Có phải nền văn minh Ai Cập cổ đại là nền văn minh cổ nhất và dài nhất lịch sử?
Elie Faure, nhà lịch sử nghệ thuật thế giới, đã nghĩ như vậy: ông viết rằng “có thể Ai Cập, thông qua sự đoàn kết, thống nhất và sự đa dạng có kỷ luật của các sản phẩm nghệ thuật, thông qua nỗ lực trong thời gian cực dài và đầy sức mạnh quyết tâm, đã cho nhân loại chứng kiến nền văn minh vĩ đại nhất từng xuất hiện trên Trái Đất”. (Cá nhân tôi sẽ xếp nền văn minh La Mã cổ đại ở vị trí cao hơn văn minh Ai Cập.)
Về mặt thời gian, nhìn chung niên đại cổ xưa nhất - mặc dù vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn - được gán cho lịch sử Ai Cập là năm 4241 TCN; nếu vậy, thiên văn học và toán học của Ai Cập đã vươn tới bậc phát triển đáng kể vào thời điểm đó. Tuy nhiên, rất có thể người ta đã đạt được một bậc phát triển tương tự ở Lưỡng Hà; và các nhà khảo cổ học có xu hướng quy “nền văn minh đầu tiên trong lịch sử mà loài người đã biết đến” cho vùng đất “nằm giữa các con sông” Euphrates và Tigris. Nếu chúng ta tính rằng nền văn minh Ai Cập đã tồn tại từ năm 4241 TCN cho đến thời điểm người Hy Lạp chinh phục Ai Cập (năm 332 TCN), chúng ta sẽ trải nền văn minh Ai Cập lên một khoảng thời gian hơn 3.809 năm. Tôi không biết một nền văn minh nào khác, kể cả văn minh Trung Hoa, duy trì qua được nhiều thế kỷ đến vậy.
Ai Cập, như Herodotus nói vào năm 430 TCN, là to doron tou Nilou , tức “món quà của sông Nile”. Con sông nổi tiếng nhất trong các con sông đã cung cấp nước cho những vùng định cư phát triển hai bên bờ; nó cho người dân một tuyến đường thủy phục vụ mục đích thông tin liên lạc và thương mại; và hằng năm nó tưới tiêu cho những thửa đất của nông dân bằng một con nước tràn mà người ta có thể trông cậy vào. Người Hy Lạp gọi những vùng định cư đó là các nome - nghĩa là các cộng đồng chấp nhận luật lệ - và mỗi người cai trị một vùng đó trở thành một nomarch . Khi một người đàn ông mạnh mẽ nào đó thống nhất một vài nome dưới quyền cai trị của anh ta, các nomarch phục tùng một monarch, tức một quốc vương, và lịch sử chính trị của Ai Cập bắt đầu.
Vào khoảng năm 3100 TCN, một vị vua như vậy,Vua Menes á thần, ban hành cho các cộng đồng mà ông ta cai trị một bộ luật mà người ta cho là thần Thoth đã trao cho ông. Ông xây dựng thủ đô của mình trên bờ Tây sông Nile, ở một nơi mà ngày nay chúng ta biết đến với cái tên Memphis, một cái tên Hy Lạp; và ở đó ông thiết lập Triều đại thứ Nhất của các pharaoh.
Khoảng 400 năm sau đó, pharaoh Zozer (khoảng năm 2680 TCN) bổ nhiệm Imhotep làm tể tướng - cái tên vĩ đại đầu tiên trong lịch sử Ai Cập, nổi tiếng với tư cách thầy thuốc và kiến trúc sư. Các thế hệ sau tôn thờ ông như một vị thần của tri thức, ông tổ của khoa học và nghệ thuật. Dân gian cho rằng ông là tác giả của Công trình cổ xưa nhất mà giờ đây vẫn còn tồn tại ở Ai Cập, kim tự tháp Sakkara - một cấu trúc bằng đá gồm nhiều bậc thềm, gần những đống đổ nát còn sót lại của Memphis, Đây là cha đẻ của các kim tự tháp cổ xưa vẫn tồn tại đến ngày nay.
Kim tự tháp nổi tiếng nhất trong số này được xây dựng trong Triều đại thứ Tư (khoảng năm 2013 đến năm 2494 TCN).
Herodotus đã tôn vinh hai trong số những pharaoh của kim tự tháp ấy, là Cheops và Chephren, giờ đây đã được xác định tên lại, một cách chính xác hơn, là Khufu và Khafre. Đến thời đại của họ, các thương nhân người Ai Cập đã xây dựng được các đội thương thuyền, và đã phát triển giao thương với một vài bến cảng ở Đông Địa Trung Hải; họ đã khai thác gỗ và các tài nguyên khác ở Lebanon, và mở các khu mỏ ở Sinai, họ đã mở ra các mỏ đá cực lớn ở sa mạc Nubian và ở Aswan.
