Vào năm 1820, Shelley đã viết “Giai đoạn xen giữa ngày sinh của Pericles và ngày mất của Aristotle là… giai đoạn đáng nhớ nhất lịch sử thế giới”.
Athens đã thống trị kỷ nguyên ấy trong văn minh châu Âu, bởi nó đã lãnh đạo người Hy Lạp tới chiến thắng trước người Ba Tư ở Marathon (năm 490 TCN) và ở Salamis (năm 480 TCN), và đã trỗi dậy từ những khoảng thời gian khó khăn này với một lực lượng hải quân giúp nó giành được quyền kiểm soát thương mại ở Địa Trung Hải, kiểm soát những đồng minh cũ của nó, và kiểm soát quốc khố, được tập trung ở một ngôi đền trên đảo Delos. Thành phố nhỏ ở Attica này đã trở thành nơi được mọi người công nhận là đầu não của Đế quốc Athens.
Để cai trị vùng đất này, các công dân hết lần này đến lần khác bầu Peticles, con trai của Xanthippus, lên nắm quyền. Ông có được tất cả các lợi thế về dòng dõi và giáo dục. Cha ông đã chiến đấu ở Salamis; mẹ ông là cháu gái của Cleisthenes cao quý, người đã cho Athens một hình thái dân chủ ở bậc cao hơn. Theo Plutarch, Pericles trẻ tuổi “có hình thể hoàn hảo, ngoại trừ việc đầu ông hơi dài và có tỉ lệ bất thường”; những người chỉ trích ông hẳn đã rất thích thú với cái đầu dài độc đoán của ông. Ông nhận được sự kèm cặp giảng dạy rất tốt ở các môn chính trị, âm nhạc và văn chương, và trở thành một học trò hăng hái của Anaxagoras và Socrates, và là chồng của Aspasia - người phụ nữ có tư tưởng tự do nhất vào thời của bà.
Ông giành được danh tiếng bằng khả năng hùng biện của mình, ấy thế nhưng những bài nói của ông thiếu nhiệt huyết, và chỉ hấp dẫn những cái đầu trưởng thành. Plutarch mô tả rằng ông “rõ ràng không nhiễm phải sự suy đồi ở bất cứ dạng nào, và vượt lên trên mọi toan tính về tiền bạc”; tuy nhiên, những thứ này dễ dàng đến với một người trước đó đã may mắn thừa hưởng sự đủ đầy về vật chất và tinh thần.
Nhận thấy rằng giới quý tộc chủ đất đang bước lệch nhịp với sự phát triển của nền kinh tế thương mại, ông đã hòa vào nhóm các demos - một nhóm đang ngày càng lớn gồm những người dân tự do của Attica. Với tinh thần ngưỡng mộ và vì chân lý đã được duy trì từ lâu, cử tri đoàn từ năm 467 đến năm 428 TCN đã 30 lần chọn Pericles vào ban cai trị strategoi (những người lãnh đạo đất nước); họ thường chọn ông làm strategos autokrator, tức chỉ huy trưởng. Ông củng cố quyền kiểm soát của mình đối với quần chúng bằng cách sắp xếp việc chi trả cho các dịch vụ tư pháp hoặc các suất xem kịch ở Nhà hát Dionysus hoặc các trận đấu thể thao chính thức. Vị trí quan chấp chính, trước đó chỉ dành cho người giàu, giờ đã rộng mở cho tất cả các giai cấp. Ông tạo việc làm cho những người thất nghiệp bằng cách khánh thành những công trình công cộng lớn, chẳng hạn như xây dựng “Trường Thành”, bọc Athens và các bến cảng của nó - Phalerum và Piraeus - trong một vùng khép kín mà kẻ địch chỉ có thể xâm nhập bằng đường biển, mà đường biển lại được kiểm soát chặt chẽ bởi hạm đội của đế quốc.
Với hy vọng biến thủ đô của mình trở thành đỉnh cao về thành tựu văn hóa của toàn cõi Hy Lạp, và xây dựng lại những điện thờ cổ xưa, vốn đã bị người Ba Tư hủy hoại như một tiền đề cho trận chiến ở Salamis, Ở một quy mô hoành tráng hơn, ông điều động các nghệ nhân của Athens và những người vẫn còn thất nghiệp vào một chương trình táo bạo để trang trí kiến trúc thành Acropolis. Để có ngân sách cho công trình khổng lồ này, ông đã thuyết phục Quốc Hội, lúc ấy còn ngần ngại, chuyển cho Athens khoản quốc khố mà Liên Bang Delian đã tích lũy được và đang giữ ở Delos, nơi khoản quốc khố ấy không được dùng vào việc gì và không được an toàn; và sử dụng một phần của quốc khố ấy cho mục đích làm đẹp cho một thủ đô sôi động.
Trong khi những công trình này được xây dựng, và Pericles dành sự bảo hộ và ủng hộ đặc biệt cho Pheidias, Ictinus, và các nghệ sĩ khác, những người đang lao động để hiện thực hóa giấc mơ của ông, ông cũng bảo trợ cho văn chương và triết học; và trong khi ở các thành phố Hy Lạp khác trong giai đoạn này, phần lớn năng lượng của người dân bị tiêu tốn vào các xung đột giữa các đảng phái, và văn học suy yếu, thì ở Athens, kích thích từ lượng của cải vật chất ngày một lớn lẫn mức tự do dân chủ ngày một cao được kết hợp với sự lãnh đạo sáng suốt để tạo ra Thời kỳ Hoàng kim. Khi Pericles, Aspasia, Anaxagoras, và Socrates cùng nhau đến xem một vở kịch của Euripedes ở Nhà hát Dionysus, Athens có thể chứng kiến tận mắt đỉnh cao và sự thống nhất của đời sống Hy Lạp - nghệ thuật quản lý nhà nước, nghệ thuật, khoa học, triết học, văn chương, tôn giáo, và luân lý không phát triển theo những con đường riêng rẽ như trong các trang sách, mà đan dệt vào với nhau thành một sợi tơ đa sắc của lịch sử một quốc gia.
CON NGƯỜI
Một số phương diện của Thời kỳ Hoàng kim này có thể mang tính cảnh báo và khiến chúng ta cảm thấy bị xúc phạm, nhưng chúng ta vẫn phải nói qua về chúng, ngay cả khi chỉ để tránh sự lý tưởng hóa đầy lãng mạn về một khung cảnh mà trong đó “con người vẫn chỉ là con người”.
