Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1545 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
cộng hòa la mã

Họ là ai? Trước đó họ là những bộ tộc bản địa - người Umbria, người Sabine, người Latin… cày cấy và chiến đấu bên trong và xung quanh Rome. Họ đã từng là những người dân nhập cư dày dạn đến từ Trung Âu, vượt qua dãy Alps và mở rộng vùng sinh sống qua vùng hồ - Maggiore, Como, Garda - vào trong thung lũng Po màu mỡ. Một số người có thể từng là những nhà thám hiểm từ Tiểu Á, những người dần hòa nhập với người bản địa để trở thành tộc người Etrusca ít người biết đến của vùng Tuscany cổ đại. Và cả tá những nhóm người Hy Lạp đa dạng đã xây dựng những khu định cư đầy sức sống ở phần bàn chân của Chiếc Giày Mầu Nhiệm, cái tên người ta dùng để gọi nước Ý.

Aristotle nói: “Những người phán xét giỏi nhất đất nước ấy nói lại rằng khi Italus trở thành vua xứ Oenotria, người dân ở đó đổi họ thành Italian”. Oenotria là phần mũi của “chiếc giày nước Ý”, với lượng nho dồi dào tới mức từ Oenotria có nghĩa là “vùng đất của rượu nho”. Theo Thucydides, Italus là vua của người Sicel, những người đã chinh phục Sicily. Cũng giống như những người La Mã gọi tất cả những người Hy Lạp là Graeci, tức Greek - Hy Lạp, dựa theo tên của tộc người Graii, một nhóm ít người đã di cư từ Bắc Attica sang Naples,người Hy Lạp cũng dần mở rộng cái tên Italia (Ý) sang toàn bộ bán đảo phía Nam thung lũng Po.

Phần lớn dân cư ở đây sống bằng nông nghiệp; một phần nhỏ dân số của các thị trấn sống trong cảnh bấp bênh. Sự cạnh tranh từ các nô lệ làm giảm tiền công cho các lao động tự do, và khiến nhiều người trong số họ chỉ còn có thể sống trong các khu 1 chuột. Các cuộc đình công ít khi xảy ra ở những lao động tự do,những người phải cạnh tranh để có việc làm; nhưng các cuộc nổi loạn ở nô lệ là chuyện thường xuyên. “Chiến tranh Nô lệ lần thứ Nhất” (năm 139 TCN) không phải là cuộc chiến đầu tiên, và Spartacus không phải là nô lệ cuối cùng chết trong một cuộc nổi loạn (năm 71 TCN).

Cùng với các nô lệ, tội phạm cũng góp phần vào việc xây dựng những con đường vĩ đại, những con đường kích thích giao thương, đẩy nhanh sự dịch chuyển của các đội quân lẫn các ý tưởng, và cuối cùng khiến nước Ý thống nhất thành một. Năm 312 TCN, Appius Claudius chỉ huy việc xây dựng đường Appia từ Rome tới Capua; hết năm này sang năm khác, nó được nối dài cho đến khi nó chạm biển Adriatic ở nơi mà ngày nay là Brindisi. Năm 241 TCN, Aurelius Cotta khởi công con đường Via Aurelia, con đường đưa Nice trở thành một tiền đồn của Rome.

Trật tự xã hội, nguồn sống và cũng là trụ cột chống đỡ của nền văn minh, được duy trì bởi các gia tộc, giới tăng lữ, trường học, luật pháp, và nhiều đội quân khác nhau của nhà nước. Trật tự trong gia tộc, vào thuở sơ khai của Cộng Hòa, dựa trên quyền lực gần như tuyệt đối của người cha; một mình ông ta có mọi quyền trước pháp luật, thậm chí của hồi môn của vợ cũng thuộc về ông ta. Nếu vợ bị buộc một tội nào đó, bà ta phó mặc bản thân vào sự phán xét và trừng phạt của chồng; ông ta có thể kết án tử hình bà ta vì tội không chung thủy; hoặc vì tội ăn trộm chìa khóa nơi cất rượu nho của ông ta. Ông ta có quyền quyết định sống chết của những đứa con, hoặc bán chúng làm nô lệ; đối với các nô lệ của mình, quyền lực của ông ta là vô hạn.

Những quyền lợi này của gia đình phụ hệ dần bị kiểm soát bởi dư luận, phong tục, hội đồng bộ tộc, và sự phát triển của an ninh và luật pháp; nếu không, những quyền lợi ấy sẽ mãi tồn tại đến khi ông ta chết. Có lẽ chúng phản ánh tần suất thường xuyên của chiến tranh, và nhu cầu phải làm quen với kỷ luật nghiêm khắc. Trên lý thuyết, chúng hà khắc hơn so với thực tế, và không ngăn được một pieta, tức tình cảm tôn trọng, sâu sắc và tự nhiên, giữa cha mẹ và con cái. Những bức tượng trên mộ của người La Mã cũng dịu dàng và chứa đầy tình yêu không kém gì những bức tượng trên mộ của người Hy Lạp và của chính chúng ta.

Lơ lửng phía trên gia tộc - những người bảo hộ, người ra luật lệ, và thế lực về luân lý - là vô vàn các vị thần, được xem như không có hình thể con người, mà là những linh hồn nắm giữ quyền lực siêu nhiên, chi phối vạn vật và tất cả những giai đoạn và thời kỳ của cuộc đời. Theo đó, nữ thần Venus tượng trưng cho sự sống và sự tiếp tục của gia tộc bằng ngọn lửa trong lò sưởi; không bao giờ được phép để ngọn lửa ấy tắt, và nó phải nhận được một phần nhỏ của mỗi bữa ăn. Phía trên lò sưởi là những biểu tượng nhỏ, đại diện cho các vị thần của gia tộc: các Lare bảo hộ cho nhà cửa và ruộng vườn của gia tộc, và các Penate, tức các vị thần của không gian trong nhà, bảo vệ những thứ gia tộc đã tích lũy được trong các tủ đồ, phòng kho, và chuồng ngựa.

