Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1538 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
khổng tử và vị thần tiên bị đày xuông hạ giới

Khổng Phu Tử - “Bậc thầy họ Khổng”, như các học trò gọi ông - sinh ra vào khoảng năm 551 TCN, ở chư hầu phong kiến mang tên Lỗ, hay còn gọi là nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Cha ông mất khi ông mới 3 tuổi. Khổng Tử làm việc sau giờ học để phụ giúp mẹ. Ông lấy vợ ở tuổi 19, bỏ vợ ở tuổi 23, và có vẻ không kết hôn lần nào nữa. Ở tuổi 20, ông bắt đầu nghề giáo, dùng nhà mình làm lớp học, và học trò có thể trả bao nhiêu thì ông thu học phí bấy nhiêu. Giống Socrates, ông dạy bằng cách truyền miệng hơn là sách; chúng ta biết về tư tưởng của ông chủ yếu qua những bản thuật lại không đáng tin cậy lắm của các học trò. Ông không công kích bất cứ nhà tư tưởng nào và không lãng phí chút thời gian nào cho việc phản bác. Ông cực kỳ khao khát danh tiếng và địa vị, nhưng ông liên tiếp từ chối những lần phong chức từ những nhà cai trị mà ông cho là vô luân hoặc không công minh.

Cơ hội của ông đến khi, vào khoảng năm 501 TCN, ông được phong chức Trung Đô Tể. Theo một truyền thuyết mang tinh thần ái quốc, sự trung thực, như một bệnh dịch thật sự, đã lan tràn khắp thành; các vật dụng có giá trị bị đánh rơi trên phố đều được để nguyên hiện trạng hoặc trả về với chủ. Người ta kể rằng, quyết định phong chức tiếp theo mà ông được nhận, chức Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng Thư), được phong bởi Lỗ Định Công, đã chứng minh sự đúng đắn của nó khi chấm dứt tất cả những hành vi vô trật tự. “Gian dối và trụy lạc”, theo các ghi chép của người Trung Quốc, “đã xấu hổ và chui đầu lẩn trốn. Trung và tín trở thành tính cách của đàn ông, đoan chính và ngoan ngoãn trở thành tính cách của đàn bà. Khổng Tử trở thành thần tượng của nhân dân”. Điều này tốt đến mức không thể là thật, và ở bất cứ trường hợp nào, nó cũng tốt đến mức không thể kéo dài. Đám trộm cướp cùng nhau bàn bạc, và giăng bẫy dưới chân Khổng Tử. Các nhà sử học nói rằng các nước láng giềng ghen tị với nước Lỗ, và sợ sức mạnh đang lên của nó. Một viên quan xảo quyệt đã đề xuất một âm mưu được hoạch định kỹ lưỡng để Lỗ Định Công không quan tâm đến lời Khổng Tử nữa; vua Tề dâng tặng Lỗ Định công Bộ Nữ Nhạc gồm các “cô gái múa hát xinh đẹp”, và 120 con tuấn mã. Lỗ Định Công khi ấy sa đà mê đắm, không còn dành tâm trí cho thứ gì khác, mặc kệ những phản đối của Khổng Tử (người cho rằng nguyên tắc đầu tiên của triều đình là phải làm gương), và bê bối bỏ mặc triều thần cùng chính sự. Khổng Tử từ quan, và bắt đầu 13 năm lang bạt cùng các học trò. Ông buồn bã nhận xét rằng ông chưa bao giờ thấy ai yêu quý phẩm hạnh nhiều như ông ta (Lỗ Định Công) yêu sắc đẹp”.

Triết lý cơ bản của ông là gì? Đó là việc phục hồi đạo đức, luân lý và trật tự xã hội bằng cách truyền bá giáo dục. Hai đoạn trong một cuốn sách Đại Học được học trò của ông viết để tóm tắt hệ tư tưởng của ông:

Thời cổ đại, phàm những thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đến khắp thiên hạ, trước hết phải an định cho tốt nước mình, bang mình. Muốn an định tốt nước mình, bang mình, trước hết cần chỉnh đốn tốt gia tộc của mình. Muốn chỉnh đốn tốt gia tộc mình, trước hết phải tu dưỡng chính mình. Muốn tu dưỡng chính mình, trước hết phải làm cho tâm tư của mình ngay thẳng. Muốn cho tâm tư của mình ngay thẳng, trước hết phải có ý nghĩ thành thực. Muốn có ý nghĩ thành thực, trước hết phải cố hết sức để mở mang tri thức tột bậc. Việc mở mang tri thức ấy nằm ở việc điều nghiên cạn vật.

