?”

Tiếu Nhân hối hận suýt bật khóc.

“Muốn mọi người không biết, thà là đừng làm!” Giọng Dư Vĩ nhẹ nhàng hơn:

“Thế công an tìm thấy cuốn tiểu thuyết này bằng cách nào?”

“Đầu tiên họ đến tìm em, nói là muốn xem qua. Em không đưa, họ liền nói nếu kết quả điều tra là Lâm Phong gây án thì họ sẽ truy cứu trách nhiệm của em. Em sợ quá nên phải đưa cho họ. Họ mang đi photo một bản rồi trả lại bản gốc.”

Dư Vĩ thở dài nói:

“Ôi, đến như em và bố em mà còn cho rằng vụ án này do Lâm Phong gây ra! Anh không thể hiểu nổi, tại sao mọi người lại có thể dựa vào một cuốn tiểu thuyết rồi kết luận Lâm Phong chính là thủ phạm.”

“Tất cả những điều cậu ta viết trong tiểu thuyết đều khớp với chuyện xảy ra đêm hôm đó. Anh cũng đã từng nói rồi đó, đây là cuốn tiểu thuyết mang tính tự truyện rất rõ. Ý anh muốn nói rất nhiều tình tiết đều là thật còn gì?”

“Thế em tưởng kẻ có tâm lý tình dục biến thái mà Lâm Phong miêu tả chỉ có một mình Lâm Phong ư? Không phải, có rất nhiều. Không phải trong tiểu thuyết Lâm Phong đã nói, sau khi Thiền Mĩ bị điên, trường đã bắt được một tên lưu manh đó sao? Đây là tiểu thuyết, tuyệt đối không thể coi là sự thật. Nếu đúng trước đây Lâm Phong đã từng gây án thì cậu ta cũng không thể cho chúng ta đọc cuốn tiểu thuyết đó, có khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”? Hơn nữa, nếu đúng trước đây từng có một lần phạm tội thì sao cậu ta vẫn đi theo vết xe đổ được?”

“...”

“Ôi, thật đúng là: “Giả bảo là chân, chân cũng giả!””

Hôm đó, họ cãi nhau.

Dư Vĩ đi gặp Hiệu trưởng Lưu Tử Kỳ. Lưu Tử Kỳ nói ông đã tìm hiểu toàn bộ sự việc, ông cho rằng Lâm Phong không phải là thủ phạm.

Nhưng sự việc này đã bị công an địa phương lập án điều tra, và tìm được rất nhiều đồ dùng phụ nữ trong hòm của Lâm Phong, điều này chứng tỏ tiểu thuyết của cậu mang tính ghi chép lớn. Hiện tại vẫn chưa thể chứng minh là cậu ta vô tội, công an đang trong giai đoạn thu thập chứng cứ nên vẫn chưa thể thả Lâm Phong. Dư Vĩ đề nghị được gặp Lâm Phong; Lưu Tử Kỳ liền gọi điện cho trưởng phòng bảo vệ của trường, bảo ông ta đi cùng Dư Vĩ. Trên đường, Dư Vĩ và trưởng phòng bảo vệ không nói với nhau câu nào. Anh hận sự dốt nát và ngu muội của họ.

Dư Vĩ gặp Lâm Phong trong một gian phòng nhỏ. Hình như cậu bị đánh. Lúc đầu ánh mắt cậu tỏ rõ vẻ kinh ngạc khi nhìn thấy Dư Vĩ, sau đó dần dần chuyển sang vẻ khinh thường mà Dư Vĩ chưa gặp bao giờ, cuối cùng cậu ta cúi đầu xuống, không nhìn Dư Vĩ nữa. Dư Vĩ lòng buồn vô hạn:

“Thầy xin lỗi, thầy đã không giữ lời hứa, để người khác đọc tiểu thuyết của em mới gây ra nông nỗi này.”

Lâm Phong không nói gì. Dư Vĩ biết, cậu ta hận anh. Dư Vĩ nói tiếp:

“Nhưng em cứ yên tâm, nhất định thầy sẽ làm rõ chuyện này. Thầy biết là em vô tội.”

Lâm Phong không nói gì.

Dư Vĩ hỏi có phải người ta đã đánh cậu không, Lâm Phong lặng thinh. Dư Vĩ bèn hỏi sang các vấn đề khác, Lâm Phong vẫn một mực câm nín.

Dư Vĩ không biết nên nói gì hơn, cuối cùng anh bảo, thầy sẽ đến thăm em sau. Lúc ra về, Dư Vĩ hỏi Lâm Phong có cần gì không, Lâm Phong quay đầu lại, hình như định nói gì, nhưng lại bướng bỉnh quay đi ngay.

Dư Vĩ đành phải ra về. Anh biết, chắc chắn Lâm Phong hận anh vô cùng. Đáng lẽ Lâm Phong có thể sống yên ổn và xuất bản cuốn tiểu thuyết; còn giờ đây, cuốn tiểu thuyết này đã trở thành chứng cứ phạm tội của cậu. Đáng lẽ cậu có thể nói những chuyện viết trong tiểu thuyết là chuyện cậu được nghe nói, không phải là chuyện của cậu, nhưng giờ thì khó có thể nói cho mọi người hiểu. Từ giờ trở đi cuộc đời cậu sẽ bao trùm một bức đen, không thể bỏ ra được ‐ chỉ tại cuốn tiểu thuyết. Dư Vĩ biết, đây là nguyên nhân chính khiến Lâm Phong hận anh.

Dư Vĩ âm thầm đi ra, thấy bên vệ đường có một sạp bán sách bèn hỏi mua một ít sách, tạp chí và cả sổ ghi chép, bút mực, quay vào nhờ nhân viên gác cổng chuyển cho Lâm Phong. Anh nghĩ Lâm Phong cần đọc và viết.

Hôm sau, người của phòng bảo vệ đến tìm Dư Vĩ, cùng Dư Vĩ báo cáo tình hình thu thập chứng cứ lần đầu với lãnh đạo nhà trường. Sau ba ngày điều tra, phát hiện thấy phần lớn các tình tiết Lâm Phong miêu tả trong tiểu thuyết, về cơ bản đều được chắp nhặt từ cuốn nhật ký của cậu, chỉ có điều họ tên không giống mà thôi. Theo nguồn tin từ khoa Văn, mặc dù tên Lâm Miên trong tiểu thuyết là tên giả, nhưng sự việc thì lại có thật. Tên thật của Lâm Miên là Lâm Như Thi. Và những tư liệu của phòng bảo vệ cung cấp đã chứng minh được rằng, đúng là một năm trước có một cô sinh viên bị dọa đến phát điên, chỉ có điều đã bắt được thủ phạm, và giống như cuốn tiểu thuyết đã viết, đó là một tên lưu manh. Thực ra tên thủ phạm đó đã thừa nhận sự việc xảy ra một năm về trước là do hắn gây ra, không phải Lâm Phong. Ngoài ra, qua điều tra ở phòng Đọc báo trong thư viện của trường đã thấy, hai năm trước, trên báo cũng đăng bài viết về một đôi vợ chồng và một người đàn bà chết vì tình, tương tự với vụ án “chị họ”. Tất cả các tài liệu đã chứng minh được rằng, phần lớn những chuyện Lâm Phong viết trong tiểu thuyết đều là những chuyện người thật việc thật đã xảy ra, vì thế, phòng bảo vệ cho rằng, Lâm Phong là nghi phạm đáng ngờ nhất. Sau khi phòng bảo vệ báo cáo xong, Lưu Tử Kỳ hỏi ý kiến Dư Vĩ. Dư Vĩ nói với vẻ phẫn nộ:

“Tiểu thuyết là cái không đáng tin nhất. Mặc dù tất cả mọi chuyện Lâm Phong viết trong tiểu thuyết đều là sự thực, nhưng không hẳn tất cả mọi chuyện đều là do cậu ta gây ra. Chắc mọi người đã từng được nghe lí luận viết tiểu thuyết của Lỗ Tấn, đó là: “Lấy đặc điểm từ nhiều người ghép vào một người”, đây là tính điển hình của tiểu thuyết. Mục đích của việc cậu ta viết như vậy cũng là để phản ánh một số vấn đề tâm lý của thế hệ sinh viên hiện nay, mặc dù các vấn đề này đã ảnh hưởng xấu đến bộ mặt nhà trường, nhưng những điều cậu ta viết đều là sự thật, chúng ta cần phải coi trọng. Nếu chúng ta coi trọng việc giáo dục vấn đề này từ sớm thì đã không xảy ra những chuyện như vậy. Hai năm trước sự việc tương tự đã xảy ra ở ngay trường chúng ta tại sao chúng ta không chịu coi trọng? Liệu có phải Lâm Phong gây ra vụ đó hay không, không thể dựa vào tiểu thuyết rồi kết tuận, mà phải dựa vào chứng cứ pháp luật. Thủ phạm vụ sinh viên trường Y đã bị bắt rồi còn gì? Tại sao vẫn vin vào tiểu thuyết của Lâm Phong để thẩm tra lại vụ đó? Ngay cả thằng ngốc cũng biết, tiểu thuyết mang tính chất hư cấu, đâu thể trở thành chứng cứ kết tội? Hơn nữa, nếu đúng là cậu ta có tiền án phạm tội thì làm sao cậu ta có thể kể hết ra quá trình phạm tội của mình? Chẳng phải là “không khảo mà xưng” ư? Tại sao không điều tra Lâm Phong đang làm gì trong thời điểm xảy ra vụ án?

Người của phòng bảo vệ khuyên giải:

“Thầy Vĩ, thầy đừng quá xúc động. Không ai nói Lâm Phong chính là thủ phạm, hiện tại cậu ta chỉ là nghi phạm.”

Lưu Tử Kỳ hỏi trưởng phòng bảo vệ:

“Có thể chứng minh đêm hôm đó Lâm Phong ở đâu không?”

“Đêm hôm đó, đúng là Lâm Phong có ghé qua Học viện Y, điều này đã được chứng minh, chỉ có điều hiện tại vẫn chưa thể làm rõ lúc xảy ra vụ án, Lâm Phong đang ở đâu. Vì đêm hôm đó chỉ có một mình cậu ta ở lại phòng. Cậu ta kể, lúc chập tối cậu đến tìm thầy Vĩ, thấy thầy không có nhà, liền đến nhà thầy hướng dẫn, thầy hướng dẫn đã làm chứng việc này. Sau khi rời khỏi nhà thầy hướng dẫn, cậu ta về phòng đi ngủ. Về điểm này, bạn bè cậu ta và người gác cổng đều nhớ không rõ, vì hôm đó là cuối tuần, không có ai để ý.”

