Mục đích của những chương này không phải là nhồi nhét lịch sử của một nền văn minh vào một ít trang sách, mà nghiên cứu và đưa ra những điển hình về những kiệt tác về tư tưởng và những biểu hiện mà nó để lại. Vì thế, ở đây chúng ta sẽ xem xét chỉ chừng đó lịch sử Do Thái cổ đại, đủ để giúp chúng ta hiểu được triết lý và thơ ca của người Do Thái từ khi họ xuất hiện ở Palestine vào khoảng năm 1800 TCN, cho đến khi họ phân tán khỏi Đất Thánh của mình vào năm 135.
Vùng Cận Đông, hoặc Trung Đông, trong thời tiền Cơ Đốc giáo, thực sự là một cái vạc gồm nhiều dân tộc, tính khí nóng nảy và rất kiêu hãnh, không ngơi nghỉ trong những chuyến lang thang, không thể kiên nhẫn ở những nơi họ định cư. Họ dừng lại đủ lâu để tạo ra những nền văn minh rộng lớn - của người Sumer, người Babylon, người Assyria; cứ thế người Babylon đã phát triển khoa học và y học, và vua Hammurabi đã cho họ, vào khoảng năm 1940 TCN, một bộ luật đặc biệt duy lý.
Một người lang thang nổi tiếng, Abraham, được khắc họa trong Kinh Thánh là người đã rời thị trấn Ur ở Chaldea (miền Nam Iran ngày nay) và lên đường, vào khoảng năm 1800 TCN, tìm những miền đất mới cho gia đình và bây gia súc đang ngày càng lớn của ông. Trong một giấc mơ, ông đã nhìn và nghe thấy Đấng Yahweh, người cho ông và con cháu ông vùng đất Canaan, với điều kiện họ chỉ được thờ phụng Yahweh và phải cắt bao quy đầu của con trai họ như một dấu hiệu cho giao ước với đấng thần linh của họ. Ở đây, như trong trường hợp của Moses và Mười Điều răn, chúng ta có thể nhận thấy sự áp dụng đức tin tôn giáo để tăng cường sự đoàn kết, sức khỏe, luân lý, và lòng can đảm của một dân tộc đang trong Cam hiểm nghèo. Thế là, vào khoảng 600 năm trước Moses, Abraham dẫn đoàn người của ông đi theo hướng Tây Nam vào Canaan và chiếm lấy nơi mà từ đó họ cho là vùng đất Chúa Trời đã ban cho họ.
Chúng ta được nghe kể rằng con trai cả của Abraham, Jacob, đã đấu vật với một người lạ, người hóa ra lại là một thiên thần hoặc một vị thần; và Jacob đã chiến đấu mạnh mẽ đến nỗi Chúa Trời đã cho anh ta cái tên mới Israel - “người đàn ông đã đấu với Thần” (Sáng Thế Ký, chương 32, câu 24-30); cái tên này đã trở thành tên của bộ tộc và của vùng đất. Người con trai mà Jacob yêu quý nhất, Joseph, đã bị chôn sống vào một cái hố sâu bởi những người anh em ghen tị với cậu, được giải cứu, bị bán làm nô lệ ở Ai Cập, giải thoát chính mình bằng cách giải nghĩa một cách thông minh những giấc mơ, trở thành người được pharaoh yêu quý nhất, và đã khuyên ông ta tích trữ hạt vào những năm được mùa để nuôi người dân của ông ta vào những năm hạn hán. Những người anh em của cậu du hành xuống, từ vùng đất Israel đang chật vật vì đói kém, để cầu xin lương thực từ Ai Cập; Joseph cho họ ăn và mời Jacob và bộ tộc của ông tới và sống ở Ai Cập. Họ đã tới, và định cư ở Goshen, vào khoảng năm 1650 TCN (Sáng Thế Kỷ, chương 46).
Con cháu của họ phát triển thịnh vượng và sinh sôi ở Ai Cập suốt khoảng 400 năm. Thế rồi, vì những lý do không ai biết, người Ai Cập trở mặt với họ và áp đặt lên họ những công việc nặng nhọc và những bộ luật chất chứa sự thù ghét. Như vậy, nếu chúng ta tin theo câu chuyện trong Kinh Thánh, một pharaoh, có thể là Rameses II (tức Ozymandias trong thơ của Shelley), đã ra lệnh cho các bà đỡ giết mọi bé trai có mẹ là người Do Thái (Xuất Hành Ký, chương 1, câu 16). Một số đứa trẻ thoát chết và được giấu đi. Có thể một trong những đứa bé này là Moses. Bất kể thể nào, chúng ta vẫn có thể chấp nhận ông ta như một nhân vật có thật trong lịch sử và chấp nhận câu chuyện về những năm khó nhọc của người Do Thái ở Sinai, ít nhất là ở những chi tiết quan trọng nhất của câu chuyện này.
