Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1542 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
đường tới pericles

Những người Hy Lạp cổ đại là ai, và họ đến từ đâu? Họ đến từ mọi phương trời: từ Tây Á, từ những hòn đảo ở biển Aegea, từ Crete, Ai Cập, và bán đảo Balkan, một số người thậm chí còn đến từ “Scythia” - tức, miền Nam nước Nga. Họ chăn cừu, làm đất, trao đổi buôn bán, xây dựng những ngôi làng và thị trấn, chiến đấu trong các cuộc chiến tranh, và thần phục những tù trưởng hoặc vua như Agamemnon của Mycenae hay Codrus của Athens.

Nền văn minh của người Mycenae rất có thể bắt nguồn từ Crete và Ai Cập, trong khi những khu định cư của miền Đông Hy Lạp có vẻ đã du nhập các yếu tố văn hóa từ Tây Á và các hòn đảo ở biển Aegea. Sự hòa trộn giữa cái tinh vi của người châu Á và người Crete, cái tao nhã của người Ai Cập, với sức sống có phần man rợ của những bộ tộc đến vùng đất Hellas* ở này từ phương Bắc dường như đã thiết lập nền tảng sinh học của “vinh quang mà một thời là Hy Lạp”.

MỞ RỘNG LÃNH THỔ

Quan trọng hơn cả sự lai hòa sắc tộc ở trên là sự mở rộng lãnh thổ và phát triển đáng kinh ngạc của người Hy Lạp trong suốt lịch sử của các nền văn minh Địa Trung Hải, từ văn minh Byzantine mà sau này trở thành Constantinople cho đến những “Trụ cột của Hercules” mà sau này trở thành Gibaltar. Bất kể là trong cuộc trốn chạy khỏi sự xâm lăng của người Dorian hoặc các cuộc xâm lăng khác, hoặc để giảm nhẹ gánh nặng tăng trưởng dân số của chính họ, người Hy Lạp, trong 6 thế kỷ từ Agamemnon đến Pericles, đã gửi những nhóm dân dôi dư, những người đầy tinh thần thám hiểm của họ, từ Attica và bán đảo Peloponnesus đi thiết lập các vùng định cư của người Hy Lạp ở nhiều nơi, có thể xa xôi về phương Bắc như Crimea, nơi Orestes tìm thấy Iphigenia; xa xôi về phương Đông như Colchis, ở phía bên kia Biến Đen, nơi Jason tìm thấy Medea và Bộ lông cừu Vàng; dọc theo những bãi biển phía Nam của Biển Đen và những bãi biển ở phía Đông của Địa Trung Hải… Chúng ta hãy nán lại đây một lúc, bởi dọc theo đường bờ biển nổi tiếng ấy,hoặc ở gần đó, trước khi người Hy Lạp khiến Athens trở nên nổi tiếng, họ đã xây dựng được một loạt 12 thành phố mà sau này đượể gọi là Dodecapolis của Ionia; đóng góp của 12 thành phố này vào lịch sử Hy Lạp lớn gần bằng đóng góp của các thành phố ở Attica. Ở Teos, nhà thơ Anacreon, năm 570 TCN, đã vinh về những loại rượu vang đầy cảm hứng và những tình yêu hòa hợp từ cả hai phía. Ở Miletus, năm 600 TCN, Thales đã lập ra ngôi trường đầu tiên dạy triết học Hy Lạp, và phát triển mạnh hình học và thiên văn học Hy Lạp.

HERACLEITUS

Ở Ephesus, nơi có đền thờ Artemis Diana, một trong Bảy Kỳ quan của Thế giới Cổ đại, Heracleitus, 300 năm trước Plato, đã diễn giải chi tiết, bằng những phép cách ngôn khó hiểu, về triết học của tiến hóa, thứ hẳn đã khiến Hegel, Darwin, Spencer, và Nietzsche phải thích thú.

Hai ý tưởng thu hút ông: sự thay đổi diễn ra với vạn vật, và năng lượng là thứ vĩnh cửu và không thể bị hủy diệt. Không thứ gì trên đời này giữ nguyên trạng thái, mọi thứ đều chuyển trạng thái; mọi thứ luôn ở trong trạng thái không còn là cái nó đang là, và trở thành cái nó sẽ là: “Vạn vật đều vận động” (panta rei), và “bạn không bao giờ có thể nhúng bàn chân vào cùng một chỗ nước trong một dòng suối đang chảy”; vũ trụ là một “Biến chuyển” mênh mông, không dứt, không ngơi nghỉ. Những điều này, được diễn đạt chỉ trong vài câu, là một nửa triết lý mà Hegel đã diễn giải chi tiết vào năm 1830.