Các pharaoh trở nên giàu có, và phung phí của cải của họ vào những cung điện và lăng mộ. Herodotus kể về cách Khufu (khoảng năm 2590 TCN) dựng lên kim tự tháp cổ xưa nhất trong số nhiều kim tự tháp tô điểm cho vùng sa mạc gần Giza, một khu ngoại ô của Cairo. Dựa trên tất cả những gì chúng ta biết, đây là kiến trúc đơn lẻ lớn nhất trong những công trình từng được dựng lên bởi con người. Nó bao phủ một vùng rộng khoảng 52.600 m2, và cao tới 136 m; và không gian bên trong của nó đủ lớn để cùng lúc chứa Vương cung Thánh đường Thánh Peter ở Rome, Tu viện Westminster và Nhà thờ chính tòa Thánh Paul ở London, và tất cả các nhà thờ chính tòa ở Florence và Milan.
Nó không đẹp, ngoại trừ vẻ đẹp ở sự chính xác của kỹ thuật cắt đá và ở sự đối xứng và chính xác của các kích thước hình học. Nó gây ấn tượng cho chúng ta chủ yếu bằng kích thước và lịch sử của nó. Là một sản phẩm của kỹ thuật, nó là một phép mầu trong thời đại đó: 2.300.000 khối đá - mỗi khối nặng trung bình 2,5 tấn - được kéo nhiều dặm đường qua sa mạc phía Đông và rồi vượt qua sông Nile; các khối đá granite, chủ yếu từ Aswan, được kéo đi khoảng 893 km từ phía Nam. Hiển nhiên những khối đá này đã được nâng lên những nấc cao hơn và cao hơn nữa để tạo thành kim tự tháp ấy bằng cách kéo chúng, trên các con lăn hoặc ván trượt, theo một đường dốc được nâng cao dần, được xây từ gạch và đất. Theo Herodotus, con đường nâng cao dần này khiến người ta mất 2 năm để xây, và bản thân kim tự tháp đòi hỏi sự lao động của 100.000 người trong suốt 20 năm. Sử gia kiêm du khách người Hy Lạp này đã để lại một bản khắc văn* mà ông tuyên bố rằng ông đã tìm thấy ở một kim tự tháp, ghi lại số lượng củ cải, tỏi, và hành mà những nhân công đó tiêu thụ ở riêng công trình ấy.
Tại sao các pharaoh và những người khác xây dựng kim tự tháp? Người Ai Cập tin rằng bản thân mỗi pharaoh có một bản thể tương ứng khác thuộc về thế giới tâm linh mà ông ta gọi là ka, và ông ta hy vọng ca của mình sẽ tồn tại vĩnh viễn nếu xác thịt của ông được bảo tồn trước con đói, bạo lực, và sự mục rữa. Vì thế, xác của ông phải được ướp và bảo quản với sự tỉ mỉ bậc thầyệnội tạng sẽ được lấy ra khỏi cơ thể bằng một kỹ thuật kiểu như phẫu thuật lấy thai; bộ não sẽ được hút ra ngoài qua mũi; phần bên trong cơ thể sẽ được làm sạch bằng rượu, nước thơm và các gia vị có hương thơm; sau đó cơ thể sẽ được khâu lại, ngâm trong các hóa chất khử trùng, xoa chất dán dính lên, và bọc chặt bằng các băng vải đã được bôi sáp; cuối cùng nó được đặt vào trong một quan tài. Lăng mộ lý tưởng phải được làm bằng đá, với lượng đá đủ để tạo ra một khối đặc chắc, không gì có thể thâm nhập, ngoại trừ một lối vào bí mật dẫn đến phòng bên trong chúa đầy lương thực, vũ khí, và một phòng tắm rửa, và những bức tượng được chạm khắc hoặc tô màu, và nhờ một công thức ma thuật mà chỉ các thầy tế mới biết, sẽ vĩnh viễn hầu hạ cơ thể, linh hồn, và ka.
Gần kim tự tháp của Pharaoh Khafre (khoảng năm 2550 TCN) là con quái thú nổi tiếng được lịch sử biết đến với cái tên tiếng Hy Lạp của nó: Sphinx (nhân sư). Hiển nhiên, theo lệnh của nhà cai trị ấy, một đội quân những thợ máy và thợ điêu khắc đã đẽo ra một bức tượng khổng lồ từ đá, với phần mình của sư tử và phần đầu được người ta cho là của chính Khafre. Khuôn mặt ấy u ám với một cái cau mày, cứ như thể để dọa những tên trộm tránh xa lăng mộ hoàng gia.