Tôi có thể sẵn sàng tin rằng nhiều người trong số những người lang thang ấy, trong cơn đau khổ, đã mất niềm tin vào vị thần của cha ông họ và hiến tế cho những thần tượng kỳ lạ với hy vọng có được sự giúp đỡ siêu nhiên. Tôi có thể tin rằng thủ lĩnh của họ, bằng sức mạnh của nhân cách và đức tin, đã kêu gọi họ quay về với trật tự và khuôn phép với Mười Điều răn ấy, những lời mà chúng ta, những người lang thang trên sa mạc luân lý của mình, khao khát được nghe và tuân theo một lần nữa. Và tôi có thể tin rằng những khách bộ hành mỏi mệt ấy, chai sạn do những khổ đau và chiến trận, đã chiến đấu một cách cuồng dã, thậm chí tàn bạo, trong những giai đoạn cuối cùng của hành trình, để chiếm lại Canaan, nơi mà con đói và cơn khát đã đẩy cha ông họ đi vào 400 năm trước đó.
Trong suốt gần hai thế kỷ, những người chiến thắng sống ở Canaan như một liên minh lỏng lẻo giữa các bộ tộc, bị chia cắt bởi những xung đột lúc bùng lên lúc lại lặng xuống giữa chính họ, và hết lần này tới lần khác bị quấy nhiễu bởi người Philistine, Moabite, Ammonite, và Edomite trong cả thời bình lẫn thời chiến. Trong một thời gian ngắn, luật lệ và trật tự được duy trì bởi các quan tòa và thầy tế. Khi dân số tăng lên về số lượng và mở rộng vùng sinh sống, xuất hiện nhu cầu về một cơ quan thẩm quyền tập trung, với quyền hành gần như tuyệt đối. Samuel, một quan tòa đứng đầu khi ấy, đã tranh cãi chống lại sự cai trị có tính hoàng gia như vậy. Ông cảnh báo với họ rằng một vị vua, sẽ lấy đi những đứa con trai của các người và giao cho chúng… nhiệm vụ gieo hạt trên mảnh đất của ông ta và thu hoạch cho ông ta, và chế tạo những Công cụ chiến tranh cho ông ta… Và ông ta sẽ lấy ruộng vườn, ruộng nho, và những khu trồng ô-liu của các người, những thứ tốt nhất, và trao chúng cho những kẻ phục vụ ông ta; ông ta sẽ lấy một phần mười lượng ngũ cốc cà ruộng nho của các người,… và những người đàn ông to khỏe nhất trong các người, và những con lừa của các người, rồi bắt chúng làm việc cho ông ta, và các người sẽ là đầy tớ của ông ta. Và ngày ấy các người sẽ kêu la bởi vị của các người đã chọn; và ngày ấy Chúa Trời sẽ không nghe thấy tiếng các người đâu .
Mọi người bác bỏ lời khuyên của Samuel, nói rằng:
Không, chúng ta sẽ có một vị vua cai trị chúng ta, chúng ta sẽ giống tất cả các quốc gia khác, và vị vua của chúng ta có thể phán xét chúng ta, và đi ra trước chúng ta, và chiến đấu trong những trận chiến của chúng ta.
Saul tập hợp tất cả mọi người, và họ chọn ông ta làm vị vua đầu tiên của người Do Thái, và tất cả họ hô to “Chúa phù hộ nhà vua” (1 Samuel, chương 8, câu 11-20).
Saul thất bại trong vai một vị vua và chết trong chiến tranh vô nghĩa với người Philistine. David đẹp đẽ và biết nói những lời dễ chịu, đội trưởng đội cận vệ hoàng gia, đã chiếm lấy ngai vàng, vào khoảng năm 1000 TCN; chinh phạt và thống nhất tất cả các vùng của Israel, và cưới những phụ nữ từ những vùng này để củng cố quyền thống trị của mình; đặt kinh đô ở Jerusalem, cai trị trong 36 năm, và để lại một ký ức đẹp đẽ về sự thịnh vượng đến nỗi người Do Thái, trong những giây phút bất hạnh ở những thời kỳ sau, khao khát một “Messiah” - một hậu duệ “được xác dầu thánh” của David, người sẽ phục hồi sự huy hoàng và hạnh phúc như thời David cai trị.
Đây là một trong những anh hùng đầu tiên và đa chiều nhất lịch sử: một chiến binh bách chiến bách thắng, một người vịnh những lời trong thánh kinh và chơi đàn hạc, một người dành tình yêu hiền từ cho Jonathan, con trai của Saul, và Absalom, con trai của chính ông (2 Samuel, chương 11); cướp Bathsheba từ tay Uriah, tức chồng của bà, và điều Uriah ra trận để rồi chết trên tiền tuyến: đây là một người đàn ông gây nhiều kinh ngạc nhưng thực sự rất “người”, với nhiều yếu tố phong phú và đa dạng, mang trong mình nhiều vết tích của sự man rợ, và tất cả những hứa hẹn của văn minh.
