Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1544 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
từ plato tới alexander

Chúng ta bắt đầu ở năm 399 TCN, năm Socrates chết và Plato 28 tuổi. Athens khi ấy đang vùng lên từ thất bại. Sparta đang nghỉ ngơi thư dãn trong chiến thắng.

Athens có nền thương mại và công nghiệp đang hồi sinh; Sparta có một nền nông nghiệp trì trệ vận hành một cách thiếu sức sống dựa trên các nô lệ. Aristotle viết: “Một số người Sparta sở hữu những vùng đất mênh mông, còn những người khác gần như không có gì: tất cả đất đai nằm trong tay chỉ một ít người”. Khi Sparta nỗ lực tìm cách thống trị Thebes, một đội quân của người Thebes, được lãnh đạo bởi Epaminondas (và 300 “tình nhân Hy Lạp” liên kết với nhau bởi tình gắn kết đồng tính) đã đánh bại người Sparta ở Leuctra (năm 371 TCN), và kết thúc sự thống trị của Sparta ở Hy Lạp.

Không còn phải sợ hãi Sparta, Athens xây dựng lại hạm đội thương thuyền, hải quân, và đế chế Địa Trung Hải của nó. Các hầm mỏ ở Laurium được mở lại cùng với các lao động nô lệ, và bạc được khai thác với lượng lớn đến mức lượng tiền bạc tăng còn nhanh hơn cả hàng hóa, giá cả tăng nhanh hơn tiền công, và người nghèo phải chịu phần gánh nặng của thay đổi này. Của cải được làm ra bằng cách mua sản phẩm trong nước với giá rẻ và bán chúng lấy lợi nhuận tại nhà hoặc ở nước ngoài. Những kẻ khôn ngoan trở nên phát đạt, những người đầu óc đơn giản hoặc thiệt thòi về điều kiện chỉ có thể đứng nhìn sự tập trung của cải nhanh chóng, với cảm giác phẫn uất ngày càng mạnh. Các ngân hàng tăng số lượng nhân lực và dịch vụ, các khoản đầu tư và khoản nợ của chúng theo cấp số nhân; một hệ thống tín dụng bắt đầu phát triển. Sự thay đổi từ đất đai sang các tài sản động đã tạo ra một cuộc vật lộn đấu tranh để giành tiền bạc, và đã tạo ra những từ mới như chrematistike, tức tình trạng sôi sục theo đuổi sự giàu có, pleonexia, sự ham muốn có nhiều và nhiều hơn nữa; neoplutoi, những người giàu mới nổi.

Giữa những của cải và giàu có ấy, nghèo đói gia tăng, bởi chính sự đa dạng và sự tự do của việc giao thương, thứ cho phép những kẻ khôn ngoan làm ra tiền, cũng khiến những người có đầu óc đơn giản mất tiền nhanh hơn và theo nhiều cách hơn truỚC. Plato nói rằng Athens đã trở thành “hai thành phố, một của người nghèo, một của người giàu, thành phố này xung đột với thành phố kia”. Những người nghèo lập mưu tước đoạt của người giàu bằng lập pháp hoặc cách mạng người giàu tổ chức để phòng ngự trước người nghèo. Các trí thức nhìn chung đúng về phe người nghèo, và thậm chí những người giàu trong số các trí thức ấy, chẳng hạn như Plato, trong khoảng thời gian nhất định còn cảm thấy hứng thú với những ý tưởng mang tinh thần cộng sản chủ nghĩa.

Cuối cùng, những công dân nghèo đã thâu tóm được Quốc Hội, và bắt đầu bỏ phiếu đưa tài sản của người giàu vào ngân quỹ của thành bang, để tái phân phối cho các tầng lớp thấp hơn. Các nhà lập pháp vắt óc sáng tạo để khám phá ra những nguồn thu mới cho ngân sách công. Kết quả của những thuế khóa này là việc che giấu hàng loạt của cải và thu nhập. Việc tránh thuế xuất hiện ở khắp nơi, và tài tình chẳng kém gì việc đánh thuế. Các ngôi nhà bị xâm phạm, hàng hóa bị tịch thu, và con người bị tống vào tù để bắt mọi người tuân thủ việc trả thuế. Vào năm 353 TCN, Isocrates, khi ấy đã già và giàu có, phàn nàn: “Khi tôi còn là một đứa trẻ, của cải được xem là một thứ vững chắc và đáng được ngưỡng mộ đến mức gần như tất cả mọi người giả bộ như Có nhiều tài sản hơn những gì họ thực sự sở hữu,… giờ đây một người đàn ông phải sẵn sàng tự vệ để chống lại việc trở nên tàu có, cứ như thể giàu có là tội ác tồi tệ nhất”. Các nhóm trung lưu, cũng như nhóm người giàu, bắt đầu ngờ rằng chế độ dân chủ tiếp tay cho sự đố kỵ, và người nghèo bắt đầu ngờ rằng nó là một trạng thái bình đẳng giả tạo về phiếu bầu, bị vô hiệu hóa bởi sự bất bình đẳng cực lớn về của cải. Sự gay gắt ngày càng trầm trọng của xung đột giai cấp khiến Hy Lạp bị chia rẽ từ bên trong khi Philip của Macedonia chinh phạt đất nước này, và nhiều người Hy Lạp giàu có đã chào đón ông như một giải pháp thay thế cho cách mạng.

Tình trạng buông thả về luân lý đi cùng với sự gia tăng của những thứ xa hoa và việc giới trí thức được giải phóng. Quần chúng nhân dân ôm ấp những niềm tin mê tín và bám chặt lấy những câu chuyện hão huyền nhưng an ủi tinh thần; các vị thần trên đỉnh Olympus đang chết, nhưng những vị thần mới đang được sinh ra, và những vị thần ngoại du nhập từ Ai Cập và châu Á. Giai cấp tư sản nửa lạ nửa quen và đang phát triển ở Athens gần như chẳng có chút kinh ngưỡng nào đối với tín ngưỡng truyền thống. Plato viết: “Giờ đây một bộ phận nhất định của nhân loại hoàn toàn không tin vào sự tồn tại của các vị thần,… một bộ luật duy lý sẽ phải loại bỏ những lời tuyên thệ của các đảng phái ở cả hai phe”.

Triết học đã phải vất vả để tìm được, từ trong sự tín nhiệm dân sự và trí tuệ giáo dục, một yếu tố tự nhiên nào đó để thay thế cho các lời răn của thần thánh và những vị thần giám sát, nhưng luân lý về giới tính, xã hội và chính trị tiếp tục suy đồi. Số lượng đàn ông độc thân và gái làng chơi hạng sang cùng gia tăng, và hiện tượng tự do chung sống với nhau chiếm ưu thế trước những cuộc hôn nhân hợp pháp. “Chẳng phải một người thiếp tốt hơn một bà vợ hay sao?” - một nhân vật trong một vở hài kịch ở thế kỷ 4 TCN đã nói. “Một người được hậu thuẫn bởi một bộ luật buộc bạn phải giữ Cô ấy, bất kể cô ta có khiến bạn khó chịu đến đâu; còn một người thiếp hiểu rằng cô ta phải giữ một người đàn ông bằng cách cư xử cho tốt, nếu không cô ta sẽ phải tìm một người đàn ông khác”. Việc giới hạn quy mô gia đình trở thành chuyện thường thấy, bằng các biện pháp tránh thai, phá thai, hoặc giết đứa trẻ mới ra đời.

