Những Chàng Trai Baltimore

Những Chàng Trai Baltimore

Lượt đọc: 1358 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mở Đầu - PHẦN MỘT -1-
chủ nhật, ngày 24 tháng mười năm 2004 một tháng trước thảm kịch

Ngày mai, anh họ Woody của tôi sẽ vào tù. Năm năm tiếp theo của cuộc đời anh sẽ trôi qua trong đó.

Trên đường từ sân bay Baltimore về Oak Park - khu nhà tuổi thơ của anh và là nơi tôi sẽ cùng anh tận hưởng ngày tự do cuối cùng, tôi đã hình dung ra rõ ràng hình ảnh Woody đứng sau những chấn song sắt nặng nề của nhà tù ở Cheshire, Connecticut.

Chúng tôi ở với nhau cả ngày tại nhà bác Saul, nơi mà trước kia chúng tôi đã từng hạnh phúc biết bao. Có cả Hillel và Alexandra, trong mấy tiếng đồng hồ ấy, chúng tôi đã trở lại là bộ tứ tuyệt vời của thời quá vãng, nhưng tôi nào hay một tai họa sắp đổ sập xuống đầu chúng tôi.

Hai ngày sau, tôi nhận được điện thoại của bác Saul.

- Marcus à? Bác Saul đây.

- Cháu chào bác, bác có…

Không để tôi nói hết câu, bác Saul nói luôn:

- Marcus, nghe bác nói đây, bác cần cháu đến Baltimore ngay. Đừng hỏi gì. Có chuyện nghiêm trọng.

Rồi bác dập máy. Mới đầu tưởng đường truyền bị ngắt nên tôi gọi lại ngay, nhưng bác không trả lời. Tôi tiếp tục gọi nhiều lần nên rốt cuộc, bác nhấc điện thoại và nói luôn:

- Đến Baltimore ngay đi.

Rồi bác lại dập máy luôn.

Nếu bạn thấy cuốn sách này, xin hãy đọc nó.

Tôi muốn ai đó biết về chuyện gia đình Goldman ở Baltimore.

*

PHẦN MỘT

Thời niên thiếu đã qua

1989-1997

1

Tôi là nhà văn.

Ai cũng gọi tôi như vậy. Bạn bè, bố mẹ, gia đình, ngay cả những người tôi không quen biết nếu nhận ra tôi ở nơi công cộng cũng sẽ hỏi: “Này, có phải anh là nhà văn đó…?” Tôi là nhà văn, đó là nhân dạng của tôi.

Mọi người thường nghĩ rằng là nhà văn thì phải có cuộc sống nhẹ nhàng, thanh thản. Mới gần đây thôi, một người bạn của tôi ca cẩm chuyện ngày nào cũng phải đi làm rõ xa, rốt cuộc đã nói với tôi:

- Suy cho cùng, buổi sáng cậu ngủ dậy, ngồi vào bàn và viết. Chỉ có mỗi thế.

Tôi không trả lời gì hết, hiển nhiên tôi cảm thấy rằng trong trí tưởng tượng của số đông, cái nghề của tôi bị hiểu nhầm quá lớn. Họ cho rằng công việc của tôi là chẳng làm gì. Mọi người nghĩ rằng bạn chẳng hề động tay động chân, nhưng họ đâu biết khi bạn không làm gì thì chính là lúc bạn đang làm việc miệt mài nhất.

Viết một cuốn sách cũng giống như tổ chức một chuyến dã ngoại tập thể. Bình thường bạn sống một cuộc đời cô độc và phẳng lặng, rồi bất chợt một đám đông đủ loại người không biết từ đâu đổ xô đến làm đảo lộn cuộc sống hằng ngày của bạn. Một buổi sáng, một chiếc xe buýt lớn chở họ đến, họ mồm năm miệng mười xuống xe, cực kì phấn khích với vai trò của mình. Thế là bạn phải đối phó với họ, phải chăm sóc họ, phải nuôi họ ăn ở. Bạn chịu trách nhiệm về tất cả. Bởi vì bạn là nhà văn.

