Kể từ cái chết của Augustus vào năm 14 cho tới sự kiện Odoacer lên ngôi vào năm 476 với tư cách nhà thống trị “man di” đầu tiên của thành Rome, Đế chế La Mã đã sống sót qua mọi thách thức ngoại bang lẫn suy thoái từ bên trong.
Tiberius, người kế vị quyền lực của Augustus với tư cách con nuôi của ông, đã điều hành đất nước rất tốt cho đến khi các vấn đề của gia tộc khiến ông trở nên cay nghiệt và quyền lực tuyệt đối che mờ tâm trí ông. Caligula bắt đầu thời kỳ trị vì của mình với những việc thiện cho tầng lớp quần chúng, nhưng sớm sa vào những hành động tàn nhẫn, dẫn đến việc ông bị ám sát. Claudius khiến Rome sửng sốt khi điều hành nhà nước rất tốt, bất chấp việc ông đã viết những cuốn sách triết học, lịch sử và một cuốn tự truyện; nhưng, theo Suetonius, ông “quá đam mê nữ sắc”.
Theo một nguồn không đáng tin cậy lắm, người vợ thứ tư của ông, Messalina, mang về cho ông một người thiếp như một phần quà vì ông đã dung thứ cho những vụ ngoại tình của bà. Sau khi một vài binh sĩ giết chết bà ta, Claudius kết hôn với Agrippina, người khi ấy đã là mẹ của Nero; bà thuyết phục Claudius nhận Nero làm con nuôi; cuối cùng bà cho hoàng đế ăn nấm độc; Claudius chết, và Nero, ở tuổi 17 (năm 54), leo lên ngai vàng.
Nero đã trở thành người nổi tiếng nhất trong các hoàng đế của Rome bởi người ta đã tưởng lầm rằng ông ra lệnh đốt thành Rome, và bởi ông đã tổ chức những buổi biểu diễn có chất kịch nghệ để khoe kỹ năng nghệ thuật của mình. Bất kể thế nào, Trajan đại đế đã nhận xét rằng 5 năm đầu thời kỳ cai trị của Nero là giai đoạn tuyệt vời nhất trong lịch sử của nhà nước Đế chế này. Nhận thức được việc mình còn trẻ, ông đã chịu giao gần như tất cả quyền lực hoàng gia của mình cho Nghị viện, ngoại trừ quyền chỉ huy quân đội.
Ông chấp nhận để Seneca làm quân sự, và hứa sẽ thể hiện phẩm hạnh bao dung trong suốt thời gian ông trị vì, một đức tính mà triết gia Seneca đã cấy sâu vào bài chuyên luận De clementia của mình, tuy nhiên, khi ông biết rằng mẹ ông đang mưu đồ đưa một người con trai khác của bà, Britannicus, lên thay thế ông trên ngai vàng, ông đã bố trí (người ta kể rằng người đầu độc Britannicus. Bất kể thế nào, Đế chế La Mã đã phát triển thịnh vượng trong 5 năm đầu tiên ông trị vì: tham nhũng được kiểm soát, hệ thống quan liêu hành chính được cải thiện, Biển Đen sạch bóng cướp, và Parthia ký một hiệp ước hòa bình kéo dài 50 năm.
Seneca có lẽ là linh hồn dẫn đường cho Nero trong 5 năm đó. Để kéo sự chú ý của Nero ra khỏi những vấn đề quốc gia, ông cho phép Nero thả lỏng bản thân về đạo đức. Người thanh niên ấy ngày càng ưa chuộng những buổi yến tiệc tốn kém, những nam thanh niên đồng tính, và những cô gái mại dâm. Anh ta ly hôn người vợ hiền dịu Octavia và cưới Poppaea Sabina, người dành nửa ngày để chải chuốt cơ thể, và nửa còn lại để kích thích những dục vọng. Khi mẹ của Nero phản đối cô ta, Poppaea đã khích động chàng thanh niên ấy ra lệnh xử tử Agrippina. Nhìn vào thi thể trần ấy, ông đã cất tiếng nhận xét: “Ta không biết rằng mình có một người mẹ đẹp đến như thế”.
