Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1539 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
ấn độ từ phật thích ca đến indira gandhi áo nghĩa thư

Văn minh - thứ mà chúng ta đã định nghĩa là trạng thái ổn định về trật tự xã hội tạo điều kiện cho sự kiến tạo về văn hóa - đã tồn tại ở Ấn Độ ngay từ những niên đại cổ xưa nhất mà các nhà khảo cổ học từng quan tâm tìm hiểu. Ở Mohenjodaro, trên sông Indus, Ngài John Marshall và các cộng sự vào năm 1924 đã khai quật được bốn hoặc năm thành phố vốn bị chôn vùi, với hàng trăm cửa hàng và nhà gạch được xây kiên cố, nằm dọc các con phố rộng và những hẻm hẹp, và ở một số trường hợp cao đến vài tầng. Ở đó, họ tìm thấy xe kéo, vật dụng gia đình, đồ trong nhà vệ sinh, đồ gốm vẽ màu tráng men, những đồng tiền và những con dấu được chạm khắc, vòng cổ và hoa tai; người ta nói với chúng ta rằng tất cả những thứ này có niên đại xa xưa không kém gì các kim tự tháp Ai Cập cổ nhất.

Vào khoảng năm 1600 TCN, một tộc người rắn rỏi và gan dạ mang tên Aryan đã tới Ấn Độ từ phương Bắc, định cư ở đó với tư cách những kẻ chinh phục, trở thành một tầng lớp thượng lưu, thiết lập hoặc xác nhận một hệ thống phân chia giai cấp, phát triển tiếng Phạn (Sanskrit) về cơ bản giống các ngôn ngữ châu Âu, và tạo ra một nền văn chương và một số mảnh nhỏ của nó đã được truyền đến đời chúng ta trong bốn cuốn kinh Vệ Đà, hay còn gọi là các cuốn Sách Tri thức. Chúng phần nhiều bao gồm những lời cầu nguyện, thánh ca, và những nghi lễ tôn giáo; phần ít bao gồm các áo nghĩa thư - các upanishad, tức những cuộc đàm luận tôn giáo - triết học giữa thầy và trò. Suốt hàng thế kỷ, chúng được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu; thế rồi, tới gần năm 300 TCN, chúng được chép thành văn bản, và giờ đây là những dạng cổ xưa nhất của triết học Ấn Độ mà đến nay vẫn tồn tại. Tôi rất thích chúng, và mong bạn cùng chia sẻ với tôi một chút về chúng.

Upa nghĩa là “ gần ”, và shad nghĩa là “ ngồi ”; các từ này gợi đến việc một hoặc nhiều học trò ngồi trước một guru, tức bậc thầy. Hệ tư tưởng này - ngày nay vẫn được truyền dạy bởi các guru - đưa ra ba giai đoạn để thấu hiểu và cứu vớt linh hồn con người. Giai đoạn đầu tiên là sự soi xét nội tâm (nội quan) một cách kiên nhẫn và bền bỉ. Bỏ mặc cảm giác, khao khát, ký ức, lý luận, suy nghĩ, đặt tất cả những hoạt động tri thức sang một bên, bởi những thứ này chủ yếu đã được điều chỉnh cho phù hợp với việc xử trí những thứ bên ngoài, đặt tất cả các hành động hoặc suy nghĩ về hành động sang một bên; soi xét nội tâm một cách bền bỉ cho đến khi bạn không thấy bất cứ thứ gì ở bất cứ hình dạng nào hoặc chất nào hoặc bản ngã nào, cho đến khi bạn cảm thấy chính tâm trí đằng sau những hoạt động của nó, và cảm thấy ý thức của ý thức. Đây là thực tại cơ bản nhất, gần gũi nhất trong tất cả các thực tại, mà tất cả các hiện tượng - mọi cảm nhận và vì thế mọi sự vật - phụ thuộc vào. Các guru gọi thực tại cơ bản này là Atman - một từ có vẻ mang nghĩa “hơi thở, giống các từ “spirit” (linh hồn) và “inspire” (truyền cảm hứng) trong tiếng Anh.

