Nền tảng của Cách mạng bao gồm một số yếu tố. Việc nhập khẩu lương thực dạng hạt được trồng bởi nô lệ rẻ mạt từ các tỉnh đã hủy hoại đời sống của người nông dân tự do ở Ý, bằng cách buộc họ phải bán nông sản họ thu hoạch được với mức giá dưới cả chi phí sản xuất. Việc thay thế các nông trại gia đình bằng latifundia - tức các mảnh đất rộng lớn được vận hành bởi các nô lệ và được sở hữu bởi các nghị viên hoặc thương nhân - đẩy những người nông dân tự do đến chỗ phải gia nhập tầng lớp vô sản hỗn loạn ở thành thị. Tại đó, người nông dân được xem miễn phí những trận thi đấu thể thao tại nhà hát kiêm nhà thi đấu ngoài trời, nhận được phần phân phát hạt ngô từ chính phủ, bán lá phiếu của mình cho người trả giá cao nhất, và đánh mất chính mình trong đám đông quần chúng bần cùng và hỗn tạp đủ loại người. Chính người lao động ở thành thị cũng bị quấy nhiễu bởi sự cạnh tranh của các nô lệ, đến mức anh ta nhận thấy việc chẳng làm gì cũng có lợi ích gần như ngang với việc đổ mồ hôi lao động.
Nô lệ xuất hiện đầy rẫy ở khắp nơi trên toàn Đế chế, nhưng chủ yếu ở Ý. Trong các nô lệ này, bên cạnh những tù nhân chiến tranh bị đưa về sau mỗi chiến dịch thành công là những nạn nhân của cướp biển - những người hành nghề bắt và buôn bán nô lệ - hoặc nạn nhân của các quan chức ở thuộc địa của Rome, những người tổ chức các cuộc săn người, bắt ép làm nô lệ bất cứ ai mà họ bắt được mà không có một người bạn nào bảo vệ. Mỗi tuần, những người buôn bán nô lệ đưa những con mồi con người của họ đi đấu giá ở các khu chợ công cộng; ở Delos, 10.000 nô lệ được bán đi chỉ trong một ngày. Năm 177 TCN, 40.000 người Sardinia và vào năm 167 TCN 150.000 người Epirote đã bị bắt giữ bởi các đội quân La Mã và bán với giá xấp xỉ 1 đô-la mỗi đầu người. Trong các thành phố, chất lượng đời sống của người nô lệ được cải thiện nhờ những tiếp xúc nhân đạo với ông chủ, nhưng ở các latifundia, người nô lệ hiếm khi nhìn thấy ông chủ, và phần thưởng cho người giám sát nô lệ phụ thuộc vào lượng lợi nhuận mà anh ta có thể tạo ra cho ông chủ, từ sức lao động của những người nô lệ của ông ta; và chẳng có bất cứ phương thức nào để khuyến khích lao động, ngoại trừ nỗi sợ hãi trước đòn roi hoặc trước ergastulum - nhà từ dưới lòng đất, một điểm thường gặp ở các nông trại khổng lồ. Đôi khi có những cuộc nổi loạn của nô lệ - điển hình là trong Chiến tranh Nô lệ lần thứ nhất vào năm 139 TCN, và vào năm 73-71 TCN, dưới sự lãnh đạo của Spartacus. Khi cuộc nổi loạn nổi tiếng ấy thất bại, 6.000 người bị bắt giữ đã bị đóng đinh trên thập giá dọc theo đường Appia - từ Rome tới Capua. Thi thể thối rữa của họ bị bỏ mặc, treo ở đó hàng tháng trời, để tất cả các ông chủ nô lệ có thể cảm thấy hài lòng, và tất cả các nô lệ lấy đó làm gương.
Trong khi đó, ở Rome và đế chế của nó, tương tự như ở mọi nền văn minh và ở gần như mọi thế hệ, tình trạng bất bình đẳng, một trạng thái tự nhiên, về năng lực kinh tế và thể chế thừa kế - cha truyền con nối - phổ biến đã tạo ra sự tập trung của cải ở mức ngày càng cao, và qua những cuộc chinh phạt và khai thác bóc lột của đế quốc, sự tập trung của cải này đã lên tới mức khó có thời kỳ nào khác trong lịch sử có thể sánh bằng. Đôi khi, sự tập trung này vấp phải thách thức từ sự bất ổn xã hội, đôi lúc được biểu hiện bằng cách mạng. Chúng ta đã nhìn thấy một trường hợp,
Athens, được xử lý một cách ôn hòa dưới sự chấp chính của Solon (năm 594 TCN). Giờ đây, vào năm 133 TCN, một khủng hoảng tương tự xảy ra ở Rome, nhưng tại đây, hoạt động trị quốc đã thất bại trong việc xử lý khủng hoảng, và thế chỗ nó là một cuộc đấu tranh giai cấp kéo dài cả trăm năm, đẩy Cộng hòa La Mã đến hồi cáo chung đáng xấu hổ.
NHỮNG VIÊN NGỌC CỦA CORNELIA
Số mệnh Tiberius Sempronius Gracchus (162?-133 TCN) gần như được định sẵn rằng sẽ đi cùng với sự vĩ đại: ông là con trai của một người đàn ông hai lần làm quan chấp chính tối cao, và của một người mẹ, Cornelia, con gái của Scipio Africanus Maior, người đã đánh bại Hannibal ở Zama. Chồng bà mất sau khi bà sinh người con thứ mười hai; chín người trong số đó qua đời ở tuổi thanh thiếu niên, chỉ còn lại một người con gái và hai người con trai, Tiberius và Caius, niềm an ủi và cũng là niềm kiêu hãnh của bà. Khi một vị khách hỏi liệu bà có đeo ngọc trên người không, bà cho ông ta thấy hai người con trai của mình: “đây”, bà nói, “là những viên ngọc của tôi”.
Được nuôi dưỡng trong không gian của văn chương, nghệ thuật trị quốc, và triết học, Tiberius và Caius Gracchus đã biết đến những suy đoán trong tư tưởng Hy Lạp cổ đại và những vấn đề của nhà nước La Mã. Khi du ngoạn ở Ý, Tiberius đã để ý thấy sự thiếu vắng những người dân tự do trên các mảnh ruộng; thành Rome sẽ sở hữu đội quân như thế nào đây, khi mà những người nông dân cường tráng, những người từng là nhân lực chính của đội quân ấy,bị thay thế bởi những nô lệ bị bắt giữ và ghét Rome? Làm sao Rome có thể có được sự ổn định về chính trị với một tầng lớp vô sản thành thị sống trong nghèo đói như một cái nhọt đang mưng mủ, thay vì một tầng lớp tiểu địa chủ tự hào, được sở hữu đất và cày cấy trên đó? Việc phân phối đất đai của đất nước cho những người dân nghèo dường như là giải pháp hiển nhiên và cần thiết.
Khi được bầu vào vị trí quan bảo hộ năm 133 TCN, Tiberius đã chuẩn bị cho Quốc hội Tư pháp ba bản đề xuất: (1) không một công dân nào được phép mua hoặc thuê hơn 333 - hoặc nếu anh ta có hai người con trai, con số này sẽ là 667 - mẫu đất từ quỹ đất công; (2) tất cả các mảnh đất công đã được cá nhân thuê hoặc mua phải được trao trả lại cho nhà nước với giá mua hoặc giá thuê, Cộng thêm một khoản trợ cấp cho những cải thiện trên mảnh đất ấy; (3) những khu đất được trao trả phải được chia thành những mảnh đất rộng 20 mẫu để chia cho các Công dân nghèo, với điều kiện họ đồng ý không bao giờ bán mảnh đất họ được giao và trả một khoản thuế đất hằng năm cho Quốc khố. Tiberius, trước một hội đồng gồm những thường dân bần cùng, đã biện hộ cho các đề xuất của mình bằng cách viện đến sức hút của những lợi ích giai cấp:
Những con thú trên đồng và những con chim trong không trung đều có những hang hốc oà nơi ẩn náu của chúng, nhưng những người chiến đấu và chết cho đất Ý chỉ có ánh sáng và không khí. Các tướng lĩnh của chúng ta thúc giục binh lính của họ chiến đấu 0ì những lăng mộ và án thờ của tổ tiên mình. Kiểu kêu gọi này không có tác dụng và là sai trái. Bạn còn chẳng có nổi một án thờ để thờ cha mình. Bạn không có mộ tổ tiên. Bạn chiến đấu và chết để trao của cải và những thứ xa hoa cho người khác. Bạn được gọi là những người chủ của thế giới, nhưng bạn chẳng có lấy một mẩu đất cho riêng mình.