Khó có thể tin rằng những câu chuyện trên là thật, những câu chuyện về một thanh niên 22 tuổi, với niềm đam mê đã được mọi người công nhận dành cho thi ca, kịch, âm nhạc, nghệ thuật, và những cuộc đấu thể thao. Anh ta luyện tập tất cả những môn này với rất nhiều nỗ lực, và gần như đạt đến mức xuất sắc ở một số môn. Anh ta tập hợp nghệ sĩ và thi sĩ quanh mình, và so sánh tác phẩm của mình với tác phẩm của họ. Năm 64, ở Naples, anh ta đã có một buổi biểu diễn trước công chúng ở vị trí người chơi đàn hạc, và một năm sau đó cũng tham gia một buổi biểu diễn như vậy với vai trò ca sĩ và người chơi đàn hạc tại Nhà hát Pompey ở Rome. Anh ta xuất hiện trong ê-kíp với vai trò diễn viên, và phấn khích khi được hoan hô. Biết rằng Alexandria và Antioch đã được xây dựng lại theo các thiết kế khoa học, anh ta xót xa rằng Rome đã phát triển một cách vô tổ chức, trộn lẫn những cung điện với các khu ổ chuột; anh ta mơ mộng về việc xây dựng lại nó và đổi tên nó thành Neropolis.
Vào ngày 18 tháng Bảy năm 64, một đám cháy bùng lên ở rạp xiếc Maximus, lan rộng với tốc độ chóng mặt, cháy suốt 9 ngày, và thiêu rụi 2/3 thành Rome. Tin về vụ đại hỏa hoạn được đưa đến Nero khi ông đang ở Antium (nay là Anzio), cách đó 53 km. Ông gấp rút tới thủ đô, làm những gì có thể để kiểm soát ngọn lửa ở một khu vực nhất định, và nhiệt tình tổ chức hoạt động cứu trợ. Ông cho dựng một khu sinh sống bằng những căn lều trên Đồng Mars và mang thực phẩm về từ những nước láng giềng để cung cấp cho những người không còn nhà ở. Ông bị người ta buộc tội oan khi cho rằng ông là người phóng hỏa, vừa chiêm ngưỡng đám cháy từ một ngọn tháp vừa hát bản trường ca mà ông sáng tác, kể về vụ cháy thành Troy. Theo Tacitus, chính ông đã buộc tội nhóm nhỏ những người theo Cơ Đốc giáo mà các tông đồ Peter và Paul đã phát hiện ra ở đó vào 3 năm trước. Theo Tacitus, sử gia mang tư tưởng phản đế mạnh mẽ, Nero đã cho một số người trong đó “chết một cái chết tàn nhẫn tột cùng”. Trong khi đó, ông bắt đầu việc khôi phục thành phố theo mơ ước của mình.
Một năm sau, ông biết được một âm mưu phế truất mình; một số người bị bắt khai rằng Seneca và thi sĩ Lucan có liên quan tới vụ việc; Nero ra lệnh cho họ phải tự kết liễu, họ tuân theo. Giờ đây ông dường như đã ở đỉnh cao quyền lực. Năm 66, ông nghĩ rằng vị trí của mình đã vững vàng đến mức ông rời đất Ý để thi thố trong các cuộc đấu thể thao toàn quốc ở Hy Lạp. Ở Olympia, ông điều khiển một chiến xa tứ mã. Ông bị hất văng, gặp phải thương tích nghiêm trọng, nhưng lại leo lên chiến xa tứ mã của mình, tiếp tục cuộc đua, và bỏ cuộc khi kiệt sức ngay trước vạch đích, nhưng vẫn được trao vương miện chiến thắng - ngay sau đó ông miễn cho Hy Lạp khỏi tất cả các nghĩa vụ cống nạp cho Rome. Ông tiếp tục thi ở các cuộc thi tại Pythia, Nemea, và Esthonia với tư cách ca sĩ, người chơi đàn hạc, diễn viên, và vận động viên. Ông thường xuyên được trao giải, và an ủi những đối thủ bị ông đánh bại bằng cách cho họ tư cách công dân La Mã.