Con trai và cũng là người kế vị ông được gọi là Solomon - cái tên bắt nguồn từ shalom, nghĩa là “hòa bình” - và giành được cái tên ấy bằng việc gìn giữ hòa bình và thịnh vượng trong suốt 37 năm cai trị. Bằng cách duy trì mối quan hệ hữu hảo với Vua Hiram của Tyre, ông khiến các thương nhân người Phoenicia điều các đoàn đi buôn của họ xuyên qua Palestine và phát triển mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa nông sản của Israel và vật dụng được chế tác ở Sidon và Tyre, một mối quan hệ mang đến nhiều lợi ích. Ông xây dựng một hạm đội gồm các thương thuyền để thực hiện hoạt động thương mại ở Địa Trung Hải và Biển Đỏ, và khai thác vàng cùng các loại đá quý của “Ophir” - khi đó mới được phát hiện ở Ả Rập Xê Út. Ông nuông chiều bản thân với một hậu cung gồm “700 vợ và 30 thiếp”; ở đây, chúng ta có thể chia số vơ và thiếp này cho con số 10, và xem kết quả thu được như một mối quan hệ hữu hảo với các thành bảng khác; bên cạnh đó, vị vua vĩ đại có thể đã có một nhiệt huyết mang tư tưởng ưu sinh, tức nhiệt huyết truyền những phẩm chất siêu việt của mình cho số lượng con trai tối đa.
Ông tô điểm cho Jerusalem bằng các ngôi đền vĩ đại, mà vẻ đẹp của chúng đã trở thành niềm tự hào vĩnh cửu của người Do Thái, thành đỉnh cao trong tín ngưỡng của họ, và - như phong tục thời đó - trung tâm của hoạt động thương mại. Trước khi ông qua đời, các thương nhân đã vượt xa các thầy tế về mặt số lượng, thống trị chính quyền, và đã tập trung của cải của đất nước dưới quyền kiểm soát của họ. Một giai cấp vô sản bất mãn đã được tạo ra, những người mà sự lao động của họ không đi đôi với việc làm ổn định hay phần thưởng thỏa mãn, và những khắc khổ mà họ phải chịu đựng đã chuyển tín ngưỡng Yahweh hiếu chiến thành lời sấm truyền gần như mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa của các Nhà Tiên tri.
CÁC ĐẤNG TIÊN TRI
Họ chỉ ngẫu nhiên là những thầy bói - ở việc họ đã báo trước một cách chính xác việc Jerusalem bị thâu tóm bởi một thế lực ngoại bang, nhưng họ là những người lên án hiện tại nhiều hơn là nói trước tương lai. Một số người trong số họ tới Jerusalem từ vùng nông thôn; họ bị sốc bởi sự khai thác công nghiệp và những tranh chấp thương mại mà họ nhìn thấy ở kinh đô, và bởi sự phát triển chệch hướng của tôn giáo, từ chỗ vốn là lời kêu gọi công lý trở thành một nghi lễ của các đồ hiến tế bị hỏa thiêu và những bài ca của kẻ ngoan đạo.
Amos mô tả chính mình không phải như một nhà tiên tri mà chỉ như một người chăn cừu bình thường ở một ngôi làng, người (vào khoảng năm 760 TCN) đã rời bỏ bầy cừu của mình để nếm thử cuộc sống ở kinh đô. Ông thất vọng trước sự phức tạp phi tự nhiên của cuộc sống mà ông nhìn thấy ở đó, sự chênh lệch giàu nghèo, sự cay đắng khắc nghiệt của việc cạnh tranh, sự nhẫn tâm của việc khai thác. Vì thế ông “đứng ở cổng”, và mắng nhiến người giàu cùng những thứ xa hoa của họ:
Vì thế, bởi các người đang giày xéo lên người nghèo, và các người lấy đi của anh ta hàng đồng bột mì, các người đã xây những ngôi nhà bằng đá đẽo, nhưng các người sẽ không được ở trong những ngôi nhà ấy; các người đã trồng những vườn nho đẹp đẽ, nhưng các người sẽ không được uống rượu từ những vườn nho ấy… Tai ương và thống khổ sẽ đến với những kẻ đang an nhàn ở Zion,… những kẻ nằm trên những chiếc giường bằng ngà voi… oà ăn thịt những con cừu từ bầy cừu…; những kẻ ngâm nga theo âm thanh của đàn vion, oà sáng chế ra… những nhạc cụ, giống Daoid; những kẻ uống rượu vang bằng bát, và xức dầu thơm lên chính mình bằng những loại mỡ tốt nhất. (Chúa Trời nói) Ta khinh thường ngày lễ của các người;… mặc dù các người dâng cho ta những vật hiến tế đã được thiệu và đồ hiến tế thịt tươi, ta vẫn sẽ không tiếp nhận chúng… Hãy đem những tiếng ồn từ những bài hát của các người ra xa khỏi ta, bởi ta sẽ không nghe giai điệu từ tiếng đàn cion của các người. Nhưng hãy để sự phán xét [công lý1 giáng xuống như biển thác, và đạo đức chính trực giáng xuống như một dòng sông hùng Uĩ (Amos, chương 5, câu 6).
