Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1537 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
thế nào là văn minh

Lịch sử loài người chỉ là một mảnh nhỏ của sinh học. Con người chỉ là một trong hàng triệu chủng loài và, giống tất cả các loài còn lại, là đối tượng chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh, vật lộn để tồn tại và cuộc cạnh tranh của chủng loài phù hợp nhất để sinh tồn. Tất cả các nguyên lý tâm lý học, triết học, trị quốc, và các hình mẫu xã hội hoàn mỹ đều phải dung hòa với các nguyên tắc sinh học này. Nguồn gốc của con người có thể được truy hồi về khoảng 1 triệu năm TCN. Nguồn gốc của nông nghiệp có thể được truy hồi về khoảng 25.000 năm TCN, không hơn. Thời gian con người sống cuộc đời săn bắt dài gấp 40 lần thời gian họ sống cuộc đời định cư như những người cày bừa. Trong khoảng 975.000 năm ấy, căn tính tự nhiên của con người được hình thành và giờ đây vẫn hằng ngày thách thức sự văn minh.

Trong giai đoạn săn bắt ấy, con người cố gắng sở hữu và vơ vét một cách háo hức và tham lam, bởi vì anh ta phải như vậy. Nguồn cung cấp thức ăn của anh ta không ổn định, và khi anh ta bắt được con mồi, anh ta có thể sẽ, thậm chí gần như chắc chắn, ăn con mồi đến khi đầy căng dạ dày, bởi xác con mồi sẽ sớm thối rữa; trong nhiều trường hợp anh ta ăn sống - kiểu mà chúng ta vẫn gọi là “tái lòng đào”, khi con người trở về với bản năng thời kỳ săn bắt trong những nhà hàng đậm chất nam tính. Hơn nữa, trong một nghìn lần của một nghìn năm ấy, con người phải hung hăng, luôn sẵn sàng chiến đấu - vì thức ăn, vì bạn tình, hoặc vì mạng sống. Nếu có thể, anh ta sẽ có nhiều hơn một bạn tình, bởi việc săn bắt và chiến đấu nguy hiểm đến mức có thể khiến người ta mất mạng và tạo ra sự chênh lệch về giới tính - nữ giới đông hơn nam giới, vì thế giống đực [vẫn có nhiều bạn tình] hoặc, về bản chất tự nhiên, là [có nhiều bạn tình]. Anh ta khi gần như chẳng có lý do nào để tránh thai, bởi những đứa trẻ sẽ trở thành nguồn lực quý giá trong căn lều của anh ta và sau đó là những nguồn lực quý giá trong nhóm đi săn. Bởi những lý do này và các lý do khác, sự tham lam sở hữu và vơ vét, sự hung hăng hiếu chiến và sự trưởng thành về dục tính là những ưu điểm, những “phẩm hạnh”, trong thời kỳ săn bắt - chúng là những phẩm chất phù hợp với mục tiêu sinh tồn.

Chúng giờ đây vẫn là đặc tính cơ bản của giống đực. Thậm chí trong thời kỳ văn minh, chức năng chính của giống đực là ra ngoài và săn tìm thức ăn cho gia đình, hoặc thứ gì đó mà anh ta có thể dùng để đổi lấy thức ăn. Bất kể anh ta có xuất sắc đến thế nào, về cơ bản anh ta vẫn chỉ như chi lưu khi so với phụ nữ, người giữ vai trò sinh đẻ và như con sông cái của chủng loài.

Rất có thể chính phụ nữ là những người đã tạo ra nông nghiệp, tức những nắm đất đầu tiên của văn minh. Cô ấy đã để ý tới sự nảy mầm của hạt giống rơi xuống từ quả hoặc thân cây; một cách kiên nhẫn và thử nghiệm, cô ấy gieo trồng các hạt giống gần hang hoặc căn lều, trong khi người đàn ông ra ngoài săn tìm các con vật làm thức ăn. Khi thí nghiệm của cô ấy thành công, bạn tình của cô kết luận rằng nếu anh ta và những người đàn ông khác có thể liên kết với nhau để cùng phòng thủ trước sự tấn công từ bên ngoài, anh ta sẽ có thể tham gia việc trồng và gặt hái cùng người phụ nữ, thay vì đặt cược mạng sống và nguồn cung cấp thức ăn vào sự may rủi không có gì chắc chắn của những cuộc đuổi bắt, hoặc của việc chăn thả theo lối du mục.