Câu chuyện này bắt đầu vào tháng Hai năm 2012, khi tôi rời New York chuyển đến ngôi nhà mới tậu được ở Boca Raton, Florida để bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết mới. Tôi mới mua nó được ba tháng, bằng tiền nhượng quyền cuốn sách mới nhất cho bên điện ảnh. Ngoài một vài lần đến chớp nhoáng để mua sắm nội thất vào tháng Mười hai và tháng Một, đây là lần đầu tiên tôi tới để ở một thời gian dài. Ngôi nhà rất có không gian, toàn bộ được bao kính và hướng nhìn ra phía hồ có đông người tản bộ. Ngôi nhà nằm trong một khu rất nhiều cây xanh và yên tĩnh, dân cư xung quanh hầu hết là những người về hưu thuộc hạng khá giả, thành thử tôi cảm thấy mình có phần lạc loài. Tuổi tôi chỉ bằng nửa tuổi của họ, nhưng tôi chọn khu này bởi vì ở đây yên tĩnh tuyệt đối. Đây chính là thứ tôi cần để viết tiểu thuyết.

Trái ngược với những lần trước chỉ đến chớp nhoáng, lần này tôi có rất nhiều thời gian nên chọn đến Florida bằng ô tô riêng. Khoảng cách một nghìn hai trăm dặm không làm tôi hoảng sợ: trong những năm trước đó, sau Thảm kịch giáng xuống gia đình, không biết bao nhiêu lần tôi đánh xe từ New York đến thăm bác Saul Goldman đã chuyển đến sống ở vùng ngoại ô Miami. Tôi đã thuộc lòng đường, đến nỗi nhắm mắt cũng đi được.

Lúc tôi rời New York, trời thả tuyết rơi nhè nhẹ, nhiệt kế chỉ âm mười độ. Hai ngày sau, tôi tới Boca Raton trong tiết trời mùa đông dịu dàng của vùng nhiệt đới. Gặp lại khung cảnh quen thuộc của những rặng cọ dưới nắng, tôi không thể không nghĩ tới bác Saul. Tôi nhớ bác đến thắt lòng, đến mức lúc rời đường cao tốc để về Boca Raton, tôi chỉ muốn cứ lái xe tiếp đến Miami gặp bác. Nỗi nhớ nhung lớn tới mức tôi phải tự hỏi không biết có phải những lần ghé qua nơi này trước đây thực sự là để mua sắm đồ nội thất không, hay mục đích sâu xa chỉ là một cách để kết nối lại với Florida. Không có bác, mọi thứ đều khác.

Hàng xóm ngay cạnh nhà tôi ở Boca Raton là một ông già bảy mươi tuổi dễ mến tên Leonard Horowitz, nguyên là giáo sư uy tín về luật hiến pháp của Harvard. Cứ mùa đông là ông lại đến Florida và từ hồi vợ mất, ông ấp ủ viết một cuốn sách nhưng mãi vẫn chưa biết phải bắt đầu thế nào. Lần đầu tôi gặp ông là vào ngày tôi chính thức nhận quyền sở hữu ngôi nhà. Ông bấm chuông cửa nhà tôi, mang theo một lốc bia để chào mừng tôi chuyển đến. Chúng tôi ngay lập tức thấy hợp nhau. Kể từ đó thành thói quen, cứ mỗi lần tôi ghé qua nhà thì ông lại sang chào tôi. Chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè.