Giữa những cuộc chinh phục của mình, ông nhận được tin rằng Judea đang nổi loạn và rằng gần như toàn bộ miền Tây khi ấy đang nổi lên chống lại ông. Năm 68, Vindex, thống Đốc Lyon, và Galba, chỉ huy quân đội La Mã ở Tây Ban Nha, tham gia vào cuộc nổi loạn. Nero trông vào đội Cận vệ của Hoàng đế để tự vệ; đội quân này tuyên bố ủng hộ Galba, và Nghị viện tuyên bố Galba là Hoàng đế. Nero cầu xin những người bạn mà ông ưu ái nhất, không ai trong số họ giúp ông. Ông chạy trốn theo đường tới Ostia, hy vọng tìm được một chiếc thuyền với một thủy thủ đoàn trung thành với mình, nhưng binh lính của Nghị viện đã đuổi kịp và bao vây ông. Ông Cố gắng đâm một con dao găm vào cổ mình; tay ông khi ấy bủn rủn, người nô lệ của ông phải giúp ông đâm lưỡi dao vào chỗ nó cần đến. “Qualis artifax pereo!” Ông xót xa - “Một nghệ sĩ thực sự trong ta đã chết!”
SUY TÀN
Cái chết của Nero đánh dấu đỉnh cao của Rome thời Epicurean - Rome của tư tưởng hưởng thụ*, cũng như cái chết của Cato Người Kiểm duyệt, vào năm 149 TCN, đánh dấu đỉnh cao của Rome trong chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism).
Không lâu sau cái chết của Cato, cuộc chinh phạt của La Mã lên đất Hy Lạp (năm 146 TCN) và lên những vùng đã Hy Lạp hóa ở phương Đông đã mở rộng con đường văn hóa và kinh tế về phía Tây. Đây là con đường mà những cuộc viễn chinh của Alexander đã mở ra vào hai thế kỷ trước khi thuế khóa, các tộc người, phong tục, triết học, và tôn giáo của phương Đông tràn vào Rome và bắt đầu chuyển hóa sự cương mãnh theo tư tưởng khắc kỷ của nó thành sự dễ dãi mang tư tưởng hưởng thụ. Cuộc chinh phạt đầu tiên lên thành Rome không phải được thực hiện bởi các bộ tộc man di từ phương Bắc mà bởi những dân tộc đọc thông viết thạo từ phương Đông: Hy Lạp,Syria, Do Thái, Ai Cập, Parthia, Ethiopia…; Juvenal than phiền rằng dòng sông Orontes (sông của Syria) đang chảy vào dòng Tiber, và Tacitus, một nghị viên kiêu hãnh, đã gọi Rome là “hầm phân của thế giới”.
Những người mới đến mang theo nhiều đức tính tốt; đời sống gia đình của người Do Thái là một trụ cột sức mạnh đối với họ, và những cộng đồng nhỏ Cơ Đốc giáo khiến người La Mã sửng sốt vì lòng mộ đạo và sự đúng đắn mực thước của họ. Nhưng nhiều người trong số những người mới đến đã sa sút tinh thần do ảnh hưởng từ việc bị tước đi môi trường và quy tắc mà họ vốn có ở quê hương, và việc thường xuyên tiếp xúc với những quy tắc lạ lẫm đã làm xói mòn những quy tắc của chính họ. Sự đa dạng quy tắc này, sự quy phục để đạt được tính thống nhất về chủng tộc và sức sống của chủng tộc giữa một vùng nước xoáy của nhiều chủng tộc, tín ngưỡng, mục đích, và phương cách đa dạng, có thể đã góp phần, cùng những của cải mà thành Rome mới nhập khẩu được, nới lỏng đời sống đạo đức của thành phố này và khiến nó rơi vào chủ nghĩa khoái lạc không màng hậu quả của vid, Horace, và Martial, vào những tội ác và những trò tiêu khiển của Nero, và vào sự không chung thủy của các hoàng hậu La Mã. Nhưng điều gây sửng sốt hơn cả là sự xuất hiện đột ngột, trong thế kỷ thứ 2 của thời đại chúng ta, của những nhà cai trị khắc kỷ và tận tâm nhất trong lịch sử thành Rome sau thời Augustus.
NHỮNG VỊ VUA TRIẾT GIA
Hãy nghe nhận định của Gibbon: “Nếu một người được yêu cầu ấn định một giai đoạn, trong lịch sử của thế giới, trong đó loài người hạnh phúc và thịnh vượng nhất, anh ta sẽ không ngần ngại chọn quãng thời gian từ khi Nerva (năm 96) lên ngôi đến cái chết của Aurelius (năm 180). Chế độ cai trị thống nhất của họ có lẽ là giai đoạn duy nhất trong lịch sử mà hạnh phúc của một dân tộc vĩ đại là mục tiêu duy nhất của nhà nước”.