Khi đã điều nghiên cạn vật, tri thức mới hoàn chỉnh. Tri thức hoàn chỉnh, ý nghĩ mới thành thực, ý nghĩ thành thực, tâm tư mới ngay thẳng. Tâm tư ngay thẳng, bản thân mới được tu dưỡng. Bản thân được tu dưỡng, mới chỉnh đốn tốt gia tộc của mình. Chỉnh đốn tốt gia tộc mình, mới lãnh đạo tốt nước mình. Lãnh đạo tốt nước mình, thiên hạ mới được thái bình và an lạc.

Đó là một lời khuyên để hoàn thiện bản thân, và quên mất rằng con người là một loài linh trưởng mặc quần áo; nhưng, giống Cơ Đốc giáo, nó cho người ta một mục tiêu để hướng tới, một cái thang để trèo lên. Nó là một trong những văn tự quý giá như vàng về triết lý: cải tạo bắt đầu từ gia đình, gia tộc.

Khi Khổng Tử 69 tuổi, Lỗ Ai Công đã nối ngôi vua nước Lỗ, và gửi 3 sứ thần tới gặp triết gia này, dâng quà tặng và một thư mời ông trở về với đất nước nơi ông sinh ra. Trong 5 năm còn lại của cuộc đời, Khổng Tử sống ở đó giản dị và thanh cao. Khi Tề Quốc Công hỏi về sức khỏe của ông, ông bảo học trò trung thành Tử Lộ trả lời rằng:

Thần đơn thuần là người háo hức theo đuổi tri thức mà quên ăn; là người hân hoan (vì đạt được tri thức) mà quên cả đau buồn; và là người không thấy rằng tuổi già đang đến.

Ông qua đời ở tuổi 72. Học trò chôn cất ông với nghi lễ tương xứng với lòng kính yêu họ dành cho ông, một số người dựng lều cạnh mộ ông và sống ở đó suốt 3 năm. Khi tất cả những người khác đã đi, Tử Cống, người kính yêu ông thậm chí hơn tất cả những học trò khác, ở lại đó thêm 3 năm nữa, than khóc một mình bên mộ của Bậc Thầy.

VỊ THẦN TIÊN BỊ ĐÀY XUỐNG HẠ GIỚI

Giờ hãy khoác đôi cánh và bay vượt qua 12 thế kỷ từ năm 478 TCN tới năm 705.

Một ngày nọ, khi đang ở trên đỉnh cao của sự nghiệp trị vì, hoàng đế Đường Minh Hoàng đón tiếp các sứ thần từ Cao Ly, những người chuyển cho ông những thông điệp quan trọng được viết bằng một phương ngữ mà không một đại thần nào có thể hiểu nổi. “Cái gì!” ngài thốt lên, “giữa bao nhiêu đại thần, bao nhiêu học giả lẫn chiến tướng, chẳng lẽ không tìm được nổi một người học đủ rộng để giúp ta tránh được nỗi xấu hổ bị trêu tức này? Nếu trong 3 ngày, chư khanh không ai giải nghĩa được bức thư này, tất cả sẽ bị cách chức”. Suốt một ngày, các đại thần bàn tán và lo lắng cho chức tước lẫn cái đầu của họ.

Hạ Tri Chương tới gần ngai vàng và tâu:

Thần mạo muội tấu với Bệ hạ rằng có một thi sĩ kỳ tài, họ Lý, ở nhà thần, một người tinh thông nhiều môn; xin tấu Bệ hạ lệnh cho hắn đọc bức thư này, bởi không gì là hắn không biết.

Lý Bạch đến và thảo một bức thư rất hay, và hoàng đế phê lên bức thư đó không hề do dự, gần như hoàn toàn tin vào những gì Hạ Tri Chương đã thì thầm vào tai mình rằng Lý Bạch là một vị thần tiên bị đày xuống hạ giới vì đã bày trò nghịch ngợm tinh quái. Câu chuyện ấy rất có thể là một trong những sản phẩm mà chính Lý Bạch thêu dệt nên.