Đạo đức chính trị tiếp tục ở mức thấp. Nạn hối lộ xuất hiện mọi cấp hành chính nhà nước. Ba Tu không gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hối lộ các chính trị gia Hy Lạp để kích động chiến tranh giữa các thành bang Hy Lạp. Lính đánh thuê Hy Lạp vô tư bán mình cho các tướng lĩnh Hy Lạp lẫn tướng lĩnh “man di” (tức “không phải người Hy Lạp”), những đội quân Ba Tư mà Alexander đối đầu có đầy lính Hy Lạp. Trong khi đó, các nhà hùng biện, tầng lớp đang vùng lên vào thời đó, ngày càng chiếm lấy nhiều công việc của các luật sư và nhà quản lý chính trị, họ lên kế hoạch và điều khiển các chiến dịch và gây quỹ bằng cách hứa hẹn những đặc ân. Tình hình chính trị trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết, nhưng tinh thần yêu nước suy yếu và tình trạng tham nhũng ngày càng trầm trọng. Chủ nghĩa cá nhân phát triển mạnh mẽ, còn nhà nước thì suy tàn.

Trong khi đó, ở Macdedonia đầy núi non và nửa man di, một vị quân chủ đầy dục vọng đang suy nghĩ về việc chinh phạt Hy Lạp.

PHILIP VÀ DEMOSTHENES

Philip được chuẩn bị cho vai trò của mình trong lịch sử bằng một sự hòa trộn của một sự cường tráng mang tính nguyên thủy, quá trình huấn luyện quân sự, cùng một chút giáo dục và sự tinh tế.

Ông mạnh mẽ về cả thể chất và ý chí, cường tráng và đẹp trai, một động vật tuyệt mỹ cố gắng trở thành người văn minh. Giống con trai mình, ông là một người đàn ông có tính cách bạo lực và cực kỳ hào phóng, rất thích chiến trận, và uống rượu còn nhiều hơn con trai. Không giống Alexander, ông là một người vui tính hay cười. Ông thích con trai, nhưng còn thích phụ nữ hơn, và kết hôn với rất nhiều phụ nữ. Trong một quãng thời gian nhất định, ông đã thử sống một vợ một chồng với Olympias, cô Công chúa hoang dã và xinh đẹp của tộc người Molossia, người đã sinh cho ông Alexander; nhưng rồi ý thích của ông trở nên mất kiểm soát, và Olympias trong một thời gian dài đã nghĩ đến các cách để trả thù.

Trên hết, ông thích những người đàn ông lực lưỡng, những người mạo hiểm mạng sống của họ suốt cả ban ngày và chè chén với ông ta vào nửa đêm. Trước Alexander, ông là người dùng cảm nhất trong số những người dũng cảm, và để lại một phần của chính mình ở tất cả các chiến trường. “Đúng là một trang nam nhi!” kẻ thù lớn nhất của ông, Demosthenes, đã phải thốt lên.“Vì quyền lực và sự thống trị, ông ta đã mọi một con mắt, làm vỡ một bên vai, và làm tê liệt một cánh tay và cẳng chân”. Trong ngoại giao, ông nhã nhặn nhưng tráo trở, ông phá vỡ một lời hứa mà chẳng hề bứt rứt, nhưng luôn sẵn sàng hứa một lời hứa khác; ông không công nhận bất cứ nguyên tắc luân lý nào trong hành chính nhà nước, và xem việc hối lộ và nói dối như những hình thức thay thế đầy nhân văn cho việc giết chóc. Nhưng ông khoan dung khi chiến thắng, và cho những người Hy Lạp bị ông đánh bại những điều khoản hiệp ước tốt hơn nhiều so với những điều khoản mà người Hy Lạp cho những người khác. Tất cả những người gặp ông - ngoại trừ Demosthenes - đều thích ông, và xem ông ta là nhân vật có năng lực nhất và thú vị nhất trong thời đại của ông.

Ông lập và huấn luyện một đội quân gồm những kỵ binh gây lúng túng cho kẻ thù bằng những đòn tấn công lặp đi lặp lại với mục tiêu đa dạng: bộ binh được sắp xếp theo những đội hình pha-lăng nối tiếp nhau và cầm những cây trường thương khoảng 6,4 m; những cung thủ bắn tên Vồng vượt qua những đội hình pha-lăng tới quân địch, lực lượng công thành gồm các máy bắn đá và xe trục phá thành. Với những vũ khí này, ông dự tính đánh đuổi người Ba Tư một lần nữa ra khỏi các thành phố của người Hy Lạp ở châu Á; nhưng ông cảm thấy trước tiên mình phải thống nhất tất cả những người Hy Lạp ở châu Âu dưới quyền của mình.

Ông bắt đầu bằng việc công hãm một số thành phố đồng minh với Athens trên các bờ biển của Macedonia và Thrace. Các thành phố này không chỉ chặn đường sang châu Á; chúng còn kiểm soát các mỏ vàng và những đường giao thương mà chính quyền có thể đánh thuế. Trong khi người Athens đang bị hút hoàn toàn vào một cuộc chiến khác, ông chiếm Pydna và Potidea (năm 356 TCN), và đáp lại những phản đối của người Athens bằng những lời tán dương dành cho văn chương và nghệ thuật Athens. Nhưng khi ông đề nghị đưa chính những người Athens về dưới sự cai trị của mình, họ bị kích động đến mức phản kháng bởi sự hùng biện đầy nhiệt huyết của nhà hùng biện nổi tiếng nhất trong lịch sử.

DEMOSTHENES

Bức tượng của Demosthenes ở Vatican cho người ta thấy một khuôn mặt cực kỳ mệt mỏi vì lo âu, cứ như thể mỗi bước tiến của Philip lại hằn thêm một nếp nhăn lên trán ông. Cơ thể ông gầy và héo mòn. Đây là đặc điểm chỉ có ở một người đã kháng nghị đến cùng vì một đại nghiệp vô vọng.

Cha ông để lại cho ông một gia tài khá lớn, nhưng những kẻ thực hiện di chúc đã tiêu hết gia sản ấy. Ông tích lũy tài sản của riêng mình với tư cách một nhà hùng biện, viết trình đơn cho những người đi kiện; theo Plutarch, đôi khi ông chuẩn bị lời

biện hộ cho cả hai phía trong một tranh chấp. Khả năng viết văn bản của ông tốt hơn khả năng nói, bởi cơ thể ông yếu và ông có khuyết tật ở các cơ quan tạo âm thanh. Để vượt qua các khuyết tật này, ông giải quyết vô vàn tạp âm ấy bằng cách ngâm sỏi đầy nửa miệng, hoặc tập diễn thuyết khi đang chạy lên dốc. Sau nhiều năm nỗ lực, ông trở thành một trong những luật sư giàu có nhất Athens, linh hoạt trong các nguyên tắc luân lý, nhưng không hề biết sợ hãi khi đưa ra quan điểm.