Nghị viện phản đối các đề xuất, cho rằng chúng là hình thức tịch thu sung công, truy tố Tiberius vì tội nỗ lực tìm cách thiết lập chế độ độc tài, và thuyết phục Octavius, một quan bảo hộ khác, ngăn chặn việc đệ trình các dự luật này lên Quốc hội bằng cách phủ quyết chúng. Tiberius ngay sau đó tuyên bố rằng bất cứ quan bảo hộ nào hành động trái với ý nguyện của các cử tri của ông sẽ ngay lập tức bị cách chức. Quốc hội thông qua dự luật, và Octavius bị các vệ sĩ của Tiberius lôi ra khỏi ghế quan bảo hộ bằng cách cưỡng ép. Sau đó người ta bỏ phiếu để đưa các bản đề xuất ban đầu thành luật, và Quốc hội, lo sợ cho sự an toàn của Tiberius, đã hộ tống ông về nhà.
Việc Tiberius gạt bỏ một cách bất hợp pháp quyền phủ quyết của một quan bảo hộ, một quyền mà tính tuyệt đối của nó từ lâu đã được chính Quốc hội xác lập, cho các đối thủ của ông một điểm mà họ có thể lợi dụng để khiến ông nhụt chí. Họ tuyên bố mục tiêu buộc tội ông ở cuối nhiệm kỳ 1 năm của ông, với tội danh vi phạm hiến pháp khi tìm cách tái đắc cử vào vị trí quan bảo hộ của năm 132 TCN. Khi ngày bầu cử tới, Tiberius xuất hiện ở Công trường với các vệ sĩ có vũ trang, và với điệu bộ thương tiếc, ông ngầm gợi ý rằng việc ông bị đánh bại sẽ đồng nghĩa với việc ông bị buộc tội và phải chết. Khi việc bầu cử đang diễn ra, bạo lực nổ ra ở cả hai phía. Scipio Nasica, trong khi kêu to rằng Tiberius muốn biến mình thành vua, đã dẫn đầu các nghị viên, vũ trang với dùi cui và gây tày, tiến vào Công trường. Những người ủng hộ Tiberius, kinh sợ trước những chiếc áo choàng của đám quý tộc, đã tránh đường: Tiberius bị giết bởi một đòn đánh mạnh vào đầu, và vài trăm người đi theo ông cũng mất mạng cùng ông. Caius, em trai ông, bị từ chối khi xin phép được chôn cất ông, và xác của những người nổi loạn bị ném xuống sông Tiber.
Cornelia cực kỳ đau buồn. Bà không còn một nguồn an ủi nào ngoại trừ người con trai còn sống của bà, Caius Sempronius Gracchus. Ông đã phụng sự với lòng can đảm và trí thông minh ở xứ Tây Ban Nha, và đã giành được sự ngưỡng mộ của tất cả các nhóm người, bằng sự nhất quán, chính trực trong cách hành xử và sự giản dị trong cuộc sống. Vào mùa thu năm 124 TCN, ông được Quốc hội bầu vào vị trí quan bảo hộ. Các đề xuất của ông với Quốc hội nhắm tới việc giành được sự ủng hộ của nhiều giai cấp khác nhau: sự ủng hộ của tầng lớp nông dân bằng cách đối mới chương trình tái phân phối đất công của anh trai ông: sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu bằng cách lập ra những thuộc địa mới ở Narbo, Capua, Tarentum, và Carthage, và phát triển những thuộc địa này như những trung tâm giao thương đang phát triển mạnh mẽ; và sự ủng hộ của tầng lớp quần chúng đô thị bằng luật lex frumentaria, tức luật hạt ngô, buộc chính phủ cam kết phân phối hạt lương thực với giá bằng nửa giá thị trường cho tất cả những người có yêu cầu. Đây là một chính sách gây sốc cho những tư tưởng tự lực cũ của người La Mã, và chính sách này trong tương lai sẽ đóng một vai trò tối quan trọng trong lịch sử La Mã. Nó làm giàu cho các nhà thầu và giảm tình trạng thất nghiệp bằng một chương trình xây dựng đường sá ở mọi miền trên đất Ý. Trước thời Caesar, nó là một trong những biện pháp cấp tiến nhất từng được đề xuất tới Rome.
Với vũ khí là những sự hỗ trợ đa dạng như vậy, Caius đã có thể lấn át được sức ảnh hưởng của tục lệ và lần thứ hai đắc cử vào vị trí quan bảo hộ, ngay sau khi kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên ở vị trí này (năm 123 TCN). Nhưng khi ông đề nghị mở rộng quyền bỏ phiếu và ứng cử ra cho tất cả những người dân tự do ở Latium (thành bang nho nhỏ mà thủ phủ là Rome), và quyền bỏ phiếu cho tất cả những người dân tự do trên đất Ý, Quốc hội đã do dự trong sự ghen tị với những đặc quyền của vùng đất này; và khi, một năm sau đó, ông thể hiện sự coi thường truyền thống bằng việc lần thứ ba tìm cách ứng cử vào vị trí quan bảo hộ, ông đã bị đánh bại. Một số người ủng hộ ông cáo buộc rằng rất nhiều lá phiếu đã bị làm giả. Ông phản đối bạo lực và lui về với đời sống riêng tư.
Nghị viện, cơ quan trước đó đã bị Caius tước bỏ nhiều quyền lực đến mức rõ ràng hoàn toàn bất lực, giờ đây đã lấy lại một phần quyền lực của nó. Vào năm 121 TCN, nó đề xuất từ bỏ thuộc địa ở Carthage; tất cả các bên đều diễn giải phương sách này, hoặc công khai hoặc một cách kín đáo, như động thái đầu tiên trong một chiến dịch bãi bỏ các bộ luật của anh em nhà Gracchus. Một số người trung thành ủng hộ Caius đã mang theo vũ khí khi dự Quốc hội, và một trong số họ đã chém gục một người theo phái bảo thủ, người đã đe dọa hành hung Caius. Ngày hôm sau, các nghị viên xuất hiện được trang bị và trong đội hình sẵn sàng chiến đấu, mỗi người đi cùng hai nô lệ có vũ trang, và tấn công phái thường dân đang bám trụ trên đồi Aventine. Caius đã cố gắng hết sức để làm dịu cơm náo động và ngăn chặn bạo lực đi xa hơn. Khi thất bại, ông tháo chạy qua sông Tiber; khi bị bắt kịp, ông đã ra lệnh cho người đầy tớ giết ông, người nô lệ ấy đã tuân theo, rồi tự tử. Một người bạn đã chặt đầu Caius, đổ đầy chì nóng chảy vào trong, và mang nó tới Nghị viện, nơi mà người ta treo thưởng cho cái đầu của Caius với lượng vàng nặng bằng chính cái đầu ấy. Trong số những người ủng hộ Caius, 250 người đã ngã xuống trong cuộc ẩu đả, 300 người nữa bị xử tử bởi sắc lệnh của Nghị viện. Đám đông ở thành thị mà ông đã đối đãi như bằng hữu không hề phản đối khi xác ông, và cả xác những người đi theo ông, bị quăng xuống sông, khi ấy họ còn đang bận cướp bóc vơ vét ở nhà ông. Nghị viện cấm Cornelia mặc đồ để tang con trai.