Nhưng bên dưới sự thay đổi liên tục, Heracleitus nhìn thấy một hiện thực không bao giờ suy giảm, mà ông gọi là “Lửa”, và ý của ông khi dùng từ này có vẻ là “lực” hoặc “năng lượng”. Linh hồn cá nhân là một ngôn ngữ của ngọn lửa sự sống thay đổi không dứt. Con người là một khoảnh khắc chập chờn trong ngọn lửa đó, “được nhóm lên và bị dập tắt như một đốm sáng trong đêm”. Chúa Trời là Lửa vĩnh hằng, năng lượng có mặt ở mọi nơi của thế giới luôn trôi đi này. Trong sự thay đổi liên tục xuất hiện ở vạn vật, bất cứ thứ gì, vào đúng thời điểm, cũng có thể biến đổi thành cái đối nghịch với nó, tốt có thể trở thành xấu, xấu có thể trở thành tốt, sự sống trở thành cái chết, cái chết trở thành sự sống. Những cái đối nghịch là hai mặt của cùng một thứ; sức mạnh là sự căng thẳng giữa những thứ đối nghịch; “Xung Đột” (sự cạnh tranh) là cha đẻ của tất cả và người thân của tất cả; một Số đã được ông ta đánh dấu để làm thần thánh, và một số để làm con người; một số được ông ta biến thành nô lệ và một số được làm người tự do”. Cuối cùng Heracleitus kết luận: “xung đột là Công lý”; sự cạnh tranh giữa các cá nhân, nhóm, tổ chức, thành bang, và đế chế góp phần tạo ra tòa án tối cao của tự nhiên, và người ta không thể kháng cáo phán quyết của tòa án này.

PSAPPHA (SAPPHO)

Từ những thành phố này của Ionia, nhìn sang phía bên kia biển là nơi tọa lạc của đảo Lesbos, bận rộn với thương nghiệp và long lanh với thi ca. Thủ phủ của nó, Mytilene, là nơi người phụ nữ Hy Lạp nổi tiếng thứ hai trong lịch sử từng sống. Psappha, cái tên bà dùng để gọi chính mình trong ngôn ngữ mẹ đẻ, sinh ra vào khoảng năm 612 TCN. Bà không được biết đến vì sắc đẹp, nhưng bà có những nét duyên của vẻ thanh nhã, tinh tế, và dịu dàng. Ở tuổi 20, bà kết hôn với một thương nhân giàu có nhưng sớm qua đời.

Háo hức với một cuộc sống năng động, bà mở một ngôi trường cho phụ nữ trẻ, và dạy cho họ thi ca, âm nhạc, và khiêu vũ, rõ ràng nó là “trường nữ thục” đầu tiên trong lịch sử. Không cặp kè với người đàn ông nào, bà phải lòng một trong những học sinh của mình, Atthis, và gần như phát điên, mất trí khi cô gái ấy tiếp nhận sự chăm sóc của một chàng trai trẻ. Cha mẹ Atthis cho con gái họ thôi học. Sappho rõ ràng đã nghĩ đến điều này khi bà viết:

Nàng ấy (Atthis?) khóc trong đau khổ khi để tôi lại đằng sau, và nói: “Ôi, đáng buồn cho đôi ta biết bao! Sappho, em thề, việc em rời xa người đi ngược lại ý nguyện của em”. Và tôi trả lời nàng: “Hãy đi con đường của mình trong niềm vui, nhưng hãy nhớ tới ta, bởi nàng biết ta mê mẩn nàng đến thế nào. Và nếu nàng không nhớ thì, ôi, ta sẽ khiến nàng nhớ lại… quãng đời chúng ta đã từng sống cùng nhau đẹp đẽ và yêu dấu đến thế nào. Bởi, ở bên ta, nàng đã tô điểm những lọn tóc dài mượt của mình bằng những dây hoa kết từ hoa violet oà hoa hồng ngọt ngào, và đã tôn lên ngấn cổ thanh nhã của mình bằng một chiếc vòng bện từ hàng trăm bông hoa; và ngả đầu lên ngực ta, nàng xức lên làn da trẻ trung đẹp đẽ của mình với nhiều dầu thơm quý giá và mang khí chất quý phái của hoàng gia. Và chẳng có ngọn đồi, chẳng có nơi chốn thánh linh, chẳng có dòng suối nào mà chúng ta chưa từng đi tới; cũng chưa bao giờ âm thanh rộn ràng đầu mùa xuân khiến khu rừng ngập tràn giai điệu hòa quyện của loài sơn ca, nhưng nàng đã cùng ta đang thang tới đó.