Ông nói với người Athens rằng họ là những gã lười biếng suy đồi, những kẻ đã đánh mất ý chí quân sự cần thiết cho sự tồn tại của đất nước. Ông vạch trần lời kêu gọi thống nhất Hy Lạp của Philip như một công cụ để khiến đất nước này thần phục Macedonia. Ông cầu xin các đồng bào của ông chống lại Philip cho đến người cuối cùng. Đối thủ của ông, Aeschines, biện hộ cho Philip. Cả hai đều bị cáo buộc nhận hối lộ - Aeschines nhận hối lộ từ Philip, Demosthenes nhận hối lộ từ vua Ba Tư.

Cuối cùng, cuộc hành quân về phía Nam của Philip đã trở thành bằng chứng vững chắc củng cố lý lẽ của Demosthenes, đến nỗi người Athens phải chuyển khoản trợ cấp cho người nghèo thành ngân sách chuẩn bị cho chiến tranh. Vào năm 338 TCN, họ hành quân lên phía Bắc để đối mặt với những đội hình pha lăng của Philip ở trận Chaeronea. Thành Sparta từ chối giúp đỡ, nhưng thành Thebes đã gửi “Đội thần binh” để chiến đấu cạnh những người lính Athens. Tất cả các thành viên trong đội quân 300 người này đã chết trên chiến trường ấy. Người Athens cũng chiến đấu một cách anh dũng, nhưng họ không được tổ chức hay trang bị để chống lại một biển những mũi thương đang rơi xuống đầu họ như thể chúng rơi từ trên trời xuống, họ tháo chạy, và Demosthenes tháo chạy cùng với họ.

Philip trừng phạt người Thebes một cách nghiêm khắc nhưng ông đã trả tự do cho 2.000 người Athens bị bắt làm tù binh và gửi Alexander, người con trai dễ mến của ông ta, tới đề nghị hòa bình, với điều kiện thành Athens chấp nhận Philip là vị tướng tổng chỉ huy toàn Cõi Hy Lạp để chống lại kẻ thù chung của họ, quân Ba Tư. Athens đồng thuận. Tại Corinth, Philip triệu tập một hội đồng các thành bang Hy Lạp, và vạch ra những kế hoạch để giải phóng lãnh thổ của Hy Lạp ở châu Á khỏi sự thống trị của người Ba Tư. Trong cuộc họp này, ông được mọi người nhất trí chọn làm chỉ huy. Ông trao cho các thành bang thành viên của hội đồng này rất nhiều quyền tự do, và chuẩn bị cho một cuộc thập tự chinh.

Ông đã chiến thắng trước tất cả các kẻ địch của mình, ngoại trừ vợ ông, Olympias, người căm ghét những câu chuyện yêu đương của ông. Hai năm sau trận Chaeronea, Pausanias, một trong những sĩ quan của Philip, do từ lâu đã để bụng về một lần bị xúc phạm, và cũng do bị Olympias kích động, đã giết nhà vua. Alexander, được quân đội xem là hình mẫu lý tưởng, đã nắm lấy ngai vàng, và chuẩn bị, ở tuổi 20, chinh phục cả thế giới.

NGHỆ THUẬT

Sau thời gian bùng nổ của những thiên tài viết kịch vào thế kỷ 5 TCN, văn chương Hy Lạp thoái trào, chỉ còn lại những nhân vật cỡ nhỏ như Xenophon, người đã thống lĩnh thanh niên hiện đại thông qua tiếng Hy Lạp với tác phẩm Anabasis, và Isocrates, người thầy giáo kiêm tác giả của những cuốn sách nhỏ (pamphlet), người đã phát minh ra hình thức bài luận (essay).

Nghệ thuật tiếp tục đơm hoa kết trái. Pliny Già đã viết: “Apelles của Cos đã vượt qua tất cả các họa sĩ khác, bất kể trước hay sau thời đại của ông ta”. Ông hẳn đã có một vị thế cao tột đỉnh, bởi ông có thể thực hiện hành động ngông cuồng hiếm gặp - ca ngợi những đối thủ của mình. Khi biết rằng người vĩ đại nhất trong những đối thủ này, Protogenes, đang sống trong nghèo khó, Apelles đã đi thuyền tới Rhodes để thăm ông ta. Do không được báo trước, Protogenes đã không ở trong xưởng vẽ khi Apelles đến. Một nữ hầu cao tuổi đã hỏi Apelles xem vị khách viếng thăm này tên gì để bà ta báo lại khi ông chủ trở về. Apelles trả lời chỉ bằng cách lấy một cây cọ và vạch lên một bảng vẽ một đường quá sức nhỏ và tinh tế. KhiProtogenes trở về, người phụ nữ không thể nói được tên của vị khách đã biến mất, nhưng Protogenes, khi nhìn thấy nét vẽ, đã thốt lên: “Chỉ Apelles mới có thể vẽ được nét đó”. Thế rồi ông vẽ một nét còn nhỏ và tinh tế hơn phía trong nét của Apelles, và yêu cầu người phụ nữa kia cho vị khách lạ nhìn xem nếu ông ta trở lại. Apelles đến, kinh ngạc trước kỹ thuật của đối thủ đang vắng mặt của ông, nhưng rồi vẽ ở giữa hai đường ban đầu một đường thứ ba, mảnh và tinh tế đến mức khi Protogenes nhìn thấy nó, ông ta thú nhận rằng Apelles đã vượt qua mình, và vội vã chạy tới bến cảng để đón đầu và chào đón bậc thầy kia.

Bảng vẽ ấy được lưu truyền như một kiệt tác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, được Julius Caesar mua, và đã thành tro bởi ngọn lửa thiêu rụi cung điện của ông ta trên đồi Palatine. Pliny bổ sung: một bức tranh của Apelles đã được bán với giá ngang với ngân quỹ của tất cả các thành phố. Không một phần nào của những kiệt tác này còn tồn tại được đến ngày nay.

Những tác phẩm điêu khắc đòi hỏi nhiều thời gian hơn, và thời gian bảo quản chúng. Ở nhiều khía cạnh, nghệ thuật đòi hỏi nhiều công sức này giờ đây đã đạt đến đỉnh cao của nó. Nó thiếu những kích thích của tín ngưỡng, và không đạt được đến tầm cỡ của những tranh tường và diềm trang trí của đền Parthenon, nhưng nó có được nguồn cảm hứng mới từ sự duyên dáng, thanh nhã đầy nữ tính, và nó đạt được vẻ yêu kiều mà chưa gì vượt qua được.