Qua thế kỷ này rồi thế kỷ khác, anh ta dần buộc bản thân chấp nhận một mái ấm và một cuộc đời định cư. Phụ nữ đã thuần dưỡng cừu, chó, lừa, và lợn; giờ đây cô ấy đã thuần dưỡng được đàn ông. Đàn ông là động vật cuối cùng được phụ nữ thuần dưỡng, và chỉ được văn minh hóa một phần và một cách miễn cưỡng. Một cách chậm rãi, anh ta học từ cô những phẩm chất xã hội: tình yêu trong gia đình, lòng tốt (một thứ khá giống với tình thân gia đình), sự điềm tĩnh, sự hợp tác, hoạt động cộng đồng. Thứ gọi là “phẩm hạnh” giờ đây được tái định nghĩa thành bất cứ phẩm chất nào phù hợp với sự sinh tồn của cả nhóm. Tôi tin rằng đó là khởi đầu của văn minh - tức sự khởi đầu của việc sống như những công dân văn minh. Nhưng đó cũng là điểm khởi đầu của xung đột sâu sắc và không ngừng nghỉ giữa tự nhiên và văn minh - giữa những bản năng cá nhân chủ nghĩa đã bám rễ quá sâu trong giai đoạn săn bắt dài đằng đẵng của lịch sử loài người, và những bản năng xã hội gần đây mới được kiến thiết một cách yếu ớt bởi cuộc sống định cư. Mỗi khu định cư phải được bảo vệ bởi hành động có tính đoàn kết; sự hợp tác giữa các cá nhân trở thành một công cụ cạnh tranh giữa các nhóm - các làng, các bộ lạc, các giai cấp, các tôn giáo, các chủng tộc, các đất nước hoặc thành bang.

Đa số các quốc gia vẫn ở trong trạng thái tự nhiên - vẫn trong thời kỳ săn bắt. Các cuộc viễn chinh tương ứng với các cuộc săn tìm thức ăn, hoặc nhiên liệu, hoặc nguyên liệu sống hoặc thô; một cuộc chiến thành công là một trong những cách để một quốc gia tiêu hóa. Đất nước - tức chính chúng ta và những động cơ của chúng ta được nhân lên nhiều lần để tổ chức và phòng vệ - thể hiện những bản năng cũ của chúng ta, tức những bản năng sở hữu, vơ vét và hiếu chiến, bởi vì, giống người đàn ông nguyên thủy, đất nước ấy cảm thấy không được an toàn; sự tham lam của nó là một cách để bảo vệ chính nó khỏi sự đói kém và túng thiếu trong tương lai. Chỉ khi nó cảm thấy an ổn về bên ngoài, nó mới có thể quan tâm tới những nhu cầu bên trong, và thăng hoa, với tư cách một nhà nước phúc lợi nửa chừng, để đạt đến những động cơ xã hội được kiến thiết bởi sự văn minh. Các cá nhân trở nên văn minh khi họ được an ổn nhờ tư cách thành viên trong một nhóm cộng đồng có năng lực bảo vệ hiệu quả; các quốc gia sẽ trở nên văn minh khi chúng được an ổn nhờ tư cách thành viên trung thành trong một nhóm liên minh có năng lực bảo vệ hiệu quả.

Làm thế nào mà sự văn minh phát triển được, bất chấp bản năng săn bắt cố hữu của giống đực? Nó không nhắm tới việc ngăn cản bản năng ấy; nó nhận ra rằng không hệ thống kinh tế nào có thể duy trì chính nó về lâu dài mà không thu hút bản năng sở hữu và không khơi gợi những năng lực siêu việt bằng cách hứa hẹn những phần thưởng vượt qua cái thông thường. Nó biết rằng không cá nhân hoặc quốc gia nào có thể tồn tại về lâu dài mà không có sự sẵn sàng chiến đấu để bảo tồn bản thân. Nó nhìn thấy rằng không xã hội hay chủng tộc hay tôn giáo nào có thể tiếp tục tồn tại nếu nó không sinh sôi. Nhưng nó nhận ra rằng nếu tính tham lam sở hữu và vơ vét không được kiểm soát, nó sẽ dẫn đến những vụ trộm cắp hàng bán lẻ, những vụ cướp hàng buôn, sự tha hóa về chính trị hay tham nhũng, và dẫn đến sự tập trung của cải tới mức mời gọi những cuộc cách mạng.