Ernest Renan đồng ý: nguyên tắc nhận con nuôi hoàng gia đã cho Rome một “chuỗi kế vị tuyệt vời nhất, mà thế giới từng có, gồm liên tiếp những thời kỳ cai trị vĩ đại”. Nguyên tắc này đã được thiết lập bởi Augustus; nó đã bị gạt sang một bên sau cái chết của Nero; nó được phục hồi bởi Nerva (năm 98) khi ông nhận Trajan làm người kế vị. Nghị viện trước đó đã chấp nhận nguyên tắc này khi cho rằng ông sẽ nhận nuôi một người đã có danh tiếng về năng lực quản lý hành chính và quân sự. Nguyên tắc này đã tạo hiệu quả tốt bởi Nerva, Trajan, Hadrian, và Antonius Pius không có con trai, và họ có thời gian để xem xét các lựa chọn và huấn luyện người được chọn.
Khi Nghị viện phong cho Marcus Cocceius Nerva tước princeps, ông đã 66 tuổi. Ông phân phát đất đai cho người nghèo, bỏ nhiều loại thuế, miễn cho người Do nạp, và tăng cường sức mạnh cho nền tài chính của đất nước bằng nền kinh tế trong gia đình ông và chính thể của ông. Ba tháng trước khi qua đời (năm 98), ông bổ nhiệm Marcus Ulpius Trajanus (tức Trajan) làm người kế vị.
Trajan yêu Đế chế đến mức ông muốn nó càng lúc càng lớn, và dành phần lớn thời trưởng thành vào việc bảo vệ và mở rộng nó. Ông đã chinh phục và thu Dacia (ngày nay là Romania) về với La Mã như một động thái cần thiết để kiểm soát sông Danube như phòng tuyến tốt nhất trước “đám man di” đang ngày càng đông đảo. Ông cho Dacia một ngôn ngữ Latin và đổi lại ông chiếm lấy những mỏ vàng của nó. Có thêm ngân sách, ông phát 650 denarii (khoảng 260 đô-la?) cho tất cả những Công dân La Mã nào xin khoản phân phát ấy; ông xây dựng nhà hát ngoài trời ở Verona, một công trình cho đến nay vẫn rất thành công, và Công trường Traianum rộng mênh mông ở Rome; tại đây, Cổng vòm khải hoàn, và cây cột với những hình chạm khắc xoáy ốc để tưởng nhớ những chiến thắng của ông, vẫn đứng đó để truyền cảm hứng cho những chiến thắng của Napoleon.
Năm 113, ông một lần nữa khởi hành cùng những binh đoàn lê dương của mình, hy vọng chinh phục được Parthia và mở một con đường thương mại tới Ấn Độ. Ông đã tạo ra những tỉnh mới của Armenia, Assyria, Lưỡng Hà, và Parthia, và tới được Biển Đỏ trong chiến thắng. Thế rồi ông gặp một con nhồi máu não khiến ông bị liệt và qua đời ở Salinu năm 117, sau khi truyền vương quyền của mình cho cháu trai, Publius Aelius Hadrianus.
Hadrian, như Trajan, sinh ra ở Tây Ban Nha, nhưng khác Trajan ở hầu như mọi khía cạnh khác. Ông ghét chiến tranh, yêu chó, ngựa, săn bắn, văn chương, triết học, và nửa tá nghệ thuật. Ông đã phục hồi quyền độc lập cho Armenia, Assyria, Lưỡng Hà, và Parthia. Trở về thành Rome, ông tái tổ chức nhà nước, duy trì người giám sát ở mọi nhánh của bộ máy nhà nước, và (như Napoleon, người đã học được rất nhiều từ thành Rome) khiến mỗi người đứng đầu về hành chính phải sửng sốt vì sự hiểu biết cặn kẽ của ông ở mỗi lĩnh vực.
Phía trên mọi cơ quan của nhà nước, ông đặt một advocatus fisci, tức “cơ quan bảo vệ quốc khố”, để phát hiện tham nhũng hoặc gian dối. Với tư cách quan tòa tối cao của Đế chế, ông có tiếng là một thẩm phán công bằng và có tri thức, thường ưu ái người nghèo và chống lại người giàu, bảo vệ người yếu và chống lại kẻ mạnh. Dưới sự cai trị và chăm sóc của ông, Đế chế được quản lý tốt hơn bất cứ thời kỳ nào, bất kể trước đó hay sau này.