Ở thế kỷ 5 TCN, đàn ông khỏa thân và phụ nữ có vải che đã được dùng làm người mẫu; giai đoạn này lý tưởng hóa những kiểu mẫu của nó, và đã đúc hoặc đẽo cuộc đời bị vùi dập của loài người thành những dáng vẻ nghỉ ngơi vô cảm; thế kỷ 4 TCN đã cố gắng hiện thực hóa, bằng chất liệu đá, một thứ gì đó thuộc về tính cá nhân, cảm xúc, và nỗi đau của con người. Ở những bức tượng nam giới, phần đầu và khuôn mặt giữ vai trò quan trọng hơn, phần thân kém quan trọng hơn, việc nghiên cứu cá tính nhân vật thay thế việc thần tượng hóa hình thức; các bức chân dung trong đó trở thành xu hướng thời thượng. Phần cơ thể không còn được tạo theo lối dáng thẳng và cứng, mà được cho dựa một cách thoải mái vào một thanh chống hoặc một cái cây; và khối tượng được tạc theo lối có thể đưa vào đó cuộc chơi sống động của ánh sáng và bóng đố. Lysistratus của Sicyon, do quá nôn nóng khao khát đạt được tinh thần hiện thực chủ nghĩa, rõ ràng đã là người Hy Lạp đầu tiên đổ thạch cao lên mặt của người mẫu, và tạo ra một khuôn định hình.

Nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp dục tính đạt tới mức gần như hoàn hảo ở các tác phẩm của Praxiteles. Cả thế giới biết rằng ông đã tán tỉnh Phryne, và đã trao thậm chí cả kiếp sau cho vẻ yêu kiều của nàng, nhưng không ai biết ông sinh hoặc mất năm nào. Ông vừa là con trai của một nhà điêu khắc, và cũng là cha của một nhà điêu khắc, vì thế chúng ta khắc họa ông như đỉnh cao của một truyền thống nghệ thuật đầy tính kiên nhẫn của gia đình. Ông làm việc với chất liệu đồng thiếc cũng như đá cẩm thạch, và đã tạo dựng được danh tiếng lớn đến mức cả tá thành phố phải tranh giành nhau để có được sự phục vụ của ông.

Vào khoảng năm 360 TCN, thành Cos giao cho ông nhiệm vụ tạc một bức tượng nữ thần Aphrodite; với sự giúp đỡ của Phryne, ông đã hoàn thành nhiệm vụ đó, nhưng khi thấy nữ thần khỏa thân, người dân thành Cos đã sốc và cảm thấy đó là điều đi ngược luân lý. Praxiteles đã xoa dịu họ bằng cách tạo một nữ thần Aphrodite mặc quần áo, trong khi Cnidus mua bức tượng đầu tiên. Vua Nicomedes của Bithynia đã đề nghị được đứng ra trả hộ thành phố này khoản nợ công cực lớn để đổi lấy bức tượng, nhưng Cnidus thích những thứ có giá trị bất tử hơn. Các du khách đến từ mọi xó xỉnh của vùng Địa Trung Hải để chiêm ngưỡng bức tượng, các nhà phê bình tuyên bố rằng nó là bức tượng đẹp đẽ, tinh tế nhất từng được tạo ra ở Hy Lạp; người ta đồn rằng tinh thần của nhiều người đàn ông đã bị khuấy động đến mức rơi vào trạng thái yêu đương mê loạn khi họ chiêm ngưỡng bức tượng.

Nhà địa lý Pausanius nhận xét, một cách vắn tắt đến mức khó chịu, rằng nằm trong số các bức tượng tại Heraeum ở Olympia là một “Hermes bằng đá, đang bế Dionysus trong hình hài một đứa bé, được tạo bởi Praxiteles”. Những nhà khai quật người Đức đào bới ở khu vực ấy vào năm 1877 cho rằng thành công lớn nhất của họ trong lao động là việc tìm thấy bức tượng này, bị chôn vùi hàng thế kỷ dưới phế thải và đất sét, cứ như thế thời gian đã hoàn toàn không có mắt*. Không một mô tả, ảnh chụp, hay bộ khuôn nào có thể lột tả hết vẻ đẹp và giá trị của tác phẩm này, người ta phải đứng trước nó trong một bảo tàng nhỏ ở Olympia, và vuốt những ngón tay lên bề mặt của nó một cách vụng trộm, để thực sự cảm nhận bề mặt mịn màng và sống động của cơ thể bằng đá cẩm thạch này. Phần đầu là một khoái cảm đặc biệt, với hình dáng gợi cảm đầy chất quý tộc, sự tinh tế đã qua chạm trổ của những đường nét điềm đam và của mái tóc sóng sánh; bàn chân phải hoàn hảo - trong nghệ thuật tạc tượng, sự hoàn hảo là cực kỳ hiếm. Thời cổ đại, người ta chỉ xem đây là một tác phẩm bình thường, không đáng chú ý, đây là điều có thể hiểu được khi xét đến sự dồi dào về số lượng và chất lượng của những tác phẩm nghệ thuật của thời kỳ này.

Qua những tác phẩm ít ỏi còn sót lại của Praxiteles, chúng ta lại nhớ tới sự mạnh mẽ và uy nghi của Pheidias; các vị thần đã dọn đường cho Phryne, và những vấn đề vĩ mô của an sinh quốc dân đã bị đặt sang một bên để nhường chỗ cho tình yêu riêng tư. Nhưng không một nhà điêu khắc nào vượt qua được sự chắc chắn trong kỹ thuật của Praxiteles, thứ quyền năng gần như một phép mầu của việc thổi vào đá sự thanh nhàn nhã nhặn và tình cảm dịu dàng, niềm hân hoan của nơi núi rừng, và niềm hoan lạc dục tính.

Nằm ở miền giao thoa giữa điêu khắc và kiến trúc là lăng Halicarnassus*, một thành bang-thành phố mà Mausolus, người cai trị nó, được người vợ Artemisia yêu thương đến mức khi ông qua đời, vào năm 353 TCN, bà tập hợp Scopas và các nghệ sĩ khác để xây dựng và trang trí cho lăng mộ của ông. Đường diềm trang trí sống động, giờ đây nằm trong Bảo tàng Anh, là một trong những thành tựu đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp. Rất nhiều ngôn ngữ đều có một từ bắt nguồn từ cái tên của công trình này, và nó được người xưa xếp vào một trong Bảy Kỳ quan của Thế giới Cổ đại.

Cũng trong danh sách này, người xưa đã đưa vào ngôi đền thứ ba, được xây dựng ở Ephesus vào năm 356 TCN thờ nữ thần Artemis. Được dựng lên trong suốt 50 năm lao động, công trình này trở thành ngôi đền lớn nhất thế giới Hy Lạp cổ đại. Tại đó, nữ thần đồng trinh này được thờ phụng bởi người Hy Lạp với cái tên Artemis, sau đó được người La Mã thờ với cái tên Diana, rồi đến người Cơ Đốc giáo với danh xưng Mary, Mẹ của Thiên Chúa. Trong lịch sử, cũng như trên các tờ báo, chỉ có các cái tên và ngày tháng là thay đổi; các sự kiện luôn luôn chỉ là một.