Đầu tiên, trong số 315.000 cư dân của bán đảo nhỏ mang tên Attica, chỉ 43.000 người là công dân có quyền bầu cử, và có 115.000 nô lệ. Những nô lệ này được tuyển từ những tù nhân chiến tranh không được chuộc lại, từ những cuộc cướp bóc nô lệ ở các thành bang không phải của người Hy Lạp, và từ các tội phạm và lưu manh đã bị đánh dấu. Các thương nhân Hy Lạp mua nô lệ như mua hàng hóa, và bán họ ở Athens, Corinth, hoặc bất cứ nơi nào họ tìm được người mua. Ở Athens, tồn tại những khu chợ (như ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mãi tới năm 1863) mà ở đó nô lệ trần truồng bị kiểm tra và bị mua. Ngay đến công dân nghèo nhất cũng có một nô lệ; Aeschines, để chứng minh sự nghèo khó của mình, phàn nàn rằng anh ta chỉ có 7 nô lệ. Tất cả những người khai mỏ, bao gồm cả các kỹ sư và quản Đốc, đều là nô lệ, và tất cả các hầm mỏ ở Attica và người khai mỏ đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước.
Nền kinh tế Athens chủ yếu vẫn là nền kinh tế nông nghiệp. Công nghiệp được triển khai chủ yếu trong nhà, nhưng Athens có một vài công xưởng; Pericles sở hữu một trong số đó. Người Hy Lạp tham lam bắt đầu thích thương mại hơn công nghiệp; việc mua rẻ ở nơi này và bán đắt ở nơi khác trở thành một nửa sự sống của Hy Lạp. Con đường dài 8 km giữa Athens và cảng chính của nó, cảng Piraeus, vào ban ngày thường tràn ngập các hoạt động trao đổi buôn bán. Các con thuyền buôn, được đẩy đi bằng cả sức gió trên những cánh buồm lẫn mái chèo của nô lệ (đôi khi một con thuyền có tới 200 nô lệ chèo), đẩy mũi thuyền xuyên qua vùng biển ấy với tốc độ 8 dặm một giờ*, tới hàng trăm trung tâm buôn bán trên các bờ biển phía Đông và phía Nam của Địa Trung Hải.
Với vị thế thống trị trên biển và sự thịnh vượng về thương mại, con người ngày càng xa hoa và các chuẩn mực luân lý đi xuống. Gái mại dâm đầy rẫy, và các vị khách của họ hiếm khi phải chịu bất cứ chỉ trích nào từ dư luận. Athens chính thức Công nhận và hợp pháp hóa ngành này, và đánh thuế những người hành nghề. Một số người trong số này đã được đào tạo về âm nhạc, khiêu vũ, và các hình thức giải trí khác. Đẳng cấp cao nhất trong số họ - hetairai, hay bạn đồng hành, săn tìm cơ hội được giáo dục, và họ giải trí cho các vị khách có học thức bằng cách bàn luận về văn chương, nghệ thuật, hoặc triết học, một trong số họ đã phục vụ Sophocles, còn một người khác - Aspasia - đã kết hôn với Pericles.
Vấn đề của họ không phải nằm ở luật lệ, mà ở các chàng trai. Các thương nhân nhập khẩu các thanh niên đẹp đẽ để bán cho người nào trả giá cao nhất, những người sau đó sử dụng các thanh niên này như những “người thiếp” và rồi như những nỗ lệ. Luật pháp Athens nghiêm cấm các mối quan hệ đồng tính, nhưng dư luận dung thứ cho những mối quan hệ ấy. Khi Plato, trong cuốn Phaedrus, nói về tình yêu của con người, thực chất ông muốn nói đến tình yêu đồng tính; và những người tranh luận trong tác phẩm Symposium của ông đã nâng tầm tình yêu ấy lên trên cả tình yêu giữa nam giới và nữ giới.
Aristotle đã chỉ ra nguyên nhân của tập quán sợ hãi tình trạng dân số quá đông, có lẽ nó là một phần của di sản Phương Đông của châu Âu, và nguyên nhân chủ yếu của nó có lẽ là tình trạng phụ nữ bị cô lập khỏi xã hội. Đời sống của các agora*, phòng tập thể thao, và các trường đấu vật ở Athens chỉ phô ra trước mắt giới trẻ hình thể của nam giới, thậm chí mãi đến thời Praxiteles, tức một thế kỷ sau thời của Pericles, nghệ thuật mới nói về vẻ đẹp hình thể của phụ nữ. Trong cuộc sống hôn nhân, đàn ông hiếm khi tìm thấy sự đồng hành về tinh thần ở nhà; sự hiếm hoi về cơ hội giáo dục ở phụ nữ đã tạo ra một hố sâu ngăn cách hai giới, và đàn ông tìm đến những người không phải vợ mình để tìm kiếm những nét hấp dẫn mà họ không cho phép những người phụ nữ của mình có được. Đối với người Athens, mái ấm của anh ta không phải một tòa thành mà là một ký túc xá; từ sáng đến tối, trong phần lớn các trường hợp, anh ta sống trong thành phố, và ở đó anh ta hiếm khi có những mối liên hệ xã hội với những phụ nữ đáng tôn trọng. Xã hội Hy Lạp là xã hội của một giới tính, và nó đã bỏ lỡ niềm phấn khích, sự thanh nhã, và sự kích thích mà tinh thần và những nét quyến rũ của phụ nữ đem đến cho nước Ý thời Phục hưng và nước Pháp thời kỳ Khai Sáng.
Hậu quả là một người đàn ông Athens điển hình khi ấy thiếu những yếu tố mềm mỏng hơn trong cá tính. Anh ta sống với những người đàn ông khác, chỉ trừ trong 6 năm đầu đời; và nhân cách khi trưởng thành của anh ta được định hình bởi khu chợ, bởi những cuộc cạnh tranh trong thương mại, bởi những vấn đề chính trị, triết học, và chiến tranh, bởi ảnh hưởng qua lại mạnh mẽ giữa những cái đầu thực dụng nhưng đã đánh mất tính luân lý dựa trên nền tảng tín ngưỡng. Người Hy Lạp có thể thừa nhận rằng cách tốt nhất vẫn là trung thực, nhưng trước tiên họ phải thử mọi cách khác đã.
Thrasymachus, tức Nhà Ngụy Biện (Sophist), cho rằng sức mạnh đi đôi với lẽ phải, và Thucydides, người vĩ đại nhất trong số các sử gia người Hy Lạp, đồng ý với Thrasymachus ở tất cả những vấn đề khác. Đa số người Hy Lạp nhân từ với động vật và tàn ác với con người; họ thường xuyên sử dụng tra tấn để lấy thông tin từ những nô lệ chưa bị buộc tội, và ngủ ngon lành sau khi tàn sát một thành phố chỉ toàn những người dân thường không vũ trang, tuy nhiên, những người bị áp bức và săn lùng ở những thành bang khác tìm được sự che chở đồng cảm ở Athens. Chiến tranh theo kiểu này hay kiểu khác là tình trạng bình thường ở Hy Lạp khi ấy. Người Hy Lạp gặp người Hy Lạp trong cả nghìn trận chiến; và, một thế kỷ sau trận Marathon, nền văn minh rực rỡ nhất lịch sử cổ đại đã thiêu tàn chính nó trong một cuộc chiến 27 năm, một cuộc chiến gần như đúng nghĩa là một cuộc tự tử tầm quốc gia.