Lơ lửng phía trên ngưỡng cửa, vô hình nhưng đầy sức mạnh, là vị thần Janus, có hai mặt nhưng không phải mang ý chỉ sự lừa lọc hai mang, mà chỉ việc canh chừng tất cả các lối vào và lối ra ở mọi cửa. Đứa trẻ trong gia tộc được dạy rằng người mẹ mang trong cơ thể một Juno, tức linh hồn đại diện cho năng lực mang trong mình một sự sống mới, và rằng người cha mang một genius, tức linh hồn đại diện cho năng lực làm cha. Đứa trẻ cũng có genius hoặc Juno của riêng nó, với tư cách thiên thần bảo hộ và linh hồn của nó - một cái lõi thần thánh bên trong một vỏ ngoài phàm tục. Khắp xung quanh nó là các Di Mane, hoặc các Cái Bóng Thân thiện - những chiếc mặt nạ người chết được treo trên tường, cảnh báo với đứa trẻ rằng không được đi lạc ra khỏi nhũng lề lối của tổ tiên, và nhắc nhở nó - như Burke nhắc nhở người Pháp trong cách mạng - rằng gia tộc được cấu thành không chỉ bởi số ít những cá nhân ngày nay vẫn đang sống, mà còn bởi những người đã từng hoặc sẽ là thành viên bằng xương bằng thịt của gia tộc ấy, và vì thế góp phần tạo thành sự đa dạng về tinh thần và sự thống nhất vĩnh cửu của gia tộc. Ở Rome, gia tộc cai trị đất nước.

Khi đứa trẻ bước ra khỏi nhà, nó một lần nữa thấy sự xuất hiện của các vị thần ở mọi nơi. Bản thân mặt đất là một vị thần, đôi khi mang tên Tellus, hoặc Terra Mater - “Đất Mẹ”; đôi khi Bona Dea,“Nữ thần Thiện”, người mang sự sinh sôi màu mỡ đến với phụ nữ và những cánh đồng. Ở nông trại, mỗi công việc hoặc địa điểm lại có một vị thần bảo hộ: Pomona cho vườn cây ăn quả, Saturn cho việc gieo hạt, Ceres cho việc thu hoạch, Vulcan cho việc tạo ra lửa. Các tín ngưỡng khác có thể đã nhìn lên bầu trời, và người La Mã thừa nhận rằng ở đó cũng có các vị thần, nhưng niềm tin tín ngưỡng sâu sắc nhất và những món quà làm lành chân thành nhất của họ hướng về mặt đất với tư cách mẹ của sự sống của họ, ngôi nhà cho họ khi qua đời, và thế lực kỳ diệu trong những hạt giống đang nảy mầm.

Bên trong lòng đất và không khí của đất Ý là vô vàn những vị thần: những linh hồn của mùa như Maia, những vị thần của nước như Neptune, những tinh linh của rừng như Silvanus, tức các vị thần sống trong các thân cây. Có cả những linh hồn của sự sinh sôi: Tutumus là vị thần giám sát sự thụ thai, Lucina giám sát các kỳ kinh nguyệt và sự sinh đẻ. Prianus là một vị thần Hy Lạp nhanh chóng được tiếp nhận vào nước Ý; các trinh nữ và phụ nữ đã có chồng thời đó ngồi lên dương vật của bức tượng vị thần này, như một cách để đảm bảo mang thai, nhiều bức tượng của vị thần này trang trí cho nhiều mảnh vườn mà không gặp phải sự phản đối nào; hình ảnh của vị thần này được người ta mặc trên người để mang tới may mắn hoặc sự thụ thai, sinh sôi.

Cai trị tất cả các vị thần và con người là thần lupiter, hoặc Jove, vị thần của bầu trời hoặc của Mặt Trời; được gọi là Jupiter Tonans khi ở dạng một tia sét; hoặc vị thần của mưa Jupiter Pluvius. Lâu đời không kém trong văn hóa đại chúng là Mars, thần chiến tranh; mọi bộ tộc ở Ý đều đặt tên một tháng của họ theo tên vị thần này. Những vị thần quan trọng nhất này được cho là có liên hệ với các vị thần từ Hy Lạp du nhập từng chút một vào văn hóa La Mã: theo đó, Athena trở thành Miverna, Hera trở thành Juno, Aphrodite trở thành Venus, Vulcan trở thành Mars, Artemis trở thành Diana. Trước đó, chưa một tín ngưỡng nào lại Có nhiều vị thần đến vậy; Petronius đã phàn nàn rằng ở một số thị trấn ở Ý, số vị thần còn lớn hơn số người dân.

Tín ngưỡng này có hỗ trợ luân lý ở La Mã không? Xét theo một số khía cạnh, đối với chúng ta tín ngưỡng này có vẻ không phù hợp luân lý: nghi lễ của nó gợi ý rằng các vị thần không ban thưởng cho con người sự tốt đẹp, mà ban cho họ các món quà và Công thức, và những người cầu khấn họ gần như luôn làm vậy vì những lợi ích vật chất hoặc chiến thắng trong hôn nhân. Nhưng dẫu thế nào, tín ngưỡng ấy sinh ra vì trật tự và sức mạnh của cá nhân, gia tộc, hoặc của nhà nước. Trước khi đứa trẻ có thể học nghi ngờ, tín ngưỡng đã đưa nó vào cái khuôn của kỷ luật, trách nhiệm, và sự đúng mực. Tín ngưỡng ban cho gia tộc sự chấp thuận và ủng hộ của thần thánh; nó khiến cha mẹ và con cái thấm nhuần một tinh thần kính ngưỡng và mộ đạo cao nhất trong lịch sử. Nó đưa sự trang nghiêm của tín ngưỡng vào mọi giai đoạn của đời sống quần chúng, và đưa nhà nước vào một mối liên kết mật thiết với các vị thần, mật thiết đến mức tinh thần mộ đạo và tinh thần yêu nước hợp làm một, và tình yêu dành cho đất nước trở nên mãnh liệt hơn ở bất cứ xã hội nào khác trong lịch sử. Cùng với gia đình, tín ngưỡng góp công định hình cá tính vững vàng sắt đá, cho phép Rome điều hành thế giới cổ đại trong suốt 500 năm.

CHÍNH QUYỀN

Trong lịch sử dài và rộng của nó, Rome đã thử và làm sáng tỏ nhiều hình thái nhà nước. Các xung đột gia tộc và những trò tiêu khiển tình dục của những vị vua có lẽ là huyền thoại của nó khiến người La Mã chán ngấy và không còn mong muốn chế độ quân chủ chuyên chế. Vị vua cuối cùng, Tarquinius Superbus, hay “Tarquin Kiêu hãnh”, có một người con ngông cuồng, người đã cưỡng dâm Lucretia đầy tiết hạnh - Livy và Shakespeare đã kể lại câu chuyện đó. Lucretia tuyên bố với mọi người về sự bất hạnh của cô, và tự tử. Giai cấp quý tộc, tức giai cấp mà Lucretia thuộc về, nổi dậy để trả thù cho cô; họ đã phế truất Tarquinius, thiết lập một nhà nước Cộng hòa, và chọn ra hai quan chấp chính tối cao để điều hành đất nước, bên dưới một nghị viện tối cao gồm những người cha, những người tuyên bố rằng họ là hậu duệ của những người đã lập ra nước La Mã.