Thứ hai, trong vạn vật, cũng như trong chúng ta, tồn tại một hơi thở của lực lượng bên trong, tối quan trọng và phi vật chất này, mà nếu không có nó vật chất sẽ không có linh hồn, không cử động, chết, và sẽ không có thứ gì sống hay phát triển. Tổng hòa của tất cả những sinh lực này là Brahma - phần cốt yếu phi vật chất, phi giới tính, phi cá tính, vô hình, và xuất hiện ở vạn vật - thứ không chỉ tất cả các sinh mệnh và suy nghĩ mà tất cả cá thể và lực lượng đều phụ thuộc vào. Đây là vị thần duy nhất, tất cả những vị thần của Hindu giáo đều là những khía cạnh không đầy đủ và những cách biểu hiện mang chất thơ của vị thần này, giúp tâm trí người phàm cảm nhận tính thiết yếu đa dạng của thực tại xuất hiện ở vạn vật.

Thứ ba, Atman và Braham là một: linh hồn hoặc lực lượng phí cá nhân bên trong chúng ta, hoặc bên trong một cái cây hoặc hòn đá, chính là Linh hồn phi nhân của Thế giới. Hãy lắng nghe vị guru được kính yêu nhất trong các guru upanishad, Yajnavalkya, giải thích điều này cho học trò Shwetaketu của ông:

“Hãy lấy một quả sung ở chỗ kia và đem đến đây cho ta.”

“Thưa thầy, nó đây ạ.”

“Chia nhỏ nó ra.”

“Thưa thầy, nó đã được chia nhỏ.”

“Con nhìn thấy gì trong đó?”

“Con nhìn thấy những hạt nhỏ mịn, thưa thầy.”

“Hãy chia nhỏ một trong những hạt ấy.”

“Nó đã được chia nhỏ, thưa thầy.”

“Con nhìn thấy gì trong đó?”

“Không gì cả, thưa thầy.”

“Chính thế, con của ta, chính phần cốt yếu tinh vi nhất ấy mà con không nhìn thấy - chính từ phần cốt yếu tinh vi nhất ấy cái cây vĩ đại này sinh ra. Hãy tin ta… chính phần cốt yếu tinh vi nhất ấy - là linh hồn của cả thế giới này. Đó là Thực Tại. Đó là Atman. Tat tvam asi - đó là con, Shwetaketu.”

“Thưa thầy, thầy thật sự đã khiến con hiểu được còn nhiều hơn thế.”

“Vậy đi, con yêu.”

Các áo nghĩa thư upanishad dạy người ta nhiều hơn thế nhiều; Yoga là một cách để thanh tẩy bản thân, và luân hồi là hình phạt cho sự ích kỷ. Nhưng về vấn đề này, hãy nghe lời Phật Thích Ca,“Ánh sáng của Thế giới”* trong văn hóa châu Á.

PHẬT THÍCH CA

Câu chuyện của ngài đậm tính truyền thuyết và huyền ảo đến mức chúng ta không thể chắc chắn liệu ngài có từng tồn tại. Một trong những truyền thuyết ấy nói rằng ngài sinh ra từ một người mẹ đồng trinh. Người ta kể lại rằng chính ngài đã tách mở một bên sườn của Hoàng Hậu Maya, chui vào tử cung của bà, nằm trong đó 10 tháng, sau đó ra đời, “không hề bị vấy bẩn”, mà “giống một người đàn ông đang hạ bước trên những bậc thang”, và “tỏa hào quang như một viên ngọc quý”. Bất kể thế nào, ông cũng thực sự có một người cha, vua Kapilavastu, gần dãy Himalaya. Siddharta Gautama, người ta gọi cậu bé ấy với cái tên này, được trao cho mọi tiện nghi, được che chở không phải tiếp xúc với đau khổ của thế giới, được chọn một người vợ từ 500 trinh nữ xinh đẹp, trở thành một người cha hạnh phúc, và sống trong sung túc, yên bình.