Người Athens quá xuất sắc, đến nỗi họ không thể làm người tốt, và họ khinh miệt sự thuần phác còn hơn cả khi họ ghê tởm sự trụy lạc. Không một dân tộc nào có trí óc nhanh nhạy hơn hay cái lưỡi hoạt bát hơn họ. Suy nghĩ rõ ràng, và sản phẩm của nó - cách diễn đạt rõ ràng - dường như là những thứ thần thánh đối với một người Athens; anh ta không có chút kiên nhẫn nào đối với sự ngu muội do a dua, và xem việc đàm luận thông minh và với đầy đủ thông tin cần thiết là biểu hiện cao nhất của văn minh. Anh ta đồng ý với Protagoras rằng con người là thước đo của vạn vật. Khao khát được biết và hiểu là đam mê cao quý nhất của anh ta, và đam mê ấy thái quá chẳng kém gì các đam mê khác. Sau đó, anh ta sẽ khám phá ra các giới hạn của lý trí, và sẽ rơi vào một trạng thái bi quan, trái ngược một cách kỳ lạ với sự sôi nổi tự nhiên trong tinh thần của anh ta. Thậm chí, giữa sự sôi nổi của thời Pericles, suy nghĩ của những người đàn ông sâu sắc nhất trong suy nghĩ của anh ta - những người không phải là các triết gia mà là các nhà viết kịch - cũng không được sáng suốt do ảnh hưởng của sự tồn tại ngắn ngủi của cái đẹp và tính dai dẳng kiên trì của cái chết.
NGHỆ THUẬT DƯỚI THỜI CỦA PERICLES
Tính ham muốn truy cầu của cải vật chất ở người Hy Lạp chỉ bị giới hạn bởi một tình yêu mãnh liệt dành cho cái đẹp. Một nhân vật trong tác phẩm Yến tiệc (Banquet) của Xenophon đã nói: “Tôi thề có tất cả các vị thần rằng tôi thà chọn cái đẹp còn hơn quyền lực của vua Ba Tư”. Và một nhân vật trong tác phẩm Kinh tế học (Economics) của Xenophon bổ sung: “Dù những kẻ không Có trí tuệ có chế nhạo thế nào, vẫn đẹp đẽ làm sao khi được nhìn thấy những chiếc nồi nấu ăn được sắp xếp có ý nghĩa và có sự đối xứng. Nhờ có tính đối xứng, vạn vật, không có ngoại lệ, trông sẽ đẹp đẽ khi được sắp xếp vào trật tự”.
Niềm yêu thích dành cho tính trật tự và tỉ lệ, cho hình thức và nhịp điệu, cho sự chính xác và tính rõ ràng, là thực tại chiếm vị trí trung tâm trong văn hóa Hy Lạp. Nó đi vào hình dạng và chi tiết trang trí của mọi cái bát và mọi cái bình, cả mọi bức tượng và mọi bức tranh, của mọi ngôi đền và mọi lăng mộ, của mọi bài thơ và mọi vở kịch, của tất cả những công trình khoa học và triết học của người Hy Lạp; nó chỉ không xuất hiện trong cách hành xử, tín ngưỡng, và thuật quản lý nhà nước của người Hy Lạp. Nghệ thuật Hy Lạp là biểu hiện rõ ràng của lý trí: tranh Hy Lạp là logic của đường nét, điêu khắc Hy Lạp là sự tôn thờ tính đối xứng, kiến trúc Hy Lạp là hình học bằng đá cẩm thạch. Không có sự phung phí nào về cảm xúc trong nghệ thuật thời Pericles, không có bizarrerie (như trong nghi lễ thờ thần Dionysus), tức sự kỳ quặc về hình thức, không có nỗ lực nào để đạt đến cái mới thông qua cái dị thường hoặc hiếm gặp; theo ghi chép của Thuycides, Pericles đã nói “chúng ta yêu những thứ đẹp đẽ mà không hoang toàng”. Mục đích của nghệ thuật không phải là thể hiện một cách bừa bãi vô vàn chi tiết của cái có thật, mà bắt và nắm giữ được cái cốt lõi của mọi vật, và khắc họa những khả năng lý tưởng về hình thức và sự sống.
Bất kể những người theo chủ nghĩa lãng mạn ở độ tuổi ít trưởng thành hơn hâm mộ người đàn ông Hy Lạp về điều gì, người đàn ông ấy cũng không phải là một người yêu cái đẹp có tính cách ẻo lả, lẩm bẩm về những bí ẩn của nghệ thuật vị nghệ thuật. Anh ta coi nghệ thuật như cái thứ yếu so với đời sống, và xem việc sống là nghệ thuật vĩ đại nhất trong tất cả các nghệ thuật; anh ta có một sự thiên vị lành mạnh mang tinh thần của chủ nghĩa vị lợi, chống lại bất cứ vẻ đẹp nào không có tác dụng thực tế, trong suy nghĩ của anh ta, cái hữu dụng, cái đẹp, và cái tốt gắn bó với nhau chặt chẽ tới mức chút nữa là ngang với trong triết học của Plato. Với cảm thức sinh động về thành bang của mình, anh ta đồng nhất bản thân với sức mạnh và vinh quang của thành phố của anh ta, và dùng đến cả nghìn nghệ sĩ để tô điểm những nơi công cộng, để tán dương những lễ hội, và để tưởng nhớ đến lịch sử của thành phố.
Trên hết, anh ta muốn tôn vinh và xoa dịu các vị thần, để biểu lộ lòng biết ơn vì cuộc sống, sự giải thoát, hay chiến thắng anh ta dâng những hình ảnh làm vật hiến tế, tiêu xài hoang phí vào các đền thờ, và tạc tượng để cho các thần hoặc người đã khuất của anh ta một bản sao bền vững bằng đá. Vì thế, nghệ thuật Hy Lạp không nằm trong bảo tàng, nơi người ta suy ngẫm về nó trong sự kinh ngạc mà họ phải đi vay mượn, mà nằm ở những mối quan tâm và Công trình thực sự của người dân. Nghệ sĩ ở nơi đây không phải một người phải sống ẩn dật trong một xưởng và không trả được hết nợ, làm việc bằng một ngôn ngữ xa lạ với người dân bình thường, anh ta là một thợ thủ công đổ bao mồ hôi và công sức cùng những người lao động ở đủ mọi đẳng cấp trong các công trình nghệ thuật công cộng và dễ cảm thụ. Athens đã quy tụ, từ khắp nơi trên toàn cõi Hy Lạp, một tập hợp các nghệ sĩ cũng như nhà thơ và triết gia, một tập hợp lớn hơn ở bất kỳ thành phố nào khác ở châu Âu cổ đại; và những người đàn ông này, cạnh tranh trong tinh thần ganh đua sôi sục và cộng tác với nhau dưới sự quản trị sáng suốt, đã hiện thực hóa những tưởng tượng của Pericles thành những tác phẩm mang tầm vóc hùng tráng.