SULLA, NGƯỜI HẠNH PHÚC
Tập đoàn populares* từ từ tái tổ chức và bắt đầu một cuộC “Nội Chiến” dưới sự lãnh đạo xuất sắc của Caius Marius, người một thời từ bỏ chiến tranh để tận hưởng những chiến lợi phẩm của mình. Để đối đầu với ông, Nghị viện đã dựng lên Lucius Cornelius Sulla, với tư cách người bảo hộ quân sự của nhóm optimares (tức “những người mới”) và là một trong những nhân vật khó diễn tả nhất trong lịch sử.
Sulla, sống vào khoảng thời gian từ năm 178 đến năm 138 TCN, là người không khiến cho người khác có thiện cảm, và ông đã trả thù cuộc đời vì đã khiến ông là quý tộc nhưng không một xu dính túi; khi ông có tiền, ông dùng tiền bạc để thỏa mãn những ham muốn của mình mà không hề có chút băn khoăn hay kiềm chế nào. Ông có cặp mắt trừng trừng màu xanh dương, trên một khuôn mặt trắng lốm đốm những nốt sần tấy đỏ, “như một quả dâu tằm được vẩy bột trắng”. Trái ngược với vẻ ngoài là học vấn của ông. Ông thành thạo văn chương Hy Lạp cũng như văn chương La Mã, là một nhà sưu tầm nghệ thuật sành Sỏi (thường ông sưu tầm bằng cách cướp bóc trong các chiến dịch quân sự), ông cho người mang các tác phẩm của Aristotle từ Athens tới Rome như một phần trong những chiến lợi phẩm phong phú nhất của mình, và dành thời gian, giữa chiến tranh và cách mạng, để viết tác phẩm Hồi ức của mình để xúi bẩy hậu thế đi sai đường. Ông là một người đồng hành vui tươi và một người bạn hào phóng, đam mê rượu, phụ nữ, chiến trận, và ca hát. Sallust nói: “Ông ta sống một cách phung phí nhưng không bao giờ để niềm khoái lạc cản trở những lúc ông làm nhiệm vụ, ngoại trừ việc cách hành xử của ông với vai trò một người chồng đáng ra đã có thể chính trực hơn”. Ông thăng tiến nhanh chóng, nhất là trong quân đội, phương tiện hạnh phúc nhất của ông; ông đối xử với binh lính của mình như những đồng đội, cùng họ làm việc, hành quân, và đối mặt với nguy hiểm; “nỗ lực duy nhất của ông là việc không cho phép ai vượt qua mình về sự sáng suốt và lòng quả cảm”. Ông không tin vào bất cứ vị thần nào, nhưng tin vào nhiều điều mê tín. Mặt khác, ông lại là người thực tế nhất đồng thời cũng nhẫn tâm nhất trong những người La Mã; trí tưởng tượng và cảm xúc của ông luôn nằm dưới sự kiểm soát của trí tuệ. Người ta nói rằng ông nữa là sư tử, nửa là cáo, và rằng con cáo trong ông còn nguy hiểm hơn con sư tử. Dù ông dành một nửa thời gian của mình cho chiến trường, dành 10 năm cuối cùng của cuộc đời cho cuộc nội chiến, ông vẫn giữ được óc hài hước của mình cho đến giờ phút cuối cùng, dùng những câu nói dí dỏm để khiến những việc tàn bạo của ông trở nên nhẹ nhàng hơn, lấp đầy thành Rome với tiếng cười của mình, tạo ra cả trăm nghìn kẻ thù, đạt được tất cả các mục tiêu của mình, và qua đời trên giường.
Một người đàn ông như vậy dường như hội đủ những phẩm chất cần thiết cho việc đàn áp cách mạng ở quê hương và những cuộc nổi loạn ở xứngười. Đội quân 35.000 người được huấn luyện kỹ lưỡng của ông nhanh chóng vượt qua những binh đoàn gồm nông dân và giới vô sản mà Marius đã xây dựng trong ứng biến nhất thời. Nhưng sau khi Sulla đã dẫn lực lượng của mình ra khỏi đất Ý - để đưa Mithridates IV về quy thuận La Mã - Marius đã tập hợp một đội quân khác, tuyên bố trả tự do cho các nô lệ, và chiếm được thành Rome. Trong cơn say máu chém giết, và bừng bừng căm hận tích tụ nhiều năm, những người chiến thắng đã giết hàng nghìn người và diễu hành với những cái đầu quý tộc treo trên những ngọn giáo, như một hình mẫu cho các cuộc nổi dậy trong tương lai. Tất cả những người bạn bị bắt của Sulla đều bị giết, tài sản của ông bị tịch thu, người ta tuyên bố ông là kẻ thù của quốc gia, và Valerius Flaccus, với 12.000 quân, đã được cử đi về phía Đông để phế quyền chỉ huy của ông. Lucius Cinna, quan chấp chính tối cao đắc cử trong 4 năm liên tiếp (năm 87-84 TCN) đã biến chế độ Cộng hòa thành chế độ độc tài.
Trong khi đó, Athens gia nhập với Mithridates trong cuộc nổi dậy chống lại Rome. Sulla tái chinh phạt thành bang nổi tiếng này, cho phép quân lính chém giết ở mức độ nhất định, rồi ngừng lại và nói rằng ông sẽ “vì những người đã chết mà tha thứ cho những kẻ còn sống”. Ông cho quân đội mình đi phà vượt qua Hellespont, tìm Mithridates, nhưng ông phát hiện ra rằng Valerius Flaccus và các quân đoàn của ông ta cũng đã tới châu Á, mang theo lệnh bãi bỏ chức tuỚC và tuyên bố ông là tội phạm. Ông thuyết phục Flaccus cho ông thời gian để bắt Mithridates quy thuận. Một người là Fimbria đã giết Flaccus và tiến tới đối đầu với Sulla; Sulla giảng hòa với Mithridates và tiến tới đối đầu với Fimbria; quân của Fimbria chuyển sang gia nhập quân của Sulla; Fimbria tự sát; Sulla dẫn 40.000 quân vượt qua biển Aegae, Hy Lạp, biển Adriatic, và đất Ý để tới trước thành Rome.
Chính quyền cách mạng đã giết hại tất cả những người quý tộc mà họ có thể tìm thấy, và rồi sơ tán khỏi thủ đô. Sulla vào thành mà không gặp phải cản trở nào, nhưng chẳng bao lâu sau ông phải dẫn đầu 50.000 binh lính kỳ cựu của mình tới đối đầu với một đám đông nổi loạn gồm 100.000 người ở Cổng Collinae, một trong những trận chiến đẫm máu nhất thời kỳ cổ đại. Sulla chiến thắng, và Quốc hội yếm thế đã phải bổ nhiệm ông làm độc tài chuyên chế. Tàn sát, lưu đày, và tịch thu tài sản lan rộng từ thành Rome, và, ở mọi nơi, những bất hạnh ấy ập xuống những người nổi loạn và những người đi theo Marius. Sulla ban hành một loạt những sắc lệnh được viết với chủ định thiết lập một hiến pháp vĩnh viễn thân quý tộc, bởi ông chắc chắn rằng chỉ một vị quân chủ chuyên chế hoặc một nhà quý tộc mới có thể điều hành một đế chế. Sau hai năm cai trị tuyệt đối, ông từ bỏ tất cả quyền lực của mình và rút lui về với đời sống riêng tư.