Ông thích trò chuyện với tôi và tôi tin là ông thích tôi chuyển đến ở một thời gian. Khi tôi nói tôi chuyển đến để viết cuốn tiểu thuyết tiếp theo thì ngay lập tức ông nói về cuốn sách mình định viết. Ông cực kì tâm huyết với tác phẩm của mình, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai. Lúc nào ông cũng kè kè một cuốn sổ gáy xoắn đề Quyển 1, với dụng ý rõ ràng sẽ có các quyển tiếp. Lúc nào tôi cũng thấy ông chúi mũi vào cuốn sổ đó: ngay từ sáng sớm, trên hiên nhà, rồi qua bàn ăn trong bếp. Mấy lần chạm mặt ông ngoài quán cà phê ở trung tâm thành phố, tôi cũng thấy ông đang chuyên chú với cuốn sổ. Về phía tôi thì trái lại, lúc nào ông cũng thấy tôi đi dạo, chạy bộ, qua hồ bơi, hoặc ra ngoài bãi biển. Buổi tối, ông xách mấy chai bia lạnh sang bấm chuông cửa nhà tôi. Chúng tôi vừa ngồi uống bia với nhau trên hiên nhà, vừa đánh cờ và nghe nhạc. Phía sau chúng tôi là khung cảnh nên thơ của hồ nước và những rặng cọ nhuốm sắc hồng tía của ánh hoàng hôn. Vừa đánh cờ, ông vừa hỏi, mắt vẫn không rời bàn cờ:

- Marcus này, cuốn sách của anh đến đâu rồi?

- Đang tiến triển, bác Leo, tiến triển tốt.

Tôi sống ở đây được hai tuần thì vào một buổi tối nọ đúng lúc ăn quân tượng của tôi, ông đột ngột dừng lại và nói với giọng khá bực tức:

- Thế có phải anh đến đây để viết cuốn tiểu thuyết mới không đấy?

- Có chứ, sao hả bác?

- Tại vì anh có làm cái quái gì đâu, tôi thấy ngứa mắt lắm.

- Ơ, thế tại sao bác lại nghĩ là cháu không làm gì cả?

- Bởi vì tôi thấy thế! Cả ngày anh chỉ ngồi mơ màng vẩn vơ, tập thể dục, ngắm mây trời bay lượn. Tôi năm nay bảy mươi tám tuổi, đáng ra tôi mới là người sống cái cuộc sống như cái cây ngọn cỏ mà anh đang sống, trong khi anh còn chưa quá ba mươi, lẽ ra anh phải lao động cật lực mới phải!

- Thực ra cái gì khiến bác bực bội vậy hả bác Leo? Cuốn sách của bác hay của cháu?

Tôi đã gãi đúng chỗ ngứa. Ông liền đấu dịu:

- Tôi chỉ muốn biết anh làm như nào. Cuốn sách của tôi chẳng tiến triển gì cả. Tôi tò mò muốn biết anh làm việc thế nào.

- Cháu ngồi đây và suy nghĩ. Bác phải tin cháu, thực sự là cháu đang làm việc cật lực. Còn bác, bác viết là để đầu óc có chuyện vướng bận. Chúng ta khác nhau ở chỗ đó.

Ông tiến quân mã, đe dọa quân vua của tôi.

- Anh không thể cho tôi một ý tưởng về cốt truyện nào đó hay ho à?

- Không ạ.

- Tại sao?

- Nó phải xuất phát từ chính bác.

- Dù sao thì anh cũng phải tránh nhắc đến Boca Raton trong cuốn sách của anh nhé. Tôi không muốn thấy tất cả các độc giả của anh kéo đến đây xếp hàng xem nơi anh ở.

Tôi cười và nói thêm:

- Bác Leo, bác không cần phải đi tìm ý tưởng đâu. Tự nó sẽ đến với bác. Ý tưởng là một sự kiện có thể xảy ra bất kì lúc nào.

Làm sao tôi có thể tưởng tượng nổi đúng vào lúc tôi nói những lời này thì ý tưởng lại đến!

Tôi để ý thấy ở phía bờ hồ thấp thoáng một con chó đang đánh hơi thứ gì đấy. Nom nó chắc nịch, đôi tai nhọn, mũi rúc vào đám cỏ. Không ai tản bộ gần đó.