Tôi sẽ không nói gì về nghệ thuật gốm của người Hy Lạp, ngoại trừ nhắc lại cho bạn rằng Keats đã nhìn thấy nhiều đến thế nào trên một cái bình được tô vẽ của Hy Lạp cổ đại, “cô dâu trầm lặng thuần khiết” ấy; có quá nhiều điều để tìm thấy ở bất cứ thứ gì nếu chúng ta cảm nhận nó trong “khoảng thời gian chậm và tĩnh lặng”. Nhưng ngày nay làm thế nào chúng ta có thể cảm nhận được cái thiên tài của các họa sĩ thời Pericles như Polygnotus hay Zeuxis, những người gần như chẳng để lại được cho chúng ta một đường nét nào, một đường nét chưa bị xóa đi bởi lịch sử vô tâm và vốn đã phải gánh vác quá nhiều? Tôi chỉ có thể kể cho bạn một câu chuyện về Zeuxis: khi một họa sĩ khác khoe khoang về khả năng vẽ nhanh của anh ta, ông đã trả lời một cách trầm tĩnh: “Tôi thì phải mất nhiều thời gian”.
Điêu khắc đạt được những thành tựu rực rỡ hơn hội họa. Tôi sẽ nói về chỉ hai kiệt tác trong thời kỳ đó. Sự ra đời của Thần Aphrodite (The Birth of Aphrodite) là một niềm khuây khỏa bằng đá cẩm thạch được tìm thấy trong phế tích của Biệt thự kiểu La Mã mang tên Ludovisi vào năm 1887: nữ thần của sắc đẹp, với cái tên nghĩa là “sinh ra từ bọt biển”, đã nổi lên từ mặt biển trong chiến thắng trước một cơn sóng khổng lồ. Hoặc bạn có thể sẽ thích bức tượng Discobulos, hay Người ném đĩa, được đúc bằng đồng thiếc bởi Myron vào khoảng năm 470 TCN; vận động viên này không thể hiện sự điên cuồng của những cơ bắp đang căng lên, mà là một người đàn ông điềm tĩnh trong sự tự tin về khả năng của mình, một người đàn ông tinh tế và nhạy cảm, người có thể viết được các cuốn sách nếu anh ta hạ cố làm việc ấy.
Pheidias, người mà không ai trước thời Michelangelo có thể sánh kịp ở mảng điêu khắc, rất được Pericles yêu quý với tư cách một người ngốn hàng đồng vàng một cách thiếu thận trọng và cũng là thủ lĩnh của nhóm những nhà điêu khắc làm việc ở công trình Parthenon. Ông đã thiết kế các nhóm và những hình tượng nhân vật để trám vào các khoảng trống trên các metope*, đường diềm trang trí, và trán tường, và để các học trò triển khai bản thiết kế ấy. Bản thân ông đã đúc cho thành Acropolis ba bức tượng nữ thần hộ vệ cho thành phố, nữ thần Athena. Bức tượng nổi tiếng nhất trong số đó, Athene Parthenos, cao khoảng 11,5m ở đền Parthenon với tư cách nữ thần đồng trinh của trí huệ và sự trong trắng.
Đền Parthenon “của các trinh nữ” chỉ là một trong nhiều kiệt tác kiến trúc ra đời ở Athens và các thành phố trực thuộc quyền kiểm soát của nó trong thời Pericles nắm quyền điều hành. Cuộc tàn phá của người Ba Tư ở thủ đô này vào năm 480 TCN đã khiến gần như mọi công trình có giá trị hoặc nổi bật bị thiêu rụi. Những người chiến thắng trở về ban đầu đã mất hết tinh thần trước đống đổ nát; nhưng hậu phương nông nghiệp đã gửi cho họ lương thực, những hạm đội bách thắng của họ đã gửi họ thực phẩm từ rất nhiều thị trấn, quốc khố ở Delos đã cung cấp ngân sách, và lợi nhuận từ việc giao thương còn đem đến nhiều thứ khác; tài hùng biện của Pericles đã làm rung động lòng dũng cảm và tự hào trong 18 năm cuối cùng của cuộc đời ông (447- 429 TCN) thành phố này đã cấp 60.000.000 đô-la cho kiến trúc, điêu khắc, và hội họa. Các khoản tiết kiệm của người giàu được phân phát cho các nghệ sĩ, nghệ nhân, và nô lệ, và Athens trở thành một kỳ tích của thế giới trong suốt một thế kỷ.
CÁC TRIẾT GIA
Giữa những sung túc chưa từng có này, khoa học và triết học bắt đầu được người ta chú ý đến. Nhiều thành phố Hy Lạp - trên hết là Sparta - đã cấm quần chúng suy nghĩ về các học thuyết triết học, “bởi sự ghen tị và xung đột và những cuộc bàn luận vô bổ mà các học thuyết ấy dẫn đến” (theo lời Athenaeus). Nhưng ở Athens dưới thời Pericles, niềm vui tuyệt vời” của triết học (như Plato đã gọi) đã thu hút trí tưởng tượng của các tầng lớp có học thức, người giàu mở của ngôi nhà của họ theo cách mà người ta làm trong thời kỳ Khai Sáng ở Pháp; các triết gia được xem như những danh nhân, và các cuộc tranh luận thông minh được vỗ tay cổ vũ không kém gì những cú đánh mạnh mẽ trong các cuộc thi Olympic.
Trong giai đoạn này, từ Sicily,Empedocles kỳ bí, thầy thuốc, người ăn chay và cũng là một nhà thơ, đã tới Athens, và ông đã giải thích cặn kẽ một học thuyết về sự tiến hóa của loài người và tất cả các chủng loài khác thông qua cuộc đấu tranh sinh tồn, sự sống sót và lựa chọn của chủng loại phù hợp nhất, và sự loại bỏ hình thái và chủng loài thông qua các hình thái suy thoái từ bên trong. Democritus đến từ Abdera, vùng phía Bắc vốn bị cho là man rợ, và ông nói với người Athens rằng chẳng thứ gì trên thế giới này thực sự tồn tại, ngoại trừ các hạt vật chất, và rằng ý nghĩ chỉ đơn thuần là những hạt siêu nhỏ và mịn. Nhưng Zeno của Elea đã tới Athens từ trước đó và khiến cho các triết gia thích thú với những câu đố trí tuệ được thiết kế để chứng minh thuyết duy tâm tâm lý của thầy ông, Parmenides* - rằng vật chất chỉ có thể được nhận biết qua tâm trí, vì thế, về mặt logic, chủ nghĩa duy vật là phi logic. Triết học trở thành một cơn sốt ở Athens, và các chính khách bảo thủ bắt đầu lo sợ về sự suy tàn của các nguyên tắc luân lý và của thành bang.