Có một điều gì đó mang tính nguyên thủy một cách man rợ ở các kim tự tháp - sự tuân thủ một cách bạo liệt những kích thước, nỗi thèm khát sự vĩnh hằng trong hão huyền. Có thể ký ức và trí tưởng tượng của người chiêm ngưỡng, tức những thứ ngày càng được khuếch đại theo dòng lịch sử, đã khiến những công trình chứng tích này trở nên vĩ đại. Có lẽ các bức ảnh đã nâng tầm vóc của chúng lên quá cao, nghệ thuật nhiếp ảnh có thể thâu tóm được mọi thứ, ngoại trừ bụi bẩn, và nâng tầm cho những vật thể nhân tạo bằng những khung cảnh tuyệt đẹp của đất và trời. Cảnh hoàng hôn ở Giza thực ra còn tuyệt vời hơn các kim tự tháp.
CON NGƯỜI
Đối với các pharaoh, cuộc sống ở Ai Cập cổ đại đầy sự thoải mái; Từ những bức ảnh và những bức phù điêu, và từ những cuộn giấy, chúng ta nhìn thấy và thu được thông tin về sự giàu có, xa hoa, và quyền lực của họ.
Giới tăng lữ đã hợp tác - họ tuyên bố rằng các pharaoh là các vị thần, khắc sâu vào tâm trí dân chúng thái độ phục tùng sự cai trị của hoàng gia, và đổi lại họ được chia cho một phần hấp dẫn từ những gì hoàng gia thu được. Một nghìn thợ sao chép đã được huấn luyện kỹ càng đóng vai trò bộ máy quan liêu biên chép cho các pharaoh và giới tăng lữ, và cho các quý tộc phong kiến, những người cai trị các tỉnh với tư cách người được vua phong ấp. Với sự hỗ trợ như vậy, nhà nước phong kiến Ai Cập tổ chức được một hệ thống liên lạc vận hành đều đặn, thu thuế, tích lũy tài sản, xây dựng một hệ thống tín dụng tài chính, phân phối ngân sách cho nông nghiệp, công nghiệp và thương mại, và xét theo một vài khía cạnh đã đạt được một nền kinh tế có quy hoạch, được điều tiết bởi nhà nước.
Nhân công của công nghiệp là các lao động tự do lẫn các nô lệ nằm dưới quyền phán định của các thống Đốc địa phương. Các cuộc chiến đem đến hàng nghìn tù binh, phần lớn bị bán làm nô lệ; sức lao động của họ tạo điều kiện cho việc khai thác các hầm mỏ và những thành tựu về kỹ thuật. Các cuộc đấu tranh giai cấp nổ ra mạnh mẽ; các cuộc đình công khi ấy thường xuyên diễn ra. Một bản viết tay đã cho thấy lời cầu khẩn của một số nhân công với người giám sát của họ: “Chúng tôi đã bị cơn đói và cơn khát đẩy đến đây, chúng tôi không có quần áo, không có dầu, không có thức ăn. Hãy gửi thư tới chúa tể của chúng ta, Pharaoh, và tới thống Đốc, người ở phía trên chúng ta, để họ có thể sẽ cho chúng ta thứ gì đó để duy trì sự sống”. Tuy nhiên, chúng ta không nghe thấy bất cứ thông tin nào về cách mạng giai cấp - trừ phi chúng ta xem chuyến ra đi lịch sử của người Do Thái là một cuộc cách mạng giai cấp.
Kỹ nghệ công nghiệp ở Ai Cập cổ đại tiến bộ và đa dạng không kém gì nghệ thuật ở châu Âu trước thời Phục hưng. Các thợ thủ công Ai Cập làm ra các vũ khí và dụng cụ bằng đồng thiếc, bao gồm các mũi khoan xuyên được những tảng đá diorite rắn chắc nhất và những lưỡi cưa cắt được qua các phiến đá khổng lồ của những chiếc quách. Họ là những bậc thầy về đẽo khắc gỗ: họ tạo ra những thương thuyền dài tới 30 m, và những chiếc quan tài đẹp đến mức chúng gần như mời gọi người ta chết để được vào nằm trong đó. Kỹ thuật của người Ai Cập đã đạt trình độ mà đến trước năm 1800 không đâu có thể đạt được; kỹ thuật của họ tạo ra những kênh đào từ sông Nile tới Biển Đỏ, và chuyển các tháp obelisk nặng hàng nghìn tấn qua những quãng đường cực dài.
Quy tắc luân lý ở Ai Cập không phản đối hôn phối cận huyết. Chúng ta đã nghe về nhiều trường hợp trong đó một người đàn ông cưới chị em gái của mình. Nhiều pharaoh làm điều này, hiển nhiên là để giữ dòng máu hoàng gia được thuần khiết, hoặc để giữ cho của cải của gia tộc được toàn vẹn - bởi tài sản được truyền lại theo dòng mẹ. Các pharaoh và một số quý tộc có hậu cung, nhưng đối với thường dân việc có một hậu cung là điều xa hoa tới mức bất khả. Thời đó các cô gái mại dâm đã xuất hiện đầy rẫy, nhưng nhiều bức tranh tôn vinh tình yêu hôn nhân.