Vào đêm ông ra đời, mẹ ông - khi ấy là người của gia tộc họ Lý - đã mơ thấy Thái Bạch Kim Tinh, mà phương Tây gọi là sao Venus. Vì thế đứa bé được đặt tên là Lý Thái Bạch. Lên 10 tuổi, ông đã thông thuộc tất cả những cuốn sách của Khổng Tử và đã viết ra những áng thơ bất hủ. Ông lớn lên mạnh khỏe và cường tráng, học kiếm thuật, và tuyên bố với mọi người rằng: “Tuy chỉ cao bảy thước, tôi đủ khỏe để địch lại vạn người”. Rồi ông ngao du thư thái khắp nơi, tận hưởng ái tình với nhiều cô gái. Ông viết:

Rượu bồ đào đựng trong chén vàng

Một thiếu nữ xứ Ngô cưỡi ngựa tới

Tuổi nàng mới trăng tròn,

Lông màu nàng tô màu xanh đen

Hài của nàng bằng gấm màu hồng

Giọng nàng líu lo nghe không rõ,

Nhưng tiếng hát của nàng làm cho ta mê hồn.

Nàng ngồi bàn khảm xà cừ

Uống chung chén rượu với ta.

Ôi, những buốt ve sau bức màn thêu bông huệ.

Làm sao quên được em? *

Ông kết hôn, nhưng kiếm được quá ít tiền đến mức vợ bỏ ông và dắt theo các con. Hoàng đế ưu ái ông và ban cho ông rất nhiều món quà vì đã ngâm thơ ca ngợi Dương Quý Phi. Nhưng Dương Quý Phi nghĩ rằng nhà thơ châm biếm bà, và vì thế thuyết phục hoàng đế đổi ý, tặng Lý Bạch một món tiền và để ông ra đi.

Chúng ta có thể tưởng tượng ông lang thang từ thị thành này đến thị thành khác, như Thôi Tông Chi đã mô tả ông:

Vai mang một tay nải đầy sách, ông đi hàng nghìn cây số như một đạo sĩ. Giấu trong tay áo là một đoản đao, và trong túi ông là một tập thơ.

Trong những cuộc viễn du ấy, tình bạn cố tri của ông với thiên nhiên cho ông sự khuây khỏa và một niềm vui có phần nổi loạn:

Hỏi sao ta ở chốn núi xanh?

Ta cười chẳng đáp; lòng an lành,

Giữa trời đất khác, nào của ai.

Rừng đào nở hoa, nước chảy dài.

Hay:

Ánh trăng rọi trước giường,

Ngỡ thấy đất phủ sương.

Ngẩng đầu ngắm trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương * .

Giờ đây, khi tóc đã bạc, tâm tư ông ngập tràn niềm mong mỏi những cảnh tượng thời trẻ. Không biết bao nhiêu lần, giữa cuộc sống giả tạo ở kinh đô, ông đã thèm khát sự giản dị tự nhiên của cuộc sống với vợ con và quê nhà!

Ở đất Ngô, lá dâu đã xanh lại rồi.

Và tằm đã ba lần chui vào kén.

Ta không biết ai gieo lúa.

Ở quê tôi, tại miền đông Luh?

Tôi không thể về kịp thời để làm công việc mùa xuân.

Đi trên sông như vậy, tôi không làm được gì cả.

Dưới ngọn gió Nồm, lòng tôi nhớ quê.

Mà vơ vẩn nghĩ tới nhà.

Tôi thấy ở tường đông một cây đào.

Cành lá sum suê đong đưa trong sương mù xanh xanh,

Cây đó tôi đã trồng ba năm trước khi đi.

Bây giờ chắc đã lớn, cao bằng nóc nhà.

Mà tôi vẫn chưa về.

Bình Dương, con gái xinh đẹp của cha, cho thấy con

Đứng dưới gốc đào, bẻ một cành đầy hoa

Con hái hoa mà nhớ cha.

Nước mắt chảy ròng ròng.

Còn Po-chin, con trai cưng của cha, chắc con đã đứng tới bai chị con.

Con cùng với chị con tựa dưới gốc đào.

Mà không có cha về để vỗ nhẹ lên lưng con.

Nghĩ tới nông nỗi ấy, cha như người mất hồn,

Và không ngày nào lòng không chua xót.