- Hình như con chó đi một mình. - Tôi nói.

Horowitz ngẩng đầu lên quan sát con vật đang tha thẩn bên rìa nước.

- Ở đây làm gì có chó lạc. - Ông tuyên bố.

- Cháu không bảo là chó lạc. Cháu bảo là nó đi một mình.

Tôi cực kì quý chó. Tôi đứng dậy, khum tay trước miệng, huýt sáo gọi nó. Con chó vểnh tai lên. Tôi lại huýt sáo và con chó chạy lại chỗ chúng tôi.

- Anh điên à? - Leo cằn nhằn. - Nhỡ là chó dại thì sao. Đến lượt anh đấy.

- Vâng. - Tôi trả lời và lơ đãng tiến quân tượng.

Horowitz ăn mất quân hậu, đáng đời tôi chơi không tập trung.

Con chó chạy đến thềm nhà. Tôi ngồi xổm bên cạnh nó. Đó là một con chó đực khá lớn, lông sậm, có một vệt đen ngang mắt và bộ ria dài như ria hải cẩu. Nó dụi đầu vào tôi, tôi vuốt ve nó. Nó có vẻ hiền lành. Ngay lập tức tôi cảm nhận có một sợi dây vô hình liên kết tôi và nó, những ai hiểu về loài chó sẽ biết tôi muốn nói gì. Con chó này không đeo vòng cổ, chẳng có gì cho phép nhận dạng nó.

- Bác từng thấy con chó này bao giờ chưa? - Tôi hỏi bác Leo.

- Chưa bao giờ.

Sau khi con chó thăm dò toàn bộ hiên nhà, nó bỏ đi mà tôi không có cách gì giữ lại, sau đó biến mất sau mấy hàng cọ và bụi rậm.

- Có vẻ nó biết phải đi đâu. - Ông Horowitz nói với tôi. - Chắc chắn là chó của nhà hàng xóm nào đó rồi.

Tối hôm đó, trời oi nồng. Khi bác Leo ra về, mặc dù trời đã tối nhưng tôi vẫn cảm nhận được bầu trời có gì đó quái gở. Rồi một trận dông lớn ngay lập tức bốc lên, giáng những tia chớp sáng lòe ở phía bên kia hồ nước, sau đó những tảng mây rách toang ra trút xuống một trận mưa xối xả. Đến khoảng nửa đêm, tôi đang ngồi trong phòng khách đọc sách thì nghe thấy những tiếng sủa vọng vào từ ngoài hiên. Tôi chạy ra xem có chuyện gì, qua khung cửa sổ tôi thấy con chó lúc chiều, lông ướt sũng rất đỗi tội nghiệp. Tôi mở cửa, ngay lập tức nó lách vào trong nhà. Nó nhìn tôi với vẻ van lơn.

- Được rồi, mày có thể ở lại đây. - Tôi nói với nó.

Tôi lấy tạm hai cái nồi làm bát, cho nó thức ăn và nước uống. Tôi ngồi cạnh, lấy khăn tắm lau khô bộ lông cho nó rồi chúng tôi cùng ngắm những dòng nước mưa lấp loáng đổ dài trên cửa kính.

Đêm đó nó ngủ lại chỗ tôi. Ngày hôm sau lúc thức dậy, tôi thấy nó vẫn đang ngủ ngon lành trên sàn bếp. Tôi lấy vải tự chế ra một cái vòng cổ, cũng chỉ là cẩn trọng thôi chứ nó nghe theo tôi vô cùng ngoan ngoãn, rồi chúng tôi cùng nhau đi tìm chủ của nó.

Bác Leo đang ngồi uống cà phê trước nhà. Cuốn sổ Quyển 1 mở ra trước mắt ông vẫn còn trắng tinh.