Đám nam giới hậu thế đã rửa hận cho chính họ bằng cách lưu truyền hoặc sáng tác truyền kỳ về cách bà chết trong tình yêu đơn phương dành cho một người đàn ông… Một đoạn trong sách của Suidas kể về cách “quý bà Sappho” nhảy từ một mỏm đá xuống để tự tử, trên một hòn đảo ở Leucas, bởi thủy thủ Phaon không đáp lại tình yêu của bà. Thực ra chúng ta không biết khi nào bà mất, hoặc mất như thế nào, chúng ta chỉ biết rằng bà để lại đằng sau một ký ức sinh động gồm những đam mê, thi ca, và sự thanh nhã yêu kiều, rằng bà tỏa sáng hơn cả Alcaeus, với tư cách người vịnh xướng du dương nhất thời đại của bà.

Người Hy Lạp,những con người đầy năng lượng, đưa những con tàu và lều lán của họ về phía Tây, biến những hòn đảo ở Nam Adriatic thành vùng định cư, tiếp tục phát triển chúng thành đất Ý, và ở đó họ lập ra những thành phố Sybaris và Crotona một thời nổi tiếng. Sybaris nổi tiếng về những thú vui xa hoa biếng nhác; Crotona mang đến cho lịch sử vận động viên ăn chay Milo,người đã chiến thắng cả thế vận hội Olympic lẫn Pythia; và Pythagoras, triết gia vĩ đại nhất người Hy Lạp, trước Socrates.

PYTHAGORAS

Ông sinh ra trên đảo Samos ở biển Aegea vào khoảng năm 580 TCN và du ngoạn trong sự tò mò tới Gaul, Ai Cập,Cận Đông, và Ấn Độ. Ông không bao giờ trở lại như xưa sau khi tới Ấn Độ: ông tiếp nhận thuyết nhân quả - sự luân hồi để bù đắp những tội lỗi từng gây ra ở kiếp trước, một giai thoại kể lại cách ông ngăn một người đàn ông đánh đập một con chó, nói rằng ông nhận ra giọng của một người bạn đã khuất trong tiếng kêu của con vật ấy. Khi dừng chân và định cư ở Crotona, ông đã hơn 50 tuổi, và tại đó những bài giảng của ông thu hút những học sinh đầy say mê, cả nam lẫn nữ. Ông tổ chức những học trò trung thành nhất của mình thành một cộng đồng có tinh thần cộng sản chủ nghĩa, thề nguyện tránh ăn thịt, trứng, và đậu, để thanh tấy cơ thể bằng việc tiết chế ẩm thực và kiểm soát bản thân, và để thanh tẩy tâm trí bằng khoa học và âm nhạc. Ông đã đem đến cho hình học hình thái kinh điển của nó vào 200 năm trước thời của Euclid; và chính ông đã lập ra định lý mang tên mình.

Ông khám phá ra mối quan hệ số học giữa các nốt nhạc, như trên các sợi dây đàn hạc. Do tất cả các vật thể chuyển động xuyên qua không gian đều tạo ra một âm thanh nào đó, mỗi hành tinh khi chuyển động trên quỹ đạo của nó hẳn phải tạo ra các âm thanh đều đặn; những âm thanh này cấu thành “âm nhạc của vũ trụ”*, thứ chúng ta không bao giờ nhận ra, bởi chúng ta lúc nào cũng nghe thấy nó. Theo Diogenes Laertius, ông là người đầu tiên “đặt cho thế giới cái tên kosmos”, do tính trật tự và vẻ đẹp của các vì sao. Kosmos - tức “trật tự” - trở thành một từ dẫn đạo cho Pythagoras: phẩm hạnh là tính trật tự trong các dục vọng của ta và trong mối liên hệ giữa ta với cộng đồng; và cách đúng đắn để điều hành đất nước là duy trì tính trật tự trong đất nước ấy. Pythagoras cho rằng tầng lớp quý tộc có học thức, tốt hơn cả là các học trò theo trường phái của ông, sẽ là những người làm tốt nhất việc đem đến những trật tự ấy. Plato tin theo Pythagoras ở khía cạnh này và các khía cạnh khác. Khi người Hy Lạp nói về “nhà triết học”, ý của họ là Pythagoras.

Đi vòng qua mũi giày của đất Ý, chúng ta sẽ lách qua giữa nước Ý* và đảo Sicily; những“Eo biển Messina” này có lẽ là “Scylla và Charybdis” trong trường ca Odyssey của Homer. Chẳng mấy chốc chúng ta tới Velia, tức Elea Cổ đại, nơi Parmenides và một trong những Zeno*, vào khoảng năm 445 TCN, đã thành lập một ngôi trường nổi tiếng về triết học và giải quyết những vấn đề nan giải. Rồi theo hướng Bắc tới Pesto, đối với những người Hy Lạp đặt nền móng đầu tiên cho nó, nó là Poseidonia, và đối với người La Mã, nó là Paestum; ở nơi đó, trong 600 năm TCN, người Hy Lạp đã xây dựng những ngôi đền vẫn đẹp đẽ một cách ngạo nghễ ngay cả khi chúng chỉ còn là phế tích. Xa hơn về phía Bắc, người Hy Lạp đã dựng lên Neapolis - “Thành phố Mới” - nơi ngày nay chúng ta gọi là Naples.