Vào khoảng năm 440 TCN, Anaxagoras, một người bạn của Pericles, xuất bản bài chuyên luận mang tên Về Tự nhiên (On Nature). Nó khắc họa vũ trụ như một khối cố kết của các hạt, được ban cho sức sống bởi một nous, tức một tâm trí, có tính vật lý mong manh, giống căn nguyên của sự sống và chuyển động trong chúng ta. Tất cả các sinh vật ban đầu đều được sinh ra từ đất, hơi ẩm, và nhiệt, và sau đó cứ thế sinh vật này sinh ra sinh vật tiếp theo. Tất cả các hiện tượng đều nên được giải thích bằng các nguyên nhân tự nhiên. Khi không tìm được cách nào để làm Pericles suy yếu, Cleon thợ thuộc da, đối thủ chính trị của Pericles và theo trường phái mị dân, đã mua một bản cáo trạng chính thức về tội bất kính, cáo buộc Anaxagoras với tội mô tả Mặt Trời (vào thời gian đó, mọi người vẫn coi Mặt Trời là một vị thần) như một khối đá đang bốc cháy, và theo đuổi vụ án một cách quyết tâm đến mức triết gia này vẫn bị kết tội bất chấp nhũng bào chữa của Pericles (khoảng năm 434 TCN). Anaxagoras đã chạy trốn tới Lampsacus ở Hellespont, và vài năm sau ông mất tại đó ở tuổi 73.
Rõ ràng, trong tâm trí của nhóm thiểu số trí thức ở Athens, nỗi sợ hãi các vị thần đã phai mờ. Có hai quá trình dẫn đến điều này: sự phát triển của tầng lớp trung lưu được du ngoạn ở khắp nơi, và sự lan tỏa của giáo dục thứ cấp thông qua các học giả liên tục đi hết nơi này đến nơi khác và giảng giải về thuật hùng biện, văn chương, khoa học, triết học, và chính trị. Một số người trong số họ, chẳng hạn như Protagoras, gọi chính mình là sophistai, tức “người dạy trí huệ”; một số người trong số họ đòi các khoản phí cao. Bởi nhiều người trong số các học trò của họ đã đánh mất đức tin tôn giáo, những người thầy bị buộc tội lừa đảo bằng nguy biện để ăn tiền, một tội danh vẫn gắn chặt vào tên họ cho đến nay. Protagoras đã khiến cả thời đại của ông phải giật mình khi tuyên bố rằng “con người là thước đo của vạn vật”, và ngay tại nhà của Euripides, ông đã thuyết giảng về một học thuyết bất khả tri chứa đầy sự thẳng thắn: “Nói về các vị thần, tôi không biết họ có tồn tại hay không”. Quốc Hội Athens ra lệnh cho ông rời khỏi Athens; nó dùng quân đội để tịch thu tất cả các bản in các cuốn sách của ông và đốt chúng ngay giữa chợ.
Chính trong bối cảnh xung đột này, chúng ta phải nhìn vào sự nghiệp và số phận của Socrates. Ông có lẽ là người nổi tiếng nhất trong những người Hy Lạp thời Pericles; một nửa thế giới phương Tây biết đến cái đầu hói, khuôn mặt rộng, cái mũi dày, và bộ râu trải rộng của ông, người vợ bị ông bỏ mặc; cái cách khó chịu mà ông dùng để đặt câu hỏi cho người khác trong khi hiếm lúc nào ông đưa ra quan điểm hay quyết định rõ ràng, nhưng chúng ta nghe được rất ít, trong những câu chuyện của ông về triết học, về thiên hướng từ bỏ đức tin tôn giáo của các học trò của ông. Một trong những người trẻ tuổi có thái độ hoài nghi này là con trai của Anytus, thủ lĩnh của đảng dân chủ ở Athens. Anytus không thích những chỉ trích mà Socrates dành cho chế độ dân chủ. Ông ta trực chờ cơ hội tiêu diệt Socrates - nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng đến với đỉnh cao của kịch Hy Lạp cổ đại đã.
KỊCH HY LẠP
Bình thường, triết học của thời đại này là văn chương của thời đại tiếp theo: các tư tưởng và vấn đề được tranh cãi trong lĩnh vực suy tưởng và nghiên cứu ở thế hệ này cung cấp cho thế hệ tiếp theo một nền tảng về kịch nghệ, các tác phẩm nghệ thuật hư cấu, và thi ca. Nhưng ở Hy Lạp, văn chương không tụt lại phía sau triết học, các thi sĩ chính là các triết gia, có tư duy riêng, và nằm trong số những người tiên phong của thời đại họ. Xung đột giữa tư tưởng bảo thủ và tư tưởng cấp tiến, thứ khuấy động tôn giáo, khoa học, và triết học Hy Lạp cũng được biểu hiện trong thi ca và kịch nghệ, thậm chí trong việc viết sử; Thucydides đã sáng tạo ra các lời thoại cho các nhân vật lịch sử của ông để họ đóng vai nhà triết học. Do chiều sâu của những suy nghĩ có tính suy tưởng giờ đây đã có thêm sự xuất sắc của hình thức thể hiện mang tính nghệ thuật - thông qua các con chữ Hy Lạp, văn chương của Thời kỳ Hoàng kim đã vươn tới những đỉnh cao mà sau này mãi tới thời của Shakespeare và Montaigne người ta mới lại đạt đến.
Vào khoảng năm 500 TCN, những băng ghế gỗ của một nhà hát quan trọng ở Athens đã sụp gãy, gây lo lắng đến mức chính quyền đã xây dựng, trên một triền dốc của thành Acropolis, một nhà hát ngoài trời hoành tráng, chủ yếu bằng đá, mà họ dành dâng tặng thần Dionysus. Trong đại công trình không có mái che ấy, mọc lên dưới dạng những bậc đá khổng lồ hình bán nguyệt hướng về phía đền Parthenon, và nhìn ra núi Hymettus và biển, các vở bi kịch và hài kịch của người Hy Lạp đã được diễn, để tỏ lòng tôn kính với các vị thần, và trước các đại tư tế và quan chức của thành bang; và trong những vở kịch ấy, người ta tranh cãi về một giai đoạn vẫn đang tiếp tục tồn tại của cuộc chiến đó - giữa đức tin cũ và triết học mới - kết lại thành một quá trình tư duy dài rộng và thay đổi lịch sử bên trong của Hy Lạp cổ đại.
Ngay từ năm 460 TCN, khi Pericles 35 tuổi, Aeschylus đã cho ra đời vở kịch vĩ đại đầu tiên của mình, Prometheus Bound. Ông kể câu chuyện về một người đàn ông, người đã thách thức các vị thần bằng cách dạy cho loài người nghệ thuật của lửa và sự văn minh, và đã bị trừng phạt, dưới mệnh lệnh của thần Zeus, bằng việc bị xích vào một tảng đá ở vùng Caucasus, và trái tim của ông bị một con kền kền móc và ăn rồi lại được hồi sinh và bị ăn lần nữa, cứ thế lặp đi lặp lại. Trong phần kết đã thất lạc của bộ ba bi kịch, Aeschylus mô tả Prometheus làm hòa với thần Zeus; nhưng chủ đề “con người nổi dậy chống lại một vị thần độc ác” đã tồn tại qua 22 thế kỷ để rồi được biểu hiện một cách hoang dã trong vở kịch Prometheus unbound của Shelley.