Nếu sự hiếu chiến không được kiểm soát, nó sẽ dẫn đến những cuộc ẩu đả ở mọi nơi, tới việc khu dân cư nào cũng bị thống trị bởi tên đầu gấu “nặng ký” nhất khu đó, tới sự chia chác địa bàn giữa những băng đảng đối đầu nhau ở mọi thành phố. Nếu tình dục không được kiểm soát, nó sẽ dẫn đến việc mọi cô gái hoàn toàn nằm dưới quyền định đoạt của mọi gã phong tình, mọi người vợ hoàn toàn nằm dưới quyền định đoạt của ham muốn của người chồng trước những bùa mê quyến rũ của sự trẻ trung và muốn điều mới lạ, và nó sẽ khiến không chỉ mọi công viên, mà cả mọi con phố trở nên không an toàn đối với phụ nữ. Những bản năng có sức ảnh hưởng mãnh liệt ấy phải được kiểm soát, nếu không trật tự xã hội và cuộc sống cộng đồng sẽ trở thành bất khả, và nam giới sẽ vẫn là những sinh vật man rợ.

Những bản năng của thời kỳ săn bắt đã được kiểm soát phần nào bởi pháp luật và lực lượng trị an, phần nào bởi một sự đồng thuận bấp bênh của số đông, được gọi là luân lý. Những động cơ tham lam vơ vét đã được kiểm soát bởi việc xếp những hành vi trộm cướp vào nhóm những hành động phi pháp, và việc kịch liệt chỉ trích lòng tham cùng sự tập trung của cải quá mức gây phá vỡ sự ổn định. Tinh thần hiếu chiến được kiềm chế bởi việc gây ra những tổn hại có tính trừng phạt lên con người hoặc tài sản. Những động cơ dục tính - với sức ảnh hưởng chỉ kém mãnh liệt hơn con đói một chút - được kiểm soát ở trạng thái trật tự mà người ta có thể quản lý, bằng cách cấm việc khêu gợi một cách Công khai và bằng cách cố gắng điều hướng những động cơ ấy ngay từ giai đoạn đầu, biến chúng thành những cuộc hôn nhân có trách nhiệm.

Làm thế nào mà ngày nay bộ quy chuẩn luân lý phức tạp ấy - quá bất tương thích với bản tính tự nhiên của chúng ta, quá phiền nhiễu với những nguyên tắc “Bạn không được” của nó - khắc sâu và duy trì chính nó thông qua năm thiết chế đặc biệt, tất cả đều đã ọp ẹp và hư nát: gia đình, Giáo hội, nhà trường, luật pháp, và ý kiến dư luận mà những yếu tố này góp phần tạo ra? Gia đình, trong xã hội nông nghiệp, dạy người ta về những tác dụng và cảm giác thoải mái của việc gắn kết và tương trợ, người mẹ dẫn dắt và dạy con gái việc chăm sóc tổ ấm; người cha dẫn dắt và dạy con trai việc chăm sóc đất đai; và sự dẫn dắt kép này tạo một nền tảng về kinh tế mạnh mẽ cho thẩm quyền của cha mẹ. Tôn giáo xây dựng cơ sở cho những lời răn luân lý bằng cách quy nguồn gốc của chúng về với Chúa Trời, đấng toàn trí, có quyền và khả năng ban thưởng và trừng phạt. Cha mẹ và thầy cô truyền lại những quy chuẩn đã được thần thánh phê chuẩn thông qua những lời giáo huấn và ví dụ; và thẩm quyền của họ được củng cố, tới tận thế kỷ của chúng ta, bởi mối liên hệ này với tôn giáo. Luật pháp ủng hộ phần lớn những quy chuẩn này bằng việc sử dụng áp lực và lực lượng một cách có tổ chức và qua cả sự sợ hãi trước những thứ này. Dư luận kiểm soát tình trạng vô luân bằng những tính từ (gán nhãn) và thông qua những cách đầy tính chỉ trích khắc nghiệt, và khuyến khích những hành vi tốt bằng sự tuyên dương, cổ xúy, và quyền lực.

Dưới tán ô bảo vệ trật tự xã hội này, cuộc sống cộng đồng mở rộng, văn chương phát triển rực rỡ, triết học phiêu lưu khám phá, nghệ thuật và khoa học phát triển, và các sử gia ghi lại được những thành tựu đầy sức truyền cảm hứng của quốc gia và chủng tộc. Một cách chậm rãi, nam giới và nữ giới hình thành được sự tiết chế, sự thân thiện và phép ứng xử lịch sự, lương tri luân lý và cảm thức thẩm mỹ, tức những nét văn minh quý giá và vô hình trong di sản của chúng ta. Văn minh là một trạng thái ổn định về trật tự xã hội tạo điều kiện cho sự kiến tạo về văn hóa.