Phụ nữ được hưởng một vị thế cao hơn trước luật pháp, và nhiều tự do hơn về luân lý và xã hội, so với ở bất cứ nhà nước châu Âu nào trước thời đại của chúng ta, có lẽ chỉ trừ Đế chế La Mã. Người Hy Lạp, những người giam hãm phụ nữ trong các khuôn khổ hạn hẹp, cực kỳ bất ngờ khi biết rằng phụ nữ Ai Cập xử lý các công việc xã hội và kinh doanh của họ một cách công khai, không bị ai dò xét và cũng không gặp bất kỳ cản trở hay nguy hại nào. Họ sử dụng tất cả các công cụ làm đẹp có thể, thậm chí sơn móng tay và kẻ mắt; một số che ngực, cánh tay và mắt cá chân bằng đồ trang sức. Họ nói về tình dục với sự thẳng thắn không kém gì những phụ nữ tự do nhất ngày nay. Họ có thể chủ động trong việc hẹn hò, và người đàn ông chỉ có thể ly dị khi chứng minh được việc vợ ngoại tình, hoặc phải chi một khoản bồi thường cực lớn. Một số trong số họ, giống Nefertiti, đã đạt đến sự bất tử qua sắc đẹp. Một số cai trị đế quốc một cách hách dịch nhưng tốt, giống Hatshepsut (khoảng năm 1503 đến năm 1482 TCN) hoặc một cách liều lĩnh như Cleopatra. Tư cách người mẹ được kính trọng như tước vị quý tộc của người phụ nữ.
Nghệ thuật Ai Cập phát triển không kém gì nghệ thuật Hy Lạp và La Mã, nhưng nó đi trước đến cả nghìn năm, và đã tiên phong trong hàng trăm đầu mục. Tôi không cần phải mô tả - bởi nhiều người trong các bạn hẳn đã nhìn thấy chúng hoặc các bức ảnh của những thứ sau đây - đền, cung điện, những hàng cột, và lăng mộ mọc lên dọc theo hai bờ sông Nile trong 30 thế kỷ giữa thời kỳ của các kim tự tháp và thời kỳ của Cleopatra. Ở Karnak và Luxor, một khu rừng thực sự của những cây cột đã được dựng lên bởi hoàng gia Ai Cập. Các cây cột ấy có vẻ quá nhiều đối với chúng ta, nhưng rõ ràng sự san sát đến chương mắt của chúng được tạo ra có chủ định, để phá vỡ sức ảnh hưởng độc đoán của Mặt Trời. Ở đây, từ rất lâu trước khi người Hy Lạp phát triển thịnh vượng, các cổng vòm và hầm mộ, các cây cột và đỉnh cột, các thanh rầm đỉnh cột và trán tường tam giác*, là những mẫu mực và thách thức cho kiến trúc ở văn minh Địa Trung Hải.
Tôi sẽ không đặt nghệ thuật điêu khắc Ai Cập với nghệ thuật điêu khắc Cổ Điển, nhưng tôi không biết một tác phẩm điêu khắc nào của Hy Lạp cổ đại đẹp hơn bức tượng bán thân bằng diorite của Khafre ở Bảo tàng Cairo. Giờ đây nó đã 4.200 tuổi, và dường như miễn nhiễm với tác động của thời gian. Nó có thể đã được điêu khắc theo lối lý tưởng hóa, nhưng rất có thể, về những đường nét chủ chốt, nó vẫn thể hiện hình ảnh vị pharaoh thứ hai của Triều đại thứ Tư. Nổi tiếng hơn cả bức tượng này là bức tượng bằng đá Ông giáo ngồi , hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Louvre. Trong tư thế ngồi xổm, gần như hoàn toàn khỏa thân, ông giắt một cây bút trên vành tai như một vật dự phòng cho cây bút mà ông đang cầm trên tay. Ông giữ một bản ghi chép về những Công việc đã làm và những hàng hóa đã được trả tiền, về giá cả và chi phí, về lợi nhuận và thua lỗ, về những khoản thuế đã đến hạn và đã được trả. Ông lập các bản khế ước và di chúc, và viết bản báo cáo thuế của mình với tư cách người chủ lao động. Cuộc đời của ông đơn điệu, nhưng ông giải khuây bằng việc viết những bài luận về những nhọc nhằn trong sự sinh tồn của người lao động chân tay và phẩm giá cao quý của những người mà thức ăn của họ là trang giấy và máu của họ là mực viết.
