Gaius Octavianus, cháu trai*, con trai nuôi, và cũng là người thừa kế của Julius Caesar, đã trở về Rome vào năm 29 TCN, sau khi đánh bại Antony và Cleopatra ở Actium (năm 31 TCN), thiết lập quyền kiểm soát của La Mã lên Ai Cập, khai thác được quốc khố của đất nước này, và phục hồi trật tự cũng như thuế khóa ở những thuộc địa phương Đông của Đế chế La Mã, những thuộc địa trước đó gần như bị tách ra khỏi đế chế do chiến tranh, cách mạng, và tình trạng vô chính phủ.
Thủ đô chào đón ông như một vị cứu tinh giàu có, cùng một lễ khải hoàn kéo dài ba ngày. Ông đáp lại bằng cách thưởng cho mỗi người lính của mình một khoản tiền đáng kể, và cấp cho mỗi cựu chiến binh đã giải ngũ trong danh dự một mảnh đất có thể trồng trọt được. Ông miễn trừ những khoản thuế chưa trả được của tất cả các địa chủ và công khai đốt tất cả những sổ sách ghi chép các khoản nợ của họ với nhà nước. Bằng những khoản tiền mà ông được thừa kế và tích lũy, ông đã trả tiền để phân phát ngô cho người dân, triển khai các công trình công cộng để giảm tình trạng thất nghiệp và trang trí thành Rome, bù vào các khoản thâm hụt trong quốc khố, và gửi những khoản tiền lớn đi để cứu tế những tỉnh thành đang phải chịu khổ do những “hành động của Thượng Đế”.*
Cùng với lòng từ tâm mà không ai có thể cưỡng lại, và với thiên tài trong việc xoa dịu những khó khăn của việc thay đổi bằng những bước thực hiện từ từ cùng phong thái lịch sự, ông dễ dàng thuyết phục Nghị viện, khi ấy vừa được phục hồi, phong cho ông tước princeps senatus, một tước hiệu trước đó mang nghĩa “người đầu tiên trong bảng điểm danh của Nghị viện”, nhưng không lâu sau đó mang ý nghĩa của “quân vương”. Vào năm 27 TCN, Octavianus yêu cầu được từ bỏ tất cả những chức vụ và quyền lực của mình, và xin được phép lui về với đời sống riêng tư. Nghị viện cầu xin ông tiếp tục cai trị; ông chấp thuận, và điều này xác nhận tước hiệu quân vương suốt đời của ông. Không lâu sau, tước hiệu này khiến ông được ban cho danh hiệu tôn giáo Augustus - tức “Người tăng cường thần thánh” (Divine Augmentor) hay “Người chu cấp” (Provider); và tước hiệu này đã trở thành tên vĩnh viễn mà lịch sử dụng để gọi ông.
Người dân của thành Rome, và của đất Ý, với vốn kinh nghiệm khiêm tốn, đã chấp nhận chế độ quân chủ đã được ngụy trang này. Trong trạng thái mệt mỏi, họ không còn ham mê tự do, mà chỉ cầu mong sự yên ổn, trật tự, và hòa bình, bất cứ ai cũng có thể cai trị họ, miễn rằng người đó đảm bảo cho họ bánh mì và trò tiêu khiển. Họ hiểu một cách mơ hồ rằng hội đồng lòng ngóng vụng về của họ, tắc nghẽn do tham nhũng và xơ xác do bạo lực, không thể điều hành một đế chế, Giờ đây, cả thế giới Địa Trung Hải nằm đó dưới chân Octavianus, trong sự hỗn loạn, chờ đợi tài trị quốc của ông.