Một nhà tiên tri vĩ đại hơn, người mà các học giả gọi là Isaiah thứ Nhất, đã tiếp tục những lời sấm truyền về xã hội này bằng những lời được xếp vào hàng những câu văn cao quý nhất trong văn chương thế giới:
Chúa Trời sẽ phán xét cùng những đấng tổ tiên của dân tộc được ngài lựa chọn và những ông hoàng của dân tộc ấy; bởi các người đã tiêu thụ sạch những vườn nho, và những thứ các người cướp được từ người nghèo đang nằm trong nhà các người. Các người có ý gì khi sung sướng hơn hẳn những người dân của ta, và đối xử tàn tệ với người nghèo?… Tai ương và thống khổ sẽ đến với những kẻ đã có nhà còn chiếm thêm nhà, đã có ruộng còn lấy thêm ruộng!… Tai ương và thống khổ sẽ đến với những kẻ tuyên những sắc lệnh bất chính để người nghèo túng không có được sự phán xét [công lý1, Toà để tước đi lẽ phải từ những người nghèo trong những con dân của ta, và thống khổ cũng sẽ đến với những kẻ xem những phụ nữ góa như con mồi, và những kẻ cướp đoạt những kẻ xem những phụ nữ từ những đứa trẻ không cha. Và các người sẽ làm gì vào ngày Chúa Trời tới phán xét, giữa những tiêu điều mà sầu muộn đến từ nơi rất xa? Các người sẽ bỏ chạy để tìm kiếm sự giúp đỡ từ ai đâu, và các người sẽ bỏ lại vinh quang của mình ở chốn nào?… Hãy tẩy rửa chính mình, hãy làm cho bản thân thanh sạch;… đi tìm sự phán xét [công lý], hãy giải cứu những người bị áp bức, phán xét [đem công lý đến với] những người mồ côi cha, hãy bênh vực những người góa chồng. (Isaiah, chương 3, câu 14-15, chương 5, câu 8, chương 10, câu 1f, câu 11f.)
Isaiah gay gắt, nhưng ông không tuyệt vọng; ông kết thúc bằng việc xây dựng cho người Do Thái một niềm tin vào một Đấng Cứu Rỗi trong tương lai, người sẽ mang tới một kỷ nguyên của tình ái hữu giữa tất cả mọi người và hòa bình:
Hãy chờ xem, một trinh nữ sẽ mang thai và sinh ra một bé trai, và sẽ gọi nó là Immanuel… Một đứa trẻ sẽ được sinh ra cho chúng ta, và quyền thống lĩnh sẽ được đặt lên vai cậu bé ấy, và tên của cậu bé ấy sẽ là… Hoàng Tử của Hòa bình… Người ấy sẽ phân xử cho người nghèo bằng sự công chính, và khiển trách một cách công bằng vì những người hiền lành trên trần thế; và người sẽ làm rung chuyển thế giới này bằng lời nói, và với hơi thở từ đôi môi, ngài sẽ diệt trừ những xấu xa… Sói sẽ chung sống với cừu, và báo sẽ nằm cạnh đứa trẻ, và bê con và sư tử con… sẽ ở cùng nhau; và một đứa trẻ nhỏ bé sẽ lãnh đạo chúng… Và chúng sẽ đánh cho những mũi kiếm thành lưỡi cày, và những mũi giáo thành những lưỡi câu; nước nọ sẽ không cầm gươm chống lại nước kia, và họ cũng sẽ không biết đến chiến tranh nữa. (Isaiah, chương 7, câu 14; chương 9, câu 6; chương 11, câu 1-6; chương 2, câu 4.)
Những tai họa mà các nhà tiên tri cảnh báo đã tới, mặc dù hơi muộn. Vào năm 609 TCN, một đội quân Ai Cập đã đánh bại người Do Thái trong một trận chiến đẫm máu gần thành cổ Megiddo, hiển nhiên tông đồ John đã lấy cái tên “Armageddon” từ đây, để chỉ cuộc đại xung đột trong tương lai sẽ quyết định vận mệnh thế giới (Khải Huyền, chương 16, câu 16). Vào năm 597 TCN, vua Nebuchadnezzar I của Babylon đã thâu tóm được Jerusalem và bắt giam 10.000 người Do Thái. Trái với lời khuyên của nhà tiên tri (grim) Jeremiah, VuaZedekiah đã lãnh đạo người Do Thái nổi dậy chống lại Babylon, Nebuchadnezzar đã trở lại vào năm 586, tàn phá Jerusalem, phá hủy đền Solomon, và bắt giữ gần như toàn bộ dân chúng Jerusalem. Thế rồi Jeremiah khóc than về sự ứng nghiệm của những lời tiên tri mà ông đã đưa ra và tình cảnh tiêu điều của Jerusalem:
Thành phố từng đầy ắp người giờ đây mới trơ trọi hiu quạnh làm sao! Nàng mới giống một góa phụ làm sao! Nàng từng là nơi vĩ đại trong số các quốc gia, và là nàng công chúa trong số các thành phố, giờ đây nàng mới suy sụp làm sao!… Đối với người, kẻ qua đường kia, điều này không có ý nghĩa gì đối với người sao? Hãy chờ xem, và xem liệu có nỗi đau nào giống nỗi đau của ta không… Công bằng chính là người, ôi Chúa Trời, khi con cầu xin người: nhưng hãy để con nói với người về những phán quyết của người: tại sao đạo của những thứ xấu xa lại hưng thịnh? (Ai Ca, chương 1, câu 1, câu 12; chương 12, câu 1.)