Từ nơi đó, trong một giờ chúng ta có thể bay tới Sicily, nơi những người Hy Lạp tham lam đã xây dựng các thành phố ở Syracuse, Messina, Catana, Gela, và Acragas. Tại Syracuse, Archimedes đã ra đời (năm 287 TCN), nhà toán học vĩ đại nhất trong các nhà toán học người Hy Lạp, người yêu các đòn bẩy đến mức ông cảm thấy rằng mình có thể làm Trái Đất dịch chuyển với một đòn bẩy và một miếng đất nhỏ để đứng. Ở Acragas,ngày nay là Girgenti, trên bờ biển Tây Nam của Sicily, thuộc địa thịnh vượng này dựng ngôi đền thờ nữ thần Concord, một ngôi đền vẫn còn lại sau 2.300 năm chiến tranh và đấu đá chính trị. Ở nơi đó, Empedocles đã sinh ra, đâu đó vào năm của trận Marathon; và có lẽ chính ở nơi đó, chứ không phải ở miệng núi lửa Etna, ông đã qua đời, chúng ta sẽ gặp lại ông trong một phần thuộc Thời kỳ Hoàng kim.

Chuyển lên phía Bắc, các thương nhân người Hy Lạp đã xây dựng các thị trấn ở Antipolis (nay là Antibes), Nikaia (nay là Nice), Monoccus (nay là Monaco), mà Massilia (nay là Marseilles). Dong buồm xa hơn nữa về phía Tây,họ xây dựng các tòa thành ở Tây Ban Nha, chẳng hạn như ở Ampurias và Managa (gần Malaga). Thế rồi, có lẽ hoảng sợ trước các cơn gió từ Đại Tây Dương, họ trở về với mẫu quốc và khiến những vùng đất ấy trở nên trù phú với một loạt những cuộc chinh phục và hoạt động thương mại của mình.

Chúng ta cần đi một vòng dài thế này để nhìn thấy và cảm nhận được quy mô, sự đa dạng, và sự táo bạo của văn minh Hy Lạp. Aristotle đã mô tả lịch sử hiến pháp của 158 thành bang Hy Lạp, nhưng thực tế đã tồn tại nhiều thành bang hơn thế. Mỗi thành bang đóng góp, về thương mại, công nghiệp, khoa học, triết học, văn chương, hoặc nghệ thuật, vào cái mà chúng ta định nói đến khi dùng cụm từ “Hy Lạp cổ đại”. Ở các thuộc địa, cũng như ở mẫu quốc, thi ca và văn xuôi, toán học và siêu hình học Hy Lạp ra đời. Nếu không có những “chiếc vòi” thuộc địa ấy, nền văn minh Hy Lạp, sản phẩm quý giá nhất trong những di sản phi tôn giáo của chúng ta, có thể sẽ không bao giờ tồn tại.

TỔ QUỐC

Tới Hy Lạp đại lục - gồm Peloponnesus, Boeotia, Euboea, Attica - với những thành bang sôi động, đầy ghen tị, đầy ganh đua - Sparta, Argos, Epidaurus, Corinth, Olympia, Eleusis, Plataea, Athens, cho đến những thành phố của người Hy Lạp ở Ionia - Halicarnassus, Miletus, Sardis, Smyrna, Pergamum; hoặc tới quần đảo Aegea - đảo Samos của Pythagoras, đảo Lesbos của Sappho, đảo Navos của Ariadne, đảo Cnidos, đảo Tenedos, đảo Patmos của Thánh John, đảo Keos của Simonides, đảo Chios của Homer, đảo Samothrace của Thần Chiến Thắng - những hòn đảo mầu nhiệm nơi các thương nhân và thủy thủ Hy Lạp đã được nuôi dưỡng gần như cùng với mùi của biển: khi đã mệt mỏi và chán việc phải giẫm chân lên những lớp cát của Ai Cập và Cận Đông, những người ham mê thám hiểm trở về những hòn đảo này và các nơi khác, những địa danh in sâu trong ký ức của người Hy Lạp, hoặc họ rẽ sóng xuyên qua Địa Trung Hải cho đến khi phần phía Bắc của vùng biển ấy trở thành biển của người Hy Lạp. Họ mang về nhà cả nghìn mẩu thông tin đầy tính thực dụng để hỗ trợ hoặc thúc đẩy khoa học, một trải nghiệm phong phú để hướng dẫn triết học và chính trị, và một tinh thần cạnh tranh mãnh liệt để truyền cảm hứng cho các vở kịch sâu sắc và những đỉnh cao nghệ thuật mà cho đến nay chưa gì vượt qua được.