PLATO

Chúng ta khám phá Plato ở thời kỳ trẻ trung về tâm trí, và tưởng tượng ra một nam thanh niên âu yếm triết học như một “niềm vui thú yêu dấu”, và hình dung ra một xã hội hoàn mỹ được dẫn dắt bởi những triết gia đầy phẩm hạnh, nhìn vào ông khi đã có tuổi, chúng ta khám phá ra rằng ông đã đề xuất một chính quyền được điều hành bởi những tên độc tài kiểm soát hoặc lưu đày các nghệ sĩ và thi sĩ, và bắt mọi người phải tuân theo một quốc giáo bằng cách sử dụng hình phạt tử hình. Làm thế nào ông ta có thể có sự chuyển hóa này?

Hãy cùng nhớ lại, từ những tìm hiểu sơ khai của chúng ta, rằng Plato sinh ra vào năm 427 TCN, trong một gia đình tốt và giàu có, rằng trong nhiều năm ông là một học trò đầy nhiệt huyết của Socrates, và sẵn sàng tán thành sự căm ghét mà Socrates dành cho chế độ dân chủ; rằng việc Socrates bị xử tử bởi một chính quyền dân chủ đã biến sự căm ghét ấy thành sự khinh miệt. Ông nhìn các chính trị gia dân chủ đáp ứng những ước muốn nhất thời của bầy đàn thường dân cho đến khi, trong quan điểm của ông, sự tự do đã trở thành tình trạng hỗn loạn vô chính phủ; và các tiêu chuẩn xưa về cách hành xử và thị hiếu, những thứ đã bảo vệ sự văn minh trong cách hành xử, luân lý, và nghệ thuật, đã bị suy tàn dưới ảnh hưởng của sự dung tục đang ngày càng lan rộng và chiếm ưu thế. Và ông đã để cho Socrates trong tưởng tượng của ông tiếp tục nói, như thể đang mô tả ngày nay:

Socrates: Trong một nhà nước như vậy, tình trạng cô chính phủ ngày càng lan rộng và len lỏi được vào những ngôi nhà riêng… Người cha quen với việc hạ mình xuống bậc của những đứa con trai, bà đứa con trai quen với việc bằng oai phải lứa với cha mình, không hề sợ cha mẹ, và không hề biết xấu hổ… Thầy giáo sợ và phải nịnh nọt học trò, và học trò coi thường những người thân của mình.

Adeimantus: Nhưng bước tiếp theo là gì?…

Socrates: Sự gia tăng quá mức của bất cứ thứ gì thường dẫn đến phản ứng theo hướng ngược lại… Sự thừa mứa tự do, ở cấp độ nhà nước hoặc cá nhân, dường như chỉ dẫn đến sự nô lệ… và hình thái tồi tệ nhất của sự chuyên chế bạo ngược thường nảy sinh từ những hình thái cực đoan nhất của tự do .

Trong cuốn thứ hai của bộ sách Cộng hòa (Republic), Plato đã xem xét một xã hội hoàn mỹ kiểu Cộng sản chủ nghĩa, nhưng đã giải thích rằng xã hội này không thực tế bởi con người, về bản chất, tuân theo tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, tham lam chiếm hữu, và, đôi khi, muốn giết người. Tiếp đó ông khắc họa một nhà nước “tốt thứ hai”, được tổ chức với trung tâm là một hệ thống giáo dục mở cho tất cả mọi người, và được cai trị bởi những “người bảo hộ” đã vượt qua được những bài khảo thí khắc nghiệt nhất của cái máy nghiền giáo dục mà vẫn còn sống và ở tuổi 50. Plato lập luận rằng những người bảo vệ này cần hoàn toàn không có tài sản, không tiền bạc, không vợ, nhưng chỉ tận tâm cống hiến cho triết học nhân sinh thuần túy và cao thượng; họ nên là một hòn đảo mang tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, cai trị một vùng biển của một nền kinh tế tự do xung quanh hòn đảo ấy, ít chịu ảnh hưởng của chính phủ. Họ sẽ giám sát, dựa trên những nguyên tắc ưu sinh, tất cả các cuộc hôn phối và tất cả các cuộc hôn nhân, người tốt nhất, thuộc bất cứ giới tính nào, nên được kết hôn với người tốt nhất với tần suất cao nhất có thể, và người thấp kém với người thấp kém; những đứa con mà họ nuôi nấng sẽ chỉ tuân theo một kiểu kết hôn, không bao giờ theo kiểu kết hôn còn lại, bởi đây là cách duy nhất để giữ đám đông trong trạng thái tốt nhất”.

Tất cả những đứa trẻ sẽ được nuôi dạy bởi nhà nước, và được trao cho cơ hội giáo dục công bằng; giai cấp không có tính cha-truyền-con-nối. Con gái sẽ có cơ hội ngang bằng với con trai; và sẽ không một vị trí nào được phép từ chối cho phụ nữ cơ hội chỉ vì họ là phụ nữ. Điều này có thể sẽ phi thực tế, nhưng Plato kết luận: “Chỉ khi nào các triết gia trở thành các vị vua, hoặc các vị vua và vương công của thế giới này có tinh thần và quyền năng của triết học,… các thành phố lẫn nhân loại mới ngừng đau khổ”.

Khi đã có tuổi, ông vẫn chưa mất hết nhiệt huyết dành cho xã hội hoàn mỹ, nhưng ông phản ứng chống lại sự buông thả triền miên của chế độ dân chủ của người Athens bằng tính độc tài trong tác phẩm quan trọng cuối cùng của mình, cuốn Luật pháp (Laws). Lý tưởng mới của ông là một xã hội nông thôn, được đặt ở vị trí vừa phải sâu trong đất liền để hoàn toàn không phải chịu sự quấy nhiễu của các tư tưởng ngoại lai. Số lượng cử tri sẽ là 5.040, bởi đó là một con số thuận tiện cho việc phân chia. Họ sẽ bầu ra 360 người bảo hộ, những người sẽ điều hành nền kinh tế và luật pháp, và sẽ bầu ra một Hội đồng Ban Đêm (Nocturnal Council) gồm 26 người, những người sẽ lập pháp cho tất cả các vấn đề tối quan trọng, bất kể về kinh tế hay văn hóa. Tất cả mọi người đều sẽ được khuyến khích làm một nông dân năng động người ta sẽ tránh tất cả các quy trình vận hành tài chính phức tạp; các di sản kinh tế sẽ bị giới hạn một cách nghiêm ngặt. Phụ nữ sẽ có cơ hội bình đẳng - về giáo dục, kinh tế, và chính trị. Việc uống rượu và giải trí nơi công cộng sẽ được điều tiết bởi tôn giáo, tín ngưỡng và nhà nước để bảo vệ các nguyên tắc luân lý của dân tộc. Sự tự do trong gia đình và nhà trường sẽ bị thay thế bằng thẩm quyền. Bởi sự tuân phục cha mẹ, thầy giáo, và luật pháp chỉ có thể được đảm bảo thông qua niềm tin vào những điều siêu nhiên, nhà nước sẽ quyết định những vị thần nào được tôn thờ, và tôn thờ như thế nào. Văn chương, khoa học, và nghệ thuật phải được kiểm duyệt để ngăn chặn sự lan tỏa của những tư tưởng nguy hại tới tín ngưỡng hoặc nhà nước. Bất cứ ai đặt nghi vấn về tôn giáo hoặc tín ngưỡng quốc gia sẽ bị bỏ tù, và nếu người đó vẫn khăng khăng tiếp tục, anh ta sẽ bị xử tử.