Giờ đây (khoảng năm 540 TCN), một nhà tiên tri vĩ đại hơn cả Jeremiah đã xuất hiện. Các học giả gọi ông là Isaiah thứ Hai, bởi ông đã thêm những chương mới vào những gì Isaiah thứ Nhất đã nói. Ông thuyết giảng trước những người Do Thái đang chịu cảnh lưu đày về tên của một vị chúa, không chỉ của Israel mà còn của tất cả loài người, một vị thánh tối cao “người đã đo biển cả bằng lòng bàn tay, và phân phát thiên đường bằng gang tay,… và cân những ngọn núi trên một chiếc cân lớn, và cân những ngọn đồi trên một cân nhỏ… Hãy ngước mắt lên nhìn, và chiêm ngưỡng người đã làm những điều này”.
Bản thân ông không còn nguyền rủa mọi người vì những tội lỗi của họ, nhưng hứa hẹn rằng Chúa của ông sẽ sớm dẫn dắt người Do Thái ra khỏi kiếp nô lệ của họ ở Babylon:
Các người hãy chuẩn bị đường cho Chúa; hãy làm ra ngay trong sa mạc một con đường rộng lớn cho Chúa của chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được dâng lên, và mọi ngọn núi và ngọn đồi sẽ được hạ xuống, là những thứ không ngay thẳng sẽ được làm cho ngay thẳng, và những nơi thô nhám sẽ được làm phẳng… Ngài sẽ cho bầy đàn của mình ăn như một người chăn dắt con chiên; bằng vòng tay của mình, ngài sẽ tập hợp các con chiên, và mang chúng trong ngực ngài, và sẽ nhẹ nhàng dẫn dắt những người có con nhỏ. (Isaiah, chương 40, câu 3-4, chương 11.)
Lời tiên tri này ứng nghiệm vào năm 539 TCN. Vua Cyrus II của Ba Tư thâu tóm được Babylon, giải phóng người Do Thái, bảo vệ họ trên chuyến trở về Jerusalem, và hứa hẹn sẽ hỗ trợ họ trong công cuộc phục hồi Đền Thánh. Đền thờ thứ hai được hoàn thành vào năm 516 TCN và trở thành trung tâm của một phong trào hồi sinh tôn giáo, trong đó các vị vua dựa vào giới tăng lữ để duy trì trật tự xã hội.
Vào khoảng năm 444 TCN, Ezra, một tu sĩ có học thức, đã tập hợp mọi người lại, và đọc cho họ, vài giờ mỗi ngày trong suốt 7 ngày, cái mà ông gọi là “Sách Luật của Moses”, thứ mà người Do Thái sau này gọi là Torah, hoặc “Hướng Dẫn”, và người Hy Lạp gọi là Pentateuch, tức “Ngũ Quyển” - 5 cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh. Trong các cuốn sách này là Mười Điều răn và Luật của Moses, những thứ giữ cho người Do Thái tuân theo trật tự, và có sức khỏe tốt, trong suốt 33 thế kỷ của những khổ não không gì sánh nổi. Trong luật lệ đó, trong cuốn sách mang tên Leviticus là lời trình bày vĩ đại nhất, rõ nét nhất, súc tích nhất về đạo đức của Cơ Đốc giáo: “Ngươi phải yêu hàng xóm như chính mình” (chương 19, câu 18).
Vào năm 332 TCN, đất nước nhỏ bé ấy, khi thấy bản thân bị bao vây bởi các hoàng đế đang thèm khát, đã chấp nhận Alexander Đại Đế làm chúa tể bảo hộ cho mình một cách hòa bình. Sau cái chết khi còn trẻ của Alexander, vùng Judea phải chịu sự tàn phá từ những cuộc chiến tranh của những người kế vị Alexander, trong khi các triết gia và thi sĩ của xứ này chịu ảnh hưởng khiến người ta say mê văn chương và tư tưởng Hy Lạp.
NHỮNG TRIẾT GIA
Carlyle gọi Sách Job là “một trong những tác phẩm vĩ đại nhất từng được viết… Tôi cho rằng không có thứ gì trong hay ngoài Kinh Thánh có thể sánh với nó về giá trị văn học”. Các học giả có thể xếp niên đại của nó vào gần như bất cứ năm nào giữa năm 500 TCN và năm 300 TCN. Nó là một cuốn sách cơ bản, bởi, một cách mạnh mẽ, nó đã đặt một câu hỏi nhuốm màu u ám và ám ảnh mọi tư tưởng thần học: Làm thế nào mà thế giới này có thể được cai trị bởi một Chúa Trời công bằng và đầy tình yêu thương, khi bất công vẫn thường thẳng thể đến như vậy? Ban đầu, Job được mô tả là “hoàn hảo và chính trực”, thế nhưng Yahweh cho phép một cơn lũ, một cơn lũ thực sự, của những tai ương bao trùm lên Job. Con người đau khổ này lắng nghe một cách bất lực những lời từ những người bạn, những người khăng khăng rằng Chúa Trời Công bằng, nhưng cuối cùng anh ta quả quyết rằng họ mù quáng và không thành thật. Giống những người Do Thái nói chung ở thời tiền Cơ Đốc giáo, anh ta không hề tin vào thế giới sau khi chết, và anh ta xem việc tồn tại trên trần thế là một sự trì hoãn hằng ngày của cái chết không thể tránh khỏi:
Người con trai được sinh ra từ mẹ chỉ mới được vài ngày, và đã gặp đầy khó khăn. Cậu ta ra đời như một bông hoa, bà bị cắt xuống; cậu ta chạy trốn như một cái bóng, và không tiếp tục… Bởi, nếu một cái cây bị đốn hạ, vẫn tồn tại hy vọng cho nó, rằng nó sẽ một lần nữa đâm chồi, Toà mầm non của nó sẽ không ngừng lại… Nhưng cậu ta chết, và héo hon; đúng vậy, cậu ta không còn là hồn ma nữa, và cậu ta ở đâu? Khi những con nước đổ xuống từ biển cả, và dòng nước lũ suy yếu và khô cạn, con người cũng nằm xuống, và không dậy nữa. Nếu một người chết, anh ta có sống lần nữa không?