Ấn bên dưới mọi thứ và đứng trên mọi thứ ở Ai Cập là tôn giáo. Chúng ta tìm thấy nó ở mọi giai đoạn và hình thái, từ tín ngưỡng thờ vật tổ cho đến thần học, chúng ta nhìn thấy ảnh hưởng của nó trong văn chương, hệ thống nhà nước, nghệ thuật - trong mọi thứ, ngoại trừ luân lý. Và các vị thần của tôn giáo ấy nhiều gần bằng những vị thần ở Ấn Độ. Các thầy tế kể rằng, bầu trời đã xuất hiện từ thuở sơ khởi; và cho đến vĩnh hằng, bầu trời và sông Nile vẫn là những vị thần chủ đạo. Tất cả các thiên thể đều là những dạng biểu hiện bên ngoài của các linh hồn vĩ đại, mà ý nguyện của họ quy định những chuyển động phức tạp và đa dạng của các thiên thể đó. Mặt Trời là thần Ra hoặc Re hoặc Amon, tác vị thần tạo ra thế giới bằng cách chiếu sáng lên nó; còn thần Horus là một con chim ưng khổng lồ ngày qua ngày bay qua thiên đường, như thể đang giám sát lãnh địa của nó. Sông Nile là thần Osiris vĩ đại; và - có lẽ vì sông Nile đem màu mỡ và sinh sôi đến cho vùng đất quanh nó - Osiris cũng được tôn thờ như vị thần của năng lực tình dục và sinh sản của đàn ông.
Isis, em gái và cũng là vợ của Osiris, là nữ thần của tình mẹ; và nhận được những màu mỡ và sự sinh sôi từ con sông đại diện cho Osiris, vùng đất châu thổ sông Nile cũng là một trong những hình thái của bà. Cây cỏ và động vật cũng được tôn thờ như những vị thần; cây cọ được tôn thờ do bóng mát của nó, dê và bò được tôn thờ do năng lực sinh sản của chúng, rắn được tôn thờ như biểu tượng của trí huệ và sự sống, ít nhất thì nó biết làm sao để kiếm ăn. Pharaoh cũng được tôn thờ như thần, con trai của Amon-Re; ông ta là một vị thần dùng mặt đất như nơi trú chân tạm thời. Chính qua dòng dõi được cho là thần thánh này, ông ta có thể cai trị trong thời gian dài như thế và chỉ sử dụng ít sức mạnh bạo lực đến thế.
Vì vậy, các thầy tế Ai Cập là những công cụ cần thiết của ngai vàng và đội ngũ cảnh sát chìm cho trật tự xã hội này. Thông qua lòng mộ đạo của dân chúng và sự rộng lượng về chính trị của nhà vua, họ dần trở nên giàu có và hùng mạnh hơn giới quý tộc phong kiến, hoặc thậm chí hơn cả chính hoàng gia. Họ giáo dục lớp trẻ, tích lũy và truyền đạt kiến thức, và khép bản thân vào kỷ luật bằng sự khắc khổ và nhiệt huyết. Herodotus mô tả họ, gần như cùng với sự ngưỡng mộ kèm chút kinh sợ.
Họ là những người cực kỳ chú tâm đến việc tôn thờ các vị thần, đến nỗi không ai chú tâm vào chuyện đó bằng họ, và theo dõi chăm chú những nghi lễ đi kèm với việc tôn thờ ấy… Họ mặc đồ vải lanh, liên tục được giặt sạch sẽ. Họ cắt bao quy đầu ởì sự sạch sẽ, cho rằng tốt hơn nên vệ sinh bộ phận ấy. Cứ mỗi ba ngày, họ lại cạo nhãn toàn bộ cơ thể, để cơ thể họ không có chấy rận hay bất cứ thứ dơ bẩn nào khác… Họ tắm rửa trong nước lạnh hai lần một ngày và hai lần một đêm. (Histories 2.37)
Nhược điểm của họ là sự tôn sùng nhiệt thành dành cho quyền lực, và sự sẵn lòng khuyến nghị, hoặc bán, những thần chú, nghi thức, hoặc bùa phép cho những người trung thành với tín ngưỡng, như những công cụ để đạt được sự an vui nơi trần thế hoặc hạnh phúc vĩnh hằng.
Theo nhà Ai Cập học người Mỹ vĩ đại của chúng ta, Giáo sư James Breasted:
Những nguy hiểm của cuộc sống ở thế giới bên kia giờ đây được nhân lên gấp bội, và đối với mỗi tình cảnh hiểm nghèo, thầy tư tế lại có thể cung cấp cho người đã khuất một lá bùa hữu hiệu, thứ chắc chắn sẽ cứu chữa được cho anh ta. Bên cạnh nhiều lá bùa cho phép người chết tới được thế giới bên kia, tồn tại những lá bùa ngăn việc anh ta bị mất miệng, mất đầu, mất tim; các lá bùa khác cho phép anh ta nhớ tên mình, thở, ăn, uống, tránh ăn chất thải của chính mình, ngăn nước uống của anh ta chuyển thành lửa, biến bóng đêm thanh ánh sáng, ngăn tất cả các con rắn và những quái vật hung ác khác tới gần anh ta, và nhiều công dụng khác… Vì vậy, sự phát triển về luân lý ở thuở sơ khai nhất, mà chúng ta có thể truy hồi ở phương Đông cổ đại đã đột nhiên bị gián đoạn, hoặc ít nhất là bị cản trở, bởi những công cụ đáng ghê tởm của một tầng lớp tư tế suy đồi, háo hức thu lợi.