Khi triết gia nổi tiếng nhất Athens chỉ có được ít ý tưởng đến thế để nói về tự do, thì triết học hẳn là đã đến độ chín muồi cho một tín ngưỡng khác, và Hy Lạp đã đạt đến độ chín để có một vị vua khác.

ARISTOTLE

Chúng ta chơi đùa với Plato, nhưng chúng ta phải làm việc với Aristotle.

Một trong những trò chơi khăm của lịch sử là việc các đối thoại (Dialogues) của Plato, được nhiều người ưa thích, vẫn tồn tại và thường khiến chúng ta say mê, trong khi các bài chuyên luận của ông bị chôn vùi giữa những thứ trôi nổi vô giá trị của thời gian, còn các Công trình nổi tiếng của Aristotle đều đã tiêu tàn, và chỉ những bài chuyên luận của ông còn tồn tại, đòi hỏi sự quan tâm đầy nỗ lực và kiên trì, như một cái giá tương xứng cho những kiến thức đậm đặc bên trong chúng.

Là con trai của một thầy thuốc ở Stageirus thuộc vùng Thrace, ông thừa hưởng sự quan tâm tới nhiều môn khoa học. Khi tới Athens, ông ghi danh vào Học viện của Plato, nơi mà cổng chính có dòng chữ cảnh báo: “Những người nào chẳng biết chút gì về hình học không được phép vào đây”. Sau khi Plato qua đời, Aristotle tới cung điện của Hermeias,người đã học cùng ông ở Học viện, và đã vực dậy chính mình từ kiếp nô lệ trở thành người thống trị Atarneus và Assos ở Tiểu Á.

Aristotle kết hôn với Pythias, con gái của Hermeias, và khi ông chuẩn bị định cư lâu dài ở Assos thì Hermeias bị một người Ba Tư ám sát. Aristotle chạy trốn cùng Pythias tới Lesbos, nơi bà qua đời sau khi sinh cho ông một cô con gái. Sau đó ông kết hôn - hoặc sống cùng - Herpillis, một hetaira*, nhưng cho đến cuối đời ông vẫn một lòng dành hết yêu thương cho Pythias, và trước khi qua đời, ông yêu cầu được chôn cạnh bà. Ông không phải là gã mọt sách vô cảm dường như toát lên trong những tác phẩm còn sót lại của mình.

Năm 343 TCN, Philip mời ông tới Pella để dạy học cho hoàng tử Alexander, khi đó là một cậu nhóc ngông cuồng mới 13 tuổi. Aristotle đã dành rất nhiều công sức cho nhiệm vụ này trong suốt 4 năm. Vào năm 334 TCN, ông trở về Athens - có lẽ với sự hỗ trợ của các khoản ngân quỹ từ Alexander, lúc này đã là Vua Alexander - và mở một ngôi trường về hùng biện (văn chương và triết học). Ông chọn khu tập thể thao thanh nhã nhất Athens làm cơ sở cho ngôi trường này - một quần thể các công trình được xây dựng để tỏ lòng thành kính với Apollo Lyceus (Thần của những người chăn cừu) và được bao quanh bởi những khu vườn đầy bóng cây và những lối đi có mái che.

Ngôi trường ấy được gọi là Lyceum, và nhóm những người học tập ở đó cùng triết lý của họ được gọi là Peripatetic, dựa theo tên của những lối đi (peripator) nơi Aristotle vẫn thường thích đi bộ đồng thời đàm luận với học trò. Ông cho học trò tập hợp và sắp xếp kiến thức trong hầu hết các lĩnh vực: những phong tục, tập quán của các dân tộc ngoại quốc, hiến pháp của các thành bang Hy Lạp, biên niên sử của những người Hy Lạp chiến thắng trong những cuộc đấu thể thao ở Pythia và của những vở kịch ở nhà hát Dionysus ở Athens, các bộ phận bên trong và tập tính của động vật, các đặc điểm và sự phân bố của thực vật, lịch sử khoa học và triết học. Các nghiên cứu này trở thành một kho tàng dữ liệu mà dựa trên đó ông rút ra các thông tin - đôi khi một cách quá tự tin - để viết ra vô số bài chuyên luận đa dạng của mình. Nếu chúng ta lấy mẫu những bài chuyên luận ấy, chúng ta phải chuẩn bị tinh thần rằng sẽ không có cuộc đấu khẩu sôi nổi nào theo trường phái Plato, mà chỉ một con tàu chở đầy kiến thức và tư tưởng, và những trí huệ bảo thủ đến xứng tầm một người bạn kiêm người nhận trợ cấp của các vị vua*.

Trong khoa học, ông lấp đầy lĩnh vực này với các nghiên cứu bằng phương thức quan sát, báo cáo, và thí nghiệm, và là người đầu tiên tổ chức một nhóm nghiên cứu khoa học. Ông đã có cả trăm phát hiện xuất sắc, và cả trăm sai sót quá rõ ràng - chẳng hạn như khám phá chắc chắn của ông rằng phụ nữ có ít răng hơn nam giới. Nhưng tác phẩm Lịch sử động vật (History of Animal) của ông đã đạt tới mức gần như một thuyết tiến hóa và Chuyên luận về linh hồn (Treatise on the Soul) của ông đã định nghĩa linh hồn, hay tâm hồn, như “những sức mạnh” tối quan trọng của một sinh thể để nuôi dưỡng, sinh trưởng và phát triển, và suy tàn”. Khái niệm của ông về Thượng Đế với tư cách Động lực Chủ đạo (Prime Mover), hay năng lượng cơ bản và xuất hiện ở mọi nơi, ăn khớp với khái niệm ngày nay về thế giới, xem thế giới như luồng năng lượng đang vận hành.

Mục tiêu của hành vi là hạnh phúc, nhưng bí mật của hạnh phúc là phẩm hạnh, và phẩm hạnh tuyệt vời nhất là trí thông minh - một sự suy xét cẩn thận thực tế, mục tiêu, và phương thức; thông thường “phẩm hạnh” là một điểm trung bình “vàng” giữa các thái cực. Chính trị là nghệ thuật thỏa hiệp giữa các giai cấp cấu thành một xã hội. Tất cả mọi người sinh ra không bình đẳng, và những giai cấp phía trên sẽ sẵn sàng nổi loạn nếu mọi người bị ép phải tuân thủ một trạng thái bình đẳng bất tự nhiên, cũng như các giai cấp phía dưới sẽ nổi dậy khi trạng thái bất bình đẳng trở nên cực đoan đến mức bất tự nhiên. Vì thế, Aristotle ủng hộ một “timocracy” (cai trị bằng danh giá) - một sự kết hợp của chế độ quý tộc và chế độ dân chủ, trong đó quyền được bỏ phiếu sẽ được giới hạn cho các chủ sở hữu đất, và một giai cấp trung lưu đông đảo sẽ là điểm mấu chốt và là bánh xe cân bằng quyền lực.