- Anh định làm trò gì với con chó này thế, Marcus? - Ông hỏi khi nhìn tôi cho con chó vào ghế sau.

- Nó đã đến nhà cháu đêm qua. Vì lúc đó mưa to quá nên cháu cho nó vào nhà. Cháu nghĩ nó bị lạc.

- Thế bây giờ anh định đi đâu?

- Cháu sẽ dán thông báo ngoài siêu thị.

- Đúng thật anh chẳng bao giờ làm việc.

- Thì cháu đang làm việc còn gì?

- Được, vậy thì anh bạn đừng có lao lực đấy.

- Vâng.

Sau khi đã dán thông báo ở hai siêu thị gần nhất, tôi với con chó đi dạo một lúc trên con phố chính ở Boca Raton, hi vọng có ai nhận ra nó. Vô ích. Rốt cuộc, tôi đi thẳng đến đồn cảnh sát, ở đó người ta chỉ cho tôi tới một phòng khám thú y. Đôi khi chó được gắn chip để lúc cần sẽ tìm ra chủ nhân. Nhưng con chó này lại không có, thành thử bác sĩ thú y không giúp gì được. Ông đề nghị giúp tôi gửi con chó đến trạm nuôi nhốt thú lạc, nhưng tôi gạt đi và trở về nhà cùng với người bạn mới mà tôi phải thừa nhận rằng dù có vóc dáng rất đường bệ nhưng lại đặc biệt hiền lành và ngoan ngoãn.

Leo không biết tự lúc nào đang ngồi trên hiên đợi tôi về. Nhác thấy tôi, ông vội chạy tới, tay giơ cao những trang giấy vừa in. Ông vừa phát hiện ra chức năng huyền diệu của công cụ tìm kiếm Google và đánh vào đấy tất cả mọi câu hỏi bất chợt xuất hiện trong đầu. Đối với một học giả như ông, người từng trải qua phần lớn cuộc đời trong thư viện để tìm kiếm các tài liệu tham khảo, thì tính kì diệu của các thuật toán có một tác động đặc biệt.

- Tôi vừa thực hiện một cuộc điều tra. - Ông nói cứ như thể vừa phá được vụ ám sát tổng thống Kennedy, đồng thời giơ cho tôi xem cả chục trang giấy mà vì thế sau đó tôi đã phải giúp ông thay hộp mực máy in.

- Bác phát hiện ra điều gì thế, thưa giáo sư Horowitz?

- Loài chó luôn tự tìm được đường về nhà. Một số con có thể vượt hàng nghìn kilômét để tìm về với chủ.

- Thế bác khuyên cháu phải làm gì nào?

Bác Leo tỏ vẻ một người có tuổi thông tuệ:

- Anh phải đi theo chó chứ đừng bắt chó đi theo mình. Nó biết nó phải đi đâu, còn anh đâu biết gì.

Ông hàng xóm của tôi không sai. Tôi quyết định tháo xích và để nó tự đi. Nó chạy chậm, ban đầu ra phía hồ nước rồi xéo qua một con đường nhỏ. Chúng tôi đi qua một sân golf rồi đến một khu dân cư khác mà tôi còn chưa biết đến, nằm bên một vịnh nhỏ. Con chó vẫn đi theo đường nhựa, rẽ phải hai lần rồi cuối cùng dừng lại trước một cánh cổng. Tôi ngó vào, thấy một cơ ngơi tuyệt đẹp. Nó ngồi xuống rồi sủa vang. Tôi bấm chuông. Một giọng phụ nữ trả lời, tôi báo rằng mình tìm thấy con chó. Cổng mở, con chó lao vào trong, rõ ràng là vô cùng sung sướng được về nhà.

Tôi đi theo. Một người phụ nữ xuất hiện trên bậc tam cấp. Con chó phấn khởi tột độ, ngay lập tức vội vàng chạy lại phía chủ nhân. Tôi nghe thấy cô ấy gọi nó là “Duke”. Cả hai rối rít vui mừng gặp gỡ nhau. Sau đó cô ấy mới ngẩng đầu lên, và tôi giật mình thảng thốt.