“Không ai có thể chứng minh lúc xảy ra vụ án có gặp cậu ta ư?”

“Không có. Vì thời điểm xảy ra vụ án là lúc đêm khuya, mọi người đều ngủ hết.” Dư Vĩ vẫn rất bất bình:

“Nhưng điều này cũng không thể chứng minh lúc đó Lâm Phong không ngủ.”

“Đúng vậy, đều rất khó chứng minh.” Người của phòng bảo vệ nói.

“Còn một điểm, vụ án ấy xảy ra không phải lần đầu, điều này chứng tỏ không chỉ mình Lâm Phong mắc bệnh tâm lý, tại sao cậu ta lại trở thành nghi phạm chứ không phải là ai khác?”

“Thứ nhất, tối hôm đó cậu ta có đến Học viện Y, cậu ta đã thừa nhận. Thứ hai, chúng tôi tìm thấy rất nhiều tang vật trong hòm của cậu ta. Thứ ba, nếu đúng như điều cậu ta viết trong nhật ký và tiểu thuyết thì chứng tỏ cậu ta đã có động cơ phạm tội từ lâu.”

“Thầy hiệu trưởng, em có một đề nghị.” Dư Vĩ nói.

“Cậu nói đi!”

“Không thể nhốt Lâm Phong ở đó nữa. Hôm qua em nhìn thấy cậu ấy bị người ta đánh, hơn nữa, cậu ấy là học sinh trường ta, là thạc sĩ, một thạc sĩ có tài. Cậu ấy mắc bệnh tâm lý, nhưng cậu ấy đã ý thức được điều đó từ lâu. Trong tiểu thuyết, cậu ấy đã nhiều lần nhấn mạnh điều này. Cậu ấy không cho những hành vi đó là bình thường, cậu ấy cũng biết thế là tội lỗi. Tại sao cậu ấy phải viết? Tại sao phải viết những điều bí mật đó ra? Vì cậu ấy muốn tự cứu mình. Trong lúc viết, cậu ấy đã phán xử mình, đã sám hối. Như thế vẫn chưa đủ sao? Kẻ hư hỏng biết ăn năn hối lỗi còn quý hơn vàng. Trong tiểu thuyết, cậu ấy đã nghĩ đến việc tự tử, cũng có nghĩa cậu ấy đã nổ súng về mình. Sự phán quyết với linh hồn như thế vẫn chưa đủ hay sao? Em tin là cậu ấy không gây án, đặc biệt là vụ án xảy ra ở Học viện Y không liên quan gì đến cậu ấy. Một, hai tháng gần đây, diện mạo tinh thần của cậu ấy đã có những thay đổi đáng kể, tình cảm giữa cậu ấy và em cũng trở nên sâu sắc. Từ lâu em đã nhận ra rằng, trong sâu thẳm tâm hồn cậu ta có sự đấu tranh mạnh mẽ, nên em muốn hướng dẫn cậu ấy. Mặc dù Lâm Phong không nói với em sự chuyển biến của mình, nhưng em khẳng định là cậu ấy đã thực sự xem xét và kiểm điểm bản thân. So với phần trước, phần cuối của tiểu thuyết, đặc biệt là phần kết đã có sự khác biệt lớn, những cái thuộc về lí trí chiếm rất nhiều, và em dám khẳng định rằng, phần sau được viết trong thời gian gần đây. Sở dĩ cậu ấy để nhân vật chính đi tự tử là vì cậu ấy muốn làm mới mình. Thầy hiệu trưởng, em nghiên cứu tâm lý học, em biết, có thể lãnh đạo phòng bảo vệ không thích nghe những lời phân tích của em về các vấn đề tâm lý, và cũng không thể đem nó ra tòa làm chứng, nhưng nó thực sự là những lời bào chữa rất hiệu quả từ trong tâm.

“Thầy Vĩ, chúng tôi đã photo một bản tiểu thuyết từ tay bạn gái của thầy lúc thầy không có nhà, vì vụ án này gây ảnh hưởng lớn, Tỉnh ủy cũng rất coi trọng, đề nghị công an phải nhanh chóng phá án, thế nên chúng tôi cũng là bất đắc dĩ mà thôi. Tôi phải nói rõ để thầy biết. Chúng tôi cũng hy vọng sau khi quay về, thầy có thể cùng chúng tôi điều tra vụ án. Thầy là chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học, những lời phân tích của thầy có thể lấy ra làm chứng. Ngoài ra, tôi muốn giải thích với thầy một chút; thầy có đôi chút hiểu lầm về chúng tôi. Chúng tôi cũng không muốn học sinh của mình trở thành thủ phạm. Chúng tôi có được những thông tin này từ lời đồn đại trong sinh viên cao học của Học viện Y, khi cơ quan công an đến tìm chúng tôi, lúc đó chúng tôi cũng cảm thấy rất nực cười, nhưng khi đã tìm thấy tang vật trong hòm Lâm Phong thì không còn nói được gì nữa.” Người phòng bảo vệ nói với Dư Vĩ.

Lưu Tử Kỳ nói:

“Dư Vĩ à, hiện giờ nguyện vọng chung của chúng ta là làm thế nào để trả lại sự trong sạch cho Lâm Phong. Nếu Lâm Phong bị oan thì chắc chắn chúng ta sẽ tìm được đủ chứng cứ. Các chứng cứ này, một là phải dựa vào sự điều tra của phòng bảo vệ, hai là phải dựa vào sự phân tích của cậu trên phương diện tâm lý học, vì hiện tại căn cứ lớn nhất đưa Lâm Phong vào đối tượng bị tình nghi thuộc lĩnh vực tâm lý học. Vì thế các cậu phải hợp tác với nhau, đừng có bất đồng nữa nhé.”

Vì chuyện của Lâm Phong mà hai ngày nay Dư Vĩ và Tiếu Nhân chưa gặp nhau. Cuối cùng bố Tiếu Nhân không chịu được nữa, bèn gọi điện thoại cho Dư Vĩ:

“Dư Vĩ, cháu về rồi à?”

“Chú ạ, cháu đã về được ba hôm rồi.”

“Có phải cháu giận chú và Tiếu Nhân không?” “Dạ không.”

“Tiếu Nhân về nhà cứ khóc suốt, hai ngày vừa rồi không ăn uống gì. Chú nghĩ, hay là chú đến xin lỗi cháu, chuyện này đều do chú gây ra.”

Dư Vĩ vội nói:

“Không, không, chú ạ, chú nghe cháu nói đã, chú và Tiếu Nhân không có gì sai, đều có ý tốt cả. Cháu mới là sai, cháu không nên làm trái với những lời mình đã hứa.”

“Cháu vẫn đang giận chú và Tiếu Nhân phải không?”

“Không, chú ạ, thế này nhé, bây giờ cháu sẽ đến nhà chú.”

Dư Vĩ bắt taxi, một lát đã có mặt ở nhà Tiếu Nhân. Nhà văn già mặt mày ủ rũ, chắc chắn ông đã bị cô con gái mắng cho đến khổ sở. Dư Vĩ cảm thấy hơi ái ngại, anh nói:

“Chú ạ, bây giờ chú và Tiếu Nhân cũng đừng buồn nữa. Sự việc không đến nỗi tệ như chú tưởng tượng. Hiện tại nhà trường cũng đang cố gắng bảo vệ Lâm Phong, mọi người đều cho rằng Lâm Phong không gây án, chỉ có điều trước mắt, không ai chứng minh được đêm hôm đó Lâm Phong có ngủ ở phòng hay không. Chỉ cần chứng minh được điều này là Lâm Phong sẽ vô tội.”

Cuối cùng ông cụ đã cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Ông nói:

“Xảy ra việc này chú cũng có phần trách nhiệm, chú không biết bây giờ mình có thể giúp được gì?”

Dư Vĩ nghĩ một lát rồi nói:

“Chú là người cầm bút; chú có thể đứng từ góc độ của một nhà văn viết tiểu thuyết để chứng minh rằng: vì muốn thể hiện một chủ đề nên Lâm Phong đã hư cấu một số sự thật, chỉ có điều những sự thật này là những sự việc đã từng xảy ra mà thôi.”

“Được. Sự thực đúng là như vậy mà.”

“Còn nữa, đó là việc giải thích phần cuối của cuốn tiểu thuyết mà Lâm Phong viết. Cháu cho rằng, tiểu thuyết có chức năng nhận thức ‐ nhận thức chính mình, vượt qua chính mình. Cháu cho rằng, Lâm Phong viết như vậy là để vượt qua bản thân cậu ta, là để tự cứu lấy mình. Chú có quan điểm gì về vấn đề này?”

“Nói thực, chú cũng thấy nghi ngờ về phần kết của cuốn sách. Chú chưa tìm hiểu kỹ điều này. Ở đây có thể thấy rất rõ là đã chịu sự ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây. Chú sợ cậu ta cũng sẽ lựa chọn con đường tự tử, nên đã tìm cậu ta để trò chuyện, không ngờ sự việc lại ra nông nỗi này. Sau đó chú suy nghĩ lại, cũng thấy rất hối hận.”

Dư Vĩ kể cho ông nghe tình hình cơ quan công an thu thập chứng cứ như thế nào. Ông nói ông phải có trách nhiệm trong chuyện này, quyết định cùng Dư Vĩ ra tòa làm chứng. Sau đó mẹ Tiếu Nhân mượn cớ phải đi thăm một người quen, kéo cả bố Tiếu Nhân đi. Dư Vĩ biết dụng ý của bà. Thực ra Tiếu Nhân đang đợi Dư Vĩ đến dỗ dành cô. Họ đã làm lành với nhau.

Nhà trường mời một luật sư rất nổi tiếng bào chữa cho Lâm Phong, còn Dư Vĩ trở thành nhân chứng chủ yếu, vì chỉ có Dư Vĩ mới trình bày được rõ ràng tâm lý của Lâm Phong.

Lâm Phong đã bị nhốt trong phòng tạm giam năm ngày. Công an chuẩn bị cho khoa Văn thông báo với người nhà cậu, Dư Vĩ kiên quyết phản đối. Anh hiểu, Lâm Phong không muốn để bố và em trai biết chuyện này, như thế khác gì dồn cậu đến bước đường cùng. Họ phát hiện rằng, điều duy nhất có thể chứng minh Lâm Phong vô tội là tìm thấy nhân chứng. Theo lời của công an điều tra, Lâm Phong cũng không thể chỉ ra người nào chứng minh lúc đó đúng là cậu ta đang ngủ. Bình thường Lâm Phong ít giao tiếp với mọi người, cuối tuần cũng chỉ giải trí một mình, vì thế rất khó tìm được người làm chứng cho sự có mặt của cậu ở phòng.