Ông xoa dịu sự sụp đổ của nền Cộng hòa bằng cách giữ những điều lệ và hình thức của chế độ Cộng hòa. Ông tuyên bố rằng ông chỉ đơn thuần là chủ tịch của Nghị viện, nhưng không một phương sách nào được đệ trình lên cơ quan này mà không Có sự khởi xướng hoặc chấp thuận của ông. Ông cho phép các hội đồng hội họp, ông tranh cử vị trí quan chấp chính tối cao 13 lần, và vận động - thậm chí mua - phiếu bầu giống những người còn lại, đây là một sự nhượng bộ các tục lệ. Các quan chấp chính tối cao và quan bảo hộ tiếp tục được bầu lên, mãi cho tới thế kỷ 5, nhưng chức năng của họ dần mang tính quản lý hành chính hơn là triển khai điều hành, và họ phải chịu nhường quyền lực cho vị quân vương kia. Tham nhũng và suy đồi chính trị tiếp diễn, nhưng được giảm bớt nhờ việc yêu cầu mọi ứng viên phải đặt cọc một khoản đảm bảo bằng tiền, để chắc chắn rằng anh ta sẽ không nhận hối lộ. Tuy nhiên, Augustus đã vi phạm trong một sự kiện có tính tiền lệ tối quan trọng. Ông giữ ba tiểu đoàn trong thành phố dưới quyền kiểm soát của mình, và thêm sáu tiểu đoàn khác gần đó, để đảm bảo trật tự công cộng và sự cai trị của ông ta. Chín tiểu đoàn này trở thành đội Cận vệ của Hoàng đế (Praetorian Guard), đội quân đã đưa Claudius lên nắm quyền vào năm 41 và bắt đầu khuất phục chính quyền, một sự kiện quan trọng và gây ảnh hưởng to lớn về sau.
Nắm trong tay quá nhiều quyền lực, và được hỗ trợ bởi những người cầm quyền mà ông tìm được trong tầng lớp doanh nhân đang nổi lên, Augustus mang đến cho nền kinh tế và đất nước này một trạng thái trật tự giúp tạo ra rất nhiều của cải. Ông phân phát quyền sở hữu đất cho người nghèo, cho những nông dân có tinh thần trách nhiệm vay mà không lấy lãi, mở các hầm mỏ, đường, và tuyến đường mới, kiểm soát nạn cướp bóc và cướp biển, bảo vệ và mở rộng các cầu dẫn nước vào thành Rome, xoa dịu đám dân nghèo bằng bột mì giá rẻ, những trò xổ số khiến họ phấn khích, và những cuộc thi đấu ngoạn mục; bảo vệ tất cả các tầng lớp bằng những bộ luật được kiểm soát và thi hành tốt, và, đối với tất cả những thứ còn lại, bỏ mặc sự phát triển của sản xuất, phân phối, và tài chính cho những nghèo đói, tham lam, ganh đua, và tự tung tự tác. Bằng ngân sách công lẫn tiền túi, và sự hỗ trợ của thiên tài Marcus Agrippa, ông triển khai một chương trình khổng lồ để xây dựng các công trình công, một chương trình giúp giảm thiểu tình trạng thất nghiệp và chứng minh cho những lời khoe khoang của ông về sau, rằng ông nhìn thấy một thành phố bằng gạch vào ngày đầu ông đến với Rome, và rồi để lại cho nó một thành phố bằng đá cẩm thạch.
Ông cảm thấy việc phục hồi sự thịnh vượng dễ dàng hơn việc cải thiện luân lý. Sự suy sụp về đức tin của các tầng lớp trí thức vào tín ngưỡng cổ xưa đã làm tiêu tan những nền tảng siêu nhiên, vốn là điểm tựa của hôn nhân, sự chung thủy, và quan hệ giữa cha mẹ và con cái; sự chuyển hóa từ nông trại sang đô thị đã khiến đứa con không còn là một tài sản quý giá như xưa, mà như một trách nhiệm và một món đồ chơi đắt tiền hơn; phụ nữ muốn được trở thành hình mẫu lý tưởng về dục tính, thay vì được tôn trọng do tư cách người mẹ, nhiều người La Mã bản xứ tránh việc kết hôn, hoặc kiểm soát quy mô gia đình bằng các biện pháp tránh thai, phá thai, hoặc giết trẻ sơ sinh. Augustus đã nhìn thấy trong những hiện tượng này sự suy sụp về thẩm quyền của cha mẹ, của trật tự xã hội, và của chất La Mã. Bằng quyền lực quan giám thị và quan bảo hộ của mình, ông đã khiến Quốc hội thông qua các bộ luật đưa vấn đề hôn nhân vào dưới sự kiểm soát của nhà nước, và trừng phạt những phụ nữ ngoại tình bằng hình phạt lưu đày và tịch thu một phần ba tài sản và một nửa của hồi môn; tuy nhiên, người vợ không thể buộc tội chồng ngoại tình, và anh ta có thể qua lại với gái mại dâm đã có đăng ký mà không phải chịu hình phạt nào.