Bây giờ, nếu những thế lực vốn sinh ra vì trật tự và văn minh lại thất bại trong việc gìn giữ trật tự và văn minh thì sao? Gia đình đã suy yếu bởi sự biến mất của hình thức lao động liên hiệp, một hình thức giữ cho gia đình ấy gắn bó với nhau nhờ cùng làm việc trên nông trại; bởi chủ nghĩa cá nhân đã phân tán công việc và những đứa bé trai, và bởi sự xói mòn thẩm quyền của cha mẹ thông qua sự tự do về tâm trí, khao khát về xã hội hoàn mỹ, và tính nổi loạn tự nhiên của những người trẻ tuổi.

Tôn giáo đã suy yếu bởi sự gia tăng về của cải vật chất và sự phát triển của các thành phố; do những bước phát triển kỳ thú của khoa học và phương pháp ghi chép sử; bởi sự chuyển biến từ những cánh đồng đề cao cuộc sống sáng tạo sang những nhà máy thuyết giảng về vật lý, hóa học, và vinh quang của máy móc, và bởi sự thay thế những hy vọng siêu phàm thoát tục bằng những nhà nước hoàn hảo. Hệ thống giáo dục của chúng ta bị cản trở bởi đấu tranh giai cấp và chiến tranh sắc tộc, bởi những nhóm thiểu số vũ trang đưa ra những “yêu sách không-thể-nhượng-bộ”, bởi những cuộc nổi loạn của những người chịu quá nhiều gánh nặng thuế khóa và bởi sự sụp đổ của những cây cầu nối giữa người trẻ và người già, giữa thí nghiệm và kinh nghiệm. Luật pháp mất đi thế mạnh của nó do sự gia tăng về số lượng và sự thiên vị của chính nó, bởi việc dễ dàng mua chuộc những người lập pháp, bởi những phát triển trong những phương cách để thoát tội và che giấu, và bởi khó khăn của việc hành pháp trên một dân số đang sinh sôi ngoài tầm kiểm soát. Dư luận mất đi sức mạnh của nó do sự chia cắt, sợ hãi, lãnh đạm và sự tôn thờ vật chất ở mọi nơi.

Như vậy, những bản năng cũ trở về với trạng thái không bị kìm hãm và không bị thuần hóa, và nổi loạn dưới dạng tội phạm, cờ bạc, sự tha hóa và tham nhũng, việc kiếm tiền một cách vô lương tâm, và sự hỗn loạn về tình dục mà trong đó tình yêu là tình dục - tự do và miễn phí cho giống đực và nguy hiểm cho giống loài. Đối thoại tham vấn nhường đường cho sự đối đầu; luật pháp bị bẻ cong, vỡ vụn trước thế lực thiểu số; hôn nhân trở thành một vụ đầu tư ngắn hạn trong những hoàn cảnh bất ổn nay đã nhiều và đa dạng hơn trước; việc sinh con đẻ cái đối mặt với những rủi ro bất hạnh và không phù hợp với chuẩn mực xã hội; và khả năng sinh sản mạnh của những nòi giống kém cỏi khiến cho chủng loài chúng ta sinh sôi ở tầng đáy, trong khi khả năng sinh sản yếu của những nòi giống thông minh khiến cho chủng loài héo tàn ở tầng chóp.

Nhưng chính sự thái quá của chủ nghĩa đa thần hiện tại có thể sẽ là sự bảo đảm cho một hy vọng nào đó, rằng nó sẽ không tồn tại được lâu; bởi thường thì sự thái quá sẽ sinh ra cái đối nghịch với nó. Một trong những hậu quả thường thấy nhất trong lịch sử là việc: theo sau một giai đoạn của sự tự do đa thần là một thời kỳ của sự kiềm chế khổ hạnh và kỷ cương về luân lý. Vì thế, sau thời kỳ sự tha hóa về đạo đức của Rome cổ đại dưới thời Nero và Commodus và những hoàng đế sau đó là sự trỗi dậy của Cơ Đốc giáo, và sự tiếp nhận và bảo trợ chính thức mà hoàng đế Constantine dành cho tôn giáo này, như một nguồn dự trữ và nền tảng cho trật tự và khuôn phép.