Dư Vĩ thầm nghĩ, phải đi tìm Lâm Phong để nói chuyện. Nhân viên phòng bảo vệ lại cùng Dư Vĩ đến phòng tạm giam, phải đợi rất lâu mới gặp được Lâm Phong. Cậu gầy đi, mắt hõm sâu. Lúc nhìn thấy Dư Vĩ, Lâm Phong tỏ ra hơi do dự, Dư Vĩ lên tiếng trước:

“Xin lỗi, Lâm Phong, thầy có vài vấn đề muốn trao đổi với em.”

Lâm Phong làm thinh. Dư Vĩ nói tiếp:

“Thầy biết em không muốn nói chuyện với thầy. Thầy đã khiến em thất vọng, đúng không?”

Hai mí mắt đang chùng xuống của Lâm Phong khẽ động đậy, tựa như đang nhìn Dư Vĩ, nhưng chỉ một chút thôi, chứ không nói năng gì cả.

“Em có thể tha thứ cho thầy không?” Dư Vĩ hỏi.

Bất ngờ Lâm Phong đứng dậy, quay người bỏ đi. Đây là điều Dư Vĩ không thể ngờ tới. Với tính cách của Lâm Phong, chắc chắn cậu sẽ không bao giờ làm điều đó, nhưng lần này thì khác.

Dư Vĩ thất vọng nhìn theo bóng Lâm Phong, lòng đầy hối hận, bất ngờ anh nói:

“Lâm Phong, chúng ta viết thư nhé?”

Đúng vậy, viết thư là hay nhất. Lâm Phong là người ít nói, nhạy cảm. Nói chuyện như thế chắc chắn sẽ không được chủ động, và cũng không phải là sáng suốt.

Anh trao đổi suy nghĩ này với trưởng phòng tạm giam, trưởng phòng nhìn anh bằng ánh mắt ngờ vực rồi nói, cứ thử xem sao.

Trong lá thư đầu tiên, Dư Vĩ đã ôn lại cảnh lần đầu tiên họ gặp nhau và nói rõ quan điểm của anh về vụ án này. Anh giao lá thư cho người của phòng tạm giam. Anh bảo với trưởng phòng, nếu Lâm Phong đưa thư cho họ thì lập tức thông báo với anh ngay. Nhưng đến tận chiều hôm sau, anh vẫn không nhận được thư từ gì hết.

Anh bắt đầu viết lá thư thứ hai; trong lá thư này, anh nhắc lại những cảm nhận của mình về Lâm Phong. Lần đầu gặp Lâm Phong, anh không có thiện cảm gì, anh chắc chắn trong lòng Lâm Phong rất đau khổ, tự ti và cũng rất cô đơn. Anh là một người tự phụ và ngạo mạn, vì thế anh không muốn kết bạn với Lâm Phong mà chỉ đối phó cho qua chuyện. Nhưng đồng thời anh lại là một giáo viên tâm lý học, nghề nghiệp của anh đã trao cho anh trách nhiệm; chính sự thông cảm và tinh thần trách nhiệm đó đã thôi thúc anh phải tiếp tục giao lưu với Lâm Phong. Anh đã thẳng thắn bày tỏ những suy nghĩ trong lòng mình với Lâm Phong; anh không còn muốn giấu giếm cậu bất cứ điều gì. Trong bức thư này, anh không hề nhắc gì đến tiểu thuyết và vụ án mà tâm sự với Lâm Phong như một người bạn.

Buổi chiều hôm sau, Dư Vĩ đã nhận được thư của Lâm Phong. Anh vui mừng mở ra xem, chỉ có một câu:

Nếu ngay từ đầu chúng ta chuyện trò như bây giờ thì hay biết bao!

Mặc dù Lâm Phong chỉ viết một câu, nhưng Dư Vĩ có thể cảm nhận được niềm vui của Lâm Phong, có thể nhìn thấy vẻ đau khổ và mừng rỡ của cậu khi đọc được thư anh. Anh như nhìn thấy sự xúc động của Lâm Phong sau khi đọc thư, thấy cậu ta đã viết rất dài, nhưng cuối cùng lại xé thư đi. Lâm Phong không muốn nhanh chóng đầu hàng trước anh như vậy. Vì thế, Lâm Phong chỉ viết mỗi một câu mà thôi.

Nhưng cũng từ câu nói đó, dần dần, Lâm Phong đã mở rộng tấm lòng trước Dư Vĩ.

Dư Vĩ vội trả lời Lâm Phong, anh viết về quan hệ giữa hai người khi đã thân mật hơn, chú trọng bàn về thơ của cậu. Trong thư Dư Vĩ viết, anh không nên chỉ quan hệ với Lâm Phong với tư cách là một thầy giáo, mà nên coi Lâm Phong là một người bạn, một tri kỷ. Dư Vĩ viết về sự hối hận và tự trách của anh bây giờ. Nhưng Dư Vĩ vẫn không nhắc gì đến tiểu thuyết và vụ án, anh không muốn cắt đứt mối quan hệ giữa họ ở đây.

Tối hôm đó Lâm Phong hồi âm ngay. Bức thư vẫn rất ngắn:

Thưa thầy, em cảm ơn thầy đã coi em là một người bạn, nhưng đến nay em vẫn coi thầy là thầy giáo hướng dẫn của em. Thầy ạ, thầy không phải né tránh chuyện về cuốn tiểu thuyết. Chúng ta nói về cuốn tiểu thuyết nhé!

Trước đây, em không muốn nhắc đến cuốn tiểu thuyết khiến em xấu hổ muôn phần đó nữa, nhưng chúng ta không nói chuyện về nó thì còn biết nói chuyện gì hơn? Dường như cuốn tiểu thuyết đáng xấu hổ đó là toàn bộ cuộc sống và suy nghĩ của em.

Em chỉ xin thầy một điều là tạm thời đừng nhắc đến chuyện vụ án.

Qua thư Dư Vĩ đã nhận ra rằng, Lâm Phong đã tha thứ cho anh, và cũng đã có thể đối diện với anh. Anh phát hiện thấy Lâm Phong đã dùng một danh từ “thầy giáo hướng dẫn”! Nhưng anh vẫn rất thận trọng, cân nhắc cẩn thận khi viết thư cho Lâm Phong. Anh viết rằng quan hệ giữa anh và Lâm Phong trở nên thân mật hơn là nhờ có cuốn tiểu thuyết đó. Trong tiểu thuyết, anh đã nhìn thấy một Lâm Phong đầy mâu thuẫn giữa lí trí và nhu cầu tình dục, một Lâm Phong bất lực trước cái xấu của chính mình. Anh biểu lộ sự thông cảm, thấu hiểu, thậm chí cả sự ca ngợi. Anh nói đến phần sau của cuốn tiểu thuyết và cho rằng điểm khác với phần trước là, ở phần này Lâm Phong đã gửi gắm thêm nhiều yếu tố lí trí của cá nhân, những yếu tố đã khiến tác phẩm có sự thay đổi về chất. Anh viết:

“Ở phần cuối của cuốn tiểu thuyết, thầy đã nhìn thấy một Lâm Phong khác. Sự tự tin của em, thậm chí có thể nói sự ngông cuồng, ngạo mạn của em đều khiến người khác phải chú ý. Không biết thầy hiểu có đúng hay không phần kết của cuốn tiểu thuyết được em hoàn thành trong thời gian gần đây. Thầy nghĩ, rất lâu em không tìm được hồi kết, vì em không có đủ dũng cảm để đối mặt với những mẫu thuẫn trong lòng, nhưng gần đây em đã hoàn thành xong việc tự cứu mình. Việc Thiền Mĩ bị điên vốn không có gì liên quan đến em, nhưng em lại để nó trở thành một chi tiết trong tiểu thuyết của em, như thế đã đẩy mâu thuẫn của em lên đỉnh điểm, và em lại không đi tự thú, chỉ để nhân vật chính tự tử, cách xử lí đó thực sự rất hay. Em đã hoàn thành việc tự cứu mình trong cuốn tiểu thuyết này. Thầy tin rằng từ giờ trở đi em sẽ là một Lâm Phong khác, không phải là em trước kia. Từ đó em cũng hoàn thành công việc tự chữa bệnh tâm lý cho mình.”

Thư trả lời của Lâm Phong được viết rất dài, đủ thấy mọi suy nghĩ chất chồng và dồn nén trong mấy ngày qua cuối cùng đã được trút bày, thổ lộ:

Thầy Vĩ kính mến!

Từ lâu em đã quen với vẻ cao ngạo, tự tin của thầy, em rất áy náy trước vẻ hổ thẹn của thầy trong hai lần trước thầy đến thăm em. Em cũng đã nhận ra được rằng thầy rất thận trọng, cân nhắc kĩ càng khi viết thư cho em. Đây là điều em không hề mong muốn. Em muốn được nhìn thấy thầy vẫn là người thầy ngạo mạn, ngang ngạnh của trước kia, một người thầy sôi nổi đầy nhiệt huyết, một người thầy dám khiêu chiến với đạo đức và lí trí. Em không muốn nhìn thấy dáng vẻ hiện nay của thầy.

Sự việc đã ra thế này, em còn có gì để nói? Em không đòi

hỏi pháp luật phải cho em một sự phán quyết hợp lí. Cho đến tận bây giờ, thực ra điều mà em quan tâm là sự thấu hiểu của thầy đối với em. Điều này còn quan trọng hơn cả sự thấu hiểu của pháp luật đối với em!

Em biết, thầy sẽ khó hiểu về tình cảm này của em.

Đúng vậy, em đã từng hận thầy, hận thầy không giữ lời hứa. Em chưa bao giờ đặt niềm tin vào bất kỳ ai, ngoài người thân của em. Kể cả sự tin tưởng mà em dành cho bố em cũng không thể bằng được thầy. Thầy nói đúng, tình cảm giữa chúng ta là sự giao lưu thuần túy về mặt tinh thần. Tình cảm này cao hơn tất cả mọi thứ. Nhưng thầy đã phản bội lại lời hứa của mình!

Cho dù như vậy, sau lần đầu tiên thầy đến thăm em, thực ra em đã tha thứ cho thầy. Chỉ có điều lúc đó em chưa thể chấp nhận về mặt tình cảm. Em không phải là người khéo ăn nói, đặc biệt là trước mặt thầy, em không biết phải nói gì. Và thầy đã thật sự hiểu được em, dùng cách viết thư để chuyện trò với em. Đây là điều em mong muốn nhất. Em biết, đây là việc của em, kể cả người khác không biết thì cũng là chuyện đã xảy ra. Chính vì điều này, em đã tha thứ cho thầy. Em tha thứ cho thầy không phải vì thầy đã làm gì cho em, mà chỉ vì những chuyện đó đều là sự thực.