- Alexandra? - Tôi lắp bắp.

- Marcus?

Cô gái cũng sửng sốt y hệt tôi.

Chừng bảy năm sau Thảm kịch chia cắt chúng tôi, hôm nay tôi mới gặp lại Alexandra. Nàng mở to mắt ngạc nhiên và kêu lên lần nữa:

- Có đúng thật là Marcus không?

Tôi bất động, bàng hoàng.

Nàng chạy lại phía tôi.

- Marcus!

Bằng một cử chỉ dịu dàng vô cùng tự nhiên, nàng vươn đôi bàn tay ôm khuôn mặt tôi. Cứ như thể là nàng cũng thế, không tin vào thực tại và muốn chắc chắn rằng tất cả chuyện này đều là thực. Còn tôi thì không thể thốt ra bất kì lời nào.

- Marcus, - nàng nói. - Em không thể tin được đây lại là Marcus.

Trừ phi sống trong hang động thì bạn mới chưa nghe đến Alexandra Neville, nàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ lừng danh trong những năm gần đây. Nàng là thần tượng mà cả đất nước mong chờ bấy lâu, người có khả năng vực dậy cả ngành công nghiệp sản xuất đĩa nhạc. Ba album của Alexandra đã bán được hai mươi triệu bản, hai năm liên tiếp nàng có tên trong danh sách những người có ảnh hưởng lớn nhất do tạp chí Time bình chọn. Tài sản cá nhân của Alexandra được ước tính lên đến 150 triệu đô la. Công chúng mến mộ nàng, các nhà phê bình điên đảo vì nàng. Từ trẻ đến già đều yêu quý nàng. Tất cả mọi người đều phát cuồng vì nàng, đến mức tưởng như cả nước Mỹ chỉ biết đến mỗi bốn tiếng mà người người đều gào to với tình yêu tha thiết và cháy bỏng: A - lex - an- dra!

Nàng đang hẹn hò với một cầu thủ khúc côn cầu người Canada tên là Kevin Legendre. Anh ta cũng vừa xuất hiện phía sau.

- Anh đã tìm thấy Duke! Chúng tôi tìm nó suốt từ hôm qua mà không thấy. Alex bấn loạn hết cả lên. Cảm ơn anh nhiều lắm.

Anh ta chìa tay ra. Tôi thấy cơ bắp tay anh ta nổi lên cuồn cuộn khi anh ta bóp chặt tay tôi. Tôi mới chỉ nhìn thấy Kevin trên các tờ báo đăng rặt những tin tức về mối quan hệ của anh ta với Alexandra. Anh ta đẹp một cách thật hư hỏng. Bên ngoài trông anh ta còn đẹp hơn nhiều so với trên ảnh. Kevin nhìn xoáy vào tôi một lúc rồi nói:

- Trông anh quen quen!

- Tôi là Marcus. Marcus Goldman.

- Phải là nhà văn không?

- Đúng.

- Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của anh. Alexandra khuyên tôi nên đọc, cô ấy rất thích sách của anh.

Tôi không thể tin được thực tại là thật. Tôi vừa tìm lại được Alexandra, trong nhà vị hôn phu của nàng. Kevin còn chưa biết mọi chuyện, đề nghị tôi ở lại cùng ăn tối. Tôi vui vẻ nhận lời.

Chúng tôi nướng những tảng thịt lớn trên lò nướng khổng lồ ngoài hiên. Tôi không theo dõi tin tức gần đây nhất về sự nghiệp của Kevin: tôi vẫn tưởng anh ta là hậu vệ của đội Nashville Predators, nhưng anh ta đã được đội Florida Panthers mua lại trong kì chuyển nhượng mùa hè. Đây là nhà của anh ta. Hiện anh ta sống ở Boca Raton còn Alexandra tranh thủ kì nghỉ trước đợt thu đĩa mới để đến thăm bạn trai.