Thành Sparta có vẻ là thành bang ít bị ảnh hưởng nhất bởi nhiệt huyết dành cho tiến bộ về tri thức và những thứ tô điểm cho thành phố. Thành bang này xem chính nó như người hộ vệ của cánh cổng chống lại những cuộc đột nhập hoặc thâm nhập “man di” (tức thuộc về một nền văn hóa khác từ phương Bắc, và vì thế bắt những Công dân và nô lệ của nó phải chịu tình trạng thiết quân luật, để lại rất ít khoảng trống cho nhân văn và những điều thanh nhã của cuộc sống. Ngược lại, một tinh thần dâng hiến hết lòng cho trí tưởng tượng và cái đẹp được nhen nhóm trong lòng những người dân thành Athens, những người cảm thấy được bảo vệ bởi hải quân của họ, và vì thế khiến những nhà hát của họ trở thành tiếng nói của triết học, và những ngôi đền của họ trở thành những bản thánh ca bằng đá cẩm thạch ca tụng những vị thần của họ.

Chúng ta, những người Mỹ, đã được dưỡng dục để nghĩ về những vị thần Hy Lạp như những sinh vật của trí tưởng tượng lãng mạn hoặc như những hình ảnh ẩn dụ cho thi ca của chúng ta; vì thế Zeus đối với chúng ta từng là một gã lăng nhăng không biết chán và Aphrodite là một giấc mơ về sự hoàn mỹ; chúng ta quên mất cả nghìn đoạn văn trong văn chương cổ điển, mô tả những người Hy Lạp hiến tế những con thú hấp dẫn cho các vị thần của họ, thậm chí như Agamemnon sẵn lòng hiến tế con gái mình cho một cơn gió. Trước khi các sophist (nhà ngụy biện) bắt đầu làm suy yếu niềm tin tín ngưỡng của người Hy Lạp vào khoảng năm 450 TCN, tín ngưỡng là thứ được dân tộc này kính yêu, và đã giúp họ duy trì một cuộc sống có luân lý. Vì thế, mỗi gia đình có những vị thần của họ, những vị thần mà sự giám sát của họ giữ cho gia đình khăng khít bên nhau, và mọi thành phố đều có vị thần bảo hộ của nó, chẳng hạn như Athens có Athena, và khi tôn thờ nữ thần ấy, những công dân thành Athens có thể tạm quên đi những cuộc cạnh tranh thường xuyên vô lương tâm giữa họ và có thể gần như khiến chính mình phá sản khi xây dựng một đền Parthenon. Giống tinh thần yêu nước của họ, tín ngưỡng của họ chủ yếu chỉ bao trùm lên thành phố và vùng sâu vùng xa của nó, và không vượt quá xa ranh giới của Olympia. Họ có những liên bang, nhưng khó có thể coi đó là một đất nước; và khi một nước Ba Tư thống nhất thách thức họ, họ đã suýt nữa mất đi tự do của toàn thể nước Hy Lạp, bởi họ quá yêu mến tự do riêng của thành phố họ.

Athens, thủ phủ của Attica, đặc biệt thu hút sự quan tâm của chúng ta bởi nó đã triển khai những thử nghiệm có tính chất khai sáng trong lĩnh vực quản lý hành chính, và đã đạt được những thành tựu xuất sắc về tư tưởng mà chưa gì có thể vượt qua được. Nó đã thử nghiệm chế độ quân chủ và chế độ chuyên chế, nhung, trong những thời kỳ nổi tiếng nhất của thành phố này, nó ưa chuộng một sự dân chủ có giới hạn. Giống những người đã sáng lập ra nước Mỹ, nó tận hưởng sự phục vụ của các nô lệ; nhưng những nô lệ ấy là nhóm thiểu số nhỏ ở Athens và thường là những tù binh chiến tranh, những người vẫn gìn giữ những ký ức và hy vọng nào đó về tự do.

Một lần nữa, giống như trong những năm đầu của nền cộng hòa Mỹ, những người duy nhất nắm giữ tài sản là những công dân có địa vị, và trong những người này, những gia tộc có bề dày về lịch sử (các eupatride, tức “thuộc dòng dõi quý tộc”* đã cố gắng và thành công, cho đến năm 507 TCN, trong việc thống trị Boule, tức Tòa Án, và chính cơ quan này, từ địa vị cao vời của nó trên đỉnh đồi Acropolis, lập ra các chính sách và lựa chọn các quan chấp chính, những người sẽ điều hành thành bang.