Giống những người lập quốc của nước Mỹ, tức các patre, giới quý tộc La Mã không chủ định để nhà nước Cộng hòa mới này trở thành một nhà nước dân chủ. Quyền bầu cử được giới hạn, chỉ dành cho những người sở hữu đất đai, thuật ngữ res publica nghĩa là “của cải chung” (common wealth). Những người đứng đầu các bộ tộc hoặc gia tộc lâu đời xây dựng một nghị viện gồm khoảng 300 thành viên, và tuyển thành viên mới để thay thế các thành viên cũ bằng cách tự động thu nạp vào nghị viện này những quan chấp chính tối cao và quan bảo hộ nào đã hoàn thành nhiệm kỳ trong vinh quang. Những nghị viên thuở sơ khai này không phải là những quý tộc sống trong sung sướng và xa hoa như một số hậu duệ của họ, họ thường phải trực tiếp cầm những chiếc rìu hoặc những lưỡi cày để lao động; họ sống mạnh khỏe với những loại thực phẩm bình thường, và mặc quần áo do chính gia đình họ làm ra. Tầng lớp bình dân ngưỡng mộ họ ngay cả khi việc này chống lại họ, và áp dụng từ classicus - “kinh điển”, nghĩa là thuộc về tầng lớp cao nhất - vào gần như bất cứ thứ gì liên quan đến các nghị viên.

Gần bằng với họ về mức của cải, thua xa họ về quyền lực chính trị, là các equite - nghĩa đen của từ này là “người thích ngựa”, thực chất là tầng lớp kinh doanh. Từ populus,“nhân dân”, khi ấy bao gồm chỉ hai tầng lớp phía trên này. Phía dưới họ là nô lệ và tầng lớp bình dân. Khi Rome bắt đầu đại nghiệp chinh phạt của nó, các tù nhân chiến tranh bị bán với số lượng ngày càng lớn cho giới quý tộc, thương nhân, thậm chí cho những người dân thường giàu có.

Tầng lớp bình dân là phần còn lại của người La Mã, tách biệt với tầng lớp quý tộc, thương nhân, và nô lệ. Họ bao gồm các nông dân, người lao động, tiểu thương, người làm các công việc chuyên nghiệp, nghệ sĩ, giáo viên, chủ ngân hàng, và nhiều nhóm khác. Một số người giàu có, một số người có nhiều quyền lực, còn đa số nghèo túng; tất cả đều cảm thấy luật pháp La Mã không công bằng với họ, và phần lớn lịch sử La Mã trước thời Caesar là câu chuyện về cuộc đấu tranh vật lộn của tầng lớp bình dân để có được một phần quyền lực nào đó. Họ chiến đấu với luật pháp hà khắc, thứ luật pháp cho phép một chủ nợ tống một con nợ liên tục không trả được nợ vào một hầm ngục tư, hoặc bán con nợ làm nô lệ, thậm chí giết con nợ. Họ ra yêu sách rằng đất đai chiếm được trong chiến tranh phải được phân phối cho những người nghèo thay vì được ban cho hoặc bán với giá mang tính danh nghĩa cho những người giàu; rằng tầng lớp bình dân phải được công nhận là đủ điều kiện để giữ vị trí quan tòa và tư tế, và có một người đại diện cho tầng lớp của họ trong số những Công chức cao cấp nhất của nhà nước. Nghị viện* nỗ lực tìm cách làm nản phong trào phản đối của họ bằng cách kích động chiến tranh, nhưng Nghị viện bị sốc khi phát hiện ra rằng những lời kêu gọi tòng quân của họ bị mọi người bỏ ngoài tai.

Năm 494 TCN, nhóm quần chúng đông đảo thuộc tầng lớp bình dân “ly khai” tới một “Núi Thiêng” ở sông Anio, cách Rome khoảng 4.8 km, và tuyên bố rằng họ sẽ không bao giờ chiến đấu hay lao động cho Rome chừng nào các yêu sách của họ chưa được đáp ứng. Lo Sợ rằng sự tấn công từ bên ngoài sẽ vô tình diễn ra cùng lúc với nổi loạn từ bên trong, Nghị viện đã đồng ý xóa hoặc giảm các khoản nợ, và lập ra hai vị trí quan bảo hộ, những người được bầu ra để bảo hộ cho tầng lớp bình dân. Đây là trận chiến mở màn trong một cuộc chiến giai cấp chỉ kết thúc khi nền cộng hòa ấy bị hủy hoại.

Bước tiếp theo trong quá trình leo thang của tầng lớp bình dân là một đòi hỏi về những bộ luật thành văn, rõ ràng, không chịu sự diễn giải và kiểm soát của giới tăng lữ. Sau một thời gian dài phản đối, Nghị viện (vào năm 454 TCN) đã gửi một ủy ban gồm 3 quý tộc tới Hy Lạp để nghiên cứu và báo cáo về công việc lập pháp của Solon và của những nhà lập pháp khác. Khi họ trở về, Hội đồng Thế Kỷ - tức hội đồng của quân đội - đã chọn ra 10 người để lập ra một bộ quy định mới. Ủy ban này đã chuyển các bộ luật cũ, vốn dựa trên tập quán, của Rome thành Luật Mười hai Bảng nổi tiếng, và bày chúng trong khu Công trường* để tất cả mọi người đều đọc được. Đây là văn bản đầu tiên của hệ thống bộ luật mà sau đó trở thành một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Rome cho văn minh nhân loại.

Quyền lực của Nghị viện vẫn là tối cao, bất chấp những bước tiến nhắm tới chế độ dân chủ này. Cái giá của việc giành được và nắm giữ các vị trí trong bộ máy chính quyền - những vị trí làm việc không lương - khiến người nghèo không có đủ điều kiện để vào các vị trí ấy. Những người dân thường giàu có giờ đây hợp tác với các quý tộc trong việc kiểm soát các phong trào cấp tiến. Thương nhân ủng hộ chính sách của giới quý tộc bởi nó cho họ các hợp đồng của các dự án công, các cơ hội khai thác các vùng thuộc địa và địa phương, và ủy nhiệm thu thuế. Nghị viện nắm vai trò lãnh đạo trong việc lập pháp, và các phong tục, tập quán cho nó thẩm quyền vượt xa những gì được viết trong luật pháp.