Mãi đến tận khi bữa tối kết thúc, Kevin mới nhận ra Alexandra và tôi biết nhau quá rõ.

- Anh là người New York à? - Anh ta hỏi tôi.

- Vâng, tôi sống ở đấy.

- Thế sao anh lại tới Florida?

- Mấy năm nay tôi hay đến đây. Bác tôi hồi trước sống ở Coconut Grove, và tôi thường đến thăm bác. Tôi mới tậu nhà ở Boca Raton, cách đây không xa. Tôi muốn có chỗ yên tĩnh để sáng tác.

- Bác ấy có khỏe không? - Alexandra hỏi. - Em không biết là bác đã dọn khỏi Baltimore.

Tôi lảng tránh, chỉ nói ngắn ngọn:

- Bác ấy rời khỏi Baltimore sau Thảm kịch.

Kevin chỉ cái dĩa về phía chúng tôi, hỏi:

- Có phải tôi đang tưởng tượng không hay là hai người có quen nhau?

- Em từng sống mấy năm ở Baltimore. - Alexandra giải thích.

- Vài người bà con họ hàng của tôi cũng sống ở Baltimore. - Tôi nói tiếp. - Chính xác là bác trai tôi với vợ và các anh họ tôi. Họ sống cùng khu với gia đình Alexandra.

Alexandra cho rằng tốt hơn là không nên nói thêm, vì thế chúng tôi chuyển chủ đề. Sau bữa tối, vì tôi đi bộ đến nên nàng đề nghị chở tôi về.

Chỉ có một mình trong ô tô với nàng, rõ ràng chúng tôi đều cảm thấy không thoải mái. Rốt cuộc tôi cất tiếng:

- Kì cục thật, tự nhiên con chó xông vào nhà anh…

- Nó thường xuyên bỏ nhà đi chơi. - Alexandra trả lời.

Tôi nói đùa một cách ác ý:

- Có thể vì nó không thích Kevin.

- Đừng bắt đầu như thế, Marcus. - Giọng Alexandra thật khó nghe.

- Đừng như thế, Alex…

- Như thế nghĩa là như thế nào?

- Em biết thừa anh muốn nói gì.

Alexandra đột ngột dừng lại giữa đường, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói:

- Tại sao anh lại đối xử với em như thế, Marcus?

Tôi không dám nhìn thẳng vào mắt nàng. Nàng kêu lên:

- Anh đã bỏ em mà đi.

- Anh xin lỗi. Nhưng anh có lí do.

- Lí do? Anh chẳng có bất kì lí do gì để tung hê hết tất cả như thế.

Một phút yên lặng nặng nề trôi qua. Những từ duy nhất mà sau đó tôi có thể cất lên là chỉ đường cho nàng lái xe về nhà tôi. Lúc đến nơi, Alexandra nói:

- Cảm ơn anh về chuyện con Duke.

- Anh rất vui được gặp lại em.

- Em nghĩ tốt nhất chúng ta nên dừng lại ở đây. Đừng quay lại nữa, Marcus.

- Quay lại nhà Kevin à?

- Quay lại cuộc sống của em. Đừng quay lại cuộc đời em nữa, xin anh đấy.

Rồi nàng bỏ đi.

Tôi chẳng còn lòng dạ nào mà vào nhà. Tôi có chìa khóa ô tô trong túi quần nên quyết định đánh xe một vòng. Tôi chạy tít đến Miami, rồi chẳng suy nghĩ gì, tôi chạy xuyên qua thành phố về tận khu dân cư yên tĩnh ở Coconut Grove và đỗ xe ngay trước cửa nhà bác Saul. Ngoài trời ấm áp, tôi ra khỏi xe. Tôi dựa lưng vào ô tô, cứ vậy ngắm nhìn ngôi nhà rất lâu. Có cảm giác bác Saul vẫn ở đây, tôi cảm nhận rõ sự hiện diện của bác. Tôi mong ước cháy lòng được nhìn thấy bác Saul. Chỉ còn một cách để thực hiện điều đó, ấy là viết.