Xét một cách tổng quát, Dante đã đúng khi gọi Aristotle là il maestro di color chi sano - “bậc thầy của các trí giả” - và châu Âu đã đúng khi gọi ông, trong suốt gần 1.500 năm, là ille philosophus - “triết gia”.

ALEXANDER

Học trò nổi tiếng của ông, Alexander, đã khiến thầy của mình hài lòng ở thời điểm một vài năm sau khi lên ngôi vua xứ Macedonia và tổng chỉ huy của tất cả các lực lượng Hy Lạp trong cuộc chiến chống Ba Tư. Alexander viết thư cho Aristotle rằng: “Về phần mình, con thà vượt qua những người khác ở lĩnh vực kiến thức về những điều tuyệt vời, còn hơn vượt qua họ ở việc mở rộng quyền lực và sự thống trị”. Plutarch kể rằng: “Ông ấy Có một khát khao mãnh liệt và niềm đam mê đối với học tập, và những thứ này lớn dần theo thời gian”. Nhưng những gì mà triết gia ấy dạy cho Alexander chỉ là một phần nhỏ trong số những ảnh hưởng định hình cá tính và chính sách của vị vua trẻ tuổi.

Ông vui vẻ tiếp nhận kế hoạch của cha ông, kế hoạch giải phóng phần lãnh thổ Hy Lạp ở châu Á khỏi tay người Ba Tư, nhưng ông mở rộng kế hoạch ấy qua mọi chiến thắng của mình. Mẹ ông tuyên bố rằng bà thuộc dòng dõi Achilles, và đối mặt với thói đa tình lăng nhăng của Philip bằng cách gợi ý rằng người cha thực sự của con trai bà là thần Amon; Alexander không bao giờ thẳng thắn phủ nhận phả hệ thần thánh và anh hùng này. Ông đọc đi đọc lại trường ca Iliad cho đến khi ông thuộc làu cả trăm đoạn, và ông ghen tị với Achilles vì vị anh hùng ấy đã có một Homer để kể lại, ca lên câu chuyện về mình. Ông căm thù thời gian mà ông dùng để ngủ, cho rằng ngủ và việc sinh sản khiến ông cảm nhận được rằng mình vẫn là người phàm.

Về thể chất, ông chỉ thua các vị thần. Ông xuất sắc trong mọi môn thể thao, và đi săn sư tử để giải trí, một lần, sau một trận đấu với một con sư tử, ông hài lòng khi nghe thấy nó nói rằng ông đã chiến đấu như thể cuộc đối đầu ấy là để quyết định xem ai mới xứng làm vua. Cả thế giới đều biết ông đã thuần phục con ngựa khổng lồ Bucephalus như thế nào, khi tất cả những kỵ sĩ khác đã thất bại. Không lâu sau đó, Philip thốt lên: “Con trai của ta, Macedonia quá nhỏ đối với con, hãy tìm một đế chế rộng lớn hơn, xứng đáng với con hon”. Thêm vào đó, Alexander đẹp trai hơn tất cả những vị vua trước đó.

Một thanh niên nhận được quá nhiều điều hoàn hảo và quyền lực như vậy không thể nào xây dựng được khả năng suy xét chín chắn hay một trí óc giàu hiểu biết. Một chiếc vương miện đã đặt gánh nặng lên vai ông từ khi ông mới 20 tuổi, chiến tranh và việc điều hành nhà nước đã thu hút tất cả tâm trí ông cho đến khi ông qua đời; thần Chết cướp ông đi ở năm thứ 33 của cuộc đời, trước khi ông có thể đạt đến trí tuệ rạch ròi của Caesar hoặc khả năng thấu hiểu ngay tức thì của Napoleon. Ông có thể nói năng xuất sắc, nhưng rơi vào cả trăm sai sót khi ông lan man về chính trị và chiến tranh. Ông vượt qua những định kiến giáo điều, nhưng cho đến cuối cùng vẫn là một nô lệ của sự mê tín; triều đình của ông đầy những nhà chiêm tinh. Ông có thể kiểm soát hàng triệu người, nhưng không thể kiểm soát tính khí của mình. Ông để cho khả năng suy xét của mình trở nên kém sáng suốt dưới ảnh hưởng của những xu nịnh hằng ngày. Ông sống trong cơn điên cuồng của sự phấn khích và vinh quang, và yêu chiến tranh đến mức ông hiếm khi biết đến một giờ bình yên nào trong tâm hồn.

Về mặt luân lý, ông cũng chưa bao giờ đạt được sự nhất quán hoặc trưởng thành. Về dục tính, ông khá đoan chính, không hẳn do ông tuân theo nguyên tắc, mà do ông làm theo các thiên kiến vốn có hơn. Ông lấy một vài người vợ, nhưng chỉ xem họ như những công cụ để trị quốc. Ông ga-lăng với phụ nữ, nhưng thích các tướng lĩnh và nam thiếu niên hơn; ông yêu Hephaestion trẻ tuổi đến điên dại, và trao cho tình bạn sự âu yếm và quan tâm chăm sóc tới mức những người đàn ông khác chỉ âu yếm và chăm sóc như vậy với người yêu. Ông khiến binh lính yêu quý mình bằng sự quan tâm ông dành cho họ; ông đánh cuộc mạng sống của họ, nhưng không phải một cách vô tâm, và ông có vẻ cảm nhận được tất cả những vết thương của họ. Ông hết lần này đến lần khác tha thứ cho sự mạo phạm, và kết bạn với những vị tướng bị bắt làm tù binh. Danh tiếng về sự rộng rãi của ông lan tỏa trên nhiều quốc gia. Nhiều nhóm quân địch cố tình để chính mình bị ông bắt làm tù binh, tự tin rằng sẽ nhận được những điều khoản dễ dãi từ ông; và các thành phố mở cổng khi ông đến mà không có sự phản kháng nào. Tuy nhiên ông là con trai của mẹ ông; ông mang dòng máu của một con hổ cái, và có thể trở nên mất kiểm soát dưới tác động của những thứ độc ác đến cực điểm.

Bạn biết câu chuyện về những cuộc chinh phạt của ông. Với 30.000 binh sĩ, ông đã đối đầu với người ta kể rằng) 600.000 quân Ba Tư ở sông Issus (năm 330 TCN), và đã làm quân địch hoang mang, đảo lộn bằng một lượng không thể đếm xuể những đợt di chuyển nhanh của kỵ binh, khiến địch phải bỏ cuộc và tháo chạy cùng vua Darius III, người bỏ cả hầu bao và công chúa của mình lại đằng sau. Alexander tiến tới chiếm lấy các thành Damascus, Sidon, và Tyre, tiếp nhận sự đầu hàng của thành Jerusalem một cách đầy lịch sự, hành quân xuyên qua sa mạc Sinai để tới Ai Cập, đánh đuổi người Ba Tư (những người đã cai trị nơi đây kể từ năm 525 TCN), lập ra thành Alexandria, hành quân trở lại châu Á, đối đầu với đội quân khổng lồ đa ngôn ngữ của Darius III ở gần Arbela, dù lúc đầu đã mất hết tinh thần trước quân số của phe địch, đến nỗi các binh lính của ông phải động viên: “Xin hãy phấn chấn lên, thưa ngài,… chúng sẽ không thể nào chịu được mùi lũ dê đang bám vào người chúng ta đâu”. Lòng quả cảm, kỵ binh, các đội pha-lăng, và sự tiếp nhận một cách có kỷ luật sự điều binh khiển tướng sáng suốt cuối cùng đã giúp họ chiến thắng, Darius III một lần nữa tháo chạy và bị giết chết bởi đoàn tùy tùng của mình. Alexander chiếm Babylon, hành quân tới Susa, phát hiện ra kho tàng mà chính quyền nơi đó đã tích lũy được, và chia một phần những của cải ấy cho những người lính của ông.