Do các vấn đề đối ngoại trở nên quan trọng hơn, việc Nghị viện có khả năng quản trị các vấn đề ấy một cách vững vàng và điêu luyện khiến địa vị danh giá và quyền lực của nó được nâng cao. Khi, vào năm 264 TCN, Rome bước vào một thế kỷ của chiến tranh với người Carthage để giành quyền kiểm soát vùng Địa Trung Hải, chính Nghị viện đã lãnh đạo quốc gia này vượt qua mọi thử thách để đến với chiến thắng, và một dân tộc đang lâm vào cảnh hiểm nghèo đã khuất phục, mà gần như không có sự phản kháng nào, trước sự lãnh đạo và thống trị của nó.

CHINH PHẠT

Rome trở thành một thế lực quân sự bởi nó nhận ra mình bị bao bọc bởi biển và một tá những thành bang của đất Ý, một vùng đất cực kỳ độc lập và nửa yêu chiến tranh nửa không. Với quân sự và ngoại giao, Rome đã chiến đấu với hoặc mua chuộc được các thành bang kia, và thu nạp phần lớn chúng vào dưới sự cai trị của nó. Hai vấn đề vẫn tồn tại: vùng đất của Ý nằm ở phía Bắc thung lũng Po vẫn nằm trong sự kiểm soát của người Gaul, và thậm chí người La Mã còn gọi nó là Gallia Cisalpina - tức Gaul ở phía bên này của dãy Alps; và vùng phía Nam của Rome là Naples, Paestum, Crotona, Sybaris, Tarentum - một cách kiêu hãnh, tất cả những vùng này đều rất yêu quý gốc gác và văn hóa Hy Lạp cùng sự giàu có về thương mại của mình.

Lo sợ trước một Rome ngày càng hùng mạnh nhờ các chiến thắng, các vùng này đã thỉnh cầu Pyrrhus, vị vua trẻ tuổi xuất sắc của Epirus, tới hỗ trợ. Với hy vọng chia cắt Ý để giữ an toàn cho chính đất nước mình, Pyrrhus đã vượt qua biển Adriatic và đánh bại người La Mã ở Heraclea (năm 280 TCN) và Asculum (năm 279 TCN); tuy nhiên, ở đây, các tổn thất của quân ông khiến tinh thần ông sa sút đến nỗi ông đã tính toán rằng: “Chỉ thêm một chiến thắng như vậy nữa thôi và chúng ta sẽ tan tác” - và như thế, ông đã cho chúng ta một tính từ*. Dẫu vậy, khi nghe tin những tên xâm lược người Carthage đang vây hãm Syracuse, ông đã dẫn đội quân kiệt quệ của mình tới Sicily và đánh đuổi người Carthage ra khỏi gần như mọi cứ điểm của họ trên hòn đảo này. Nhưng sự cai trị hống hách độc đoán của ông làm gai mắt người Hy Lạp ở Sicily, những người cho rằng họ có thể có tự do mà không cần có trật tự, Pyrrhus trở về Ý, nói rằng: “Hẳn là một phần thưởng xứng đáng mà vì nó ta đã phải chiến đấu với Carthage và La Mã!”. Ông đối đầu với quân đội La Mã đã được tăng viện ở Beneventum (năm 275 TCN), và phải chịu một thất bại có tính quyết định đến mức ông rút lui về Epirus. Ba năm sau, ông bị giết chết trong trận chiến ở Argos ở tuổi 46.

Rome giờ đây là chúa tể của toàn cõi Ý,nhưng phía bên kia vùng biển hẹp là một thế lực lâu đời và giàu có hơn Rome. Các thương nhân người Phoenicia, thường xuyên qua lại giữa Cận Đông và Tây Ban Nha, khi ấy đã thiết lập được các trạm giao thương trung gian trên bờ biển phía Bắc châu Phi. Truyền thuyết, trong Aeneid của Virgil, đã kể về cách Dido, con gái của vua xứ Tyre, tìm thấy một khu định cư của người Semit ở Utica, mang tên Kart-hadasht, hay còn gọi là Newtown, mà sau này người La Mã đã đổi thành Carthago. Những người định cư ở đây thuê hoặc biến người bản địa châu Phi thành nô lệ, phát triển nông nghiệp quy mô lớn, xây dựng một lực lượng tàu thuyền giao thương, và chuyển hàng hóa qua lại giữa Tyre và Sidon, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh. Cho đến thế kỷ 3 TCN, Carthage đã trở thành thành phố giàu có nhất trong ở vùng Địa Trung Hải, với dân số 250.000 người, cùng tổng thu nhập lớn gấp 25 lần so với thu nhập của Athens ở thời đỉnh cao, và với những cung điện và đền thờ đủ tráng lệ để truyền cảm hứng, trong suốt 2.000 năm, cho những lời văn như mạ vàng trong tác phẩm Salammbo của Flaubert. Chính quyền khi ấy được điều hành bởi một Quốc Hội của các thường dân và một Nghị viện bị thống trị bởi các thương nhân. Niềm kiêu hãnh bí mật của thành bang này là lực lượng hải quân gồm 500 thuyền quinquereme*, kiểm soát toàn bộ vùng Tây Nam Địa Trung Hải. Khi lực lượng hải quân ấy chuyển một đội quân tới Sicily, Nghị viện La Mã quyết định rằng Carthage phải bị tiêu diệt.

Chúng ta không cần nhắc lại những gì ta đã được dạy khi còn ngồi trên ghế nhà trường - rằng La Mã và Carthage đã tranh chấp, từ năm 264 đến năm 146 TCN, về việc nước nào trong hai nước này được giữ Sicily, Corsia, và Tây Ban Nha, và gọi Địa Trung Hải là Mare nostrum, “Biển của chúng ta”. Nhiều anh hùng đã được khắc họa vào lịch sử qua 3 cuộc Chiến tranh Punic (Chiến tranh Phoenicia) ấy: Regulus, Hamilcar, Hannibal, Hasdrubal, Scipio Africanus. Trước khi rời Carthage trong một chiến dịch cuối cùng, Hamilcar đã dẫn con trai 9 tuổi của ông, Hannibal, tới án thờ thần Baal-Hamen, và yêu cầu con trai thề rằng một ngày nào đó cậu bé sẽ trả thù La Mã, vì đất nước của mình. Hannibal đã thề.