Một đạo luật khác đã khiến hôn nhân trở thành việc bắt buộc, áp các hình phạt về kinh tế lên những người độc thân, và đưa ra những phần thưởng về xã hội và kinh tế cho việc sinh và nuôi dưỡng con. Các sử gia, từ Tacitus trở đi, ghi nhận những bộ luật này như những thất bại, nam giới và phụ nữ tìm ra nhiều cách để né luật. Sự vô luân trong tình dục vẫn tiếp diễn, thậm chí Công khai, trong tác phẩm Amores của Ovid, nó đã trở thành một môn nghệ thuật cao cấp, được những chuyên gia dạy cho những người tập sự. Người La Mã bản địa bắt đầu giảm số lượng và không còn cường tráng như trước, trong khi dân nhập cư, gắn bó với gia đình và tín ngưỡng hơn người La Mã, nhân lên nhiều lần về số lượng và sức mạnh.
Augustus thành công hơn trong việc đem đến cho đế chế một cấu trúc pháp luật và bình ổn, một cấu trúc đứng vững trong suốt 200 năm. Ông bắt đầu, như bất kỳ vị tướng La Mã nào, bằng cách nỗ lực mở rộng Đế chế qua những cuộc chinh phạt; ông đã cử các đội viễn chinh tới chiếm Ethiopia và Arabia nhưng phải hủy bỏ việc này giữa chừng, và lệnh cho con trai riêng của vợ ông, Drusus, và Tiberius đi thảo phạt người German vì các cuộc xâm lược của họ lên đất Gaul, bằng cách chinh phục một phần của đất Đúc kéo dài đến sông Elbe. Nhưng trong năm thứ 9 SCN, người German dụ ba quân đoàn lê dương của người La Mã vào một cái bẫy, bao vây họ, và giết đến người cuối cùng. Augustus lệnh cho Tiberius trả thù, nhưng rồi phải thu đường biên giới của La Mã về sông Rhine.
Khi đã mở rộng Đế chế đến tầm vĩ đại nhất - từ đảo Anh và Tây Ban Nha tới Biển Đen và sông Euphrates - ông ra lệnh ngừng chinh phạt và quyết định thay chiến tranh bằng pháp luật. Ông ngạc nhiên khi “Alexander không xem việc đưa Đế chế mà ông đã giành được vào trật tự là nhiệm vụ vĩ đại hơn việc giành được nó”. Thời kỳ Pax Romana bắt đầu.
THỜI KHẮC CỦA NHÀ THƠ
Dưới nền hòa bình này, mọi phần lãnh thổ La Mã đều có thể xuất khẩu hàng hóa và ý tưởng, tiếp thu những lối sống và tín điều mới nhất. Giờ đây, thế giới Hy Lạp hóa - Hy Lạp,Cận Đông, và Ai Cập - những người kiến tạo và thừa hưởng những nền văn hóa phong phú và đa dạng - Có thể trút những lời thơ và văn xuôi của họ, những đức tin cũ và mối nghi hoặc cũ của họ, khoa học, triết học và nghệ thuật của họ, vào một Rome khi ấy vẫn còn háo hức tri thức, sẵn sàng tiếp nhận những tín ngưỡng mới, những xuất thần thi ca, và những hình thức kiến trúc mới.
Một người trẻ tuổi rụt rè đến từ Mantua - khiêm nhường đến mức một số người dí dỏm đã chuyển cái tên “Virgil” của anh ta thành “Virgin”* - được truyền cảm hứng từ Theocritus, mục sư người Hy Lạp đến từ Syracuse, để viết ra tác phẩm Eclogues (Chọn lọc) về đời mục sư, theo thể 6 foot du dương một cách đầy vui thích. Nhà hảo tâm triệu phú Maecenas đã thuyết phục anh ta chỉnh đàn lia của mình sao cho phù hợp với việc ăn mừng những công việc và niềm vui nơi nông thôn. Khi Octavianus trở về từ những chiến thắng nhọc nhằn của ông truỚC Antony và Cleopatra, Maecenas đã thu hút ông ngồi lắng nghe, trong 4 ngày, 2.000 dòng thơ trong tác phẩm Georgics của Virgil - tức lời ca của đất. Chúng hòa hợp một cách say mê với hy vọng của nhà chinh phạt trẻ tuổi - hy vọng thu hút người La Mã về với ruộng vườn. Ông thưởng cho nhà thơ theo cách của một bậc quân vương, và Virgil, trong sự biết ơn, đã lui về nơi ẩn náu bí mật của mình và tại đó, trong suốt 10 năm tiếp theo, ông đã soạn ra trường ca Aeneid, ca ngợi Aeneas và Rome như cách Iliad của Homer ca ngợi Achilles và Troy. Tác giả tỉ mỉ này qua đời, thọ 51 tuổi (năm 19 TCN), trước khi hoàn thành kiệt tác này.