Ông được an toàn, bởi ông đã giết gần như tất cả những ai mà ông nghi ngờ đang lên kế hoạch ám sát ông. Ông giải tán những cận vệ của mình, đi bộ trong Công trường mà chẳng gặp phải nguy hiểm nào, và tuyên bố sẽ đưa ra lời giải thích những quyết sách chính thức của mình cho bất cứ công dân nào dám hỏi về nó. Rồi ông tiếp tục sống những năm cuối đời trong biệt thự của mình ở Cumae. Chán nản với chiến tranh, quyền lực, vinh quang - có lẽ chán cả con người - ông sắp xếp xung quanh mình những ca sĩ, vũ công, diễn viên, và nữ diễn viên. Ông viết tác phẩm Bình luận (Commentaries) của mình, săn thú và bắt cá, ăn và uống đến chừng nào ông có thể. Người của ông gọi ông là Sulla Felix*, bởi ông đã chiến thắng mọi trận chiến, biết đến mọi thú khoái lạc, đạt tới mọi nấc quyền lực, và giờ đây sống mà không có nỗi sợ hãi hay ân hận nào.
Ông đã cưới 5 người phụ nữ, ly hôn với 4 người, và dùng những cô tình nhân để bù vào những phần khuyết của họ. Ở tuổi 58, ông có một vết loét ở ruột kết, và nó nghiêm trọng đến mức, theo lời Plutarch, “khối thịt rữa đã vẽ ra những con dòi. Rất nhiều người được thuê để ngày đêm tiêu diệt chúng, nhưng chúng nhân lên nhiều đến mức không chỉ quần áo, bồn tắm, và chậu, mà cả thức ăn của ông cũng ô uế vì chúng”. Ông qua đời vì xuất huyết đường ruột, sau chưa đến một năm về hưu. Ông vẫn không quên cho người ghi lại lời trên bia mộ của mình: “Chưa một người bạn nào từng phục vụ ta, và chưa một kẻ thù nào từng làm điều sai trái với ta, những người mà ta vẫn chưa báo đáp được cho chu toàn”.
SỰ SỤP ĐỔ VỀ LUÂN LÝ
Trong vòng một thập kỷ sau khi Sulla qua đời, chính sách phục hồi trật tự về kinh tế và chính trị của ông đã sụp đổ. Ông đã xử lý hiện tượng chứ không xử lý nguyên nhân của sự suy sụp của Rome. Các nguyên nhân bao gồm nhiều hệ quả khác nhau của một cuộc cách mạng về kinh tế: sự chuyển đổi từ hoạt động cày cấy ở nông thôn sang công nghiệp ở đô thị; từ gia đình với tư cách một đơn vị sản xuất kinh tế, kỷ cương luân lý, và trật tự xã hội sang những cá nhân ở thành phố và thị trấn, cạnh tranh trong lao động, giao thương, tài chính, và từ bỏ những nguyên tắc luân lý giữa cái guồng cơ chế công nghiệp và trạng thái nặc danh giữa đám đông, bảo vệ họ khỏi trừng phạt. Tầng lớp thương nhân đang nổi lên không hề thích thú nghi lễ hoa mỹ của tôn giáo chính thức, trong đó những người coi sóc chính cho nó là những nghị viên theo tư tưởng hoài nghi; Caesar đã cười khi đang chủ trì nghi lễ với tư cách pontifex maximus. Sự gia tăng và tập trung của cải mở đường cho chủ nghĩa thế tục hưởng lạc của các tầng lớp trên trong xã hội. Nghệ thuật chuyển từ các chủ đề và hình thức tín ngưỡng sang các chủ đề và hình thức chính trị. Văn chương dám rao giảng cho người ta về tư tưởng vô thần duy vật, như trong trường ca đầy tính triết lý của Lucretius De rerum natura (năm 59 TCN); hoặc nó kết hợp sự tục tĩu hài hước với thi ca tinh tế, như trong thơ của Catullus (năm 60 TCN), người đã nói rằng ông phải dùng bụi bẩn làm gia vị cho những lời thơ của mình để giữ khán giả. Trong chế độ nông nghiệp, sự nghèo đói chỉ có quy mô gia đình hoặc cá nhân, và người nghèo tìm thấy sự khuây khỏa trong tín ngưỡng, trong đô thị, nghèo đói trở thành một tình trạng của cả một tầng lớp và tập đoàn, và ngày càng dẫn đường cho một cuộc nổi loạn về xã hội.
Vì thế xung đột giai cấp trở nên gay gắt hơn, cuối cùng rũ bỏ tất cả những kiềm tỏa luân lý. Phe optimares bảo tồn, ấp ủ một chính quyền gồm những người sung sướng ngay từ khi sinh ra và Nghị viện; phe populares đòi hỏi một chính quyền bao gồm những hội đồng thường dân, cùng đất đai được trao miễn phí cho người nghèo; và cả hai phe đều thực hiện những hành vi đe dọa và mua chuộc mà không màng đến lương tâm, không giấu giếm, và không có giới hạn kiềm chế nào. Cicero đã mô tả các ứng viên đi lung tung khắp nơi, hầu bao trong tay, sẵn sàng mua bất cứ lá phiếu nào với cái giá hợp lý. Pompey đã giúp người bạn tầm thường Afranius của ông đắc cử vào vị trí quan chấp chính tối cao bằng cách mời các thủ lĩnh của các bộ tộc tới vườn nhà ông, và tại đó mua chuộc họ để có tất cả các lá phiếu của những nhóm người ấy. Người ta cho vay và vay nhiều tiền để chi cho việc ứng cử, tới mức các chiến dịch ứng cử đã nâng mức lãi suất lên đến 8% mỗi tháng - 96% mỗi năm.
Tòa án, mặc dù đã bị vô hiệu hóa từ trước bởi các nghị viên, cũng mục nát và tham nhũng chẳng thua gì nhóm ứng cử. Các lời tuyên thệ đã mất sạch giá trị làm chứng, và người ta có thể mua được gần như bất cứ phán quyết nào. Lentulus Sura, khi đã được tuyên bố vô tội với hai lá phiếu chênh lệch, kêu than về khoản phí mà anh ta đã phải trả khi hối lộ thêm một thẩm phán mà anh ta cần. Được bảo vệ bởi những tòa án như vậy, các thống Đốc tỉnh kiêm nghị viên, tướng lĩnh, người thu thuế, người cho vay, và các thương nhân vắt kiệt các tỉnh thành với tốc độ cao đến mức cuối cùng đầu độc thành Rome bằng những của cải không phải có được nhờ lao động. Luculus chi trả cho các bữa ăn nổi tiếng của mình với những thứ ông ta vơ vét được từ phương Đông; Pompey mang 11.000.000 đô-la về cho quốc khố; 21.000.000 đôla về cho chính ông ta. Cicero cho rằng bản thân ông ta là một người trung thực đến đau đớn, chỉ làm ra 110.000 đô-la trong một năm ở vị trí thống Đốc Cicilia. Thời cổ đại chưa bao giờ biết đến một chính phủ giàu quyền lực - và cũng tham nhũng, suy đồi - đến như vậy.
Các tầng lớp doanh nhân tiếp nhận cả chế độ quý tộc lẫn chế độ dân chủ, gần như chẳng có chút phân biệt nào, rõ ràng họ tự tin rằng họ đã biến cả hai thành chế độ tài phiệt. Tỉ phú Atticus đã đóng góp cho cả hai phe và biết rằng chẳng phe nào trong hai phe ấy có thể dám rời xa hầu bao của ông ta.