Không thể ngừng làm việc, và với đầy ý tưởng trong đầu, Hadrian bắt đầu chia sẻ với các tỉnh một phần của cải mà họ đã làm lợi cho Rome. Ở Gaul, ông cứu trợ cho những địa phương chịu ảnh hưởng bởi những hành động vô tình của Thượng Đế”. Ở biên giới với lãnh thổ của người German, ông củng cố phòng thủ, chống lại “những kẻ man di” đang không ngừng gây sức ép - từ “man di” được người La Mã dùng để chỉ bất cứ ai ở ngoài Đế chế. Dong buồm theo sông Rhine tới Biển Bắc, ông tới vùng đảo Anh thuộc La Mã (năm 122), vỗ yên vùng này bằng các lợi ích và, ở cực Bắc của nó, tổ chức việc xây dựng Tường Hadrian” để chống lại người Scot, rất đông đảo và không bị khuất phục.
Sau một kỳ nghỉ đông ở Rome, ông dong buồm tới Bắc Phi để điều hành những thành phố đang phát triển mạnh ở khu vực đó. Năm 124, ông thăm vùng lãnh thổ Cận Đông đã Hy Lạp hóa; ở gần như mọi điểm dừng chân, ông lắng nghe những lời than phiền và kiến nghị, và cấp ngân sách cho các ngôi đền, nhà hát, và nhà tắm công cộng. Năm 125 và 128, ông nghỉ đông ở Athens, hòa mình một cách vui vẻ với các học giả và triết gia, và xây dựng kiến thức của mình một cách sáng suốt đến mức khu thủ phủ tâm trí đang lão hóa trong ông trở nên rõ ràng hơn, đẹp đẽ hơn, và thịnh vượng hơn bao giờ hết. Năm 130, ông đi vòng quanh Ai Cập, cảm nhận những luồng quan điểm thần học hoặc hệ tư tưởng học thuật ở Alexandria, và rồi, trong sự ung dung nhàn nhã, di chuyển lên thượng nguồn sông Nile cùng vợ ông, Sabina, và người bạn tình đẹp trai và chung thủy Antinous. Trong chuyến đi ấy, chàng thanh niên này chết đuối. Hadrian, không thể nguôi ngoai, trở về Rome.
Tại đó, ông hiến dâng bản thân cho sự phát triển của thủ đô: đền Pantheon mà Agrippa xây dựng vào năm 27 TCN hầu như đã bị tiêu hủy bởi các trận hỏa hoạn năm 80 và 110, Hadrian đã cho các kiến trúc sư và kỹ sư của mình thay nó (năm 120-124) bằng một ngôi đền mặt bằng hình tròn có đường kính khoảng 40 m, trải đều tải trọng của nó lên những hệ đỡ bên trong, và lấy đủ ánh sáng từ một cửa mái tròn có đường kính khoảng7,9 m, cũng là nguồn sáng duy nhất, nằm trên mái vòm. Từ đỉnh vòm thanh nhã đó, một lối kiến trúc đã được lưu truyền tới Thánh đường St. Peter ở Rome - và tới điện Capitol ở Washington.
Cuộc nổi loạn của Judea vào năm 135 đã khiến ông rất phẫn nộ; ông than xót rằng nó đã phá vỡ thời gian dài yên bình trong triều đại của mình. Trong năm đó, ông mắc một căn bệnh kéo dài, khiến sức khỏe của ông suy sụp và tâm trí không còn sáng suốt như trước, thậm chí đến mức thỉnh thoảng ông trở nên tàn nhẫn. Để kết thúc một cuộc chiến giành quyền kế vị mới chớm bắt đầu, ông đã nhận người bạn của mình, Lucius Verus, làm người kế vị. Verus qua đời không lâu sau đó. Hadrian thay Venus bằng một người đàn ông nổi danh trên toàn đất nước về tính liêm chính và sự sáng suốt, Titus Aurelius Antoninus, và khuyên ông nhận nuôi và huấn luyện hai thanh niên khi ấy ở trong triều. Một trong hai người này qua đời trước cả Antonius; người còn lại trở thành Marcus Aurelius. Hadrian qua đời năm 138, sau chỉ 62 năm sống trên đời, nhưng 21 năm cai trị, và bằng hành động lẫn tầm nhìn của mình, ông đã cho Đế chế La Mã ba triều đại, cả ba đều nằm trong số những triều đại có ảnh hưởng tích cực nhất trong lịch sử.