Job từ bỏ hy vọng về công lý từ thần thánh, từ chối Yahweh, gọi ông ta là “Kẻ thù”, và dự định tự tử. Thế rồi, trong một trong những đoạn văn hùng tráng nhất văn chương thế giới, một giọng nói phát ra từ những đám mây và “lốc xoáy”, và thách thức chàng trai:
Kẻ nào đã làm nhuốm màu u ám lên những lời khuyên răn, bằng những lời lẽ cô tri? Hãy chuẩn bị tinh thần như một người đàn ông, bởi ta sẽ yêu cầu người đưa ra một câu trả lời. Ngươi ở đâu khi ta đặt nền móng cho thế giới này?… Ai đã đặt viên đá trụ cột của nó, khi những ngôi sao buổi sớm cùng nhau cất tiếng hát, và tất cả những đứa con trai của Chúa Trời kêu lên vì vui sướng? Hay, người nào đã chặn đứng biển cả bằng những cánh cửa… bà nói rằng, cho đến giờ ngươi đã đến được đâu, nhưng sẽ không tiến xa thêm nữa; và những con sóng kiêu hãnh của người sẽ dừng ở đây? Ngươi có thể buộc những ngôi sao của chòm Pleiads oào với nhau, hay tháo rời chòm sao Orion hay không?… Ngươi có biết những luật lệ của bầu trời hay không? Ngươi có thể thiết lập sự kiểm soát như thế trên trần thế hay không?… Ai đã đưa trí huệ vào những phần bên trong, hoặc ai đã đưa tri thức vào trái tim?… Liệu ngươi đã tranh cãi với Đấng Tối cao có thể chỉ dạy cho Đấng Tối cao ấy biết hay không? Ngươi đã quở trách Chúa Trời, hãy trả lời. (Job, chương 38, câu 1 đến chương 40, câu 2.)
Job khúm núm trong kinh sợ trước sự giáng hiện này, nói: “Tôi ghê tởm chính mình, và sẽ sám hối trong cát bụi và tro tàn”. Yahweh động lòng, tha thứ cho sự thách thức của Job, và cho anh ta “nhiều gấp đôi trước đây”, không lâu sau Job có 14.000 con cừu, 6.000 con lạc đà, 1.000 cặp bò, và 1.000 con lừa cái. Ông sống thêm 140 năm và nhìn thấy các con trai và các con của các con trai thậm chí tới bốn thế hệ sau.
Đó là một kết thúc có hậu, nhưng buồn tẻ và chẳng có chút niềm vui, ấy thế nhưng một lần nữa đó là kết thúc tốt nhất mà chúng ta có thể có. Chúng ta là ai - những con bọ ve nhỏ bé sống trong màn sương của một khoảnh khắc - mà đòi hiểu được cả vũ trụ? Triết học là bộ môn nghiên cứu cái bộ phận nhờ vào cái toàn thể; và bài học đầu tiên của nó là: chúng ta chỉ là những phần rất nhỏ của một cái toàn thể rất lớn. Sự hòa hợp của cái bộ phận với cái toàn thể có thể là định nghĩa tốt nhất cho sức khỏe, sắc đẹp, chân lý, trí huệ, tính luân lý, và hạnh phúc.
Đây một lần nữa là câu trả lời duy nhất mà chúng ta có thể đưa ra cho Sách Giảng Viên (Ecclesiastes). Cuốn sách súc tích này là thông điệp gay gắt trong Kinh Thánh. Từ ecclesiastes là bản dịch tiếng Hy Lạp của từ koheleth trong tiếng Hebrew, nghĩa là “người thuyết giảng”. Tác giả vô danh gọi mình là “người thuyết giảng”, và giả danh là Solomon, người con trai thông thái và sáng suốt của David; nhưng các học giả tàn nhẫn đã coi anh ta chỉ là một người không có tiếng tăm nói tiếng Hebrew đã bị Hy Lạp hóa vào khoảng năm 200 TCN.
Ta, Người Thuyết Giảng, là vua của Israel ở Jerusalem. Và ta hiến dâng trái tim mình cho việc tìm kiếm và tìm thấy, bằng những trí huệ liên quan tới tất cả những gì được tạo ra và thực hiện bên dưới gầm trời: công việc khó nhọc đau đớn mà Chúa Trời đã trao cho những người con trai để họ thực hiện. Ta đã nhìn thấy tất cả những việc được thực hiện bên dưới Mặt Trời, và hãy chờ xem, tất cả đều là phù phiếm và đang trêu ngươi các linh hồn… Bởi càng biết nhiều thì càng sầu não, mà người nào càng hiểu biết càng đau khổ. (Sách Giảng Viên, chương 1, câu 12-18.)