Bạo lực và tình trạng không bị cấm đoán về tình dục kiểu “condottiere” - tướng lĩnh đánh thuê - của Phục hưng kiểu Ý dưới thời thống trị của gia tộc Borgia dẫn đến sự thanh lọc của Giáo hội và sự phục hồi của luân lý. Sự chìm đắm trong đê mê bất cần của nước Anh thời Elizabeth đã mở đường cho sự thống trị của tư tưởng Thanh giáo dưới thời Cromwell, thứ dẫn đến tư tưởng đa thần của nước Anh dưới thời Charles II. Sự sụp đổ của chính quyền, hôn nhân, và gia đình trong 10 năm của cách mạng Pháp đã kết thúc bằng sự phục hồi của luật pháp, kỷ cương, và thẩm quyền của cha mẹ dưới thời Napoleon I, theo sau tư tưởng đa thần lãng mạn của Byron và Shelley, và những hành vi phóng đãng của hoàng tử xứ Wales, người đã trở thành George IV, là sự đúng mực trong cách cư xử trên toàn nước Anh thời Victoria. Nếu để những tiền lệ này dẫn dắt, ta có thể đoán rằng các cháu chắt của chúng ta sẽ là những người khổ hạnh.

Nhưng lịch sử có những viễn tượng khác, dễ chịu hơn sự xoay chuyển liên tục giữa những thứ thái quá và cái đối nghịch với nó. Tôi sẽ không đồng tình với kết luận của Voltaire và Gibbon, một kết luận khiến người ta phải suy sụp tinh thần, rằng lịch sử là “bản ghi chép những tội ác và hành động điên rồ của nhân loại”. Tất nhiên phần nào nó là vậy, và chứa hàng trăm triệu bi kịch - nhưng nó cũng là sự sáng suốt và đúng mực còn sót lại của gia đình điển hình, sự lao động và tình yêu của đàn ông và phụ nữ khi gánh vác dòng chảy của cuộc sống vượt qua hàng nghìn trở ngại. Nó là trí huệ và lòng can đảm của những chính khách như Winston Churchill và Franklin Roosevelt, trong đó người thứ hai ra đi khi đã kiệt sức nhưng mãn nguyện; nó là nỗ lực kiên định đến tuyệt đối của các nhà khoa học và triết học để thấu hiểu vũ trụ bao quanh họ; nó là lòng kiên nhẫn và kỹ nghệ của các nghệ sĩ và thi sĩ, thứ đã đem lại một hình thái biểu hiện vĩnh cửu cho cái đẹp vốn chỉ tồn tại trong thoáng chốc, hoặc đem sự rõ ràng có tính khai sáng đến với những điều quan trọng nhưng lại tinh vi và khó nhận biết; nó là tầm nhìn của các nhà tiên tri và các vị thánh, thách thức chúng ta đạt đến sự cao quý.

Trên dòng sông đầy hỗn loạn và đã bị vấy bẩn này, ẩn tàng giữa những đau khổ và ngu xuẩn là một “Thành phố của Chúa Trời” thật sự, trong đó những linh hồn sáng tạo của quá khứ, nhờ có những phép mầu của ký ức và truyền thống, vẫn sống và làm việc, đẽo khắc và xây dựng và ca hát. Plato ở đó, chơi đùa với triết học cùng Socrates; Shakespeare ở đó, mỗi ngày lại đem đến những kho báu mới; Keats vẫn đang lắng nghe tiếng chim sơn ca của ông, và Shelley cưỡi trên gió Tây; Nietzsche ở đó, say sưa phát biểu và hé mở những tri thức; Jesus Christ ở đó, mời gọi chúng ta tới và chia sẻ những miếng bánh mì của Ngài. Những người này và cả nghìn người khác, và những món quà họ ban tặng, là di sản Phi thường của chủng loài chúng ta, sợi tơ vàng trong chiếc lưới lịch sử,

Chúng ta không cần nhắm mắt quay lưng trước những xấu xa đang thách thức mình - chúng ta nên lao động với tinh thần kiên định tuyệt đối để tiêu trừ những xấu xa ấy - nhưng chúng ta có thể lấy sức mạnh từ những thành tựu của quá khứ, hào quang chói lọi của những di sản của chúng ta. Hãy để chúng ta, những vị vua u sầu của Shakespeare, ngồi xuống và kể những câu chuyện can đảm của những người phụ nữ cao quý và những người đàn ông vĩ đại.

« Lùi
Tiến »