Titus Aurelius Antoninus được Nghị viện đặt cho cái tên Pius bởi ông nổi bật về những đức tính mà nền Cộng hòa La Mã cũ tôn vinh: trọn đạo làm con, trung thành với bạn bè, hào phóng về thời gian và tiền bạc*. Ông bắt đầu triều đại của mình bằng việc trút gia tài riêng đáng kể của ông vào quốc khố. Ông xóa những khoản nợ thuế, chi trả cho những cuộc vui chơi trong lễ hội, và giải quyết tình trạng khan hiếm bột mì, dầu, và rượu vang bằng cách mua những thứ này rồi phân phát chúng miễn phí. Ông Công khai tất cả các biên lai và khoản chi của mình. Ông điều chỉnh để mức phạt cho tội ngoại tình là giống nhau ở nam giới và nữ giới, và những chủ nô nào tàn nhẫn sẽ bị ông tước đoạt nô lệ. Ông cung cấp ngân sách nhà nước cho việc mở rộng giáo dục, đặc biệt là giáo dục cho người nghèo, và ban cho các thầy giáo và triết gia được nhiều người tín nhiệm nhiều đặc quyền của tầng lớp nghị sĩ.
Tất cả các địa phương, ngoại trừ Ai Cập và Dacia, đều phát triển mạnh mẽ dưới triều đại của ông, và hạnh phúc được làm một phần của một đế chế đã cho họ trật tự xã hội và hòa bình về đối nội. Các tác giả ở các địa phương - Strabo, Philo, Plutarch, Appian, Epictetus - ca ngợi Pax Romana, và Appian cam đoan với chúng ta rằng ông đã nhìn thấy ở Rome những phái viên và Công số của các nước khác van xin, trong vô vọng, cho đất nước của họ được thu nhận thành một phần của Đế chế La Mã. Chưa bao giờ một chế độ quân chủ chuyên chế lại khiến con người tự do đến thế, hoặc tôn trọng quyền của những chủ thể của nó đến thế. Renan đã viết: “Mô hình lý tưởng của thế giới dường như đã được đạt tới. Trí huệ đóng vai trò thống trị, và trong suốt 23 năm, thế giới [La Mã] được cai trị bởi một người cha”.
Vào năm thứ 24 của cuộc đời, Antoninus mắc trong bệnh. Ông gọi người con trai nuôi của mình, Marcus, tới bên giường và truyền lại cho con trai nhiệm vụ coi sóc Đế chế. Ông gửi tới những công chức đương nhiệm phương châm - aeguaninitas - sự trầm tĩnh. Rồi ông nhắm mắt lại như thể để ngủ, và qua đời (năm 161). Tất cả các tầng lớp và thành phố thi nhau ca ngợi, tôn vinh những ký ức về ông.
Theo Renan, “nếu Antoninus không chỉ định Marcus Aurelius làm người kế vị, hẳn ông sẽ không có đối thủ cạnh tranh cho danh hiệu vị vua vĩ đại nhất”. Marcus dường như thừa hưởng tất cả những phẩm hạnh của người tiền nhiệm, cộng thêm những đức tính khác mà ông có được nhờ “ông bà tốt, cha mẹ tốt, chị em tốt, họ hàng tốt”. Lịch sử không cho người ta tất cả, nó cân bằng lại những thứ ông có bằng cách cho ông một người vợ mà sự chung thủy và đạo đức của cô ta vẫn là một ẩn số, một người mà ông chưa bao giờ ngừng ca ngợi, và một người con trai không hề xứng đáng và luôn gây tai họa, một người ông chưa bao giờ ngừng yêu thương. Ông cảm ơn những cuốn sách của mình vì đã cho ông giữ lại được óc logic và kiến thức chiêm tinh học của mình, vì đã giải phóng ông khỏi những điều mê tín, và đã dạy ông sống một cách đơn giản và hòa hợp với tự nhiên.