Thầy nói rất đúng, trong phần sau của cuốn tiểu thuyết em đã vô cớ cho thêm chi tiết Thiền Mĩ bị điên và “tôi” tự tử. Đúng là trước kia em không biết nên cho tác phẩm một hồi kết như thế nào, hơn một năm qua, em đã viết rất nhiều hồi kết, nhưng đều không cảm thấy hài lòng. Kể từ khi được quen thầy, em như biến thành con người khác. Hằng ngày em viết rất nhiều cảm nhận của mình. Dần dần, các kiến thức trước kia của em đã được thu hồi lại, nhận thức của em cũng ngày càng rõ ràng. Em cảm nhận một cách rõ ràng là mình đã có lòng tin, đã có dũng khí để theo đuổi chân lí. Đúng vậy, “theo đuổi chân lí”, cụm từ này trước kia không liên quan gì đến em, thầy thường buột miệng nhắc đến, và nó đã in sâu trong tâm trí em. Thầy không giống như người khác, thầy về nước không phải vì ham danh lợi mà vì cầu đạo. Đúng vậy, “cầu đạo” cũng là từ mà thầy hay nói đến. Những từ hay gặp trong sách vở này đã trở thành danh từ giả dối trong cuộc sống của chúng ta, chỉ khi được thầy thốt ra mới trở nên chân thực. Theo đuổi chân lý – đúng vậy, trong hai tháng ngắn ngủi được kết giao với thầy, em bỗng trở thành một người cao thượng. Lần đầu tiên xuất phát tự đáy lòng, em thấy yêu bản thân mình. Em chọn cách kết thúc đó, một là để khuyên răn mình, nếu tiếp tục đi sẽ là con đường như vậy, hai là tự cứu bản thân. Em đã thực sự được chết một lần trong tiểu thuyết. Sau khi viết xong hồi kết đó, em cảm thấy mình đã có được cuộc đời mới.

Tất cả những điều này đều là công lao của thầy, thầy ạ! Nhưng em biết, thầy vẫn chưa thực sự coi trọng em. Em tin rằng, sau khi đọc xong phần sau của tiểu thuyết thầy sẽ lại đến thăm em. Em đã làm được điều đó.

Trên thế giới này, chỉ có thầy mới là người thực sự hiểu em, chỉ có thầy mới là người giúp đỡ em một cách thực sự. Em đã sống cô đơn rất nhiều năm, luôn cảm thấy thế giới đầy băng giá, bây giờ em đã cảm nhận được hơi ấm. Đúng vậy, em rất ít khi xúc động, rất ít khi cảm thấy tự hào về mình, đến nay em đã có cảm nhận này. Đây là niềm hạnh phúc của em! Đây là điều may mắn của em!

Nhưng thầy ạ, trong những ngày bị nhốt trong phòng tạm giam, em lại có được sự nhận thức mới về mình. Điều đó phải cảm ơn quá khứ của em. Trước kia em không có bạn bè, cũng không có các quan hệ xã giao, việc em làm nhiều nhất chính là đọc sách. Không phải vì em thích đọc sách, phần lớn là do cô đơn tạo nên. Đến giờ, những quyển sách em đã đọc đó đang lần lượt hiện ra trước mắt em, giải thích lại cho em tất cả mọi điều về chân lý. Em đã nghĩ thấu được một điều, đó là con người mãi mãi sẽ cô đơn, con người mãi mãi phải dựa vào chính mình. Chân lí cũng chỉ có thể dựa vào mình mới có được, bạn bè và tri kỉ là những đòi hỏi quá cao của cuộc đời. Thầy bảo có đúng không?

Thầy ạ, em đang có một tham vọng, em muốn nghe chuyện về cuộc đời thầy, em muốn biết phía sau thầy có chuyện gì khiến thầy cảm thấy nhục nhã hay không, liệu chúng có nhục nhã như những chuyện của em không? Nếu có, em rất muốn biết thầy đã giải quyết chúng như thế nào?

Cảm ơn thầy! Mặc dù chúng ta đã trở thành bạn bè, nhưng trong lòng em, thầy vẫn là người thầy hướng dẫn về mặt tinh thần cho em.

Học trò của thầy

Lâm Phong

Cậu ấy nhạy cảm biết bao! Không ngờ cậu ấy lại nhận ra được sự thận trọng và nhìn thấu tâm trạng của Dư Vĩ. Đặc biệt là câu hỏi cuối cùng mà cậu ta đưa ra đã thực sự khiến Dư Vĩ phải sửng sốt, bàng hoàng. Đúng vậy, cũng đã đến lúc phải nói thật với cậu ấy rồi. Lần đầu tiên Dư Vĩ cảm thấy khó khăn, cảm thấy nguy hiểm khi kết giao với Lâm Phong. Có ai chưa bao giờ từng làm những việc khiến anh ta cảm thấy nhục nhã? Nhớ lại và giải phẫu chính mình sẽ thấy máu chảy ròng ròng. Ngày nhỏ Dư Vĩ cũng sống ở nông thôn, anh đã cảm nhận được sâu sắc sự đau khổ, tự ti, bị người khác coi thường mà Lâm Phong miêu tả trong tiểu thuyết; chính vì đã từng tự ti nên mới tự phụ và ngạo mạn thế này. Anh vẫn luôn che giấu lòng mình. Hồi còn nhỏ, anh từng sờ mó, từng nhìn trộm con gái đi vệ sinh; thậm chí là nhìn trộm bản thân và thủ dâm khi chỉ có một mình; thời học đại học, từng bị bạn gái xúi giục và lén lút ngủ đêm với nhau; thời gian du học ở nước ngoài, từng có ý định tìm gái bán hoa... Ôi, có bao nhiêu điều đáng xấu hổ, đáng sỉ nhục trong quá khứ! Anh không muốn nhớ lại, vì anh không muốn đối diện với chúng nữa, anh cũng không muốn nhắc đến chúng trước mắt người khác, không muốn nhìn thấy sự kì thị của người nghe dành cho anh, không muốn những việc này ảnh hưởng đến tương lai của anh, càng không muốn để những kí ức đáng sỉ nhục này ảnh hưởng đến cuộc sống, tình yêu của anh. Anh có thể nói ra không? Anh không thể nói ra. Nhưng Lâm Phong muốn anh nói. Anh làm thế nào bây giờ? Trước đây anh đã làm tổn thương lòng tự trọng của cậu ta, bàng quan đứng nhìn vết thương của cậu ta rỉ máu, còn vết thương của mình thì băng lại. Anh không muốn để người khác biết về quá khứ của mình.

Anh chìm trong đau khổ. Anh nghĩ, nếu viết kể cho Lâm Phong nghe những chuyện này, Lâm Phong sẽ tìm được sự cân bằng về mặt tâm lý, được giải cứu, nhưng anh lại lâm vào sự khổ nạn. Anh không muốn viết nó ra câu chữ, không muốn để người khác biết những chuyện đó, đặc biệt là Tiếu Nhân. Nếu cô ấy biết, cô ấy sẽ đau khổ biết bao!

Nhưng đây là quá khứ chân thực của anh. Không có những quá khứ này thì không thể có anh hôm nay. Không có những quá khứ này, anh cũng không thể hạ quyết tâm dồn toàn bộ mọi tâm huyết cho tâm lý học. Không có những quá khứ này, anh sẽ không thể thấu hiểu được nhân tính một cách sâu sắc. Và nhất là anh không thể tạo dựng được niềm tin sống vững chắc.

“Ai có thể khuyên được ta? Lúc này đây ta nên làm thế nào? Ta không thể giấu giếm cậu ấy chuyện gì nữa, nhưng ta lại không muốn nói với cậu ấy như vậy.” Trong giây phút mâu thuẫn, đột nhiên Dư Vĩ cảm thấy mình biến thành một kẻ nhu nhược, một tội nhân coi thường chính bản thân mình. Anh cảm thấy mình không bằng cả Lâm Phong, không có can đảm giải phẫu chính mình như Lâm Phong. Không, anh không thể để Lâm Phong coi thường, càng không thể tự coi thường chính mình.

Cuối cùng, anh đã quyết định kể cho Lâm Phong nghe tất cả những điều này, xé mình ra thành những mảnh vụn. Anh viết trong đúng một đêm, viết trong nước mắt giàn giụa. Nhưng trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, anh có thể viết được gì? Chỉ kể các chi tiết chính của sự việc. Cuối thư, anh vẫn viết một câu: “Lâm Phong, sau khi đọc xong lá thư này, em hãy đốt nó đi, đừng để bất kỳ người nào đọc được.”

Anh cảm thấy hổ thẹn vì câu nói đó.

Anh dán thư rất kỹ, lúc đưa cho trưởng phòng tạm giam, anh lại nói:

“Thôi cứ để tôi đưa cho cậu ấy.”

Anh đã nhìn thấy Lâm Phong. Trong mắt Lâm Phong ánh lên một vẻ háo hức; anh cũng rất mừng. Nhưng cả hai đều cảm thấy hơi ngại ngùng. Họ đều muốn hiểu về đối phương qua những lá thư, không còn muốn đối diện với nhau trong thực tế nữa. Ngôn ngữ đã trở nên thừa thãi. Anh nói với Lâm Phong:

“Em đọc đi. Thầy đợi thư hồi âm của em.”

Lâm Phong cầm thư quay vào. Anh cũng quay về ngủ.

Buổi chiều, phòng tạm giam gọi điện thoại đến, nói Lâm Phong đã trả lời thư, bảo anh đến lấy. Đúng lúc anh cũng vừa tỉnh giấc.

Trong thư Lâm Phong đã viết như sau:

Thưa thầy!

Cả đêm qua em không ngủ. Nói thật, lúc đầu em không tin những điều thầy viết, em nghi ngờ rằng có phải vì muốn cứu em mà thầy bịa ra như vậy không? Em nằm lặng lẽ trong đêm tối, tiếng còi tàu phía xa đang hú lên từng hồi, tất cả các phạm nhân trong phòng giam đều đã ngủ say. Em nhớ mãi một câu thầy viết trong thư: “Không có ai cả đời không mắc sai lầm, sống không có sai lầm là điều rất khó tin.” Câu nói này đã khiến em tin thầy. Cũng chính câu nói này đã khiến em lại một lần nữa ngưỡng vọng thầy.

Thầy đã mở ra cho em ‐ một người bất hạnh thấy mặt tối của con người thầy. Em biết, thầy muốn khích lệ em, để em dám nhìn thẳng vào hiện thực. Làm được điều này phải là người rất đáng khâm phục. Rousseau đã từng làm như vậy và đã cứu vớt cả châu Âu. Còn em thì sao? Tất cả những linh hồn có thể cứu vớt đều phải có khả năng tự cứu mình; em có khả năng này không?