Trường ca Aeneid thiếu một cấu trúc logic, nhưng logic hiếm khi hòa hợp được với thi ca; nó thiếu đi dòng chảy cuồn cuộn mãnh liệt của Iliad, tư tưởng nam tính của Odyssey,nhưng nó thực sự là một quần đảo của nhiều bản nhạc du dương, rari nantes in surgite Coasto - “bơi đi khắp nơi trong một vùng biển mênh mông”. Ví dụ, dưới đây là một đoạn thơ ra đời trước thời của Keats nhưng sánh ngang với những lời tụng ca hay nhất của Keats:
Con sơn ca than khóc, dưới bóng cây bạch dương, trước cái chết của những đứa con, những con chim mà người nông dân khổ nhọc đã nhìn thấy và kéo xuống từ tổ của chúng khi chúng còn chưa đủ lông đủ cánh; suốt đêm dài, nó kêu khóc, và đậu trên một cành nhỏ, hát đi hát lại bài ca thương tiếc của nó, và bài ca ai oán của nó ngập tràn khu rừng.
Và tất nhiên, có một câu chuyện về Dido, Nữ hoàng xứ Carthage; sự dâng hiến đầy đê mê của bà trong vòng tay cường tráng của Aeneas; chuyện ông rời bỏ bà để đi theo định mệnh kiến thiết Rome; việc bà quăng mình trong thất vọng vào một giàn hỏa táng. Horace xem Aeneid sánh ngang với Iliad; thời Trung cổ tôn kính Virgil như (giống cách Pater ca ngợi Plato) anima naturaliter Christiana - “một linh hồn mang bản chất của Christ” trước khi Jesus Christ ra đời; Dante chọn ông là người dẫn đường cho ông đi xuyên qua hỏa ngục, luyện ngục, và thiên đường; Purcell đưa Dido vào âm nhạc; và Voltaire, trên tất cả những người khác, xếp Aeneid là tượng đài văn chương tuyệt vời nhất mà thời cổ đại để lại.
Một trong những bức tranh êm dịu nhất trong thế giới văn chương - nơi sự ghen tị tràn ngập, chỉ thua trong tình yêu - là bức tranh vẽ Virgil khi giới thiệu Horace với Maecenas. Trong những bài thơ mang lời lẽ tinh tế của Horace, người ta được tận hưởng một sự tinh vi phức tạp bổ sung cho sự đơn giản trong cá tính và lời thơ của Virgil. Năm 34 TCN, ông cho Horace một ngôi nhà rộng rãi và một nông trang mang đến thu nhập ở thung lũng Sabine, cách Rome khoảng 72,5 km về phía Bắc. Được tự do nói lên những gì mình nghĩ, Horace châm biếm, bằng thể thơ 6 foot gần như thông tục, những nhân vật điển hình mà ông đã phát hiện ra ở Rome: người nô lệ khắc nghiệt, tác giả yếu đuối vô vọng, kẻ nhàm chán bẻm mép, triết gia luôn săn tìm một nơi dừng chân, người phương Đông ranh ma, thương nhân, người đi bộ trên phố, gã hay tán tỉnh, một kẻ đã chán vợ và thèm muốn có được một người phụ nữ khác, và chính người phụ nữ này lại trở thành lời văn của một người đàn ông khác: tất cả những thứ này, trong cảm giác của chúng ta, chính là thành Rome sinh động.