Ông có được những kỳ công nổi tiếng của mình là nhờ có cuộc xung đột từng hồi giữa Rome và người Gaul để giành quyền kiểm soát phần lãnh thổ của Ý ở phía Bắc thung lũng Po. Để đảm bảo quyền lực ở miền Tây, La Mã đã ký một hiệp ước, theo đó người Carthage ở Tây Ban Nha đồng ý yên vị ở miền Nam Sông Ebro. Vào năm 225 TCN, một đội quân Gaul, gồm 50.000 bộ binh và 20.000 kỵ binh quét xuống từ Cisalpine Gaul (tức Gallia Cisalpina), với nỗ lực tiêu diệt thành Rome. Các cư dân của thủ đô này kinh hoàng đến mức Nghị viện phải quay về với phong tục hiến tế người, một phong tục nguyên thủy, và thiêu sống hai tù nhân Gaul. Các binh đoàn lê dương La Mã gặp những kẻ xâm lược gần Telamon, giết người ta kể lại) 40.000 người trong số họ, và tiếp đó khuất phục Cisalpine Gaul. Giờ đây, với tư cách chủ nhân của Ý, Rome tiếp tục cuộc đối đầu với Carthage.

Năm 221 TCN, quân đội Carthage ở Tây Ban Nha chọn Hannibal là tổng chỉ huy. Khi đó ông 26 tuổi, ở thời kỳ đỉnh cao về thể chất và tâm trí. Ông được dạy về lịch sử, ngôn ngữ, và văn chương của Phoenicia và Hy Lạp, và đã tiếp thu huấn luyện quân đội trong doanh trại và qua chiến tranh. Ông đã rèn luyện cơ thể vào với khuôn khổ của sự gian khổ, sở thích vào với khuôn khổ của nhu cầu, suy nghĩ vào với khuôn khổ của sự thật, và cái miệng vào với khuôn khổ của sự im lặng. Livy, sử gia ở phe đối địch, nói rằng ông là “người đầu tiên lao vào trận chiến và là người cuối cùng rời mặt trận”. Các chiến binh kỳ cựu yêu quý ông, bởi khi ông xuất hiện để chỉ huy, họ như nhìn thấy thủ lĩnh xưa kia của họ, Hamilcar, quay trở về với họ trong trạng thái trẻ trung, những người lính mới yêu quý ông bởi ông không bao giờ nghỉ ngơi chừng nào chưa đáp ứng đủ những nhu cầu của đội quân của mình, và chia sẻ với họ tất cả những nỗi khổ cực mà họ phải chịu đựng lẫn những thành quả mà họ thu được. Người La Mã không thể tha thứ cho ông vì ông đã chiến thắng các trận chiến bằng trí thông minh của mình, chứ không phải vì ông chiến thắng bằng sinh mạng của những người lính.

Khi ấy, ông nhìn thấy cơ hội của mình: lòng căm thù mà người Gaul dành cho Rome cũng lớn không kém gì lòng căm thù của ông đối với Rome. Ông không thể xâm lược nước Ý bằng đường biển, bởi hải quân La Mã quá hùng mạnh, nhưng nếu ông có thể hành quân qua Gaul và vượt qua dãy Alps… Ông đã vượt qua những vùng ấy bằng con đường gần như giống hệt con đường mà Napoleon sẽ chọn 2.000 năm sau đó. Người Gaul ở Cisalpine Gaul chào đón ông, một số người đi theo ông, nhưng số lượng 50.000 người mà ông đã dẫn đi từ Tây Ban Nha giờ đây đã giảm xuống còn 26.000. Ông đối mặt với quân đội La Mã gần sông Ticino (năm 218 TCN) và một lần nữa ở gần hồ Transimene (năm 217 TCN), và áp đảo họ bằng những con voi châu Phi và đội kỵ binh Numidia hoang dã. Hannibal dẫn những lực lượng đã kiệt sức của mình vượt qua rặng Apennine và xuống vùng ven biển Adriatic. Nghị viện La Mã đưa Quintus Fabius Maximus lên vị trí độc tài, và yêu cầu ông ta đuổi theo và giao tranh với quân đội của Hannibal. Fabius cho rằng việc đuổi theo là hành động sáng suốt hơn so với giao tranh; giống Pyrrhus, ông đã cho ngôn ngữ châu Âu một tính từ. Nghị viện thay ông bằng hai chỉ huy khác, và một trong hai người ấy, Caius Varro, nhất quyết cho rằng phải giao tranh.

Hai lực lượng chạm trán nhau tại Cannae, ở Apulia (năm 216 TCN). Quân La Mã có 80.000 bộ binh, 6.000 kỵ binh; Hannibal có 19.000 lính kỳ cựu, 16.000 lính Gaul không đáng tin cậy cho lắm, và 10.000 kỵ binh; và ông đã dụ Varro vào giao chiến trên một đồng bằng lý tưởng cho kỵ binh. Ông bố trí các lính Gaul của . mình vào trung tâm, chờ đợi họ dạt ra tránh đường cho quân La Mã. Họ đã làm vậy; và khi quân La Mã đuổi theo họ lọt vào thế trận, Hannibal, chính ông ta chứ ông ai khác, giữa đám người dày đặc đang giao tranh, ra lệnh cho các binh sĩ kỳ cựu của mình tấn công vào hai bên sườn quân La Mã, và lệnh cho đội kỵ binh đánh xuyên qua kỵ binh quân địch và tấn công các binh đoàn lê dương từ phía sau. Quân đội La Mã, trong trạng thái bị bao vây, đã mất hết cơ hội xoay chuyển, và gần như bị tiêu diệt hoàn toàn; 44.000 quân La Mã đã chết tại đó, bao gồm 80 nghị viên. Hannibal mất 6.000 quân, hai phần ba trong đó là người Gaul. Đây là một ví dụ đỉnh cao về tài điều binh khiển tướng, hiếm có ví dụ nào khác trong lịch sử Có thể vượt qua nó. Nó kết thúc sự dựa dẫm của Rome vào bộ binh, và thiết lập những nguyên tắc mẫu mực về chiến thuật quân sự trong suốt 2.000 năm.