Đúng, em đã từng tự tử trong tiểu thuyết. Trước đây em cũng cho rằng em đã tự cứu mình về mặt tinh thần, nhưng giờ đây, em mới phát hiện ra rằng, tiểu thuyết rốt cục chỉ là tiểu thuyết, và giả thiết vẫn mãi chỉ là giả thiết mà thôi. Em chưa thực sự tự cứu mình.

Thầy ạ, em muốn hỏi thầy một vấn đề: ”Tại sao Leo Tolstoy lại bất ngờ bỏ đi vào lúc tuổi già?”

Phần cuối của lá thư, Lâm Phong nói cậu đã đốt bức thư đó. Bắt đầu từ câu hỏi này, họ đã bước vào một cuộc đối thoại về triết học đơn thuần. Tuy nhiên, cũng chính lúc này đây, Dư Vĩ chợt nhận ra sự thiếu hụt kiến thức của mình. Về vấn đề tại sao Leo Tolstoy lại bất ngờ bỏ đi trong lúc tuổi già, anh đã được đọc ở rất nhiều nơi, người phương Tây phần lớn đều cho rằng đây là vấn đề tín ngưỡng. Trong thư trả lời Dư Vĩ đã nói rất nhiều, nói về Những người khốn khổ của Victo Hugo, nói về lời đối thoại của Jean Valjean trong lần cuối cùng đứng trước Javert. Rất nhiều sách giáo khoa đã đưa ra lời bình luận về tác phẩm này như sau: Miêu tả một cách chân thực bức tranh cuộc sống xã hội của nước Pháp trong khoảng hơn hai mươi năm đầu thế kỷ XIX, kể từ thời điểm Napoleon I lên ngôi và vài thập niên sau đó, thể hiện sự thông cảm sâu sắc đối với nhân dân lao động, phê phán chế độ tư pháp, pháp luật và quan niệm đạo đức của xã hội tư sản. Nhưng anh cho rằng, điều mà Victo Hugo muốn nói vẫn là vấn đề tín ngưỡng.

Vấn đề này vừa gợi ra, họ mới phát hiện ra rằng, tất cả vẫn còn bỏ ngỏ và cần giải thích. Họ bắt đầu đề cập tới, bằng các trang viết rất dài, những vấn đề chưa bao giờ bàn luận nhưng lại luôn luôn nghĩ đến. Các vấn đề ngày càng nhiều, nhất là Lâm Phong còn hỏi rất nhiều câu mà Dư Vĩ chưa bao giờ nghĩ đến, có rất nhiều kiến thức và loại sách mà Lâm Phong nhắc đến nhưng Dư Vĩ chưa từng được tiếp xúc. Mấy năm vừa qua, Dư Vĩ rất ít đọc các trước tác về khoa học và triết học, đặc biệt là triết học cổ điển Trung Quốc thì lại càng ít hơn. Dường như họ đang viết luận văn triết học, hoàn toàn tách rời cuốn tiểu thuyết và bản thân vụ án. Họ đã đi vào trạng thái nội tại của con người.

Điều này đã khiến Dư Vĩ vô cùng hổ thẹn và lúng túng, anh đã lục hết kho kiến thức của mình mà vẫn khó có thể tiếp được chiêu của Lâm Phong. Còn Lâm Phong thì dường như vừa mới bắt đầu thảo luận những khúc mắc của cậu về các vấn đề trong sách vở và cuộc sống từ mấy năm qua. Cậu chưa bao giờ chuyện trò với ai, chưa bao giờ bày tỏ những suy nghĩ trong cuộc sống nội tâm của mình; giờ thì đã có cơ hội, cậu bèn thỏa sức giãi bày. Dư Vĩ vô cùng kinh ngạc về trí nhớ của Lâm Phong. Anh ở bên ngoài thì còn tra cứu được sách tham khảo, chứ Lâm Phong trong nhà giam, chỉ toàn dựa vào trí nhớ mà thôi.

Điều khiến Dư Vĩ ngạc nhiên nhất là các cuộc đối thoại giữa họ đã kích thích những suy nghĩ về cuộc sống và tâm hồn của Lâm Phong. Một hôm, cậu hỏi anh “Thầy có tin là có quỷ không? Thầy có tin thế gian có linh hồn không? Thầy có tin sẽ có kiếp sau không?” Trong tiểu thuyết của Lâm Phong, Dư Vĩ từng đọc được những vấn đề này, nhưng anh không nghĩ gì nhiều; bây giờ Lâm Phong trực tiếp hỏi anh, khiến anh hết sức bất ngờ. Anh không thể trả lời.

Chín ngày trôi qua trong những cuộc trao đổi, chuyện trò như vậy. Chiều nay, anh không thể không nói với Lâm Phong một số vấn đề liên quan đến vụ án. Anh bảo với Lâm Phong, nhà trường và rất nhiều người ‐ kể cả bố Tiếu Nhân đều rất quan tâm đến cậu. Anh còn nói, đáng lẽ nhà trường đã thông báo cho bố cậu, nhưng đã bị anh ngăn lại. Trong thư trả lời, Lâm Phong chỉ viết một câu: ”Đừng để người nhà em biết chuyện.”

Đến ngày thứ chín, vẫn chưa tìm thấy nhân chứng. Không ai có thể chứng minh đêm hôm đó Lâm Phong ở ký túc xá, nhưng lại có người chứng minh được cậu đã xuất hiện ở Học viện Y, bản thân cậu cũng thừa nhận điều này. Dư Vĩ cho rằng, chỉ có một khả năng cứu được Lâm Phong; anh đã từng nói với bố Tiếu Nhân và lãnh đạo nhà trường:

“Hiện nay, cách duy nhất có thể chứng minh cho sự trong sạch của cậu ấy là đứng từ góc độ tâm lý học để phân tích, hoặc cũng có thể chứng minh từ góc độ văn học.”

Nhưng người của phòng bảo vệ cho rằng: “Pháp luật không thừa nhận giả thiết mà chỉ thừa nhận chứng cứ.”

Dư Vĩ chửi toáng lên với vẻ bực bội: “Kệ mẹ pháp luật. Rõ ràng là Lâm Phong ngủ trong kí túc xá, tại sao pháp luật lại cứ đòi nhân chứng? Nếu pháp luật đòi chứng minh Lâm Phong là thủ phạm thì ai có thể đứng ra chứng minh? Ai nhìn thấy lúc đó Lâm Phong có mặt ở Học viện Y?”

Ngày thứ mười là ngày mở phiên tòa xét xử. Người đến xem không nhiều lắm, vì nhà trường rất kín chuyện. Bố mẹ người bị hại cũng đến. Họ một mực cho rằng Lâm Phong là hung thủ và nhìn cậu bằng ánh mắt oán hận. Lâm Phong vẫn cúi đầu; khi tòa đưa ra các “tang vật” mà cậu cất giữ trong hòm, cậu vô cùng đau khổ, không dám ngẩng lên nhìn ai. Nỗi sỉ nhục đó đã đánh gục cậu, nhưng một điều rõ ràng là các “tang vật” này không đủ để định tội cậu. Khi quan tòa đưa người bị hại ‐ cô sinh viên bị điên ra trước tòa, mọi người hết sức sững sờ: Cô gái xinh đẹp biết bao! Nhưng cô lại túm chặt áo blu của bác sĩ, sợ hãi kêu rên: “Cứu tôi với!” Bác sĩ nói với tòa, cô đã khá hơn nhiều, nhưng nếu có người lạ xuất hiện là cô lại như vậy. Trong bệnh viện, hễ có người lại gần là cô liền kêu “Cứu tôi với!” Bác sĩ nói cô không thể ở đây lâu, phải nhanh chóng quay về bệnh viện. Cô ấy đi rồi. Bố mẹ cô ấy đã khóc ngất từ lâu.

Quan tòa hỏi Lâm Phong đã gặp cô gái này bao giờ chưa, Lâm Phong cũng sững sờ. Làm sao có thể chưa gặp? Đợt tuyết rơi mùa đông năm nào, cậu đã từng xin cô tất. Cậu nói:

“Đã gặp.”

Cậu vừa trả lời, cả hội trường ồn ào hẳn lên. Tòa lại hỏi cậu:

“Anh gặp cô ấy từ bao giờ?”

“Mùa đông ba năm trước.”

“Anh có hành vi gì xấu với cô ấy không?”

“Có. Tôi xin cô ấy tất, nói dối cô ấy rằng em gái tôi từ quê lên, không có tất đi. Cô ấy liền vui vẻ cho tôi.”

Tòa liền bảo cậu tìm đôi tất trong đống “tang vật” đó. Cậu tìm ra ngay. Tất cả mọi người trong phiên tòa đều tỏ ra kinh ngạc.

“Sau đó anh còn gặp cô ấy nữa không?” “Có, nhìn thấy mấy lần từ xa.”

“Có hành vi và động cơ gì xấu không?” “Không.”

Đây là điều Dư Vĩ và mọi người không thể ngờ tới; tất cả các vấn đề còn lại hầu như đều nằm trong dự đoán. Quan tòa thừa nhận các phân tích tâm lý của Dư Vĩ và phân tích của bố Tiếu Nhân, nhưng ông nói, những điều này không thể lấy làm chứng cứ. Quan tòa vẫn yêu cầu họ phải đưa ra nhân chứng, nhưng tìm đâu được. Và họ cũng đưa ra lời phản đối gay gắt trước tòa, nếu chỉ dựa vào một số chi tiết được miêu tả trong tiểu thuyết và một vài hành vi biến thái về mặt tâm lý của Lâm Phong mà đã khẳng định cậu chính là thủ phạm gây án ở Học viện Y là không công bằng. Luật sư của Lâm Phong cũng kháng nghị:

“Tôi cho rằng, nếu vụ án này xuất phát từ góc độ tâm lý học và văn học thì nên đứng từ góc độ tâm lý học và văn học để đưa ra lời phán đoán chính xác. Đồng thời, chúng tôi cho rằng, thu thập chứng cứ là công việc của tòa án. Khi chưa có đủ chứng cứ chứng minh Lâm Phong có mặt tại hiện trường xảy ra vụ án thì không thể buộc tội cậu ta.”

Xét đến danh tiếng của nhà trường và cả tên tuổi của bố Tiếu Nhân, đồng thời còn có các lí do phản bác của Dư Vĩ trong lĩnh vực tâm lý học, tòa tạm thời cho hoãn xét xử để tiếp tục thu thập chứng cứ.