Theo một giai thoại Phật giáo, một ngày ngài đi từ cung điện ra phố và nhìn thấy một ông già. Một ngày khác ngài đi và nhìn thấy một người ốm; và vào ngày thứ ba ngài nhìn thấy một người chết. “Điều này”, ngài giải thích, “đối với ta dường như có gì đó không hợp lý. Khi ta ngẫm nghĩ lại, tất cả những hoan hỉ của tuổi trẻ đều biến mất… Vì thế, hỡi chư tăng,… khi phải tuân theo quy luật của sự sinh, ta đi tìm bản chất của sự sinh; khi phải tuân theo quy luật của sự lão, ta đi tìm bản chất của sự lão, của bệnh tật, của khổ đau, của sự suy đồi. Rồi ta nghĩ: “Sẽ thế nào nếu như ta, khi phải tuân theo quy luật của sự sinh, đi tìm bản chất của sinh,… và, khi đã nhìn thấy nỗi cùng khổ trong bản chất của “sinh, đi tìm cái chưa ra đời, cái yên bình tối thượng của chốn Niết Bàn?” Giống một người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của việc “cải đạo”, ngài quyết tâm rời bỏ cha, vợ, cùng đứa con trai mới sinh, và trở thành một người khổ hạnh đi tìm chân lý căn bản và tối quan trọng của thế giới.

Suốt 6 năm, ngài sống bằng cách ăn hạt cây và cỏ. “Khi ấy ta nghĩ rằng, sẽ thế nào nếu ta ăn ít, chỉ vừa bằng những gì lòng bàn tay ta có thể nắm lấy - nhựa sống từ đậu quả, đậu tằm, đậu gà, và đậu hạt… Cơ thể ta trở nên cực kỳ gầy gò. Dấu ta để lại ở chỗ ta ngồi chỉ nhỏ bằng vết chân lạc đà, bởi ta ăn quá ít… Khi ta nghĩ ta sẽ giải thoát được cho chính mình, ta cảm thấy muốn ăn ít đi”.

Nhưng một ngày nọ, Gautama nhận ra rằng hành xác không phải là con đường để giác ngô. Ngài không cảm thấy bất cứ sự giác ngộ mới mẻ nào đến với mình qua những hình thức khổ hạnh này; ngược lại, niềm tự cao rằng mình đã chịu được việc đày đọa bản thân đã đầu độc sự thanh thoát, ấy là nếu có bất cứ sự thanh thoát nào sinh ra từ việc khổ hạnh. Ngài từ bỏ tư tưởng khổ hạnh, và tiếp đó ngồi dưới một bóng cây (tức cây Bồ Đề mà người ta vẫn cho các du khách thấy), và quyết tâm không rời khỏi chỗ đó cho đến khi giác ngộ. Ngài tự hỏi, điều gì là nguồn gốc của khổ đau, ốm yếu, tuổi già, cái chết của con người? Rồi ngài nhìn thấy cảnh sự ra đời và chết đi diễn ra nối tiếp nhau liên miên không hồi kết, và mỗi sự ra đời hay cái chết đều nhuốm màu u ám của khổ đau. Sự ra đời, ngài kết luận, là cái gốc của mọi khổ não.

Tại sao sự sinh không bị dừng lại? Bởi vì luật nhân quả karma bắt người ta phải đầu thai, để trong những lần đầu thai mới ấy linh hồn có thể chuộc lỗi cho những xấu xa nó làm ở kiếp trước. Tuy nhiên, nếu một người có thể sống một cuộc đời công bằng hoàn hảo, một mực nhẫn nại và nhân từ với tất cả, nếu anh ta có thể gắn tâm tưởng của mình với những cái vĩnh hằng, không bó buộc tâm tưởng vào những thứ phù vân, đến rồi lại đi - thì anh ta có thể thoát được cảnh phải tái sinh, và suối nguồn khổ não của anh ta sẽ khô cạn. Nếu một người có thể bình ổn tất cả những dục vọng cho bản thân, và chỉ nỗ lực làm những điều thiện với vạn vật, thì có lẽ sẽ vượt qua được cái bản ngã cá nhân, cái ảo tưởng cơ bản nhất của nhân loại ấy, và linh hồn cuối cùng sẽ hòa làm một với cái vô hạn vô thức. Một tâm hồn, khi đã tự thanh tẩy khỏi mọi dục vọng cá nhân, sẽ yên bình làm sao! - và có tâm hồn nào chưa tự thanh tẩy như thế mà lại có được bình yên? Hạnh phúc là cái không thể đạt đến ở kiếp này như đám đa thần nghĩ, cũng không có ở kiếp sau như nhiều người tin; chỉ có bình yên là khả dĩ, chỉ có sự bình thản của tâm hồn đã chấm dứt mọi dục vọng, tức là cõi Niết Bàn. Và như thế, sau 7 năm thiền định, Gautama ra đi thuyết giảng về Niết Bàn cho nhân loại.