Say sưa trong chiến thắng và vàng bạc, ông dẫn đội quân đang do dự của mình vượt qua dãy Himalaya để tới Ấn Độ. Ông vượt qua sông Indus, đánh bại Vua Porus, và tuyên bố ý định tiếp tục tiến tới sông Hằng. Nhưng những người lính của ông đã kiệt quệ về cả thể chất lẫn tinh thần; họ biết rằng họ đang bỏ lại gia đình và nền văn minh Hy Lạp ở sau lưng, bỏ xa hơn bao giờ hết; ngay đến chiến thắng cũng đã trở thành điều nhàm chán. Ông đành buồn bã chịu khuất phục trước họ, và theo họ trở về Ba Tư trong một cuộc rút lui, dài và đầy tai họa gần bằng cuộc rút lui của Napoleon ra khỏi Moscow. Khi họ tới Susa, 10.000 người trong số họ đã chết vì nóng và khát.

Giờ đây, giữa những người Ba Tư, Alexander cảm nhận rằng những chiến binh của ông đã chinh phục được một dân tộc còn văn minh hơn chính những chiến binh ấy. Ông ấp ủ ý tưởng về những cuộc hôn phối giữa những người bị chinh phục và những người chinh phục; ông cưới hai Công chúa Ba Tư, và đề xuất với các sĩ quan và binh lính của mình rằng họ nên cưới các Cô dâu Ba Tư. Hàng nghìn người trong số họ đã làm vậy. Ông mở mang đất đai ở Ba Tư và Lưỡng Hà cho quá trình thực dân hóa của Hy Lạp. Ảnh hưởng qua lại của các nền văn hóa đa dạng đã đẩy quá trình Hy Lạp hóa vùng Cận Đông đi xa hơn, và rồi, bằng một làn sóng theo chiều ngược lại, đã tạo điều kiện cho dòng chảy về phía Đông của các tôn giáo phương Đông, cứ như thế, Do Thái giáo - và sau này là Cơ Đốc giáo - đã lan tỏa trên khắp vùng Aegean, và một tín ngưỡng ra đời ở Jerusalem đã trở thành tôn giáo của châu Âu.

Alexander vẫn mơ về các chiến thắng và những lục địa, nhưng binh lính của ông đe dọa nổi dậy chống đối. Cuối cùng, ông cho phép họ trở về nhà, nhưng ông thêm vào một lời quở trách: “Hãy trở về và nói lại rằng các người đã ruồng bỏ vua của các người và để ông ấy lại trong sự bảo vệ của những người ngoại quốc vốn bị các người chinh phục”. Rồi, theo một câu chuyện có lẽ không có thật, ông lui về phòng và từ chối nhìn mặt bất cứ người nào. Bị giày vò bởi cảm giác ăn năn, các thủ lĩnh của cuộc nổi loạn tới và quỳ trước cửa phòng ông, nói rằng họ sẽ không rời đi chừng nào ông chưa tha thứ và tiếp nhận họ lại vào quân đội của ông. Khi cuối cùng ông cũng xuất hiện, họ bật khóc và nhất quyết xin được hỗn ông; và sau khi làm hòa với ông, họ trở lại doanh trại, hô vang một bài hát tạ ơn. Si non è oero o ben tromato .

Khi ông ở Ecbatana với đội quân của mình, người bạn trẻ Hephaetion mà ông yêu mến qua đời. Cảm thấy một nửa máu thịt của mình đã bị xé mất, Alexander bật khóc trong nỗi thương tiếc không kiềm chế nổi. Trở lại Babylon, ông buông thả chính mình trong men rượu. Một đêm, khi đang chè chén say sưa với các sĩ quan của mình, ông đề xuất một trận đấu rượu. Promachus nốc cạn 12 quart* rượu và thắng cuộc, nhận được một talent vàng (12.000 đô-la); ba ngày sau ông qua đời. Không lâu sau đó, một bữa yến tiệc khác, Alexander uống hết 6 quart. Vào đêm tiếp theo, ông lại tiếp tục uống rất nhiều, thời tiết lạnh đột nhiên ập đến; ông lên cơn sốt và được đưa về giường. Ông nằm ở đó suốt 11 ngày, và rồi qua đời vào năm 323 TCN, thọ 32 tuổi. Khi các tướng lĩnh hỏi ông xem ông để lại đế chế của mình cho ai, ông trả lời: “Cho người mạnh nhất”.

Thật may mắn khi ông qua đời ở đỉnh cao của đời mình; nếu sống thêm vài năm nữa, ông gần như chắc chắn sẽ vỡ mộng. Có lẽ, nếu ông sống thêm, thất bại trên chiến trường và đau khổ sẽ khiến ông thêm sâu sắc và có thể ông sẽ học được - như ông đang bắt đầu khi ấy - yêu việc trị quốc hơn chiến tranh. Nhưng ông đã chịu đựng quá nhiều, sức nặng của việc giữ cho vùng lãnh thổ đang ngày càng bành trướng của ông không bị chia cắt, và của việc giám sát tất cả những phần của nó, rất có thể đang khiến bộ óc xuất sắc của ông trở nên hỗn loạn. Nhiệt huyết chỉ là một nửa của thiên tài, nửa còn lại là khả năng kiểm soát; và toàn bộ những gì Alexander có là nhiệt huyết.

Chúng ta nhớ - mặc dù chúng ta không có quyền mong đợi - ở ông sự trưởng thành điềm tĩnh của Caesar, hay trí huệ tinh tế của Augustus. Chúng ta ngưỡng mộ ông như chúng ta ngưỡng mộ Napoleon), bởi ông một mình chống lại một nửa thế giới, và bởi ông động viên chúng ta với suy nghĩ về sức mạnh phi thường tiềm tàng trong linh hồn của một cá nhân.

Và chúng ta có một niềm đồng cảm tự nhiên dành cho ông, bất chấp những điều mê tín và hành vi tàn nhẫn của ông, bởi chúng ta biết rằng ít nhất ông cũng là một người trẻ tuổi hào phóng và giàu tình cảm trìu mến, đồng thời có lòng quả cảm và năng lực không ai sánh bằng; rằng ông đã chiến đấu chống lại một dòng máu man rợ điên cuồng mà ông thừa hưởng trong huyết quản; và rằng sau tất cả những chiến trận và đổ máu, trước mắt ông vẫn là giấc mơ mang ánh sáng thành Athens tới thế giới rộng lớn ngoài kia.

« Lùi
Tiến »