Họ đã giành được thắng lợi tạm thời. Dư Vĩ yêu cầu tòa tạm thả Lâm Phong vì tâm lý cậu vẫn chưa thực sự ổn định, đang phải đối mặt với những nguy hiểm khó lường, nhưng tòa đã bác bỏ đề nghị của Dư Vĩ. Anh bèn đem cho Lâm Phong ít tạp chí và sách vở, sợ Lâm Phong rỗi rãi lại nghĩ quẩn.

Lần này Lâm Phong cất lời trước Dư Vĩ: “Thầy Vĩ, em có tội!”

Dư Vĩ sững người, vội hỏi:

“Vụ án ở Học viện Y có thực là do em gây ra không?”

“Không phải. Nhưng đến bây giờ, phải với không phải có gì khác nhau đâu?”

“Lâm Phong, em phải trấn tĩnh, phải là phải, không phải là không phải. Chỉ cần chúng ta tìm được một nhân chứng là sẽ lật ngược được vấn đề, sẽ rửa oan được cho em.”

“Thầy Vĩ, không có người chứng minh đêm hôm đó em ở ký túc xá, thì cũng không thể chứng minh em không có mặt ở ký túc xá? Có mặt hay không, không phải là điều mà pháp luật có thể định rõ, mà do bản thân em xác định. Mọi người đừng mất công nữa. Em là người có tội, hôm nay, khi em nhìn thấy bao người nhìn em với ánh mắt phẫn nộ đó, khi em nhìn thấy bạn gái đó, em cảm thấy mình đã là tội nhân từ lâu rồi.”

“Không, Lâm Phong, em nghe thầy nói này, em không phải là tội nhân, em là bệnh nhân. Hôm nay, đúng ngày hôm nay đây, cuối cùng em đã có dịp để đối mặt với người đời. Em phải cứng rắn lên, bắt đầu từ hôm nay, em phải coi trọng tất cả những cái thuộc về quá khứ của em. Em phải nhớ rằng, em không có tội mà là có bệnh.”

Tin tòa xét xử Lâm Phong vẫn bị truyền ra ngoài, hôm sau có phóng viên gọi điện thoại cho Dư Vĩ, hỏi về một số vấn đề liên quan, anh đã từ chối trả lời. Nhưng quá trình xử án vẫn bị đăng tải qua nhiều con đường khác, xã hội và toàn trường đều sửng sốt: một nghiên cứu sinh mà phạm một tội như vậy ư? Dư Vĩ đề nghị phòng tạm giam tạm thời không cho Lâm Phong biết.

Dư Vĩ vẫn muốn trao đổi thư từ với Lâm Phong, anh muốn cố gắng đến cùng. Anh nghĩ, chỉ cần Lâm Phong đứng vững về mặt tinh thần là có đủ khả năng biện hộ cho mình, là có lòng tin đối mặt với tất cả. Trong phần mở đầu của lá thư, anh vẫn tránh bàn đến vụ án, anh nói đến ý nghĩa quan trọng của việc trao đổi thư từ giữa họ trong thời gian trước đó.

Lâm Phong nhanh chóng hồi âm cho Dư Vĩ. Cậu viết:

Thầy kính mến!

Nếu chúng ta có thể tiếp tục nói chuyện như thế này thì tốt biết bao. Em thực sự hy vọng mình được ở mãi đây, hoặc giả ở trong tù, chúng ta sẽ nói về tất cả những cái liên quan đến chân lí. Trong cuộc đời em, đây là thời gian em hạnh phúc nhất. Đến giờ nghĩ lại, em chưa bao giờ gần gũi với một người nào như thế này, kể cả người “chị họ” mà em nhắc đến trong tiểu thuyết. Thật đấy, em và người nhà em chưa bao giờ tâm sự với nhau, có lúc em cảm thấy em và họ là những người xa lạ. Thực tế là em và “chị họ” cũng không có gì để nói chuyện, không có gì để tâm sự một cách sâu sắc. Thầy đã cho em sức sống mới, em muốn cảm ơn thầy.

Thầy ạ! Không biết thầy có cảm giác này không, đó là hình như chúng ta chuyện trò với nhau qua thư sẽ phù hợp hơn. Trong thư, chúng ta bình đẳng với nhau, có thể nói hết mọi điều mình muốn nói, nhưng cứ đến khi gặp thầy, em lại cảm thấy thầy thật lớn lao, buộc em phải ngẩng đầu ngước nhìn. Lúc đó, khoảng cách giữa chúng ta xa vời biết bao.

Thầy ạ! Nguyên nhân khiến em không nói đến vụ án, không phải do em không thể đối mặt với hiện thực, cũng không phải vì em sợ phải ngồi tù. Hiện giờ em còn mong được ngồi tù. Như thế em và thầy có thể trao đổi thư từ thường xuyên với nhau. Đương nhiên, đây chỉ là nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân thực chất là, cho dù có phải ngồi tù hay không, hiện tại điều em muốn biết là ý nghĩa thực sự để con người sống là gì. Đây là nỗi đau khổ lớn nhất của em, không chỉ trong lúc này mà trong suốt quãng thời gian học đại học.

Em không mê tín, không tin thế gian có quỷ thần, nhưng em lại hay phủ định suy nghĩ này. Có một thời gian em từng tin vào khoa học, tin vào lịch sử, nhưng em lại thường xuyên nghi ngờ. Không biết thầy có bao giờ có cảm nhận này không, đó là khi thầy đang làm một việc rất có hứng, đột nhiên thầy cảm thấy tất cả đều là vô nghĩa, vô giá trị. Em thường có cảm nhận này. Sở dĩ mãi em không tìm được hồi kết cho tiểu thuyết cũng là vì lí do đó. Thỉnh thoảng, em đọc lại những cái mình đã viết và cảm thấy thật khôi hài. Em đang làm gì vậy? Em muốn nổi tiếng ư? Nổi tiếng thì có nghĩa lý gì đối với em? Như lời thầy nói, là phải có giá trị nhận thức, tức là cho người đương đại đọc, thế thì có ý nghĩa gì không? Việc họ đọc hay không thì có liên quan gì đến em? Đã có suy nghĩ này thì còn tiếp tục viết được không? Sở dĩ em cho tiểu thuyết một kết cục như vậy là vì em muốn khích lệ mình, muốn cứu chính mình. Nhưng mấy ngày qua, càng ngày em càng phát hiện ra rằng, nó không thể cứu được em.

Cảm giác cuộc sống vô nghĩa đã trở nên quen thuộc với em. Đặc biệt là từ sau khi em vào học cao học, thấy có giáo sư làm ra vẻ ta đây đang nghiên cứu khoa học, em cảm thấy ghê tởm, tất cả không giống như hình dung ban đầu của em. Nghiên cứu khoa học kiểu gì vậy? Không giải quyết bất cứ vấn đề nào của nhân sinh, chỉ bận rộn với các chức danh và chế độ đãi ngộ của mình mà thôi. Họ có còn là giới trí thức không? Những cuốn sách mà thầy giáo hướng dẫn yêu cầu đọc, hầu như em đã đọc hết rồi; trên thực tế, em vẫn không có việc để làm. Em đành phải đọc sách, đọc hết quyển này đến quyển khác.

Tại sao em phải đọc sách? Sau này em đã phát hiện ra rằng, công việc đọc sách của em chỉ có một ý nghĩa: đó là cố gắng tìm ra ánh sáng của cuộc đời từ sách vở. Có lúc, tưởng như đã tìm thấy rồi, nhưng nó lại bị bóng đen ngờ vực của em che lấp. Phần lớn thời gian em dành để ngồi trong thư viện, thẫn thờ nhìn chằm chằm vào một quyển sách hai tiếng đồng hồ. Em bước ra khỏi thư viện mà không thu hoạch được gì, chỉ thấy lòng thật thoải mái. Bạn bè đều trêu em là tên mọt sách, mà đúng em là tên mọt sách thật rồi. Lúc đầu tưởng rằng cuộc sống của nghiên cứu sinh sẽ không giống sinh viên đại học, đến giờ nghĩ lại, thấy còn khô khan hơn cả thời đại học. Em cảm thấy có rất nhiều nghiên cứu sinh cũng mắc bệnh tâm lý như em. Bọn em thường ngồi với nhau để than thở về cuộc sống vô vị, nhạt nhẽo. Có lúc, chúng em đang nói đến chỗ cao hứng thì đột nhiên mọi người đều dừng lại, bắt đầu trầm tư suy nghĩ, cuối cùng đều giải tán bằng một tiếng thở dài: “Ôi, thật là vô vị!”

Gần đây em mới phát hiện ra nguyên nhân tại sao cho đến sau này em vẫn không chấm dứt được hành vi biến thái đó, đó là do em cảm thấy làm hay không làm cũng không có gì khác nhau. Thế giới này làm gì còn đạo đức? Cho dù là có đạo đức thì ý nghĩa của đạo đức nằm ở đâu? Tất cả đều không còn gì, chỉ còn lại một trái tim trống vắng và những ham muốn xác thịt khiến ta phải đau khổ.

Hôm qua thầy nói, em phải trấn tĩnh lại, phải rửa oan cho em. Em cảm ơn thầy! Thầy ạ. Rửa oan được hay không đã không còn quan trọng với em nữa. Thước đo của em và thước đo của thế tục không giống nhau; ý nghĩa để em sống và ý nghĩa mà thế giới phú cho em cũng không giống nhau. Tất cả đều đã mất đi tiêu chuẩn, mất đi khả năng phán đoán. Huống hồ đây cũng là một việc vô nghĩa.

Đêm qua, cứ nghĩ đến ánh mắt mọi người nhìn em, em lại cảm thấy tuyệt vọng. Em thẫn thờ nằm trên giường, đầu óc trống rỗng. Đêm đã khuya, em ngây dại nhìn bóng đêm ngoài cửa sổ. Bóng đêm đẹp biết bao! Nó là chính nó; nó không phải biện hộ cho mình. Bất kể nó làm gì, mọi người đều nghĩ nó vốn là bóng đêm, đều cho là không đúng. Ánh sáng thì lại khác. Mọi người có cảm nhận khác đối với ánh sáng, có thành kiến, có kỳ vọng. Ánh sáng thường phải biện hộ cho mình.

Lúc này đây, còi tàu lại bắt đầu hú. Đột nhiên em nhớ đến tiếng chuông đồng hồ, nhớ đến tiếng chuông nhà thờ, nhớ đến Dostoevsky cũng từng phải trải qua những giây phút này như em; tuy nhiên, trong lúc tuyệt vọng, cuối cùng ông đã nhìn thấy tia sáng lấp lánh trên nóc nhà thờ, ông đã được cứu thoát, ông đã tìm thấy Thượng Đế cho mình. Giống như Goethe, ông đã có được sinh mệnh mới. Còn em thì sao? Em dựa vào cái gì để có được sinh mệnh mới?