Dưới sự cai trị nửa phong kiến này, nông dân vùng Attica đã tiệm cận, vào thế kỷ7 TCN, một tình cảnh nguy hiểm, giống tình cảnh của giai cấp nông dân Pháp vào 2.500 năm sau đó. Aristotle đã viết: “Một vài chúa đất sở hữu tất cả đất đai”, và những người trồng trọt, với vợ và con họ, có khả năng bị bán làm nô lệ nếu họ không thể trả được tiền lãi từ khoản nợ của họ. Nhiều nông dân đã gắng sức tiếp tục bằng cách thế chấp đất của họ với mức lãi suất cao;nếu họ nhận ra mình không thể trả nợ, họ sẽ chạy trốn đến thành thị và giao nộp chính mình để trở thành các nông nô cho các chủ nợ. Tình trạng nghèo đói ở nông thôn Attica trở nên nghiêm trọng đến mức đối với nhiều nông dân, chiến tranh dường như là một phước lành bí mật, bởi nó sẽ giành được thêm đất để làm thuộc địa và giảm số miệng ăn.

Khi thế kỷ 7 TCN gần kết thúc, “sự chênh lệch về của cải giữa người giàu và người nghèo”, theo Plutarch, “đã đạt đến đỉnh điểm, vì thế thành phố” Athens “có vẻ đang ở trong tình cảnh thực sự nguy hiểm, và không có cách khả dĩ nào để giải thoát nó khỏi những xáo trộn, ngoại trừ một chính thể chuyên chế”. Người nghèo bắt đầu nói về những cuộc nổi dậy trong bạo lực, và một cuộc tái phân phối của cải một cách triệt để. Người giàu, không còn có thể thu được những khoản nợ mà họ làm chủ một cách hợp pháp, và tức giận trước những khiếu nại và thắc mắc về tài sản cùng khoản tiền tiết kiệm của họ, đã viện đến những luật lệ cổ xưa, ủng hộ quy trình lập pháp Draco hà khắc (năm 620 TCN), và chuẩn bị để bảo vệ chính mình trước một cuộc nổi dậy có khả năng đe dọa tất cả những tài sản, tất cả trật tự đã được thiết lập, thậm chí đe dọa đến cả nền văn minh.

SOLON

Thật khó tin khi ở thời điểm chuyển giao đầy nguy hiểm này - rất thường xuất hiện trong lịch sử - một người đàn ông, không cần đến một chút bạo lực nào về lời lẽ hoặc hành động, đã có thể thuyết phục người giàu và người nghèo đồng ý với một thỏa hiệp, không chỉ đẩy lùi tình trạng hỗn loạn xã hội, mà còn thiết lập một trật tự kinh tế và chính trị mới và nhân văn hơn cho toàn bộ phần còn lại trong sự nghiệp của một Athens tự do. Cuộc cách mạng hoà bình của Solon là một trong những phép mầu đầy tính khích lệ trong lịch sử.

Cha ông là một quý tộc eupatride với dòng dõi thuần khiết, một người, theo Plutarch, “đã hủy hoại đất đai của mình khi làm những điều tử tế cho những người khác”. Solon, khi đó chỉ có thể dựa vào chính sức mình, đã an ủi bản thân một cách sáng suốt: của cải của người giàu “không hề lớn hơn của cải của ông, một người mà tài sản duy nhất chỉ là dạ dày, phổi, và đôi chân, những thứ mang cho ông niềm vui, chứ không phải đau đớn; những nét đẹp đang thời nở rộ của những chàng trai hoặc những cô gái; và một sự tồn tại luôn ở trạng thái hòa hợp với những mùa luôn biến đổi của cuộc sống”. Ông bắt đầu làm nghề buôn bán, trở thành một thương nhân thành công với những khoản lợi nhuận cực cao, và ngày càng nổi tiếng là người có trí tuệ và chính trực. Vào năm 194 TCN, khi chưa đến 45 tuổi, ông đã được chọn là quan chấp chính (về lý thuyết, ông đại diện cho một vùng), và với sự cho phép của tất cả các giai cấp tầng lớp và các vùng, ông được tin tưởng trao cho các quyền chuyên chính độc tài để làm dịu cuộc xung đột giai cấp, lập ra một hiến pháp mới, và phục hồi trạng thái ổn định cho đất nước.

Ông khiến cho những người cấp tiến cực đoan thất vọng khi không hề có động thái nào để phân chia lại đất đai; một hành động như vậy hẳn sẽ đồng nghĩa với nội chiến, tình trạng hỗn loạn trong suốt một thế hệ, và sự trở lại nhanh chóng của sự bất bình đẳng. Nhưng theo Aristotle, bằng cuốn sách nổi tiếng Giải tỏa gánh nặng (Seisachtheia) của mình, Solon đã hủy bỏ “tất cả những món nợ đang tồn tại, bất kể chủ nợ là cá nhân hay nhà nước”, và như thế, chỉ bằng một động thái, ông khiến cho tất cả các khoản thế chấp biến mất khỏi đất Attica. Tất cả những người nào bị buộc phải trở thành nô lệ hoặc người hầu do vay nợ đều được thả; những người bị bán đi làm lao động ở nước ngoài được đòi lại và trả tự do; và hoạt động nô dịch hóa, nô lệ hóa như vậy bị cấm. Người giàu phản đối rằng việc ban hành điều luật này thực sự là hoạt động tịch thu, nhưng chỉ trong một thập kỷ, dư luận gần như trở nên nhất trí rằng đạo luật này đã cứu Athens khỏi một cuộc cách mạng không mong muốn.