Khi 12 tuổi, ông đã tiếp nhận chiếc áo choàng thô của một triết gia, nằm ngủ trên nền nhà được rải sơ sài một ít rơm, và suốt một thời gian dài đã phản kháng lại khi mẹ ông cố thuyết phục ông dùng một chiếc tràng kỷ. Ông là một người theo phái khắc kỷ, từ trước khi ông trở thành một người đàn ông trưởng thành. Ông đưa ra những lời cảm ơn “rằng tôi giữ gìn bông hoa của tuổi thanh xuân; rằng tôi không khoác lên mình cái lốt của một người đàn ông ở trước tuổi của mình, mà thay vào đó trút bỏ nó lâu hơn cần thiết,… rằng tôi không bao giờ phải cần đến Benedicta”. Ông cảm ơn anh trai Severus của mình vì đã dạy ông “ý tưởng về một nhà nước mà ở đó tồn tại cùng một bộ luật cho tất cả mọi người,… quyền lợi bình đẳng, và tự do ngôn luận, và ý tưởng về một chế độ cai trị quân chủ trên hết tôn trọng tự do của những người bị cai trị”, trong suốt 2 triều đại, tư tưởng quân chủ chuyên chế kiểu khắc kỷ nắm giữ ngai vàng. Ông quyết định cai trị bằng cách làm gương, thay vì bằng luật pháp. Ông không cho phép mình hưởng thụ bất cứ thứ xa hoa nào, đảm nhiệm tất cả những nhiệm vụ quản trị hành chính, và khiến chính mình kiệt sức bằng cách dễ dãi trong việc để mọi người tiếp cận. Chẳng mấy chốc, cả Đế chế chào đón ông như một giấc mơ có thực của Plato: một triết gia đã lên ngôi vua.
Danh tiếng của ông với tư cách một triết gia khiến những tộc người man di có thêm dũng khí để thử triển khai một cuộc đột kích nữa vào La Mã. Năm 167, các bộ tộc ở phía Bắc Sông Danube đã vượt qua sông trong một cuộc tấn công bất ngờ, và các quân đoàn lê dương khi ấy đã kiệt quệ do chiến tranh và bệnh dịch. Marcus gác tất cả những cuốn sách của mình sang một bên, tổ chức một đội quân mới bằng cách tuyển mộ lực lượng trị an, võ sĩ giác đấu, lục lâm thảo khấu, và nô lệ, huấn luyện kỷ luật và sức mạnh cho đội quân ấy, lãnh đạo nó đến chiến thắng, với chiến lược và kỹ thuật, sau một chiến dịch gian khổ, và trở về Rome để đối mặt với vấn đề kế vị. Trước đó ông đã hy vọng dạy cho con trai mình,Commodus, về triết học và điều hành đất nước, nhưng người thanh niên ấy đã chạy trốn khỏi việc học hành để tới chỗ những võ sĩ giác đấu và không lâu sau vượt qua cả những người bạn liều lĩnh bất cần ấy về sự thô bạo trong hành động và sự thô lỗ trong lời nói.
Trong khi đó, những người dân bản địa ở thành Rome đang giảm dần về số lượng và ngày càng yếu ớt do tình trạng vô sinh và đời sống quá dễ dàng, trong khi những tộc người man di đang ngày càng gia tăng về số lượng và khỏe mạnh hơn, do khả năng sinh sản mạnh và đời sống khắc nghiệt. Trong 7 năm từ năm 168 đến năm 176, Đế chế La Mã bị tấn công hết lần này đến lần khác bởi người Chatti, người Marcomanni, người Mauri (người Moor), người Sarmatia, người Quadi, người lazyge; một số xâm lược đất Hy Lạp, tiến tới vùng chỉ cách Athens chưa đầy 22,5 km; các tộc người khác càn quét vùng lãnh thổ La Mã ở Tây Ban Nha; một số vượt qua dãy Alps, đe dọa Venice và Verona, và biến những vùng đất trù phú ở phía Bắc đất Ý thành bình địa.
Trong những năm ấy, Marcus lại thỉnh thoảng phải chịu căn bệnh dạ dày đau đớn, căn bệnh khi ấy kháng lại mọi sự chẩn đoán, và thậm chí cả những phương thuốc của Galen*. Cơ thể gầy yếu, bộ râu không được để ý chăm chút, đôi mắt mệt mỏi với những lo âu khắc khoải và tình trạng mất ngủ, vị hoàng đế Cô đơn một lần nữa chuyển từ việc quan tâm đến những vấn đề trong nước sang những nhiệm vụ chẳng hề dễ chịu của câu chuyện chiến tranh.
