[←1]
Tức thành hoa sen, chỉ Phan Thiết; còn Bàn Thành, tức thành Đồ Bàn là Quy Nhơn.
[←2]
Khoảng năm giờ sáng.
[←3]
Niên hiệu của Lý Thánh Tông đang trị vì.
[←4]
Vua mất.
[←5]
Đầy vàng.
[←6]
Vàng làm đen lòng người đời.
[←7]
Tức làng Sủi, nay thuộc xã Thuận Quang, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh.
[←8]
Còn có tên Lê Thị Mệnh.
[←9]
Ba đạo : Nho, Lão, Phật cùng được truyền bá.
[←10]
Năm 1069.
[←11]
Nay thuộc huyện Tiên Lữ, Hải Hưng.
[←12]
Thời Hạ, Thương, Chu.
[←13]
Niên hiệu của Tống Thần Tông.
[←14]
Lấy nước nhỏ thờ nước lớn.
[←15]
Niên hiệu của Lý Nhân Tông.
[←16]
Thời cổ, vua Thuấn sai ông Cổn làm việc trị thủy không thành công bèn giết ông Cổn nhưng vẫn dùng Vũ, con ông Cổn làm tiếp việc trị thủy.
[←17]
Mỗi thăng cân nặng từ 1.600 gam đến 2.700 gam tùy theo các đời.
[←18]
Năm 1077
[←19]
Từ ngày chàng ra đi, không thiết gì việc canh cửi. Nhớ chàng như mặt trăng đầy, đêm đêm hao gầy vầng sáng.
[←20]
Trường An một mảnh trăng. Muôn nhà tiếng đập vải. Thơ Lý Bạch
[←21]
Năm 1019.
[←22]
Hai danh tướng đời Hán (Trung Quốc) xưa.
[←23]
Năm 1041.
[←24]
Một dật = 20 lượng.
[←25]
24 thù = 1 lượng.
[←26]
Vở tuồng nói chuyện Liêm Pha tướng võ và Lan Tương Như tướng văn nước Triệu đời Chiến quốc hòa với nhau.
[←27]
Kép hát, người làm trò cho các nhà quyền quý xem.
[←28]
Lời của người dân thường ở ngoài đường sá.
[←29]
Dãy núi lèn ở phía tây nam thành Than HÓa
[←30]
Tên Lý Thánh Tông.
[←31]
Tên tự của Vương An Thạch.
[←32]
Năm 1042, đời Tống Nhân Tông.
[←33]
Năm 1068, đời Tống Thần Tông.
[←34]
Năm 1074.
[←35]
Trước khi người khác rắp tâmđánh mình chi bằng mình đánh trước.
[←36]
Dùng Phật giáo trị tân, dùng Đạo giáo trị thân, dùng Nho giáo trị đời.
[←37]
Bao giờ trăng sáng soi ta về.
[←38]
Đánh trước để khống chế người.
[←39]
Sông Thương.
[←40]
Sông Cầu.
[←41]
Sông Nhị.
[←42]
Chỉ vùng Hồ Nam, Tứ Xuyên, Lưỡng Quảng.
[←43]
Chỉ miền Phần Dương và Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc).
[←44]
Chỉ năm vùng theo thứ tự các Kinh kỳ (hầu, diện, tuy, yêu, hoang).
[←45]
Nguyên văn “tiệt phan đoạn tiết”. Tiết là con so để làm tin, khi tướng quân ra trận thì bổ đôi giao cho một nửa.
[←46]
Chỗ các nước chư hầu triều kiến vua nhà Chu và nhà học.
[←47]
Năm 1077.
[←48]
Nay là Ninh Minh.
[←49]
Tức núi Cai Kinh hay Bắc Sơn.
[←50]
Tức sông Cầu ở khúc gần Thái Nguyên.
[←51]
Ải cửa Quỷ, mười người đi, một người về.
[←52]
Tức sông Thương.
[←53]
Thà làm người cầm đầu một trăm lính hơn làm một thư sinh.
[←54]
Non sông nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
[←55]
Năm 1078.