Đó phần nào là hiện trạng của tôn giáo và tín ngưỡng ở Ai Cập khi một nhà thơ, một tình nhân, và kẻ dị giáo* bước lên ngai vàng và tuyên bố với giới tăng lữ và người dân, những người khi đó đã bị sốc, rằng chỉ tồn tại duy nhất một vị thần.
NHÀ THƠ
Amenhotep IV gần như không phải sinh ra để làm vua: ông quan tâm đến nghệ thuật hơn chiến tranh, viết bài thơ nổi tiếng nhất trong văn chương Ai Cập, và yêu vợ mình, Nefertiti, không biết mệt mỏi. Ông cho phép các họa sĩ vẽ ông cưỡi xe ngựa chiến với hoàng hậu, cùng bà vui đùa với những đứa con.
Vào những dịp kỷ niệm, Nefertiti ngồi bên cạnh ông và nắm tay ông, trong khi những cô con gái của họ nô đùa dưới chân ngai vàng. Bà sinh cho ông 7 người con gái, nhưng không được một cậu con trai nào; ông vẫn yêu bà và không lấy thêm vợ. Ông nói rằng bà là “nữ chủ nhân hạnh phúc của ta, người mà mỗi khi nghe thấy giọng của bà, nhà vua lại cảm thấy hân hoan”; và khi tuyên thệ, ông dùng những từ “Bởi hạnh phúc của tim ta nằm ở Nữ Hoàng và những đứa con của bà”.
Sau Nữ Hoàng, ông yêu Mặt Trời. Người Ai Cập từ lâu trước đó đã tôn thờ Mặt Trời như cha của mọi sự sống trên mặt đất; nhưng họ cũng tôn thờ Amon và cả trăm vị thần khác, từngôi sao Hôm cho đến củ hành và con khỉ đầu chó. Ông cảm thấy ghê tởm khi nhìn thấy đai tư tế của thần Amon hiến tế một con cừu đực cho vị thần này; ông khinh miệt việc mua bán những lá bùa ma thuật của đám tăng lữ và việc họ sử dụng những lời giả làm sấm truyền của thần Amon để hỗ trợ cho những mưu tính của mình.
Ông ghê tởm sự giàu có vô đạo đức của đám tư tế và sự kiểm soát ngày càng lớn của một hệ thống phân cấp vụ lợi lên đời sống của đất nước. Với sự táo bạo của một nhà thơ, ông vứt bỏ thái độ thỏa hiệp và tuyên bố rằng những thần thánh và nghi lễ này là sự sùng bái thô tục và rằng chỉ có một vị thần, Aton - Mặt Trời. Ông vứt bỏ cái tên mà ông được thừa kế, Amenhotep, cái tên chúa từ “Amon”, và tự xưng là khnaton, nghĩa là “Aton hài lòng”.
Tự ý lấy một số bài thơ thể hiện tư tưởng độc thần được sáng tác ở triều vua trước, ông viết những bài thơ nồng nhiệt, ca ngợi thần Aton, thần Mặt Trời; bài thơ dài nhất trong số này giờ đây vẫn được lưu truyền và là di sản đáng chú ý nhất của nền thi ca Ai Cập cổ đại:
Bình minh của người tuyệt đẹp nơi chân trời.
Ôi Aton đang sống, khởi nguyên của mọi cuộc đời.
Khi người mọc ở chân trời phía Đông,
Người khiến mọi mảnh đất ngập tràn vẻ đẹp của người.
Người đẹp, vĩ đại, sáng rực rỡ, ở trên cao phía trên mọi mảnh đất,
Những tia sáng của người, chúng ôm trọn mặt đất, thậm chí ôm cả những thứ người đã tạo ra.
Chúng là Re, và ngài mang chúng đi trong sự kiềm tỏa;
Ngài trói buộc chúng bằng tình yêu của ngài.
Dù ngài ở rất xa, những tia nắng của ngài vẫn nằm trên mặt đất;
Dù ngài ở rất cao, những dấu chân của ngài chính là ban ngày.
Khi ngài lặn ở chân trời phía Tây,
Mặt đất tối tăm như những người chết;
Họ ngủ trong căn phòng của mình,
Đầu họ được bọc kín,
Mũi họ ngừng thở,
Và họ không nhìn thấy những người khác,
Tất cả những gì thuộc về họ bị cướp đi
Những thứ bên dưới đầu họ,
Và họ không biết điều đó.
Mọi con sư tử bước ra từ hang ổ của nó,
Tất cả những con rắn, chúng cắn…
Thế giới nằm trong im lặng,
Ngài, người khiến chúng nghỉ ngơi ở chân trời của ngài.
Mặt đất sáng ngời khi ngài mọc ở chân trời.