Các nghị viên quý tộc và các trùm kinh doanh cạnh tranh với nhau trong việc phô bày sự xa xỉ, trong khi tình trạng nổi loạn đang ngầm nung nấu ở các tỉnh thành và người dân chết đói trong các khu ổ chuột. Các nghị viên ngả ngớn trên giường cho đến trưa. Một số trong những cậu con trai của họ ăn mặc và đi lại như những cô gái điếm hạng sang, tô điểm cho bản thân bằng trang sức, xức lên người nước hoa, và bắt chước sự vô tư lưỡng tính của người Hy Lạp. Phàm những người nào kênh kiệu đều có ít nhất một cung điện, cộng thêm một biệt thự ở một khu nghỉ dưỡng nào đó, chẳng hạn như Baiae, nơi họ suốt ngày ngâm mình trong bồn tắm và tuyên bố tạm ngừng tuân thủ chế độ một vợ một chồng. Trong các cung điện của họ, một bầy những nô lệ đặc biệt phục vụ họ - người phục vụ quần áo, người đưa tin, người thắp đèn, thư ký, nhạc Công, bác sĩ, triết gia, đầu bếp. Ăn uống giờ đây là nghề nghiệp chính của những người La Mã thượng lưu, Metrodorus nói: “Tất cả những thứ tốt đều quy về cái bụng”.
Tình dục xếp vị trí thứ hai. Bất kể sự cạnh tranh ngày càng tăng từ cả phụ nữ lẫn nam giới, gái mại dâm xuất hiện đầy rẫy. Ngoại tình là chuyện phổ biến, và phụ nữ ly hôn chồng với thái độ sẵn sàng chẳng kém gì đàn ông ly hôn vợ. Vẫn tồn tại những cuộc hôn phối chung thủy, nhưng hôn nhân ngày càng mang tính chính trị, vì thế Caesar đã gả con gái Julia cho Pompey như một món đồ trong liên minh tam hùng của họ.
Những người La Mã có học thức, những người từ lâu đã học được cách tránh thụ thai, rất yêu trẻ em - nhưng họ quá thiếu trẻ em. Caesar lo sợrằng các gia tộc bản địa sẽ bị nhấn chìm giữa các gia đình nhập cư, những hộ gia đình đang gia tăng về số lượng lẫn quy mô trong các thành phố. Khi nắm quyền lập pháp, ông hứa với nữ giới về những phần thưởng từ chính quyền nếu họ tạo ra được những gia đình đông người, nhưng ông phát hiện ra rằng trẻ em là một điều xa xỉ mà chỉ những người nghèo mới có được. Trong khi đó, một tỉ lệ ngày càng lớn phụ nữ tìm cách biểu đạt ý chí thông qua việc theo đuổi những đam mê về văn hóa - học tiếng Hy Lạp, nghiên cứu triết học, viết thơ, thuyết giảng, và mở các phòng khách (salon) văn chương.
Phía dưới tầng lớp xa hoa, tình trạng nghèo đói của quần chúng nhân dân tiếp diễn, và bùng nổ trong cuộc nổi loạn của nô lệ do Spartacus anh hùng lãnh đạo vào năm 71 TCN và trong một cuộc nổi dậy của thường dân do Lucius Catiline cầm đầu vào năm 65 TCN. Theo Sallust, người viết sử trong thế hệ tiếp theo,Catiline đã nói như sau về cuộc đấu tranh giai cấp đã nổ ra, với những người đi theo mình:
Kể từ khi đất nước này nằm dưới quyền thống trị của một vài con người nhiều quyền lực… tất cả những quyền thao túng, địa vị, và của cải đều rơi vào tay họ. Họ để lại cho chúng ta chỉ toàn nguy hiểm, khuất phục, truy tố, nghèo đói… Chúng ta còn lại thứ gì, ngoài một hơi thở?… Thà chết một cách can đảm còn hơn sống đời cùng khổ và nhục nhã sau khi trở thành trò tiêu khiển cho sự xấc xược của những kẻ khác, có đúng không?
Chương trình mà ông ta đề xuất để thống nhất những yếu tố hỗn tạp của cách mạng thực sự đơn giản: novae tabulae - “hồ sơ mới” - tức một lần quét sạch và xóa bỏ tất cả nợ nần. Cicero - nhà hùng biện và nhà viết luận xuất sắc của thời kỳ đó - đã chỉ trích Catiline bằng những “bài diễn văn đả kích” quyết liệt mà một vài người trong người Mỹ chúng ta đã nghiên cứu ở trường đại học như những hình mẫu cho văn xuôi Latin. Vào năm 64 TCN, Catiline đối đầu với Cicero với tư cách ứng cử viên cho vị trí quan chấp chính tối cao, và phát động một chiến dịch bạo lực đến mức nhiều công dân ở tầng lớp thượng lưu sợ hãi và chuẩn bị rời khỏi đất Ý. Cicero chiến thắng; Catiline chuyển sang chiến tranh và tổ chức một đội quân gồm 3.000 người, tất cả đều ngã xuống trên chiến trường, Catiline chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Nhiều năm sau đó, những người đi theo ông vẫn rải hoa lên mộ ông. Caesar bị buộc tội bí mật ủng hộ ông và thoát khỏi việc bị ám sát trong gang tấc. Một năm sau, ông lập liên minh tam hùng với Crassus và Pompey và bắt đầu cuộc cách mạng của riêng mình.
CAESAR
Caius Julius Caesar cho rằng phả hệ của gia đình ông đi từ Aeneas tới Venus, con gái của thần Jupiter, và không làm hổ danh dòng dõi ấy khi sống một cuộc đời của chiến tranh và tình ái*. Gia tộc Julian, hay còn gọi là thị tộc Julian, mặc dù nghèo khổ đến suy kiệt, nhưng không phải không có danh tiếng hay quyền lực; nó đã cho Rome những quan chấp chính tối cao vào các năm 489, 482, 473 và 157 TCN. Caesar sinh năm 100 TCN, và người ta cho rằng ông được sinh ra nhờ cuộc phẫu thuật bắt thai, hình thức phẫu thuật mà sau này được đặt tên theo chính tên ông.
Suetonius nói: “Caesar ngoan ngoãn một cách kỳ lạ và có năng khiếu học tập”. Ông đã phát triển một khả năng hùng biện và viết lách từ khi còn ở tuổi thanh thiếu niên, một năng lực tiềm ẩn nhiều hiểm họa. Ông đã được người ta cứu thoát bằng cách cho ông giữ vị trí phụ tá trong quân đội của Marcus Thermus ở châu Á. Nicomedes, người cai trị Bithynia, yêu thích ông đến mức Cicero đã chế nhạo rằng ông đã “để mất sự trong trắng của mình về tay một vị vua”. Trở về Rome vào năm 84 TCN, ông kết hôn với Cossuria để làm vừa lòng cha mình, khi cha ông mất, ông ly hôn và cưới Cornelia, con gái của Cinna, người đã tiếp quản cuộc cách mạng từ tay Marius. Khi Sulla lên nắm quyền, ông ra lệnh cho Caesar ly hôn với Cornelia; khi Caesar từ chối, Sulla đã tịch thu tài sản thừa kế của ông và của hồi môn của Cornelia, và kết án tử hình ông. Caesar chạy trốn, và bị cướp biển bắt được, trốn thoát, và tới Rhodes để nghiên cứu về hùng biện và triết học.
Trở lại Rome, ông chia đều sức lực của mình cho hai việc: chính trị và tán tỉnh. Ông đẹp trai, nhưng lo lắng về mái tóc ngày càng thưa thớt của mình. Khi Cornelia mất, ông kết hôn với Pompeia, cháu gái của Sulla. Do đây chỉ là một cuộc hôn nhân thuần túy mang tính chính trị, ông chẳng hề do dự khi tiếp tục những mối quan hệ tình ái ngoài hôn nhân theo kiểu của thời đại ông, với số lượng và sự đa dạng về giới tính lớn đến mức Curio đã gọi ông là omnium mulierum vir et omnium virorum mulier - “ông chồng của mọi phụ nữ và bà vợ của mọi người đàn ông”. Giới quý tộc ghét ông gấp đôi - vì đã làm họ mất đi nhiều đặc quyền và quyến rũ vợ của họ. Chúng ta phải nghĩ đến Caesar, trước hết, như một chính trị gia vô lương tâm và một gã chơi bời phóng đãng không màng hậu quả, từ từ biến thành một trong những chính khách tận tâm nhất trong lịch sử dưới sự ảnh hưởng của trách nhiệm. Chúng ta không được quên, khi ta hoan hỉ trước những lỗi lầm của ông, rằng bất kể thế nào ông vẫn là một người đàn ông vĩ đại. Chúng ta không thể sánh mình với Caesar bằng cách chứng minh rằng ông đã quyến rũ phụ nữ, hối lộ những người đứng đầu nhà giam, và viết sách.