Thầy ạ, em muốn trịnh trọng hỏi thầy một câu rằng: Tia sáng trong cuộc sống của thầy là gì?

Cuối cùng cậu ta cũng chất vấn Dư Vĩ; hồi sấm cuối cùng đã vang lên. Đây là một vấn đề lớn, vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đồng. Dư Vĩ đã không còn khả năng đối thoại với cậu nữa rồi.

Anh không còn đủ khả năng trả lời thư Lâm Phong nữa. Không những Lâm Phong đưa anh vào màn đêm nội tâm của cậu, mà còn đưa anh vào màn đêm nội tâm của chính anh. Anh đi tìm ánh sáng trong màn đêm, đi tìm con đường của ngày mai. Nhưng ngay cả bản thân anh cũng biến thành trung tâm của màn đêm, làm sao có thể tìm thấy ánh sáng?

Dường như anh đã mất hết mọi khả năng.

Một ánh đen của cuộc sống vô nghĩa khẽ lướt qua đầu; liền sau đấy, nó giống như màn đêm dần dần bao vây Dư Vĩ. Đối với Dư Vĩ – người học đại học vào cuối những năm 1980, thì cảm giác này là mạnh mẽ nhất. Anh cũng từng đọc thơ của Hải Tử, cũng từng đặt dấu hỏi về ý nghĩa của cuộc đời, cũng từng một mình ngồi thẫn thờ mà nước mắt giàn giụa, cũng từng có ý định tự tử. Mọi người gọi nó là tâm trạng cuối thế kỷ.

Lá thư của Lâm Phong đã gợi lại cho anh muôn vàn kí ức đau khổ. Hồi còn du học ở nước ngoài, bóng đen đó thường xuyên lướt qua đầu anh, nhưng cũng chỉ trong khoảnh khắc rồi trôi qua ngay. Nhưng hiện tại, anh đã bị đánh gục nặng nề. Đột nhiên anh cảm thấy tất cả đều hết sức hoang đường. “Đúng vậy, chắc chắn chúng ta không thể tìm được nhân chứng; lẽ nào không tìm được nhân chứng thì có thể khẳng định Lâm Phong có tội hay sao? Điều này thật hoang đường biết bao! Chúng ta vẫn đang đi tìm chứng cứ cho đạo luật hoang đường này để lật đổ nó, nhưng ngoài ông trời có được chứng cứ này ra, còn ai có thể có? Mọi người bị đạo luật hoang đường này bỡn cợt, điều khiển, nhưng dường như họ lại bất lực, thật khôi hài! Lâm Phong, ta, bố Tiếu Nhân, đồn công an, quan tòa, tất cả những người bị lôi vào cuộc đều đã để mất phương hướng và chuẩn bị đưa ra những phán đoán mới. Ngoài ta và Lâm Phong hiểu được điều này, những người khác vẫn chưa nghĩ đến; mà có lẽ họ cũng sẽ không thể ý thức được. Tự nhiên, tất cả đều mất đi ý nghĩa, tất cả đều rơi vào trạng thái hoang đường. Còn có ý nghĩa gì nữa?”

Nhưng họ vẫn phải tiến hành theo đạo luật đã định.

Trong thời gian này, đột nhiên anh nhận được khá nhiều email của Con Một; trong lá thư gần đây nhất cô đã đồng ý gặp anh. Lá thư trước đó cô kể về chuyện tình cảm của mình, nói có mấy cậu mến cô, nhưng người mà cô mến lại không nằm trong số đó, cô đã làm rất nhiều việc vì người ta, nhưng cũng không dành được trái tim cậu ấy. Cô nghĩ: “Đã yêu một lần thì khó đổi người ơi”; trái tim đã chết rồi, cuộc sống không còn ý nghĩa gì với cô ấy.

Dư Vĩ xem ngày tháng của lá thư này. Viết từ mấy hôm trước. Dư Vĩ bận quá nên không có thời gian mở máy tính. Chắc đây là lần đầu tiên Con Một không thấy Dư Vĩ hồi âm nên đã chủ động.

Mấy ngày tiếp theo cô lại viết về những cảm nhận của mình trong thời gian gần đây, cảm thấy vẫn có người hiểu cô, và người này chính là Dư Vĩ. Chắc vẫn không thấy thư hồi âm của Dư Vĩ nên cô lại càng chủ động hơn. Cô mong có thể trở thành một người bạn thực sự của Dư Vĩ, một tri kỷ không giấu nhau chuyện gì nhưng mãi mãi không bao giờ gặp mặt. Tiếp theo đó, cô vẫn không nhận được thư trả lời của Dư Vĩ, cô cảm thấy hơi thất vọng. Lá thư tiếp đó cô đã chửi anh. Sau khi chửi xong, hình như cô lại hối hận, liền gửi ngay một lá thư, nói cô không nên đối xử với anh như vậy. Cô hỏi tại sao anh không trả lời thư cô. Cuối cùng, dường như không thể chịu được nữa, cô đã đồng ý gặp mặt Dư Vĩ.

Đọc xong Dư Vĩ bật cười. Không ngờ thời gian lại là bác sĩ và liều thuốc tốt nhất. Cuối cùng Con Một đã rơi vào trạng thái bị động. Anh lập tức gửi ngay cho Con Một một lá thư, bảo với cô ấy mấy ngày vừa qua anh rất bận, không có thời gian trao đổi thư với cô, và trong thời gian gần đây nhất, anh cũng không có thời gian gặp cô, hy vọng qua giai đoạn này, họ sẽ hẹn gặp nhau sau.

Thực sự Dư Vĩ không có thời gian.

Mấy ngày nữa lại trôi qua, vẫn không tìm được nhân chứng. Một trạng thái vô nghĩa cơ hồ có thể chạm tới như chuẩn bị ập xuống bên anh. Anh cố gắng kìm chế. Giờ đây anh mới cảm nhận được rằng, Lâm Phong đang nhìn anh bằng tâm trạng như thế nào, đang đấu tranh với mình bằng sức mạnh ngoan cường như thế nào. Lâm Phong định tìm ánh sáng trên con người anh, nhưng anh lại bất lực không thể giúp cậu. Không những anh không giúp được cậu ấy, mà còn không giúp được chính bản thân anh. Anh bắt đầu thương hại Lâm Phong, và thương hại chính bản thân mình. “Trước đây ta kiêu ngạo biết bao! Tưởng mình đã nắm bắt được ý nghĩa của cuộc đời, tưởng mình có thể cứu tử phù thương, có thể là người phát ngôn tinh thần cho cả một thế hệ thanh niên; nhưng chỉ trong mấy ngày, tất cả đã thay đổi. Ta không dám cho mình là thầy giáo nữa. Vậy thì ta còn làm được gì cho cậu ấy đây?”

Dư Vĩ luôn thấy nghi ngờ một chuyện, chắc cô sinh viên đó mắc bệnh thần kinh bẩm sinh nhẹ, nếu không chỉ dọa như vậy làm sao có thể phát điên? Vô lý thực! Hồi ở nước ngoài anh đã từng có kinh nghiệm lâm sàng như thế. Anh còn phải nhờ đến sự trợ giúp của các đồng nghiệp Mĩ, mong họ cung cấp cho anh một số kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Cách nhìn nhận của họ rất khác nhau. Người thì cho rằng, kể cả ở người thần kinh ổn định cũng có thể xuất hiện hiện tượng tâm thần khi gặp phải mối đe dọa lớn đến quá bất ngờ. Anh đã liên hệ với bố mẹ cô sinh viên, hy vọng họ sẽ cho anh biết một vài sự thật, nhưng họ đều khẳng định không có chuyện này. Anh không tin lắm, đành đến Học viện Y và trường tiểu học, trung học mà cô sinh viên đó đã từng học tập, nhưng không tìm được biểu hiện gì cho thấy cô mắc chứng tâm thần. Anh còn trưng cầu ý kiến của vài chuyên gia, họ cũng cho rằng, bất kì ai cũng có thể mắc các chứng bệnh tâm thần vì sức chịu đựng kém khi gặp những chuyện xảy ra quá bất ngờ. Phạm Tiến đậu cử nhân[1] là một ví dụ rõ nét. Việc tìm chứng cứ trong phương diện này đã thất bại hoàn toàn. Tòa lại chuẩn bị mở phiên tái thẩm, họ đành phải đối phó. Một ngày trước khi xét xử, anh đến gặp Lâm Phong. Cậu quan sát vẻ mặt anh và nói:

[1 ] : Nhân vật trong tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử (Chuyện làng nho) của Ngô Kính Tử ‐ Trung Quốc. Sau khi biết tin mình đậu cử nhân, vì quá vui mừng nên Phạm Tiến đã hóa điên ‐ ND.

“Thầy ạ, thầy đừng bận tâm nữa!”

“Không, Lâm Phong, em phải cứng rắn lên, rồi sẽ có cách thôi. Ông trời không dồn ta đến bước đường cùng đâu.”

“Em không tin ông trời. Thầy ạ, sao thầy không viết thư cho em? Em đợi mãi.”

“Lâm Phong, thầy không trả lời được câu hỏi của em.”

“Vâng... em biết từ lâu rồi.” Cậu tỏ ra chán chường. Dư Vĩ không nỡ nhìn thấy cậu như vậy bèn nói:

“Nó cần chúng ta phải trả lời trong suốt cuộc đời.”

Lâm Phong không nhìn anh nữa, cũng không nói gì với anh mà quay người đi vào.

Anh không ngờ sự việc lại ra nông nỗi này. Anh quay về trường với một tâm trạng vô cùng ngán ngẩm.

Hôm mở phiên tòa xét xử, vừa bước vào tòa án, Dư Vĩ đã bị một cô gái ăn mặc rất thời thượng chặn lại. Cô ta hỏi:

“Thầy có phải là thầy Vĩ không ạ?” “Tôi là Dư Vĩ đây.”

“Em là sinh viên cũ của trường ta, tên em là Lâm Như Thi.”

Nghe vậy, Dư Vĩ giật mình. ”Đây không phải là Lâm Miên đó sao? Tại sao cô ta cũng dính vào vụ này?” Lâm Như Thi nói:

“Chắc là thầy cũng được nghe nói chuyện về em. Nhà trường và em có một vụ kiện chưa giải quyết xong, em chuẩn bị kiện tiếp.”

“Việc này không có lợi gì cho cá nhân em. Như hôn nhân hay tương lai chẳng hạn.”

“Em đã phải nếm mùi cay đắng rồi. Nhưng em buộc phải theo lao, em không còn đường để lùi nữa.”

“Không nghiêm trọng như thế đâu, chỉ cần em không để tâm đến việc người khác nhìn em như thế nào là em có thể rút lui rồi.”