Đó là một trận chiến có tính quyết định tức thì nhưng cuối cùng chẳng mang ý nghĩa quan trọng cho lắm. Trong một quãng thời gian nhất định, thế giới Địa Trung Hải nghĩ rằng thế lực của Rome đã hoàn toàn tan vỡ. Một tá những thành bang của Ý đã liên minh với Hannibal; Syracuse tuyên bố hậu thuẫn Carthage; Philip V của Macedonia, lo sợ sự xâm lấn của người La Mã vào Hy Lạp, đã tuyên chiến với Rome. Nhưng giữa những chiến thắng này, Hannibal cảm thấy đội quân kiệt quệ của ông đã trải qua quá nhiều chiến trận và cần thời gian để chữa lành các vết thương của nó. Ông xin Nghị viện Carthage gửi viện binh; Nghị viện gần như không đáp lại, trong khi đó, Rome đang tập hợp và trang bị cho một đội quân mới gồm 200.000 người.

Năm 208 TCN, Hasdrubal, em trai của Hannibal, dẫn đầu một đội quân Carthage từ Sparta đi xuyên qua xứ Gaul và vượt qua dãy Alps; ông chết trong chiến bại ở sông Metaurus (năm 207 TCN); đầu ông bị cắt và ném vào doanh trại của Hannibal theo lệnh của một vị tướng La Mã. Publius Cornelius Scipio, không lâu sau đó mang tên Scipio Africanus, giờ đây đã đưa toàn bộ Tây Ban Nha về dưới quyền kiểm soát của La Mã, và sau đó dẫn đầu một đội quân tiến vào châu Phi. Carthage, trong trạng thái hỗn loạn và bị vây hãm, đã cầu xin Hannibal tới giúp. Ông đã tới, lập ra một đội quân mới, và giao tranh với các lực lượng của Scipio ở Zama, cách thủ đô khoảng 80,5 km. Ông bị đánh bại, và sự thần phục trong bất lực của Carthage đã chấm dứt Chiến tranh Punic lần thứ Hai (năm 202 TCN).

Giờ đây, không một thành bang nào ở Địa Trung Hải có thể ngăn sự bành trướng của Rome. Thành bang này gần như ngay lập tức đã tiến tới bắt Philip V của Macedonia phải quy phục. Năm 200 TCN, một lực lượng của người La Mã, dưới quyền chỉ huy của Titus Quinctius Flaminius đã vượt biển Adriatic, và, sau nhiều năm điều binh và chiến đấu, đã chiến thắng Philip V một cách áp đảo ở Cynoscepalae (năm 197 TCN). Toàn Cõi Hy Lạp lúc này trông chờ được trở thành một cái nan nữa trên bánh xe La Mã. Nhưng Flaminius đã trưởng thành trong cộng đồng Hy Lạp hóa của các Scipio mang tư tưởng tự do, cảm giác choáng ngợp của ông trước những di sản mà Hy Lạp đã tích lũy được ở các mặt lịch sử, văn chương, triết học và nghệ thuật mạnh mẽ không kém nỗi kinh hoàng của các thành phố Hy Lạp bị trấn áp trong các cuộc tranh chấp khác và bị buộc phải biết thân biết phận hạ mình cầu hòa. Trong một hội nghị có tính lịch sử ở Corinth, ông đã tuyên bố với người Hy Lạp rằng Rome sẽ không trở thành chủ nhân của họ mà sẽ là bảo hộ của họ, họ sẽ không phải cống nạp, thậm chí không phải cống nạp lính tráng, và được phép tự trị, chỉ với một điều kiện rằng họ phải chấm dứt xung đột bên trong thành bang và xung đột với các thành bang khác. Plutarch kể rằng đám đông đã hân hoan và tung hô mạnh đến mức những con quạ bay ngang qua khu hội trường lúc đó đã rơi xuống đất mà chết. Flaminius rút quân của ông về Ý.

Người Hy Lạp hát những lời ca ngợi tự do, nhưng khi ấy họ đã bị chia rẽ quá sâu sắc, đến nỗi không thể giữ được hòa bình; chiến tranh và xung đột giai cấp tiếp diễn. Năm 146 TCN, trong khi Rome đang chiến đấu trong Chiến tranh Punic lần thứ Ba, Liên minh thành bang Hy Lạp ở Achae đã tuyên bố chiến tranh để giải phóng họ khỏi Rome. Một đội quân La Mã do Mummius lãnh đạo đã chiếm được Corinth, giết gần như mọi người đàn ông trong thành này, bán phụ nữ và trẻ em trong thành làm nô lệ, và chuyển những của cải và tác phẩm nghệ thuật mà họ có thể chuyển đi được tới Rome. Athens và Sparta được phép tiếp tục duy trì luật pháp riêng, nhưng các thành bang Hy Lạp khác đã bị ghép thành một tỉnh chịu sự điều hành của La Mã.

Các con đường được mở để chuyển người, hàng hóa, và cả các ý tưởng giữa nền văn minh cũ và nền văn minh mới. Hàng nghìn người Hy Lạp đã vượt sang Ý, mang theo mình những mảnh di sản. Cuộc chinh phục về văn hóa của người Hy Lạp lên văn hóa La Mã diễn ra một cách chậm chạp, sau cuộc chinh phạt về quân sự của người La Mã lên đất Hy Lạp.

Một hệ di sản thời cổ điển, dung hợp các nền văn hóa, đã phát triển và vượt qua những con đường của La Mã và dãy Alps để tới miền Bắc châu Âu, và, cùng với sự chậm rãi ung dung của thời gian, đến với bạn và tôi.

LUCRETIUS

Nằm trong số những di sản phong phú, khi ấy đang chậm rãi vượt sang với Rome dưới tác động của những người đi chinh phạt đang trở về, là văn chương và nghệ thuật, triết học và khoa học, niềm tin và sự nghi ngờ đối với tín ngưỡng, đã được tích lũy qua nửa thiên niên kỷ ở những thành phố rải rác trên đất Hy Lạp, cả ở mẫu quốc lẫn ở các thuộc địa.

Giữa những kho báu này là các bản thảo và những tập quán truyền miệng, lưu truyền tư tưởng duy vật của Democritus và đạo đức của Epicurus. Titus Lucretius Carus, một nhà thơ La Mã, bằng niềm đam mê đầy nhiệt huyết với những di sản sót lại sau bao chém giết và thời gian chậm rãi, đã đặt cho bản thân một nhiệm vụ thú vị và đầy phấn khích: diễn đạt bằng những lời thơ Latin những vấn đề của triết học và những niềm vui lành mạnh đến từ những nguồn rất trần thế cho một quốc gia non trẻ về trí tuệ.