Ông nghiên cứu lịch sử và kết luận rằng thứ này cũng là phù phiếm, bởi lịch sử chủ yếu lặp lại chính nó và, giống hệ thống Kinh Thánh, là một bản ghi chép những sự ra đời và những cái chết.
Một thế hệ ra đi, và một thế hệ khác lại tới, nhưng thế giới thì sống mãi. Mặt Trời vẫn mọc, Toà Mặt Trời lặn, và vội vàng trở về nơi nó mọc… Tất cả các con sông chảy 0ề biển, nhưng biển không đầu; các con sông đến từ đâu thì chúng lại trở về đó… Vì thế, ta tôn thờ những người chết, những người đã khuất, hơn những người sống, những người vẫn còn sống… Thanh danh còn tốt đẹp hơn dầu thơm quý giá, và ngày một người ra đi tốt đẹp hơn ngày một người ra đời… Một con người chẳng có điểm nào ưu việt hơn một con thú… Tất cả đều tới cùng một nơi,… tất cả sẽ lại trở thành cát bụi… Tất cả đều là phù phiếm.
NHỮNG NHÀ THƠ
Chúng ta có thể tìm thấy bất cứ câu trả lời nào cho Sách Giảng viên và Sách Job từ các nhà thơ của kinh Cựu Ước không? Họ cho chúng ta hai câu trả lời: hãy hòa thuận với Chúa Trời và vũ trụ; và làm cuộc đời mình tươi đẹp với tình yêu. Một câu trả lời nằm trong sách Thánh Vịnh, câu còn lại nằm trong sách Diễm Ca.
Ai sẽ hát một bài hát ca ngợi phù hợp để ngợi ca những bài hát ca ngợi mang tên Thánh Vịnh? Những âm vang của Thánh Vịnh mà chúng ta, những người giúp việc cho mục sư, hát bằng ngôn ngữ Latin, ngân vang trong bản dịch của Thánh Jerome, là những điều tôi trân quý trong ký ức của mình về những ngày ở trường đạo;ấy thế nhưng, với tất cả lòng mộ đạo của mình, chúng ta không bao giờ có thể cảm nhận đến mức sâu sắc như những người Do Thái cổ xưa về niềm tin vào sự giám sát của thánh thần lên định mệnh của chúng ta, một niềm tin khiến chúng ta an tâm. Tôi không thể quên được cái cách từng bệnh nhân đọc lại từng câu trong Thánh Vịnh: khi tôi chăm sóc vợ trong phòng hồi sức ở Bệnh viện Cedars-Sinai, và Ariel*, khi ấy vẫn trong cơn đau, đọc lại câu đầu tiên của Thánh Vịnh, chương 23,một bệnh nhân khác, vừa trở về từ cõi chết, đọc lại câu thứ hai, và một bệnh nhân khác đọc lại câu thứ ba, tất cả đều nằm trong câu trả lời khiêm nhường ấy dành cho Job:
Chúa là Đấng chăn dắt tôi. Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.
Ngài khiến tôi nằm xuống nơi đồng cỏ xanh tươi;
Ngài dẫn tôi đến bên cùng nước bình lặng…
Vâng, dù tôi đi qua thung lũng phủ bóng đen của cái chết, tôi sẽ chẳng khiếp sợ điều xấu xa nào…
Thật vậy, phước hạnh và bao dung sẽ theo tôi trọn đời.
Và có nỗi đau nào lớn hơn những năm tháng nô lệ ấy ở Babylon?
Bên những con sông thành Babylon ta ra ngồi, vâng, ta nức nở khi lòng nhớ tới Zion.
Ta gác cây đàn hạc trên những cành dương liễu giữa nơi ấy.
Bởi những kẻ lưu đày chúng ta yêu cầu chúng ta hát một bài…
Nói rằng, Hãy hát cho chúng ta những bài ca của Zion.
Làm sao chúng ta hát nổi bài ca của Chúa Trời ở nơi đất khách quê người?
Ôi Jerusalem, nếu ta quên người, thì hãy để bàn tay phải này không còn cử động được.
Nếu ta không còn nhớ tới người, hãy để lưỡi ta dính chặt với hàm trên, nếu ta không đặt Jerusalem lên trên những niềm vui lớn lao nhất của mình. (Thánh Vịnh, chương 137)
Tôi không biết có sự ngợi ca nào bằng ngôn ngữ hay hình ảnh kỳ vĩ hơn những ngợi ca trong sách Thánh Vịnh.
Trời xanh tuyên bố vinh quang Thiên Chúa… giữa bầu trời người đặt một bàn tế cho Mặt Trời.
Mặt Trời xuất hiện như chú rể bước ra khỏi loan phòng, và vui sướng như một người đàn ông cường tráng sắp vào đường đua.
Mặt Trời ló ra từ chân trời, và trở về chân trời bên kia;
Và chẳng thứ gì tránh được khỏi hơi nóng từ Mặt Trời.