Khi ngài tỏa sáng với tư cách thần Aton vào ban ngày.
Ngài đuổi bóng đêm đi.
Khi ngài gửi đi những tia nắng của mình,
Hai Vùng Đất ngày ngày ăn mừng,
Tỉnh thức và đứng trên đôi chân của họ
Khi ngài đã nâng họ đứng lên.
Khi đã rửa ráy chân tay, họ mặc quần áo,
Cánh tay họ giơ lên trong sự ngưỡng mộ dành cho bình minh của ngài.
Trên cả thế giới, người ta làm công việc của mình.
Tất cả gia súc nghỉ ngơi trên cánh đồng chăn thả,
Cây cỏ sinh sôi nảy nở,
Chim chóc nhảy nhót trong những đầm lầy,
Đôi cánh giương cao trong sự ngưỡng mộ dành cho ngài.
Tất cả những con cừu nhảy múa dưới chân ngài,
Tất cả những loài có cánh bay,
Chúng sống khi ngài đã tỏa nắng lên chúng.
Những con thuyền dong buồm ngược dòng và xuôi dòng.
Mọi nẻo đường rộng mở bởi ngài đã ló rạng.
Cá trên sông nhảy lên trước mặt ngài.
Những tia nắng của ngài ở giữa biển xanh vĩ đại.
Ngài tạo ra mầm sống ở phụ nữ,
Ngài tạo ra hạt giống ở đàn ông,
Mang sức sống tới đứa con trai trong bụng người mẹ,
Dỗ dành nó để nó không khóc,
Chăm nom nó ngay cả khi trong bụng mẹ,
Ngài mang hơi thở đến để truyền sức sống cho mọi sinh vật mà ngài đã tạo ra!
Khi ngài bước ra từ cơ thể… vào ngày đứa bé ra đời,
Ngài mở miệng nó khi nói,
Ngài cung cấp cho nó những thứ thiết yếu…
Những tia nắng của ngài nuôi dưỡng mọi khu vườn;
Khi ngài mọc, chúng sống,
Chúng sinh trưởng nhờ có ngài.
Ngài tạo ra các mùa
Để tạo ra tất cả những tạo vật của ngài;
Mùa đông để mang đến cho họ sự mát mẻ,
Và hơi nóng để họ có thể cảm nhận ngài.
Ngài đã nâng bầu trời xa xôi kia lên cao,
Để có thể chiêm ngưỡng tất cả những gì ngài đã làm ra.
Chỉ một mình ngài, chiếu sáng trong thần thể của Aton sống.
Ló rạng lúc bình minh, sáng rực rỡ, đi xa và trở lại.
Ngài tạo ra hàng triệu dạng thể
Chỉ qua chính một mình ngài;
Thành phố, thị trấn, và bộ tộc,
Đường lớn và sông.
Tất cả những đôi mắt đều đặt ngài ở trước,
Bởi ngài là Aton của ban ngày trên mặt đất…
Ngài ở trong tim tôi,
Không ai khác biết ngài
Ngoại trừ con trai ngài Ikhnaton.
Ngài đã khiến cậu ta sáng suốt
Trong những sắp đặt và trong sự vĩ đại của ngài.
Thế giới nằm trong bàn tay ngài,
Mặc dù ngài đã tạo ra chúng
Khi ngài mọc, chúng sống,
Khi ngài lặn, chúng chết;
Bởi ngài chính là sự trường tồn của sự sống.
Con người sống thông qua ngài,
Trong khi đôi mắt họ ngưỡng mộ vẻ đẹp của ngài
Cho đến khi ngài lặn.
Người ta bỏ tất cả các công việc
Khi ngài lặn ở đằng Tây…
Ngài đã sáng lập ra thế giới,
Và nuôi dưỡng chúng cho con trai ngài…
Ikhnaton, người có cuộc sống dài lâu;
Và cho chính thất hoàng gia, người mà vua yêu thương,
Phu nhân của Hai Vùng Đất, Nefer-nefru-aton, Nefertiti,
Sống và phát triển rực rỡ mãi mãi.
Đây không chỉ là một trong những bài thơ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, đây là biểu hiện nổi bật của tư tưởng độc thần vào thời điểm 640 năm trước thời Isaiah. Vị thần của Ikhnaton không thuộc về một tộc người như Jehovah; Aton nuôi dưỡng và cai trị tất cả các quốc gia trên thế giới. Đây là một ý niệm về thần thánh, mang tinh thần của thuyết sức sống*, xem thần thánh như một thế lực sáng tạo có sức sống, truyền sinh khí cho vạn vật, sức nóng của thế lực ấy là hơi ấm của sự sống và nhiệt huyết của tình yêu, nó nuôi dưỡng và đem sự sinh sôi đến với mọi loài thực vật, truyền năng lượng cho mọi con vật, và “sáng tạo đứa bé trai trong bụng người phụ nữ”. Nó là vị thần dành cho tất cả các quốc gia, cho tất cả các hình thái sinh trưởng.