Cha vừa mới xé một mảnh lụa trắng để viết bức thư này,

Mà âu yếm gởi cho các con theo con đường dài đi ngược dòng sông *

Những năm cuối cùng của ông đầy cay đắng, vì ông không bao giờ chịu khom lưng để kiếm tiền, và giữa những loạn lạc của chiến tranh và nổi dậy, ông không gặp được một vị vua nào giúp ông tránh được cơn đói dai dẳng. Ông đã vui lòng nhận lời mời về dưới trướng của Lý Lân, tức Vĩnh Vương, nhưng Vĩnh Vương khởi quân chống lại người kế vị Đường Minh Hoàng, và khi cuộc nổi loạn của Vĩnh Vương bị đàn áp, Lý Bạch bị bắt giam, khép vào tội chết do tội phản nghịch. Quách Tử Nghi, vị tướng đã có công dẹp cuộc nổi loạn ấy, cầu xin được chuộc lấy mạng của Lý Bạch, đổi lại Tử Nghi phải từ bỏ hết quân hàm và chức tước. Hoàng đế hạ hình phạt xuống lưu đày. Ít lâu sau, triều đình tuyên bố đại ân xá, thi sĩ của chúng ta lảo đảo trở về quê. Ba năm sau, ông mắc bệnh và qua đời, và truyền thuyết không vừa lòng với một cái chết phàm tục như vậy dành cho một tâm hồn cao quý hiếm có, nên kể lại rằng ông chết đuối dưới sông khi thử nhảy xuống, trong cơn say túy lúy, để ôm bóng trăng dưới nước.

Tựu trung, ba mươi tập gồm những lời thơ tinh tế và thanh nhã mà ông để lại khiến ông mãi mãi được biết đến như thi hào vĩ đại nhất Trung Hoa. Một nhà phê bình người Trung Quốc phải thốt lên: “Ông là đỉnh Thái Sơn ngất trời, cao hơn hẳn hàng nghìn ngọn núi khác; ông là vầng thái dương mà khi xuất hiện khiến hàng triệu tinh tú phải lu mờ.

Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi không còn nữa, những lời thơ của Lý Bạch vẫn ngâm nga.

Thuyền của tôi làm bằng gỗ thơm và bánh lái bằng gỗ lan.

Nhạc công ngồi ở đầu và cuối thuyền, với những ống tiêu, ống địch nạm ngọc, nạm vàng.

Còn thú gì bằng có bình rượu bên cạnh, và cùng với ca nhi lênh đênh trên ngọn sóng!

Tôi thấy sướng hơn các vị tiên cưỡi hạc vàng bay bổng trên không,

Và tự do như con kình, con ngạc chạy theo những con hải âu.

Và cảm hứng lên, tôi vung bút, làm rung chuyển ngũ nhạc (năm ngọn núi).

Thế là xong bài thơ. Tôi cười, niềm vui mênh mông như biển.

Chỉ thơ mới bất hủ! Sở từ của Khuất Bình cùng với nhật nguyệt rực rỡ muôn thuở,

Trong khi cung điện nhà Chu không còn chút di tích trên các ngọn đồi.

Vẫn còn rất nhiều điều để kể, nhưng chiếc đồng hồ quỷ quái đã điểm, vì thế tôi kết thúc bằng đoạn cuối mà tôi đã viết về Trung Quốc, vào khoảng năm 1932:

Không một chiến thắng nào về quân sự, hoặc sự bạo ngược về tài chính từ ngoại quốc, có thể áp bức một đất nước giàu tài nguyên và sức sống đến vậy trong thời gian dài. Những kẻ xâm lăng sẽ cạn kiệt ngân sách hoặc cạn kiệt sự kiên nhẫn trước khi Trung Quốc cạn kiệt sức sống: trong vòng một thế kỷ, Trung Quốc hẳn đã hấp thu hết những kẻ chinh phạt (khi đó là Nhật Bản), và hẳn đã học được tất cả những kỹ thuật của đất nước một thời mang danh công nghiệp hiện đại; đường sá và thông tin liên lạc sẽ cho đất nước này sự thống nhất, kinh tế và sự tiết kiệm sẽ cho đất nước này ngân sách, và một chính phủ mạnh mẽ sẽ cho đất nước này trật tự và hòa bình. Mọi sự hỗn loạn đều là sự chuyển tiếp. Cuối cùng, sự hỗn loạn luôn chữa trị và cân bằng chính nó bằng sự chuyên chế độc tài, những trở ngại cũ đại khái sẽ được dọn dẹp sạch sẽ, và sự phát triển mới sẽ được tự do. Cách mạng, giống cái chết và mất, là việc loại bỏ những rác rưởi, là cuộc phẫu thuật cắt bỏ những thứ thừa thãi; nó đến khi nhiều thứ sẵn sàng để ra đi. Trung Quốc đã chết nhiều lần trước đây, và nhiều lần đất nước này được tái sinh.

« Lùi
Tiến »