Năm 68 TCN, ở tuổi 32, ông được chọn làm quan trông coi quốc khố để làm việc ở Tây Ban Nha. Ông đã dẫn đầu những chuyến viễn chinh, đánh dẹp các bộ tộc nổi loạn và tích lũy được đủ của cải từ việc cướp bóc để trả một phần các khoản nợ của mình. Năm 65 TCN, với tư cách ủy viên phụ trách công tác Công Cộng - ông tiêu tiền của mình - hoặc tiền của Crassus, người bạn giàu có của ông - vào việc trang trí Công trường La Mã bằng những công trình mới và tranh thủ được sự ưu ái của quần chúng bằng các cuộc thi đấu. Sulla trước đó đã tới đồi Capitol và lấy đi những chiến lợi phẩm của Marius - những bức tranh và đồ cướp bóc được, tiêu biểu cho những thành tựu và chiến thắng của nền văn minh cũ; Caesar đã trả những thứ này về vị trí cũ, và qua hành động đó ông tuyên bố việc xây dựng chính sách populares.
Những người theo phái bảo thủ phản đối, và đánh dấu ông là một nhân vật cần bị tiêu diệt. Năm 64 TCN, với tư cách chủ tịch của một hội đồng được giao trách nhiệm xét xử các vụ án giết người, ông triệu tập những tay chân còn sót lại của thể chế Sulla tới tòa án của mình và kết án lưu đày hoặc tử hình một vài người trong số họ, một năm sau đó, tại Nghị viện, ông bỏ phiếu chống lại việc hành hình một số thủ lĩnh đã bị bắt trong cuộc nổi loạn của Catiline. Khi ông quyết định tranh cử vị trí quan chấp chính tối cao, các nghị viên, gần như tất cả, chống lại ông. Ông chặn đứng âm mưu của họ bằng cách thu được Pompey, thần tượng của giới thương nhân, về với một liên minh giữa ông, Pompey và Crassus, được gọi là Liên minh Tam hùng thứ Nhất (năm 60 TCN), trong đó mỗi thành viên cam kết chống lại bất cứ đạo luật nào gây bất mãn cho bất kỳ ai trong ba người. Với sự ủng hộ của Pompey và tiền bạc của Crassus, Caesar được bầu vào vị trí quan chấp chính trưởng cho năm 59 TCN.
Gần như toàn bộ nhiệm kỳ của ông bị tiêu tốn vào một trận chiến để tái ban hành đạo luật của nhà Gracchus. Ông đề xuất phân đất công cho 20.000 binh lính đã trở về và cho những công dân nghèo có 3 con. Để đưa cuộc tranh cãi ra cho công chúng kiểm tra và giám sát, ông đã thuê các thư ký ghi chép lại những hoạt động của các nghị viên và những hoạt động chính trị khác, bằng những bản khắc văn trên các bức tường quan trọng, dễ nhìn thấy của Công trình trong khu vực Công trường, với cái tên Acta Diurna, tức Hoạt động Hằng ngày, các bản khắc văn trên tường này được những người đưa tin báo chí mang đến nhiều nơi khác nhau trong thành Rome và các thành phố khác, và theo một nghĩa nào đó, chúng tạo thành tờ báo đầu tiên trong lịch sử được biết đến, khởi đầu của vai trò tối quan trọng của “báo giới” trong việc gây ảnh hưởng lên hoạt động lập pháp.
Sau khi dành phần lớn nhiệm kỳ quan chấp chính tối cao kéo dài một năm vào việc triển khai các phương sách này cùng những phương sách khác được quần chúng ưa chuộng, Caesar, với ý định đảm bảo an toàn cho chính mình, đã tự ngồi vào vị trí thống Đốc các vùng Cisalpine Gaul và Narbonnese Gaul* trong 5 năm, với quyền chỉ huy đội quân duy nhất được đóng quân một cách hợp pháp trên đất Ý. Trước khi chuyển sang vị trí này, ông ly hôn với người vợ thứ ba của mình, Pompeia, khi nghi ngờ vợ ngoại tình với Publius Clodius Pulcher; bất kể thế nào, ông cũng đã cho Clodius mượn một sự hỗ trợ có tính quyết định trong cuộc bầu cử vào vị trí quan bảo hộ của năm 58 TCN. Ông từ chối đưa ra bất cứ cáo buộc luân lý nào chống lại Clodius; khi được hỏi tại sao ông lại ly hôn với Pompeia, ông trả lời: “Bởi vì vợ của ta phải là người không có gì đáng để nghi ngờ. Ông đảm bảo việc Gavinius Piso được bầu vào vị trí quan chấp chính tối cao, cưới Calpurnia, con gái của Piso, làm người vợ thứ tư, và ra đi chinh phạt Gaul.
Rất có thể ban đầu ông không hề có ý định ấy. Người Gaul đã thỉnh cầu ông giúp đỡ họ chống lại người German xâm lược xứ Gaul ở một vài điểm dọc theo sông Rhine. Ông bằng lòng gần Autun, ông đã đẩy lui một đội quân khổng lồ, những người đến được nơi đó bằng cách đi xuyên qua Thụy Sĩ; ông hành quân lên phía Bắc, đánh bại một đội quân German được chỉ huy bởi Ariovistus, và đẩy họ lui về bên kia sông Rhine. Người Gaul cảm ơn ông và đề nghị ông gợi ý một phần quà tạ ơn. Ông đề nghị rằng toàn xứ Gaul nên chấp nhận việc sáp nhập vào Đế chế La Mã, và vì thế sẽ được bảo hộ bởi đế chế này. Họ từ chối, và chiến đấu một cách can đảm để chống lại những binh đoàn lê dương của ông - nhưng trong vô vọng; ông vẫn sống để kể lại câu chuyện ở De bello Gallico. Mặc dù một người của gia tộc Frank, thuộc tộc người German, vào khoảng 500 năm sau đó đã đặt cho vùng đất này một cái tên German, thông qua Caesar vùng đất Gallia* đã trở thành một vùng đất Latin với một ngôn ngữ Latin kỳ lạ nhưng đẹp, thứ tiếng Latin thô nhám của những người lính La Mã đã được đưa vào âm nhạc của các tác giả Racine và Anatole France; corruptio pessimi optima*.