Ngài sớm thu nhận các đệ tử, những người theo bước ngài khi ngài đi từ thị trấn này sang thị trấn khác, giảng đạo ở những nơi đó khi ngài đi qua. Người ta tin ngài, bởi ngài dường như không hề nghĩ về chính mình, và đáp lại sự xấu xa bằng thiện tâm một cách kiên nhẫn. “Hãy để một người vượt qua giận dữ bằng sự nhân từ”, ngài khuyên mọi người, “vượt qua cái xấu và cái ác bằng cái thiện… Không bao giờ có thể dùng hận thù mà chấm dứt được hận thù; chỉ có thể chấm dứt hận thù bằng tình yêu thương”. Ngài không nghĩ về ngày mai, mà bằng lòng với việc được tín dân ở nơi ngài đi qua bố thí cho đồ ăn; có một lần ngài khiến đệ tử bất bình vì dùng bữa trong nhà của một cô gái làng chơi chuyên phục vụ khách hạng sang. Người ta gọi ngài là Buddha - Phật, nghĩa là Người Giác Ngộ - nhưng ngài không bao giờ tuyên bố rằng ngài đang truyền đạt lời nói của thánh thần. Ngài thuyết giảng thông qua những câu ngụ ngôn về luân lý, hoặc một đoạn gồm năm câu súc tích mà đầy trí tuệ, chẳng hạn như “Ngũ Giới”:

Không giết bất cứ sinh vật nào;

Không lấy thứ không thuộc về mình;

Không nói dối;

Không uống rượu;

Không tà dâm.

Những lời khuyên rõ ràng ngăn cấm mọi hành động dục tính hoặc dục vọng. Truyền thuyết dân gian kể về một cuộc nói chuyện của Phật với đệ tử thân tín nhất của ngài, A Nan Đà:

“Bạch tôn sư, chúng ta phải hành xử ra sao với phụ nữ?”

“Tránh đừng nhìn họ, A Nan Đà.”

“Nhưng nếu ta phải nhìn họ, thì ta phải làm sao?”

“Đừng nói với họ, A Nan Đà.”

“Nhưng nếu họ phải nói với ta, bạch tôn sư, thì ta phải làm sao?”

“Phải luôn tỉnh thức, A Nan Đà.”

Quan niệm của Đức Phật về tôn giáo thực sự thuần chất đạo đức; ngài quan tâm đến tất cả những thứ gì liên quan đến cách cư xử, không hề quan tâm đến nghi lễ, thờ phụng, hoặc thần học. Thêm vào đó, tương tự những kiến thức mới nhất trong tâm lý học, ngài phản đối quan niệm rằng tâm trí là thứ gì đó đằng sau - và thực hiện ở những hoạt động tâm trí; tâm trí là một thuật ngữ trừu tượng dùng để chỉ toàn thể những hoạt động đó. Đức Phật dạy rằng linh hồn là cái còn lưu lại, với tư cách lực sống của một cơ thể và một nhân cách, và chính linh hồn này là thứ có thể tái sinh vào một kiếp khác trên cõi trần để chuộc lại những tội lỗi đã phạm phải ở kiếp này.