Trong một bộ ba bi kịch khác; vở Oresteia (năm 458 TCN), Aeschylus bàn về cả hai phía đối lập của cuộc tranh luận, và khắc họa các tội ác của con người vừa ở dạng được cảm thông, vừa ở dạng bị trừng phạt bởi các vị thần. Agamemnon, khi hạm đội bị mắc kẹt trên đường tới thành Troy do không có gió để dong buồm, đã giết con gái mình, Iphigenia, trong một nghi lễ hiến tế để nhận được từ các vị thần một cơn gió hỗ trợ hạm đội. Trong khi ông vây hãm thành Troy, vợ ông, Clytemnestra, khi ấy đã không còn chút tình yêu nào dành cho chồng, đã giao mình cho Aegisthus. Trên đường trở về từ thành Troy, Agamamnon bị giết bởi người vợ đang trong trạng thái lo sợ và tình nhân của bà ta. Con trai của bà, Orestes, lớn lên giữa những nỗi kinh hoàng này, và khi bị xúi giục bởi chị gái mình là Electra, đã giết mẹ và Aegisthus, và sau đó bị truy đuổi trong cả thế giới thực lẫn trong tâm trí bởi cơn thịnh nộ không nguôi của các vị thần đang sôi sục ý muốn trả thù. Làm thế nào mà bao nhiêu xấu xa như vậy đi vào nghi lễ thờ cúng, và vào tâm hồn con người? Bộ ba bi kịch đẫm máu này không đơn thuần là một câu chuyện về giết người. Nó là một bản cáo trạng mạnh mẽ cho cả con người lẫn những thần thánh mà họ đã tưởng tượng ra. Sau các trường ca Iliad và Odyssey, vở kịch Oresteia này là thành tựu cao nhất của văn chương Hy Lạp, và có lẽ chính Shakespeare cũng chưa bao giờ cho ra tác phẩm nào đạt đến đỉnh cao này.
Vào năm 468 TCN, Aeschylus, khi ấy 57 tuổi, để vuột mất giải thưởng kịch nghệ vào tay một thanh niên 27 tuổi, người mang cái tên đầy thách thức Sophocles - nghĩa là “Sáng suốt và được hoan hô”. Ông có cả hai đặc điểm này, bởi ông giành hết giải thưởng này tới giải thưởng khác, cả trong Nhà hát Dionysus lẫn trên sân khấu cuộc đời. Cha ông làm ra các thanh kiếm và trở nên giàu có, bởi người Hy Lạp đam mê chiến tranh. Người con trai không chỉ có được gia sản lớn mà còn có diện mạo đẹp và sự thiên tài, ông là một cầu thủ, người chơi đàn hạc, và vũ công điêu luyện. Ông trở thành bạn của Pericles và giữ vị trí quan trọng dưới Pericles; vào năm 443 TCN, ông là người giữ quốc khố; vào năm 440 TCN ông là một vị tướng hàng đầu. Ông rất ngoan đạo, và yêu thích cảm giác hoan lạc; ở tuổi trưởng thành ông thích các chàng trai, nhưng về già ông thích những cô gái làng chơi hạng sang. Ông tận hưởng mọi hương vị của cuộc sống, đến mức trước đó chưa một người đàn ông nào có cuộc đời sung sướng như ông, và sống tới năm 91 tuổi.
Không ai ngoại trừ các học giả biết đến các vở kịch của ông, mãi cho tới tận thế kỷ của chúng ta, khi Freud và các học trò của ông nói với chúng ta rằng một cô gái như Electra sẽ thường yêu cha mình và ghen tị với mẹ mình, trong khi một chàng trai có dòng máu thuần khiết như Oedipus sẽ, ngay cả khi không chủ định, giết cha mình và cưới mẹ mình. Sophocles không đáng bị kết tội vì đã thổi phồng những câu chuyện điên loạn hiếm gặp này, khi đó ông chỉ đơn thuần đang kể lại một câu chuyện quen thuộc với các thính giả của mình. Cái mà ông bổ sung là cấu trúc tinh vi của các vở kịch, và dòng chảy du dương trong những lời thơ trang trọng của ông. Hình thức thể hiện của ông là “kinh điển” một cách điển hình: trau chuốt, điềm đạm, và yên bình, mãnh liệt nhưng có chừng mực, mọi câu đều có giá trị, mọi sự kiện đầu tiến về phía cao trào, và hé lộ ý nghĩa quan trọng.
Dẫu thế nào, là một người hâm mộ những thứ cổ điển, yêu thích những thứ lãng mạn, tôi vẫn thích Euripides hom. Ông lãng mạn một cách không hề ngần ngại: thấm đẫm lý trí của mình bằng cảm xúc, căm ghét sự bất công một cách điên cuồng, mơ mộng về những thế giới tỉnh táo sáng suốt hơn. Chỉ 18 trong số 75 vở kịch của ông còn tồn tại đến ngày nay, nhưng gần như tất cả đều tham gia vào chiến dịch chống lại sự mê tín, áp bức, và chiến tranh của ông. Ông nói với người dân Athens rằng các vị thần mà người ta yêu cầu họ tôn thờ là những tưởng tượng trẻ con, tàn nhẫn hơn là nhân từ. Ông mô tả Medea với tất cả sự bạo lực và hận thù man rợ của Cô ta, nhưng ông nói với những người đàn ông kiêu hãnh - những người cai trị Athens - rằng:
Trong tất cả những thứ đổ máu và phát triển trên thế giới,
Loài thảo dược bị bầm giập nhiều nhất là phụ nữ.
Chúng ta phải trả (bằng một khoản hồi môn)
Kho hàng của chúng ta, được tích trữ vì cái ngày đó,
Để mua cho chúng ta một tình yêu nào đó của đàn ông; và nhìn xem, họ mang đến
Một người chủ của thân xác chúng ta!… Và rồi cả nguy cơ hiểm nghèo,
Người chủ ấy sẽ vì cái tốt hay vì cái xấu.
Mái nhà không bao giờ dạy được cho cô ta điều đó - đâu là cách tốt nhất để dẫn dắt
Cái thứ nằm ngủ bên cạnh cô ta hướng đến sự yên bình;
Và cô ấy, người đã lao động trong thời gian dài, sẽ tìm ra cách nào đó
Để chúa tể của cô ta thông cảm với cô, thay vì khó chịu
Cái ách của ông ta quá khắc nghiệt, từng hơi thở mà người phụ nữ ấy có được
Đã là một niềm hạnh phúc! Nếu không, hãy để người phụ nữ ấy cầu nguyện được chết.