Sống thoải mái trong 24 căn phòng với ba bể tắm, Horace lý tưởng hóa hình tượng người nông dân, người “tránh xa những mối quan tâm đến kinh doanh… cày cấy với con bò của riêng mình trên những cánh đồng anh ta được thừa hưởng”. Để hiện thực hóa những giấc mơ của mình, ông viết những lời tụng ca gửi tới hoặc về những tình nhân ngoài đời hoặc tưởng tượng của ông, mà trong đó tên của 13 người đã xuất hiện trong thơ ông. Ý thức được năng lực của mình, ông soạn một bức thư mà sau này mang tên Nghệ thuật thi ca (The Art of Poetry), nói cho những tác giả xoàng trẻ tuổi biết những nguyên tắc viết hay: rõ ràng, trực tiếp, hòa trộn những thứ hữu ích với những thứ dễ chịu. Nghệ thuật chuyên chở cảm xúc của nghệ sĩ lẫn cảm xúc của người tiếp nhận: “Nếu bạn muốn tôi khóc, trước tiên chính bạn cũng phải đau buồn”. Nhưng nghệ thuật không chỉ là cảm xúc; nó là cảm xúc được truyền tải trong hình thức có nguyên tắc - “Cảm xúc được ghi nhớ trong sự yên bình”; đây là thử thách mà phong cách nghệ thuật cổ điển dành cho phong cách lãng mạn.
Để đạt được hình thức, hãy dành cả ngày và đêm để học tiếng Hy Lạp. Hãy tránh những từ mới, lạc hậu, hoặc dài dòng - “những từ dài đến 1 foot rưỡi”. Nếu tác phẩm của bạn vượt qua được tất cả những bài kiểm tra này, hãy giấu nó đi trong 8 năm. Nếu sau đó nó vẫn khiến bạn hài lòng, hãy xuất bản nó, nhưng nhớ rằng nó có thể sẽ khiến tâm trí trưởng thành của bạn phải xấu hổ. Nếu bạn viết kịch, hãy tuân theo ba quy luật về sự thống nhất - thống nhất hành động, thống nhất thời gian, và thống nhất địa điểm. Hãy nghiên cứu cuộc sống và triết học, bởi vì nếu không có sự nghiên cứu và thấu hiểu, văn phong hoàn hảo cũng chỉ là một con thuyền rỗng tuếch, mỏng manh dễ vỡ đến mức không đáp ứng được nhu cầu của chúng ta.
Horace không nghi ngờ nghệ thuật của chính mình và khả năng tồn tại của nó. Exegi monumentum aere perennius - “Tôi đã dựng lên một tượng đài bền vững hơn cả đồng thiếc, vĩ đại hơn cả đỉnh cao hoàng gia của các kim tự tháp… Tôi sẽ không bao giờ hoàn toàn chết đi” - non omnis moriar. Năm 8 TCN, sau khi đã di chúc toàn bộ tài sản của mình cho Augustus, ông hiến cơ thể mình cho đất mẹ và được đặt yên nghỉ gần mộ của Maecenas.
Một nhà thơ thứ ba đã đem lại vinh quang cho thời kỳ Augustus hoặc, trong trường hợp này, Augustus cho rằng nhà thơ ấy đã làm nhục nó bằng những tội ác. Publius Ovidius Naso đã biến mình thành hình mẫu và nhân vật đi đầu của những người La Mã theo tư tưởng hưởng lạc, những người căm ghét những bộ luật chống lại tự do tình dục của Augustus, và cười chế giễu những chiến binh đi tìm cái chết trên những mảnh đất xa lạ trong khi họ có thể khám phá sự quyến rũ của những người phụ nữ đã đượể giải phóng ở Rome. Người cha giàu có thuộc tầng lớp trung lưu của ông gửi ông tới thủ đô để học luật và bị sốc khi biết rằng con trai ông muốn trở thành một nhà thơ. Ovidius đã cố gắng xoay xở để lên tới vị trí thẩm phán, một vị trí không hề hợp với tính cách của ông, nhưng en route - trong thời gian đó - ông đã viết một tập thơ ca ngợi lối sống tạp hôn*.
Sau những trải nghiệm phong phú trong chuyện săn đuổi tình ái, ông xuất bản một cuốn hướng dẫn tán tỉnh, mang tên Ars amatoria (năm 2 TCN), nhưng thận trọng đề nghị độc giả chỉ áp dụng những lời dạy ấy với những cô gái mại dâm hạng sang và nô lệ. Các tập sách này và những tập sau đó bán chạy đến nỗi Ovidius đạt đến cái đỉnh chót vót của cả danh vọng lẫn sự kiêu căng: “Chừng nào tôi còn được tôn vinh trên toàn thế giới, thì một hai gã thầy dùi có nói gì về tôi cũng chẳng quan trọng”. Ông không biết rằng một trong những gã thầy dùi đó là Augustus, người đang ngẫm nghĩ về các cách để tăng sức mạnh cho bộ Luật Julian mà ông đã thông qua vào năm 13 TCN.