Tội lỗi là sự ích kỷ, việc kiếm lợi hoặc kiếm niềm vui cho cá nhân; và chừng nào linh hồn vẫn chưa được giải thoát khỏi tất cả sự ích kỷ, nó vẫn sẽ phải tái sinh hết lần này đến lần khác. Niết Bàn không phải là thiên đường sau cái chết; nó là trạng thái viên mãn tĩnh lặng khi đã vượt qua sự ích kỷ. Đức Phật nói rằng cuối cùng chúng ta sẽ cảm nhận được sự ngu muội của tư tưởng cá nhân về phương diện luân lý và tâm lý. Bản ngã luôn lo lắng dao động của chúng ta không phải là những bản thể và sức mạnh thực sự độc lập, chúng chỉ là những gợn sóng trên dòng suối của sự sống, những nút nhỏ bé thắt và gỡ trong một lưới đan của định mệnh trước gió. Khi chúng ta thấy bản ngã của mình như một phần của cái toàn thể, khi chúng ta cải tạo chính mình và dục vọng của mình, thì những thất vọng và thất bại, khổ đau và cái chết tưởng như không thể tránh khỏi của chúng ta sẽ không còn khiến chúng ta đau buồn một cách chua xót như trước, chúng tan biến vào cái vô cùng của cái vô biên vô tận. Khi chúng ta đã biết yêu thương không phải bản ngã cá biệt của mình mà tất cả những thứ thuộc về con người, thì cuối cùng chúng ta sẽ tìm thấy Niết Bàn - sự yên bình vô vị kỷ.

HAI MƯƠI LĂM THẾ KỶ

Linh hồn của Ấn Độ là cái nóng. Có vẻ là vậy khi, vào tháng 2 năm 1930, nhà Durant hạ cánh xuống Bombay và cảm thấy cái nóng hầm hập ở nhiệt đột 33°C*. Có lẽ nào đây là lý do tại sao quá nhiều tín đồ Hindu giáo cầu nguyện rằng đừng bao giờ để họ phải tái sinh? Nhưng rồi chúng tôi đi theo hướng Đông để tới New Delhi và hướng Nam để tới Madras, và phát hiện ra nhiều tín đồ Hindu giáo đẹp đẽ, háo hức, năng động và sáng tạo, bất chấp cái nóng. Và ở phương Bắc, người dân được giữ cho tỉnh táo bởi những cơn gió mát thổi từ trên dãy Himalaya xuống. Người Anh đã duy trì quyền làm chủ Ấn Độ trong một thời gian dài bởi rất ít người trong số họ ở lại Ấn Độ được trên 5 năm liên tiếp, cứ 5 năm một lần, họ trở về Anh để chạy trốn khỏi Mặt Trời.

Đạo Phật, sau thời kỳ phát triển rực rỡ của nó dưới triều đại của Vua Ashoka vào thế kỷ thứ 3 TCN, nhanh chóng suy thoái ở Ấn Độ. Nó thành công nhất ở Ceylon, nơi có khí hậu nóng nực, với cái giá phải trả là sự cải biến đầy tính bạo liệt. Tôi bị sốc khi phát hiện ra, trên bức tường của một ngôi chùa ở Kandy, một bức tranh lớn vẽ hình nhà sáng lập khoan dung của Đạo Phật phân phát những hình phạt tàn bạo dưới địa ngục. Khi tôi phản đối việc “man rợ hóa” hình ảnh Đức Phật, con người theo chủ nghĩa lý tưởng và từng thuyết giảng rằng “Không sát sinh”, một nhà sư giải thích rằng nếu tôn giáo không thuyết giảng cả về bạo lực lẫn phẩm hạnh và hạnh phúc thì nó sẽ không thể kiểm soát được chủ nghĩa cá nhân hỗn loạn vô pháp của nhân loại. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, và Đông Nam Á, một Phật giáo được tái kiến thiết về mặt thần học đang phát triển mạnh mẽ, và Đức Phật, một người vốn không phải thần thánh, đã trở thành một vị thần.

Trong khi đó, khi bị làm suy yếu bởi cái nóng, bởi những chia cắt về tôn giáo, quân sự và chính trị, Ấn Độ đã bị xâm lược bởi Alexander, rồi đến người Hung, rồi người Ả Rập, rồi người Turk, rồi người Timor, rồi người Bồ Đào Nha, rồi người Pháp, và rồi người Anh. Vào năm 1686, Công Ty Đông Ấn tuyên bố ý định “thiết lập một lãnh thổ tự trị rộng lớn, vững chắc, đúng chất Anh, vĩnh viễn ở Ấn Độ”. Phần lớn những người xâm lược mang một lợi ích nào đó đến với tiểu lục địa liên tục bị quấy nhiễu này, chẳng hạn như nghệ thuật Hồi giáo và hệ thống hành chính kiểu Anh; nhưng mỗi người cũng lấy đi một phần trong đống “của cải Nam và Đông Nam Á” huyền thoại, để lại một dân tộc nghèo đói.