Tác phẩm táo bạo nhất của ông là vở Những người phụ nữ thành Troy (The Trojan Women), ra đời năm 415 TCN, ngay giữa cuộc Chiến tranh Peloponnesus kéo dài và tàn khốc giữa Athens và Sparta; tác phẩm này dám thể hiện cảm giác của kẻ địch bị đánh bại; khắc họa sự trơ trọi của thành Troy sau khi những người chiến thắng thiêu rụi thành phố, và khi họ lấy những góa phụ về làm thiếp hoặc nô lệ. Vua Priam đã chết; con trai và cũng là người kế vị ông, Hector, đã chết trong trận đánh với Achilles; Hecuba, người góa phụ đã già và là vợ vua Priam, cầu xin Andromache, vợ Hector, chịu nhún nhường để làm thiếp trong im lặng, với hy vọng những kẻ bắt giữ cô có thể tha chết cho đứa con nhỏ của cô, Astyanax, mang dòng dõi hoàng gia. Nhưng người Hy Lạp sợ rằng đứa bé ấy sau này có thể sẽ đòi báo thù và cả ngai vàng thành Troy; họ giết chết đứa bé bằng cách quăng nó qua tường thành. Xác của đứa bé được mang đến cho Hecuba để được chôn cất tử tế; bà đã nói với nó trong một đoạn cao trào về cảm xúc và lòng dũng cảm kiểu Euripides, thách thức những người Hy Lạp khi ấy đã chiến thắng và khiến họ phải xấu hổ:
(Bà ôm lấy cái xác.)
HECUBA: Ôi, cái chết của cháu bi thảm biết bao, cháu nhỏ của ta!…
Cánh tay mềm mại của cháu, cháu như được đúc ra từ cùng một khuôn
Với con trai ta… Và đôi môi kiêu hãnh, tràn đầy hy vọng,
Và đã khép lại vĩnh viễn! Những lời cháu nói
Và lúc bình minh, khi cháu trườn vào giường của ta,
Gọi ta bằng những cái tên trìu mến, và hứa,“Bà ơi,
Khi bà mất, cháu sẽ cắt ngắn tóc
Và dẫn tất cả các đội trưởng cưỡi ngựa qua
Mộ bà”. Tại sao cháu lại lừa bà như vậy? “Chính ta,
Già, không nhà, không con cháu, mới là người để cháu khóc thương
Những giọt nước mắt lạnh lẽo, hỡi đứa cháu nhỏ, đứa cháu đã chết một cái chết đau khổ.
Thần linh ơi! Tiếng bộp bộp dễ chịu của đôi chân cháu,
Nựng nịu trong lòng ta; và ôi, sự ngọt ngào
Khi ngủ cùng cháu! Tất cả đều không còn nữa.
Một thi sĩ sẽ khắc lên tấm bia mộ như thế nào đây
Để kể được cho chân thật câu chuyện của cháu? “Yên nghỉ nơi đây
Một em bé mà người Hy Lạp đã phải sợ, và trong nỗi sợ hãi của mình
Họ đã giết chết nó”. Ôi, xứ Hy Lạp sẽ ban phước lành cho câu chuyện mà nó kể!
Ôi, con người thật mong manh,
Những người hạnh phúc trong niềm hân hoan và không hề biết sợ hãi,
Trong khi những may rủi của thời gian
Nhảy qua nhảy lại như một kẻ ngốc nghếch trong gió!…
(Bà bọc đứa bé trong những tấm vải khâm liệm.)
Vinh hạnh cho y phục Phrygia, thứ mà ta đã nghĩ
Sẽ giữ cho ngày cưới của cháu với một Nữ Hoàng phương Đông từ nơi xa xôi nào đó,
Giờ đây ôm lấy cháu trong vĩnh hằng.
Làn sóng phẫn nộ của công chúng đối với Những người phụ nữ thành Trong khiến Euripides cảm thấy rằng, ngoại trừ Socrates, ông không còn một người bạn nào ở Athens, Pericles khi ấy đã qua đời từ lâu. Năm 408 TCN, ở tuổi 72, ông chấp nhận lời mời tới làm khách của Vua Archelaus ở Pella, thủ đô của Macedonia. Tại đó, trong suốt 18 tháng, ông tìm thấy sự thoải mái và yên bình, và ở đó, vào năm 406 TCN, ông qua đời: những người Hy Lạp cuồng tín nói rằng ông bị tấn công và xé thành nhiều mảnh bởi bầy chó săn hoàng gia.
Tên tuổi của ông lại được đông đảo quần chúng biết tới, thậm chí cả quần chúng ở Athens, sau khi ông qua đời. Những ý tưởng mà ông đã đấu tranh để bảo vệ trở thành những hệ khái niệm có địa vị thống trị trong các thế kỷ tiếp theo, và thời kỳ Hy Lạp hóa nhìn nhận ông và Sophocles như những tác nhân tri thức vĩ đại nhất mà đất nước Hy Lạp từng biết tới. Những vở kịch của những người trước thời ông đã gần như rơi vào quên lãng, trong khi các vở kịch của ông được người ta dựng lại hằng năm, và dựng lại ở bất cứ nơi nào trong thế giới Hy Lạp mà người ta có được một sân khấu. Khi người Athens thất bại trong cuộc viễn chinh của họ tới Syracuse (năm 415 TCN) và các tù binh Athens đối mặt với một cuộc sống không khác nào cái chết trong tư cách những nô lệ bị xiềng xích tại các mỏ đá ở Ý, những người nào (theo lời Plutarch) có thể đọc lại các đoạn văn từ các vở kich của Euripides sẽ được trao trả tự do. Sự hồi sinh của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa nhân đạo vào thế kỷ 18 và thế kỷ 19 đã khiến Euripides gần như trở thành một hình tượng đương đại. Xét một cách tổng quát, chỉ Shakespeare sánh được với ông; và Goethe thậm chí còn không nghĩ như vậy. Goethe hỏi: “Tất cả các quốc gia trên thế giới này đã bao giờ sinh ra được một nhà viết kịch đủ tầm để xách dép cho ông ấy chưa?” Không quá một người.
THẢM HỌA
Phần còn lại của lịch sử Athens thời Pericles là một decrescendo doloros - một khúc thoái trào đáng buồn. Từ những đỉnh cao về kịch nghệ, chúng ta chuyển sang những hài kịch của Aristophanes - xuất sắc, thô lỗ, tàn nhẫn; chế giễu Pericles, Euripides, và Socrates; Công kích chế độ dân chủ, chủ nghĩa hoài nghi, và tình trạng buông thả về luân lý; kêu gọi việc quay về với một giá trị đạo đức gần như đã bị lãng quên, và kêu gọi kết thúc cuộc chiến.
Vào năm 431 TCN, Sparta và Athens bắt đầu Chiến tranh Peloponnesus, một cuộc chiến kéo dài 27 năm, gieo rắc nghèo đói và tàn nhẫn, khiến tinh thần người dân Hy Lạp trở nên u ám. Thucydides đã tham gia vào cuộc xung đột này, và ghi lại từng chi tiết của nó trong một trong những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới. Sparta, lo sợ sự bủa vây của đế chế và hạm đội đang ngày một mạnh của Athens, đã tập hợp các đồng minh, tuyên bố chiến tranh, xâm lược Attica, và tàn phá hoàn toàn vùng đất này. Athens, khi ấy đã không chú ý đến bộ binh của nó mà chỉ dựa dẫm quá nhiều vào các hạm đội, không thể bảo vệ được vùng đất hậu phương và buộc phải kêu gọi những người dân của nó tới và sống bên trong các bức tường thành. Tại đây, các gia đình đông đúc đẻ ra cả một thế hệ sống trong vây hãm, cái đói, bệnh dịch, và tình trạng rối ren về chính trị. Pericles qua đời (năm 429 TCN), sau 2 năm đầu của cuộc chiến, và người Athens, khi ấy đã mệt mỏi với nền dân chủ quý tộc của ông ta, đã quy phục một tập đoàn đầu sỏ chính trị gồm những kẻ mị dân, những kẻ dẫn dắt người dân từ tai ương này sang tai ương khác.