Ông gọi trường ca triết học của mình là Về bản chất của vạn vật (De rerum natura), và viết nó theo thể 6 foot (hexameters)* kiểu Homer, súc tích, giàu sức biểu đạt, và đầy sức mạnh, cứ như thể chính Achilles đã soạn ra những lời thơ ấy. Ông bắt đầu bằng một hộ ngữ đầy nhiệt huyết dành cho nữ thần Venus, nữ thần của sự sinh sôi và người đã chinh phục thần chiến tranh:

Mẹ của nòi giống Aeneas, niềm hân hoan của con người và các vị thần, ôi nữ thần Venus nuôi dưỡng chúng ta:… thông qua người, mọi loại sự sống được hoài thai và sinh ra, và được nhìn thấy Mặt Trời; trước mắt người mà trước khi người đến, những cơn gió chạy trốn, những đám mây trên bầu trời phải chạy đi mặt đất kỳ diệu dâng những bông hoa ngọt ngào cho người; 0ì người, những cơn sóng biển cất tiếng cười, bà bầu trời yên bình chiếu những tia nắng chan hòa. Ngay khi thì xuân sắc của một ngày xuất hiện, bà cơn gió Nam mang theo màu mỡ khiến cho bạn bật xanh tươi, thì, ôi nữ thần, trước tiên những con chim trong không trung kêu lên, báo hiệu sự xuất hiện của người, với trái tim bị xuyên thấu bởi quyền năng của người; rồi những bầy cừu hoang dã nhảy qua những thảm cỏ xanh hạnh phúc, và vượt qua những con suối chảy xiết; thế rồi, bị giam cầm bởi sự quyến rũ của người, từng con vật đi theo người, bất kể người dẫn chúng tới đâu. Rồi, qua biển cả Toà núi non và những con sông dạt dào, và những nơi ở đầu lá cây rậm rạp của những con chim, và những cánh đồng xanh tươi, người thình lình đưa tình yêu dịu dàng vào lồng ngực của mọi sinh vật, và khiến chúng sản sinh ra thế hệ tiếp theo của giống loài mình. Bởi vì, chỉ một mình người cai quản bản chất của bạn vật; bởi nếu không có người, không có thứ gì thức dậy để ngắm nhìn mảnh đất tràn ngập ánh sáng, không có thứ gì hân hoan hay đáng yêu được sinh ra, tôi mong mọi người đến với tôi như một người bạn khi biết những lời thơ này… Ôi nữ thần, hãy ban cho những lời của tôi một vẻ đẹp bất diệt. Đồng thời, xin hãy khiến cho những cuộc chiến tranh tàn bạo ấy ngủ yên… Khi thần Mars tựa lưng lên cơ thể thiêng liêng của người, xin người hãy uốn mình quanh vị thần ấy từ phía trên, tuôn những lời ngon ngọt, và cầu xin giùm những con dân La Mã của người món quà hòa bình.

Venus là vị thần duy nhất mà Lucretius tôn thờ. Ông không nhìn thấy bất cứ vai trò có ích nào của các vị thần La Mã khác; họ có thể tồn tại, nhưng họ không có bất cứ ảnh hưởng nào lên các vấn đề của loài người. Ông lên án những nghi lễ mang tính đa thần, hiến tế con người hoặc động vật; ông kể câu chuyện về Iphigenia hiến tế cho một cơn gió.

Ôi loài người thật khốn khổ khi quy những hành động và con thịnh nộ quyết liệt này cho những vị thần!… Bởi vì đức tin vào tín ngưỡng của mình không nằm ở việc thường xuyên được nhìn thấy biến một cái đầu được phủ oải thành đá,… cũng không phải ở việc nằm phủ phục… trước những ngôi đền,… Cũng không phải ở việc ong những giọt máu của muông thú lên án thờ,… mà đúng hơn nằm ở việc có thể nhìn oào vạn vật với một tâm trí bình yên… Nỗi kinh hoàng và u ám của tâm trí phải bị xua tan, không phải bằng những tia nắng mặt trời,… mà bằng diện mạo và quy luật của tự nhiên.

Và như thế, “với mật vàng của những Nàng thơ, Lucretius đã chạm vào chủ nghĩa duy vật thô sơ của Democritus, và tuyên bố định lý cơ bản của chính ông, rằng “không có gì tồn tại, ngoại trừ nguyên tử và khoảng trống” - tức vật chất và không gian. Vạn vật từng không có hình dạng, nhưng sự sắp xếp và phân loại lần lượt các nguyên tử luôn chuyển động, theo kích thước và hình dạng của chúng, đã tạo ra không khí, lửa, nước, và đất - mà không theo một bản thiết kế trước nào; và, từ những thứ này, Mặt Trời và Mặt Trăng, các hành tinh và các vì sao đã sinh ra. Trong sự bất tận của không gian, các thế giới mới luôn được sinh ra, và các thế giới cũ dần suy yếu. Một phần của màn sương nguyên thủy tách ra khỏi khối vật chất, và nguội lại để tạo thành mặt đất. Các trận động đất không phải là con gầm thét của các vị thần, mà là sự mở rộng của những dòng khí và dòng nước dưới lòng đất. Sấm và chóp không phải là giọng nói hay hơi thở của thần, mà là những hệ quả tự nhiên từ những đám mây tích tụ và va chạm vào nhau. Mưa không phải là món quà thất thường từ thần Joke, mà là việc hơi nước trở lại mặt đất sau khi bị Mặt Trời làm cho bốc hơi.

Lucretius là một nhà cách mạng triệt để.

Không có thứ gì sinh ra từ cấu trúc vốn có của nó theo một trật tự mà chúng ta có thể sử dụng, nhưng chính thứ được sinh ra mang đến công dụng riêng của nó… Không phải thiết kế của các nguyên tử đã khiến chúng tự sắp xếp theo trật tự một cách thông minh… mà bởi nhiều nguyên tử, theo dòng thời gian cô tận, đã dịch chuyển và gặp nhau theo tất cả những cách có thể, thử tất cả các kiểu kết hợp… Từ đó, bắt đầu thuở sơ khai của những thứ vĩ đại,… và sự sản sinh của các sinh vật… Nhiều sinh vật là những con quái vật mà mặt đất cố gắng tạo ra:… một số không có bàn chân, bà những con khác thì không có tay hoặc miệng hoặc mặt, hoặc với các chi gắn chặt vào bộ khung của cơ thể chúng… Chúng là những sinh vật cô vọng, tự nhiên không cho phép chúng phát triển, chúng cũng không thể tìm được thức ăn, hoặc tìm đến Toới nhau trong tình yêu… Nhiều loài động vật hẳn đã biến mất, không có khả năng duy trì nòi giống… Bởi vì, những sinh vật không được tự nhiên ban cho bất kỳ phẩm chất (bảo hộ) nào sẽ phải chịu sự định đoạt của các sinh vật khác, và chẳng mấy chốc bị tiêu diệt.