Trong khi Caesar đang vô tình chuẩn bị cho xứ Gaul thừa hưởng và lưu truyền văn minh cổ đại, Cộng hòa La Mã đang chết dần chết mòn giữa một bể ngập ngụa những tham nhũng và tàn bạo. Vào năm 53 TCN, bộ phận phụ trách việc bầu cử của Quốc hội được trả giá 10.000.000 đồng sesterced* để đổi lấy phiếu bầu của họ. Khi việc mua chuộc bằng tiền thất bại, ám sát là biện pháp khả dĩ; hoặc quá khứ của anh ta sẽ bị đào bới và việc hăm dọa sẽ khiến anh ta phải chấp nhận, Tội phạm gia tăng mạnh ở thành phố, cướp bóc có vũ trang diễn ra trên đường đi, không một lực lượng công nào tồn tại để kiểm soát vấn đề này. Người giàu thuê các nhóm võ sĩ giác đấu để bảo vệ mình, hoặc để hỗ trợ họ trong các hội đồng lập pháp (comitia). Bất cứ người nào sẽ bỏ phiếu như đã thỏa thuận đều được đưa vào danh sách người có quyền bỏ phiếu, bất kể người ấy có tư cách công dân hay không, và những người nào bỏ phiếu sai sẽ bị đánh cho thừa sống thiếu chết, sau đó nhà của họ bị đốt. Theo dõi một trong những cuộc hỗn loạn ấy, Cicero đã viết: “Sông Tiber đầy xác các Công dân; những đường Cống Công Cộng đầy xác họ; và các nô lệ phải dùng miếng bọt biển để Cọ những vết máu tràn ra từ khu Công trường”. Clodius Đẹp mã và Titus Milo là những chuyên gia nổi bật nhất thành Rome về kiểu chế độ dân chủ này. Với mục đích chính trị, họ tổ chức những nhóm cạnh tranh gồm những tên lưu manh, và gần như không ngày nào trôi qua mà không có một cuộc thử sức nào đó cho nhóm này. Một ngày nọ, Clodius tấn công Cicero trên phố; vào hôm khác, các chiến binh của ông ta thiêu rụi nhà của Milo; cuối cùng Clodius bị băng của Milo bắt và giết chết. Giới vô sản, không được biết về tất cả những âm mưu của ông ta, vinh danh Clodius như một kẻ tử vì đạo, cho ông ta một lễ mai táng trọng thể phô trương, mang xác ông ta tới tòa nhà Nghị viện, và đốt tòa nhà để làm giàn hỏa táng cho ông ta. Pompey dẫn binh lính tới đó và giải tán đám đông hỗn loạn ấy. Như một phần thưởng cho việc đã giải cứu họ, ông yêu cầu và đã được Nghị viện bổ nhiệm vào vị trí “quan chấp chính tối cao không có đồng nghiệp”, một cụm từ mà Cato Trẻ cho là dễ nghe hơn từ “độc tài”. Tất cả của cải và luật lệ ở thủ đô giờ đây phải cam chịu sự độc tài của Pompey, trong khi những tầng lớp người nghèo chờ đợi sự trở lại của Caesar trong hy vọng.
Một thế kỷ của cách mạng trước đó đã làm sụp đổ chế độ quý tộc hẹp hòi và ích kỷ, nhưng không đặt chính thể nào khác vào thay thế chế độ ấy. Thất nghiệp, hối lộ, bánh mì và những trò tiêu khiển đã khiến Quốc hội mục nát, trở thành một đám đông hỗn loạn vô kỷ luật và chứa đầy những cảm xúc quyết liệt trong tâm trí, không thể kiểm soát được chính mình, chứ chưa nói đến điều hành một đế chế. Chế độ dân chủ cuối cùng đã không cưỡng lại được Công thức của Plato: tự do trở thành sự tự tung tự tác vô kỷ cương, và sự hỗn loạn buộc phải đặt dấu chấm hết cho tự do.
Caesar đồng ý với Pompey rằng nền Cộng hòa đã chết và chế độ độc tài là điều không thể tránh khỏi. Nhưng trước đó ông đã hy vọng thiết lập một chế độ lãnh đạo cấp tiến, sẽ không khiến cho hiện trạng (the status quo) bị đóng băng, mà sẽ giảm bớt sự lạm quyền, ngược đãi, bất bình đẳng về cơ hội, và sự thiếu thốn, những thứ đã khiến chế độ dân chủ xuống cấp. Giờ đây ông 54 tuổi, chắc chắn đã yếu đi sau 10 năm chiến trận ở Gaul. Ông dành mọi nỗ lực cho việc giảng hòa. Ông đề xuất với Nghị viện rằng cả ông và Pompey sẽ từ bỏ các chức vụ của mình; Pompey từ chối. Sau những cuộc đàm phán dài, Nghị viện trao cho Pompey mệnh lệnh và quyền lực để “kiểm soát, đảm bảo rằng đất nước này không gặp phải một mối nguy hại nào” - cách nói của người La Mã để chỉ sự độc tài chuyên chế và tình trạng thiết quân luật. Caesar đã do dự hơn so với mọi khi.
Cuối cùng, ông triệu tập Binh đoàn Mười Ba mà ông yêu quý nhất, và bày ra tình huống trước mặt họ. Từ đầu tiên mà ông nói đã thu phục được lòng tin của họ: “Commilitones!” -“Các chiến hữu!” Ông nhắc lại với họ về giới quý tộc lười biếng và mục nát ấy, cái tầng lớp sẽ không thể cho Rome quy củ, Công lý, và sự thịnh vượng. Họ sẽ theo ông chứ? Không một ai từ chối. Khi ông nói với họ rằng ông không có tiền để trả cho họ, họ rút sạch tiền tiết kiệm để đưa vào ngân quỹ của ông. Vào ngày 10 tháng Một năm 49 TCN, ông dẫn đầu một binh đoàn vượt sông Rubicon, một con sông nhỏ đánh dấu đường biên phía Nam của Cisalpine Gaul. Lúc này, người ta kể lại rằng ông đã nói: “Lacta est alea” - “Con súc sắc đã được tung”. Trên đường ông đi, từng thành phố một mở cổng để đón ông; một số cùng lúc xuất hiện để chào đón ông; Cicero viết: “Các thành phố chào mừng ông như chào đón một vị thần”. Pompey, mặc dù quân của ông ta vượt xa quân của Caesar về số lượng, đã chạy trốn khỏi Rome và ra khỏi đất Ý. Caesar đuổi theo ông ta, và tại Pharsalus, ở Thesaly, mặc dù quân số chỉ bằng nửa đối phương, ông đã chiến thắng một trong những trận chiến đẫm máu nhất lịch sử La Mã – ngày 9 tháng Tám năm 48 TCN. Caesar yêu cầu quân lính tha chết cho nghị viên trẻ Marcus Junius Brutus. Pompey trốn thoát, và tìm được đường tới Ai Cập, nơi một gián điệp của Ptolemy XII đâm ông ta đến chết. Khi Caesar tới đó, những tên sát nhân đã trao cho ông chiếc đầu của Pompey. Ông quay mặt đi trong cảm giác ghê rợn, và than khóc trước bằng chứng mới này, thứ chứng minh rằng dù theo nhiều cách khác nhau, con người vẫn có chung một kết cục.
Ông tìm thấy nhiều thứ hấp dẫn ở Ai Cập: quốc khố của nó đầy ắp và rõ ràng sẽ là của ông nếu ông mở lời; và Cleopatra, em gái của Ptolemy, xinh đẹp và nồng nhiệt. Ông ở đó đủ lâu để giúp đỡ khi bà sinh cho ông một đứa con trai, người mà họ đặt tên là Caesarion. Vào tháng Mười năm 47 TCN, ông tới Rome, mang theo Cleopatra, người chồng và cũng là anh trai của bà*, và Caesarion. Hiển nhiên, Calpurnia, vợ của Caesar, xem đây là động thái chính trị thường thấy của người La Mã. Một số quý tộc Còn sót lại thì thầm rằng Caesar đang lên kế hoạch biến mình thành vua và dời thủ đô của đế chế sang Alexandria. Bất kể thế nào, kinh sợ trước những binh đoàn lê dương của ông, Nghị viện đã trao cho ông rất nhiều đất đai và sự tôn vinh, và vào năm 44 TCN, đã đưa ông vào vị trí “độc tài suốt đời”, một chức vụ mà, trong trường hợp này, chỉ tương ứng với 5 tháng.
Trong những tháng ấy, ông nỗ lực hồi sinh Rome như một thành phố và một thành bang. Ông giảm quyền lực của Nghị viện bằng cách tăng số thành viên của nó từ 600 lên 900; con số này khuyến khích việc tranh luận, khiến việc ra các quyết định trở nên khó khăn hơn, và cho phép Caesar được tự do cai trị. Quốc hội bầu ông làm quan bảo hộ, một chức vụ khiến tư cách của ông bất khả xâm phạm về mặt luật pháp. Ông kiểm soát tất cả những quyết định bổ nhiệm quan trọng và khởi xướng bộ luật quan trọng nhất.