Cuối cùng (năm 404 TCN), cuộc chiến kết thúc, để lại một Athens hỗn loạn và mất hết tinh thần. Lợi dụng sự hỗn loạn về chính trị này, một nhóm các quý tộc, được lãnh đạo bởi Critias, đã thiết lập Hội đồng Ba Mươi để cai trị Athens (năm 404 TCN). Nó tịch thu tài sản và đánh mất sự hậu thuẫn của nhiều thương nhân giàu có, nó cướp bóc của cải từ các đền thờ, và bán các bến tàu của thành phố Piraeus, vốn đáng giá cả nghìn talentl vàng, với giá chỉ 3 talent*; nó trục xuất 5.000 người theo tư tưởng dân chủ, và giết 1.500 người khác, nó tước đoạt quyền tự do hội họp và tự do ngôn luận; và Critias cấm Socrates tiếp tục những bài nói chuyện trước Công chúng của ông.
Tất cả những sai lầm của chế độ dân chủ trước đó đã bị lãng quên, khi các khủng hoảng do những tên đầu sỏ chính trị gây ra nhân lên gấp nhiều lần. Số người bắt đầu tìm cách chấm dứt tình trạng bạo ngược này, thậm chí cả những người có thu nhập lớn đáng kể, tăng lên từng ngày. Khi 1.000 người dân chủ có vũ trang, dưới sự lãnh đạo của Thrasybulus, tiến tới gần Piraeus, Critias đã dẫn đầu một nhóm nhỏ chống lại họ, bị đánh bại và bị giết chết. Thrasybulus vào thành Athens và phục hồi chính quyền dân chủ.
Nằm trong số những người dân chủ chiến thắng ấy là Anytus, người mà những năm trước đó đã thề sẽ báo thù Socrates vì một số tổn thương trong tranh biện và sự “suy đồi” của con trai ông ta. Ông ta không thể quên được rằng, khi ông bị Hội đồng Ba Mươi trục xuất, con trai ông đã ở lại Athens với Socrates, và đã trở thành một gã nghiện rượu. Đối với Anytus, dường như Socrates, hơn bất cứ Sophist nào khác, gây ảnh hưởng xấu xa lên tín ngưỡng và luân lý, và đã phá hoại niềm tin vào chế độ dân chủ ở những người Athens có giáo dục. Bạo chúa Critias là một trong những học trò của Socrates; Alcibiades vô đạo đức và phản nghịch là một kẻ yêu quý Socrates ra mặt, Charmides, người được Socrates yêu quý nhất ở thời gian đầu, vừa chết trong trận chiến chống lại chế độ dân chủ. Đối với Anytus, dường như hoàn toàn hợp lý khi triết gia này phải rời khỏi Athens - hoặc chết.
Bản cáo trạng được đưa ra bởi Anytus, Meletus, và Lycon vào năm 199 TCN. “Socrates là một kẻ xúc phạm Công lệ ở chỗ ông ta không công nhận những vị thần mà thành bang Công nhận… Ông ta cũng phạm tội khi khiến cho các thanh niên trở nên suy đồi”. Phiên đấu tố được tổ chức trước một tòa án quần chúng bao gồm khoảng 500 Công dân, phần lớn thuộc tầng lớp không có học vấn. Socrates đáp lại rằng ông tin vào các vị thần của thành bang, thậm chí tin vào cả vị thế thần thánh của Mặt Trời và Mặt Trăng. Ông từ chối thề sẽ giữ im lặng: “Ta sẽ không bao giờ ngừng thực hành và giảng dạy triết học… Bất kể các người làm điều gì, hãy biết rằng ta sẽ không bao giờ thay đổi những cách ta đã chọn, ngay cả khi ta có phải chết nhiều lần”. Ông bị tuyên bố có tội bởi một nhóm chiếm đa số, gồm 60 người.
Ông đã có đặc quyền đề nghị một hình phạt thay thế án tử hình, trước sự thúc giục của Plato và những người bạn khác, những người bảo lãnh cho lời cam kết của ông, ông đề nghị phương án trả một khoản phạt 30 minas (khoảng 5.000 đô-la?). Lần bỏ phiếu thứ hai của bồi thẩm đoàn kết tội ông, với 80 phiếu nhiều hơn lần thứ nhất. Bạn ông đề nghị hối lộ để ông có đường trốn thoát; ông từ chối, nói rằng ông chỉ đang từ bỏ phần già yếu và nhiều gánh nặng nhất trong cuộc đời mình.
Thời kỳ Hoàng kim kết thúc với cái chết của Socrates. Athens đã cạn sạch cả về thể xác lẫn linh hồn, và trải qua sự xuống cấp về cá tính, một tình trạng đã tiếp diễn qua cả một thế hệ của những xung đột tàn nhẫn. Hai thứ duy trì được thành bang này: sự phục hồi của chế độ dân chủ, và ý thức rằng, trong 60 năm vừa qua, thậm chí trong cuộc chiến, thành bang này đã sản sinh ra nghệ thuật và văn chương vượt lên trên sản phẩm của bất cứ giai đoạn ngắn ngủi nào khác trong ký ức loài người.
Anaxagoras đã bị trục xuất, và Socrates đã bị xử tử, nhưng sự kích thích dành cho triết học khi ấy đã đủ để khiến Athens tạo ra, trong 60 năm tiếp theo, những hệ tư tưởng mà trong nhiều thế kỷ sau đó sẽ phát triển rực rỡ ở châu Âu. Không lâu nữa, những Sophist lang thang sẽ được thay thế, trong giáo dục bậc đại học, bởi các viên đại học trong tương lai sẽ biến Athens thành “ngôi trường của Hy Lạp cổ đại.” Trong đổ máu và tình trạng rối ren của những xung đột, các truyền thống về nghệ thuật vẫn chưa suy tàn; Apelles và Praxiteles không lâu nữa sẽ tới; và trong nhiều thế kỷ nữa, các họa sĩ, nhà điêu khắc, và kiến trúc sư của Hy Lạp sẽ vẽ, tạc, và xây dựng cho thế giới của văn minh Địa Trung Hải.
Từ trong tuyệt vọng của thất bại, Athens đã vực dậy chính nó, với sức mạnh đáng ngạc nhiên, để đạt được sức mạnh, văn hóa và sự thịnh vượng mới; và mùa thu trong cuộc đời của thành bang này đã đem lại những thành quả phong phú.