Linh hồn (anima) là một “hơi thở sức sống”, thu được lan tỏa đi khắp cơ thể như một vật chất cực tinh vi và khiến mọi phần của cơ thể ấy có được sức sống. Nó sinh trưởng và lão hóa cùng cơ thể, và các nguyên tử của nó hiển nhiên giải tán khi cơ thể chết đi. Sự sống được trao đến chúng ta, không phải cùng với quyền tự do sử dụng, mà cùng với một khoản vay, và vẫn tiếp tục được trao chừng nào ta vẫn có thể sử dụng tốt sự sống ấy. Khi chúng ta đã sử dụng hết những quyền năng của mình, chúng ta nên rời khỏi bàn tiệc của sự sống một cách khoan thai và lịch sự, giống như những thực khách đầy lòng tri ân rời khỏi một bữa tiệc thịnh soạn.

Bản thân cái chết không có gì kinh khủng, chỉ nỗi sợ hãi của chúng ta trước kiếp sau mới khiến nó kinh khủng. Nhưng không có kiếp sau. Địa ngục đã ở ngay đây, trong những khổ đau đến từ sự ngu muội, say sưa, hiếu thắng, và tham lam; và thiên đường cũng ở ngay đây, trong sapientum tempela serena - “cái đầu thanh thản của những người sáng suốt”*.

Phẩm hạnh không nằm ở việc sợ hãi các vị thần, không nằm việc rụt rè né tránh những niềm vui thú; nó nằm ở sự vận hành một cách hài hòa của các giác quan và năng lực, được dẫn đường bởi lý trí: “Của cải thực sự của con người là việc sống một cách đơn giản với một tâm trí bình yên”. Hôn nhân là điều tốt, nhưng tình yêu mãnh liệt là một con điên cuồng, tước đi sự minh mẫn, rành mạch và lý trí trong tâm trí. Không một cuộc hôn nhân nào, không một xã hội nào, không một nền văn minh nào có thể tìm thấy một cơ sở hợp lý cho sự phát triển của nó trong sự mê muội đầy dục tính ấy.

Lucretius kể về cách mà một nền văn minh phát triển, trong một bản tóm tắt xuất sắc về nhân loại học cổ đại. Việc tổ chức xã hội cho con người sức mạnh để tồn tại trước những loài động vật mạnh mẽ hơn anh ta nhiều lần. Anh ta khám phá ra lửa từ những ma sát của lá cây và cành cây, xây dựng ngôn ngữ từ các cử chỉ của bàn tay, và học được các bài hát từ những chú chim; anh ta thuần dưỡng động vật cho mục đích sử dụng của riêng mình, và thuần phục chính mình với hôn nhân và luật pháp; anh ta quan sát bầu trời, đo thời gian, và học được phép định hướng và tìm đường. Lịch sử là một chuỗi liên tiếp những nhà nước và nền văn minh nổi lên, trở nên thịnh vượng, suy tàn, và chết đi, nhưng lần lượt, mỗi nhà nước và nền văn minh ấy có thể truyền lại những di sản phong tục, luân lý, luật pháp, và nghệ thuật, những di sản khai sáng cho những nền văn minh về sau, “như những người chạy trong một cuộc đua tiếp sức, họ truyền lại ngọn đèn của cuộc sống” (et quasi cursores vitai lampada tradunt).

Nhìn lại “thành tựu tuyệt diệu nhất của toàn bộ nền văn chương cổ đại” này, chúng ta trước tiên có thể nhận ra những khuyết điểm của nó: sự hỗn loạn của những nội dung, bị bỏ rơi ở trạng thái như vậy mà không được chỉnh lý do cái chết quá sớm của thi sĩ; quan niệm rằng Mặt Trời, Mặt Trăng, và những vì sao là những thứ nhỏ bé như những gì chúng ta nhìn thấy, khó khăn trong việc giải thích xem làm thế nào mà các nguyên tử chết lại trở thành sự sống, ý thức, và khả năng dự đoán tương lai, sự thiếu nhạy cảm ở mức độ nhất định đối với những tri thức thâm sâu, sự an ủi, và những cảm hứng từ đức tin tín ngưỡng, và đối với những chức năng xã hội và luân lý của tín ngưỡng.

Nhưng những khuyết điểm này thật quá nhỏ bé khi so với tầm cỡ của một nỗ lực can đảm - nỗ lực diễn giải một cách duy lý cả vũ trụ, tín ngưỡng, bệnh tật (“Tồn tại nhiều hạt giống của những thứ hỗ trợ cho cuộc sống của chúng ta; và mặt khác hẳn phải tồn tại nhiều hạt giống bay lung tung khắp nơi, gây ra bệnh tật và cái chết”); việc khắc họa tự nhiên như một thế giới của các quy luật, trong đó vật chất và chuyển động không bao giờ tăng lên hay giảm đi; năng lực tưởng tượng bền bỉ, cảm nhận được “vẻ đẹp đáng ngưỡng mộ của vạn vật” ở mọi nơi, và nâng tầm nhìn của Empedocles, khoa học của Democritus, và đạo đức của Epicurus thành những lời thơ vĩ đại nhất mọi thời đại.

Trong cuộc chiến bất tận giữa phương Đông và phương Tây, giữa một bên là những người có “tâm trí mềm mỏng” - lý tưởng hóa, lạc quan, giàu cảm xúc - và những đức tin đem đến sự an ủi, và một bên là những người có “tâm trí cứng rắn” - thực tế và ít bị chi phối bởi cảm xúc - và khoa học duy vật, Lucretius đã phát động, gần như trong đơn độc, cuộc xung đột có tầm ảnh hưởng lớn nhất thời đại của ông. Ông, tất nhiên, là nhà thơ triết học vĩ đại nhất.

Ở ông - và tiếp đó ít lâu cũng xuất hiện ở Catullus, Cicero, và Virgil - văn chương tiếng Latin đã đến thời kỳ chín muồi, và sự tiên phong qua những con chữ đã truyền từ Hy Lạp sang Rome.

« Lùi
Tiến »