Bất chấp sự chuyển quyền của người Hung, người Ả Rập, người Turk, người Cơ Đốc giáo, và Mặt Trời, những người Hindu nhẫn nại đã gom được đủ nhiệt huyết và năng lượng để xây dựng những kiến trúc khổng lồ, vô số tác phẩm chạm khắc, triết học tinh tế, và một nền văn chương phong phú về cả văn xuôi lẫn thơ, có ai trong chúng ta lại từng bỏ lỡ viên ngọc quý nhỏ bé ấy, trong bài thơ của Rabindranath Tagore, một trinh nữ thông thái đã đặt nghi vấn về những lời khen của người yêu? Hãy cùng làm dịu cơn nóng với bài thơ ấy:

Nói cho em nghe đi, anh, tất cả điều đó có đúng không, có thật đúng không?

Khi mắt em sáng ngời lên thì những đám mây đen dông tố ùn ùn trong lòng anh.

Môi em dịu dàng như đóa hoa đầu tiên của một ái tình chớm nở, thật vậy không anh?

Ký ức mấy tháng năm trước kia chưa mờ trong lòng em ư?

Mặt đất, dưới gót chân em, vang lên như một thụ cầm, thật vậy không anh?

Có thật vậy không, bóng đêm khi thấy em, thì sương rớt xuống như lệ, còn ánh sáng ban mai tưng bừng bao phủ thân em?

Có thật là lòng anh đã tìm em từ hồi khai thiên lập địa, trong khắp vũ trụ?

Rồi tới khi gặp em, nghe giọng nói, ngắm cặp mắt, làn môi, mớ tóc xõa của em, lòng anh đã dịu xuống?

Và còn điều này nữa, có thật là cái bí mật của Vô biên ở trong vầng trán nhỏ của em không?

Tất cả những cái đó có thật không anh, nói cho em nghe đi.

Đúng là người Anh ca ngợi thơ ca, nhưng chỉ có Thế chiến Hai mới khiến Ấn Độ được tự do về chính trị.

MOHANDAS GANDHI VÀ INDIRA GANDHI

Mohandas Gandhi, người đã ở nước Anh trong 3 năm quan trọng định hình con người ông, đã học cách yêu tính cách Anh và cách tránh mặt tối tăm của nền công nghiệp Anh. Ông chịu sự ảnh hưởng từ William Morris, Peter Kronotkin, John Ruskin, Leo Tolstoy, và những người theo chủ nghĩa xã hội ở hội Fabian. Ông rung động sâu sắc trước những lời răn dạy đạo đức của Chúa Jesus và bổ sung nó vào tín niệm nhiệt thành mà ông dành cho lời giáo huấn quan trọng của Đức Phật - không làm tổn hại bất cứ sinh vật nào.

Trở về Ấn Độ, ông khẩn khoản cầu xin mọi người hãy ưu tiên đồng ruộng hơn nhà máy. Nếu có cần đến hàng Công nghiệp, hãy để các gia đình phục hồi những guồng xe sợi và biết hài lòng với vải vóc được sản xuất tại nhà cùng những vật dụng mà người thợ rèn của làng có thể rèn ra. Thà là cái nghèo đói hiển hiện trong ngôi nhà nông thôn còn hơn những cung điện và những tòa nhà nhiều căn hộ trong thành phố công nghiệp, thà là sự thân thiện của người dân làng còn hơn sự ngờ vực ngầm hoặc ác ý từ những sinh vật hai chân vô danh đang hối hả đi xuyên qua đám đông ở đô thị. Viễn cảnh thu hút Mohandas Gandhi là hình ảnh một dân tộc hài lòng với sự đơn giản của những lối sống cổ xưa.