Ikhnaton đã làm vấy bẩn điều này khi để sự vị kỷ che mờ tầm nhìn của mình: “Không ai khác biết ngài, ngoại trừ con trai của ngài Ikhnaton… Ngài đã sáng lập ra thế giới, và nuôi dưỡng chúng cho con trai ngài Ikhnaton”. Tự tin với tín ngưỡng mới của mình, ông đã ra lệnh cạo sạch hoặc tẩy tên của tất cả các vị thần, ngoại trừ Aton, ra khỏi mọi nơi công cộng ở Ai Cập. Ông loại bỏ từ “Amòn”, tức một vị thần giờ đây đã chết, ra khỏi tên của cha ông; ông tuyên bố rằng tất cả các tín ngưỡng đều bất hợp pháp, ngoại trừ tín ngưỡng của ông.
Cả hệ thống chính thức khi ấy đã nổi giận và bắt đầu âm mưu, người dân, xem tư tưởng độc thần của Ikhnaton như một sự giết hại hàng loạt các vị thần, xì xào bàn tán và nổi loạn. Thậm chí trong cung điện của ông, triều thần căm ghét ông, bởi sự khinh bỉ của ông với chiến tranh đã khiến quân đội suy yếu, và các tướng lĩnh đã sốt ruột chờ đợi cái chết của ông. Các thành bang chư hầu từ chối việc cống nạp theo thông lệ, lần lượt từng thành bang phế truất thống Đốc người Ai Cập của họ và trở thành thành bang tự do; nước Ai Cập bỗng chốc tan vỡ thành nhiều phần. Ikhnaton gần như bị bỏ rơi, chỉ còn lại vợ và các con. Khi qua đời, ông mới vừa tròn 30 tuổi, và khi hấp hối ông than khóc về sự thất bại của mình với tư cách một nhà cai trị, và về sự không xứng đáng của chủng tộc mình.
Hai năm sau cái chết của ông, Tutankhamon, con rể ông và cũng là người được các thầy tế ủng hộ nhất, bước lên ngai vàng.
Ông bỏ cái tên Tutenkhaton, cái tên mà cha vợ đã đặt cho ông, làm hòa với các thế lực của tầng lớp tu sĩ, và tuyên bố sự khôi phục của các vị thần cổ đại trước một dân tộc đang hân hoan trở lại. Các từ “Aton” và “khnaton” bị xóa khỏi tất cả các công trình kiến trúc quan trọng, các thầy tế cấm bất cứ ai nhắc đến tên của vị vua dị giáo kia, và dân tộc này nhắc đến ông bằng cụm từ “Đại Tội Đồ”. Những cái tên mà khnaton đã xóa đi được khắc lại vào các công trình kiến trúc lớn, và những tiệc tùng, hội hè mà ông đã bãi bỏ được khôi phục. Mọi thứ trở lại như trước.
Ai Cập Có một thời kỳ vĩ đại khác, dưới thời vua Rameses II, người đã thể hiện khí phách của mình bằng việc tái chinh phục các thuộc địa của Ai Cập, xây dựng những ngôi đền khổng lồ, sinh ra 100 người con trai và 50 người con gái với nhiều người vợ của mình, và để lại một bức tượng của chính mình, như một dấu tích đáng tự hào về quyền uy của ông ta. Nó vốn cao 17 m; giờ đây nó dài 17m, bởi qua nhiều thế kỷ, phần trán tường bằng đất để cố định bức tượng đã mòn đi và vì thế nó đổ xuống.
Shelley đã mô tả bức tượng ấy trong một bài thơ thể sonnet vừa đẹp đẽ vừa kinh khủng, được đặt tên theo một trong nhiều cái tên của Rameses, “Ozymandias
Tôi gặp một du khách từ một vùng đất xưa.
Người nói rằng: “hai chân bằng đá khổng lồ và không thân trên
Đứng trong sa mạc,… Gần bên chúng, trên cát,
Nửa chìm nửa nổi, một khuôn mặt vụn vỡ nằm đó, cau mày,
Và đôi môi nhăn nheo, và mệnh lệnh lạnh lùng khinh nhạo,
Nói lên rằng người tạc tượng thấu hiểu những nhiệt huyết ấy
Những thứ dẫn sót lại, in dấu lên những thứ không có sinh khí này,
Bàn tay chế giễu họ, và trái tim nuôi dưỡng;
Và trên bệ đá, xuất hiện những lời này:
Tên ta là Ozymandias, vua của các vị vua:
Chiêm ngưỡng những gì ta làm được, kẻ Hùng mạnh kia ơi, và nỗi tuyệt vọng!”
Không còn gì cạnh đó. Xung quanh sự suy tàn
Của đống đổ nát khổng lồ ấy, bát ngát và trần trụi
Bãi cát cô đơn và bằng phẳng trải ra xa tít tắp.