“Em chưa bao giờ để ý đến việc người khác nhìn em như thế nào, hơn nữa, có thể lui đi đâu?”

“Lùi vào thế giới của em.”

“Em không phải là mẫu người đó. Thầy Vĩ, hôm nay em đến tìm thầy không phải là để biện luận. Một là em muốn biết diễn biến vụ án của Lâm Phong, hai là muốn thầy cho em xem cuốn tiểu thuyết đó của Lâm Phong.”

“Việc cuốn tiểu thuyết thì không được, tôi phải xin ý kiến cậu ấy, cậu ấy đồng ý mới được.”

“Vâng.”

“Tôi không muốn em xuất hiện, được không?” “Tại sao?”

Dư Vĩ nói với Lâm Như Thi nỗi lo lắng của mình, nhưng cô không đồng ý với anh. Lâm Như Thi nói:

“Em nghĩ khác thầy. Không những em xuất hiện mà em còn phải giúp cậu ấy đứng dậy, cùng em biện hộ cho tự do.”

“Tự do!” Dư Vĩ lẩm bẩm. Anh biết Như Thi sẽ không đồng tình với ý kiến của anh.

Khi Lâm Phong một lần nữa bị đưa ra trước tòa, cậu vẫn cúi đầu, tinh thần còn tệ hơn hôm qua. Điều khiến cậu không thể ngờ là tòa lại một lần nữa lật lại quá khứ của cậu. Khi nhắc đến vụ “chị họ” trong tiểu thuyết của cậu, tòa đã đưa ra tờ báo năm đó và hỏi cậu:

“Có thật là anh từng làm gia sư ở nhà chị ấy không?”

“Đúng vậy.”

Khi tòa đang nói về chuyện Lâm Phong làm thơ tặng Lâm Như Thi, lấy trộm quần lót của Lâm Như Thi thì Lâm Như Thi đã ra trước tòa làm chứng. Đây cũng là điều mọi người không thể ngờ tới. Lâm Phong càng không thể ngờ Lâm Như Thi lại đến dự phiên tòa, lãnh đạo nhà trường nói chung và Lưu Tử Kỳ nói riêng cũng rất bất ngờ. Lâm Phong không còn mặt mũi nào, không dám nhìn Lâm Như Thi, càng không dám nhìn mọi người trước tòa. Tòa đưa ra chiếc quần lót của Lâm Như Thi, bảo Lâm Như Thi làm chứng. Lâm Như Thi đã làm chứng, nhưng cô yêu cầu tòa để cô được nói:

“Vâng, đây là quần của tôi. Nhưng tôi không nghĩ đây là phạm tội. Tôi không trách cậu ấy. Có thể các vị đang ngồi ở đây chưa từng có cuộc sống bị kiềm tỏa, ức chế trong thời đại học ‐ tám cậu sinh viên đang độ hai mươi sống trong một phòng, ngày nào cũng nói chuyện về tình dục nhưng không được thỏa mãn theo những cách thông thường. Độ tuổi hai mươi là thời gian mà cơ thể con người phát triển đầy đủ nhất, ý thức tình dục cũng nảy nở mãnh liệt nhất; ngoài việc học hành, cuộc sống của họ không còn áp lực nào khác, họ chỉ có một mong muốn: tình yêu, bao gồm cả tình dục trong đó. Mọi người thử nghĩ xem, ở đâu chẳng có chỗ chiếu phim sex suốt ngày, suốt đêm rồi nhận thức của xã hội về phụ nữ và nam giới, bao gồm nhận thức về vấn đề tình dục đã rất cởi mở, chỗ nào cũng có sàn nhảy, cũng thấy gái làm tiền; chính môi trường xã hội xung quanh đã dụ dỗ, ép buộc nhân tính của họ, vậy họ biết làm thế nào? Nếu nói trong thời gian học đại học, tôi chê trách và khinh bỉ hành vi này của họ, thì bây giờ tôi lại vô cùng thông cảm. Mọi người thử nghĩ xem, đừng vận dụng các quan niệm đạo đức đáng sợ đó, đừng xuất phát từ các qui chế pháp luật lạnh lùng đó, mà hãy đứng vào vị trí con người để nghĩ cho thế hệ sau! Mọi người cũng có con cái, hãy giao lưu trò chuyện với chúng; mọi người cũng có anh em, hãy tâm sự hết mọi điều với họ; mọi người cũng có tuổi trẻ của mình, hãy đối thoại với chính bản thân, có thể mọi người sẽ thông cảm hơn.”

Chánh án ngắt lời Lâm Như Thi, bảo cô phải nói về các vấn đề liên quan đến vụ án, nhưng Lâm Như Thi nói:

“Thưa quý tòa, những điều tôi nói ra đây đều có liên quan đến vụ án, tôi vẫn chưa nói xong, xin hãy để cho tôi được nói hết.”

Quan tòa cho Lâm Như Thi được nói tiếp.

“Vì thế, tôi cho rằng, hiện giờ không những chỉ xét xử một mình Lâm Phong, mỗi chúng ta đều nên phán xét chính mình và phán xét xã hội. Toàn xã hội, bao gồm cả giáo dục, đạo đức, pháp luật, văn hóa của chúng ta đều nên xét lại, xem xem rốt cuộc là ai đang phạm tội. Tôi cho rằng, Lâm Phong không có tội, Lâm Phong chỉ có một số vấn đề về tâm lý, nhưng bệnh của cậu ta không chỉ do một mình cậu ta gây nên, ai sẽ là người có trách nhiệm với cái sai của cậu ta?”

Dư Vĩ không ngờ Lâm Như Thi lại nói như vậy; đến giờ anh mới hiểu tại sao cô ta lại kiên quyết đòi xuất hiện trước tòa, tại sao cô ta yêu cầu được làm chứng.

Tuy nhiên, bất kể biện hộ thế nào, tòa vẫn cho rằng Lâm Phong có động cơ gây án, chỉ có điều trước mắt chưa thể chứng minh Lâm Phong có mặt tại hiện trường gây án mà thôi, vì thế chưa thể đưa ra kết luận, cần phải tạm hoãn để tiếp tục thu thập chứng cứ. Lúc Lâm Phong bị giải đi, Dư Vĩ đuổi theo, nói to:

“Lâm Phong, em đừng lo, chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng.”

Bố Tiếu Nhân cũng tiến lên, nhìn Lâm Phong với vẻ trịnh trọng.

Dư Vĩ mãi mãi không quên vẻ mặt Lâm Phong lúc bị giải đi; cậu quay đầu lại, nhìn họ vừa cười vừa khóc mà không nói câu nào.

Hôm sau, giáo viên khoa Văn đưa một người đến gặp Dư Vĩ. Đó là một người nông dân chừng hơn bốn mươi tuổi. Ông tự giới thiệu mình là cha Lâm Phong. Ông đã biết kết quả của vụ án qua lời người khác kể. Vừa nhìn thấy Dư Vĩ, ông liền túm chặt tay anh, quỳ xuống khóc, nói:

“Xin hãy cứu thằng Phong con tôi, thầy Vĩ ơi!” Dư Vĩ vội đỡ ông dậy và nói:

“Hiện tại tất cả chúng cháu đều đang cố gắng, nhà trường cũng đứng về phía Lâm Phong. Chúng cháu tin rằng Lâm Phong vô tội.”

Ông nói muốn đến gặp Lâm Phong ngay. Dư Vĩ thấy hơi khó xử, anh biết Lâm Phong không muốn để bố biết chuyện này. Anh gọi điện thoại bàn với lãnh đạo phòng bảo vệ, bảo ông ta nói trước với Lâm Phong một tiếng để cậu có sự chuẩn bị về tinh thần.

Trên đường đi, Dư Vĩ nói với ông, Lâm Phong là người tài năng; xã hội có rất nhiều người ủng hộ Lâm Phong. Ông cụ vẫn run rẩy nắm tay Dư Vĩ. Anh hỏi ông ăn cơm chưa, ông bảo chưa. Dư Vĩ nói đi ăn gì trước đã, ông không chịu. Dư Vĩ gợi ý, cũng phải mua một ít đồ chứ! Lúc này ông cụ mới chịu. Dư Vĩ đưa ông đi ăn cơm trước, vừa ăn ông vừa khóc, Dư Vĩ nhìn mà xót xa, cũng suýt trào nước mắt. Họ đi mua một ít đồ ăn, tiện đường lại mua một ít sách và tạp chí cho Lâm Phong.

Họ đến phòng tạm giam, nét mặt trưởng phòng u ám, ông ta bảo bố Lâm Phong đợi một lát, gọi Dư Vĩ sang một phòng làm việc khác và hỏi:

“Sao các anh lại bảo chúng tôi thông báo với cậu ấy chuyện ông bố đến thăm?”

“Vì cậu ấy sẽ không chịu nổi cú sốc này, thế nên...”

“Thế nên, thế nên cái gì?” “...”

“Cậu còn là chuyên gia tâm lý học nữa cơ đấy, ngay cả điều này mà cũng không nghĩ tới, chúng tôi bị khổ lây đây.”

“Lâm Phong sao vậy?”

“Sao vậy? Cậu ấy vừa tự tử rồi.”

Vừa nghe xong câu đó, Dư Vĩ đứng như trời trồng. Đề phòng sự bất trắc xảy ra với bố Lâm Phong, anh lập tức gọi điện cho nhà trường, một lát sau, phòng bảo vệ, lãnh đạo khoa Văn và cả hiệu trưởng Lưu Tử Kỳ đều đến. Nhìn thấy xác Lâm Phong, ông cụ ngất lịm. Khi tỉnh lại, ông không nhỏ một giọt nước mắt nào. Dư Vĩ gọi, ông cũng không thưa.

Phòng tạm giam đưa cho Dư Vĩ di vật của Lâm Phong, trong đó có một bức thư viết vào buổi sáng cùng ngày, vẫn là thư gửi cho Dư Vĩ. Dư Vĩ giở ra đọc, thấy mấy câu thơ của Ossian mà chàng trai trẻ Werther từng đọc trước khi tự tử:

Gió xuân ơi, tại sao ngươi đánh thức ta dậy? Gió nhẹ nhàng vuốt ve ta rồi nói:

“Tôi muốn làm tươi mát bạn – cam lộ trên trời”

Nhưng bạn ơi, tuổi già của tôi đã đến gần

Gió bão chuẩn bị ập tới

Thổi bạt cành lá của tôi

Ngày mai sẽ có người lữ hành đi đến

Anh ấy đã từng nhìn thấy tuổi trẻ tươi đẹp của tôi

Anh sẽ đưa mắt nhìn bốn hướng để kiếm tìm

Nhưng không thấy bóng dáng tôi đâu

....

« Lùi
Tiến »