Gây ảnh hưởng lâu hơn cả những cải cách này là các sắc lệnh mang tính lịch sử, những thứ đã tạo ra hiến pháp Solon. Solon mở đầu những sắc lệnh này bằng một đạo luật ân xá, trả tự do hoặc phục hồi địa vị cho tất cả những ai trước đó bị bỏ tù hoặc lưu đày do các tội về chính trị nhưng chưa đi xa đến mức Cố gắng cướp chính quyền. Ông chia những người dân tự do của Attica thành bốn giai cấp, dựa trên mức độ giàu có của họ, và thu một loại thuế gần tương đương với thuế thu nhập hằng năm, ở mức 12% với giai cấp thứ nhất, 10% với giai cấp thứ hai, 5% với giai cấp thứ ba, và không thu thuế từ gia cấp thứ tư. Chế độ phong kiến bị thay thế bằng một chế độ tài phiệt thẳng thừng, nhưng hiến pháp mới đã có một số bước tiến tới gần sự dân chủ. Nó mở ra Ecclesia, tức Quốc Hội, cho tất cả các Công dân tham gia, bất kể mức độ giàu có, và cho cơ quan này thẩm quyền chọn quan chấp chính (từ giai cấp thứ nhất) và thẩm quyền kiểm tra và phê bình các vị quan ấy. Tất cả các công dân đều đủ điều kiện để có thể được lựa chọn ngẫu nhiên từ một nhóm rất đông ứng cử viên (như một cách để tránh ảnh hưởng của yếu tố tiền của) vào một heliaea, một bồi thẩm đoàn gồm 6.000 thành viên, đóng vai trò một tòa án tối cao cho tất cả các vấn đề, ngoại trừ tội giết người và phản quốc, và một tòa án cho các kháng nghị đối với các quyết định của bất cứ quan tòa nào. Quyền kháng nghị Công khai này trở thành ưu điểm đồng thời cũng là thành trì bảo vệ cho chế độ dân chủ của Athens.

Thậm chí ở các lĩnh vực luân lý và cách hành xử, những lĩnh vực đầy rủi ro, Solon cũng đưa ra các bộ luật. Việc không lao động trong thời gian dài bị quy định thành một tội danh, và không một người nào sống cuộc đời trụy lạc được phép liên lạc với Quốc Hội. Ông hợp pháp hóa và đánh thuế mại dâm, và lập ra các nhà chứa Công, được cấp phép và giám sát bởi chính quyền. Ông ban hành một mức phạt vừa phải, chỉ 100 drachma cho tội danh xâm phạm một phụ nữ chưa chồng, nhưng bất cứ ai bắt quả tang một người ngoại tình được phép giết gã ngoại tình ấy ngay tại chỗ và ngay lập tức.

Ông quy định việc nói xấu về người đã chết, hoặc nói xấu về người sống trong đền thờ, tòa án, cơ quan công quyền, hoặc trong một cuộc đấu thể thao, thành một tội danh, nhưng ngay đến ông cũng không thể trói buộc những cái mồm bận rộn của Athens, nơi mà việc ngồi lê đôi mách, nói xấu và vu khống dường như là những phần cốt lõi của chế độ dân chủ. Ông ban hành quy định rằng những người nào giữ quan điểm trung lập đối với những cuộc kích động nổi loạn sẽ mất tư cách công dân, bởi ông cảm thấy sự bàng quan của dân chúng chính là sự suy đồi của nhà nước. Ông quy định rằng con trai của những người đã mất khi bảo vệ đất nước phải được nuôi dưỡng và giáo dục bằng ngân sách công.

Những người cấp tiến chỉ trích Solon vì đã không thiết lập được trạng thái bình đẳng về tài sản và quyền lực, những người bảo thủ lên án ông vì đã tiếp nhận thường dân vào nghị viện và tòa án; và bạn ông - Anacharsis, nhà hiền triết kỳ dị người Scythia, cười vào hiến pháp mới của ông, nói rằng giờ đây những người sáng suốt sẽ phải van nài, còn những kẻ ngu ngốc sẽ quyết định. Ngoài ra, ông bổ sung rằng không thể thiết lập được một thứ Công lý lâu bền nào cho loài người, bởi, dù bất cứ bộ luật nào được soạn ra, những kẻ mạnh và khôn ngoan cũng sẽ bẻ cong bộ luật ấy theo hướng có lợi cho chúng, luật pháp là một cái lưới nhện bắt được những con ruồi nhỏ và để thoát những con bọ to.