Bác Saul Goldman là anh trai bố tôi. Trước Thảm kịch, trước những sự kiện mà tôi chuẩn bị kể ra đây, bác Saul là một yếu nhân, nói như cách của ông bà tôi. Bác điều hành cả một hãng luật nổi tiếng nhất Baltimore, và chính bác đã tham dự vào các vụ án nổi tiếng khắp vùng Maryland. Vụ Dominic Pernell, chính bác Saul là người giải quyết. Vụ Thành phố Baltimore kiện Morris, cũng chính là bác. Vụ bán trái phép Sundridge, cũng vẫn là bác Saul. Ở Baltimore, ai cũng biết bác. Bác tôi liên tục xuất hiện trên báo chí và truyền hình. Tôi còn nhớ rõ hồi ấy tôi thấy mọi chuyện ấn tượng mạnh đến thế nào. Bác tôi kết hôn với người con gái mà bác yêu từ thời đại học, sau này trở thành bác Anita của tôi. Trong con mắt trẻ thơ của tôi, bác Anita là người phụ nữ đẹp nhất, là người mẹ dịu dàng nhất. Bác Anita là bác sĩ chủ lực của khoa ung bướu bệnh viện Johns Hopkins, một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất nước. Hai bác có chung với nhau một cậu con trai tuyệt vời tên là Hillel. Anh tôi tốt bụng, có năng lực trí tuệ thiên bẩm cao hơn hẳn người bình thường. Hai chúng tôi chỉ cách nhau vài tháng tuổi và coi nhau như anh em ruột thịt rất thân thiết.

Những thời điểm trọng đại nhất thời niên thiếu của tôi đều xảy ra tại nhà bác Goldman ở Baltimore. Trong một thời kì rất dài, chỉ cần nhắc đến gia đình bác Saul cũng đủ làm cho tôi tự hào và hạnh phúc. Cho tới lúc đó, trong số tất cả các gia đình mà tôi biết, trong số tất cả những người mà tôi gặp, gia đình bác Saul ở một đẳng cấp cao hơn hẳn: hạnh phúc hơn, thành đạt hơn, tham vọng hơn, được tôn trọng hơn. Suốt một thời gian dài, cuộc đời cho thấy tôi có lí. Gia đình bác Saul gồm những con người có tầm cỡ hơn hẳn. Tôi hoàn toàn thán phục cách những con người đó đối diện với cuộc sống một cách đơn giản, lóa mắt trước ánh sáng rạng rỡ mà họ tỏa ra, phục sát đất sự giàu có của họ. Tôi chiêm ngưỡng phong thái đi đứng đĩnh đạc, khối tài sản kếch xù, địa vị xã hội cao của họ. Dinh thự rộng thênh thang, những chiếc ô tô hạng sang, rồi cả khu nhà nghỉ dưỡng mùa hè của gia đình ở Hamptons, căn hộ tại Miami, những kì nghỉ trượt tuyết vào tháng Ba hằng năm ở Whitsler, Columbia thuộc Anh của Canada. Sự đơn giản của họ, hạnh phúc của họ. Lòng tốt của họ với tôi. Sự đẳng cấp diệu vợi khiến bạn cứ tự nhiên mà chiêm ngưỡng. Họ không gây đố kị: họ quá đẳng cấp khiến ta không thấy phải ghen tị. Họ được thánh thần ban phước. Rất lâu, tôi cứ tin sẽ chẳng có gì có thể xảy ra với họ. Rất lâu, tôi cứ tưởng họ vĩnh viễn là như thế.

« Lùi
Tiến »