Nối tiếp công việc của nhà Gracchus, ông phân đất đai cho các cựu chiến binh và người nghèo. Ông giảm tải sức ép của một dân số đang gia tăng bằng cách gửi 80.000 công dân đi khai khẩn thuộc địa ở Carthage, Corinth, và các trung tâm khác, những nơi đang thưa thớt đi bởi chiến tranh. Để cung cấp việc làm cho những người thất nghiệp, ông phân bổ những khoản tiền đáng kể vào các chương trình xây dựng ở nhiều thành phố trên đất Ý, Tây Ban Nha, Gaul, và Hy Lạp. Để giảm thiểu sự thất thoát ngân sách trong việc quản lý an sinh cho người nghèo, ông yêu cầu một cuộc thẩm tra tài sản và thu nhập để xác định ai là người đạt tiêu chuẩn để nhận phần phân phát hạt lương thực từ nhà nưÓC; chẳng mấy chốc, số lượng người xin nhận phân phát giảm từ 320.000 xuống 150.000. Ông giảm quy mô của các khoản nợ, ban hành một vài đạo luật chống lại mức lãi suất quá cao, và giải quyết một vài trường hợp không trả được nợ đến mức cùng cực, bằng cách thiết lập các đạo luật về phá sản - về cơ bản giống hệt những luật ngày nay.
Nhận thấy lịch của các tư tế đã không còn chút liên hệ nào với các mùa trên thực tế, ông đã giao cho Sosigenes, một nhà thiên văn học người Alexandria, nhiệm vụ lập ra mô hình lịch Ai Cập, lịch “Julian”, chia 365 ngày một năm, và cứ bốn năm lại có một ngày được bổ sung vào tháng Hai. Cicero phàn nàn rằng Caesar đã không thỏa mãn với việc cai quản mặt đất và giờ đây đang điều chỉnh cả các vì sao, nhưng Nghị viện chào đón sự thay đổi này, và dùng họ của vị độc tài đó, Julius, để đặt cho tháng Quinctilis, khi ấy là tháng thứ năm trong năm, còn tháng Ba (March) là tháng đầu tiên của năm*.
Những vị chính khách vĩ đại này cũng không thoát khỏi thói phù phiếm. Hằng ngày, để giấu mái đầu hói của mình, ông ta liên tục đội chiếc vương miện nguyệt quế mà trước đây người ta đã đặt lên đầu ông trong một chiến thắng. Ông ra lệnh rằng tượng của mình phải được dựng trên đồi Capitol, bên cạnh tượng những vị vua cổ đại của Rome, và ông ta cách chức những viên quan bảo hộ đã lấy đi chiếc vương miện mà bạn bè ông đã đặt lên tượng ông. Trong bữa yến tiệc ở Lupercalia, ngày 18 tháng Hai năm 44 TCN, quan chấp chính tối cao Antony, trong trạng thái say xỉn, đã ba lần cố gắng đặt một chiếc vương miện lên đầu Caesar; ba lần Caesar từ chối nó, nhưng có phải chỉ vì đám đông đang thì thầm phản đối?
Với những người thuộc giới quý tộc, những người đã bị tước đi quyền lực mà họ vẫn thường có, việc Caesar tha thứ cho sự chống đối trước kia của họ không thể khiến họ nguôi ngoai; người ta khó có thể tha thứ cho việc được tha thứ. Không lâu sau yến tiệc Lupercalia, Caius Cassius, người mà Plutarch mô tả là ốm yếu, “nhợt nhạt và gầy gò”, đã gợi ý với Marcus Brutus việc ám sát Caesar. Ông ta đã chiêu mộ được một vài người cho âm mưu này, họ đồng ý rằng nếu Brutus tham gia cùng họ, danh tiếng về phẩm hạnh của Brutus sẽ khiến động cơ của họ được xem như một động cơ vinh quang.
Brutus tin rằng ông là hậu duệ của Lucius Junius Brutus, người đã trục xuất các vua ra khỏi Rome vào 464 năm trước đó. Sử gia Appian nhận định rằng Caesar là một người tình của Servilia, mẹ Brutus; và Plutarch ghi nhận Caesar tin rằng Brutus là con của ông ta. Brutus buồn rầu ngẫm nghĩ về những chuyện này, và đưỌC cho là đã viết thư cho một người bạn với nội dung: “Tổ tiên của chúng ta nghĩ rằng chúng ta không nên chịu đựng một tên bạo chúa, ngay cả khi hắn là cha của chính chúng ta”. Brutus đã chịu khuất phục, và đám người đang ấp ủ âm mưu ấy lập một kế hoạch. Trong một khoảnh khắc ủy mị không ngờ, Brutus khăng khăng nhấn mạnh rằng Antony phải được tha mạng.
Vào buổi tối ngày 14 tháng Ba, trong một buổi tụ tập tại nhà, Caesar đề xuất một chủ đề đàm luận: “Cái chết nào là cái chết tuyệt vời nhất?” và đưa ra câu trả lời của riêng ông: “Subito” - tức một cái chết đột ngột. Sáng hôm sau, vợ ông van xin ông đừng đi đến Nghị viện, nói rằng trước đó bà đã có một giấc mơ nhìn thấy người ông đầy máu. Trên đường tới Nhà hát Pompey, nơi Nghị viện nhóm họp, ông gặp một thầy bói, người đã từng thì thầm với ông: “Coi chừng ngày Ides của tháng Ba”*, ông nhận xét rằng ngày Ides đã đến, và mọi thứ vẫn ổn; trước nhận xét này, Spurina trả lời: “Nhưng nó vẫn chưa trôi qua”. Khi Caesar bước vào nhà hát và ngồi vào chỗ của mình, nhóm “Những người giải phóng” (Liberators) ngay lập tức quăng mình về phía ông. Suetonius kể lại rằng “Một số người đã ghi lại rằng khi Marcus Brutus lao về phía Caesar, Caesar đã nói bằng tiếng Hy Lạp: “Kai su teknon?” - (Cả con nữa ư, con của ta?)”. Theo Appian, khi cảm thấy vũ khí của Brutus chạm vào người mình, Caesar đã hoàn toàn ngừng chống cự. Một điều ước đã được ban cho người đàn ông mãn toàn nhất mà thế giới cổ đại từng sinh ra.
Về bề ngoài, Cộng hòa La Mã đột nhiên được hồi sinh: lời kêu gọi của Antony đối với tầng lớp thường dân dường như bày ra trước những thường dân ấy một cơ hội nữa để nắm quyền cai trị. Thực chất, tất cả những gì còn lại chỉ là cuộc vật lộn đấu tranh của Antony chống lại Brutus để giành đặc quyền cai trị một hệ thống đã mục nát, và rồi cả cuộc vật lộn của Antony để chống lại người con trai và cũng là người thừa kế của Caesar, Gaius, Octavianus, để giành được dây cương quyền lực. Sau khi đánh bại Antony và Cleopatra ở Actium vào năm 31 TCN, và sau việc hai người này cùng lúc tự vẫn ở Ai Cập,Octavianus, sau này đổi tên thành Augustus, đã thiết lập vào năm 27 TCN) và duy trì một chế độ cai trị kiểu quân chủ, mà ông gọi là “chế độ nguyên thủ” (principate). Như vậy, bánh xe lịch sử chính trị của Plato đã hoàn thành vòng quay của nó, từ nền độc tài tới quân chủ tới quý tộc thống trị tới dân chủ, rồi lại tới độc tài tới quân chủ…
Rome, trong hai thế kỷ nữa, sẽ tiếp tục, trong một khúc thoái trào - diminuendo , trung tâm của phương Tây và đỉnh cao trong lịch sử cả về vinh quang lẫn sự tàn ác.