Ai đã viết những bài Thánh Vịnh này? Những truyền thuyết tôn giáo quy khoảng 70 bài về cho David, và các học giả cũng quy về một số ít tác giả; đa số những bài Thánh Vịnh ấy rất có thể là lời ca của nhiều người chơi đàn hạc trong suốt 7 thế kỷ từ thời David đến thời Daniel (năm 900 TCN tới năm 167 TCN). Nhiều bài trong số chúng được hát ở Đền Thánh; ở những bài ca này, chúng ta cảm thấy vần điệu hồi khúc của thơ ca phương Đông cổ đại, với những âm hưởng hợp xướng oai nghiêm trong những lời đáp luân phiên.
Còn một bài ca nữa, trong Cựu Ước, mà chúng ta phải tôn vinh ở đây. Nó từng được gọi là “Bài ca của Solomon”, do phần nào từng là một bài cầu nguyện cho phước lành của vị vua trẻ tuổi. Người Do Thái gọi nó là Shir Hashirim, và cái tên này được Kinh Thánh Công giáo dịch thành Canticum canticorum, còn chúng ta dịch một cách chuẩn là Song of Songs (Diễm Ca). Hiếm có bài thơ, bài ca nào lại tôn vinh việc vui sướng dâng hiến tình yêu từ cả hai người một cách thẳng thắn và sinh động đến thế.
Có Chúa mới biết làm thế nào nó lọt được vào Kinh Thánh. Phái chính thống dũng cảm diễn giải nó như một câu chuyện ngụ ngôn về tình yêu của Giáo hội đối với Chúa Jesus. Giới học giả cho rằng nó là di sản của một nghi lễ phồn thực nào đó cầu xin sự sinh sôi, nhưng nội dung nhiệt huyết của bài thơ này không hề gợi đến một cánh đồng hay một đứa trẻ. Niên đại của nó là một ẩn số; Có những dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp-Ai Cập, từ Alexandria;những người yêu đương, theo phong cách Ai Cập, gọi nhau là anh trai và em gái.
Một đoạn nổi tiếng - Nigra sum sed formosa trong bản dịch của Jerome,“Ta da đen nhưng ta đẹp đẽ” - gợi đến một cô gái có gốc gác và khí chất châu Phi, vì thế những anh và chị em đồng đạo da màu của tôi có thể tìm thấy ở đây một sự đảm bảo từ Kinh Thánh cho câu nói “Đen là đẹp đẽ”. Nhưng hãy để bài thơ ấy lên tiếng cho chính nó:
Với em, người em yêu là bọc mộc dược thơm; anh ấy sẽ nằm cả đêm, gọn giữa ngực em.
Với em, người em yêu là một khóm hoa móng rồng trong vườn nho Engadi.
Người yêu ơi, em thật đẹp; người yêu ơi, em thật đẹp, em có đôi mắt bồ câu…
Em là đóa hồng của bình nguyên Sharon, là bông hoa huệ của các thung lũng…
Hãy làm em dịu lại với những bình rượu, hãy gỗ bề em bằng những quả táo, bởi em đang điên lên vì yêu…
Này các thiếu nữ Jerusalem, ta ra lệnh cho các người, dì những con linh dương, hay 0ì những con nai ngoài đồng, hãy đừng gây xao động, cũng đừng đánh thức người yêu của ta, đến khi anh ấy thỏa mãn…
Người yêu ta thuộc về ta, bà ta thuộc về chàng; chàng cho chiên gặm cỏ giữa những khóm huệ. Trước khi ngày mới bắt đầu, Toà bóng tối biến đi, người yêu ơi hãy quay về, oà chàng hãy như một chú linh dương, hay một chú nai nhỏ trên dãy núi Bether…
Đến đây, người yêu dấu, đôi ta hãy cùng bước vào cánh đồng; hãy cùng chung sống trong những ngôi làng,
Hãy cùng dậy sớm để ra vườn nho; hãy cùng xem liệu cây nho có vươn mình, liệu trái nho dịu ngọt có xuất hiện, bà liệu cây lựu đã đâm chồi hay chưa; ở đó, em sẽ cho chàng tình yêu của mình.
Bài ca này tuyệt đẹp, và ngay đến một cụ già mệt mỏi cũng có thể cảm nhận được nhiệt huyết tình yêu của nó, nhưng một tín đồ của tình yêu độ tuổi 90 có thể sẽ đòi hỏi một bài cầu nguyện sâu sắc hơn cái huy hoàng của hình dáng con người. Niềm vui sướng của cơ thể khỏe mạnh không cần phải xin lỗi vì sự tồn tại của chính nó, nhưng làm thế nào nó trả lời được cho nỗi khắc khoải của Job, hoặc làm thế nào nó thỏa mãn được niềm khao khát của linh hồn mong muốn một tầm vóc vĩ đại hơn cả sự thống nhất về thể chất hay sự tồn tại thô thiển? De Maupassant đã gợi đến một sự dâng hiến đẹp đẽ và tinh tế hơn khi ông nói rằng “trong tình yêu đích thực, chính tâm hồn mới là cái ôm trọn lấy cơ thể”.
Tình yêu cao quý nhất trong tất cả các tình yêu chính là tình cảm mở rộng cái tôi ra nhiều nhất và trao cho mọi sinh vật đang sống trong hòa bình một trái tim và vòng tay cởi mở đón nhận. Hạnh phúc sẽ đến với tâm hồn nào biết làm cho tình yêu của nó trở nên bao la như vậy.