Giống đa số các viễn cảnh khác, viễn cảnh này không thực tế. Sắt sẽ đến với người thợ rèn của làng từ chốn nào, nếu không phải thông qua ngành công nghiệp của những công nhân ngập nửa người trong đất cát dưới những hầm tối của thế giới này? Vũ khí, sự tổ chức, và tinh thần võ thuật, những thứ người ta cần đến để bảo vệ làng trước những cuộc tấn công, sẽ đến từ đâu? Những linh hồn nhân từ và những khu dân cư yên bình nhất sẽ hoàn toàn nằm dưới quyền định đoạt của những kẻ tàn nhẫn và hùng mạnh. Darwin một lần nữa sẽ lại thách thức Chúa Jesus.

Sau khi Mohandas Gandhi bị ám sát (năm 1948), phong trào chống công nghiệp hóa của ông nhanh chóng bị bào mòn bởi lòng tham lam chiếm hữu và tinh thần cạnh tranh tự nhiên của con người. Các nhà máy trong những thị trấn thu hút thanh niên trong làng, và chính nông nghiệp trở thành một ngành công nghiệp, kết hôn với hóa học và những máy móc tốn kém. Dẫu vậy, dân số vẫn tăng nhanh hơn nguồn cung cấp lương thực; các phong tục và phép cấm kỵ cổ xưa đánh bại những đạo lý và quan điểm hiện đại; và dân tộc này đã từ bỏ tương lai thịnh vượng bằng việc gia tăng dân số quá nhanh.

Trong khi đó, các nghiên cứu khoa học và sử học, cùng sự tiếp xúc của Ấn Độ với chủ nghĩa hoài nghi và thái độ dễ dãi của châu Âu và Mỹ, đã bào mòn những tín ngưỡng và quy chuẩn luân lý của đất nước này, và nước Ấn Độ mới khi ấy có đời sống kinh tế, chính trị, và xã hội rất hỗn loạn, với lao động chất lượng kém, hệ thống hành chính thối nát, và sự mục ruỗng về xã hội. Đột nhiên một người phụ nữ, rất có uy tín về chính trị, tuyên bố tạm ngừng chế độ dân chủ, và tiếm lấy quyền chuyên chế kiểm soát chính phủ, kinh tế, và báo chí Ấn Độ.

Indira Gandhi không hề thừa hưởng cái tên hay hệ tư tưởng từ Mohandas Gandhi, tên của bà bắt nguồn từ tên của người chồng quá cố, Feroz Gandhi, người không hề có liên hệ gì với “Mahatma”. Hơn nữa, triết lý của bà về nhà nước gần như hoàn toàn đối lập với triết lý của cha bà, Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của nước Ấn Độ độc lập, người đã giành được nhân tâm bằng sự hiền hòa và giành quyền lực bằng sự thỏa hiệp. Ngồi cạnh bà vào năm 1960, khi bà chủ trì một bữa tiệc buổi trưa thết đãi những người sao chép bản địa, ban đầu tôi bị ấn tượng bởi sắc đẹp của bà - những nét Ý, đôi mắt sáng ngời - và rồi bị lay động nhẹ nhàng trước sức ảnh hưởng của bà với tư cách một nhân cách và một khối óc. Sau này tôi không ngạc nhiên lắm khi vào năm 1966 bà trở thành Thủ tướng; việc bà ngồi vào vị trí của cha bà, người đã mất 2 năm trước đó, có vẻ là điều gần như hoàn toàn tự nhiên.

Chúng ta không cần phải giả bộ phán xét bà trong khi chúng ta thực sự không có quyền đó - chúng ta ở quá xa và thông tin chúng ta có được còn quá nhiều thiếu sót. Có thể chính nền kinh tế, chính trị, và xã hội Ấn Độ đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, yếu kém, tệ nạn hối lộ, và cần đến bàn tay cứng rắn của một vị trí quyền lực có tính tập trung và quyết đoán. Ở La Mã cộng hòa cổ đại, luật pháp cho phép - trong cơn khủng hoảng - việc bổ nhiệm một nhà cai trị độc tài trong một năm, nhưng nếu năm đó đã kết thúc và nhà cai trị độc tài vẫn tiếp tục làm việc như vậy, bất cứ ai cũng có thể phế truất anh ta, theo cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp.

« Lùi
Tiến »