Solon tiếp nhận tất cả những chỉ trích này một cách ôn hòa, nhận thức được những thiếu sót trong bộ luật của ông khi được hỏi liệu có phải ông đã cho người Athens những bộ luật tốt nhất, ông trả lời: “Không, nhưng đó là những bộ luật tốt nhất mà họ có thể nhận được” - những bộ luật tốt nhất mà người ta có thể thuyết phục những nhóm xung đột với nhau và những lợi ích trái ngược nhau ở Athens lúc bấy giờ chấp nhận. Ông tuân theo nguyên tắc trung dung, dung hòa và gìn giữ được thành bang; ông là một học trò giỏi của Aristotle từ trước khi Aristotle ra đời. Truyền thuyết dân gian cho rằng ông là tác giả của châm ngôn đuỢC viết trên đền thờ thần Apollo ở Delphi - Meden agan (không Có gì là thừa); và mọi người Hy Lạp đều nhất trí xếp ông vào một trong Bảy Hiền nhân.

Năm 572 TCN, sau khi giữ chức quan chấp chính trong suốt 22 năm, Solon, ở tuổi 68, nghỉ hưu và bắt đầu nghiên cứu văn minh và quản lý nhà nước ở Ai Cập và Cận Đông. Ông nói: “Tôi già đi trong khi luôn học tập”. Không lâu sau khi trở về Athens, ông cực kỳ đau buồn thấy Persistratus thiết lập chế độ độc tài; nhưng Peisistratus, sau khi củng cố vững chắc địa vị của mình, đã phục hồi gần như tất cả các bộ luật của Solon.

Trong khi đó, sự mở rộng và lợi nhuận của thương mại ở Athens đang thúc đẩy sự phát triển Công nghiệp ở thành bang này, và giai cấp thương nhân đang mở rộng khi ấy đã quyết tâm chấm dứt uy quyền tối cao về chính trị của giai cấp quý tộc chủ đất. Giáo dục mở rộng, và các nhà diễn thuyết tìm được những đám cử tọa sẵn sàng tiếp nhận những lời kêu gọi mở rộng quyền tham gia điều hành nhà nước của Công dân. Vào năm 507 TCN, Cleisthenes, bản thân là cháu của một nhà độc tài, đã thiết lập chế độ dân chủ Athens ở một hình thức được giữ nguyên tới năm 338 TCN. Thẩm quyền tối cao được đặt trong tay Hội đồng năm 501 TCN, và mọi công dân sở hữu đất đã đến tuổi 30 sẽ được luân phiên bổ nhiệm vào Hội đồng này với nhiệm kỳ 1 năm. Hội đồng này giám sát bộ máy hành chính quan liêu, quyết định xem những vấn đề nào sẽ được đệ trình lên Quốc Hội, và đóng vai trò tòa án cuối cùng trong luật pháp. Mọi công dân - khoảng 30.000 người đàn ông - đều có quyền tham gia vào Quốc Hội; 6.000 là con số đại biểu tối thiểu cần có mặt tại Quốc Hội để có thể thông qua quyết sách. Cho đến trước thời điểm đó, thế giới chưa bao giờ thấy một quốc hội tự do đến thế, với sự phân tán quyền lực chính trị rộng đến thế.

Người Athens cảm thấy phấn khởi trước bước nhảy vọt này về quyền làm chủ đất nước. Kể từ ngày đó, họ biết đến cảm giác thích thú của sự tự do ngày càng lớn trong hành động, lời nói, và suy nghĩ, và từ ngày đó họ đã giữ vị trí tiên phong dẫn dắt toàn Hy Lạp trong văn chương, triết học, và nghệ thuật, thậm chí trong một thời gian ngắn họ còn dẫn đầu về nghệ thuật quản lý nhà nước và chiến tranh. Khi đế quốc vĩ đại nhất của thời đại đó - Ba Tu, đế quốc đã chinh phục tất cả từ Afghanistan cho đến Ai Cập • quyết định bắt các thành phố rải rác khắp nơi của Hy Lạp phải nộp Cống, đế quốc ấy đã quên rằng ở Attica, nó sẽ vấp phải sự đối kháng của những người được làm chủ mảnh đất họ đang cày cấy, và những người điều hành chính nhà nước đang quản lý họ.

May mắn cho Hy Lạp: Cleisthenes đã hoàn thành công trình của mình - và cả công trình của Solon - 12 năm trước trận chiến Marathon. Ở đó và ở Salamis, người Athens đã tiên phong trong việc đáp trả sự thách thức của Ba Tư, và con đường tới Thời kỳ Hoàng kim của Athens đã được mở ra.

« Lùi
Tiến »