Chính trong chiến dịch dọc theo bờ sông Danube ấy, Marcus, trong những khoảng lặng giữa các trận chiến, đã soạn ra cuốn sách nhỏ bằng tiếng Hy Lạp được biết đến với cái tên Meditations hay Thoughts (Suy tưởng), nhưng ông đặt tên nó là Ta eis heaton (Dành cho chính người đàn ông ấy). Ông dự định tóm tắt những kết luận mà ông đã đạt được, về những điều đầu tiên và cuối cùng trong cuộc đời. Ông đã mất đi đức tin vào tín ngưỡng chính thức của La Mã, và vẫn không tiếp nhận bất cứ tín ngưỡng mới nào đến từ phương Đông, nhưng ông đã tìm thấy quá nhiều dấu hiệu và hình thức của trật tự trong tự nhiên, đến nỗi không thể nghi ngờ việc vũ trụ hàm chứa một trí tuệ bí ẩn nào đó. Ông cảm thấy vạn vật đều được quyết định bởi một lý trí bao trùm - cái logic Cố hữu của cái toàn thể; và mọi phần của vũ trụ phải vui vẻ tiếp nhận định mệnh khiêm nhường của nó. “Trầm tĩnh” (phương châm của Antoninus) “là việc tình nguyện tiếp nhận những gì mà bản chất tự nhiên của cái toàn thể đã gán cho ngươi”. Mọi thứ “hòa hợp với ta đồng thời hòa hợp với ngươi; Hỡi vũ trụ. Không có thứ gì đến vào đúng thời điểm với người mà lại quá sớm hay quá muộn đối với ta”.
Ông buộc phải chấp nhận, một cách do dự, rằng có những người xấu trong thế giới này. Cách để xử trí họ là nhớ rằng họ cũng là con người, tức những nạn nhân bất lực của những lỗi lầm của chính họ, do tính quyết định luận* của tình cảnh. “Nếu bất cứ người nào làm điều gì sai trái với người, chính anh ta mới là người chịu thiệt hại;… hãy tha thứ cho anh ta”. Đây dường như là một triết lý phi thực tế? Ngược lại, không thứ gì có thể bất khả khuất phục được như một nhân cách tốt, nếu nó chân thành. Một người thực sự tốt sẽ miễn nhiễm với bất hạnh, bởi bất kể điều xấu xa nào đến với anh ta cũng không khiến anh ta đánh mất linh hồn của riêng mình. Triết học không phải là logic hay học tập, mà là thấu hiểu và chấp nhận.
Về cái chết, hãy chấp nhận cả nó, như một thứ tự nhiên và cần thiết:
Bởi sự biến đổi oà tan biến của những thể này tạo ra không gian, khả thể cho những thể khác, những thể chắc chắn cũng sẽ phải chết, những linh hồn bị rút ra ngoài thinh không khi sự sống không còn tồn tại cũng được biến đổi và tan biến… thành trí tuệ phôi thai của vũ trụ, và tạo ra không gian, khả thể cho những linh hồn mới… Người đã tồn tại như một phần, người sẽ tan biến vào chính cái đã tạo ra ngươi… Điều này cũng là ý nguyện của tự nhiên… Vì thế, hãy đi qua khoảng trong thời gian nhỏ bé này để đến với tự nhiên, và kết thúc hành trình của người trong sự thỏa mãn, giống như một trái ô-liu rụng xuống khi nó chín, ban phước cho cái tự nhiên đã tạo ra nó, và cảm ơn cái cây mà trên đó nó đã sinh ra và lớn lên.
Ông đối mặt với cái chết mà không mang một hy vọng nào về hạnh phúc ngoài việc có một nấm mồ và không có chút niềm tin nào vào người con trai được trông mong sẽ kế vị ông. Ông tiếp tục các chiến dịch của mình ở miền Bắc trong 6 năm với thành công vang dội tới mức, khi ông trở về Rome vào năm 176, ông được đón chào với lễ khải hoàn như thể dành cho một vị cứu tinh của Đế chế. Ông biết rằng chiến thắng của mình chỉ là tạm thời, và hai năm sau đó ông một lần nữa lên đường để bình định cuộc xâm lăng của người German. Giữa chiến dịch đó, ông qua đời (năm 180), khi đã từ bỏ nguyên tắc nhận con nuôi do tình yêu mà ông dành cho người con trai.
Commodus tiến tới mở đầu cho sự suy tàn trong thời gian dài của Đế chế La Mã, trong khi các tín đồ Cơ Đốc giáo sợ hãi đang giấu mình nơi đám đông, kiên nhẫn chờ đợi khúc khải hoàn của Chúa Jesus.