Ovidius trở nên giàu có, kết hôn ba lần, tìm được một hạnh phúc mới với Fabia, những nhiệt huyết của ông lắng xuống, và vào năm 7 ông đã xuất bản tác phẩm có giá trị lâu dài nhất của mình, Metamorphosis (Siêu biến), kể lại một cách sinh động và trôi chảy trên thể thơ 6 foot một số trường hợp nổi tiếng về sự chuyển hóa của đồ vật, động vật, con người, và thần thánh; gần như tới tận thời kỳ của chúng ta, chủ đề của cả nghìn bài thơ, bức tranh, và bức tượng vẫn được rút ra từ kho tàng này. Cuối cùng, tác giả tự tin này tuyên bố sự bất tử của mình: Per saecula omnia ofoam - “Ta sẽ tồn tại qua mọi thời đại”. Ông gần như không thể làm cho lời tiên tri này ứng nghiệm khi, vào năm thứ 8 của thời đại chúng ta và năm thứ 51 của thời đại công, ông nhận được một thông báo của chính quyền, bắt ông phải lưu đày tới Tomi (giờ đây là Constanta), một thị trấn lạnh lẽo và phủ đầy sương trên bờ biển Romani của Biển Đen.
Nhà thơ này thường gửi cho vợ và bạn bè những bài thơ mà sau được tập hợp vào tuyển tập Tristia. Khi, trên bến cảng ảm đạm ấy, ông nghĩ về những người phụ nữ ấm áp và bầu trời tươi vui của đất Ý, trái tim ông tan nát, và những câu thơ của ông, vẫn với những ngôn từ và thể thơ đẹp, đạt đến một chiều sâu về cảm xúc mà trước đó ông hiếm khi thể hiện. Một cách khiêm nhường, ông thỉnh cầu được xá tội, nhưng không nhận được câu trả lời nào, và ông qua đời khi đang lưu đày vào năm 17. Hẳn phải có điều gì ở ông khiến người ta yêu ông rất nhiều, bởi vợ ông, người đã đứng sau ông khi được ông yêu cầu làm vậy, vẫn chung thủy với ông cho đến phút cuối cùng.
QUÂN VƯƠNG CŨNG LÀ NGƯỜI PHÀM
Người đàn ông, người mà lời hứa của ông đã trở thành luật pháp từ York tới Baalbek tới Cádiz, đã sống một cuộc đời giản dị khiêm tốn, tránh xa những xa hoa của vật chất và những khoản thu nhập từ chức vụ, mặc những bộ quần áo đơn giản được may bởi những người phụ nữ trong nhà ông, và ngủ trong một căn phòng nhỏ, nơi trước đó đã là cung điện của nhà hùng biện Hortensius.
Augustus khiêm tốn đến mức một người Gaul tới để giết ông đã nghĩ rằng đây không thể nào là quân vương mà anh ta đang tìm kiếm. Trong gần như cả cuộc đời, ông đã phải chịu đựng một số chứng bệnh như để trừng phạt ông - hắc lào, viêm khớp, sốt phát ban, sỏi bàng quang, mất ngủ, trong một số chiến dịch, do yếu đến nỗi không thể cưỡi ngựa, ông phải để người khác cáng ông tới chiến trường. Sau khi thử nhiều thầy thuốc, ông tự chữa bằng cách tắm lưu huỳnh và chế độ ăn gồm bánh mì thô, pho mát, cá, và hoa quả. Dù đã có dấu hiệu già ở tuổi 35, ông tiếp tục sống đến năm 76 tuổi.
Cá tính của ông chứa những yếu tố đối lập, có thể lần lượt lộ ra trong những tình cảnh đột xuất. Vào thời trẻ - với nhiều may mắn về gia thế và được Caesar yêu quý - ông cũng góp phần gây ra tình trạng dễ dãi về tình dục ở thời kỳ đó. Sau đó, bị chấn động bởi vụ ám sát Caesar, ông cùng Antony chống lại Brutus; nhưng tham vọng táo bạo, không màng hậu quả của Antony, cách đối xử nhẫn tâm của Antony với vợ mình,Octavia - chị của Octavianus - đã biến Octavianus thành một kẻ thù tàn nhẫn. Khi, ở tuổi 33, ông trở thành bá chủ của thành Rome, phẩm hạnh của ông mới đạt đến thời kỳ hoàn thiện, rực rỡ nhất. Quyền lực khiến ông trở nên khiêm nhường, thay vì tha hóa. Ông đã tiếp nhận quá nhiều quyền lực, nhưng ông không kiêu căng. Ông cười với những bài văn đả kích mà giới trí thức và các nhà thơ soạn để nói về ông. Với tư cách quan tòa tối cao ở vùng đất ấy, ông đã phân xử bằng sự sáng suốt và bao dung. Trong những năm cuối đời, một loạt những bất hạnh khiến ông trở nên cay nghiệt và chai sạn. Phải tính đến cả sự yếu ớt về thể chất và những nỗi đau của tuổi già, chúng ta mới có thể thông cảm với ông như thông cảm với Caesar, người đã bị ám sát, và Antony, người đã bị đánh bại.
Những thất bại và bi kịch của ông gần như hoàn toàn nằm trong gia đình. Định mệnh của con gái Julia của ông dường như là, bằng sắc đẹp và sự hoạt bát, làm cho những năm suy sụp của ông bớt u ám, nhưng những nhiệt huyết và khí chất thất thường của cô không hề chào đón, hoan nghênh những bộ luật của cha về hôn nhân, quan hệ cha mẹ-con cái, và luân lý. Kết hôn ở tuổi 14 và trở thành góa phụ ở tuổi 16, cô tận hưởng tự do của mình với thái độ buông thả đến nỗi cha cô vội vã gả cô cho người phụ tá mà ông yêu quý nhất, Marcus Agrippa, khi ấy 40 tuổi. Julia sinh cho Agrippa 5 người con, nhưng khi ông mất (năm 12 TCN), Cô bước vào một loạt những câu chuyện tình ái, những câu chuyện đã trở thành scandal và nguồn tiêu khiển cho người dân thành Rome, khi ấy đang bực bội với “Luật Julian”. Bị ép phải kết hôn với con nuôi của cha cô, Tiberius, Cô tiếp tục những mối tình của mình; Tiberius chạy trốn tới Rhodes để học triết học và chiêm tinh học. Bạn bè của Augustus nhắc ông rằng, theo luật của ông, một phụ nữ ngoại tình phải bị chồng tố cáo với tòa án, hoặc, nếu người chồng từ chối, người tố cáo sẽ là người cha. Năm 2 TCN, Augustus ra một sắc lệnh lưu đày con gái ra đảo Pandateria, một vùng đá cằn cỗi ngoài bờ biển Campanian. Nhiều người, bao gồm cả Tiberius, đã cầu xin Augustus tha cho Julia; ông từ chối, và Julia chết sau 6 năm bị cầm tù. Trong khi đó, con gái của Julia, cũng mang tên Julia, bắt chước những hành động vô luân của mẹ cho đến khi Augustus đày cô ra một hòn đảo ở biển Adriatic (năm 8). Nhà thống trị già nua và sụp đổ về tinh thần này giờ đây mong chờ cái chết.
Cái chết đến với ông một cách bình lặng vào năm thứ 76 của cuộc đời. Chính khách người La Mã vĩ đại nhất đã nói với những người bạn có mặt cạnh chiếc giường của mình những lời người ta vẫn thường dùng để kết thúc một vở hài kịch La Mã: “Bởi tôi đã làm tốt vai của mình, giờ đây xin mọi người hãy vỗ tay, và hãy tiễn tôi ra khỏi sân khấu bằng tiếng hoan hô”. Ông ôm vợ, nói: “Hãy ghi nhớ cuộc hôn nhân lâu năm của chúng ta, Livia; tạm biệt”; và với những lời chia tay đơn giản này, ông từ trần.
Một vài ngày sau đó, thi thể ông được mang đi xuyên qua Rome, trên vai của những nghị viên, tới Đồng Mars, và ở đó ông được hỏa táng trong khi những đứa trẻ thuộc lớp thượng lưu hát những bài hát tiếc thương người đã khuất.